Sa mạc

Lượt đọc: 954 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cuộc sống của những người nô lệ

Đứng tựa bên lan can tàu, Lalla nhìn dải đất hẹp xuất hiện nơi chân trời trông như một hòn đảo. Dù mệt, cô vẫn cố hết sức để nhìn vào đất liền, cô thử phân biệt những ngôi nhà, những con đường, có thể cả những bóng người. Bên cạnh cô, hành khách tụ tập sát lan can tàu. Họ la hét, họ khoa tay, họ nói một cách hăng say, họ trò chuyện với nhau bằng đủ mọi thứ ngôn ngữ từ đầu tới cuối boong sau. Họ đợi khoảnh khắc này từ lâu lắm rồi! Có nhiều trẻ con và thanh niên, chúng mang cái nhãn giống nhau ghim trên áo, với tên, ngày sinh của chúng, cùng tên và địa chỉ của người đang đợi chúng tại Marseille. Phía dưới cái nhãn, có một chữ ký, một con dấu, và một chữ thập đỏ nhỏ trong một vòng tròn đen. Lalla không thích chữ thập đỏ; cô có cảm tưởng nó thiêu đốt da cô qua lớp áo sơ mi, và nó dần dần in dấu trên ngực cô.

Gió lạnh giật từng cơn trên boong tàu, và từng đợt sóng nặng nề làm những tâm tôn của con tàu rung lên. Lalla nghe nhói trong tim, bởi suốt đêm, thay vì ngủ, bọn trẻ con cứ đẩy qua lại những hộp sữa đặc mà các ủy viên của hội Chữ thập Đỏ đã phân phát trước khi lên tàu. Rồi, bởi không có đủ ghế dài, Lalla đã phải ngủ trên sàn, trong cái nóng bức tởm lợm của hầm tàu, trong mùi dầu mazut, mùi mỡ lắc lư theo từng cơn rung của động cơ. Giờ đây những con hải âu đầu tiên đang bay phía trên đuôi tàu, chúng kêu ríu rít như thể đang giận dữ khi thấy con tàu tới. Chúng chẳng giống các vị hoàng tử của biển cả chút nào; chúng có màu xám bẩn, với một cái mỏ vàng và một con mắt ánh lên gay gắt.

Lalla không được thấy bình minh. Cô đã ngủ trong cơn mệt lử trên tấm vải bạt của hầm tàu, đầu kê lên một miếng các tông. Khi cô thức giấc thì mọi người đều đã ở trên boong, mắt nhìn đăm đăm vào dải đất. Trong hầm tàu chỉ còn lại một thiếu phụ thật nhợt nhạt đang bồng trên tay một đứa bé nhỏ xíu. Đứa bé đang bệnh, nó đã ói xuống sàn, nó rên ư ử. Khi Lalla bước tới để hỏi xem đứa bé bị làm sao, người thiếu phụ nhìn cô không đáp, đôi mắt trống rỗng.

Giờ đây đất liền đã gần kề, nó bềnh bồng trên biển màu xanh lục, ngổn ngang các thứ bẩn thỉu. Mưa bắt đầu rơi xuống boong nhưng không ai tìm chỗ trú. Nước lạnh chảy ròng ròng trên những mái tóc xoăn của trẻ con, nhỏ giọt nơi đầu mũi chúng. Chúng ăn mặc như lũ trẻ nhà nghèo, với áo sơ mi cụt tay cũn cỡn, quần dài bằng vải xanh, hoặc váy xám, đôi khi với một chiếc áo dài truyền thống bằng len thô. Chúng đi chân trần trong những đôi giày da đen quá lớn. Những người lớn mặc áo vest cũ đã sờn, quần dài cộc cỡn và đội mũ len trượt tuyết. Lalla nhìn bọn trẻ con, nhìn những người đàn bà, những người đàn ông quanh cô; họ có vẻ buồn bã và sợ sệt, họ có khuôn mặt vàng vọt, phị ra vì mệt mỏi, tay chân sởn gai ốc. Mùi của biển cả trộn lẫn với mùi của mệt mỏi và âu lo, và xa xa, đất liền cũng có vẻ buồn bã và mệt mỏi, nom giống như một cái đốm trên biển màu xanh lục. Bầu trời thấp, mây vần vũ trên các ngọn đồi; Lalla nhìn mãi cũng vô ích, cô không thấy thành phố màu trắng mà Naman ông lão đánh cá từng nhắc đến, cũng không thấy những dinh thự hay tháp nhà thờ. Giờ đây chỉ có những bến tàu vô tận, màu đá và xi măng, những bến tàu mở ra những bến tàu khác. Con tàu chở đầy hành khách từ từ lướt trên mặt nước đen ngòm của vũng tàu đậu. Trên các bến tàu, có mấy người đàn ông đứng dửng dưng nhìn con tàu chạy qua. Thế mà bọn con nít thì hò hét tới đinh tai nhức óc, vẫy tay lia lịa, nhưng không ai đáp lại chúng. Mưa vẫn tiếp tục rơi, thưa và lạnh. Lalla nhìn nước trong vũng tàu đậu, thứ nước đen ngòm và vấy dầu với những mảnh vụn trôi lều bều khiến cả lũ hải âu cũng ngán ngẩm.

Lẽ nào lại không có thành phố? Lalla nhìn những bên tàu ẩm ướt, nhìn bóng của những con tàu chở hàng đang đậu lại, những cần trục và xa hơn nữa, những tòa nhà dài màu trắng tạo thành bức tường ở cuối hải cảng. Dần dần niềm vui của bọn trẻ trên con tàu của hội Chữ thập Đỏ Quốc tế cũng bắt đầu rơi rụng. Thỉnh thoảng vẫn còn vài tiếng reo hò nhưng chúng không kéo dài. Các ủy viên và các cô hướng dẫn viên xuất hiện trên boong, họ hô to những mệnh lệnh chẳng ai hiểu nổi. Họ tập họp bọn trẻ con xong, và họ bắt đầu gọi tên, nhưng giọng họ chìm khuất trong tiếng động cơ và tiếng ồn ào của đám đông.

"... Makel..."

"... Séíar..."

"Ko-di-ki..."

"Hamal..."

"Lagor..."

Tất cả chẳng nói lên điều gì, và không ai đáp lại. Tiếp theo, loa bắt đầu nói như sủa trên đầu hành khách, và người ta nhốn nháo hốt hoảng. Một vài người chạy về phía trước, một số khác thử leo lên các cầu thang đi về phía boong trên, nơi các sĩ quan đẩy họ lùi lại. Cuối cùng mọi người cũng bình tĩnh bởi con tàu vừa cập bến và tắt máy. Trên bến tàu có một căn nhà xấu xí bằng xi măng với khung cửa sổ sáng đèn. Con nít, đàn bà, đàn ông đều nghiêng người trên lan can tàu để thử nhận ra một khuôn mặt quen trong sô những người đang bước đi dưới đó, bên kia căn nhà tồi tàn, trông không lớn hơn đám côn trùng là mấy.

Cuộc đổ bộ bắt đầu. Nghĩa là trong nhiều tiếng đồng hồ, hành khách vẫn ở trên boong con tàu của hội Chữ thập Đỏ Quốc tế trong khi chờ đợi người ta ra một dấu hiệu nào đó. Rồi thời gian trôi qua, bọn trẻ con tụ tập trên boong càng lúc càng trở nên căng thẳng. Những đứa nhỏ nhất bắt đầu khóc lóc, với những tiếng rên rỉ liên tục và chẳng giải quyết được gì. Đàn bà, hoặc đàn ông kêu la. Lalla ngồi trên một đông dây tàu với chiếc va li đặt cạnh, bên bức vách ngăn với boong sĩ quan, và cô vừa chờ đợi vừa nhìn lũ hải âu xám bay trên bầu trời xám.

Cuối cùng cũng tới lúc lên bờ. Hành khách mệt mỏi trong chờ đợi đến nỗi phải một lúc lâu sau họ mới chuyển động. Lalla bước theo sau đoàn người tới căn nhà xám lớn. Ở đó có ba viên cảnh sát và những viên thông ngôn đặt câu hỏi cho người mới tới. Với trẻ con thì điều đó diễn ra có phần nhanh hơn , bởi viên cảnh sát chỉ cần đọc điều được viết trên những cái nhãn và chép nó ra tâm phiếu của mình. Làm công việc đó xong, người đàn ông nhìn Lalla và hỏi cô:

"Cháu có ý định làm việc tại Pháp à?"

"Dạ", Lalla nói

"Việc gì?"

"Cháu không biết ạ."

"Giúp việc nhà." Viên cảnh sát nói vậy, và ông ta ghi như thế lên tờ giấy của mình. Lalla xách va li lên, và cô tới đợi cùng những người khác trong gian phòng lớn với tường màu xám, nơi có ánh đèn điện soi sáng. Chẳng có gì để ngồi và bất chấp cái lạnh của cơn mưa bên ngoài, trong phòng người ta vẫn thấy nóng ngột ngạt. Bọn trẻ nhỏ nhất đã ngủ trong tay mẹ, hoặc dưới đất, trên lớp quần áo. Giờ lại tới lượt những đứa lớn hơn than vãn. Lalla thấy khát, cổ họng cô khô ran, đôi mắt cô nóng bỏng vì sốt. Cô quá mệt nên không muốn nghĩ tới bất luận điều gì. Cô chờ đợi, lưng tựa vào tường, đứng trên một chân, rồi đổi sang chân khác.

Ở cuối gian phòng, trước hàng rào cảnh sát, là người thiếu phụ mặt mày nhợt nhạt, cái nhìn trống rỗng, đang ẵm đứa con nhỏ xíu trên tay. Chị đứng trước bàn viên thanh tra, vẻ nhớn nhác, không nói gì. Viên cảnh sát nói với chị một hồi lâu, đưa mớ giấy tờ cho viên thông ngôn của hội Chữ thập Đỏ Quốc tế xem. Có điều gì đấy không ổn. Viên cảnh sát nêu lên những câu hỏi mà viên thông ngôn lặp lại cho người thiếu phụ, nhưng chị nhìn họ, tỏ vẻ không hiểu. Họ không muốn cho chị đi qua. Lalla nhìn người phụ nữ có vẻ mặt tái mét đang ẵm con. Chị ôm nó trong hai cánh tay, chặt đến nỗi nó ú ớ thức giấc và bắt đầu kêu la, rồi nó dịu lại khi người mẹ nhanh nhẩu vạch vú cho nó bú. Viên cảnh sát có vẻ lúng túng. Hắn quay mặt đi, đưa mắt tìm kiếm xung quanh. Cái nhìn của hắn bắt gặp cái nhìn của Lalla đang bước tới gần. Viên cảnh sát ra hiệu cho cô tới.

"Cháu có nói được ngôn ngữ của chị này không?"

"Cháu không biết", Lalla nói

Lalla nói vài từ Berbère, và người thiếu phụ nhìn cô một hồi, đoạn đáp lời cô:

"Hãy nói với chị ấy là giấy tờ của chị ấy không hợp lệ, thiếu giấy phép cho đứa bé."

Lalla thử dịch câu nói. Cô tưởng đâu người thiếu phụ không hiểu, rồi bất chợt chị quỳ xuống và bắt đầu khóc. Viên cảnh sát còn nói thêm mấy tiếng nữa, và viên thông ngôn của hội Chữ thập Đỏ Quốc tế khó nhọc đỡ chị dậy và dẫn chị về phía cuối phòng, nơi có hai hoặc ba chiếc ghế dựa bọc vải giả da.

Lalla buồn lòng bởi cô biết rằng người phụ nữ lại phải đáp tàu trở về, với đứa con bệnh. Nhưng chính cô cũng quá mệt mỏi để nghĩ nhiều tới điều đó, và cô trở lại tựa lưng vào bức tường, bên chiếc va li của mình. Phía trên cao của bức tường, ở cuối phòng, có một chiếc đồng hồ với những con số được viết trên những tấm nhỏ. Mỗi phút một tấm chuyển qua gây thành tiếng “tích”. Giờ đây không ai nói gì nữa. Mọi người đều chờ, hoặc ngồi dưới đất, hoặc đứng tựa vào bức tường, cái nhìn đăm đăm, nét mặt căng thẳng, như thể trong mỗi tiếng “tích”, cánh cửa cuối phòng sẽ mở và để họ đi.

Cuối cùng, sau một thời gian lâu đến nỗi không ai còn hy vọng gì, người của hội Chữ thập Đỏ Quốc tế đi qua gian phòng lớn. Họ mở cánh cửa cuối phòng, và họ lại bắt đầu gọi tên những đứa bé. Tiếng thì thầm lại nổi lên, mọi người tụ tập gần cửa ra. Chiếc va li bằng các tông xách trong tay, Lalla ngước cổ để nhìn qua những kẻ khác, cô đợi người ta gọi tên mình, nôn nóng đến nỗi hai chân phát run lên. Khi người đàn ông của hội Chữ thập Đỏ Quốc tế đọc tên cô, tiếng của ông ta nghe như một tiếng sủa, và Lalla không hiểu gì cả. Thế là ông ta lặp lại trong tiếng hét:

"Hawa! Hawa ben Hawa!"

Cô chạy, chiếc va li đung đưa ở tận cùng cánh tay cô, cô băng qua đám đông. Cô dừng lại trước cánh cửa trong khi người đàn ông kiểm chứng cái nhãn của cô, rồi cô nhảy ra ngoài như có ai xô vào lưng cô. Sau nhiều tiếng đồng hồ trong gian phòng mênh mông xám ngắt, bên ngoài nhiều ánh sáng đến nỗi cô phải đi loạng choạng vì bị choáng váng. Cô dấn bước giữa những hàng đàn ông và đàn bà mà không nhìn họ, cô bước thẳng tới trước một cách cầu âu, cho tới khi cô nhận ra ai đó đang nắm cánh tay cô, ôm chặt lấy cô, hôn cô. Aamma kéo cô đi về phía lối ra khỏi bến tàu, về phía thành phố.

Aamma sống một mình trong một căn hộ của thành phố cổ, gần hải cảng, ở tầng chót của một ngôi nhà đổ nát. Căn hộ có đúng một phòng với một cái đi văng, và một phòng ngủ tối tăm với một cái giường xếp cùng một nhà bếp. Cửa sổ căn hộ nhìn xuống một cái sân trong, nhưng người ta cũng thấy rõ cả bầu trời phía trên những mái ngói. Buổi sáng, tới tận trưa, cũng có chút ánh mặt trời chiếu qua hai cửa sổ trong gian phòng có cái đi văng. Aamma nói với Lalla rằng chị may mắn lắm mới tìm được căn hộ này, và cũng may mắn lắm mới tìm được công việc nấu bếp trong căng tin nhà thương. Khi tới Marseille, từ nhiều tháng trước, lúc đầu chị ở trong một căn nhà cho thuê có đồ đạc ở ngoại ô, nơi có một phòng lại có năm người đàn bà chung sống, với cảnh sát đến vào mỗi sáng, và những trận ẩu đả ngoài đường. Thậm chí có cả chuyện hai người đàn ông đánh nhau bằng dao nữa, và Aamma đã phải trốn đi, bỏ lại một chiếc va li, bởi chị sợ bị đưa về bốt cảnh sát rồi bị trục xuất.

Aamma rất hài lòng khi gặp lại Lalla sau suốt quãng khoảng thời gian đó. Cô không hỏi chị về những gì đã xảy ra, khi cô lẩn trốn trong sa mạc với Hartani, và khi người ta đưa cô tới bệnh viện thành phố, bởi lúc đó cô đang sắp chết vì khát và sốt. Còn Hartani, chú tiếp tục chuyến đi một mình về miền Nam, về phía các đoàn lữ hành, bởi đó là điều chú phải làm từ bấy lâu. Chỉ trong vài tháng mà Aamma đã già đi nhiều. Mặt chị gầy gò và mệt mỏi, da chị xám, và đôi mắt chị có quầng màu nâu xám. Buổi chiều khi đi làm về và trong lúc ăn bánh quy và uống trà pha bạc hà, chị hay kể lại chuyến đi bằng ô tô của mình xuyên qua nước Tây Ban Nha cùng với những người đàn bà và những người đàn ông khác đi tìm việc làm. Trong nhiều ngày liền, họ đi ô tô trên khắp các cầu đường, họ đi qua những thành phố, vượt qua những ngọn núi, những con sông. Và một ngày nọ, người tài xế ô tô đã chỉ vào một thành phố nơi có nhiều ngôi nhà gạch, tất cả đều giống nhau, với những cái mái đen sì. Anh ta nói, kìa, tới rồi. Aamma cùng những người khác xuống xe, và vì cả chuyến đi đã được trả tiền trước, họ gom đồ đạc của mình lại, và bắt đầu bước đi trên những con đường của thành phố. Nhưng khi Aamma đưa ra phong bì có tên và địa chỉ của em ông Naman, mọi người đều cười ngất, và họ bảo chị không phải đang Marseille, mà ở Paris, thế là chị phải đáp xe lửa và lại đi suốt đêm mới tới nơi.

Nghe câu chuyện đó, Lalla thấy buồn cười quá, bởi cô tưởng tượng ra cảnh đám hành khách trên ô tô đang bước đi trên những con đường Paris mà lại tưởng mình ở Marseille.

Thành phố này lớn thật. Lalla chưa bao giờ nghĩ là lại có lắm người như vậy ở cùng một nơi. Từ lúc tới đây, ngày nào cô cũng đi bộ khắp thành phố, từ phía Nam tới phía Bắc, và từ phía Đông sang phía Tây. Cô không biết tên đường, cô không biết mình đi đâu. Khi thì cô vừa bước dọc các bến tàu vừa nhìn bóng dáng những con tàu chở hàng; khi thì cô đi ngược lên các đại lộ, về phía trung tâm thành phố, hoặc lần theo các con hẻm quanh co của thành phố cổ, cô leo lên những cầu thang, đi từ quảng trường này tới quảng trường khác, từ nhà thờ này tới nhà thờ khác, tới tận cái bãi rộng từ đó người ta có thể trông ra pháo đài trên biển. Hoặc cô tới ngồi trên những chiếc ghế dài trong các khu vườn, cô nhìn lũ bồ câu bước đi trên các lối đi đầy bụi. Có thật nhiều đường sá, nhà cửa, cửa hàng, cửa sổ, xe cộ; tất cả những thứ ấy khiến người ta chóng mặt, rồi tiếng động, mùi xăng khiến người ta ngây ngất, nhức đầu. Lalla không nói chuyện với ai. Có lúc cô ngồi trên bậc thềm của các nhà thờ, giấu mình trong chiếc áo khoác len màu hạt dẻ và nhìn khách qua đường. Có những người đàn ông nhìn cô rồi dừng lại nơi góc đường, và làm bộ vừa hút thuốc vừa theo dõi cô. Nhưng Lalla biết cách biến mất thật nhanh, cô học điều này ở Hartani, cô băng qua hai, ba con đường, một cửa hàng, cô len lỏi giữa những chiếc ô tô đang đậu, và không ai theo cô được.

Aamma muốn cô làm với chị tại bệnh viện, nhưng Lalla còn trẻ quá, phải lớn mới được. Lại thêm cũng khó mà tìm được việc làm.

Vài ngày sau khi tới nơi, cô đi gặp em ông lão Naman, tên là Asaph, nhưng mọi người ở đây gọi ông ta là Joseph. Ông ta có một cửa hàng thực phẩm ở đường Chapeliers, không xa trại hiến binh lắm. Ông ta có vẻ hài lòng khi gặp Lalla, ông ta vừa hôn cô vừa nói về người anh của ông ta, nhưng Lalla ngờ vực ông ta ngay. Ông ta không giống Naman chút nào. Ông ta nhỏ thó, gần như hói đầu, với đôi mắt lồi khiếm nhã màu xám lục, và một nụ cười không chút lương thiện. Khi ông ta biết Lalla đang tìm việc làm, đôi mắt ông ta sáng lên và ông ta trở nên bồn chồn. Ông ta nói với Lalla rằng đúng là ông ta đang cần một cô gái giúp trông coi cửa hàng, sắp xếp, thu dọn, và có thể giữ két nữa. Nhưng khi nói điều đó, lúc nào ông ta cũng nhìn vào bụng và ngực Lalla với đôi mắt khiếm nhã ướt nhẹp, thế là cô nói sẽ trở lại vào ngày mai, rồi cô đi ngay. Vì cô không trở lại, nên một buổi chiều chính ông ta tới căn hộ của Aamma. Nhưng Lalla đã ra ngoài ngay khi cô trông thấy ông ta, và cô đi dạo hồi lâu trong các con hẻm của thành phố cổ, lẩn khuất như một cái bóng, cho tới khi cô chắc chắn rằng ông chủ cửa hàng thực phẩm đã về nhà.

Đây là một nơi lạ đời, cái thành phố này, với tất cả những con người kia, bởi họ không thật sự để ý tới ta nếu ta không bộc lộ bản thân. Lalla đã học cách lướt đi lặng lẽ dọc theo các bức tường, trong các cầu thang. Cô biết tất cả những nơi từ đó người ta có thể trông thấy mọi thứ mà không ai trông thấy mình, những chỗ trốn đằng sau các thân cây, trong những bãi xe đầy xe cộ, trong những xó cửa, trong những khu đất trống. Thậm chí ngay giữa những đại lộ thăng tắp với làn sóng người và xe bất tận lên xuống, Lalla biết mình vẫn có thể lẩn khuất. Lúc đầu cô còn mang đậm dấu vết của sa mạc nắng cháy, và mái tóc dài, đen và xoắn của cô còn lấp lánh những tia sáng mặt trời. Vì vậy mà người ta nhìn cô rất đỗi sửng sốt, như thể cô đến từ một hành tinh khác. Nhưng giờ đây, nhiều tháng đã trôi qua, và Lalla đã biến đổi. Cô đã cắt tóc ngắn, màu tóc cô mờ đi, xám nhạt. Trong bóng tối của những con hẻm, trong cái lạnh ẩm ướt ở căn hộ của Aamma, nước da Lalla cũng mờ đi, nó trở nên nhợt nhạt và xám. Rồi thêm chiếc áo khoác màu hạt dẻ mà cô đã tìm thấy ở tiệm quần áo cũ của một người Do Thái, gần nhà thờ. Nó buông xuống gần tới mắt cá chân, tay áo rất dài và hai vai xuôi, và nhất là nó được may bằng một thứ thảm len, sờn nhẵn đi vì thời gian, có màu tường cũ, giấy cũ; khi mặc vào người, Lalla thực sự có cảm giác mình trở nên vô hình.

Giờ đây cô vừa học tên những con đường vừa lắng nghe thiên hạ nói chuyện. Đó là những cái tên kỳ lạ, kỳ lạ đến nỗi thỉnh thoảng cô vẫn đọc chúng khe khẽ khi cô bước đi giữa những ngôi nhà:

“La Major”

“La Tourette”

“Quảng trường Lenche”

“Phố Petit-Puits”

“Quảng trường Vivaux”

“Quảng trường Sadi-Camot”

“La Tarasque”

“Ngõ Muettes”

“Phố Cheval”

“Đường đi dạo Belsunce"”

Thật là nhiều đường, thật là nhiều tên! Ngày nào Lalla cũng ra khỏi nhà trước khi người cô thức giấc, cô bỏ một miếng bánh mì vào túi chiếc áo khoác màu hạt dẻ, và bắt đầu bước đi, bước đi, trước hết cô đi lòng vòng quanh khu Panier, qua phố Prison, với ánh mặt trời soi sáng các bức tường của Tòa Thị chính, cho tới lúc cô ra tới tận biển. Cô ngồi xuống một hồi để nhìn xe cộ chạy qua, nhưng cô không ngồi lâu lắm bởi cảnh sát sẽ tới hỏi cô làm gì ở đó.

Sau đó cô tiếp tục đi về phía Bắc, cô đi ngược lên các đại lộ huyên náo, đại lộ Canebière, đại lộ Dugommier, đại lộ Athènes. Người dân đến từ mọi nước trên thế giới, họ nói đủ thứ ngôn ngữ; có những người da rất đen, mắt him híp, mặc áo dài trắng thậm thượt và mang giày hàm ếch bằng nhựa. Có những người đến từ miền Bắc, tóc và mắt nhợt nhạt, những người lính, những thủy thủ, cả những doanh nhân to khỏe đi đứng nhanh nhẹn với chiếc cặp nhỏ đen thật buồn cười.

Lalla cũng thích ngồi ở đó, tại một góc tường, để nhìn tất cả những con người kia đang đi, đang lại, đang bước, đang chạy. Khi có đông người thì chẳng ai chú ý gì tới cô. Có thể họ tưởng cô cũng như họ, cô đang đợi ai đó, cái gì đó, hoặc họ nghĩ cô là một đứa ăn mày cũng nên.

Trong những khu phố đông đúc, có nhiều người nghèo khổ, chính họ là những người mà Lalla chú ý nhất. Cô trông thấy những người đàn bà ăn mặc rách rưới đang dìu đám con nhỏ, mặt họ thật xanh xao dù trời rất nắng. Cô trông thấy những ông già mặc áo khoác dài thậm thượt vá chằng vá đụp, những người say rượu với đôi mắt lờ đờ, những kẻ không nhà, những người nước ngoài đói khát xách va li bằng các tông và túi xách lép kẹp. Cô trông thấy những đứa trẻ bơ vơ, mặt mày bẩn thỉu, tóc tai dựng đứng, mặc những bộ quần áo cũ quá rộng so với thân thể gầy nhom của chúng; chúng bước nhanh như để tới nơi nào đó, và cái nhìn của chúng thì lấm lét và xấu xí như của lũ chó lạc loài. Từ chỗ nấp của mình, sau những chiếc ô tô đang đậu, hoặc trong bóng tối của một cửa xe vào, Lalla nhìn tất cả những con người có vẻ lạc loài kia bước đi như thể họ đang trong tình trạng nửa thức nửa ngủ. Đôi mắt buồn bã của cô rực lên lạ thường khi cô nhìn họ, và trong khoảnh khắc đó, có thể một chút ánh sáng chói chang của sa mạc chiếu vào họ, nhưng họ chỉ thoáng nhận ra nó mà không biết nó từ đâu tới. Có thể họ cảm thấy một cơn run rẩy thoảng qua, nhưng nếu họ đi nhanh, họ sẽ mất hút trong đám đông xa lạ.

Có những hôm cô đi thật xa, cô bước đi miết qua các con đường đến đau cả đôi chân và cô phải ngồi lại ven vỉa hè để nghỉ mệt. Cô đi về phía Đông dọc theo đại lộ thênh thang hai bên trồng cây, nơi có nhiều ô tô và xe tải chạy, rồi cô băng qua các ngọn đồi tới những thung lũng sâu. Đó là những khu phố có nhiều khoảng đất trống, nhiều tòa nhà lớn như những vách đá, trắng toát với hàng nghìn cửa sổ y hệt nhau; xa hơn có những biệt thự được bao quanh bởi nguyệt quế và cam, với một con chó dữ vừa chạy dọc theo hàng rào song sắt vừa sủa thật lực. Cũng có cả những con mèo hoang, gầy gò, xù lông, sống ở trên những bức tường cao và dưới những chiếc ô tô đang đậu.

Lalla vẫn bước đi một cách hú họa dọc theo các con đường. Cô băng qua những khu phố xa xôi, nơi có những con kênh ngoằn ngoèo đầy muỗi, cô bước vào một nghĩa địa lớn như một thành phố với những hàng bia đá xám và những cây thập tự gỉ sét. Cô lên hẳn những đồi cao, xa đến nỗi người ta chỉ còn trông thấy biển thấp thoáng, như một vệt xanh mờ bẩn giữa những khối tòa nhà. Có một lớp sương mù lạ lượn lờ trên thành phố, một đám mây lớn màu xám, hồng và vàng, nơi ánh sáng bắt đầu nhạt nhòa. Mặt trời đã xuống phía Tây, và Lalla nghe cơn mệt xâm chiếm cơ thể cô, cơn buồn ngủ. Cô nhìn thành phố lấp lánh phía xa, cô nghe thấy tiếng động cơ của nó, tiếng những chuyến xe lửa đang lăn bánh, đang chui vào cái lỗ đen ngòm của con đường hầm. Cô không sợ, vậy mà có cái gì đó quay cuồng trong cô, như một cơn choáng váng, như một ngọn gió. Có phải đó là chergui, ngọn gió sa mạc đang tới tận đây, nó đã băng qua biển cả, vượt qua những ngọn núi, những thành phố, những con đường, và đã tới đây? Thật khó mà biết được. Ở đây có nhiều uy lực quá, nhiều tiếng động quá, nhiều hoạt động quá, và ngọn gió có thể đã tan biến trên những con đường, trong những cầu thang, trên những bãi đất trước nhà.

Lalla nhìn một chiếc phi cơ đang vừa từ từ bay lên trên bầu trời nhợt nhạt vừa gây ra một tiếng động sấm sét. Nó đổi hướng phía trên thành phố, nó bay tới trước mặt trời mà nó dập tắt trong tích tắc, rồi nó bay về phía biển, càng lúc càng nhỏ dần. Lalla cố hết sức nhìn nó cho tới khi nó chì còn là một cái chấm khó nhận ra. Có phải nó sẽ bay trên sa mạc, nơi xa kia, trên những vùng cát và đá mênh mông, nơi Hartani đang bước đi?

Thế rồi, Lalla cũng cất bước. Với đôi chân có phần uể oải, cô bước trở xuống về phía thành phố.

Cũng có điều mà Lalla rất thích làm: tới ngồi trên bậc cầu thang lớn trước nhà ga, và nhìn hành khách rộn rịp lên xuống. Có những người tới trong cái mệt đứt hơi, mắt phờ phạc, tóc rối bởi và họ vừa bước xuống cầu thang vừa loạng choạng trong ánh sáng. Có những người đi trong hối hả bởi họ sợ trễ chuyến xe lửa; họ bước lên hai bậc một, va li và túi xách vấp phải chân họ, và mắt họ đăm đăm nhìn thẳng về phía cửa vào nhà ga. Họ vấp vào những bậc thang cuối, họ gọi nhau vì sợ lạc nhau.

Lalla rất thích nán lại gần nhà ga. Ở đó giống như thể thành phố chưa hoàn toàn kết thúc, như thể vẫn còn cái lỗ to tướng kia, qua cái lỗ ấy thiên hạ vẫn tiếp tục tới và tiếp tục đi được. Cô thường nghĩ mình rất thích đi, bước lên một chiếc xe lửa đang lên đường về miền Bắc với tất cả những tên thành phố vừa hấp dẫn vừa đáng sợ phần nào, Irun, Bordeaux, Amsterdam, Lyon, Dijon, Paris, Calais. Khi có chút đỉnh tiền, Lalla vào nhà ga, cô mua một lon Coca-Cola ở quầy giải khát và một vé vào bến. Cô vào đại sảnh nơi người ta chuẩn bị lên đường, và cô dạo bước trên tất cả các bến, trước những chiếc xe lửa vừa mới tới hoặc sắp lên đường. Cũng có khi cô bước vào một toa, và cô ngồi một hồi trên chiếc ghế dài bọc vải giả da màu xanh lục. Mọi người lần lượt bước tới. Họ tìm chỗ ngồi trong ngăn phòng, họ còn hỏi: "Chỗ trống chứ?" và Lalla khẽ gật đầu. Sau đó khi loa báo xe lửa sắp khỏi hành, Lalla vội vàng bước xuống khỏi toa, cô nhảy lên bờ kè.

Nhà ga cũng là một trong những nơi người ta có thể trông thấy mọi người mà không ai trông thấy mình, bởi người ta quá rộn rịp và hối hả nên không còn tâm trí đâu chú ý tới bất luận điều gì. Có đủ mọi hạng người trong nhà ga, những kẻ ác đức, những kẻ hung bạo mặt mày đỏ gay, những kẻ luôn miệng hò hét nghe đinh tai nhức óc; cũng có những con người thật buồn thảm và thật nghèo khổ, những người già lạc lõng lo lắng tìm kiếm bến xe lửa của mình, những người đàn bà đông con, khệ nệ ôm đồ đạc, bước thấp bước cao đi dọc theo những toa quá cao. Có tất cả những kẻ bị sự nghèo khó dẫn dắt tới đây, những người da đen từ những con tàu lên đường tới các xứ lạnh, họ mặc áo sơ mi ngắn tay sặc sỡ, với hành lý gồm vỏn vẹn một cái túi xách; những người Bắc Phi âm u, trùm áo vest cũ, đội mũ không vành của dân miền núi hoặc mũ cát két có mảnh che tai, những người Thổ Nhĩ Kỳ, những người Tây Ban Nha, những người Hy Lạp, tất cả đều có vẻ lo âu và mệt nhọc, họ đi lang thang dọc theo bến xe lửa trong gió lồng lộng, họ va vấp vào nhau giữa đám đông những hành khách dửng dưng và những anh lính hay giễu cợt.

Lalla nhìn họ, cô hơi khuất giữa buồng điện thoại và tâm pano quảng cáo. Cô lùi sâu trong bóng tối, khuôn mặt màu đồng của cô được che bằng cổ áo khoác. Nhưng thỉnh thoảng tim cô lại đập nhanh hơn, và đôi mắt cô ném ra một tia sáng như ánh phản chiếu của mặt trời trên đá sa mạc. Cô nhìn những kẻ đang đi về phía những thành phố khác, về phía cái đói, cái lạnh, cái khổ, những kẻ sẽ bị sỉ nhục, những kẻ sẽ sống trong cô đơn. Họ bước đi, lưng hơi còng xuống, mắt trống rỗng, quần áo sòn mòn vì những đêm ngủ đất, họ giống như đám lính bại trận.

Họ đi về phía những thành phố âm u, về phía những bầu trời thấp, về phía những làn khói, về phía cái lạnh, trong khi bệnh tật cào xé ngực họ. Họ đi về phía những thành phố nằm trên các khu đất bùn sình phía dưới xa lộ, về phía những căn phòng khoét trong đất nom giống ngôi mộ với tường cao và lưới sắt bao quanh. Liệu họ có thể không trở về, những người đàn ông và những người đàn bà đang đi qua như những bóng ma kia, kéo lê hành lý và đám con trĩu nặng của họ, liệu họ có thể chết tại những đất nước mà họ không quen thuộc, xa cách với làng xóm họ, xa cách với gia đình họ không? Họ tới những đất nước xa lạ kia, nơi sẽ cướp đi cuộc đời họ, sẽ nghiền nát họ, hủy hoại họ. Lalla vẫn bất động trong góc tối của mình và mắt cô mờ đi, bởi đó là điều cô đang nghĩ tới. Cô rất muốn bỏ đi, bước đi qua những con đường của thành phố cho tới khi nào không còn nhà cửa, không còn vườn tược, không còn cả những con đường, không còn cả bờ bến mà chỉ còn một con đường mòn, đưa tới tận sa mạc như ngày nào.

Đêm xuống trên thành phố. Ánh sáng được thắp lên trên những con đường, quanh nhà ga, trên những cây cột sắt và những thanh ngang lớn màu đỏ, trắng, lục ở phía trên những quán cà phê và rạp chiếu bóng. Trên những con đường tăm tối, Lalla lặng lẽ bước đi, cô lướt sát các bức tường. Đám đàn ông có bộ mặt thật đáng sợ khi đêm về, trông lờ mờ dưới ánh đèn đường. Mắt họ ánh lên dữ dằn, tiếng bước chân họ rền vang trong các hành lang, dưới các cửa xe vào. Giờ thì Lalla bước nhanh, như muốn chạy trốn. Thi thoảng, lại có một người đàn ông đi theo cô, tìm cách tới gần cô, nắm tay cô; thế là Lalla trốn sau một chiếc ô tô, rồi cô biến mất. Và cô lại lướt đi như một cái bóng, cô đi quanh quẹo trong các con đường của thành phố cổ, tới tận khu Panier, nơi Aamma đang ở. Cô bước lên cầu thang không ánh sáng, để không ai thấy cô vào ngõ nào. Cô gõ cửa nhè nhẹ, và khi nghe giọng nói của người cô, cô nói tên mình, nhẹ nhõm.

Đó là những ngày của Lalla ở đây, trong thành phố Marseille bao la này, dọc theo tất cả những con đường kia, với tất cả những người đàn ông và đàn bà kia, những nguời cô sẽ không bao giờ có thể hiểu được.

Nhiều người ăn mày quá. Những lúc đầu, khi mới tới Lalla rất kinh ngạc. Bây giờ thì cô đã quen. Nhưng cô không quên ngó kỹ họ, như hầu hết người dân thành phố vẫn luôn phải tránh để khỏi giẫm lên họ, hoặc phải bước qua họ những lúc gấp gáp.

Radicz là một tên ăn mày. Cô biết nó khi đi qua các đại lộ gần nhà ga. Một bữa nọ, cô rời khu phố Panier thật sớm, và trời còn tối bởi bấy giờ là mùa đông. Các con hẻm và cầu thang trong thành phố cổ chưa đông người lắm và đại lộ phía dưới bệnh viện lớn hãy còn vắng tanh, chỉ có những chiếc xe tải đang chạy với đèn pha bật sáng, vài người đàn ông cùng vài người đàn bà trên những chiếc xe đạp máy với áo khoác trùm trên người.

Chính tại đó cô đã trông thấy Radicz. Nó ngồi thu lu trong một xó cửa, nó cố tránh gió và mưa lất phất. Nó có vẻ lạnh cóng, và khi cô bước tới thì nó nhìn cô bằng ánh mắt kỳ lạ, chẳng giống bọn con trai khác chút nào. Nó nhìn cô trân trân, và người ta không đọc được điều gì đáng kể trong cái nhìn đó, giống như cái nhìn của loài vật.

Lalla dừng lại trước nó, cô hỏi:

"Em làm gì đó? Em không lạnh à?"

Đứa con trai lắc đầu mà không cười. Rồi nó chìa bàn tay ra:

"Cho cái gì đi."

Lalla chỉ có một miếng bánh mì và một trái cam mà cô mang theo để ăn trưa. Cô cho nó hai món đó. Nó chộp vội lấy trái cam, không nói cám ơn, và nó bắt đầu ăn.

Lalla biết nó trong trường hợp như vậy đây. Sau đó cô vẫn thường gặp lại nó, trên các con đường gần nhà ga, hoặc trong cầu thang lớn khi có dịp. Nó cứ ngồi suốt nhiều tiếng đồng hồ, không để ý tới mọi người. Nhưng nó rất thích Lalla, có lẽ nhờ trái cam. Nó nói với cô tên nó là Radicz, nó còn viết tên trên đất bằng một nhánh cây, nhưng nó có vẻ ngạc nhiên khi Lalla bảo là cô không biết đọc.

Nó có mái tóc thật đẹp, đen và thẳng, làn da màu đồng. Đôi mắt nó màu lục và chút ria mép của nó nom giống như một cái bóng đen phía trên đôi môi. Và nhất là thỉnh thoảng nó vẫn nở một nụ cười rất tươi làm ánh lên mấy chiếc răng cửa thật trắng. Nó đeo một cái khuyên nhỏ ở tai trái, và nó cho đó là vàng. Nhưng nó lại ăn mặc tồi tàn, với cái quần dài cũ lấm lem và rách bươm, một lô áo đan mặc chồng lên nhau, và một cái áo vest quá rộng đối với nó. Hai bàn chân trần của nó xỏ trong đôi giày da đen.

Lalla thích tình cờ trông thấy nó trên đường, bởi không phải lúc nào nó cũng ở trong cùng trạng thái. Có những ngày đôi mắt nó trông buồn bã và xa xăm như thể đang lạc trong một giấc mơ, và không có gì đưa nó ra khỏi đó được. Những ngày khác nó lại vui nhộn, mắt sáng lên; nó kể đủ mọi chuyện vô lý mà nó lần lượt tạo ra, nó cười thật lâu, không thành tiếng, Lalla không thể làm gì khác hơn là cùng cười với nó.

Lalla rất thích nó đến gặp cô tại nhà người cô, nhưng cô không dám bởi Radicz là một tên du cư, và Aamma chắc chắn không hài lòng với điều này. Nó thì không sống trong khu Panier, cũng không sống ở gần đó. Nó sống ở một rất xa, đâu đó về phía Tây, gần đường sắt, nơi có những khu đất trống mênh mông, những thùng xăng, và những ống khói cháy ngày đêm. Chính nó nói điều đó, nhưng nó không bao giờ nói lâu về nhà hay gia đình nó. Đơn giản nó nói nó ở quá xa nên không tới mỗi ngày được, và khi nó tới thì nó ngủ ngoài đường hơn là trở về nhà. Nó không lo chuyện đó, nó nói nó biết nhiều chỗ nấp ly kỳ, những nơi người ta không thấy lạnh, những nơi không có gió và không một ai, đúng là không một ai có thể tìm ra nó.

Chẳng hạn, có những khoảng trống dưới cầu thang trong những tòa nhà hư hỏng của sở hải quan. Có một cái hốc vừa đúng tầm vóc một đứa bé, người ta có thể len lỏi vào đó, và người ta che lối vào bằng một mảnh các tông. Hoặc có những cái chòi chứa dụng cụ, trong các công trường hoặc những chiếc xe tải nhỏ trùm bạt. Radicz biết rõ tất cả những điều đó.

Thường thường, người ta có thể gặp nó quanh nhà ga. Khi trời đẹp, mặt trời ấm áp, nó ngồi trên những bậc cầu thang lớn, và Lalla đến ngồi bên cạnh nó. Họ cùng nhìn thiên hạ đi qua. Thỉnh thoảng Radicz nhận ra một ai đó, nó nói với Lalla: "Rồi mày sẽ thấy." Nó đi thẳng về phía người khách vừa ra khỏi nhà ga, hơi chói mắt vì ánh sáng, và nó xin hắn một đồng tiền. Vì nó có nụ cười tươi tắn và có chút gì đó buồn buồn trong đôi mắt, người khách dừng bước, lục lạo các túi. Thường là những người đàn ông, tuổi trạc ba mươi, ăn mặc tươm tất, không cồng kềnh với hành lý, cho Radicz tiền. Với những người đàn bà thì phức tạp hơn, họ muốn hỏi han đủ điều, mà Radicz không thích thế. Do đó, khi thấy một thiếu phụ có vẻ đàng hoàng, nó xô Lalla ra và nói:

"Chị tới đó xin bà ấy đi."

Nhưng Lalla không dám xin tiền. Cô hơi mắc cỡ. Tuy nhiên có nhiều lúc cô cũng thích có chút đỉnh tiền để ăn một cái bánh hay vào rạp chiếu bóng.

"Đây là năm chót em làm chuyện này", Radicz nói. "Năm tới em sẽ lên đường, em đi làm ở Paris."

Lalla hỏi nó tại sao.

"Năm tới, em sẽ quá già, người ta sẽ không cho mình cái gì nữa khi mình quá già, họ bảo tự đi làm mà kiếm ăn."

Nó nhìn Lalla một hồi, đoạn hỏi cô có đi làm không, và Lalla lắc đầu.

Radicz chỉ vào một ai đó đang đi qua dưới kia, bên những chiếc xe buýt.

"Nó cũng đang làm với em, tụi em có chung một ông chủ."

Đó là một đứa con trai da đen ôm nhom trông như một cái bóng; nó đang đi về phía những hành khách, và nó cố cướp va li của họ, nhưng công việc có vẻ như không xuôi chèo mát mái. Radicz nhún vai.

"Nó không biết xoay xở. Nó tên là Baki, em không biết cái tên đó có nghĩa gì, nhưng cứ nghe nó nói tên nó ra là mấy đứa da đen khác đều lấy đó làm trò đùa. Nó không bao giờ mang về cho ông chủ nhiều tiền cả."

Lalla nhìn nó kinh ngạc.

"Đúng rồi, chị không hiểu đâu, ông chủ cũng là người du cư như em, ông ta tên là Lino, và nơi cả bọn ở, nơi tụi em vẫn gọi là khách sạn ấy, là một căn nhà lớn có đầy con nít, cả bọn đều làm việc cho Lino."

Nó biết tên tất cả những kẻ ăn mày trong thành phố. Nó biết hiện họ ở đâu, làm việc với ai, ngay cả những kẻ đúng hơn là dân vô gia cư và chỉ sống một mình. Có những đứa trẻ làm việc theo kiểu gia đình với các anh các chị chúng, và cũng hay ăn cắp vặt trong các cửa hàng lớn và siêu thị. Những đứa nhỏ nhất thì lo rình rập, hoặc đánh lạc hướng các nhà buôn, thỉnh thoảng chúng được dùng làm trạm. Nhất là có những người đàn bà, những người đàn bà du cư với áo dài thậm thượt sặc sỡ, với khuôn mặt che mạng đen, và người ta chỉ thấy được đôi mắt sáng rực, đen nhánh của họ trông như mắt loài chim. Rồi cũng có những ông già bà lão, những kẻ khốn khổ, những kẻ đói khát luôn bấu vào áo vest, vào váy của bọn tư sản và không chịu buông chúng ra, trong lúc miệng thì thào những câu thần chú, tới khi nào được cho một đồng tiền nhỏ mới thôi.

Lalla nghe tim mình thắt lại khi trông thấy họ, hoặc khi gặp một thiếu phụ xấu xí địu đứa con nhỏ trước ngực, đang ăn xin nơi góc đại lộ. Cô không biết thế nào là sợ, bởi ở nơi xa kia, ở chỗ của Hartani, chỉ có rắn và bọ cạp, cùng lắm thì có những bóng ma chập chờn trong bóng tối; nhưng nơi đây người ta sợ khoảng trống, sự tuyệt vọng, cái đói, nỗi sợ không tên như nảy sinh từ cánh cửa con hé mở trên những tầng hầm tởm lợm, hôi hám, như xông lên từ những dòng chảy tối tăm, len vào những gian phòng giá lạnh như nấm mồ, hoặc lướt đi như một ngọn gió độc dọc theo các đại lộ thênh thang kia, nơi thiên hạ bước đi không ngừng, xô đẩy nhau không nghỉ, và cứ như vậy suốt ngày, suốt đêm, suốt tháng, suốt năm, trong tiếng động không mệt mỏi của những đôi giày đế kếp, và khuấy động bầu không khí nặng nề với tiếng nói, tiếng động cơ, tiếng càu nhàu, tiếng hổn hển.

Có lần, Lalla nghe đầu óc mình quay mòng mòng đến nỗi cô phải ngồi xuống ngay tức khắc, và mắt cô dáo dác tìm kiếm một điểm tựa. Khuôn mặt màu kim loại của cô trở nên xám ngắt, mắt cô mờ đi, cô từ tù ngã xuống, cô như rơi vào đáy một cái giếng sâu, không hy vọng bám víu vào đâu.

"Chuyện gì vậy cô? Cô đã khá hơn chưa? Cô đỡ chưa?..."

Giọng nói thét lên đâu đây, rất xa với tai cô, cô cảm thấy mùi tỏi trong hơi thở trước khi mắt cô nhìn thấy trở lại. Cô quỵ xuống sát một bức tường. Một người đàn ông nắm tay cô và cúi xuống về phía cô.

"... Đỡ rồi, đỡ rồi..."

Cô đã nói được, rất chậm, hay thật ra cô chỉ nghĩ về những từ đó?

Người đàn ông giúp cô bước đi, dìu cô tới thềm một tiệm cà phê. Đám người hiếu kỳ đã giãn ra, nhưng Lalla vẫn còn nghe thấy giọng một người đàn bà nói rõ mồn một:

"Cô ấy mang bầu, chỉ có vậy thôi."

Người đàn ông dìu cô ngồi vào một cái bàn. Ông ta luôn nghiêng người về phía cô. Ông ta nhỏ và mập, bị rỗ mặt, để râu mép và gần như không có tóc.

"Cô uống cái gì đi, nó sẽ giúp cô lấy lại sức."

"Tôi đói", Lalla nói. Cô dửng dưng với mọi sự, có thể cô nghĩ mình sắp chết.

"Tôi đói." Cô chậm rãi nhắc lại điều đó.

Người đàn ông hốt hoảng và nói lắp bắp. Ông ta đứng dậy, chạy về phía quầy hàng, và trở lại ngay sau đó với một miếng bánh mì kẹp thịt và một rổ bánh xốp. Lalla không nghe ông ta nói gì; cô ăn thật nhanh, trước tiên là miếng bánh mì kẹp thịt rồi làm sạch luôn mớ bánh xốp. Người đàn ông nhìn cô ăn, khuôn mặt mập bự của ông ta còn dao động bởi cơn xúc động vừa qua. Ông ta nói một hơi, đoạn ngừng lại, vì sợ làm cho Lalla mệt.

"Khi thấy cô ngã trước mặt tôi lúc nãy, tôi có cảm giác thế nào ấy! Có phải đây lần đầu tiên điều đó xảy ra với cô không? Tôi muốn nói, đó là điều kinh khủng đối với mọi người, ở đó, trên đại lộ, những người phía sau cô đã suýt giẫm lên cô, thế mà họ cũng không dừng bước. Tôi tên là Paul, Paul Estève, còn cô? Cô nói tiếng Pháp chứ? Cô không phải người ở đây, đúng không nào? Cô ăn no chưa? Cô có muốn tôi đi tìm cho cô một miếng bánh mì kẹp thịt nữa không?"

Hơi thở của ông ta nồng nặc mùi tỏi, mùi thuốc lá và mùi rượu, nhưng Lalla hài lòng thấy ông ta ở đó, cô thấy ông ta tử tế và mắt cô sáng lên một chút. Ông ta nhận ra điều ấy, và ông ta lại bắt đầu nói, nói tới nói lui, hết những câu hỏi lại tới những câu trả lời.

"Cô, cô không thấy đói nữa chứ? Cô uống chút nhé? Rượu cô nhắc chăng? Không, một cái gì ngọt ngọt thì tốt hơn, khi người ta không được khỏe, một Coca nhé? Hay một ly nước trái cây? Tôi không làm phiền cô đấy chứ? Cô biết không, với tôi, đây là lần đầu tiên tôi trông thấy một người ngất đi trước mặt mình, như vậy đó, dưới đất, và điều này khiến tôi bị sốc, thật sự. Tôi đi làm - tôi là nhân viên bưu điện, thế đây, tôi không quen - cuối cùng tôi muốn nói rằng có thể cô phải tới gặp bác sĩ, cô có muốn tôi đi gọi điện thoại không?"

Ông ta đã đứng dậy, nhưng Lalla lắc đầu, và ông ta lại ngồi xuống. Sau đó, cô uống một chút bạc hà nóng, và cơn mệt tan biến. Khuôn mặt cô lại trở lại màu đồng, mắt cô lại lấp lánh sáng. Cô đứng dậy, và người đàn ông đi theo cô ra đến phố.

"Cô, cô có chắc là bây giờ cô đã khỏe không? Cô đi được chứ?"

"Dạ được, dạ được, cám ơn ạ." Lalla nói

Trước khi đi, Paul Estève ghi tên và địa chỉ của mình trên một mẩu giấy

"Nếu cô có cần gì..."

Ông ta siết chặt bàn tay Lalla. Ông ta chỉ cao hơn Lalla chút xíu. Đôi mắt màu xanh của ông ta còn nhòa đi vì xúc động.

"Tạm biệt", Lalla nói. Và cô cố đi thật nhanh, không quay đầu lại.

Có rất nhiều chó, gần như khắp nơi. Nhưng chúng không giống những kẻ ăn mày, chúng thích sống ở khu Panier hơn, giữa quảng trường Lenche và đường Refuge. Lalla nhìn chúng mỗi lần cô đi qua, cô dè chừng chúng. Chúng ốm nhom, lông xù, nhưng chúng không giống loài chó hoang dã xưa kia ở Cư xá vốn hay bắt trộm gà và cừu; những con này lớn hơn và khỏe hơn, và có vẻ gì đó nguy hiểm và tuyệt vọng nơi chúng. Chúng tới những đống rác để tìm thức ăn, chúng nhai những khúc xương cũ, những cái đầu cá, những đồ thừa mà mấy người bán thịt ném cho. Có một con chó mà Lalla biết rõ. Ngày nào nó cũng tới cùng một chỗ, dưới những cầu thang, về phía con đường dẫn đến nhà thờ lớn vằn vện. Nó đen sì, và có một khoảng cổ trắng xuống tới ức. Nó tên là Dib hay Hib gì đó, cô không biết rõ lắm, nhưng thật ra tên nó chẳng có gì quan trọng, bởi nó thật sự không có chủ. Lalla đã nghe thấy một cậu bé gọi nó như vậy ngoài đường. thấy Lalla, nó có vẻ hài lòng phần nào, và nó vẫy đuôi, nhưng nó không đến gần cô, và nó cũng không để ai đến gần nó. Lalla chỉ nói vài tiếng với nó, thăm hỏi nó mà vẫn không dừng bước, chỉ là đi ngang qua, và khi có món gì ăn thì cô ném cho nó một miếng.

Ở đây, trong khu Panier này, mọi người đều biết nhau, không nhiều thì ít. Điều đó không giống những nơi khác trong thành phố, nơi tấp nập những dòng người đàn ông và đàn bà xuôi ngược trên các đại lộ, tạo nên những tiếng rền vang của động cơ và bước chân. Ở đây, trong khu Panier này, đường sá ngắn ngủi, chúng quanh co, chúng đổ ra những con đường khác, những con hẻm khác, những lối đi, những cầu thang, tất cả giống như một căn hộ mênh mông với những hành lang và những gian phòng lồng khớp vào nhau. Thế mà, ngoài con chó mực to lớn tên Dib hay Hib gì đó, và vài đứa trẻ mà cô không biết tên, hầu hết mọi người dường như không trông thấy cả cô. Cô lướt đi, không gây tiếng động, cô đi từ con đường này sang con đường khác, cô đi theo bước mặt trời và ánh sáng.

Có phải nơi đây mọi người đều sợ? Sợ cái gì? Thật khó nói, như thể mọi người đều cảm thấy bị canh chừng, và họ phải dè chừng từng lời nói, từng cử chỉ. Nhưng thật ra không ai canh chừng họ cả. Vậy thì có phải điều đó phát xuất từ việc họ nói bằng quá nhiều thứ tiếng khác nhau không? Có nhiều người từ Bắc Phi tới, những người Maghreb, những người Maroc, những người Algeria, những người Tunisia, những người Mauritanie, rồi dân Phi châu, dân Senegal, dân Mali, dân Dahomey và dân Do Thái từ khắp nơi đổ về đây nhưng không bao giờ nói rặt tiếng mẹ đẻ của họ; có những người Bồ Đào Nha, những người Tây Ban Nha, và những người xa lạ không giống những người khác, những người Nam Tư, những người Thổ Nhĩ Kỳ, những người Armenia, những người Litva; Lalla không biết những cái tên đó có nghĩa gì, nhưng ở đây người ta gọi họ như vậy, và Aamma biết rõ tất cả những cái tên này. Đặc biệt có những người du cư, như những người ở nhà bên cạnh, họ đông đến nỗi người ta chẳng bao giờ biết đã trông thấy họ lần nào chưa, hay có phải họ mới vừa tới hay không; họ không thích dân Ả Rập, Tây Ban Nha hay Nam Tư; họ chẳng thích ai cả, bởi họ không quen sống ở một nơi giống như khu Panier, thế là lúc nào họ cũng sẵn sàng đánh nhau, ngay cả những đứa trẻ, ngay cả những người đàn bà vốn luôn ngậm trong miệng một lưỡi dao cạo râu, theo lời Aamma kể lại. Có khi giữa đêm người ta bị đánh thức bởi những ồn ào của một trận đánh nhau trong các con hẻm. Lalla bước xuống các cầu thang, ra đường và cô trông thấy dưới ánh đèn nhợt nhạt, một người đàn ông đang bò trên mặt đất với con dao lút sâu trong ngực. Ngày hôm sau, có một vệt máu dài dính trên đất, nơi đám ruồi bay đến vo ve.

Cũng có khi cảnh sát tới, họ đậu chiếc xe đen sì, to kềnh phía dưới cầu thang và xông vào các căn nhà, nhất là những căn nhà của dân Ả Rập và du cư. Có những viên cảnh sát mặc đồng phục, đội mũ lưỡi trai, nhưng họ không phải là người nguy hiểm nhất, mà là những người khác, những người ăn mặc như mọi người, com lê xám, áo đan chui đầu cổ cuộn tròn. Họ đập cửa thật mạnh bởi người ta phải mở cửa cho họ ngay, và họ xông vào những căn hộ, không nói gì, để xem những ai đang ở đó. Tại căn hộ của Aamma, viên cảnh sát tới ngồi lên chiếc đi văng bằng chất tổng hợp giả da dùng làm giường cho Lalla, và cô nghĩ chắc hắn sắp khoét một cái lỗ và tối nay khi cô đi ngủ, cái dấu vẫn còn ở chỗ viên cảnh sát to bự đã ngồi cho mà xem.

"Họ? Tên? Tên bộ lạc? Giấy phép lưu trú? Giấy phép lao động? Tên người thuê mướn? số bảo hiểm xã hội? Hợp đồng thuê nhà, biên lai tiền thuê nhà?"

Hắn không thèm nhìn vào các giấy tờ mà Aamma lần lượt đưa cho hắn. Hắn ngồi trên đi văng, hắn hút thuốc Gauloise, với dáng vẻ như buồn phiền lắm. Hắn cũng đưa mắt nhìn Lalla đang đứng nghiêm trước cửa phòng Aamma. Hắn nói với Aamma:

"Con gái bà đó à?"

"Dạ không phải, đó là cháu tôi," Aamma nói. Hắn lấy tất cả các thứ giấy tờ và xem xét chúng.

"Cha mẹ cô ấy đâu?"

"Họ chết hết rồi."

"À", viên cảnh sát nói. Hắn nhìn vào giấy tờ như đang suy nghĩ

"Cô ấy đi làm chứ?"

"Dạ không, chưa, thưa ông", Aamma nói; chị thường nói "Thưa ông" khi nào chị sợ

"Nhưng cô ấy sẽ đi làm ở đây chứ?"

"Dạ thưa ông, nếu cháu tìm được việc. Một cô gái thì khó tìm được việc lắm."

"Cô ấy mười bảy tuổi à?"

"Dạ phải, thưa ông."

"Phải coi chừng đó, ở đây có rất nhiều nguy hiểm đối với một cô gái mười bảy tuổi."

Aamma không nói gì. Viên cảnh sát nghĩ rằng chị không hiểu, nên hắn nhân mạnh thêm. Hắn nói chậm rãi, nhân rõ từng tiếng, và mắt hắn sáng lên như thể điều đó giờ đây còn hệ trọng đối với hắn hơn nữa.

"Bà coi chừng kẻo con gái bà rồi cũng lại ra đường Poids de la Farine đây! Nhiều cô ra đó lắm, những cô gái như cô ấy, bà biết chứ?"

"Dạ biết, thưa ông", Aamma nói. Chị không dám lặp lại rằng Lalla không phải là con gái của chị

Nhưng viên cảnh sát cảm thấy cái nhìn khó chịu của Lalla hướng tới hắn, và điều đó khiến hắn không thực thoải mái. Hắn không nói gì trong mấy phút liền và không khí im lặng trở nên ngột ngạt. Rồi người đàn ông mập bự lại cất giọng oang oang, như nổi khùng, hai mắt đanh lại vì giận dữ

"Phải, tôi biết, phải, người ta nói vậy, và rồi một ngày nào đó con gái bà sẽ ra đứng vỉa hè, một con điếm với giá mười quan mỗi lần tiếp khách, bấy giờ đừng có tới mà khóc lóc và bảo rằng bà không biết, bởi tôi đã báo trước rồi."

Hắn gần như hét lên, tĩnh mạch hai bên thái dương hắn nổi phồng. Aamma vẫn bất động, người cứ đờ ra, còn Lalla thì chẳng sợ gì người đàn ông mập bự kia. Cô nhìn hắn một cách gay gắt, cô bước về phía hắn và cô chỉ nói với hắn:

"Ông hãy đi ngay!"

Viên cảnh sát sửng sốt nhìn cô như thể cô vừa lăng nhục hắn. Hắn sắp mở miệng, hắn sắp đứng dậy, hắn sắp tát cô cũng nên. Nhưng ánh mắt cô gái trẻ Cứng như kim loại, thật khó mà chống đỡ nổi. Thế là viên cảnh sát đứng phắt dậy một cách thô bạo, và trong khoảnh khắc, hắn đã ở bên ngoài, hắn chạy vội xuống cầu thang. Lalla nghe tiếng cánh cửa mở ra đường đóng sầm lại. Hắn đã đi.

Giờ đây Aamma ôm đầu ngồi khóc trên đi văng. Lalla đến bên chị, vòng tay ôm vai chị, hôn lên má chị để an ủi:

"Có lẽ cháu phải rời khỏi nơi này", cô dịu dàng nói, như người ta nói với một đứa trẻ. "Có lẽ cháu đi thì tốt hơn ."

"Không, không", Aamma nói, và chị càng khóc to hơn

Ban đêm, khi tất cả quanh cô đã yên giấc, chỉ còn tiếng gió trên Lớp kẽm của các mái nhà, và nước nhỏ giọt đâu đây, trong một cái lạch, Lalla nằm dài trên đi văng, hai mắt vẫn mở trong cảnh tranh tối tranh sáng. Cô nghĩ tới căn nhà trong Cư xá, ở chốn xa xôi kia, khi gió lạnh ban đêm thổi về. Cô nghĩ mình muốn xô cửa và bước ra ngoài ngay tức khắc, như ngày nào, với xung quanh là đêm sâu thăm thẳm và muôn nghìn vì sao lấp lánh. Cô sẽ cảm nhận thấy mặt đất cứng còng và giá lạnh dưới đôi bàn chân trần. Cô sẽ nghe thấy tiếng răng rắc của cái lạnh, tiếng kêu của loài cú muỗi, tiếng hú hú của chim cú, và tiếng sủa của loài chó hoang dã... Cô nghĩ mình sẽ bước đi một mình trong đêm, tới những ngọn đồi đá, trong tiếng ra rả của côn trùng, hoặc dọc theo con đường mòn của các cồn cát dưới sự dẫn dắt của hơi thở biển cả.

Cô cố hết sức nhìn vào bóng tối, như thể cái nhìn của cô sẽ lần nữa mở toang bầu trời, làm nảy sinh trở lại những khuôn mặt đã chìm khuất, những đường nét của mái nhà bằng tôn và giấy quét hắc ín, những bức vách bằng ván và các tông, những dáng đồi, và tất cả những con người đó, ông lão Naman, những cô gái nơi máy nước, người Soussi, những đứa con trai của Aamma, và nhất là Hartani, trong tư thế bất động giữa sa mạc nóng bỏng, đứng trên một chân, thân thể và mặt mày được phủ kín, không nói năng, cũng không tỏ một dấu hiệu giận dữ hay mệt mỏi nào; bất động trước cô, như thể chú đang chờ đợi cái chết, trong lúc những người của hội Chữ thập Đỏ tới tìm cô để đưa cô đi. Cô cũng muốn gặp ông, người mà cô gọi là El Ser, Bí Mật, người có cái nhìn xa xôi phủ lấy cô, nhập vào cô như ánh sáng mặt trời.

Nhưng liệu họ có thể đến được nơi này, từ bên kia biển, từ bên kia tất cả?

Liệu họ có tìm được đường đi giữa tất cả những con đường kia, có tìm được cánh cửa giữa tất cả những cánh cửa kia? Bóng tôi vẫn dày đặc, khoảng trống thì mênh mông, quá mênh mông, trong gian phòng, và tất cả như quay mòng mòng và tạo thành một cái hố sâu trước thân thể Lalla, và cơn choáng váng như ập xuống cô, cuốn cô về phía trước. Cô thu hết sức mình bám chặt vào đi văng, cô kháng cự, thân thể cô căng ra như sắp vỡ tan. Cô muốn kêu lên, hét lên, để phá vỡ không khí im lặng, thoát khỏi bóng đêm đang đè nặng lên cô. Nhưng cổ họng cô bị nghẽn không phát ra được một âm thanh nào, và cô phải cố gắng đến đau đớn mới thở được, như tiếng rít của một luồng hơi. Trong nhiều phút, có thể nhiều giờ, cô không ngừng chống trả trong khi toàn thân cô cứng đờ như bị chuột rút. Cuối cùng khi tia sáng đầu tiên của buổi bình minh xuất hiện trong sân tòa nhà, Lalla cảm thấy như cơn lốc yếu đi và xa dần. Cơ thể cô lại ngã xuống đi văng, mềm nhũn và rã rời. Cô nghĩ tới đứa con cô đang mang trong mình, và lần đầu tiên cô cảm thấy xao xuyến vì đã làm đau ai đó đang phụ thuộc vào cô. Cô đặt hai bàn tay ở hai bên bụng cho tới khi hơi nóng lắng xuống thật sâu. Cô khóc hồi lâu không thành tiếng, với từng cơn nức nở lặng lẽ như người ta thở vậy.

Họ là tù nhân của khu Panier. Có thể họ thật sự không biết điều ấy. Có thể họ tin rằng một ngày nào đó họ sẽ bỏ đi, đi nơi khác, trở về với làng xóm của họ trên những ngọn núi, trong những thung lũng lầy lội, gặp lại những người họ đã bỏ lại, cha mẹ, con cái, bạn bè. Nhưng đó là điều không thể. Những con đường chật chội với những bức tường cũ kỹ, những căn hộ tôi ám, những gian phòng ẩm thấp, lạnh lẽo với bầu không khí xám ngắt đè nặng lên ngực, những xưởng may ngột ngạt với những cô gái ngồi trước máy, tất bật may quần may áo, những phòng bệnh viện, những công trường, những con đường ầm ĩ tiếng búa hơi, tất cả giữ chân họ lại, quân chặt lấy họ, biến họ thành tù nhân, và họ không thể thoát ra được.

Bây giờ thì Lalla đã tìm được việc làm. Cô làm lao công tại khách sạn Sainte-Blanche, cửa ngõ vào thành phố cổ, về phía Bắc, cách đại lộ nơi cô gặp Radicz lần đầu không xa lắm. Ngày nào cô cũng đi sớm, trước khi các cửa hàng mở cửa. Cô co ro trong cái áo khoác màu hạt dẻ vì lạnh, cô băng qua khắp thành phố, cô đi dọc các ngõ hẻm tối tăm, cô bước lên các cầu thang lênh láng nước dơ. Bên ngoài, người chưa đông, chỉ có vài con chó lông xù đang tìm những thứ cặn bã trong mấy đống rác. Lalla giữ trong túi một miếng bánh mì cũ, bởi ở khách sạn người ta không cho cô ăn, thỉnh thoảng cô vẫn chia sẻ nó với con chó mực mà người ta hay gọi là Dib hay Hib gì đó. Ngay khi cô tới, ông chủ khách sạn đưa cho cô một cái xô và một cái bàn chải có cán để cô chùi rửa các cầu thang, dù chúng bẩn thỉu đến nỗi Lalla nghĩ chỉ phí công vô ích. Ông chủ là một người không già lắm, nhưng lại có khuôn mặt vàng vọt và đôi mắt sưng húp như thiếu ngủ. Khách sạn Sainte-Blanche là một ngôi nhà ba tầng đã đổ nát hết một nửa, tầng trệt thuộc cửa hàng dịch vụ mai táng. Lần đầu tiên bước vào đó, Lalla thấy khiếp vía, và thiếu chút nữa là cô bỏ đi ngay tức khắc, nó bẩn thỉu, lạnh lẽo và hôi hám làm sao! Nhưng giờ thì cô đã quen. Nó cũng như căn hộ của Aamma, hoặc như khu Panier thôi, đây chỉ là vấn đề thói quen. Chỉ cần ngậm miệng, và thở từ từ, từng chút một, để khỏi đưa vào bên trong cơ thể mình cái mùi của sự nghèo khổ, bệnh tật và chết chóc đang ngự trị nơi này, trong các cầu thang, các hành lang cùng xó xỉnh đầy nhện và gián kia.

Ông chủ khách sạn là một người Hy Lạp hay Thổ Nhĩ Kỳ gì đó, Lalla không rõ lắm. Khi đưa cho cô cái xô và bàn chải xong, ông trở về nằm trong phòng mình, ở tầng một, nơi cánh cửa được lắp kính để ông có thể từ giường mình canh chừng kẻ vào người ra. Khách tới đây đều thuộc hạng xoàng xĩnh, nghèo khổ, và chỉ có đàn ông. Đó là những người Bắc Phi đang làm việc tại các công trường, những người da đen đến từ quần đảo Antilles, và cả những người Tây Ban Nha, họ không có gia đình, không có nhà cửa, họ trọ ở đây để chờ tìm được cái gì đó sáng sủa hơn. Nhưng rồi họ quen đi và họ cứ ở lì như vậy, thường khi họ trở về nước mà chẳng được gì, bởi nhà ở rất đắt đỏ và không ai cần tới họ trong thành phố. Thế là họ cứ ở trong khách sạn Sainte-Blanche, hai hoặc ba người chung một phòng, không quen biết gì nhau. Mỗi buổi sáng, khi đi làm, họ đập cửa kính phòng ông chủ, và họ trả trước tiền phòng đêm đó.

Chà xong các bậc cầu thang đầy ghét và lớp thảm nhựa lót dọc hành lang, Lalla lo cọ rửa các phòng vệ sinh và phòng tắm độc nhất có vòi hoa sen, nơi lớp ghét bẩn dày cộm đến nỗi những sợi lông bàn chải có cứng lắm cũng không tẩy hết đi được. Tiếp theo, cô dọn dẹp các phòng; cô đổ tàn thuốc và quét sạch các mảnh vụn và bụi bặm. Ông chủ đưa cho cô chiếc chìa khóa vạn năng và cô đi từ phòng này sang phòng khác. Không còn ai trong khách sạn. Các phòng nhanh chóng được dọn dẹp sạch sẽ, bởi những người đàn ông trọ ở đây quá nghèo, và thực tế họ chẳng có gì cho riêng họ. vỏn vẹn chỉ có những chiếc va li bằng các tông, những túi xách bằng nhựa đựng quần áo dơ, một cục xà phòng gói trong giấy báo. Thỉnh thoảng có những tấm ảnh trong một cái hộp nhỏ trên bàn; Lalla nhìn một hồi vào những khuôn mặt mơ hồ trên lớp giấy lạnh cứng, những khuôn mặt dịu dàng của trẻ con, của phụ nữ, đã mờ nhạt, như qua một lớp sương mù. Thỉnh thoảng cũng có cả những lá thư trong các phong bì lớn; hoặc những chiếc chìa khóa, những ví tiền rỗng, những vật kỷ niệm mua ở các cửa hàng bách hóa, gần hải cảng cũ, những món đồ chơi bằng nhựa dành cho những đứa trẻ mà người ta thấy trong những tấm ảnh mờ nhạt. Lalla nhìn tất cả những thứ đó hồi lâu, cô cầm những món đồ ấy trong đôi bàn tay ẩm ướt của mình, cô nhìn những báu vật mong manh đó như thể cô đang mơ mộng, như thể cô sắp bước được vào vũ trụ của những tấm ảnh hỗn độn kia, gặp lại âm thanh của những giọng nói, những tiếng cười, thoáng thấy ánh sáng trong những nụ cười. Rồi tất cả tan biến tức thì, và cô tiếp tục quét dọn các gian phòng, hốt sạch những mảnh vụn bỏ lại từ những bữa ăn hối hả của đám đàn ông, trả lại tính nặc danh buồn bã và xám xịt mà những món đồ và những tấm ảnh đã khuấy động trong khoảnh khắc. Thỉnh thoảng trên một chiếc giường rộng mở, Lalla thấy một tờ tạp chí đầy những hình ảnh tục tĩu, những người đàn bà khỏa thân với cặp đùi dang rộng, với đôi vú căng bự như những trái cam khổng lồ, những người đàn bà với môi son đỏ chói, ánh mắt nặng nề, in đậm vết xanh và lục, tóc màu vàng hoặc màu hung. Những trang tạp chí đều bị nhàu và nhòe, những bức ảnh đều dơ và sờn như thể chúng đã từng lăn lóc ngoài đường dưới chân người qua lại. Lalla cũng nhìn tờ tạp chí hồi lâu, và tim cô bắt đầu đập mạnh hơn trong lo âu và khó ở; rồi cô đặt tờ báo trở lại trên chiếc giường đã dọn xong, sau khi vuốt thẳng các trang và sửa lại trang bìa cho ngay ngắn, như thể đó cũng là một kỷ niệm quý báu.

Suốt thời gian làm việc trong các cầu thang và các gian phòng, Lalla không trông thấy người nào. Cô không biết mặt mày những người đàn ông đang sống trong khách sạn, và chính họ, khi lên đường đi làm vào buổi sáng, luôn hối hả bước qua trước mặt cô mà không trông thấy cô. Vả lại Lalla ăn mặc theo cách để khỏi ai trông thấy mình. Dưới chiếc áo khoác màu hạt dẻ, cô mặc cái áo dài xám của Aamma, dài gần tới mắt cá. Cô quấn một cái khăn lớn quanh đầu, và chân cô mang dép cao su đen. Trong những hành lang tối tăm của khách sạn, trên tấm thảm nhựa màu cặn rượu, và trước những cánh cửa đầy vết bẩn, cô chỉ là cái bóng loáng thoáng, xám xám và đen đen, giống như một đống giẻ rách. nơi đây, những người độc nhất biết cô là ông chủ khách sạn, và người gác đêm ở lại cho đến sáng, đó là một người Algeria cao và rất gầy, với khuôn mặt khắc khổ và đôi mắt đẹp màu xanh lục giống như đôi mắt của Naman ông lão đánh cá. Ông luôn chào hỏi Lalla, bằng tiếng Pháp, và nói với cô vài câu tử tế; vì ông luôn nói chuyện một cách trịnh trọng và bằng giọng nghiêm trang, nên Lalla cũng mỉm cười đáp lại ông. Có lẽ ông là người duy nhất tại đây nhận ra cô là một thiếu nữ, người duy nhất nhìn ra khuôn mặt màu đồng xinh đẹp và đôi mắt đầy ánh sáng của cô dưới bóng mớ quần áo giẻ lau. Với những người khác thì cô như không có trên đời này.

Khi cô xong việc ở khách sạn Sainte-Blanche, mặt trời hãy còn ở trên cao. Thế là Lalla bước xuống đại lộ, đi về phía biển. Bấy giờ, cô không nghĩ tới điều gì khác, như thể cô đã quên tất cả. Trên vỉa hè đại lộ, đám đông vẫn chen chúc nhau, vẫn đổ xô về đâu chẳng ai biết. Có những người đàn ông mang kính lấp lánh, hối hả sải từng bước dài, có những người nghèo khổ mặc đồ sờn rách, đi về hướng ngược lại, mắt láo liên dò xét như mắt chồn. Có những cô gái trẻ mặc quần áo dán sát vào người, vừa bước đi vừa nện gót rền vang: kra-kab, kra-kab, kra-kab. Những chiếc ô tô, mô tô, xe đạp, xe tải, xe ca xả hết tốc lực chạy về phía biển, hay về phía trên thành phố, chở đầy đàn ông và đàn bà với những khuôn mặt giống y như nhau. Lalla bước đi trên vỉa hè, cô trông thấy tất cả những điều đó, những hoạt động, những hình dạng, những sắc màu rực rỡ của ánh sáng, và tất cả nhập vào cô, tạo thành một cơn lốc. Cô thấy đói, thân thể cô mệt nhoài vì công việc trong khách sạn, tuy nhiên cô vẫn muốn bước đi, để thấy được nhiều ánh sáng hơn nữa, để xua đuổi tất cả bóng tối vẫn nằm ở nơi sâu thẳm trong cô. Gió lạnh mùa đông giật từng cơn dọc theo đại lộ, thổi tung bụi cát và những mảnh giấy báo cũ. Lalla nhắm nghiền hai mắt, cô bước tới nghiêng nghiêng về phía trước, như ngày nào trong sa mạc, về phía suối nguồn ánh sáng, ngoài kia, ở cuối đại lộ.

Khi tới hải cảng, cô cảm thấy cái gì đó ngây ngất trong mình, và cô lảo đảo bên mép vỉa hè. Nơi đây gió mặc tình cuộn xoáy, nó xô mặt nước lăn tăn của hải cảng tới trước, nó vỗ đôm đốp vào mớ buồm chão của những con tàu. Ánh sáng còn đến từ xa hơn nữa, từ phía bên kia chân trời, ở tận phía Nam, và Lalla đi dọc theo các bến tàu, hướng ra biển. Tiếng người và tiếng động cơ quay cuồng quanh cô, nhưng cô không để ý. Khi thì cô chạy, khi thì cô bước, cô đi về phía nhà thờ, rồi đi xa hơn, xa hơn nữa, cô bước vào vùng bỏ trống của các bến tàu, nơi gió từng hồi thổi tung những lớp bụi xi măng.

Nơi đây thoắt cái đã im phăng phắc, như thể cô đã thật sự bước vào sa mạc. Trước mặt cô là khoảng trắng của bến tàu nơi ánh sáng mặt trời chói lọi. Lalla bước chầm chậm dọc theo bóng các con tàu lớn chở hàng, dưới những cần trục bằng kim loại, giữa những hàng công ten nơ màu đỏ. Nơi đây không có bóng người, không có động cơ ô tô, chỉ có đá trắng và xi măng cùng những vũng tàu đậu đen ngòm. Thế là cô tìm một chỗ ngồi giữa hai bên là hàng hóa chất từng đông, trùm vải bạt màu xanh lục, và cô ngồi nơi kín gió để vừa ăn bánh mì và pho mát vừa nhìn nước dưới cảng. Thỉnh thoảng những con chim biển lớn bay qua, cất lên những tiếng kêu the thé, và Lalla nghĩ tới nơi chôn của mình giữa những cồn cát, tới con chim trắng vốn là một chàng hoàng tử của biển cả. Cô chia sẻ bánh mì với lũ hải âu, nhưng cũng có vài con bồ câu bay tới. Nơi đây tất cả đều bình lặng, chẳng hề có ai tới tìm cô bao giờ. Thảng hoặc một người câu cá bước dọc bến tàu, tay cầm cần câu, tìm một nơi thuận lợi đế kiếm cá; nhưng chỉ thoáng nhìn thấy Lalla anh ta đã đi thẳng về phía cuối cảng. Hoặc một cậu bé tay thọc túi quần, vừa đi vừa nghịch bằng cách đá tung một vỏ đồ hộp gỉ sét.

Lalla cảm thấy mặt trời thâm nhập cô, dần dần đong đầy cô, xua đuổi tất cả những gì tối ám và buồn phiền nơi sâu thẳm đáy lòng cô. Cô không còn nghĩ tới căn nhà của Aamma, tới những dòng nước đen ngòm rỉ ra từ mấy chậu nước giặt. Cô không còn nghĩ tới khách sạn Sainte- Blanche, không còn nghĩ tới cả những con đường lớn nhỏ kia với những con người đang bước đi và đang rì rầm không dứt. Cô trở thành cái gì đó giống như một tảng đá phủ đầy rêu, im lìm, không ý tưởng, đang giãn nở dưới sức nóng của mặt trời. Cũng có lúc cô ngủ quên, người tựa vào đống hàng phủ lớp bạt xanh lục, hai gối sát dưới cằm, và cô mơ thấy mình ở trên một con tàu đang lướt trên mặt biển phẳng lặng đi tới tận cùng thế giới.

Những con tàu lớn chở hàng từ từ lướt đi trên vũng tàu đậu đen ngòm. Chúng tiến về phía cửa hải cảng, chúng đi tìm biển. Lalla thích thú chạy theo chúng dọc các bến tàu, chạy theo quãng đường xa nhất có thể. Cô không biết đọc tên chúng, nhưng cô nhìn những lá cờ của chúng, những vết gỉ trên vỏ tàu, những cột buồm to xếp lại như ăng ten và những cái ống khói có vẽ hình ngôi sao, chữ thập, hình vuông, mặt trời. Trước những con tàu chở hàng, con tàu dẫn đường vừa lướt tới vừa núng nính như một con sâu, và khi chúng ra tới biển, chúng hụ còi, đúng một hay hai lần, để nói lời từ biệt.

Sóng nước hải cảng cũng khá đẹp, và Lalla thường ngồi tựa lưng vào một cây cột neo tàu, thòng hai chân trên mặt nước. Cô nhìn những vét dầu lấp lánh họp rồi tan, cùng tất cả những thứ kỳ dị bồng bềnh trên mặt nước, vỏ chai bia, vỏ cam, túi nhựa, khúc cây và những mẩu dây, và loài rêu màu nâu kia không biết từ đâu tới, cứ tủa ra như nước bọt dọc theo bến tàu. Khi một con tàu chạy qua, có tiếng vỗ bập bềnh của lằn nước rẽ vừa tiến tới vừa rẽ ra, va vào bến tàu. Thi thoảng gió thổi rất mạnh, tạo thành những vết nhăn, những cơn rung động trên các vũng tàu đậu, và khuấy động ánh phản chiếu của các con tàu chở hàng.

Có những ngày mùa đông nắng đẹp, Radicz ăn mày tới gặp Lalla. Nó đi dọc những bến tàu, nhưng Lalla nhận ra nó từ xa, cô bước khỏi chỗ nấp của mình giữa những tấm bạt và cô đưa mấy ngón tay lên miệng huýt sáo, như ngày nào các mục đồng trong vùng của Hartani vẫn làm. Thằng bé chạy tới, nó ngồi bên cô trên bờ bến tàu, và họ ngồi như vậy hồi lâu không nói gì mà chỉ nhìn xuống mặt nước cảng.

Rồi thằng bé chi cho Lalla thấy điều cô chưa từng để ý tới: trên mặt nước đen, có những điểm chợt bùng lên một cách lặng lẽ, tạo thành những luồng sóng. Thoạt tiên Lalla nhìn vào không khí bởi cô tưởng đó là những giọt nước mưa. Nhưng bầu trời vẫn xanh. Cô chợt hiểu: đó là mớ bọt từ dưới đáy, chúng vỡ ra trên mặt nước. Họ cùng nhau thích thú nhìn đám bọt vỡ tan.

"Xem kìa! Xem kìa!... Nữa kìa, lại nữa kìa!"

"Kìa! Nhìn xem!"

"Và kia nữa!"

Đám bọt kia từ đâu tới? Radicz nói đó là những con cá đang thở, nhưng Lalla nghĩ đó là cây thì đúng hơn, và cô nghĩ tới đám cỏ bí ẩn vẫn động đậy thật khẽ dưới đáy cảng.

Sau đó, Radicz móc ra hộp diêm. Nó bảo là để hút thuốc nhưng thật ra, nó không thích hút thuốc, điều nó thích là đốt lên những que diêm. Khi có chút tiền, Radicz ghé điểm bán thuốc lá, và nó mua một hộp diêm to tướng trên đó người ta thấy một cô gái du cư đang múa. Nó đến ngồi trong một góc yên ổn, và nó quẹt những que diêm, hết que này tới que khác. Nó làm việc đó thật nhanh, chỉ vì thích trông thấy đầu que diêm đỏ vừa sáng bừng vừa tạo nên tiếng lửa xẹt, và tiếp theo là ngọn lửa lộng lẫy màu cam nhảy múa ở đầu que gỗ, ẩn khuất trong lòng hai bàn tay nó.

Trên cảng có nhiều gió, và Lalla phải dùng hai vạt áo khoác của mình làm thành một thứ như cái lều, và cô cảm thấy hơi nóng hăng hắc phốt pho xông vào mũi cô. Cứ mỗi lần Radicz quẹt một que diêm là cả hai cùng phá lên cười ầm ĩ, và họ thử luân phiên cầm que diêm. Radicz chỉ cho Lalla biết cách làm que diêm cháy hết bằng cách liếm các đầu ngón tay và cầm nơi đầu que diêm đã cháy thành than. Lalla không khỏi xuýt xoa khi cầm vào đầu than còn đỏ, nó làm bỏng ngón cái và ngón trỏ của cô, nhưng đó không phải cảm giác nóng bỏng khó chịu, và que diêm cháy thành than xoắn lại.

Sau đó, họ hút thuốc, một điếu cho cả hai, lưng họ tựa vào tấm bạt xanh, và ánh mắt họ hướng về chốn mông lung, về phía mặt nước tối tăm của hải cảng và bầu trời màu bụi xi măng.

"Chị bao nhiêu tuổi?" Radicz hỏi

"Mười bảy, nhưng chị sắp mười tám tuổi rồi", Lalla nói

"Em thì sẽ mười bốn tuổi trong tháng tới", Radicz nói

Nó nhíu mày suy nghĩ

"Chị đã... ngủ với một người đàn ông bao giờ chưa?"

Lalla kinh ngạc vì câu hỏi

"Chưa, nhưng mà rồi, tại sao vậy?"

Radicz tỏ ra quan tâm đến nỗi quên cả việc đưa điếu thuốc cho Lalla, nó rít liên tục, không nuốt khói.

"Em thì chưa làm chuyện đó", nó nói

"Chưa làm chuyện gì?"

"Em chưa ngủ với một người đàn bà."

"Em còn nhỏ quá."

"Không đúng!" Radicz nói. Nó bực dọc và nói hơi lắp. "Không đúng! Em, các bạn em, tụi nó thằng nào cũng đã làm chuyện đó, có cả những đứa có hẳn một người đàn bà riêng cho mình nữa, và tụi nó chế giễu em, tụi nó bảo em là dân pê đê bởi vì em không có đàn bà."

Nó vừa tiếp tục suy nghĩ vừa hút thuốc.

"Nhưng em cóc quan tâm đến những gì tụi nó nói. Em thì em cho rằng ngủ với một người đàn bà thì cũng không hay ho gì, mấy trò đó chỉ để tỏ ra láu cá đùa cợt mà thôi. Cũng như thuốc lá vậy. Chị biết đấy, em không hề hút thuốc trước mặt những đứa khác, ở đó, ở khách sạn ấy mà, và tụi nó tưởng em không bao giờ hút thuốc, điều này cũng khiến tụi nó chế giễu nữa. Nhưng đó là bởi tụi nó không biết còn em thì em cóc cần, em thích tụi nó không biết cái cóc khô gì thì hơn."

Bây giờ nó lại đưa điếu thuốc cho Lalla. Mẩu thuốc lá đã cháy gần hết. Lalla rít đúng một hơi rồi dập nó dưới đất, trên bến tàu.

"Em có biết là chị sắp có em bé không?"

Cô không biết tại sao mình lại nói điều đó với Radicz. Nó nhìn cô một hồi không đáp. Có cái gì đó u ám trong đôi mắt nó, nhưng rồi đôi mắt ấy lại sáng bừng lên ngay.

"Được lắm", nó nói một cách nghiêm túc. "Được lắm, em rất hài lòng."

Nó hài lòng đến nỗi không thể ngồi lại được nữa. Nó đứng dậy, bước đi trước mặt nước, rồi quay về phía Lalla.

"Chị sẽ tới tìm em ở đó, nơi em đang ở chứ?"

"Nếu em muốn", Lalla nói

"Chị biết đó, xa lắm, phải đi xe khách, rồi đi bộ một hồi lâu, về phía các kho chứa. Khi nào chị muốn thì tụi mình cùng đi, bởi nếu không chị sẽ lạc mất."

Nó chạy biến đi. Giờ đây mặt trời đã lặn. Mặt trời không còn cách xa đường nét của những tòa nhà cao nhất mà người ta trông thấy ở cuối những bến tàu nữa. Những con tàu chở hàng vẫn nằm bất động giống như những vách đá hoen gỉ, và đám chim hải âu chầm chậm bay qua trước chúng, múa may trên những cột buồm của chúng.

Có những hôm Lalla nghe thấy âm thanh của nỗi sợ hãi. Cô không biết rõ đó là cái gì, chúng giống như tiếng vỗ mạnh đập trên các tấm tôn, và cũng giống như tiếng rì rầm trầm đục không tới qua ngõ lỗ tai mà qua gan bàn chân, và nó vang âm trong cơ thể cô. Có thể đó là nỗi cô đơn, và cả sự thèm khát nữa, thèm khát cái dịu dàng, ánh sáng, những khúc hát, thèm khát tất cả.

Ngay khi bước qua cửa khách sạn Sainte-Blanche sau khi đã xong công việc, Lalla cảm thấy ánh sáng chói chang của bầu trời đổ xuống người cô, khiến cô chệch choạng. Cô cô hết sức thụt đầu trong cổ chiếc áo khoác màu hạt dẻ, cô dùng cái khăn quàng màu xám của Aamma phủ kín mái tóc tới tận đường chân mày, nhưng sắc trắng chói lọi của bầu trời vẫn chạm tới cô, tới cả sự trống trải của những con đường. Điều đó giống như một cơn buồn nôn dâng lên từ giữa bụng cô, tới cổ họng cô, trút đầy vị đắng chát vào miệng cô. Lalla vội vàng ngồi xuống, bất luận ở đâu, không cần biết, không bận tâm tới mọi người đang nhìn mình, bởi cô sợ lại ngất đi một lần nữa. Cô dùng hết sức mình chống chọi, cô cố làm cho nhịp tim, cùng những xáo trộn trong ruột gan dịu lại. Cô đặt hai bàn tay lên bụng, để hơi nóng dịu dàng của gan bàn tay xuyên thâu lớp áo, len vào cô, tới tận đứa con. Xưa kia cũng bằng cách đó cô đã tự chăm sóc mình, khi những cơn đau khủng khiếp tới, ở phần dưới bụng, như một con vật đang gặm nhấm phần trên trong cô. Rồi cô khẽ đu đưa, từ trước ra sau, cứ như vậy, trong khi vẫn ngồi trên rìa vỉa hè, bên những chiếc ô tô đậu lại.

Thiên hạ vẫn đi qua trước mặt cô không dừng lại. Họ bước chậm lại một chút như thể sắp đi về phía cô, nhưng khi cô ngẩng đầu lên, đôi mắt có trông khốn khổ đến nỗi họ phải cất bước đi nhanh, bởi điều đó khiến họ sợ.

Một chập sau, cơn đau giảm đi dưới đôi bàn tay của Lalla. Cô có thể thở trở lại một cách thoải mái hơn. Dù gió lạnh, cô vẫn đẫm mồ hôi và chiếc áo dài ướt đẫm dán chặt vào lưng cô. Có thể đó là âm thanh của nỗi sợ hãi, thứ âm thanh người ta không nghe bằng tai mà nghe bằng đôi bàn chân và bằng trọn cơ thể của mình, nó xua đuổi tất cả khỏi các con đường của thành phố.

Lalla đi ngược lên phía thành phố cổ, cô từ từ bước lên các bậc của cầu thang sụt hỏng lênh láng thứ nước dơ dáy xông mùi hăng hắc. Tới phía trên cầu thang, cô rẽ sang trái rồi bước vào đường Bon-Jésus. Trên mấy bức tường cũ kỹ loang lổ, có những ký hiệu viết bằng phấn, những con chữ và những hình vẽ không thể hiểu nổi, đã bị xóa đi một nửa. Dưới đất, có nhiều vết đỏ như máu mà lũ ruồi đang lượn quanh trên đó. Màu đỏ vang âm trong đầu Lalla, tạo thành một tiếng còi, một tiếng huýt khoét nên một cái lỗ, làm trí tưởng cô trống rỗng. Chầm chậm, cô cố bước qua vết thứ nhất, vết thứ hai, vết thứ ba. Có những vật kỳ dị màu trắng lẫn trong những vết đỏ, như sụn, xương vỡ, da, và lần này tiếng còi rền vang trong đầu cô. Cô cố chạy dọc theo con đường dốc, nhưng đá lại ẩm ướt và trơn trượt, nhất là khi cô mang dép cao su. Tới đường Timon, vẫn còn ký hiệu viết bằng phấn trên những bức tường cũ, những từ ngữ, có thể là những cái tên chăng? Rồi một người đàn bà khỏa thân, cặp vú giống như hai con mắt, và Lalla nghĩ tới tờ báo tục tĩu giở ra trên cái giường bừa bộn, trong gian phòng ở khách sạn. Xa hơn là một dương vật khổng lồ vẽ bằng phấn trên một cánh cửa cũ, trông như một chiếc mặt nạ kỳ cục.

Lalla vừa tiếp tục bước vừa thở một cách khó nhọc. Mồ hôi vẫn chảy trên trán cô, dọc sống lưng cô, nhễ nhại ở hai bên thắt lưng và hai nách cô. Giờ này không có một ai trên đường, chỉ có mấy con chó lông xù vừa gặm xương vừa gầm gừ. Những cửa sổ sát nền đất được phủ lưới sắt, lắp chấn song. Cao hơn, những cánh cửa bản lề đã bị lôi đi, những ngôi nhà như bỏ không. Một cái lạnh chết chóc thoát ra từ các cửa tầng hầm, từ các căn hầm, từ các cửa sổ đen ngòm. Nó giống như một hơi thở chết chóc thổi dọc các con đường, lấp đầy các xó xỉnh mục nát ở các chân tường. Đi đâu bây giờ? Lalla lại từ từ bước tới, cô rẽ một lần nữa sang phải, hướng về phía bức tường ngôi nhà cũ kỹ. Lalla vẫn cứ sờ sợ khi trông thấy mấy ô cửa sổ lớn lắp song sắt này, bởi cô nghĩ rằng đó là một nhà tù nơi xưa kia nhiều người đã chết: người ta còn bảo rằng thỉnh thoảng vào ban đêm người ta còn nghe thấy cả tiếng rên xiết của tù nhân sau các song sắt cửa sổ. Bây giờ thì cô đang bước xuống dọc phô Pistoles vẫn luôn vắng ngắt, và đi tắt qua phố Charité để nhìn, qua cửa chính bằng đá xám, nóc vòm kỳ lạ màu hồng mà cô rất thích. Nhiều hôm, cô tới ngồi trên ngưỡng cửa một ngôi nhà, và cô cứ ngồi đó mà nhìn mê mải cái nóc vòm giống như một đám mây, và cô quên tất cả mọi sự, cho tới khi một người đàn bà tới hỏi cô làm gì ở đó rồi đuổi cô đi.

Nhưng hôm nay, cả cái nóc vòm màu hồng đó cũng khiến cô sợ, như thể có một mối đe dọa đằng sau những ô cửa sổ hẹp kia, hoặc như thể đó là một ngôi mộ. Không quay đầu lại, cô cất bước đi nhanh, cô bước xuống phía biển, dọc theo những con đường im ắng. Gió giật từng hồi, nó thổi phần phật vào đám áo khăn, những tấm ga lớn màu trắng mép tháo tơi, quần áo trẻ con, quần áo đàn ông, đồ lót phụ nữ xanh xanh hồng hồng; Lalla không muốn nhìn chúng bởi chúng gợi ra những cái xác vô hình, những tay, chân, ngực, giống như những di hài không đầu. Cô bước dọc theo đường Rodillat, và nơi đây cũng có những cửa sổ thâp phủ lưới sắt, lắp chân song, nơi đàn ông và trẻ con là tù nhân. Từng chập, Lalla nghe thấy những mẩu câu nói, tiếng chén đĩa hoặc tiếng nhà bếp, hoặc điệu nhạc phát ra bằng giọng mũi, và cô nghĩ tới tất cả những ai là tù nhân trong mấy gian phòng tối tăm và lạnh lẽo kia, giữa lũ gián và chuột, tất cả những con người sẽ không còn thấy ánh sáng nửa, không còn được hít thở bầu không khí lộng gió nữa.

Nơi đó, sau cửa sổ với những ô kính rạn nứt và đen đúa kia, có một người đàn bà to béo bị liệt, sống một mình với hai con mèo ốm o, bà luôn nói về khu vườn của bà, về những đóa hồng của bà, về cây cối của bà, về cây chanh cao to của bà luôn luôn cho những trái đẹp nhất trên đời, bà vốn chỉ còn có căn nhà lụp xụp tồi tàn, lạnh lẽo và tối om, cùng với hai con mèo mù. Còn nơi đây là nhà của Ibrahim, một người lính già người Oran, đã chiến đấu chống lại bọn Đức, bọn Thổ Nhĩ Kỳ, bọn Serbia, ở nơi xa kia, tại những địa điểm mà tên của chúng được ông lặp lại không mỏi mệt khi Lalla lên tiếng hỏi ông: Salonique, Vama, Bjala. Nhưng có phải là ông cũng sắp chết, sập bẫy trong căn nhà loang lổ của mình với cầu thang tối tăm và trơn trượt chực làm ông té ngã ở mỗi bậc, và những bức tường đè nặng lên bộ ngực gầy gò của ông như một cái áo khoác ướt đẫm? Còn nơi kia nữa, người đàn bà Tây Ban Nha với sáu con, tất cả cùng ngủ trong một gian phòng có cửa sổ hẹp, hoặc đi lang thang trong khu phố Panier, rách rưới, xanh xao, đói khát. Ở chỗ nọ, trong căn nhà với một vết nứt chạy dài, với những bức tường như đẫm một thứ mồ hôi khó chịu, đôi vợ chồng bệnh tật, vẫn cất tiếng ho dữ dội khiến Lalla có khi phải giật nảy mình trong đêm, như thể cô nghe thấy tiếng họ rõ mồn một qua tất cả các bức tường. Và đôi vợ chồng người nước ngoài, chồng người Ý, vợ người Hy Lạp, người đàn ông chiều nào cũng say, chiều nào cũng giáng mạnh nắm đấm vào đầu vợ, cứ như vậy không cần nổi giận, đơn giản chỉ vì chị vợ vẫn ở đó và nhìn hắn với đôi mắt đẫm lệ trên khuôn mặt phị ra vì mệt nhọc. Lalla thù ghét người đàn ông đó, cô nghiến răng khi nghĩ tới hắn, nhưng cô cũng sợ cơn say lặng lẽ và tuyệt vọng đó, sợ cả sự phục tùng của người đàn bà kia, bởi chính điều đó xuất hiện trong từng viên đá và trong từng dấu vết trên những con đường khốn kiếp của thành phố này, trong từng ký hiệu được viết trên những bức tường của khu phố Panier.

Cái đói, cái sợ, cái nghèo buốt giá hiện diện ở khắp nơi như những tấm áo sờn cũ và ẩm ướt, như những khuôn mặt già cỗi, tàn tạ và đọa đày.

Phố Panier, phố Bouleau, đường tắt Boussenoue, luôn luôn vẫn những bức tường loang lổ ấy, phần trên cao của những tòa nhà phơn phớt thứ ánh sáng lạnh lẽo, phần chân những bức tường với thứ nước xanh nhờn nhợt đọng vũng, nơi rác rến mục rữa. Nơi đây không có lũ ong vò vẽ cũng không có những con ruồi bay thỏa thích trong bầu không khí lung linh bụi. Chỉ có người, chuột và gián, tất cả đang sống trong những cái lỗ không có ánh sáng, không có không khí, không có bầu trời. Lalla rẽ khắp các đường như một con chó mực già lông xù mà không tìm được chỗ của mình. Cô ngồi một hồi trên các bậc cầu thang, gần bức tường phía sau có một loài cây độc nhất trong thành phố, một cây sung già sực nức mùi hương. Cô nghĩ một hồi tới cái cây mà cô thích ở chốn đó, khi ông lão Naman vừa sắp sửa vá mấy cái lưới của ông vừa kể chuyện. Nhưng cô không thể ngồi hoài ở một chỗ, như những con chó già đau yếu. Cô lại đi qua con đường quanh co tối tăm trong khi ánh sáng bầu trời đang dần lụi tàn. Cô lại ngồi một hồi trên chiếc ghế dài ở quảng trường nhỏ, nơi có vườn trẻ. Có những hôm cô rất thích ngồi nơi đó, nhìn các em bé chập chững tập đi, hai chân run run, hai cánh tay dang ra. Nhưng giờ đây chỉ còn có bóng tối, và trên một chiếc ghế dài, một bà lão da đen trong chiếc áo dài sặc sỡ. Lalla đến ngồi bên bà, cô thử gợi chuyện với bà.

"Bà ở đây chứ?"

"Bà từ đâu tới? Bà người nước nào?"

Bà lão nhìn cô không hiểu, sau đó bà sợ và bà che mặt bằng một vạt của chiếc áo dài sặc sỡ.

Ở cuối quảng trường, có một bức tường mà Lalla biết rất rõ. Cô biết từng vết của lớp vữa nhám, từng kẽ nứt, từng chỗ gỉ. Tận phía trên cao của bức tường, có những cái ống đen ngòm của các lò sưởi, những cái máng xối. Bên dưới mái nhà, là những cửa sổ nhỏ không có cửa bản với ô kính bẩn thỉu. Bên dưới gian phòng của bà lão Ida, áo khăn treo lủng lẳng trên dây, cứng đờ vì mưa và bụi. Dưới nữa là cửa sổ các phòng của dân du cư. Hầu hết các ô kính đều đã vỡ, vài khung cửa sổ không còn cả chấn song, chúng chỉ còn là những cái lỗ đen ngòm há hốc giống như hốc mắt.

Lalla nhìn đăm đăm vào những ô cửa tối đen kia và cô vẫn còn cảm thấy sự hiện diện lạnh lẽo và khiếp đảm của cái chết. Cô rùng mình. Có một khoảng trống thật lớn trên quảng trường này, một cơn lốc của khoảng trống và cái chết, nảy sinh từ những khung cửa sổ kia, nó cuốn xoáy giữa các bức tường nhà. Trên chiếc ghế dài, bên cạnh cô, bà lão lai da đen không nhúc nhích, không thở. Lalla chỉ trông thấy cánh tay gầy trơ xương của bà, nơi tĩnh mạch hiện rõ nom như những sợi dây, và bàn tay với những ngón dài vẽ nhựa cây lá móng đang giữ vạt áo dài trên phần mặt phía Lalla.

« Lùi
Tiến »