Sa mạc

Lượt đọc: 951 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hạnh phúc (tt)

Đó là câu chuyện mà cô thích nhất trên đời. Mỗi lần nghe, cô cảm thấy có cái gì lạ lùng đang lay động trong cô, như thể cô sắp khóc, như thể một cơn sốt khiến cô phát run. Cô nghĩ bằng cách nào câu chuyện xảy ra, cách đây lâu lắm rồi, nơi những ngõ vào sa mạc, trong một ngôi làng bằng bùn và lá cọ, và một quảng trường thênh thang trống vắng, nơi những con ong vò vẽ bay vù vù, và nước từ con suối lấp lánh dưới ánh nắng, phẳng lặng như một tấm gương đang phản chiếu những áng mây và bầu trời. Trên quảng trường làng không có lấy một bóng người, bởi mặt trời thiêu đốt dữ dội và mọi người đang tìm chỗ lẩn tránh trong không khí mát dịu của những ngôi nhà của họ. Trên mặt nước của con suối im lìm mở ra như một con mắt đang nhìn trời, thỉnh thoảng một cơn rung động nhẹ nhàng của không khí bị nung đốt lướt qua, rải một thứ bột mịn và trắng xuống mặt nước như một thứ vảy cá trong mắt, khó trông thấy, sẽ tan biến ngay sau đó. Nước thì đẹp và sâu, có màu xanh lục, yên ả, im lìm trong vùng trũng của đất đỏ, nơi bàn chân trần của những người đàn bà còn để lại dấu vết lấp lánh. Chỉ có những con ong vò vẽ bay qua bay lại trên mặt nước, lướt sát mặt nước, rồi lại bay về phía những ngôi nhà có làn khói bếp bay lên.

"Đó là một người đàn bà mang hũ ra suối lấy nước. Giờ đây không ai còn nhớ đến tên bà bởi chuyện xảy ra lâu lắm rồi. Một bà lão rất già, bà không còn sức nữa, và khi tới suối, bà bật khóc than vãn, bởi bà còn phải đi một quãng đường thật xa để mang nước về nhà. Bà vẫn ở lại đó, ngồi xổm xuống đất, khóc lóc và rên rỉ. Thế rồi thoắt cái, chính bà cũng không hay biết. Al Azraq đã đứng bên cạnh bà...".

Bây giờ thì Lalla đã trông thấy Người rõ ràng. Người cao lớn và mảnh khảnh trong chiếc áo choàng màu cát. Khuôn mặt của Người ẩn sau tấm mạng, nhưng đôi mắt Người rực lên một thứ ánh sáng kỳ lạ luôn xoa dịu và củng cố lòng người như ngọn lửa một cây đèn. Giờ đây cô đã nhận ra Người. Chính Người đã xuất hiện trên cao nguyên đá, nơi bắt đầu của sa mạc và Người vây bọc cô bằng cái nhìn của Người, với sự khẩn khoản và mãnh liệt khiến cô phải choáng váng. Người đến như vậy đó, lặng lẽ như một cái bóng, Người biết xuất hiện khi cần.

"Bà lão vẫn khóc, và Al Azraq dịu dàng hỏi bà tại sao bà khóc."

Nhưng người ta không thể nào sợ sệt khi Người đến một cách lặng lẽ, như chợt hiện ra từ sa mạc. Cái nhìn của Người đầy thiện cảm, giọng nói của Người chậm rãi và bình thản, ngay cả khuôn mặt của Người cũng rực sáng.

"Bà lão giãi bày với Người về nỗi buồn của bà, sự cô đơn của bà bởi nhà bà rất xa nguồn nước và bà không còn sức để mang hũ nước trở về..."

Giọng nói của Người và cái nhìn của Người chỉ là một, như thể Người đã biết rõ điều gì phải xảy ra trong tương lai, và Người đã biết rõ điều bí mật của định mệnh con người.

"Đừng khóc về chuyện đó, Al Azraq bảo, ta sẽ giúp ngươi trở về nhà. Và Người nắm tay bà lão dìu bà về tới tận nhà, và khi đến tới nhà bà, Người chỉ nói: Hãy nhấc hòn đá nơi lề đường kia lên, và ngươi sẽ không bao giờ thiếu nước nữa. Bà lão làm theo lời Người, và bên dưới hòn đá, một nguồn nước thật trong đã phun lên, và nước tràn ra khắp xung quanh cho đến khi tạo thành một dòng suối đẹp và mát không đâu sánh bằng. Bà lão hết lời cảm tạ AI Azraq, sau đó thiên hạ từ các vùng lân cận kéo tới để xem nguồn nước, thưởng thức thứ nước mát trong, mọi người đều ca tụng Al Azraq đã thu nhận được một quyền năng như thế từ Thượng đế."

Lalla nghĩ tới nguồn nước phun lên từ dưới hòn đá, cô nghĩ tới thứ nước thật trong và láng, ánh lên trong nắng mặt trời. Trong bóng tối lờ mờ, cô nghĩ về điều đó rất lâu trong khi Aamma tiếp tục nhào bột bánh mì. Bóng Người Đàn Ông Xanh lặng lẽ lùi xa như đã lặng lẽ tới, nhưng cái nhìn đầy uy lực của Người vẫn còn lơ lửng trên cô, vây bọc lấy cô như một làn gió.

Giờ đây Aamma đã im tiếng, chị không nói gì thêm nữa. Chị tiếp tục nện và nhào bột trong cái mâm đất lớn đang lắc lư. Có thể chị cũng đang nghĩ tới nguồn nước lộng lẫy phun lên từ dưới hòn đá bên đường, như lời nói đích thực của Al Azraq, như con đường đích thực.

Ánh sáng đẹp từng ngày ở nơi đây, trên Cư xá. Lalla chưa bao giờ chú ý tới ánh sáng như vậy cho đến khi Hartani dạy cô cách ngắm nó. Một thứ ánh sáng thật trong trẻo, nhất là vào buổi sớm mai, ngay sau khi mặt trời lên. Nó soi sáng những tảng đá và vùng đất đỏ, làm cho chúng trở nên sống động. Có nhiều nơi để ngắm ánh sáng. Một buổi sáng, Hartani đã dẫn Lalla tới tận một trong những nơi đó. Một vực thẳm mở ra nơi đáy một rãnh đá, và Hartani là người duy nhất biết nơi khuất lánh này. Phải biết rõ đường đi nước bước. Hartani đã nắm tay Lalla, dìu cô đi dọc theo lối hẹp, xuôi xuống vào trong lòng đất. Người ta ngay lập tức nhận thấy vị tươi mát ẩm ướt của bóng tối, và những tiếng động ngừng bặt như khi nhúng đầu xuống nước. Lối hẹp ăn sâu xuống đất. Lalla hơi sợ bởi đây là lần đầu tiên cô bước xuống lòng đất. Nhưng chú chăn cừu siết mạnh bàn tay cô, giúp cô thêm can đảm.

Bất chợt họ dừng lại: lối đi hẹp chan hòa ánh sáng, bởi nó mở ra ngay bầu trời. Lalla không hiểu sao lại có thể vậy được, vì họ không ngừng bước xuống, nhưng mà quả đúng như vậy: kia là bầu trời, trước mặt cô, bao la và dịu nhẹ. Cô bất động, hơi thở cô nén lại, đôi mắt cô mở trừng. Nơi đây chỉ có bầu trời, nó sáng đến đỗi người ta tưởng mình là một cánh chim đang bay.

Hartani ra dấu cho Lalla đến gần lối ra. Sau đó, chú ngồi xuống chỗ mấy hòn đá, thận trọng để tránh gây sụt lở. Lalla ngồi sau chú một chút, cô run run vì choáng váng. Phía dưới, tận dưới chân vách núi, trong lớp sương mù cô nhận thấy cánh đồng hoang vu bát ngát, những con suối khô hạn. Nơi chân trời, có một luồng hơi màu đất son đang lan tỏa: đó là nơi bắt đầu của sa mạc. Chính đó là nơi thỉnh thoảng Hartani vẫn tới, một mình, không mang theo gì khác ngoài một ít bánh mì gói trong khăn mùi soa. Chính phía Đông là nơi ánh sáng mặt trời đẹp nhất, đẹp đến đỗi người ta chỉ muốn được như Hartani, chạy chân trần trên cát, nhảy qua những tảng đá bén ngót và những cái rãnh, luôn luôn đi xa hơn nữa về phía sa mạc.

"Đẹp quá, Hartani!"

Đôi khi, Lalla quên rằng chú chăn cừu không hiểu. Khi cô nói với chú, chú quay mặt về phía cô, và đôi mắt chú sáng lên, đôi môi chú tìm cách bắt chước những chuyển động của ngôn ngữ. Rồi chú nhăn mặt, và Lalla bật cười.

"Ồ!"

Cô dùng ngón tay chỉ cho chú một chấm đen bất động giữa không gian. Hartani nhìn một hồi theo hướng cái chấm đen, và chú dùng bàn tay làm thành dấu hiệu con chim, ngón trỏ gập lại, ba ngón cuối cùng xòe ra như lông chim. Cái chấm từ từ lướt đi nơi trung tâm bầu trời, nó hơi xoay quanh chính mình, nó xuống, nó tới gần. Giờ đây Lalla đã nhận thấy rõ thân thể nó, đầu nó, đôi cánh xòe lông của nó. Đó là một con chim bồ cắt đang tìm mồi, lặng lẽ lướt trên những luồng gió, như một cái bóng.

Lalla nhìn nó rất lâu, tim cô đập mạnh. Cô chưa từng trông thấy một con chim nào đẹp hơn, nó đang vạch ra những vòng tròn lờ lững trên bầu trời, thật cao trên vùng đất đỏ, nó cô đơn và lặng lẽ trong gió, trong ánh sáng mặt trời, và từng lúc nó ngã chúi về phía sa mạc như sắp rơi xuống. Tim Lalla đập mạnh hơn, bởi niềm im lặng của con dã điểu len vào trong cô, làm nảy sinh cơn sợ. Cô nhìn chăm chăm vào con chim bồ cắt, không rời ra được. Niềm im lặng kinh khiếp của trung tâm bầu trời, cái lạnh của không khí bao la, nhất là ánh sáng như thiêu như đốt, tất cả khiến cô lùng bùng, đào sâu một cơn choáng váng. Cô tỳ bàn tay vào cánh tay của Hartani để khỏi ngã về phía trước vào khoảng trống. Người con trai cũng đang nhìn con chim bồ cắt. Nhưng như thể con chim là người anh em của chú và không gì có thể tách họ ra được. Họ có cùng một cái nhìn, cùng một lòng can đảm, họ chia sẻ một niềm im lặng bất tận của bầu trời, của gió và của sa mạc.

Khi nhận ra Hartani và con chim bồ cắt giống nhau, Lalla không khỏi rùng mình, nhưng cơn choáng váng của cô đã biến mất. Bầu trời trước mặt cô bát ngát, mặt đất là một đám hơi nước đọng lại, có màu xám và màu đất son, lãng đãng nơi chân trời. Bởi Hartani biết rõ điều đó nên Lalla không còn sợ khi bước vào niềm im lặng. Cô nhắm mắt, để mình trôi đi trong không khí, giữa bầu trời, chỉ cần bám chặt vào cánh tay của chú chăn cừu. Từ từ, họ cùng nhau vạch ra những vòng tròn to phía trên mặt đất, xa đến không còn nghe ra một tiếng động nào, chỉ có tiếng sột soạt êm như ru của gió trong đám lông cánh, cao đến tưởng chừng không còn trông thấy những tảng đá, những bụi gai, những ngôi nhà bằng ván và giây quét hắc ín.

Tiếp đó, khi đã cùng bay với nhau thật lâu và khi đã say khướt với gió, với ánh sáng và với màu xanh của bầu trời, họ trở về phía miệng hang ở trên vách đá đỏ; họ đáp xuống nhẹ nhàng, không xô lăn một hòn đá, không lay động một hạt cát. Đó, đó là những gì Hartani làm được, y như vậy đó, không nói năng, không suy tưởng, chỉ với cái nhìn của chú mà thôi.

Chú biết tất cả mọi chốn mọi nơi người ta có thể ngắm nhìn ánh sáng, bởi không phải chỉ có một thứ ánh sáng mà có nhiều thứ ánh sáng khác nhau. Lúc đầu, khi Hartani dẫn Lalla qua các tảng đá, các chỗ trũng, về phía những cái rãnh xưa cũ khô cằn, hoặc leo lên một mô đá đỏ, cô cứ tưởng là họ đang tìm bắt những con thằn lằn hoặc hốt ổ chim như đám con trai khác hay làm. Nhưng lúc ấy Hartani, mắt rực lên niềm vui thú, đã đưa tay chỉ cho cô thấy, và, theo hướng tay chú, không có gì khác ngoài bầu trời mênh mông chan hòa sắc trắng, hoặc điệu vũ của ánh sáng dọc theo những vết nứt của đá, hoặc những vết lốm đốm như ánh trăng do mặt trời tạo nên qua tán lá của các lùm cây thấp. Đôi khi chú cũng chỉ cho cô thấy những con mòng lơ lửng trong không khí, giống như mớ bọt giữa bụi cỏ, tưởng chừng như có một màng nhện lớn giăng ngang. Những điều đó càng đẹp hơn khi được chú nhìn tới, mới mẻ hơn như chưa có ai nhìn tới chúng trước đó, như ở buổi khai thiên lập địa.

Lalla thích bước theo Hartani. Cô bước đi sau chú, dọc theo con đường mòn chú mở ra. Đúng ra đó không phải là một con đường mòn, bởi không có dấu vết, tuy nhiên, khi Hartani bước tới, người ta thấy lối đi chính là đây chứ không ở đâu khác. Có thể đó là những con đường mòn dành cho lũ dê và cáo, không dành cho con người. Nhưng chú, Hartani, chú như một trong số chúng, chú biết những điều mà con người không biết, chú biết bằng trọn cơ thể chú, chứ không chỉ bằng mắt

Với các mùi hương cũng thế. Thỉnh thoảng Hartani bước đi thật xa trên đồng bằng đá, về hướng Đông. Mặt trời thiêu đốt trên vai và trên mặt Lalla, khó khăn lắm cô mới theo nổi bước chú. Còn chú thì không bận tâm gì tới cô lúc bấy giờ. Chú tìm kiếm một cái gì đó, chú đi mãi không dừng, vừa hơi nghiêng người xuống mặt đất, vừa nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác. Rồi bất thần chú dừng lại, bắt đầu áp mặt sát vào đất và nằm sấp bụng như đang uống nước. Lalla nhẹ nhàng tới gần trong lúc Hartani hơi ngẩng đầu lên. Đôi mắt kim loại của chú rực lên thích thú như vừa tìm ra thứ quý giá nhất trên đời.

Giữa những hòn sỏi, trên nền đất đầy bụi, có một cụm màu lục và xám, một cái cây thấp với cành lá mỏng mảnh, mọc rất nhiều ở vùng này, nhưng khi đến lượt cô áp mặt lại gần, Lalla ngửi thấy một mùi hương, lúc đầu còn thoang thoảng, sau đó càng lúc càng nồng nàn hơn, mùi hương của những cánh hoa đẹp nhất, mùi bạc hà và cỏ chùm, cả mùi chanh nữa, mùi của biển và gió, mùi của những đồng cỏ mùa hạ. Và còn hơn thế nữa, tất cả những mùi hương ấy có trong cái cây nhỏ nhoi, bẩn thỉu và mong manh, mọc trong sỏi đá giữa một vùng cao nguyên khô cằn bát ngát này; và chỉ có Hartani biết nó.

Chính chú là người chỉ cho Lalla biết tất cả mùi hương thơm dịu, bởi chú biết những nơi chúng lẩn tránh. Cũng giống như sỏi đá và loài vật, từng mùi hương đều có chỗ ẩn riêng của mình. Nhưng phải biết cách tìm ra chúng, như những con chó vẫn làm, nhờ có gió, bằng cách đánh hơi trên các lối mòn nhỏ hẹp, rồi không chút ngập ngừng, chạy thẳng tới tận chỗ chúng ẩn náu.

Hartani đã dạy cho cô biết phải làm gì. Trước đây, cô không biết. Trước đây cô có thể đi qua bên một bụi cây, hoặc một cái rễ cây, hoặc một tầng tổ ong mà không cảm nhận được gì. Không khí thì tràn ngập những mùi hương thơm ngát! Chúng lay động từng hồi, như những cơn gió, chúng dâng lên, tỏa xuống, gặp gỡ nhau, hòa trộn vào nhau, tách nhau ra. Phía trên những dấu vết của một con thỏ rừng phảng phất cái mùi lạ lùng của nỗi sợ hãi, và gần đó Hartani ra dấu cho Lalla tới gần. Trên mặt đất đỏ, thoạt tiên không có gì, nhưng dần dà, cô gái nhận ra được một thứ gì hăng hắc, khó chịu, mùi nước tiểu và mồ hôi, rồi ngay tức thì, cô nhận ra nó: đó là mùi của một con chó hoang đói khát, lông dựng đứng, chạy qua vùng cao nguyên đuổi theo con thỏ rừng.

Lalla thích được ở bên Hartani mỗi ngày. Cô là người duy nhất được chú chỉ cho tất cả những điều đó. Những người khác thì chú không hề tin bởi họ không có thì giờ để chờ đợi, để tìm kiếm một mùi hương, hoặc để nhìn các loài chim sa mạc vỗ cánh bay. Chú chẳng hề sợ ai. Đúng ra chính chú mới làm cho mọi người phải sợ. Họ bảo chú là tên quỷ ám, một tên phù thủy, một kẻ xúi quẩy. Chú, Hartani, là đứa không cha không mẹ, không biết từ đâu tới đã được một chiến binh sa mạc đặt xuống bên cái giếng một ngày nọ mà không nói lời nào. Chú là đứa không tên họ. Đôi khi Lalla rất muốn biết chú là ai, rất muốn hỏi chú:

"Anh từ đâu tới?"

Nhưng Hartani không biết tới ngôn ngữ loài người, chú không trả lời những câu hỏi bao giờ. Cậu con trai lớn của Aamma bảo rằng Hartani không biết nói bởi vì chú điếc. Dù sao đó cũng là điều thấy giáo của cậu ta có hôm đã nói: người ta gọi đó là những kẻ câm-điếc. Nhưng Lalla biết rõ rằng không phải vậy, bởi Hartani thính tai hơn bất luận ai. Chú biết nghe những tiếng động thật tinh, thật khẽ mà ngay cả khi áp tai xuống sát mặt đất người ta cũng không nghe thấy. Chú biết nghe tiếng một con thỏ rừng nhảy ở bên kia đồi đá, hoặc cả tiếng một người đàn ông đang tới gần trên con đường mòn ở đầu kia thung lũng. Chú có khả năng tìm ra chỗ con cào cào đang cất tiếng kêu hoặc tổ đa đa trong đám cỏ cao. Nhưng Hartani không muốn nghe ngôn ngữ loài người, bởi chú đến từ một xứ sở không có con người, chỉ có cát của những cồn cát và

bầu trời.

Thỉnh thoảng, Lalla có nói chuyện với chú chăn cừu, cô nói với chú, thí dụ như "Bi-luuu-la!", một cách chậm rãi đồng thời nhìn sâu vào đôi mắt chú, và một thứ ánh sáng kỳ lạ rực lên trong đôi mắt kim loại buồn buồn. Chú đặt bàn tay lên đôi môi của Lalla và chú dõi theo chuyển động của chúng khi cô nói như vậy. Nhưng đến lượt chú thì chú không thốt lên một lời nào bao giờ.

Một lúc sau đó, chú chán, chú quay mặt đi, chú đến ngồi ở một nơi xa hơn, trên một tảng đá khác. Nhưng điều đó thật ra chẳng quan trọng gì, bởi giờ đây Lalla biết rằng lời nói thực sự không đáng kể. Chỉ có điều người ta muốn nói, hoàn toàn tự bên trong, như một niềm bí mật, như một lời nguyện cầu, chỉ có lời nói đó là đáng kể thôi. Và Hartani không nói gì hơn, chú biết trao gửi và nhận về lời nói ấy. Có nhiều điều được truyền đi bằng sự im lặng. Cả điều này nữa, Lalla không hề biết trước khi gặp Hartani. Những người khác chỉ trông đợi lời nói, hay cử chỉ, chứng cớ, còn Hartani, chú chỉ nhìn Lalla với cái nhìn rực ánh kim loại của mình, không nói gì, và chính trong ánh sáng của cái nhìn đó người ta nghe thấy những gì chú nói, những gì chú hỏi.

Khi có chuyện gì lo âu hay trái lại thật hạnh phúc, chú dừng lại, chú đặt hai bàn tay lên hai bên thái dương Lalla, tức là chú đưa tay về hai bên đầu cô gái, không chạm vào cô, để yên như vậy một hồi lâu, khuôn mặt rạng rỡ ánh sáng. Và Lalla cảm thấy hơi ấm từ gan bàn tay chú ở hai bên má, hai bên thái dương cô như thể có một ngọn lửa đang sưởi ấm cô. Đó là một cảm giác khác lạ, khiến cô ngập tràn hạnh phúc, nó len vào vùng sâu thẳm nhất trong cô, tháo mở cô, xoa dịu cô. Đặc biệt chính vì điều đó mà Lalla thích Hartani, bởi chú có cái quyền năng đó nơi gan bàn tay mình. Có thể chú đúng là một tay phù thủy.

Cô nhìn vào đôi bàn tay của chú chăn cừu để tìm hiểu. Đôi bàn tay thon dài với những ngón tay mỏng mảnh, móng tay lấp lánh ánh xà cừ, với làn da nâu mịn, gần như đen sạm ở trên, và có một màu hồng phơn phớt vàng ở dưới, như những chiếc lá hai màu.

Lalla rất thích đôi bàn tay Hartani. Chúng không giống bàn tay của những người đàn ông khác trong Cư xá, và cô tin rằng không có đôi bàn tay nào như vậy cả. Chúng nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, đầy sức mạnh nữa chứ, và Lalla nghĩ đó là đôi bàn tay con nhà quyền quý, có thể là con trai một tù trưởng, cũng có thể là con trai một chiến binh phương Đông, từ Bagdad tới.

Hartani biết làm mọi thứ với đôi bàn tay của mình, không chỉ nhặt sỏi hay bẻ củi, mà còn thắt nút thòng lọng với những sợi cọ, làm bẫy chim, hoặc huýt to, tạo ra những điệu nhạc, bắt chước tiếng kêu của lũ đa đa, bồ cắt, cáo, bắt chước tiếng gió, tiếng giông, tiếng biển. Điều đáng kể nhất là đôi bàn tay chú biết nói. Đó là điều Lalla thích nhất. Thỉnh thoảng, để nói, Hartani ngồi trên một tảng đá lớn bằng phẳng, dưới ánh mặt trời, đôi bàn chân khuất dưới lớp áo dài rộng bằng len thô. Quần áo của chú có màu sáng, gần như trắng, lúc ấy người ta chỉ trông thấy khuôn mặt cùng đôi bàn tay màu sẫm tối của chú, và trong tư thế đó chú bắt đầu nói.

Những gì chú kể cho Lalla không thực sự là các câu chuyện. Đúng ra đó là những hình ảnh chú làm nảy sinh trong không khí, chỉ với những cử chỉ của chú, với đôi môi của chú, với ánh sáng của đôi mắt chú. Những hình ảnh thoáng qua đã vạch nên những ánh chớp, nhóm lên rồi tắt ngấm, nhưng Lalla chưa từng nghe điều gì đẹp đẽ hơn, đích thực hơn. Ngay cả những câu chuyện mà Naman lão đánh cá đã kể, ngay cả khi Aaman nói về Al Azraq, Người Đàn Ông Xanh của sa mạc, về mạch nước trong lành phun lên từ dưới một hòn đá, tất cả đều không đẹp bằng. Những gì Hartani nói bằng đôi bàn tay của mình cũng kỳ lạ như chính chú, nhưng tất cả giống như một giấc mơ, bởi mỗi hình ảnh chú làm cho xuất hiện thường đến vào khoảnh khắc người ta ít mong đợi nhất, tuy nhiên, nó lại là điều người ta mong đợi. Chú nói bằng cách như vậy đó, trong thời gian rất lâu, chú làm hiện ra những con chim xòe lông, những tảng đá khép kín như nắm tay, những ngôi nhà, những con chó, những cơn giông, những chiếc phi cơ, những bông hoa khổng lồ, những ngọn núi, cùng gió mơn man trên những khuôn mặt uể oải. Tất cả không nói lên điều gì, nhưng khi Lalla nhìn khuôn mặt chú, chuyển động của đôi bàn tay sạm đen của chú, cô thấy những hình ảnh đó xuất hiện, đẹp đẽ và mới mẻ, chan hòa ánh sáng và sức sống, như thể chúng thật sự nảy sinh từ hai lõm bàn tay chú, như thể chúng thoát ra từ đôi môi chú, trong ánh mắt chú.

Điều đẹp đẽ nhất khi Hartani nói bằng cách như vậy là không có gì khuấy động niềm im lặng. Mặt trời thiêu đốt trên cao nguyên đá, trên vách đá đỏ. Gió từng hồi ùa đến, lành lạnh, hay là người ta mơ hồ nghe tiếng cát sột soạt chảy vào các kẽ đá. Bằng đôi bàn tay dài với những ngón mềm mại, Hartani làm xuất hiện một con rắn đang trườn đi trong một đáy rãnh, đoạn dừng lại, đầu ngỏng lên. Bây giờ một con cò trắng lớn vỗ cánh bay đi. Trong bầu trời đêm, trăng tròn vành vạnh, và bằng ngón tay trỏ, Hartani đang thắp lên những ngôi sao, một ngôi, một ngôi, rồi một ngôi nữa... Mùa hạ, mưa bắt đầu rơi, nước chảy trong các con suối, làm loang rộng một cái ao tròn nơi những con muỗi đang bay. Hướng thẳng về phía trung tâm của bầu trời xanh, Hartani ném ra một hòn sỏi hình tam giác, nó bay lên, bay lên nữa, và hấp, thoắt cái nó mở ra và biến thành một cái cây với cành lá sum suê đầy chim chóc.

Đôi khi Hartani dùng mặt mình để bắt chước người và thú. Chú rất rành việc giả làm rùa bằng cách mím môi, đầu rụt vào vai, lưng cong vòng. Trò đó lúc nào cũng khiến Lalla bật cười, cứ như lần đầu tiên cô trông thấy. Hoặc chú giả làm lạc đà, đôi môi chìa ra phía trước, để hở mấy cái răng cửa. Chú cũng bắt chước thật tài tình những người hùng mà chú đã trông thấy trên phim ảnh. Tarzan, hoặc Maciste, hoặc những người hùng trong phim hoạt hình.

Thỉnh thoảng Lalla mang tới cho chú những tờ họa báo mà cô lấy của cậu con trai cả của Aamma hoặc mua được bằng tiền dành dụm của mình. Có những câu chuyện về Akim, về Roch Ratal, những câu chuyện xảy ra trên mặt trăng hoặc trên các hành tinh khác, và những quyển sách nhỏ về chuột Mickey hoặc vịt Donald. Cô thích những quyển đó hơn. Cô không đọc được chữ, nhưng cô nhờ cậu con trai của Aamma kể lại câu chuyện đôi ba lần, và cô nhớ chúng đến thuộc lòng. Nhưng dù sao Hartani vẫn không thích nghe chuyện. Chú cầm những quyển sách lên, chú có cái cách ngắm nhìn chúng thật lạ lùng bằng cách để chúng nằm nghiêng rồi hơi nghiêng đầu sang một bên. Tiếp đến, sau khi đã nhìn kỹ các bức vẽ, chú nhảy nhảy, chú bắt chước Roch Rafal hoặc Akim đang ngồi trên lưng voi (một tảng đá dùng làm voi).

Nhưng không bao giờ Lalla ở lại thật lâu với Hartani, bởi luôn luôn có một lúc nào đó khuôn mặt chú như trở nên kín bưng. Cô không hiểu chuyện gì đang xảy ra lắm, khi khuôn mặt chú chăn cừu trở nên cứng cỏi và đăm đăm, cái nhìn của chú trở nên diệu vợi làm sao. Điều đó giống như khi một đám mây bay qua trước mặt trời, hoặc khi bóng đêm xuống thật nhanh trên những ngọn đồi và trong lòng thung lũng. Điều đó thật khủng khiếp bởi Lalla rất muốn níu giữ khoảng thời gian Hartani hạnh phúc, với nụ cười trên môi, với ánh sáng lấp lánh trong mắt. Nhưng có được đâu. Đột nhiên chú bỗng đi mất, như một con thú. Chú nhảy đi và biến mất trong chớp mắt trước khi Lalla kịp thấy chú đi đâu. Nhưng giờ đây thì cô không còn tìm cách giữ chân chú lại nữa. Nhiều hôm, ngay khi ánh sáng còn chói chang trên cao nguyên đá, khi Hartani trò chuyện bằng đôi bàn tay chú và làm xuất hiện bao điều phi thường, Lalla vẫn thích cất bước trước. Cô đứng dậy, cô bước đi không cần chạy, cũng không nhìn lại, tới tận con đường dẫn về Cư xá bằng ván và bằng giấy quét hắc ín. Có thể vì mãi gặp Hartani mà giờ đây cô trở nên giống chú.

Vả chăng mọi người vẫn không thích việc cô thường tới gặp Hartani lắm. Có thể họ sợ rồi cô cũng trở thành phù thủy, cô nhận lấy linh hồn ma quỷ từ người của chú chăn cừu. Cậu con trai cả của Aamma bảo Hartani là một tên trộm bởi chú có vàng trong cái túi nhỏ bằng da, đeo nơi cổ. Nhưng Lalla biết là không đúng như vậy. Vàng, chính Hartani đã tìm thấy nó hôm nọ trong lòng con suối khô cạn. Chú đã nắm tay Lalla dẫn cô tới tận đáy khe, tại đó, trong lớp cát xám của con suối, Lalla đã trông thấy mớ bột vàng lấp lánh.

"Đó không phải là chàng trai xứng với cháu", Aamma đã nói khi Lalla từ cao nguyên đá trở về.

Khuôn mặt Lalla giờ đây cũng sạm đen như khuôn mặt Hartani bởi ở trên kia mặt trời thiêu đốt dữ dội hơn.

Đôi khi Aamma nói thêm:

"Cháu không định dù sao vẫn cứ lấy Hartani đó chứ?"

"Tại sao không?" Lalla nói. Và cô nhún vai.

Cô không muốn lấy chồng, cô không nghĩ tới chuyện đó bao giờ. Ý nghĩ cô có thể lấy Hartani làm chồng khiến cô bật cười.

Dù vậy, khi có thể, khi cho rằng công việc của mình đã xong xuôi, Lalla lại rời Cư xá và đi về phía những ngọn đồi nơi có những chú chăn cừu. Đó là phía Đông Cư xá, nơi mở ra những dải đất thiếu nước, những vách đá đỏ cao ngất. Cô thích vừa đi trên con đường mòn trắng xóa uốn lượn giữa những ngọn đồi vừa lắng nghe điệu nhạc lảnh lót của đám cào cào châu chấu, vừa nhìn dấu vết lũ rắn để lại trên cát.

Xa hơn một chút, cô nghe tiếng huýt của đám chăn cừu. Phần đông là những đứa trẻ, cả trai lẫn gái, họ rải rác gần như khắp nơi trong các vùng đồi với đàn cừu và dê của mình. Họ huýt như vậy để gọi nhau, trò chuyện với nhau, hoặc khiến cho lũ chó hoang phải sợ.

Cô rất thích đi giữa các ngọn đồi, mắt nheo hẳn lại vì ánh sáng trắng lóa, với tất cả những tiếng huýt ấy vang dậy khắp phía. Điều đó khiến cô không khỏi run lên dù trời đang nóng bức, nó làm tim cô đập dồn dập hơn. Lắm lúc cô đùa bằng cách đáp lại bọn họ. Chính Hartani đã dạy cô phải huýt bằng cách nào, với hai ngón tay trong miệng.

Khi các chú chăn cừu tới gặp cô trên đường, lúc đầu họ có phần cách biệt bởi họ còn dè dặt. Mặt họ láng lẩy, màu đồng nung, vầng trán gồ lên và mái tóc có màu kỳ dị, gần như đỏ hoe. Chính mặt trời cùng gió sa mạc đã thiêu đốt da và tóc của họ. Họ ăn mặc rách rưới, với độc cái áo sơ mi dài bằng vải mộc, hoặc một cái áo dài cắt ra từ bao đựng bột. Họ không tới gần vì họ nói tiếng Berbère và họ không hiểu ngôn ngữ của những người trong thung lũng. Nhưng Lalla rất mến họ và họ không sợ cô. Thỉnh thoảng cô vẫn mang thức ăn cho họ, những gì cô lén lút lấy được trong nhà Aamma, một ít bánh mì, những cái bánh quy, vài trái chà là khô.

Chỉ có Hartani là có thể ở lại với họ, vì chú cũng là dân chăn cừu như họ, và vì chú không sống với những người trong Cư xá. Khi Lalla đang ở bên chú, xa khuất giữa cao nguyên đá, họ tới, không gây tiếng động, bằng cách nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác. Nhưng thỉnh thoảng họ lại huýt lên để thông báo. Tới nơi, họ vừa vây quanh Hartani vừa nói huyên thuyên bằng thứ ngôn ngữ kỳ lạ của mình, nghe như tiếng chim líu lo. Rồi họ lại hối hả đi, bằng cách nhảy qua cao nguyên đá, miệng vẫn huýt vang, và có khi Hartani cũng cất bước chạy theo họ, và cả Lalla cũng thử theo họ, nhưng cò không biết nhảy nhanh như họ. Cả bọn nhìn cô rồi cười vang, và họ tiếp tục vừa chạy vừa reo cười thỏa thích.

Họ cùng ăn với nhau trên những tảng đá trắng giữa cao nguyên. Dưới lớp áo sơ mi, họ may một cái túi cột nơi cổ đựng ít bánh mì đen, những trái chà là, những trái sung cùng pho mát khô. Họ cho Hartani một miếng, cho Lalla một miếng, và đổi lại, cô cho họ một ít bánh mì trắng của mình. Một đôi khi, cô mang tới một trái táo đỏ mà cô mua ở Hợp tác xã. Hartani lấy con dao nhỏ không có cán ra rồi cắt trái táo thành những lát mỏng để mỗi người được ăn một chút.

Buổi chiều trên cao nguyên đá thật thích. Ánh mặt trời không ngừng nhảy nhót trên các cạnh sỏi, người ta được vây phủ bởi những tia sáng. Bầu trời hun hút một màu xanh thẫm, sẫm lại, không còn hơi nước trắng xóa từ biển, từ các con sông loang tới. Khi gió thổi mạnh, người ta phải chui vào các hốc đá để tránh cái lạnh, và lúc bây giờ, chỉ còn nghe tiếng rít của không khí trên mặt đất, trong các bụi rậm. Âm thanh ấy nghe như tiếng biển, nhưng chậm hơn và dài hơn. Lalla nghe tiếng gió, cô nghe những giọng nói lanh lành của đám chăn cừu cũng như tiếng be be xa xa của đàn gia súc. Đó là những tiếng động cô thích nhất trên đời, cùng với tiếng kêu của loài hải âu, tiếng ầm vang của sóng biển. Người ta nghe những tiếng động đó và tưởng đâu không một điều gì tệ hại có thể xảy ra trên trần thế này.

Cứ như vậy đó mà một bữa nọ, sau khi ăn bánh mì và chà là xong, Lalla theo chân Hartani tới tận chân những ngọn đồi đỏ, nơi có những cái hang. Đây chính là nơi chú chăn cừu vẫn ngủ vào mùa khô, khi đàn dê phải đi xa để tìm kiếm đồng cỏ mới. Trong vách đá đỏ có nhiều hốc đen lẩn khuất sau những bụi gai. Trong số đó có cái chỉ to như một cái hang nhưng khi người ta bước vào thì nó rộng ra như cà tòa nhà, và mới mát mẻ làm sao.

Lalla đã trườn trên bụng để vào, theo sau Hartani. Thoạt đầu, cô chẳng trông thấy gì, và cô phát sợ. Bất chợt cô kêu lên:

"Hartani! Hartani!"

Chú chăn cừu quay lại phía sau, nắm lấy cánh tay cô rồi kéo cô vào trong hang. Sau đó, khi sáng mắt trở lại, Lalla trông thấy một phòng lớn. Vách của nó cao tới hút tầm mắt, với những đốm xanh và xám, những dấu vết màu hổ phách, màu đồng. Không khí màu xám do ánh sáng hiếm hơi chiếu qua những cái lỗ trên vách đá. Lalla nghe một tiếng đập cánh mạnh, cô nép sát vào người chú chăn cừu. Nhưng đó chỉ là những con dơi bị quấy rầy khi đang ngủ. Chúng vừa bay đi tìm chỗ đậu xa hơn vừa nghiến răng kèn kẹt.

Hartani ngồi trên một tảng đá to bằng phẳng ở giữa hang và Lalla ngồi bên chú. Họ cùng ngắm ánh sáng chói chang chiếu qua cửa hang ở trước mặt. Trong hang luôn có bóng tối và hơi ẩm của đêm dài vô tận, nhưng bên ngoài, trên cao nguyên đá, ánh sáng làm nhức cả mắt. Người ta tưởng chừng như đang sống trong một xứ sở khác, một thế giới khác. Người ta tưởng chừng đang sống dưới đáy biển sâu.

Lalla không nói gì, giờ đây, cô không muốn nói gì cả. Giống như Hartani, cô đang ở về phía bóng tối. Cái nhìn của cô sâu tối như bóng đêm, làn da cô mang màu sẫm tối.

Lalla cảm nhận hơi ấm từ thân thể chú chăn cừu ở sát bên cô, và ánh sáng từ cái nhìn của chú dần dần nhập vào người cô. Cô rất muốn tới với chú, tới tận bờ cõi của chú, được trọn vẹn với chú, để cuối cùng chú nghe được tiếng nói của cô. Cô kề miệng bên tai chú, cô nghe mùi tóc chú, mùi da chú, và cô nói tên chú thật dịu dàng, gần như trong câm nín. Quanh họ là bóng tối của cái hang, nó phủ trùm lên họ như một tấm màn nhẹ tênh, chắc chắn. Lalla nghe rõ mồn một tiếng nước róc rách chảy dọc theo vách hang, và tiếng kêu khe khẽ của lũ dơi đang trong giấc ngủ. Khi làn da cô chạm phải làn da Hartani, điều này tạo nên một luồng hơi nóng lạ kỳ trong thân thể cô, một cơn choáng váng. Đó là hơi nóng mặt trời đã nhập vào cơ thể họ trong trọn một ngày trời, và giờ đây nó tỏa ra thành những luồng nhiệt dài. Hơi thở họ cũng chạm vào nhau, hòa trộn vào nhau, bởi họ không cần tới lời nói nữa, mà chỉ cần tới những gì họ cảm nhận được. Đó là một cơn say mà cô chưa biết tới bao giờ, nảy sinh từ bóng tối của cái hang, chỉ trong chốc lát, như thể từ lâu các vách đá cùng bóng tối ẩm ướt chỉ chờ họ tới để bộc lộ quyền năng của mình. Cơn choáng váng càng lúc càng quay tít mù trong thân thể Lalla, và cô nghe rõ nhịp đập của máu trong người cô hòa với tiếng nước nhỏ giọt trên vách đá cùng những tiếng kêu khe khẽ của lũ dơi. Thân thể họ như nhập làm một với phần bên trong hang hoặc bị giam giữ trong lòng một tên khổng lồ.

Mùi dê và cừu ở Hartani quyện với mùi của cô gái. Cô nghe hơi nóng từ hai bàn tay chú, mồ hôi đẫm trên trán cô làm tóc cô dính lại.

Bất chợt Lalla không hiểu chuyện gì đang xảy ra nữa. Cô sợ, cô lắc đầu và tìm cách thoát khỏi cái ghì siết của chú chăn cừu đang giữ chặt hai cánh tay cô sát vào thành đá và khóa chặt đôi chân dài cứng cáp vào đôi chân cô. Lalla muốn kêu lên, nhưng cô như đang trong một giấc mơ, không một thanh âm nào thoát được khỏi cổ họng cô. Bóng tối ẩm ướt quấn chặt lấy cô, che mắt cô, sức nặng thân thể chú chăn cừu chắn ngang hơi thở cô. Cuối cùng trong một cơn đau xé, cô kêu lên được và giọng cô âm vang như tiếng sấm dội vào các thành hang. Lũ dơi chợt thức giấc, chúng bắt đầu bay lượn lòng vòng giữa vách hang với những tiếng đập cánh cùng tiếng nghiến răng kèn kẹt.

Hartani đã đứng lên trên tảng đá, chú hơi dịch ra. Hai cánh tay dài của chú khoa lên để đuổi lũ dơi điên dại đang lao quanh chú. Lalla không trông thấy mặt chú bởi bóng tối trong hang trở nên dày đặc hơn, nhưng cô vẫn đoán ra vẻ lo âu của chú. Một nỗi buồn mênh mang dấy lên trong cô, trào dâng không ngớt. Cô không còn sợ bóng tối lẫn lũ dơi nữa. Giờ đây chính cô nắm lấy bàn tay của Hartani, cô nhận ra chú đang run lên dữ dội, chú đang vật vã trong những cơn giật nẩy. Chú không động đậy. Nửa thân trên ngả ra sau, chú dùng một cánh tay che trước mắt để khỏi trông thấy lũ dơi, chú run tới mức răng đánh lập cập. Bấy giờ Lalla mới dìu chú ra cửa hang, và chính cô kéo chú ra phía ngoài, cho tới khi ánh sáng mặt trời tràn ngập trên đầu và trên vai họ.

Ra ngoài ánh sáng, mặt Hartani trông phờ phạc, thảm hại đến mức khiến Lalla không nín được cười. Cô chùi những vết đất ướt trên chiếc áo dài đã rách của mình, trên chiếc áo sơ mi của Hartani. Rồi họ cùng bước xuống con dốc, đi về phía cao nguyên đá. Mặt trời hừng hực trên đám sỏi sắc nhọn, đất có màu trắng và đỏ dưới bầu trời đen sạm.

Một cảm giác giống như khi người ta vùi đầu trước tiên vào nước lạnh khi đang rất nóng nực rồi bơi thật lâu để rửa sạch cả cơ thể mình. Tiếp theo họ bắt đầu chạy băng qua cao nguyên đá, vừa cố sức chạy thật nhanh vừa nhảy trên các tảng đá, cho tới khi Lalla dừng lại, hụt hơi, người gập làm đôi vì một con nhói đau ở ngực. Hartani tiếp tục nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác như một con vật, sau đó nhận ra Lalla không còn ở phía sau mình nữa, chú đánh một vòng lớn ngược trở lại. Họ cùng ngồi trên một tảng đá dưới ánh nắng, nắm chặt tay nhau. Mặt trời đang lặn về phía chân trời, bầu trời trở nên vàng ối. Từng quãng trong vùng đồi, trong những cái hốc thung lũng, những tiếng huýt vang của đám chăn cừu đang trò chuyện với nhau, đang đáp lời nhau.

Lalla thích lửa. Có đủ mọi thứ lửa nơi đây, trong Cư xá. Có thứ lửa vào buổi sáng khi cánh đàn bà và đám con gái nhỏ chuẩn bị bữa ăn trong những cái nồi lớn màu đen, và khói chạy dài trên đất, hòa lẫn vào sương mù buổi bình minh ngay trước khi mặt trời ló dạng trên các ngọn đồi màu đỏ. Có thứ lửa của cỏ và cành cây tự chúng cháy rất lâu, trông như đã tắt, không có ngọn. Có thứ lửa lò, vào buổi xế chiều, trong ánh sáng tuyệt đẹp của mặt trời đang lặn, giữa những ánh phản chiếu của đồ đồng. Làn khói thấp lan tỏa như một con rắn dài, mơ hồ, bò từ nhà này sang nhà khác, ném những cái vòng xám về phía biển. Có thứ lửa người ta nhóm lên dưới những lon đồ hộp cũ kỹ để nấu hắc ín dùng lấp lỗ thủng trên mái nhà và trên vách tường.

Nơi đây mọi người đều thích lửa, nhất là bọn con nít và người già. Mỗi khi có một ngọn lửa nhóm lên, họ đến ngồi xung quanh, ngồi xổm trên gót chân, và họ nhìn những ngọn lửa nhảy múa với ánh mắt trống rỗng. Hoặc thỉnh thoảng họ ném vào vài cành khô nhỏ sẽ bắt cháy bùng lên trong tiếng nổ lẹt đẹt, ném vào những nắm cỏ khi cháy sẽ tạo nên cuộn khói lam xoáy lên.

Lalla đến ngồi trên cát, bên bờ biển, nơi Naman ông lão đánh cá nhóm lên ngọn lửa to từ mớ cành cây để nấu nhựa, để xảm thuyền. Trời đang về chiều, không khí thật dịu, thật êm. Bầu trời thoảng một màu xanh nhẹ, trong suốt, không một gợn mây.

Bên bờ biển, luôn có những cái cây có phần gầy yếu kia, bị cháy sém bởi muối và mặt trời, với tán lá dệt nên từ hàng nghìn lá kim nhỏ màu xanh-xám. Khi tới gần chúng, Lalla hái một nắm lá kim để rồi ném vào đống lửa của Naman lão đánh cá, và cô cũng bỏ vào miệng vài chiếc lá để vừa thong thả nhai vừa bước đi. Lá kim có vị mặn, gắt, nhưng nó trộn lẫn với mùi khói thì hay hay.

Naman nhóm lửa ở bất luận nơi nào ông bắt gặp những cành cây mục to tướng dạt trên cát. Ông chất cành cây thành một đống, ông nhét các nhánh khô vào những chỗ hở, ông tìm chúng ở ngoài trảng, phía bên kia những cồn cát. Ông cũng cho vào đó mớ tảo khô cùng đám cây cúc gai chết. Đó là lúc mặt trời còn đứng bóng. Mồ hôi chảy ròng ròng trên trán và trên má ông lão. Cát cũng nóng như lửa.

Tiếp đến, ông nhóm lửa bằng một cái bùi nhùi, ông chú ý châm ngọn lửa ở phía không có gió. Naman nhóm lửa thật tài tình, và Lalla chăm chú ngắm nhìn mọi động tác của ông để học hỏi. Ông biết chọn địa điểm, không lộ thiên quá cũng không lẩn khuất quá, nơi lõm sâu của những cồn cát.

Lửa bắt đầu cháy và tắt hai ba lần rồi, nhưng Naman không có vẻ gì để ý tới. Mỗi lần lửa tắt, ông dùng bàn tay lục lọi trong đám nhánh cây khô mà không sợ bỏng. Lửa như vậy đó, nó thích những ai không sợ nó. Thế là lửa lại bùng lên, ban đầu còn yếu ớt, ta chỉ thấy ngọn lửa cháy dưới đám nhánh cây, sau đó nó bốc cháy đều khắp, tạo thành một vùng ánh sáng rộng lớn và tạo nên tiếng tí tách liên hồi.

Khi lửa đã cháy bùng lên, Naman, ông lão đánh cá dựng lên trên đó cái kiềng bằng gang rồi đặt một cái nồi nấu nhựa lớn lên. Sau đó ông ngồi trên cát, ông vừa ngắm lửa cháy vừa thỉnh thoảng ném vào một nhánh cây sẽ cháy rụi ngay sau đó. Bấy giờ bọn trẻ con cũng đến ngồi quanh. Chúng nghe ra mùi khói, và chúng từ xa kéo tới, chạy dọc theo bãi biển. Chúng kêu, chúng gọi nhau, chúng cười vang, bởi lửa rất kỳ diệu, nó gây cho người ta ước muốn được chạy nhảy, được kêu la, được reo cười. Vào lúc bây giờ, những ngọn lửa đã lên cao và sáng rực, chúng bập bùng và kêu tí tách, chúng nhảy múa, và người ta trông thấy tất cả mọi thứ trong những nếp uốn của chúng. Lalla thích nhất là ở phần gốc của đám lửa, những cành cây cháy dở nóng rực được ngọn lửa bao quanh, và cái màu nóng bỏng đó không có tên gọi, giống như màu mặt trời.

Cô cũng nhìn những tia lửa dâng cao dọc theo làn khói xám, chúng ánh lên rồi tắt ngấm, biến mất trong bầu trời xanh. Ban đêm, nhũng tia lửa còn đẹp hơn, chúng giống như những chòm sao băng.

Lũ ruồi cát cũng bay đến, bị lôi kéo bởi mùi tảo cháy, mùi nhựa nóng, và bị kích thích bởi những cuộn khói. Naman không để ý tới chúng. Ông chỉ lo nhìn lửa. Thỉnh thoảng ông đứng dậy, nhúng một cây gậy vào nồi nhựa để xem nó đủ nóng chưa, sau đó ông vừa quấy chất lỏng đặc quánh vừa nheo mắt vì khói đang cuồn cuộn bay lên. Con thuyền của ông nằm trên bãi biển, cách đó mấy thước, sống thuyền chĩa lên trời, sẵn sàng để được xảm. Giờ đây, mặt trời đang lặn xuống nhanh, đã tới gần những ngọn đồi khô khốc ở bên kia cồn cát. Bóng tối tăng dần. Đám trẻ con ngồi sát bên nhau trên bãi biển, và tiếng cười của chúng đã giảm đi chút ít. Lalla nhìn Naman, tìm kiếm thứ ánh sáng trong vắt màu nước ánh lên trong cái nhìn của ông. Naman nhận ra cô, ông huơ tay tỏ dấu thân thiện với cô, rồi ông nói ngay như đó là một điều tự nhiên nhất trên đời:

"Ông đã nói với cháu về Balaabilou chưa?"

Lalla lắc đầu. Cô sung sướng bởi đây đúng là lúc để vừa nghe một câu chuyện, trong khung cảnh như thế này đây, trên bãi biển, nhìn ngọn lửa đang làm sôi sục nồi nhựa, biển cả thì xanh ngắt một màu, vừa nghe gió ấm xô khói bay đi, với đám ruồi và ong vò vẽ đang bay vù vù, và không xa lắm, có tiếng sóng biển tràn vào tận con thuyền cũ kỹ lật úp trên cát.

"À vậy là ông chưa kể cho cháu nghe chuyện Balaabilou à?"

Ông lão Naman đứng dậy để nhìn nồi nhựa đang sôi sùng sục. Ông chầm chậm xoay xoay cây gậy trong nồi, ông có vẻ hài lòng thấy mọi việc tốt đẹp. Sau đó ông đưa cho Lalla một cái xoong với cán đã nám cháy.

"Tốt lắm, cháu múc đầy nhựa vào đây rồi mang đặt ở đằng kia cho ông khi ông tới gần con thuyền."

Không đợi trả lời, ông bước ngay ra bãi biển bên con thuyền của mình. Ông soạn ra đủ mọi cây cọ tự chế với những nùi giẻ cột chặt vào đầu

"Đến đây!"

Lalla múc đầy xoong. Nhựa sôi làm vỡ đám bọt li ti cay xè, và khói làm rát mắt Lalla. Nhưng cô vẫn vừa chạy vừa cầm cái xoong đầy nhựa giơ về phía trước. Bọn trẻ vừa chạy theo cô vừa reo cười và ngồi quanh con thuyền.

"Balaabilou, Balaabilou..."

Ông lão Naman hát lâm râm tên con chim sơn ca, như để tìm cách nhớ rõ hơn tất cả nội dung câu chuyện. Ông nhúng mấy cây cọ vào nhựa nóng và bắt đầu quét lên vỏ thuyền ở những chỗ lót xơ, nơi nối ráp giữa các tấm ván.

"Chuyện đã lâu lắm rồi", Naman nói; "nó xảy ra vào thời mà ông, cha của ông, và cả ông nội của ông đều chưa ra đời, vậy mà người ta vẫn nhớ những gì đã xảy ra. Thời đó con người không như bây giờ, người ta chưa biết tới những người La Mã cũng như tất cả những gì đến từ các nước khác. Vì vậy mà thời đó vẫn còn thần linh bởi không ai xua đuổi họ cả. Vậy là vào thời đó, trong một thành phố lớn ở phương Đông, một thủ lĩnh Hồi giáo đầy quyền uy chỉ có được một cô con gái độc nhất tên là Leila, Đêm Tối. Vị thủ lĩnh yêu cô con gái của mình hơn tất cả mọi thứ trên đời, cô gái đẹp nhất trong vương quốc, cô hiền nhất, ngoan nhất và người ta dự báo cho cô tất cả hạnh phúc trên đời này...".

Chiều xuống chầm chậm trên bầu trời, khiến cho màu xanh của biển trở nên sẫm hơn, và bọt của sóng biển chừng như còn trắng xóa hơn nửa. Ông lão Naman đều đặn nhúng những cây cọ vào xoong nhựa và ông quét đi quét lại dọc theo những cái rãnh có lót xơ. Chất lỏng nóng chảy len vào các kẽ hở, nhỏ giọt trên cát. Bọn trẻ và Lalla ngắm nghía đôi bàn tay ông Naman.

"Thế rồi, một điều ghê gớm xảy tới trên vương quốc", Naman tiếp lời. "Trên khắp vương quốc, xảy ra một trận hạn hán lớn, một tai họa của Thượng đế, không còn nước ở các con sông, ở các bể chứa, và tất cả đều sắp chết khát, trước hết là cây cỏ, tiếp đến là các loài vật, cừu, ngựa, lạc đà, chim chóc, cuối cùng là con người phải chết khát ngoài đồng, bên vệ đường, đó là một điều khủng khiếp, vì vậy mà người ta vẫn còn nhớ..."

Lũ ruồi dẹt bay tới, đậu trên môi bọn trẻ và bay vù vù bên tai chúng. Mùi nhựa hăng hắc làm cho chúng say, và khói cuồn cuộn bay lên giữa các cồn cát. Lại có cả lũ ong vò vẽ, nhưng không ai đuổi chúng, bởi khi ông lão Naman kể một câu chuyện thì dường như ngay cả chúng cũng có phần thần bí, giống như các thần linh hiện hình.

"Người thủ lĩnh của vương quốc kia rất buồn, và ông cho đòi những nhà hiền triết tới để vấn kế, nhưng không ai biết phải làm gì để ngăn chặn nạn hạn hán. Bấy giờ có một người khách lạ tới, một người Ai Cập biết ma thuật. Vị thủ lĩnh cũng cho gọi hắn tới, yêu cầu hắn ra tay chặn đứng tai họa đang xảy ra trên vương quốc. Người Ai Cập nhìn vào một vết mực, hắn bỗng kinh hoàng, bắt đầu run cầm cập và không chịu nói. Nói đi chứ! vị thủ lĩnh bảo, nói đi rồi ta sẽ biến ngươi thành người giàu có nhất vương quốc này. Nhưng người khách lạ vẫn từ chối lên tiếng. Thưa ngài, hắn vừa nói vừa sụp quỳ gối, xin ngài cho tôi đi, đừng buộc tôi nói ra điều bí mật này."

Khi Naman ngừng nói để nhúng những cây cọ vào xoong, bọn trẻ và Lalla gần như nín thở. Họ lắng nghe tiếng lửa cháy tí tách và tiếng nhựa sôi trong nồi.

"Bây giờ vị thủ lĩnh nổi giận bảo người Ai Cập: Hãy nói đi, hoặc cơ sự là do nhà người tất cả. Rồi bọn đao phủ tóm lây hắn và chúng đã tuốt kiếm ra để chém đầu hắn. Lúc đó người khách lạ mới kêu lên: Dừng lại! Tôi sẽ nói ra bí mật của tai họa. Nhưng ngài nên biết rằng ngài bị nguyền rủa!".

Ông lão Naman có cách nói hết sức đặc biệt, một cách chậm rãi: “Mlaaoune, bị nguyền rủa bởi Thượng đế”, khiến bọn trẻ phải rùng mình. Ông ngừng giây lát, để quết nốt chỗ nhựa còn lại trong xoong. Đoạn ông đưa nó cho Lalla mà không nói tiếng nào, và cô phải chạy tới đống lửa để múc đầy thứ nhựa sôi sục. May thay, ông đã đợi cô trở lại rồi mới tiếp tục câu chuyện.

"Bây giờ tên Ai Cập nói với vị thủ lĩnh: Xưa kia ngài có trừng phạt một người vì tội đã trộm vàng của một thương gia không? Có, ta đã làm điều đó, vị thủ lĩnh nói, bởi nó là một tên trộm. Ngài nên biết rằng người đàn ông đó vô tội, người Ai Cập nói, hắn đã bị buộc tội oan, chính hắn gây ra trận hạn hán này, vì hắn là đồng minh của thần linh và quỷ sứ.".

Trong cảnh bãi biển khi chiều xuống như thế này đây, khi nghe giọng nói trịnh trọng của ông lão Naman, người ta tưởng đâu thời gian không còn tồn tại nữa, hoặc nó đã lùi lại phía sau, vào một thời nào khác, thật xa xôi và thật êm đềm, Lalla mong sao câu chuyện của Naman đừng ngừng lại bao giờ, dù nó phải kéo ra nhiều ngày nhiều đêm, và dù Lalla cùng bọn trẻ có ngủ quên đi nữa thì khi thức dậy, họ vẫn còn đó để lắng nghe giọng nói của Naman.

"Phải làm gì để ngăn chặn tai họa này? vị thủ lĩnh hỏi, và người Ai Cập nhìn thẳng vào mắt ông: Ngài hãy hiểu rằng chỉ có một phương thuốc độc nhất thôi, và tôi sẽ nói cho ngài biết vì ngài đã yêu cầu tôi nói ra. Ngài phải hy sinh cô con gái độc nhất mà ngài yêu thương hơn mọi thứ trên đời. Ngài hãy dâng cô làm mồi cho thú dữ trong rừng, và nạn hạn hán đang giáng xuống vương quốc ngài sẽ chấm dứt. Bây giờ vị thủ lĩnh bật khóc và kêu gào trong đau đớn và giận dữ, nhưng vì có thiện tâm, ông đã để cho người Ai Cập tự do ra đi. Khi mọi người trong vương quốc hiểu điều đó, họ cũng khóc, vì họ rất đỗi yêu Leila, con gái đấng quân vương của họ. Nhưng người ta buộc phải hy sinh, và vị thủ lĩnh đã quyết định dẫn con gái mình vào rừng để làm mồi cho thú dữ. Thế nhưng, trong vương quốc có một chàng trai yêu Leila hơn tất cả mọi người, và chàng quyết định cứu nàng. Chàng thừa hưởng từ một thấy phù thủy trong thân tộc một chiếc nhẫn giúp cho kẻ nào sở hữu nó có quyền năng biến thành loài vật nhưng mãi mãi người đó không bao giờ tìm lại được hình hài ban đầu của mình nữa, và hắn sẽ trở nên bất tử. Đêm hiến sinh tới, vị thủ linh lên đường đi vào rừng, theo sau là cô con gái...".

Không khí phẳng lặng và trong vắt, đường chân trời dường như bất tận. Lalla cố hết sức phóng tầm mắt nhìn ra xa, như thể cô đã biến thành một cánh hải âu bay thẳng về phía trước trên mặt biển.

"Vị thủ lĩnh đã tới giữa khu rừng, ông đỡ cô con gái xuống ngựa rồi trói cô vào một thân cây. Rồi ông vừa bước đi vừa khóc lóc vì đau đớn bởi ông đã nghe tiếng kêu của các loài dã thú đang tới gần nạn nhân của chúng...".

Tiếng sóng vỗ bờ nghe rõ hơn từng chập, như thể biển đang tới gần. Nhưng đó chỉ là tiếng gió đang thổi qua, và khi luồn vào hõm các cồn cát, gió làm tung lên những cột cát hòa lẫn trong khói.

"Trong rừng, bị trói chặt vào thân cây, nàng Leila đáng thương run lên vì sợ, nàng gọi cha đến cứu bởi nàng không có can đảm chết như vậy, bị các loài dã thú xâu xé... Đã có một con chó sói lớn tới gần nàng, và nàng thấy đôi mắt nó ánh lên như đốm lửa trong đêm. Bất chợt người ta nghe một điệu nhạc vang lên giữa rừng. Đó là một làn điệu óng ả và thuần khiết đến nỗi Leila không còn sợ nữa, tất cả mọi loài thú dữ trong rừng đều phải dừng chân lắng nghe...".

Hai bàn tay ông lão Naman lần lượt cầm lên những cây cọ quét đi quét lại dọc theo vỏ thuyền. Bọn trẻ và Lalla cũng ngắm nhìn chúng như thể chúng đang kể một câu chuyện.

"Điệu nhạc kỳ diệu ấy vang dậy khắp rừng, và các loài dã thú nằm im dưới đất lắng nghe, chúng trở nên hiền lành như đám cừu non, bởi điệu nhạc đến từ bầu trời đã làm chúng xáo động, bối rối. Leila cũng thích thú lắng nghe điệu nhạc, ngay sau đó, mớ dây trói tự chúng tháo rời, nàng bắt đầu bước đi trong rừng, và bất luận nơi nào nàng tới, người nhạc sĩ vô hình vẫn ở phía trên đầu nàng, lẩn khuất trong đám lá cây. Các loài dã thú nằm dọc theo lối đi, chúng liếm hai bàn tay nàng công chúa, không hề làm nàng đau đớn...".

Giờ đây không khí trở nên trong suốt làm sao, ánh sáng trở nên êm dịu làm sao, đến mức người ta tưởng chừng đang sống trong một thế giới khác.

"Sáng hôm sau, Leila trở về nhà cha nàng, sau khi đã đi suốt đêm. Điệu nhạc đã theo nàng tới tận trước cửa cung điện. Khi biết điều đó, mọi người đều sung sướng bởi họ rất yêu nàng công chúa. Không ai để ý tới một con chim nhỏ đang kín đáo bay từ cành cây này sang cành cây khác. Ngay buổi sáng đó, mưa đã bắt đầu rơi trên mặt đất...".

Naman ngừng tay sơn trong giây lát; bọn trẻ và Lalla cùng nhìn khuôn mặt màu đồng của ông trên đó ánh lên đôi mắt màu lục. Nhung không ai lên tiếng hỏi, không ai nói tiếng nào để tìm hiểu.

"Và rồi trong cơn mưa, con chim Balaabilou vẫn hót, bởi chính nó đã giải cứu nàng công chúa mà nó yêu. Và vì không còn khả năng tìm lại hình hài ban đầu của mình, nên hằng đêm nó đến đậu trên một cành cây gần cửa sổ của Leila, hót cho nàng nghe điệu nhạc óng ả. Người ta còn nói là sau khi chết, nàng công chúa cũng hóa thành chim để có thể gặp Balaabilou, đời đời cùng hót với nó trong những cánh rừng và những khu vườn.".

Khi câu chuyện kết thúc, Naman không nói gì nữa. Ông tiếp tục trau chuốt con thuyền của mình với những cây cọ quét nhựa dọc theo vỏ thuyền. Ánh sáng nhạt dần bởi mặt trời đã ngả về phía bên kia chân trời. Bầu trời trở nên vàng óng và lục nhạt, những ngọn đồi như nổi bật trên lớp giấy quét hắc ín. Làn khói từ tro than mỏng manh, nhẹ bẫng, khó lắm mới nhận ra được nó trong cảnh sấp bóng này, nom nó như bay lên từ một điếu thuốc.

Bọn trẻ đã lần lượt bỏ đi. Còn lại một mình Lalla với ông lão Naman. Ông đã kết thúc công việc của mình, không nói tiếng nào. Rồi đến lượt ông cũng đi, ông chậm rãi bước dọc bãi biển, mang theo những cây cọ và xoong đựng nhựa. Bây giờ bên cạnh Lala chỉ còn đống lửa đang lụi tắt. Bóng tối nhanh chóng loang khắp chiều sâu của bầu trời, tất cả màu xanh sẫm của ban ngày dần chuyển thành màu đen của bóng đêm. Trong khoảnh khắc đó, biển trở nên lặng yên mà người ta không biết tại sao. Những đợt sóng êm dịu xô vào bãi cát, trải dài lớp bọt màu hoa cà. Những con dơi đầu tiên bắt đầu bay ngoằn ngoèo trên mặt biển, săn bắt lũ côn trùng. Có một đám muỗi, một đám bướm xám bay lạc. Lalla nghe vẳng lại từ xa tiếng kêu tắc nghẽn của con cú muỗi. Trong đống tro than, chỉ còn mấy mẩu than hồng tiếp tục cháy không thành ngọn, không thành khói, như những con vật kỳ dị phập phồng lẩn khuất trong tro. Lúc mẩu than cuối cùng tắt ngấm sau khi bùng lên trong khoảnh khắc như một vì sao đang tắt, Lalla đứng dậy và bước đi.

Gần như khắp nơi trên lớp bụi của những lối đi quen thuộc đều có dấu vết, và Lalla thích thú lần theo chúng. Đôi khi chúng chẳng dẫn dắt tới đâu cả nếu đó là những dấu vết của chim chóc hay côn trùng. Đôi khi chúng đưa ta tới tận một cái hố đào trên đất hoặc tới tận cửa một ngôi nhà. Chính Hartani đã chỉ cho cô cách lần theo các dấu vết mà không để mình bị đánh lạc hướng bởi những gì ở xung quanh, cỏ, hoa hoặc những hòn sỏi lấp lánh. Khi Hartani lần theo một dấu vết, trông chú giống y hệt một con chó. Mắt chú sáng rực, hai cánh mũi nở ra, toàn thân vươn tới trước. Thậm chí thỉnh thoảng chú còn nằm sát mặt đất để đánh hơi cho tốt hơn.

Lalla rất thích những con đường mòn bên cồn cát. Cô còn nhớ những ngày đầu tiên sau khi tới Cư xá, sau khi mẹ cô chết vì bị sốt. Cô còn nhớ chuyến đi trên chiếc xe tải trùm vải bạt, và em gái của cha cô, người có tên Aamma, người bọc mình trong cái áo khoác rộng bằng len xám, mặt che mạng vì bụi sa mạc. Chuyến đi kéo dài nhiều ngày, và ngày nào Lalla cũng ngồi ở phía sau xe tải dưới tấm vải bạt ngột ngạt, giữa đống túi và bọc nặng phủ đầy bụi. Rồi một bữa nọ, qua khe hở của tấm vải bạt, cô đã trông thấy biển xanh biếc dọc theo bãi được viền bằng những lớp bọt, và cô bật khóc, không biết vì sung sướng hay vì mệt mỏi.

Mỗi lần đi trên con đường mòn, bên bờ biển, cô vẫn nghĩ tới biển xanh biếc, khi cô ngồi trên chiếc xe tải đầy bụi bặm, nghĩ tới những con sóng dài lặng lẽ xô bờ, nghiêng nghiêng, ở thật xa, dọc theo bãi biển. Cô nghĩ tới tất cả những gì cô đã chợt thấy, như thế này, qua khe hở của tấm vải bạt trùm chiếc xe tải, cô nghe mắt mình rớm lệ, bởi phần nào đó là ánh mắt mẹ cô hướng đến cô, vây bọc lấy cô, khiến cô rùng mình.

Đó là điều cô tìm kiếm dọc theo con đường của các cồn cát, tim phập phồng, toàn thân vươn tới trước, giống như Hartani khi chú lần theo một dấu vết. Cô tìm kiếm những nơi chốn cô đã tới, sau những ngày đó, đã lâu lắm rồi, chính cô cũng không còn nhớ.

Thỉnh thoảng cô nói: "Oummi", một cách dịu dàng, bằng những tiếng thì thầm. Thỉnh thoảng, một mình, cô vẫn vừa nói chuyện với mẹ, rất khẽ, trong hơi thở, vừa ngắm nhìn biển xanh giữa các cồn cát. Cô không biết rõ phải nói điều gì, bởi từ lâu lắm rồi, cô thậm chí đã quên mất mẹ cô như thế nào. Có lẽ cô đã quên cả âm thanh trong giọng nói của mẹ, quên cả những tiếng mà cô vẫn hằng thích nghe chăng?

"Oummi, mẹ đi đâu? Con rất mong mẹ tới đây thăm con, con rất mong điều đó...".

Lalla ngồi trên cát, đổi diện với biển, nhìn những hoạt động chậm chạp của sóng. Nhưng cảnh đó không còn giống hoàn toàn với ngày cô trông thấy biển lần đầu tiên, sau cảnh bụi bặm ngột ngạt trên chiếc xe tải, trên những con đường đất đỏ đến từ sa mạc.

"Oummi, mẹ không muốn trở về thăm con sao? Mẹ thấy đó, con thì con không quên mẹ.".

Lalla lục lọi trong trí nhớ dấu vết của những tiếng mà mẹ cô vẫn nói xưa kia, những tiếng mà mẹ cô vẫn hát. Nhưng thật khó để tìm được chúng. Phải nhắm mắt, ngả ra phía sau, càng xa càng tốt, như thể người ta đang rơi vào một cái giếng không đáy. Lalla lại mở mắt bởi không còn gì nữa trong trí nhớ của cô.

Cô đứng dậy, vừa bước đi trên bãi biển vừa nhìn nước xô lớp bọt chạy dài trên cát. Mặt trời thiêu đốt hai vai và gáy cô, ánh sáng làm cô chói mắt. Cô thích được như vậy. Cô cũng thích chất muối theo gió bám vào môi cô. Cô nhìn những vỏ sò trên cát, những mảnh xà cừ màu hồng, màu vàng rơm, những vỏ ốc sên mòn rỗng, những dải tảo dài màu lục-đen, tía, xám. Cô chú ý để không giẫm lên một con sứa hay một con cá đuôi. Thỉnh thoảng có một cơn náo động kỳ lạ trong cát, khi nước rút đi để lại trên đó một con cá dẹt. Lalla đi thật xa dọc bãi biển, tiếng sóng thôi thúc cô bước tới. Chốc chốc, cô lại dừng lại, đứng bất động, mắt nhìn xuống cái bóng của mình đổ dài dưới chân, hoặc nhìn bọt nước lấp lánh.

"Oummi", Lalla lại thốt lên. "Mẹ không thể trở về một chốc thôi sao? Con muốn gặp mẹ, bởi con rất cô đơn. Khi mẹ chết, khi cô Aamma tới tìm con, con không muốn đi với cô, bởi con biết sẽ không thể nào gặp lại mẹ nữa. Mẹ hãy trở về, một chốc lát thôi, mẹ hãy trở về!".

Vừa nhắm mắt lim dim vừa nhìn ánh sáng phản chiếu trên cát trắng, Lalla có thể trông thấy đồng cát bao la trải khắp nơi xa kia, nơi xứ sở của Oummi, xung quanh ngôi nhà. Thậm chí bất chợt cô rùng mình bởi trong khoảnh khắc cô tưởng như mình trông thấy cái cây khô.

Tim đập nhanh hơn, cô bắt đầu chạy về phía những cồn cát, nơi gió biển ngừng thổi. Cô nằm sấp trên cát nóng, bụi cây cúc gai khẽ cào rách váy cô và ghim những cây kim li ti vào bụng cô, vào hai đùi cô, nhưng cô bất chấp. Một cơn đau nhói dấy lên trong người cô, cơn đau mãnh liệt đến nỗi cô có cảm tưởng mình sắp ngất đi. Hai bàn tay cô vùi sâu trong cát, cô ngừng thở. Cô trở nên cứng đờ, như một tấm ván gỗ. Cuối cùng cô cũng có thể mở lại mắt, thật từ từ, như thể cô thực sự sắp trông thấy bóng dáng cái cây khô đang đợi cô. Nhưng chẳng có gì, bầu trời rộng mênh mang, xanh ngắt một màu, và cô nghe tiếng sóng biển lan xa sau cồn cát.

"Oummi, ôi, Oummi," Lalla lại kêu lên trong cơn rên rỉ.

Nhưng giờ đây cô trông thấy điều đó thật rõ ràng: nơi ấy, trước cái cây khô là cả cánh đồng đá đỏ rộng lớn, và bụi, cánh đồng rộng như muốn vươn tới điểm tận cùng trái đất. Cánh đồng trống trải, cô gái bé bỏng chạy về phía cây khô trong bụi, cô bé bỏng tới độ bất chợt mất hút giữa cánh đồng, bên cái cây đen, mà không biết phải đi đâu. Thế là cô hét lên hết sức, nhưng tiếng cô nảy trên những tảng đá đỏ, tan đi trong ánh sáng mặt trời. Cô hét lên, và không khí im lặng quanh cô thật khủng khiếp, thứ không khí im lặng bóp nghẹt, khiến người ta đớn đau. Thế là cô gái bé bỏng lạc lõng ấy bước thẳng về phía trước, cô té ngã, cô lại đứng lên, cô làm đôi bàn chân trần của mình bị trầy xước trên những cạnh đá, giọng cô vỡ òa vì những tiếng khóc nức nở, và cô không thể thở được nữa.

"Oummi! Oummi!" Cô hét lên những tiếng đó, giờ đây cô đã nghe rõ giọng mình, cái giọng rạn vỡ không thể nào vượt khỏi cánh đồng đá và bụi, nó dội ngược lại và tắc nghẹn. Nhưng đó lại chính là những tiếng mà Lalla đang nghe thấy, ở bên kia thời gian, những tiếng khiến cô đau đớn bởi chúng có nghĩa là Oummi sẽ không trở lại.

Lúc ấy, trước mặt cô bé lạc bước tuyệt vọng, giữa cánh đồng đá và bụi, bỗng xuất hiện cái cây kia, cái cây khô. Cái cây đã chết vì thiếu nước hoặc vì già nua, hoặc nữa là vì sét đánh. Nó không cao lớn lắm, nhưng nom nó thật khác thường bởi nó uốn vặn mọi phía, với mấy cành già tua tủa như xương cá và một cái thân đen đúa được tạo nên từ những sợi tơ xoắn lại với nhau, với những cái rễ đen, dài bám chặt quanh các tảng đá. Cô bé đi chầm chậm về phía cây mà không hiểu tại sao, tới gần thân cây bị thiêu cháy, cô đưa bàn tay sờ vào nó. Tức thì một nỗi sợ khiến cô giá lạnh toàn thân: từ trên cao cây khô một con rắn vươn dài, rất dài, và bò xuống. Lướt dọc cành cây, nó như dài vô tận, lớp vảy kêu xào xạo trên cây khô, tạo ra thứ tiếng động của kim loại. Con rắn ung dung bò xuống, vươn cái thân hình màu xanh-xám về phía khuôn mặt cô. Cô nhìn nó không nháy mắt, không động đậy, gần như không thở, không tiếng kêu nào có thể thoát ra khỏi cổ họng cô. Bất chợt con rắn dừng lại, nhìn cô. Thế là cô nhảy ra sau, cổ hết sức để chạy, một mình xuyên qua cánh đồng đá, cô chạy như sắp phải băng qua trái đất, miệng khô ran, hai mắt mờ đi vì ánh sáng, hơi thở rít lên, cô chạy về phía một ngôi nhà, về phía cái bóng của Oummi đang ghì siết lấy cô thật mạnh và ve vuốt mặt cô; cô ngửi thấy mùi hương êm dịu trên tóc Oummi, nghe thấy lời nói ngọt ngào của bà.

Nhưng hôm nay không có một ai, không có một ai ở nơi tận cùng vùng cát trắng này, và bầu trời càng trở nên bao la, trống trải hơn . Lalla đang ngồi nơi chỗ trũng của cồn cát, thân thể gập làm đôi, đầu gục giữa hai gối. Cô cảm thấy cái nóng rát của mặt trời trên gáy, nơi tóc cô trải mỏng ra, và trên vai, qua lần vải váy mỏng manh của cô.

Cô nghĩ tới Es Ser, tới người cô gọi là Bí Mật, người cô đã gặp trên cao nguyên đá, về hướng sa mạc. Có thể chú muốn nói với cô điều gì đó, có thể chú muốn nói với cô rằng cô không cô đơn, muốn chỉ cho cô con đường dẫn về phía Oummi. Có thể vẫn là cái nhìn của chú giờ đây đang thiêu đốt hai vai và gáy cô.

Nhưng khi cô mờ mắt ra thì không có ai trên bờ biển.

Cơn sợ hãi của cô đã tiêu tan. Cái cây khô, con rắn, cánh đồng đá đỏ và bụi bao la cũng biến đâu mất như chưa từng tồn tại bao giờ. Lalla quay bước đi về phía biển. Biển vẫn đẹp gần như ngày Lalla trông thấy nó lần đầu tiên, qua khe hở của tấm vải bạt trùm chiếc xe tải. Mặt trời đã lau sạch không khí trên biển. Những tia sáng nhảy múa trên từng đợt sóng, trên từng Lớp bọt cuộn trào. Gió ấm, chứa đầy mùi hương của độ sâu, của tảo, vỏ sò, muối và bọt.

Lalla lại chầm chậm cất bước dọc theo bờ biển, và từ sâu thẳm trong mình, cô nghe một cơn say dâng lên, như thể thực sự tồn tại một cái nhìn nào đó từ biển cả, từ ánh sáng bầu trời, từ bãi biển trắng xóa. Cô không hiểu rõ đó là gì, nhưng cô biết có một ai đấy ở khắp nơi đang nhìn cô, đang soi sáng cô bằng cái nhìn ấy. Điều này khiến cô lo lắng đôi chút, đồng thời lại mang đến cho cô một hơi ấm, một làn sóng tỏa sáng trong cô, lan đi từ bụng tới tận những đầu ngón tay ngón chân.

Cô dừng lại, ngó quanh: không có một ai, không có một hình dạng con người nào. Chỉ có những cồn cát lớn như sững lại, điểm đầy bụi cúc gai, và sóng biển từng đợt xô vào bờ. Phải chăng chính biển đang nhìn mãi không thôi, cái nhìn sâu thẳm của sóng nước, cái nhìn rạng rỡ của cát và muối? Naman ông lão đánh cá nói rằng biển giống như một người đàn bà, nhưng ông không hề giải thích điều đó. Cái nhìn đến từ mọi phía, cùng lúc.

Đúng lúc ấy, một đàn hải âu và nhạn biển khá đông bay qua dọc theo bờ biển, phủ bóng xuống bờ biển. Lalla dừng bước, hai chân lún sâu trong cát ướt, đầu ngửa ra sau: cô nhìn những cánh chim biển bay qua.

Chúng chầm chậm bay ngược chiều gió ấm, cánh dài xòe ra khuấy động không khí. Đầu chúng hơi vươn ra nghiêng nghiêng, và cái mỏ hé mở của chúng buông ra những tiếng rên xiết, những tiếng ken két kỳ dị.

Giữa đàn, có một con hài âu mà Lalla biết rất rõ bởi nó trắng toát, không có tới một đốm đen nào. Nó bay chầm chậm trên đầu Lalla, chầm chậm đập cánh trong gió, lông cánh hơi xòe ra, mó hé mở, và khi bay như vậy, nó nhìn Lalla, cái đầu bé bỏng nghiêng về phía bờ biển, con mắt tròn vo sáng quắc giống như giọt nước

"Mày là ai? Mày đi đâu?" Lalla hỏi. Con hải âu trắng nhìn cô không đáp. Nó bay đi nhập bầy với những con khác, nó bay rất lâu dọc theo bờ biển, tìm cái gì đó để ăn. Lalla nghĩ con hải âu trắng biết cô, nhưng nó không dám bay đến chỗ cô, bởi loài hải âu không sinh ra để sống với con người.

Ông lão Naman có lần nói rằng chim biển là phần hồn của những con người đã chết trên biển trong bão tố, và Lalla vẫn nghĩ con hải âu trắng là linh hồn của một người đánh cá cao lớn và mảnh khảnh, với nước da sáng, mái tóc sáng và đôi mắt tỏa rực như một ngọn lửa. Có thể đó là một chàng hoàng từ của biển cả.

Bây giờ cô đang ngồi trên bãi biển, giữa những cồn cát, nhìn đàn hải âu bay dọc theo bờ biển. Chúng bay dễ dàng, không cần nhiều cố gắng, đôi cánh dài và cong của chúng nương theo chiều gió, đầu hơi nghiêng sang một bên. Chúng tìm thức ăn bởi cách đó không xa là bãi rác lớn của thành phố, nơi những chiếc xe tải thường tới. Lúc nào chúng cũng kêu lên bằng cách phát ra những tiếng rên rỉ bất tận, những tiếng rên rỉ sẽ bất chợt và vô cớ biến thành tiếng kêu chói tai, tiếng the thé, tiếng reo vui.

Và rồi thỉnh thoảng, con hải âu trắng, con hải âu giống như chàng hoàng từ biển cả, bay đến gần Lalla, vạch ra những vòng tròn lớn phía trên mấy cồn cát, như thể nó đã nhận ra cô. Lalla đưa cánh tay ra dấu với nó, cô thử gọi nó, cô tìm kiếm đủ mọi cái tên, hy vọng thốt lên cái tên đúng, cái tên có thể trả lại cho nó hình dạng ban đầu, có thể làm xuất hiện giữa bọt nước chàng hoàng tử của biển cả với mái tóc lấp lánh ánh sáng, với đói mất tỏa rực như những ngọn lửa.

"Souléiman!"

"Moumine!"

“Daniel!”

Nhưng con hải âu trắng to lớn vẫn tiếp tục bay vòng vòng trên bầu trời, hướng về phía biển, chóp cánh của nó lướt sát những đợt sóng, con mắt dữ dằn nhìn chăm chăm vào bóng Lalla, không đáp lại. Có lần cũng vì hơi tức bực, Lalla vừa chạy sau đàn hải âu vừa vẫy tay, và cô hét lên những cái tên, một cách tình cờ, để chọc giận cái gọi là chàng hoàng tử của biển cả.

"Đồ gà giò! Đồ chim sẻ! Đồ bồ câu con!"

Và cả:

"Đồ bồ cắt! Đồ kền kền!" Bởi đó là những loài chim mà lũ hải âu không ưa. Nhưng nó, con chim trắng, vốn không có tên, vẫn tiếp tục bay thật chậm, dửng dưng, nó bay xa dần dọc theo bờ biển, lượn trong ngọn gió Đông, còn Lalla thì hoài công chạy trên lớp cát cứng của bờ biển, cô không thể nào đuổi kịp nó.

Nó bay đi, nó lướt giữa những con chim khác dọc theo bọt nước, nó bay đi, trong chốc lát chúng chỉ còn là những cái chấm khó nhận ra, đang tan biến trong màu xanh của bầu trời và biển.

Nước cũng đẹp. Giữa mùa hè, khi trời bắt đầu mưa, nước chảy ròng ròng trên những mái nhà lợp tôn và giấy quét hắc ín, tạo nên khúc ca êm đềm trong thùng chứa nước lớn, dưới cái máng xối. Trận mưa kéo đến vào buổi tối, Lalla lắng nghe tiếng sấm ì ầm vang dậy trên thung lũng hoặc trên mặt biển. Qua những kẽ hở của mấy tấm ván, cô ngắm nhìn thứ ánh sáng trắng đẹp cháy lên và tắt đi không ngừng, làm rung chuyển mọi đồ vật trong nhà. Aamma không nhúc nhích trên giường, chị tiếp tục ngủ, đầu vùi trong chăn, không nghe thấy tiếng cơn giông kéo tới. Nhưng ở đầu kia của gian phòng, hai cậu con trai đã thức giấc, Lalla nghe thấy họ thì thầm nói chuyện và cười không thành tiếng. Họ đang ngồi trên nệm của mình, và cả họ cũng vậy, cũng đang tìm cách nhìn ra ngoài, qua kẽ hở của những tấm ván.

Lalla đứng dậy, rón rén bước ra tận cửa để có thể trông thấy bức tranh những tia chớp. Nhưng gió bắt đầu thổi, và những giọt nước lạnh, to rơi trên mặt đất, kêu lộp độp trên mái nhà; bấy giờ Lalla mới trở vào nằm lại dưới đống chăn, bởi cô thích nghe tiếng mưa như vậy: hai mắt mở to trong bóng tối, nhìn mái nhà từng lúc sáng lên, lắng nghe những giọt nước gõ mạnh vào đất và vào mái tôn như những viên đá nhỏ từ trên trời rơi xuống.

Một chập sau, Lalla nghe thấy tiếng nước tuôn ra từ máng xối, vỗ vào đáy những thùng dầu hỏa rỗng; cô sung sướng như thể chính mình đang uống nước vậy. Lúc đầu nó tạo ra một tiếng ầm vang của kim loại, rồi dần dần những cái thùng đầy nước và tiếng động trở nên sâu lắng hơn. Và trong cùng một lúc, nước tuôn chảy khắp nơi, trên mặt đất, trong những cái vũng, trong những cái nồi cũ bỏ phế bên ngoài. Lớp bụi khô của mùa đông bay lên trong không khí khi mưa ập xuống nền đất, tạo thành mùi kỳ lạ của đất ướt, của rơm và khói, hít vào ngực rất dễ chịu. Có những đứa bé chạy trong đêm. Chúng cởi phăng quần áo, vừa trần truồng chạy dưới mưa, dọc theo các con đường, vừa cười reo. Lalla rất muốn được như chúng, nhưng giờ đây cô đã quá già, và những cô gái ở tuổi cô thì không thể trần truồng mà đi đứng được. Thế là cô dỗ lại giấc ngủ nhưng vẫn không ngừng lắng nghe tiếng lộp độp của nước mưa trên mái tôn, vẫn không ngừng nghĩ tới hai suối nước đẹp mắt tuôn ra ở mỗi bên mái, làm tràn những thùng dầu hỏa bằng thứ nước trong lành.

Điều thú vị là khi nước từ trên trời rơi xuống như vậy trong nhiều ngày đêm liền, người ta có thể đi tắm nước nóng tại nhà tắm ở bên kia sông, trong thành phố. Aamma đã quyết định dẫn Lalla đi tắm vào lúc xế chiều, khi ánh mặt trời có phần dịu lại và khi những đám mây trắng to kềnh bắt đầu tích tụ trên trời.

Đó là ngày tắm của phụ nữ và mọi người đều đi về phía nhà tắm, theo con đường mòn hẹp ngược lên dòng sông. Đi ba hay bốn cây số về mạn thượng lưu, có một cây cầu, với con đường xe tải: nhưng trước khi tới đó, có một nơi để lội qua sông. Chính tại đây những người phụ nữ vượt qua con sông.

Aamma đi trước, với Zubida, và người em họ của chị là Zora, cùng những người đàn bà khác mà Lalla biết mặt nhưng quên tên. Họ vén váy lên để lội, họ cười nói lớn tiếng. Lalla đi hơi thụt lùi phía sau và cô rất hài lòng bởi những buổi chiều đó, trong nhà không có việc gì phải làm, cũng không phải đi tìm củi để chụm. Hơn nữa cô rất thích những đám mây trắng to kềnh, bay thật thấp trên bầu trời, và màu xanh của cỏ bên bờ sông. Nước sông lạnh ngắt, có màu đất, chao động giữa đôi chân Lalla lúc cô lội qua sông. Khi đi tới mực nước giữa sông, có một cái bậc, Lalla đã trượt té và nước ngập tới bụng, cô vội bước lên, chiếc váy dài dán chặt vào bụng và hai đùi cô. Có những đứa con trai ở bờ bên kia đang nhìn những người đàn bà vén váy để qua sông, và người ta phải lấy sỏi ném tới tấp vào chúng.

Nhà tắm là một kiểu nhà kho lớn bằng gạch được cất ngay bên sông. Đó là nơi Aamma từng dẫn Lalla tới khi lần đầu tiên cô đến đây, đến Cư xá, và cô chưa bao giờ trông thấy thứ gì tương tự. Chỉ có một phòng lớn với những bồn tắm nước nóng và những cái lò nung đá. Một ngày dành cho phụ nữ, một ngày dành cho đàn ông. Lalla rất thích phòng này bởi có nhiều ánh sáng chiếu vào qua các khung cửa sổ thật cao trên tường, dưới mái bằng tôn múi. Nhà tắm chỉ hoạt động vào mùa hè bởi ở đây nước rất khan hiếm. Nước đổ xuống từ một bể chứa lớn xây trên cao, chảy dọc theo một đường ống lộ thiên vào tận nhà tắm nơi nó tuôn như thác vào một cái bể lớn bằng xi măng nom giống cái bể giặt. Chính nơi đây Aamma và Lalla sẽ đến tắm tiếp sau lần tắm nước nóng, họ vừa xối những gáo nước lạnh lên người vừa khe khẽ kêu lên vì nước khiến họ run lập cập.

Nơi đây cũng có điều gì đấy khiến Lalla thích thú. Đó là hơi nước tràn ngập cả gian phòng giống như một lớp sương mù trắng, tầng tầng lớp lớp dâng lên tới trần nhà và thoát ra ngoài qua các khung cửa sổ khiến ánh sáng trở nên lung linh, chập chờn. Khi bước vào phòng, người ta ngột ngạt trong giây phút vì hơi nước. Rồi người ta cởi quần áo, xếp chúng gọn gàng trên chiếc ghế dựa ở cuối phòng. Thời gian đầu, Lalla cảm thấy xấu hổ, cô không muốn cởi truồng trước những người đàn bà khác, bởi cô không quen tắm. Cô nghĩ thiên hạ nhìn ngắm cô, chế nhạo cô bởi cô không có vú và bởi da cô trắng tươi. Nhưng Aamma rầy cô và buộc cô phải cởi tất cả quần áo, rồi búi mái tóc dài của cô lại, dùng dây vải cột cho gọn. Bây giờ thì Lalla cứ vô tư thoát y. Thậm chí cô còn chẳng chú ý tới kẻ khác. Lúc đầu cô thấy điều đó thật khủng khiếp bởi có nhiều người đàn bà rất xấu và rất già với làn da nhăn nheo như lớp vỏ cây khô, hoặc những người mập, bự với hai vú lủng lẳng như hai cái túi da, hoặc những người đau yếu với đôi chân lở loét và sưng phù. Nhưng bây giờ, cô đã nhìn họ khác đi. Cô thương hại những người đàn bà xấu xí và đau yếu, cô không còn kinh sợ họ nữa. Rồi thì nước mới đẹp đẽ và trong lành làm sao, nước từ trên trời rơi thẳng vào các bể lớn, nước tinh khôi tới độ chữa bệnh được cho những ai cần đến nó.

Và như thế, Lalla ngụp trong nước của cái bồn, lần đầu tiên sau nhiều tháng dài khô hạn: nước trùm lên cơ thể cô, nước ôm siết làn cô, đôi chân cô, bụng cô, ngực cô, mạnh đến nỗi cô phải ngừng thở trong giây phút.

Nước rất nóng, rất rát, nước làm cho máu rần rật dưới làn da, nước làm nở các lỗ chân lông, nước truyền những luồng sóng nóng hổi vào tận bên trong cơ thể, như thể nó chứa trong mình sức mạnh của bầu trời và mặt trời. Lalla trượt xuống đáy bồn tắm cho tới khi nước nóng ngập qua cằm cô, chạm vào đôi môi cô và dừng lại đúng ngay dưới hai lỗ mũi. Bấy giờ cô cứ nằm yên như vậy một hồi lâu, không động đậy, mắt nhìn lên trần nhà lợp tôn múi dường như đang nhích tới dưới đám mây hơi nước.

Sau đó Aamma bước tới với một nắm cỏ xà phòng và bột dung nham, và chị kỳ cọ cơ thể Lalla để tẩy sạch mồ hôi và bụi, trên lưng, trên hai vai, trên hai chân cô. Lalla để chị làm bởi chị rành việc đánh xà phòng và chà xát; sau đó Lalla tới cái bể lớn, và cô lặn vào nước mát, gần như lạnh, nước siết chặt những lỗ chân lông của cô, làm láng da, làm căng các dây thần kinh và bắp thịt cô. Cô đang tắm cùng những người đàn bà khác, vừa tắm vừa nghe nước từ bể chứa lớn chảy vào như thác. Lalla thích thứ nước đó hơn cả. Nó trong như nước nguồn chảy xuống từ núi, nó nhẹ, nó lướt trên da thịt cô như một viên đá mòn nhẵn, nó nảy lên trong ánh sáng, nó tung tóe thành muôn nghìn giọt. Dưới vòi nước, mấy người đàn bà gội rửa những mái tóc đen dài nặng nề. Ngay cả những thân thể xấu xí nhất cũng trở nên xinh đẹp qua làn nước trong như pha lê, và cái lạnh khiến những tiếng cười cao vút vang dậy. Aamma hất những bụm nước lớn vào mặt Lalla, và hàm răng trắng muốt của chị sáng lên trên khuôn mặt màu đồng. Những giọt nước long lanh từ từ chảy trên đôi vú màu sẫm, trên bụng, trên đùi chị. Nước mài bóng làn da, làm mát dịu gan bàn tay. Trời lạnh mặc dù gian phòng ngập trong hơi nước.

Aamma trùm lên người Lalla một cái khăn lớn, chị cũng quấn mình trong một lớp chăn cột lại trên ngực. Họ cùng bước về phía cuối phòng, nơi quần áo được xếp ngay ngắn trên những chiếc ghế dựa. Họ ngồi xuống, và Aamma bắt đầu chài tóc cho Lalla hồi lâu, từng mớ tóc một, đồng thời vuốt chúng cho láng giữa mấy ngón của bàn tay trái để tước đi những trứng chí.

Đó cũng là điều thú vị, như trong một giấc mơ, bởi Lalla được nhìn thẳng về phía trước, không nghĩ ngợi gì, mệt mỏi vì nước, ngái ngủ vì hơi nước nặng nề đang khó nhọc dâng lên tới tận những khung cửa sổ nơi ánh mặt trời run rẩy, nhức óc trước giọng nói và tiếng cười của những người đàn bà, tiếng xối xả của nước, tiếng ro ro của những cái lò nung đá. Bấy giờ cô ngồi trên chiếc ghế dựa bằng kim loại, hai bàn chân trần đặt trên nền xi măng mát lạnh, người run lên trong chiếc khăn ướt đẫm, và hai bàn tay khéo léo của Aamma vẫn chải tóc cho cô không mệt mỏi, chị kéo chúng dài ra, vuốt chúng cho láng, trong khi những giọt nước cuối cùng chảy trên má cô và dọc theo lưng cô.

Tiếp theo, khi mọi việc xong xuôi, khi đã mặc lại quần áo, họ cùng ra ngoài ngồi trong hơi nóng của mặt trời chiều, và họ uống nước bạc hà trong cái ly được trang trí bằng những hình vẽ mạ vàng, họ gần như không nói gì, như thể vừa trải qua một chuyến du lịch dài và đã chán chê với những điều kỳ diệu. Đường về Cư xá, nơi được dựng bằng ván và giấy quét hắc ín, hãy còn xa, ở bên kia dòng sông. Đêm nhuốm màu xanh đen, những vì sao lấp lánh trong mây khi họ về tới nhà.

Có những ngày không giống những ngày khác, đó là ngày lễ hội, và phần nào chính vì những ngày ấy mà người ta sống, người ta chờ đợi, người ta hy vọng. Khi ngày lễ gần tới, mọi người chỉ bàn tán về nó, trên các con đường của Cư xá, trong các ngôi nhà, bên máy nước. Mọi người đều nôn nóng và mong sao ngày lễ mau đến. Đôi khi, Lalla thức giấc vào buổi sáng, tim đập mạnh, cảm giác kỳ lạ như kiến bò trong tay chân, bởi cô nghĩ hôm đó là ngày lễ. Cô dậy nhanh như cắt, thậm chí còn chẳng kịp đưa tay vuốt tóc, rồi cô ra đường để chạy trong hơi lạnh buổi sáng trong khi mặt trời còn chưa ló dạng và tất cả vẫn xám xịt, lặng lẽ, ngoại trừ mấy con chim. Nhưng vì trong Cư xá chẳng có ai động tĩnh gì nên cô hiểu ra rằng ngày lễ chưa tới và cô chỉ còn cách trở về vùi mình dưới đống chăn, trừ phi cô quyết định lợi dụng dịp đó để tới ngồi giữa các cồn cát, ngắm những tia sáng mặt trời đầu tiên trên những ngọn sóng.

Thứ luôn kéo dài, diễn tiến chậm chạp, kích thích trạng thái nôn nóng trong thân thể những người đàn ông và những người đàn bà, là sự nhịn ăn. Bởi thời kỳ trước ngày lễ, người ta ăn rất ít, chỉ ăn trước khi mặt trời mọc và sau khi mặt trời lặn, cũng không uống. Thế là thời gian càng trôi qua, thì lại có một cái gì đó như khoảng trống càng lớn dần trong cơ thể, thiêu đốt ruột gan, khiến người ta ù tai. Nhưng Lalla vẫn thích nhịn ăn, bởi khi không ăn, không uống trong nhiều tiếng đồng hồ, và nhiều ngày, thì điều đó giống như thể người ta lau rửa phần bên trong cơ thể mình. Giờ khắc dường như dài hơn, trọn vẹn hơn bởi người ta chú ý tới từng việc nhỏ nhất. Bọn trẻ không tới trường nữa, đàn bà không làm việc ngoài đồng nữa, thanh niên không ra thành phố nữa. Mọi người đều ngồi trong bóng mát của những căn lều và đám cây cối, vừa lai rai nói chuyện vừa ngắm những cái bóng lay động theo ánh mặt trời.

Khi người ta nhịn ăn trong nhiều ngày, bầu trời dường như cũng sạch hơn, xanh hơn và trở nên bóng láng ở phía trên mặt đất trắng. Những tiếng động cũng rền vang hơn, chúng kéo dài ra như khi người ta ở trong một cái hang, và ánh sáng như thuần khiết hơn, mượt mà hơn.

Thậm chí ngày cũng dài hơn, điều khó mà giải thích được, nhưng từ lúc mặt trời mọc tới lúc chiều tà, có thể nói như cả một tháng trời đã trôi qua.

Lalla thích nhịn ăn như vậy, khi mặt trời thiêu đốt và khi cái khô hạn xâm chiếm tất cả. Bụi xám để lại trong miệng cái vị của sỏi đá, và thỉnh thoảng người ta phải mút mút những loài cỏ li ti có mùi chanh hoặc những chiếc lá hăng hắc của cỏ chiba nhưng không quên nhổ nước bọt.

Khi tới thời kỳ nhịn ăn, ngày nào Lalla cũng đến gặp Hartani trên đồi đá. Chú cũng không ăn, không uống cả ngày, nhưng điều này không hề hấn gì tới chú, và khuôn mặt chú lúc nào cũng mang cùng màu nắng cháy ấy. Hai mắt chú rực lên trên khuôn mặt u ám, những cái răng lấp lánh khi chú mỉm cười. Điều khác biệt duy nhất là chú trùm kín trong cái áo khoác bằng len thô để khỏi mất nước trong cơ thể. Chú cứ như vậy, đứng bất động dưới mặt trời trên một chân, chân kia chống lên bắp chân đang đứng, ở dưới gối, và chú nhìn ra xa, về phía những ánh phản chiếu của không khí đang nhảy múa, về phía đàn cừu và dê.

Lalla ngồi bên chú trên một tảng đá bằng phẳng, cô lắng nghe những tiếng động đến từ mọi phía của ngọn núi, tiếng côn trùng, tiếng huýt sáo của những người chăn cừu, cả tiếng răng rắc của hơi nóng làm đá giãn nở, và tiếng gió thổi qua. Cô có trọn thì giờ cho mình, bởi trong thời kỳ nhịn ăn, người ta không phải đi tìm nước và cây khô để nấu bếp nữa.

Điều thú vị là được sống trong toàn bộ không khí khô hạn này suốt thời kỳ người ta nhịn ăn, bởi điều đó giống như một cơn đau mãnh liệt phát ra từ mọi bộ phận, như một cái nhìn đăm đăm không dứt. Đêm đêm, vầng trăng xuất hiện sát bên những ngọn đồi đá, tròn vành vạnh, tỏa sáng khắp nơi. Bây giờ Aamma dọn ra món súp đậu ít ỏi và bánh mì, và mọi người ăn vội vã, ngay cả Selim, chồng của Aamma, mà người ta vẫn gọi là người Soussi, cũng ăn tới tấp, quên cả việc cho dầu ô liu vào bánh mì như lệ thường. Không ai nói gì, không có chuyện gì để nói. Lalla thì muốn nói, cô có hàng đống điều để nói, với một chút bồn chồn trong lòng, nhưng cô biết đó là điều không thể, bởi không được phép khuấy động bầu không khí im lặng của thời kỳ nhịn ăn. Khi người ta nhịn ăn thì như vậy đó, người ta nhịn cả nói cùng tất cả các suy nghĩ. Người ta vừa chậm rãi bước vừa khẽ kéo lê đôi chân, người ta không dùng ngón tay để chỉ chỏ người lẫn vật, người ta không dùng miệng huýt sáo.

Bọn trẻ thỉnh thoảng vẫn quên mất rằng đang trong thời kỳ nhịn ăn, bởi cũng khó mà dằn lòng mãi được. Thế là chúng phá lên cười, hoặc vừa đi vừa chạy băng qua các con đường, làm bụi tung mù mịt và khiến lũ chó sủa vang. Còn những bà già thì la hét phía sau, ném sỏi vào chúng, và chúng chạy được một hồi thì dừng lại, cũng có thể là do chúng đuối sức do nhịn ăn.

Thời kỳ này kéo dài lâu đến nỗi Lalla không còn nhớ rõ những gì trước đó. Rồi một bữa, Aamma đi về phía những ngọn đồi để mua một con cừu, và mọi người đều biết rằng ngày lễ đã gần kề, Aamma đi một mình bởi chị bảo Selim người Soussi không có khả năng mua được món gì tốt. Chị đi trên con đường mòn nhỏ hẹp chạy ngoằn ngoèo về phía những ngọn đồi đá, nơi những người chăn cừu sinh sống. Lalla và mấy đứa trẻ đi theo chị từ xa. Khi tới những ngọn đồi, Lalla ngó xem liệu Hartani có ở đó không, nhưng cô biết là vô ích: chú chăn cừu ấy không thích người, và chú bỏ đi khi người ở Cư xá đến mua cừu. Cha mẹ nuôi của Hartani đang cạo lông cừu. Họ đã làm một cái bãi giữ cừu với những cành cây cắm xuống đất, và họ ngồi trong bóng mát để chờ.

Không có những người buôn cừu hay những người chăn cừu khác. Một mùi hăng hắc của mỡ và nước đái cừu lan tỏa trên đất khô, và người ta nghe thấy tiếng hét dữ dội của những con vật bị nhốt trong vuông đất rào kín bằng cành cây. Có nhiều người từ Cư xá tới, đôi khi có cả những người từ thành phố; họ đậu xe ở cổng vào Cư xá, phía cuối con đường rồi đi bộ theo con đường mòn. Đó là những người miền Bắc, da vàng, những ông chủ mặc com lê, hoặc là những nông dân miền Nam, những người Soussi, Fassi, Mogador. Họ biết có nhiều người chăn cừu ở đây, có khi họ biết cả người thân, bạn bè, và họ hy vọng tìm được một con vật tốt giá rẻ, hy vọng có được một vụ làm ăn. Họ đứng trước vuông đất rào, họ tranh cãi, họ khoa tay, họ cúi xuống để nhìn những con cừu được kỹ hơn.

Aamma thong thả bước qua cái chợ. Chị không dừng bước, chị chỉ đi vòng các vuông đất rào, chị nhìn rất nhanh, nhưng chị thấy ngay giá trị của các con vật. Khi nhìn qua tất cả các vuông đất rào, chắc chắn chị đã chọn được con cừu đúng ý. Thế rồi chị đến gặp người buôn cừu, và chị hỏi giá. Và vì chị muốn con cừu đó chứ không phải con cừu khác, chị gần như không mặc cà, chị trao ngay tiền cho người chủ. Chị đã thận trọng mang theo một sợi dây, và một chú chăn cừu đã tròng sợi dây quanh cổ con cừu. Mọi việc xong xuôi, chỉ còn việc dẫn con cừu về nhà. Chính cậu con trưởng của Aamma, người mà ai nấy quen gọi là Bareki, được vinh dự dẫn cừu về nhà. Đó là một con cừu to và khỏe, với bộ lông vàng bẩn thỉu nực mùi nước tiểu, nhưng Lalla vẫn thấy thương hại nó phần nào khi nó đi qua, đầu cúi thấp và hai mắt kinh hoàng bởi cậu trai cố hết sức để kéo sợi dây đang siết cổ nó. Sau đó người ta cột con cừu phía sau nhà Aamma trong cái góc hẹp ngăn bằng những tấm ván cũ đặc biệt dành cho nó, người ta cho nó ăn và uống tất cả những gì nó thích trong những ngày cuối đời nó.

Thế rồi, một sáng đẹp trời, khi Lalla thức giấc, cô biết ngay rằng đó là ngày lễ. Cô biết điều này mà không cần ai phải nói với cô, đơn giản chì cần mở mắt ra và trông thấy ánh sáng ngày hôm đó. Cô đứng bên ngoài trong giây lát, cùng bọn trẻ khác, và tiếng rì rầm của ngày lễ đã bắt đầu lan ra trong không khí, dâng lên tận phía trên những ngôi nhà bằng ván và giấy quét hắc ín, như tiếng chim râm ran.

Lalla cố hết sức để chạy thật nhanh trên mặt đất còn lạnh lẽo, cô chạy băng đồng, dọc theo con đường mòn nhỏ hẹp đưa tới biển. Khi cô tới phía trên những cồn cát, gió biển thổi ập vào mặt cô, mạnh đến nỗi hai cánh mũi co lại, và cô lảo đảo ngã về phía sau. Biển âm u dữ dội, nhưng bầu trời vẫn mang vẻ xám dịu và êm ả đến nỗi cô không còn sợ nữa. Cô cởi quần áo thật nhanh, và không chút ngần ngại, cô ngụp đầu trong nước. Sóng biển ồ ạt vây phủ lấy cô, đập vào mí mắt, thái dương cô, chui vào mũi cô. Nước mặn đầy ứ miệng cô, chảy trong họng cô. Nhưng ngày hôm đó, Lalla không sợ biển, cô uống từng ngụm lớn nước mặn, và cô vừa bước ra khỏi sóng biển vừa lảo đảo như say, mắt mờ đi vì muối. Sau đó cô quay trở lại biển, và cô bơi thật lâu song song với bờ biển, hai gối cô cọ vào cát khi nước rút đi, rồi những đợt sóng lại ập tới nâng cô lên.

Bấy giờ con hải âu trắng toát mà Lalla rất thích đang vừa chầm chậm bay qua trên đầu cô vừa cất tiếng kêu khe khẽ. Lalla ra dấu với nó và cô hét lên những cái tên một cách cầu âu để gọi nó tới

"Ê! Kalla! Illa! Zemzar! Horriya! Habib! Cherara! Haĩm!..."

Khi cô hét tới cái tên cuối cùng, con hải âu nghiêng đầu và nhìn cô, rồi bắt đầu bay vòng vòng phía trên cô gái trẻ.

"Hann! Haĩm!" Lalla lại hét lên, giờ đây cô tin chắc rằng đó chính là tên chàng thủy thủ mất tích trên biển xưa kia, bỏi cái tên đó có nghĩa là: Người Lang Thang.

"Hann! Hann! Đến đây, ta van người đó!"

Nhưng con hải âu trắng lại bay thêm một vòng nữa rồi bay đi trong gió dọc theo bờ biển về nơi những con hải âu khác vẫn quây quần bên nhau mỗi sáng trước khi bay về phía bãi rác của thành phố.

Lalla khẽ rùng mình bởi cô vừa cảm thấy cái lạnh của gió và của biển. Giờ đây mặt trời không còn xa nữa. Những tia sáng màu hồng vàng vừa nảy sinh từ phía sau những ngọn đồi đá, nơi Hartani sống. Trên làn da Lalla, những giọt nước biển lấp lánh trong ánh sáng vì cô đang nổi da gà. Gió thổi mạnh, và cát gần như phủ kín chiếc váy dài màu xanh của Lalla. Không đợi người khô, cô đã mặc lại quần áo rồi lại đi, nửa chạy nửa bước, về phía Cư xá.

Ngồi xổm trước cửa nhà mình, Aamma đang chiên những cái bánh tẩm bột trong chiếc nồi lớn đựng dầu sôi sục. Lò lửa bằng đất phát ra ánh sáng đỏ trong bóng tối khi ấy vẫn vảng vất bên những mái nhà.

Có thể đó là khoảnh khắc lễ hội mà Lalla thích hơn hết. vẫn còn run rẩy vì sự mát lạnh của biển, cô ngồi xuống trước lò lửa nóng rực, và cô ăn những cái bánh tẩm bột chiên giòn rụm, cô nhấm nháp hương vị ngọt ngào của bột nhão và mùi thơm hăng hắc của nước biển còn đọng trong họng cô. Aamma trông thấy tóc cô ướt đẫm và chị khẽ la rầy cô tí chút chứ không la rầy quá đáng vì đó là một ngày lễ. Đến lượt đám con của Aamma tới ngồi bên lò lửa, mắt vẫn còn sưng vì mới ngủ dậy, rồi tới lượt Selim người Soussi. Họ ăn những cái bánh tẩm bột chiên màu vàng hổ phách chất đầy trong cái mâm đất lớn, không nói năng gì. Chồng của Aamma vừa ăn chậm rãi vừa vận động hai quai hàm như đang nhai lại và thỉnh thoảng anh ngừng ăn để liếm những giọt dầu chảy dọc hai bàn tay. Tuy vậy anh vẫn cứ nói chút ít về những điều không quan trọng mà chẳng ai buồn nghe.

Ngày hôm đó, có mùi vị của máu, bởi đó là ngày người ta phải giết con cừu. Điều này gây nên một ấn tượng kỳ dị, như thể có gì đấy tàn nhẫn và căng thẳng, có gì đấy như kỷ niệm về một cơn ác mộng khiến tim đập nhanh. Đàn ông, đàn bà đều vui vẻ, mọi người đều vui vẻ, bởi đã kết thúc thời kỳ nhịn ăn và người ta sắp có thể ăn uống không ngừng nghỉ cho tới lúc thỏa thuê thì thôi. Nhưng Lalla không thể vui trọn vẹn được, vì con cừu. Thật khó nói, điều này giống như một cơn hối hả bên trong cơ thể cô, giống như một ước muốn chạy trốn. Cô đặc biệt nghĩ tới điều đó vào những ngày lễ. Có thể cô cũng giống như Hartani, và có thể những kỳ lễ hội không phải dành cho cô.

Anh hàng thịt tới, để giết con cừu. Có khi đó là Naman ông lão đánh cá, bởi ông là người Do Thái và ông có thể giết cừu mà không ngại tai tiếng. Hoặc một người tới từ nơi khác, một người Aissaoua có đôi cánh tay vạm vỡ và khuôn mặt hung ác. Lalla căm ghét ông ta. Với Naman thì khác, ông chỉ làm điều này khi người ta yêu cầu, để giúp đỡ, và ông không nhận sự trả công nào ngoài một miếng thịt nướng. Nhưng anh hàng thịt lại rất ác, và anh ta chỉ giết con cừu khi được người ta trả tiền. Anh ta dẫn con vật đi bằng cách kéo sợi dây còn Lalla lẩn tránh ra tận biển để khỏi nghe thấy những tiếng kêu xé ruột của con cừu mà người ta kéo tới chỗ đất nện cách máy nước không xa lắm, và để khỏi trông thấy máu phọt ra từng hồi khi anh hàng thịt cắt cổ con vật bằng con dao to nhọn hoắt, thứ máu đen chảy đầy mấy cái thau tráng men và bốc khói nghi ngút. Nhưng Lalla cũng sớm quay về, bởi sâu thẳm trong cô, có ước muốn kia đang lay động, có cơn đói kia.

Khi trở về gần nhà Aamma, cô nghe lửa cháy lẹt đẹt, cô nghe mùi thơm lừng của thịt đang nướng. Để nướng những miếng thịt cừu ngon nhất, Aamma không cần ai giúp chị. Chị thích một mình ngồi xổm trước lửa, và tự tay quay những que xiên, những đoạn dây sắt trên đó người ta xâu những miếng thịt. Khi những miếng thịt đùi và sườn đã chín, chị đưa chúng ra khỏi lửa, đặt chúng vào một cái mâm đất nung đặt ngay cạnh bếp. Sau đó chị gọi Lalla, bởi đã đến lúc hun khói. Đấy cũng là một trong những khoảnh khắc lễ hội mà Lalla thích hơn cả. Cô ngồi cạnh lửa, không xa Aamma lắm. Lalla nhìn ngắm gương mặt chị qua những lửa và khói. Thỉnh thoảng có những cuộn khói đen bốc lên khi Aamma ném vào lửa một nắm cỏ ướt, hoặc cành tươi.

Aamma vừa lai rai nói chuyện vừa chuẩn bị món thịt, Lalla lắng nghe chị nói đồng thời lắng nghe tiếng lửa cháy tí tách, tiếng hò hét của trẻ con đang nô đùa xung quanh, và những giọng nói của cánh đàn ông; cô cảm thấy mùi hừng hực và nồng đậm ám vào mặt, vào tóc, vào quần áo mình. Lalla dùng con dao nhỏ cắt thịt thành những lát dài, mỏng, và đặt chúng lên cái vỉ bằng cành tươi treo phía trên ngọn lửa, nơi từ đó khói xông lên. Đó cũng là lúc Aamma nói về thời kỳ xa xưa, về cuộc sống ở những vùng đất miền Nam, ở bên kia những ngọn núi, nơi bắt đầu của cát sa mạc và nơi có những suối nước trong xanh như bầu trời.

"Cô nói về Hawa đi, cô Aamma", Lalla nói.

Và bởi ngày thì dài, bởi người ta không có việc gì làm ngoài việc vừa nhìn những lát thịt đang khô trong cuộn khói xoáy lên vừa thỉnh thoảng xoay trở chúng bằng một cành cây, hoặc liếm các ngón tay để khỏi bị bỏng, nên Aamma bắt đầu nói. Lúc đầu giọng chị chậm rãi và ngập ngừng như thể đang cô nhớ lại, sau đó nó trở nên lưu loát tự nhiên dưới hơi nóng của mặt trời đang từ từ lên cao trên bầu trời xanh, trong tiếng tí tách của lửa, cùng mùi thịt và khói.

"Lalla Hawa (đó là cái tên mà Aamma dùng để gọi mẹ Lalla) nhiều tuổi hơn cô, và cô nhớ rõ lần đầu tiên mẹ cháu bước vào nhà khi cha cháu đi cùng bà. Mẹ cháu tới từ miền Nam, từ sa mạc mênh mông, và đó chính là nơi cha cháu quen mẹ cháu, bởi bộ lạc của mẹ cháu ở miền Nam, trong thung lũng Saguiet el Hamra, gần thánh địa Smara, và bộ lạc của mẹ cháu thuộc gia đình của Ma el Aĩnine vĩ đại, người vẫn được gọi là Nước Mắt. Nhưng bộ lạc của mẹ cháu phải rời khỏi vùng đất của mình, bởi bọn lính Cơ Đốc đã xua đuổi họ, đàn ông, đàn bà và trẻ con, không chừa một ai, và họ đã đi bộ ròng rã nhiều ngày nhiều tháng qua sa mạc. Đó là điều mẹ cháu đã kể cho cô nghe sau này. Thời ấy, Ở Souss, bọn cô nghèo lắm, nhưng bọn cô rất hạnh phúc với nhau, bởi cha cháu rất yêu Lalla Hawa. Bà ấy biết cười và hát, bà ấy còn chơi cả đàn ghi ta, bà vẫn thường ngồi trước cửa nhà, dưới ánh mặt trời, và hát những hài hát...".

"Mẹ cháu hát những bài gì hà cô Aamma?"

"Đó là những bài hát miền Nam, một số bài bằng tiếng Berbère, những hài hát Assaka, Goulimine, Tan Tan, nhưng cô không thể hát như mẹ cháu được.".

"Cũng chẳng sao, cô Amma, cô hãy hát chỉ để cháu được biết thôi mà."

Thế là Aamma khe khẽ hát, tiếng hát xuyên qua âm thanh lẹt đẹt của lửa. Lalla nín thở để nghe rõ hơn bài hát của mẹ mình.

"Một ngày nào đó, ôi, một ngày nào đó, con quạ sẽ trở nên trắng tinh, biển sẽ khô cằn, người ta sẽ tìm thấy mật ngọt trong hoa xương rồng, người ta sẽ làm được một chiếc giường với những cành keo, ôi, một ngày nào đó, sẽ không còn nọc độc trong miệng rắn và những viên đạn trong các khẩu súng sẽ không còn gây ra chết chóc, nhưng đó cũng là ngày tôi rời xa tình yêu của mình...".

Lalla lắng nghe giọng hát thì thầm trong lửa mà không nhìn vào mặt Aamma, như thể chính giọng hát của mẹ cô đang vọng tới cô.

"Một ngày nào đó, ôi, một ngày nào đó, gió sẽ không thổi trên sa mạc nữa, những hạt cát sẽ trở nên ngọt như đường, dưới từng tảng đá trắng sẽ có một mạch nước chờ đợi tôi, một ngày nào đó, ôi, một ngày nào đó, những con ong sẽ hát cho tôi một bài ca, bởi ngày đó tôi sẽ đánh mất tình yêu của mình...".

Nhưng lúc này giọng Aamma đã thấy đổi, nó mãnh liệt và nhẹ nhàng hơn, nó cao vút như tiếng sáo, nó rền vang như tiếng chuông đồng; giờ đây, đó không còn là giọng của chị nữa, đó là một giọng mới mẻ, giọng của một thiếu phụ xa lạ đang hát qua một màn lửa và khói, cho Lalla nghe, riêng cho Lalla mà thôi.

"Một ngày nào đó, ôi, một ngày nào đó, sẽ có mặt trời trong đêm tối, và mặt trăng sẽ để lại những vũng nước trắng trên sa mạc, khi bầu trời xuống thấp đến nỗi tôi có thể chạm vào các vì sao, một ngày nào đó, ôi, một ngày nào đó, tôi sẽ thấy bóng mình nhảy múa ngay trước mặt, và đó là ngày tôi đánh mất tình yêu của mình...".

Giọng hát diệu vợi lướt qua Lalla như một con run rẩy, vây bọc lây cô, và ánh mắt cô trở nên bối rối khi cô nhìn những ngọn lửa nhảy múa trong ánh sáng mặt trời. Bầu không khí im lặng tiếp sau bài hát dài dằng dặc, và Lalla có thể nghe xa xa tiếng nhạc cùng nhịp trống của ngày lễ. Giờ đây cô trơ trọi một mình, như thể Aamma đã cất bước, bỏ lại cô với cái giọng xa lạ đang ca bài ca kia.

"Một ngày nào đó, ôi, một ngày nào đó, tôi sẽ nhìn vào gương và tôi sẽ thấy khuôn mặt, tôi sẽ nghe tiếng anh từ đáy giếng vọng lên, và tôi sẽ nhận ra những bước chân anh trên cát, một ngày nào đó, ôi, một ngày nào đó, tôi sẽ biết được ngày chết của tôi, bởi đó là ngày tôi đánh mất tình yêu của mình...".

Giọng hát trở nên trầm đục, giống như một tiếng thở dài, nó run run trong ngọn lửa chập chờn, nó tan biến trong những cuộn khói lam.

"Một ngày nào đó, ôi, một ngày nào đó, mặt trời sẽ tối đen, trái đất sẽ mở toang tới trung tâm, biển sẽ lại phủ lên sa mạc, một ngày nào đó, ôi, một ngày nào đó, đôi mắt tôi sẽ không còn trông thấy ánh sáng, miệng tôi sẽ không thể nào nói được tên anh, tim tôi sẽ ngừng đau khổ, bởi đó là ngày tôi rời xa tình yêu của mình...".

Giọng hát xa lạ tắt dần trong tiếng thì thầm, biến mất trong lửa, trong làn khói lam, và Lalla phải chờ hồi lâu, không động đậy, mới biết được rằng giọng hát sẽ không trở lại nữa. Đôi mắt cô nhòe lệ, trái tim cô nhói đau, nhưng cô không nói gì trong khi Aamma lại cắt tiếp những lát thịt và đặt chúng lên cái vỉ bằng cành tươi giữa đám khói.

"Hãy nói về mẹ cháu nữa đi, cô Aamma."

"Lalla Hawa biết nhiều hài hát, giọng bà ấy rất hay, như cháu vậy, và bà ấy biết chơi ghi ta, thổi sáo và cả nhảy múa. Nhưng khi cha cháu gặp tai nạn đó, bà ấy thấy đổi tức thì, bà ấy không bao giờ hát cũng không bao giờ chơi ghi ta nữa, ngay cả lúc cháu chào đời, bà ấy cũng không còn muốn hát, trừ phi cho cháu nghe, khi cháu khóc về đêm, để ru cháu, để dỗ cháu ngủ...".

Lúc này, đám ong vò vẽ đã bay tới. Mùi thịt nướng thu hút chúng, và có hàng trăm con bay tới. Chúng bay vù vù quanh lò lửa, tìm cách đậu trên những miếng thịt. Nhưng khói xua chúng đi, làm chúng ngột ngạt, và chúng bay qua lửa trong cơn say. Một số rơi vào than hồng và cháy thành ngọn lửa vàng ngắn ngủi, số khác rơi xuống đất, chết sau khi cháy sém. Thật tội nghiệp đám ong vò vẽ! Chúng tới để giành phần thịt cho mình, nhưng lại không biết hành động cách nào. Khói cay xè khiến chúng bị say và trở nên giận dữ vì không đậu được trên cái vỉ bằng cành cây. Thế là chúng bay thẳng tới trước một cách mù quáng và ngu xuẩn như loài bướm đêm, và chúng chết. Lalla ném cho chúng một miếng thịt để xoa dịu cơn đói của chúng, để tách chúng ra khỏi lửa. Nhưng một con trong đám tấn công cô, chích vào cổ cô. "Ui da!" Lalla kêu lên, cô gỡ nó, ném ra xa, cô rất đỗi đau đớn nhưng lòng vẫn tràn ngập tình cảm thương hại bởi thật ra cô rất thích lũ ong vò vẽ.

Còn Aamma thì không để ý tới chúng. Chị dùng giẻ lau xua đuổi chúng, tiếp tục xoay trở những lát thịt trên vỉ, rồi nói:

"Bà ấy không thích ở nhà lắm..." giọng chị nghèn nghẹn như thể chị đang kể lại một giấc mơ nào xa xưa lắm. "Bà ấy thường địu cháu trên lưng bằng một chiếc khăn quàng và đi thật xa, rất xa... Không ai biết bà ấy đi đâu. Bà ấy lên xe buýt và đi ra tận biển, hoặc tới các làng lân cận. Bà ấy đi đến mấy cái chợ, gần những máy nước, nơi có những người mà bà ấy không quen biết rồi ngồi lên một hòn đá và nhìn họ. Có thể họ nghĩ rằng bà ấy là người ăn mày. Nhưng bà ấy không thích làm việc ở nhà bởi gia đình cô rất hà khắc với bà ấy, nhưng cô thì cô thương bà ấy lắm, như thể bà ấy là chị ruột cô vậy.".

"Cô nói nữa về cái chết của mẹ cháu đi, cô Aamma."

"Không nên nói về chuyện đó vào một ngày lễ," Aamma nói

"Không sao đâu, cô Aamma, cô cứ nói về cái ngày mẹ cháu chết"

Cách nhau bởi ngọn lửa, Aamma và Lalla không thấy nhau rõ lắm. Nhưng dường như có một cái nhìn khác đang chạm tới phần bên trong cơ thể họ, đúng vào nơi khiến người ta nhói đau.

« Lùi
Tiến »