Sa Môn Không Hải, Thết Yến Bầy Quỷ Đại Đường

Lượt đọc: 1936 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương XXVI
chú pháp cung
1

Tháng Tư.

Không Hải bận tối mắt. Cậu đang chuẩn bị để có thể chính thức sang Thanh Long Tự. Việc chuẩn bị ở đây tức là học tiếng Phạn và chữ Phạn, hay nói cách khác là tiếng Thiên Trúc.

Không Hải từ khi ở Nhật Bản đã bắt đầu học tiếng và chữ Phạn. Nhưng đó là thứ tiếng Phạn truyền từ Thiên Trúc sang Đường rồi mới đến Nhật Bản. Như thế là chưa đủ.

Nếu muốn đem toàn bộ hệ thống Mật giáo về Nhật Bản thì bắt buộc phải học tiếng Phạn một cách có quy củ.

Nếu muốn làm chủ Mật giáo thì cần hiểu sâu tiếng Phạn hơn nhiều so với học Hiển giáo.

Nói về tiếng Đường, hiện giờ Không Hải đã thành thạo hơn cả người Đường. Về tiếng Phạn, cậu cũng đã thông suốt. Nếu để dạy Hiển giáo ở Nhật Bản thì như vậy là đủ. Nhưng vì Mật giáo vẫn còn mới nên chỉ hiểu qua tiếng Đường thôi là chưa đủ, do đó có thể nói việc nắm vững tiếng Phạn là bắt buộc. Ví dụ khi nói về chữ niết bàn trong tiếng Đường, thường thì chỉ cần hiểu rằng đó là một từ được dịch từ chữ nirvana trong tiếng Phạn để chỉ trạng thái mà mọi phiền não đều đã tắt. Nhưng, từ này ở Thiên Trúc vốn được dùng với nghĩa là thổi tắt ngọn lửa.

Tắt và thổi tắt khác xa nhau về ý nghĩa.

Ở Nhật Bản, niết bàn thường được hiểu là diệt độ, tịch diệt, nhưng sắc thái này cũng rất khác so với việc “thổi tắt” ngọn lửa phiền não bằng chính ý chí và hành động của bản thân con người.

Như vậy nếu không trang bị kiến thức đầy đủ để hiểu được ý nghĩa của các từ tiếng Phạn nguyên thủy, tức là từ trước khi chúng trở thành các thuật ngữ Phật giáo, thì rồi có sang được Thanh Long Tự, cậu vẫn sẽ phải bắt đầu bằng việc học ngôn ngữ. Bởi thế Không Hải đang cố gắng để nhét đầy tiếng Phạn vào trong mình trước khi sang Thanh Long Tự.

Nhưng năng khiếu ngôn ngữ của Không Hải không phải tầm thường. Cậu đang học tiếng Phạn từ nhà sư Chí Minh ở Tây Minh Tự và Đại Hầu. Về tiếng Phạn thường nhật, cậu đã có thể nói gần bằng Đại Hầu; về tiếng Phạn trong lĩnh vực Phật giáo, cậu đã vượt qua Chí Minh.

“Thầy Không Hải có khi kiếp trước là người Thiên Trúc ấy nhỉ?” Đã có lúc Đại Hầu phải khâm phục thốt lên như vậy.

Về phần Chí Minh, nhà sư này cũng không khỏi kinh ngạc trước tốc độ lĩnh hội của Không Hải. Nói về kiến thức và cách nhìn nhận trong Phật giáo, Không Hải sâu sắc hơn Chí Minh. Chí Minh trước đây từng học tiếng Phạn của một người Bà La Môn từ Thiên Trúc sang. Giờ thì Chí Minh đang dạy lại cho Không Hải.

“Quý tăng có thật là người nước Oa không đấy?” Chí Minh đã từng nói như vậy vì choáng ngợp bởi tốc độ hấp thu kiến thức của Không Hải.

Chí Minh hiểu rõ mình đã phải mất bao nhiêu thời gian và công sức mới có thể dùng tiếng Phạn được như thế này, và cũng vì vừa là thầy tu vừa là trí thức nên Chí Minh hoàn toàn đánh giá được sự siêu phàm của Không Hải.

Bẵng đi ít lâu không thấy tin tức từ Liễu Tông Nguyên. Anh ta chắc chắn đã hỏi thân mẫu về việc liệu bức thư thứ hai của A Bội Trọng Ma Lữ có thật sự tồn tại hay không. Thế thì lẽ ra anh ta phải biết ngay chứ, dù là có hay là không.

Còn không có tin tức gì thì nghĩa là thân mẫu anh ta chưa tìm ra, hoặc là tìm được rồi nhưng vì nguyên cớ nào đó mà không thể đưa cho Liễu Tông Nguyên.

Còn nếu bức thư đã vào tay Liễu Tông Nguyên rồi thì có thể Liễu Tông Nguyên vì nguyên cớ nào đó mà không thể hoặc không tiện bề liên lạc với Không Hải.

Đêm khuya…

Dưới ánh đèn, Không Hải đang đọc kinh chữ Phạn mượn của Chí Minh.

Ma ha Bát nhã Ba la mật đa tâm kinh

Không Hải đọc bằng chữ Phạn và lầm rầm tụng bằng tiếng Phạn.

Có một vài chỗ phải đọc như thế mới vỡ vạc ra được.

Khi tụng Bát nhã tâm kinh bằng tiếng Phạn, Không Hải có cảm tưởng như toàn bộ bài kinh chính là một mantra. Đồng thời tự nhủ, quả đúng là thế thật. Đây đúng là một mantra. Một chân ngôn. Khi phát âm bằng tiếng bản xứ, Không Hải cảm thấy thế.

Có một Không Hải đã đương nhiên chấp nhận rằng đó là một chân ngôn, nhưng đồng thời cũng có một Không Hải khác muốn chứng minh để xác nhận lại rằng đó thực sự là một chân ngôn.

Đầu tiên, Bát nhã tâm kinh giảng về việc vũ trụ được cấu thành bởi những yếu tố gì. Bát nhã tâm kinh nói đó là ngũ uẩn.

Ngũ uẩn tức là:

Sắc,

Thụ,

Tưởng,

Hành,

Thức.

Trong ngũ uẩn, sắc là chỉ tất cả những gì thuộc về vật chất của vũ trụ. Bốn yếu tố còn lại gồm: thụ, tưởng, hành, thức đều là những dấy động sinh ra nơi tâm con người, tức phía quan sát vũ trụ. Nói cách khác, Bát nhã tâm kinh giảng rằng, sự tồn tại chỉ tồn tại khi có sự tồn tại ấy cùng với những dấy động trong tâm của kẻ quan sát nó.

Nhưng ngạc nhiên thay, kinh lại khẳng định một cách dứt khoát rằng tất cả những thứ ấy thảy đều là “không”.

Sắc tức thị không

Không tức thị sắc.

Thật là uy mãnh làm sao?

Bát nhã tâm kinh nói rằng, tướng thật của mọi thứ trên thế giới này, từ những loài động vật như người, ngựa, bò cho đến côn trùng, hoa, cỏ, hay nước, không khí, gió, đá, bầu trời, núi, biển, mặt đất v.v. thảy đều là không.

Mọi tác dụng của tâm người, ví như cảm xúc khi con trai yêu con gái, cảm xúc khi con gái yêu con trai, hay niềm vui, nỗi buồn v.v. đều là không.

Bát nhã tâm kinh hùng hồn tuyên bố: mọi hành vi, suy nghĩ của con người cũng đều là không cả.

Điều đó hoàn toàn đúng.

Trọn vẹn về mặt nhận thức. Và đẹp.

Nhưng đáng ngạc nhiên hơn, Bát nhã tâm kinh lại tự hét lên với chính mình về cái sự trọn vẹn ấy rằng: Ồ, thế thì sao nào?

Sắc tức thị không…

Nhưng thế thì sao nào?

Ở đoạn cuối cùng, Bát nhã tâm kinh reo lên như muốn nói rằng, cái trí tuệ, cái vẻ đẹp hay là sự trọn vẹn của cái trí tuệ sắc tức thị không ấy rốt cũng chẳng có gì quan trọng cả.

Và cất lên mantra.

Yết đế, yết đế

Ba la yết đế

Ba la tăng yết đế

Bồ đề

Tát bà ha

Bát nhã tâm kinh đang thuyết giảng về chân lý của thế giới này bằng lý lẽ, thì đột nhiên quay ngoắt thành một mantra như vậy.

Ngay cả đến chân lý trong vũ trụ cũng bị Bát nhã tâm kinh trói nhốt vào trong mantra này. Nói cách khác, câu mantra này đang tự nó lớn tiếng khẳng định: nó chính là bản thể của Bát nhã tâm kinh.

Câu chân ngôn cuối bài kinh là phần mà mọi sự sống, mọi thực thể cần phải cùng nhau tạo thành một đại hợp xướng, bình đẳng và hào sảng.

Không Hải tụng Bát nhã tấm kinh.

Khi đến câu mantra, đầu tiên là chiếc thư án ở gần hòa xướng cùng tiếng tụng của Không Hải.

Yết đế yết đế

Không Hải tụng, thế là thư án và chiếc bút lông trên đó hòa theo: Yết đế yết đế.

Ba la yết đế

Không Hải tụng, thế là căn phòng, trần nhà, các bức tường, sàn nhà, rồi đến toàn bộ ngôi nhà hòa theo: Ba la yết đế.

Ba la tăng yết đế

Không Hải tiếp tục tụng, thế là cỏ, sâu, hoa mẫu đơn trong vườn, bò, ngựa, cho đến cả chim chóc cũng cùng cất giọng cao hết cỡ để hòa theo: Ba la tăng yết đế.

Bồ đề

Tát bà ha

Không Hải tụng, thế là mọi sự sống cùng hòa theo, cho đến cả những vi sinh vật, nấm, vi trùng cũng cùng hòa theo, thậm chí núi, sông, biển, trời đất và cả vũ trụ này cũng hưởng ứng mà hòa theo.

Không Hải cảm thấy thế.

Tất thảy những gì tồn tại trên thế giới này bắt nhịp cùng tiếng tụng chân ngôn của Không Hải:

Bồ đề!

Tát bà ha!!

Tụng xong chân ngôn, Không Hải tưởng như nghe thấy tiếng hét với một xung động muốn thổi bật linh hồn ra khỏi thân xác bằng một sức mạnh mà cơ thể chực bị băm vằm thành muôn mảnh. Không Hải nghe thấy trong tai mình sự vang vọng của bản đại hợp xướng tựa như vũ trụ đã hòa làm một và đang rung lên ấy.

Nếu có Quất Dật Thế ở đây, hẳn cậu ta sẽ nói: “Cậu giỏi quá, Không Hải…”

Nhưng Dật Thế không còn ở Tây Minh Tự. Cậu ta đã chuyển vào trong khu túc xá dành cho nho sinh ở một phường khác.

Từ ngày Dật Thế không ở đây nữa, mọi việc tiến triển nhanh hơn, nhưng những câu hỏi tò mò của Dật Thế hẳn đã luôn góp một phần vô cùng quan trọng giúp Không Hải hệ thống lại tư duy trong đầu. Suy nghĩ trong lúc Dật Thế luôn ở bên cạnh đã thành nếp, nay không còn Dật Thế nữa, Không Hải đành phải phác họa ra Dật Thế ở trong đầu để sắp xếp lại ý nghĩ.

Dật Thế trong tưởng tượng của Không Hải thốt lên trước bài Bát nhã tâm kinh mà Không Hải vừa tụng: “Cậu giỏi thật đấy!”

Đặt cuốn kinh xuống bàn, Không Hải đưa tay mở cánh cửa sổ cạnh bên. Hơi đêm ùa vào làm ngọn đèn rung rinh. Gió đã mang hương hè. Mùi thơm của những phiến lá non đang bắt đầu xòe rộng và cây cối lẫn vào trong gió. Hơi đêm như mật ngọt.

Ngày mai Bạch Lạc Thiên sẽ tới đây.

Không Hải nhận được thư của Bạch Lạc Thiên viết: Tôi sẽ đến Tây Minh Tự ngắm mẫu đơn. Tôi muốn nói chuyện với thầy nếu có thời gian. Còn không tôi chỉ tới ngắm hoa rồi về.

Tây Minh Tự từ xưa đã nổi tiếng là một thắng cảnh để ngắm mẫu đơn. Đến mùa hoa, người từ khắp Trường An sẽ đổ tới vườn chùa. Không ít trong số họ là những kẻ quyền quý hoặc giai nhân thường xuyên ra vào cung cấm.

Người nước Đường từ trước đến nay thường đem lòng yêu mến hoa mẫu đơn nhiều hơn các loài hoa khác. Tình cảm đặc biệt mà người Đường dành cho hoa mẫu đơn phần nào cũng giống như của người Nhật Bản dành cho hoa anh đào vậy.

Khi mẫu đơn nở rộ khắp các chùa chiền, vườn tược, cả thành Trường An sẽ vui như mở hội.

Cũng nhờ loài hoa này mà Không Hải biết đến Bạch Lạc Thiên. Bạch Lạc Thiên trước lúc chia tay người bạn thân đã đến Tây Minh Tự vào mùa mẫu đơn và viết một bài thơ. Người đầu tiên cho Không Hải xem bài thơ ấy là Chí Minh.

Hoa mẫu đơn ở Tây Minh Tự đang vào độ đẹp nhất, ban ngày có rất nhiều người tới chơi vườn chùa.

Đây là mùa mẫu đơn đầu tiên Không Hải ở Trường An. Màu đỏ, màu tím, màu trắng, màu hồng nhạt, và mọi sắc độ trung gian của những màu ấy. Vẻ rạng rỡ của vô số những bông mẫu đơn đang nở bung, rung rinh trong làn gió thoảng đầu hè thật tráng lệ.

Nhớ lại cảnh tượng rực rỡ vào ban ngày, Không Hải cảm thấy màu sắc của những đóa mẫu đơn đang tan vào hơi đêm, khiến cho bóng tối như phảng phất có màu.

Đúng lúc ấy…

Không Hải nhận thấy ở ngoài vườn có bóng người.

Cái bóng đó không cố giấu mình, nhưng ngược lại, cũng không cố khoe mình. Một cái bóng vô cùng tự nhiên. Nó đang cử động. Chỉ cử động chứ không di chuyển.

Ồ!

Không Hải ngẩng mặt lên, phóng tầm mắt ra bên ngoài qua ô cửa sổ.

Trước mắt là khu vườn đêm. Ánh trăng rót xuống từ trên trời, khung cảnh lặng ngắt như ở dưới một đáy nước sâu.

Nó hoàn toàn khác so với khung cảnh hôm Đan Ông gọi cậu…

Không Hải đứng dậy.

❖ 2 ❖

Từ sâu trong đêm tối, dưới bóng trăng, lá và hoa mẫu đơn ánh lên sắc xanh. Không Hải nhẹ nhàng thả bước qua những khóm mẫu đơn. Ống tay và gấu áo ướt đẫm vì quết vào sương đọng trên lá.

Những đóa mẫu đơn như những trái chín lúc lỉu đang trĩu xuống vì sức nặng của chính chúng hơn là vì sức nặng của những hạt sương.

Không Hải đang lách mình qua những chùm hoa ấy.

Đêm thâu…

Không ai còn thức.

Chỉ có bóng tối trong suốt và ắng lặng.

Những đóa mẫu đơn càng thêm tươi tắn trong bóng tối. Đó là thứ màu sắc ngát hương.

Hoa đào và hoa mơ tỏa hương thơm, còn mẫu đơn khoác lên mình màu sắc. Có thể trông thấy màu sắc của mẫu đơn giống như có thể ngửi thấy mùi hương của hoa mơ ngay cả trong đêm tối.

Khi ấy…

Có thứ gì đó chuyển động ở cuối vườn, ngay trước kho kinh. Một bóng người chờn vờn.

Nó đang làm gì?

Chỉ cử động mà không di chuyển. Bóng người ấy đang múa. Hình như là một người đàn bà. Mái tóc trắng sáng dưới ánh trăng.

Người đàn bà trong bộ y phục lộng lẫy như của một cung nhân ấy đang múa. Đôi cánh tay mềm mại vươn về phía bóng trăng, đôi bàn tay trắng ngần ngửa lên, những ngón tay chúc xuống theo chiều của ánh trăng. Thân mình lẹ xoay, bàn chân đưa lên rồi giậm thịch xuống đất như muốn bay lên trời mà không bay lên được.

Điệu múa như thể đang giãi bày nỗi niềm thương nhớ thiên giới của một nàng tiên nữ.

Không Hải không đánh tiếng, chỉ im lặng đứng nhìn. Người đàn bà không nhận thấy Không Hải, thân tâm đắm chìm trong điệu múa, tựa như đã hóa thân thành chính điệu múa do mình tạo ra.

Không có ý giấu mình, Không Hải cất bước đi về phía người đàn bà.

Thế rồi…

Không Hải liền nhận ra, đó không phải một cô gái trẻ mà là một bà già. Người đang múa dưới trăng là một phụ nữ đã rất nhiều tuổi. Nhưng tại sao cậu không nhận ra điều ấy sớm hơn? Mặc dù đêm đã khuya, nhưng trăng rất sáng. Cậu cứ đinh ninh rằng đó là một cô gái trẻ ngay cả khi đã tới đủ gần để nhận ra.

Những động tác múa ấy không phải của một bà già, mà là của một cô gái trẻ. Không Hải đã bị những động tác ấy đánh lừa.

Giờ đây khi nhìn kỹ hơn, Không Hải nhận ra rằng màu tóc trắng sáng không hoàn toàn là vì ánh trăng, mà bởi đó là mái tóc bạc. Những nếp nhăn hằn trên gương mặt nổi rõ. Thịt và da nơi gò má đã chảy xệ.

Một bà già, hơn nữa lại rất già. Nhưng dù già, người đàn bà ấy vẫn rất đẹp.

Trong mắt Không Hải, chẳng có gì khác ngoài vẻ đẹp nơi điệu múa của người đàn bà ấy. Một người lớn tuổi nhường ấy lại có thể thực hiện những động tác uyển chuyển đến vậy ư? Và vì sao bà ta lại múa ở đây vào giờ này?

Phải chăng tinh của một cây mẫu đơn già vừa bị ánh trăng triệu hồi, mời gọi về hiện thế để phô diễn điệu múa cổ xưa, hay là chính nó đã tự hiện hình vì không thể cưỡng lại sự yêu mị của ánh trăng?

Đột nhiên…

“Này Không Hải, tớ đây, Dật Thế đây.”

Có tiếng gọi sau lưng.

Không Hải ngoái đầu lại thì thấy Quất Dật Thế đang đứng trong lùm mẫu đơn.

“Đêm tuyệt vời, Không Hải ạ. Tớ ra đây để ngắm mẫu đơn vì trăng quá đẹp.”

Trong một tích tắc, Không Hải đã ngỡ giọng nói đó, bóng hình đó là của Dật Thế.

“Chúng ta sẽ cùng ngắm mẫu đơn chứ Không Hải?”

Nhưng không phải giọng nói của Dật Thế.

Đó là một người đàn bà hóa trang thành đàn ông, bắt chước giọng đàn ông, và nói tiếng Đường.

Nếu là Dật Thế, cậu ta sẽ không xưng: “Tớ đây, Dật Thế đây.”

Việc cố tình nói: Dật Thế đây, là để mê hoặc Không Hải. Vả lại, những lúc chỉ có hai người, Dật Thế không bao giờ nói tiếng Đường. Trong giây lát, Không Hải liền nhận ngay ra điều này.

Tuy nhiên, dù cho chỉ diễn ra trong thoáng chốc và bị đánh lừa bởi đêm tối, thì việc nhận lầm giọng nói cùng dáng hình của Dật Thế đã chứng tỏ rằng, một phần tâm trí Không Hải trước đó đã tự mình đóng vai Dật Thế.

Phải nói rằng đây là một kẻ có pháp lực ghê gớm thì mới khiến Không Hải lầm tưởng là Dật Thế, dù việc mắc lừa chỉ diễn ra trong giây lát.

Đó không phải bà già đang múa mà là một cô gái trẻ.

“Cô gái!” Không Hải gọi khiến nét mặt cô ta đột nhiên đanh lại.

“Thật không hổ danh là ngài Không Hải…” Cô ta trở lại giọng nói bình thường. “Nếu là người thường ắt hẳn đã bị mê hoặc rồi.”

“Tại sao cô lại định dùng chú mê hoặc ta?”

“Vì cần phải vậy.”

“Cần phải vậy?”

“Nhưng giờ thì không cần nữa rồi…”

Dứt lời, cô gái liền xoay người làm những đóa mẫu đơn rung động. Cô ta đi xa dần giữa những khóm mẫu đơn.

Không Hải toan đuổi theo nhưng rồi lại thôi. Còn gì tốt hơn khi cô ta bỏ đi mà chẳng gây ra chuyện gì.

Nếu đuổi theo, ai biết hiểm họa nào đang đợi Không Hải ở phía trước. Cậu tin vào đôi chân mình. Cậu có thể bám theo được kẻ đó, nhưng nếu tới nửa đường mà bị tấn công thì sẽ nguy to. Bản thân Không Hải không mang theo vũ khí. Giả như đối thủ phục kích, rồi tấn công cậu bằng kiếm hoặc thứ gì đó, cậu sẽ khó giữ được mạng.

Không Hải đã toan dợm bước rồi lại thôi. Đưa mắt sang chỗ người đàn bà đang múa thì chẳng còn thấy bóng ai ở đó nữa.

Ra là vậy.

Không Hải đã hiểu ra sự tình.

Cần phải vậy theo lời cô gái trẻ nghĩa là như thế này đây. Ra là cô ta câu giờ để cho người đàn bà múa biến mất.

Nhưng tại sao người đàn bà ấy lại múa trong khu vườn này?

Mối quan hệ giữa cô gái trẻ và bà già ấy là gì?

Và sự việc này có liên quan thế nào tới một chuỗi các sự kiện đang xảy ra xung quanh Không Hải?

Hừm…

Không Hải khẽ thở hắt ra trong màn đêm.

Nhìn khắp xung quanh mà chẳng thấy bóng dáng cô gái trẻ và bà già đâu. Chỉ có những đóa mẫu đơn đang sáng lên tựa như đã ướt đẫm ánh trăng.

❖ 3 ❖

“Mọi chuyện không diễn ra như tớ nghĩ…”

Người nói câu ấy với Không Hải là Quất Dật Thế.

Sáng nay, Dật Thế tới thăm Không Hải sau một thời gian dài không gặp.

Nom Dật Thế ỉu xìu. Chẳng còn sức sống.

Rốt cuộc thì Dật Thế đã qua được cửa nho sinh, sắp sửa bước vào cuộc sống theo đúng như mục đích sang Đường ban đầu, nhưng có vẻ còn nhiều gian nan.

“Tớ cũng hiểu rằng chỉ đọc Luận ngữ thôi là chưa đủ, nhưng quả thật ngoài chuyện học hành còn có quá nhiều thứ phải lưu tâm.”

“Tiền chứ gì?” Không Hải hỏi.

“Phải rồi. Tốn kém quá. Không chỉ những khoản công khai như tiền nhập học, mà muốn vào học được thì phải cần đến những người có máu mặt, mỗi lần được giới thiệu người này người nọ lại phải mất tiền.” Dật Thế gãi đầu. “Tớ đã tiêu hết một phần ba số tiền mang theo. Cứ thế này thì không trụ nổi hai mươi năm mất.”

Nhưng nếu đi làm để kiếm tiền thì không học hành được, còn vùi đầu vào học hành thì lại hết tiền. Bởi vậy nên Dật Thế mới tỏ ra rối trí.

“Như có lần nói chuyện với cậu, ở quê nhà tớ cũng thuộc loại được thừa nhận… Xung quanh nói tớ là người có tương lai hứa hẹn, ánh mắt thì lấp lánh tài năng, thư pháp thì điêu luyện, sách vở lại làu làu… Ấy vậy mà sang đến bên này mới thấy những kẻ cỡ như tớ nhan nhản. Vả lại, thứ cần đến ở đất nước này là khả năng mưu sinh, hơn là tài năng chữ nghĩa.” Dật Thế thở dài.

“Bản thân tớ biết trình độ của mình ở đâu, Không Hải ạ. Tớ không phải kẻ dốt nát tới mức không hiểu bản thân mình. Nhưng chính vì thế nên tớ mới rối trí. Chính vì chỉ có tài năng thường thường bậc trung, nên tớ lại càng nhìn rõ mình hơn. Ở đất nước ấy, tớ luôn tỏ ra khinh thường mỗi lần bắt gặp những kẻ khôn lỏi. Đằng Nguyên Cát Dã Ma Lữ tớ cho là một loại như thế. Ông ta leo đến vị trí ấy chỉ là nhờ vào dòng dõi của mình. Nhưng rồi tới một ngày, tớ sẽ phải nhìn mình bằng chính con mắt nhìn bọn họ. Mà không, tớ đã phải nhìn mình bằng con mắt như thế rồi. Khi sang đây, tớ hiểu ra một điều rằng, xét cho cùng thì tớ với bọn họ cũng cùng một giuộc mà thôi.”

Dật Thế đang thổ lộ ruột gan mình với Không Hải.

Chẳng những thế, Dật Thế còn nhìn nhận khá chính xác về bản thân.

“Khác nào con cá sống trong cái ao nhỏ, bỗng một ngày được người ta thả ra biển lớn và bảo hãy thoải mái bơi đi, thì rốt cuộc nó cũng chỉ bơi được trong cái khoảng bằng cái ao nhỏ nó từng sống mà thôi. Nhưng cậu thì khác Không Hải ạ…” Dật Thế nhìn thẳng vào Không Hải, rồi tiếp. “Đất nước ấy vừa với tớ hơn.”

“Còn cậu, chẳng phải đất nước này rất hợp với cậu sao, Không Hải?” Dật Thế chăm chú nhìn Không Hải. “Còn tớ thì giờ đây đang nhớ nhung da diết cái đất nước mà mình vẫn coi thường ấy.”

Dật Thế vật ngửa ra sàn. Cậu khoanh tay làm gối, mắt nhìn lên trần nhà.

“Còn những hai mươi năm nữa cơ à…” Giọng Dật Thế chùng xuống. “Liệu rằng tớ sẽ kết thúc cuộc đời mình ở đất nước này, không thể trở về Nhật Bản, giống như ngài Triều Hành chăng?”

“Thế thì về thôi…” Không Hải nói.

“Về?” Dật Thế ngồi dậy.

Thế thì về thôi, lời nói của Không Hải với Dật Thế không phải một lời nói vô cảm. Nó nhẹ nhàng, ôn tồn, như thể chỉ là nói ra miệng những gì ở trong lòng sau khi đã gạt bỏ đi cảm xúc.

“Tớ nhớ hình như có lần cậu đã nói vậy, nhưng về bằng cách nào nếu không có thuyền từ Nhật Bản sang?”

“Sẽ có thuyền sang thôi, chắc là vậy.”

“Khi nào?”

“Nếu sớm thì năm sau, còn muộn thì hai năm nữa.”

“Làm gì có chuyện đó.”

“Có thể lắm chứ.”

“Vì sao?”

“Tớ đã ấn chú lên Đằng Nguyên Cát Dã Ma Lữ.”

“Ấn chú?”

“Việc Đức Tông hoàng đế băng hà, cậu còn nhớ chứ?”

“Điều đó thì tớ nhớ. Nhưng nó liên quan gì tới ấn chú?”

“Đó chính là cái gốc của chú. Phép chú mà tớ dùng với Cát Dã Ma Lữ là lời nói.”

“Lời nói?”

“Ngày bọn Cát Dã Ma Lữ về, chúng ta đã đi ngựa theo tiễn tới tận Vị Thủy đúng không nào.”

“Ừ.”

“Lúc ấy, tớ đã ghé ngựa nói với Cát Dã Ma Lữ câu này.”

“Cậu nói gì?”

“Tớ bảo ông ta, đành là sứ thần Nhật Bản đã có mặt đúng vào lúc hoàng đế Đại Đường băng hà, nhưng tôi biết ông thấy như thế là chưa đủ…”

“Ý cậu là sao?”

“Ý tớ là, khi về nước, ông phải tâu lên với chúa thượng, sửa sang áo mũ, rồi vâng mệnh chúa thượng mà sang chia buồn với Thuận Tông hoàng đế cho phải phép. Kẻo mà triều đình Nhật Bản sẽ bị cười chê là những kẻ không hiểu gì về lễ. Ông ta chắc hẳn phải hiểu ý tớ nói.”

“Hừm.”

“Tóm lại, điều mà tớ nói Cát Dã Ma Lữ là hãy sớm có hành động.”

“Cậu gớm thật đấy, Không Hải.” Giọng Dật Thế pha lẫn niềm vui sướng.

“Dù thế nào cũng sẽ có người cùng thuyền sang đây. Nếu cậu muốn về vào dịp ấy thì hãy khẩn trương lên, Dật Thế!”

“Khẩn trương cái gì cơ?”

“Khẩn trương làm những gì cậu cần làm chứ còn sao nữa.”

“…”

“Còn tớ…” Không Hải ưỡn ngực, nhìn Dật Thế. “Tớ sẽ phải thâu tóm toàn bộ Mật trước khi chiếc thuyền đó sang.”

“Liệu có làm được không?”

“Phải thử thôi. Nếu như thiên mệnh ấy được trao cho tớ.”

“Thiên mệnh?”

“Nói theo kiểu cầu kỳ là như thế. Tớ nói tin vào thiên mệnh là bởi vì tớ biết mình được ông trời ưu ái.”

“Cậu tin mình được ông trời ưu ái?”

“Ấy là nếu như có ông trời.”

“Nếu có ông trời thì sao?”

“Thì chắc ông ấy sẽ cảm thấy hứng thú với tớ.”

“Hứng thú?”

“Nếu là tớ, tớ sẽ cảm thấy hứng thú.”

“Nếu cậu là ai?”

“Nếu tớ là ông trời.”

“Cậu ví von hay chưa kìa.”

“Nếu tớ là ông trời, tớ hẳn sẽ muốn mình được biết đến, mình được nhìn thấu.”

“Nghĩa là sao?”

“Là thế này, chẳng hạn, điều mà tớ đang gắng làm lúc này là nhìn thấu vũ trụ bằng Phật pháp.”

“Phật pháp?”

“Tớ đang cố gắng nhìn thấu cao xanh bằng Mật, pháp môn tốt nhất của Phật pháp.”

Không Hải cười khanh khách.

“Tớ chả hiểu gì.” Dật Thế bĩu môi.

“Cậu thường viết thư pháp mà, phải không?”

“Ừm.” Dật Thế gật đầu.

“Cậu viết rất đẹp, nhưng lại không thể khoe với người khác thì liệu có đành lòng không?”

“Tất nhiên là tớ muốn khoe nó với ai đó.”

“Nhưng không phải với bất cứ ai.”

“Ờ. Nếu được, tớ muốn đó là một người am hiểu về thư pháp.”

“Sau khi người đó xem xong rồi thì sao?”

“Tớ muốn được nghe một lời khen: giỏi lắm!”

“Khi được khen, cậu thấy vui đúng không?”

“Tất nhiên.”

“Đấy, thì cũng giống như vậy.”

“Cái gì giống như vậy?”

“Nghe này Dật Thế, thư pháp, nói cách khác thì đó chính là tài năng và kỹ thuật của cậu. Khi ai đó khen chữ cậu thì tức là họ đang khen bản thân cậu.”

“…”

“Ông trời cũng vậy. Mọi hiện tượng trên đời này đều được tạo ra bởi ông trời. Hoặc nói theo cách khác, đó chính là bức thư pháp do ông trời viết ra vậy.”

“Ừm.”

“Tớ đang gắng dùng Mật để nhìn thấu bức thư pháp ấy và khen ngợi nó. Rằng mới tuyệt làm sao! Và rồi sau đó sẽ nói rộng cho người đời biết về cái lẽ: trời mới tuyệt vời làm sao.”

“…”

“Trời cũng giống như người vậy. Vì có người nên mới có trời. Có thể nói, bởi người nhìn thấy nên trời mới tồn tại. Nói rằng trời tuyệt vời thì cũng giống như nói rằng người tuyệt vời. Đây là điểm căn bản trong giáo lý của Mật. Tất cả những thứ còn lại chẳng qua chỉ là lớp xiêm y quấn bên ngoài bản chất ấy mà thôi.”

“…”

Dật Thế đã chẳng còn lời nào để nói. Cậu ta chỉ biết ngán ngẩm nhìn Không Hải.

“Trời mà có ý thức, tất sẽ dùng đến tớ.” Không Hải nói toẹt ra như vậy.

“Thật chẳng biết nói gì về cậu nữa. Xem ra ngay cả Đại Đường này cũng vẫn quá nhỏ hẹp với cậu.” Dật Thế vừa cười vừa nói.

“Giống nhau cả thôi.”

“Giống nhau?”

“Dù ở Oa quốc hay Đại Đường, tớ vẫn ở dưới cùng một bầu trời.”

Không Hải muốn nói với Dật Thế rằng, dù ở đâu trên mặt đất này thì bản thân cậu và vũ trụ vẫn nối thông với nhau ở tầng sâu nhất bởi một quy luật là Phật pháp.

“Chà chà, cậu đúng thật là…” Dật Thế vừa cười vừa thở dài.

“Cậu thấy sao rồi, Dật Thế?” Không Hải cũng tủm tỉm cười nhìn Dật Thế.

“Sao là sao?”

“Đã vui hơn tí nào chưa?”

Không Hải cười.

“Hóa ra ý cậu là thế.”

Dật Thế cười gượng rồi gãi đầu.

“Nhưng chuyện lúc nãy tớ không có nói dối cậu đâu.”

“Chuyện nào?”

“Chuyện tớ nói với Đằng Nguyên Cát Dã Ma Lữ hoàn toàn là sự thật. Có lẽ thế nào cũng có thuyền từ Nhật Bản sang.”

“Nhưng thôi, chẳng quan trọng. Thuyền có sang hay không thì tớ vẫn phải làm những việc tớ cần làm.”

Không Hải vừa nói đến đó thì bên ngoài có tiếng người.

“Thầy Không Hải, có ông Bạch Lạc Thiên tới này.”

Đó là giọng Đại Hầu.

❖ 4 ❖

Bạch Lạc Thiên ngồi đối diện Không Hải và Dật Thế qua chiếc bàn. Trên bàn là ba chén trà đang uống dở. Họ vừa trao đổi với nhau về hoa mẫu đơn, về những chuyện xảy ra trong quãng thời gian không gặp nhau.

“Vậy là từ dạo đó vẫn chưa có gì tiến triển phải không?” Bạch Lạc Thiên bồn chồn đưa mắt hỏi Không Hải.

“Vâng, mọi chuyện vẫn vậy.”

Cho đến lúc này, Không Hải vẫn chưa nói về việc bức văn của A Bội Trọng Ma Lữ với Bạch Lạc Thiên. Vì nếu muốn nói ra thì cậu cần phải xin phép Liễu Tông Nguyên trước.

Im lặng một lát.

Bạch Lạc Thiên nhìn ra ngoài cửa sổ. Bên ngoài cửa sổ là khu vườn mẫu đơn đang đua nhau nở. Có bóng dáng của những khách ngắm hoa đang đi lại.

“Thật tình thì, thầy Không Hải ạ…”

Bạch Lạc Thiên cất lời, mắt vẫn nhìn ra ngoài cửa sổ.

“Sao vậy tiên sinh?”

“Lúc này đây tôi đang cảm thấy bối rối.”

“Về điều gì?”

“Tôi không thể quyết định về một việc.”

“Về một việc?”

“Thật ra, lúc này tôi đang ấp ủ một bài thơ dài…”

“Tôi biết.”

“?”

“Đức vua Hán mến người khuynh quốc…” Không Hải đọc lên theo nhịp thơ.

“Thầy biết rồi sao?”

“Tôi được đọc đoạn thơ ông viết dở ở Hồ Ngọc Lâu.”

“Chính là bài thơ đó.”

“Vâng.”

“Đó là câu chuyện về Huyền Tông hoàng đế và Dương Ngọc Hoàn…”

“Nhưng thế thì sao?”

“Thầy biết về câu chuyện tình bi ai của họ chứ?”

“Vâng.”

“Chính vì thế mà tôi bối rối.”

“…”

“Đó chẳng phải một câu chuyện quá đỗi khủng khiếp sao?”

“Quả đúng là như vậy.” Không Hải gật đầu.

Huyền Tông hoàng đế đã đoạt vợ của con trai mình.

Chẳng những thế, Huyền Tông hoàng đế còn là một ông già lớn hơn Dương Ngọc Hoàn những ba mươi tuổi. Vì mê đắm Dương Ngọc Hoàn, tức Dương quý phi, mà bỏ bê chính sự, dẫn đến loạn An Sử, phải trốn chạy khỏi Trường An, để rồi trên đường trốn chạy, đã tự mình hạ lệnh giết chết Dương Ngọc Hoàn.

Đó là theo những gì ghi chép lại.

“Dương Ngọc Hoàn có hạnh phúc không?” Bạch Lạc Thiên hỏi. “Huyền Tông hoàng đế có hạnh phúc không?”

Cả Không Hải và Dật Thế đều không trả lời. Họ chờ Bạch Lạc Thiên nói tiếp.

Gia tộc Dương Ngọc Hoàn bị thảm sát trong loạn An Sử, bản thân Dương Ngọc Hoàn cũng bị Cao Lực Sĩ siết cổ chết. Chuyện kể lại như vậy.

“Tôi những muốn viết ra điều ấy, nhưng lại bị giằng xé bởi hai suy nghĩ.”

“Hai suy nghĩ?” Không Hải hỏi.

“Phải viết ra với chủ đề chính là những cảm xúc tất yếu trong lòng hai con người ấy như giận dữ, đau buồn, căm ghét, hay là…”

“Hay là?”

“Hay là, giấu nhẹm chúng đi và chỉ viết về câu chuyện tình bi ai, đẹp đẽ trên bề mặt của họ mà thôi?”

Ánh mắt Bạch Lạc Thiên đã quay trở lại phía Không Hải.

“Một vấn đề khó.”

“Lúc này, tôi đang muốn lột tả thẳng thắn cuộc tình ấy, viết ra một câu chuyện thấm đẫm những giận dữ, đau buồn, căm ghét. Chỉ có điều…”

“…”

“Chỉ có điều, tôi vẫn chưa chọn đi theo hướng đó. Đằng nào thì tôi cũng chưa thể đưa ra kết luận cho tới khi sự việc mà tôi và thầy đang đối mặt đi đến một chung cục nào đó.”

❖ 5 ❖

“Thầy Không Hải,” Bạch Lạc Thiên cất tiếng. Đặt tay lên ngực mình, Bạch Lạc Thiên nói tiếp: “Có bao nhiêu thứ đang cuộn trào trong lòng tôi. Chao ôi, bằng cách nào tôi có thể diễn tả chúng ra đây.”

Bạch Lạc Thiên vặn vẹo thân mình như phát cuồng, nhìn Không Hải.

“Chúng là rất nhiều những sinh vật chưa có tên. Chúng là muông thú, hoa lá, sâu bọ và cả những loài không rõ chân tướng. Tôi cần phải dụ chúng vào cái lồng ngôn từ để đặt tên cho chúng…”

Những sinh vật ấy phát ra ánh lân quang ma mị ở sâu trong thân xác Bạch Lạc Thiên. Đó là những động vật chưa có tên, đang dò dẫm trong thăm thẳm rừng già. Hoặc là những sinh vật ở dưới biển sâu…

Những sinh vật ấy ăn thịt lẫn nhau, có những sinh vật bị tiêu diệt và bị nuốt vào bên trong một sinh vật khác. Có những sinh vật trở nên lớn mạnh hơn nhưng lại mang hình thù cơ thể giống với sinh vật mà nó đã ăn thịt, đi dạo giữa cánh rừng đêm bên trong Bạch Lạc Thiên. Lại có những sinh vật đang bơi lội dưới tầng biển sâu trong lòng Bạch Lạc Thiên. Nhưng Bạch Lạc Thiên thì không biết, chúng rốt cuộc có hình thù như thế nào và tên gọi ra sao?

Một thứ gì đó khổng lồ đang uốn lượn tấm thân đen trũi, bơi lội trong sâu thẳm thân xác Bạch Lạc Thiên…

“Có lẽ là do tôi quá nệ.” Bạch Lạc Thiên nói.

“Quá nệ cái gì?” Không Hải hỏi.

“Chữ tình.” Bạch Lạc Thiên nói trong lúc cắn môi, như thể cố nuốt một cái kim đang mắc sâu trong cổ họng. “Tôi nặng tình quá.”

“…”

“Tôi chẳng khác nào chiếc giẻ lau bị bỏ lại sau khi đã hút đẫm những nhơ nhớp và nước bẩn của nhà bếp.”

“…”

“Tôi muốn được gột rửa thật nhanh để lòng nhẹ nhõm hơn.”

“Việc đó, nói theo cách khác, là làm thơ phải không?”

“Phải.” Bạch Lạc Thiên gật đầu. “Tôi những tưởng sẽ nhẹ nhõm hơn nếu biến tất cả những gì trong lòng mình thành thơ, nhưng…”

“Không hề nhẹ nhõm hơn?”

“Không hề. Viết mãi, viết mãi mà không vơi. Mà chẳng nhẹ nhõm hơn. Rồi tôi cứ rượu tràn cung mây. Tôi như một cái giẻ nhơ bẩn, sũng rượu.” Bạch Lạc Thiên nở nụ cười trên khuôn mặt nghiêm nghị.

Rồi nụ cười vụt tắt. Đối diện Bạch Lạc Thiên là một cái gương, có lẽ anh ta sực tỉnh khi nhận thấy nét mặt mình trong đó.

“Chuyện của tôi thật chán ngắt…”

Nụ cười hiện trên môi Bạch Lạc Thiên trong vài tích tắc thế là biến mất, nét mặt lại khó đăm đăm như thường lệ.

“Tôi sẽ không than thở nữa. Than thở cũng chẳng có ích lợi gì.”

Như đã lấy lại tinh thần, Bạch Lạc Thiên nhìn sang Không Hải.

“À mà thầy Không Hải này, thầy đã nghe gì về chuyện trong cung chưa?”

“Chuyện gì vậy tiên sinh?”

“Nghe đồn có nhiều việc kỳ quái xảy ra xung quanh hoàng đế.”

“Việc kỳ quái?”

“Dây nguyệt cầm đồng loạt đứt trong lúc nhạc công đang gảy, cả đàn ruồi bâu lấy hoàng đế, hoặc chuyện con mèo biết nói…”

“Con mèo!?”

“Phải.” Bạch Lạc Thiên gật đầu. “Hình như ít bữa trước, Huệ Quả A-xà-lê bên Thanh Long Tự đã nhập cung và yết kiến hoàng đế.”

“Huệ Quả A-xà-lê đã ra tay…”

“Phải.”

“Tôi chưa biết chuyện này.”

Nói đến đây, Không Hải mới lại nhớ ra, bẵng đi một thời gian mà chưa thấy tin tức của Liễu Tông Nguyên.

Đúng ra thì đã phải có tin tức về bức văn thứ hai của Triều Hành, tức A Bội Trọng Ma Lữ rồi, nhưng nếu trong cung đang xảy ra những chuyện như vậy thì có lẽ giờ chưa phải là lúc.

“Thầy Không Hải ạ, chuyện này tôi kể ra vì tin rằng thầy biết thì sẽ tốt hơn.” Bạch Lạc Thiên hơi cúi xuống rồi ngước mắt lên nhìn vào mắt Không Hải.

Ánh nhìn như thể muốn dò xét ý tứ Không Hải qua hai lỗ mắt.

Việc ấy kéo dài một lúc.

Không Hải im lặng, để mặc Bạch Lạc Thiên dò xét mình.

Cuối cùng.

“Thầy Không Hải,” Bạch Lạc Thiên cất tiếng. “Chắc hẳn thầy cũng có cái khó riêng của thầy…”

“…”

“Nhưng đến khi nào hoàn cảnh cho phép, xin thầy hãy kể với tôi những gì thầy biết.”

“Vâng.” Không Hải gật đầu.

“Vậy xin cáo từ.” Bạch Lạc Thiên đứng dậy. “Tôi đã cảm thấy nhẹ nhõm hơn chút ít. Cáo phép thầy tôi về.”

Bạch Lạc Thiên chỉ chào ngắn gọn như vậy rồi rời khỏi phòng Không Hải.

❖ 6 ❖

“Anh ta khiến tớ ngộp thở, Không Hải ạ.”

Đợi đến khi Bạch Lạc Thiên đi rồi, Dật Thế mới cất lời trong tiếng thở phào.

“Ở cạnh anh ta, tớ thấy nhọc quá.”

Dật Thế bắt đầu liến thoắng cứ như thể chưa từng im lặng trước đó.

“Nhưng mà này, sao anh ta lại tới đây Không Hải nhỉ?”

“Chắc vì lòng dạ ngổn ngang chứ sao.”

“Lòng dạ ngổn ngang?”

“Khi những việc định làm không theo đúng ý, người ta ai cũng sẽ bứt rứt, khó ở yên một chỗ…”

“Quả là anh ta có bảo muốn viết thơ về Huyền Tông hoàng đế và Dương Ngọc Hoàn.”

“Hán hoàng trọng sắc tư khuynh quốc…”

Không Hải ngâm lại câu thơ mà Bạch Lạc Thiên đang viết dở.

“Hán hoàng?”

“Ý nói rằng, vua Hán cuồng sắc, chỉ đắm đuối mỹ nhân…”

“Nhưng sao lại là vua Hán?”

“…”

“Hán hoàng là hoàng đế đời nhà Hán, là triều đại trước cả triều đại nhà Đường này cơ mà.”

“Ừ.”

“Trong khi Bạch Lạc Thiên lại đang muốn viết về cuộc tình của Huyền Tông hoàng đế và Dương quý phi.”

“Ừm.”

“Chuyện của đời Đường, sao lại thành đời Hán? Sao không viết là Đường hoàng hay Đường đế?”

“Ngài Lạc Thiên muốn giữ ý thôi mà.”

“Giữ ý? Với ai?”

“Với triều đại nhà Đường hiện nay.”

“…”

“Vì trong thời thế hiện tại, Bạch Lạc Thiên làm sao có thể mở đầu bằng câu thơ: vua Đường cuồng sắc được.”

“Nhưng đọc đến đó ai mà chả biết. Vậy thì có khác gì nhau.”

“Khác chứ.”

“Vì sao?”

“Nó giống như những chuyện đồn thổi vậy.”

“Chuyện đồn thổi?”

“Ờ. Cậu cứ hình dung thế này, có một người phao tin đồn, nhưng anh ta chỉ nói xa nói gần chứ không nói thẳng, thế rồi người bị động chạm đến ở trong câu chuyện mới tìm tới và trách móc.”

“Ý rằng anh ám chỉ tôi đấy phỏng?”

“Đúng vậy.”

“Ừm.”

“Nếu như không chướng mắt quá, người kia sẽ cho qua chuyện.”

“Hiểu rồi…” Dật Thế gật gù.

“Hơn nữa anh ta lại là người của Bí thư sảnh nữa phải không?” Dật Thế nói thêm.

“Tớ nghĩ vậy.”

“Quan lại làm thơ…” Dật Thế nói kèm theo tiếng thở dài.

“Sao lại thở dài?”

“Quan sát anh ta, tớ có cảm giác như đang quan sát chính mình.”

“Ồ.”

“Tớ quá hiểu những điều cậu nói lẫn con người anh ta.” Dật Thế nói với giọng pha vẻ tự trào. “Khi những việc mình định làm không theo đúng ý, tớ sẽ như con nhím xù lông vì cảm thấy bứt rứt, bất lực…”

“…”

“Tớ sẽ chẳng còn bụng dạ nào mà ăn nói nhẹ nhàng với người khác…”

“…”

“Như ngài Lý Bạch kia, dù có tài năng lai láng, dù có thể xuất khẩu thành thơ tựa như dòng nước suối chảy mãi không ngừng thì cũng…”

“Thì cũng làm sao?”

“Dù có tài năng xuất chúng, nhưng xét về đường công danh, thì ngài Lý Bạch cũng chỉ là kẻ bất phùng thời mà thôi.”

Nói đến đó, Dật Thế liền đưa tay lên gãi đầu.

“Không được rồi, Không Hải. Tớ lại bắt đầu sa vào việc đánh giá con người bằng tài năng, bằng công danh này nọ mất rồi. Ngẫm cho cùng, đời con người ta hạnh phúc hay bất hạnh, đâu phải là thứ có thể đo lường được? Nhưng mà cho dù là thế đi chăng nữa, Không Hải ạ, thì tớ vẫn cứ băn khoăn tự hỏi: ngài Lý Bạch, Huyền Tông hoàng đế và Quý phi liệu có hạnh phúc hay không…”

“Cậu quả là một anh chàng thật thà, Dật Thế ạ.”

“Tớ á?”

“Ờ. Thường thì người ta chẳng bao giờ thổ lộ những điều như vậy với người khác.”

“Cậu không phải người khác, Không Hải ạ. Chính vì là cậu nên tớ mới thổ lộ. À mà lúc nãy, Bạch Lạc Thiên nói rằng trong cung đang xảy ra những chuyện kỳ quái phải không?”

“Ừ.”

“Nào là mèo, rồi là ruồi.”

“Dường như có điều gì đó sắp bắt đầu.”

“Điều gì?”

“Cái điều vẫn chưa kết thúc năm mươi năm trước.”

Không Hải nói.

“Đã hơn năm mươi năm mà vẫn chưa kết thúc?”

“Ừ.”

“Huyền Tông hoàng đế cũng đã chết, ngài Triều Hành cũng đã chết, ngài Cao Lực Sĩ cũng đã chết, ngài Lý Bạch, Hoàng Hạc, rồi Quý phi cũng đã chết, mà tại sao lại bảo là chưa kết thúc hả Không Hải?”

“Con người…”

“Con người?”

“Nói thế nào được, Dật Thế nhỉ?”

“Người đang hỏi là tớ, Không Hải ạ…”

“Oán hận, thù ghét, hoặc hơn thế nữa…”

“Hơn thế nữa là cái gì?”

“Con người.”

“Con người?”

“Ờ, rốt cuộc là con người.”

“Con người là sao, tớ chả hiểu.”

“Là niệm tưởng.”

“Niệm tưởng?”

“Niệm tưởng chính là con người.”

“Nếu niệm tưởng là con người thì biết bao giờ mới kết thúc?” Dật Thế nói.

“Cậu vừa nói sao, Dật Thế?”

“Tớ nói rằng, nếu niệm tưởng là con người thì chừng nào còn con người, chừng ấy niệm tưởng còn chưa chấm dứt.”

“Chính xác là như vậy, Dật Thế.”

“Mặc cho ai đó chết đi, rồi ai đó sinh ra, thì niệm tưởng vẫn còn mãi cùng con người mà chẳng bao giờ chấm dứt, dẫu có hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn năm trôi qua.”

“Dật Thế, cậu cừ lắm!”

“Cừ cái gì cơ?”

“Cái điều cậu vừa nói.”

“Rằng niệm tưởng sẽ không bao giờ chấm dứt ấy hả?”

“Đúng vậy.”

“Được cậu khen tớ rất vui, nhưng đó chẳng phải là lẽ tất nhiên sao?”

“Nhưng không phải ai cũng hiểu được cái lẽ tất nhiên ấy.”

“Chỉ vậy thôi à?”

“Chỉ vậy thôi.”

“Thế rồi sao?”

“Thế nên mới có Phật pháp.”

“Phật pháp?”

“Chính vì thế nên mới có Phật pháp, mới có Mật.”

“Mật?”

“Tức là Mật giáo đó. Và vì nó mà tớ đây mới phải lặn lội sang Trường An này.”

“Hừm.”

“Phật pháp nói rằng, mọi thứ trên đời này thảy đều là không.”

“Không?”

“Phải.”

“Nghĩa là không có cái gì á?”

“Không, không phải vậy.”

“Thế thì là cái gì?”

“Biết giải thích với cậu thế nào bây giờ?”

“Cậu vừa nói tất cả đều là không.”

“Ừ.”

“Tức là, cái sàn nhà tớ đang nhìn thấy lúc này, khu vườn tớ đang nom thấy ngoài kia, những cây thông mọc trong vườn, những bông mẫu đơn đang nở, tất cả đều là không?”

“Đúng vậy.”

“Thế còn cậu thì sao?”

“Tớ cũng là không.”

“Tớ, Quất Dật Thế này, chính bản thân tớ đây, cũng là không?”

“Là không.”

“Tớ là không?”

“Nghe này, Dật Thế.”

“Ừ.”

“Cậu là ai?”

“Cậu nói gì vậy, Không Hải, tớ là Quất Dật Thế chứ ai?”

“Vậy Quất Dật Thế ở đâu?”

“Ở đây, ngay trước mắt cậu chứ đâu.”

“Vậy đôi mắt mà tớ nhìn thấy có phải Quất Dật Thế không?”

“Không phải.”

“Vậy cái mũi có phải Quất Dật Thế không?”

“Không phải.”

“Vậy cái miệng có phải Quất Dật Thế không?”

“Không phải. Cái miệng không phải Quất Dật Thế.”

“Vậy đôi tai có phải không?”

“Không phải.”

“Vậy đôi má có phải không? Cái trán có phải không? Bộ óc có phải không?”

“Không phải. Những cái ấy đều không phải Quất Dật Thế.”

“Vậy thân mình có phải Quất Dật Thế không?”

“Không phải.”

“Vậy hai cánh tay có phải Quất Dật Thế không?”

“Không, cánh tay là cánh tay. Cánh tay không phải Quất Dật Thế.”

“Vậy đôi chân có phải Quất Dật Thế không?”

“Không phải.”

“Nếu vậy, tớ sẽ lấy mất hai cánh tay của cậu. Thứ còn lại sau khi mất đi hai cánh tay là ai?”

“Là tớ, Quất Dật Thế.”

“Vậy sau khi lấy đi hai cánh tay, tớ lấy tiếp đôi chân thì sao?”

“Khi ấy thứ còn lại vẫn là tớ, Quất Dật Thế này.”

“Vậy tớ sẽ lấy đi mọi thứ mà cậu vừa nói rằng đó không phải Quất Dật Thế.”

“Mọi thứ?”

“Tớ vừa lấy đi hai cánh tay và đôi chân. Giờ tớ sẽ lấy đi thân mình. Tiếp theo tớ lấy đi đôi mắt. Kế đến là mũi. Tớ lấy đi miệng, mũi, óc. Khi ấy sẽ còn lại cái gì? Còn lại Quất Dật Thế không?”

“Thế thì còn lại cái gì nữa chứ!”

“Cậu thấy buồn cười chưa?”

“Buồn cười cái gì?”

“Vừa rồi tớ chỉ lấy đi những thứ mà cậu bảo đó không phải Quất Dật Thế. Vậy mà tại sao cậu lại biến mất?”

“Tớ không biết.”

“Ấy đấy chính là không.”

“Cậu nói sao!?”

“Vậy để tớ hỏi cậu câu nữa.”

“Ừ.”

“Mắt, tai, miệng, mũi, óc, thân mình, tay, chân, tất cả đều ở đó. Vậy chúng có phải Quất Dật Thế không?”

“Ờ, phải.”

“Vậy nếu đó là xác chết thì sao?”

“Cậu bảo sao!?”

“Mắt, tai, miệng, mũi, óc, thân mình, tay, chân của Quất Dật Thế đều ở đó. Nhưng nếu chúng chỉ là một cái xác chết thì sao. Xác chết của Quất Dật Thế có phải Quất Dật Thế không?” Không Hải hỏi.

“Ư hừm.” Dật Thế gằn giọng. “Vì tớ là một nhà Nho.”

“Nhà Nho thì sao?”

“Với nhà Nho thì câu trả lời chỉ có một. Xác chết của Quất Dật Thế không phải là Quất Dật Thế.”

“Đấy chính là không.”

“Không?”

“Vậy tớ lại hỏi cậu tiếp.”

“Lại hỏi nữa?”

“Vậy Quất Dật Thế là gì? Rốt cuộc, người ta vin vào cái gì để gọi cậu là Quất Dật Thế?”

“Hừm.”

“Sao nào?”

“Ư hừm.”

“Sao?”

“Nói đi Không Hải. Cậu hỏi tớ vì cậu biết câu trả lời rồi đúng không. Vậy thì nói luôn ra đi.”

“Là linh hồn.”

“Linh hồn?”

“Phải. Người ta gọi linh hồn của cậu là Quất Dật Thế. Quất Dật Thế tức là linh hồn của cậu.”

“Ừ… ừm.”

“Nhưng Dật Thế này, giả sử rằng cậu chính là cái linh hồn có tên Quất Dật Thế, vậy thì cậu có thể tỏ cho người khác biết rằng, chỉ có linh hồn này, chứ không phải cái gì khác, mới chính là Quất Dật Thế, được không?”

“Ch… chịu.”

“Đúng thế. Ở nghĩa này, cậu cũng giống như là cái đẹp, là nỗi buồn, hay là niềm vui vậy.”

“Cậu nói cái quái quỷ gì thế, Không Hải?”

“Chẳng có gì quái quỷ cả.”

“Giờ thì tớ thấy rối tinh rối mù cả lên rồi.”

“Nghe này, Dật Thế, giả sử trong lúc ngắm hoàng hôn, cậu nghĩ đẹp quá, buồn quá.”

“Ừm.”

“Vậy cậu có thể rút riêng cái vẻ đẹp hay nỗi buồn mà cậu cảm thấy ra tỏ cho người khác biết được không?”

“…”

“Sao nào?”

“Ch… chịu.”

“Đúng vậy. Bởi lẽ cả vẻ đẹp lẫn nỗi buồn đều không nằm trong cảnh hoàng hôn, mà nằm trong lòng cậu kìa.”

“Đằng nào mà chẳng giống nhau hả Không Hải. Bởi lẽ, dẫu là nằm ở cảnh hoàng hôn hay ở trong lòng tớ, thì cũng không thể rút riêng nỗi buồn hay vẻ đẹp ra cho người khác xem được.”

“Chẳng phải cậu rất hiểu đấy thôi?”

“Rồi sao nữa?”

“Tuy không thể rút ra được, nhưng chắc chắn cả vẻ đẹp lẫn nỗi buồn đều đang ở đó… Song le, chỉ khi cảnh hoàng hôn và kẻ ngắm nó là cậu cùng tồn tại thì vẻ đẹp và nỗi buồn mới tồn tại. Thiếu cảnh hoàng hôn hay thiếu cậu đều không được.”

Không Hải vừa chăm chú nhìn Dật Thế vừa nói.

❖ 7 ❖

“Điều đó có nghĩa là…” Dật Thế vừa suy nghĩ vừa nói. “Sự tồn tại hay không tồn tại của một thứ cần hội đủ hai yếu tố: thứ đó và sự nảy sinh tâm trạng của người ngắm nó.”

“Ừ.”

“Đối với tớ cũng vậy phải không?”

“Phải.”

“Nghĩa là Quất Dật Thế chỉ có thể tồn tại trên đời này nếu cơ thể, tay, chân, khuôn mặt và giọng nói với tên gọi Quất Dật Thế tồn tại?”

“Đúng là như vậy.”

“Và đấy chính là cái mà Phật pháp gọi là sắc tức thị không ?”

“Nói khác đi, mọi thứ trên đời này đều tồn tại theo cách đó. Cái thực thể là cậu, hay bông hoa tên là mẫu đơn đều tồn tại trên cõi đời này bởi mối quan hệ không thể tách rời giữa không sắc .”

“Hừm.” Dật Thế dường như đang nghĩ ngợi điều gì đó.

“Cậu sao thế?”

“Không Hải à, chẳng phải lúc nãy cậu vừa nói mọi thứ trên đời này đều là không đấy thôi.”

“Ừ, đúng là tớ nói vậy.”

“Vậy niệm tưởng của con người mà chúng ta vừa nói đến thì sao? Những thứ nảy sinh trong tâm trí con người rốt cũng là không ư?”

“Đúng vậy đấy, Dật Thế ạ.”

“Thế còn nỗi buồn thì sao? Nỗi buồn đến xé lòng của con người…”

“Dật Thế này. Sắc nghĩa là tất cả mọi thứ có trong vũ trụ này. Nó không chỉ được dùng để nói về người, bò, ngựa, mẫu đơn, đá, bươm bướm, mây, mưa thôi đâu.”

“…”

“Mà cả những thứ nảy sinh trong tâm trí con người cũng là sắc vậy.”

“Người con trai nhớ thương người con gái. Người con gái nhớ thương người con trai. Đó cũng là sắc vậy.”

“Khi ghét ai cũng vậy sao?”

“Cũng vậy.”

“Nỗi buồn cũng vậy.”

“Nỗi buồn cũng là sắc. Sắc tức là không.”

“Sắc tức thị không à.”

“Vì lẽ đó nên nỗi buồn cũng là không.”

“Nếu vậy, Không Hải à, nếu nỗi buồn là không, vậy nỗi buồn của con người có thể chữa lành được không?” Dật Thế hỏi.

Không Hải nhìn Dật Thế, rồi khẽ lắc đầu.

“Dật Thế ơi, nỗi buồn của con người chẳng bao giờ chữa lành được, dẫu biết rằng bản nhiên của nó là không.”

“…”

“Vậy đấy, Dật Thế ạ.”

“Không Hải, nhưng chẳng phải cậu vừa nói, vì niệm tưởng không dứt nên mới cần đến Phật pháp hay sao?”

“Đúng là tớ nói vậy.”

“Nếu nỗi buồn cũng là một thứ niệm tưởng thì nó phải được chữa lành bằng Phật pháp chứ?”

“Không thể, Dật Thế ạ.”

“Tại sao? Vậy thì Phật pháp bất lực à?”

“Đúng vậy. Phật pháp bất lực.”

“Thế là thế quái nào?”

“Tất cả mọi thứ đều bất lực trước quy luật chi phối vũ trụ này. Phật pháp cũng không phải ngoại lệ. Phật pháp tự nói rằng Phật pháp bất lực. Chính vì vậy mới cần đến Phật pháp.”

“…”

“Phật pháp là quy luật của vũ trụ này, Dật Thế ạ. Quy luật ấy xâu chuỗi, xuyên suốt mọi thứ trên thế giới này ở nơi sâu xa nhất.”

“…”

“Quy luật ấy chỉ có một câu trả lời.”

“Câu trả lời nào?”

“Mọi thứ trên thế giới này đều không ngừng biến chuyển.”

“Biến chuyển.”

“Không ngừng vận động. Bất cứ thứ gì cũng không thể bám trụ mãi trên mặt đất này.”

“…”

“Ví như, hoa có nở, có tàn. Con người không thể trẻ mãi. Con người sẽ già rồi chết đi. Mà không chỉ con người. Sâu bọ, ngựa, chó, cây cối cũng vậy.”

“Tớ cũng vậy?”

“Cậu cũng vậy.”

“Thế còn cậu thì sao, Không Hải?”

“Tớ cũng vậy.”

“Ai cũng vậy, chẳng thể lưu giữ tuổi trẻ trên thân xác mình mãi được.”

“Vậy cái thư án này thì sao?” Dật Thế chỉ vào cái thư án của Không Hải ở trước mặt.

“Thư án cũng vậy.”

“Còn đá sỏi?”

“Đá sỏi cũng vậy.”

“Thế còn núi non thì sao?”

“Ngay cả núi non cũng sẽ không thể mãi là núi non khi đứng trước quy luật này.”

“Vậy trời đất này thì sao?”

“Trời đất cũng vậy.” Không Hải trả lời không lưỡng lự. “Ngay cả trời đất này cũng không thể là nó mãi.”

“…”

“Con người già đi. Núi non, trời đất cũng già đi. Biến chuyển không ngừng. Con người tưởng rằng núi non và trời đất trường tồn là bởi, quãng thời gian sống trên đời của người và của núi non, trời đất khác nhau. Núi non và trời đất tồn tại trong một kích thước thời gian lớn gấp nhiều lần so với con người. Vì thế mà, con người không thể đo lường được núi non và trời đất bằng thước đo của mình.”

“…”

“Dật Thế ơi, ngay cả đức Phật cũng không phải ngoại lệ khi đứng trước quy luật này.”

“Sao lại thế được…”

“Chẳng phải đức Thích Ca cũng già rồi chết đấy thôi. Ngay cả đức Phật cũng không thoát khỏi số mệnh này.”

“Vậy thì Phật pháp rốt cuộc là cái gì, Không Hải?”

“Ngay cả đức Thích Ca cũng già rồi chết, ấy là Phật pháp vậy.” Không Hải nói, giọng hào hứng. “Nghe này, Dật Thế. Không phải biết được Phật pháp, tức quy luật của trời đất này, thì con người sẽ sống lâu mãi mãi.”

“…”

“Nó cũng giống như vậy đó.”

“Cái gì cũng giống như vậy cơ?”

“Thì cái nỗi buồn mà cậu nói đến đó.”

“À.”

“Nói cách khác, không phải biết được rằng nỗi buồn là không thì nỗi buồn sẽ được chữa lành đâu, Dật Thế ạ…”

“Nghĩa là sao?”

“Con người rồi sẽ già và chết đi. Chẳng gì có thể bám trụ mãi trên mặt đất này. Nỗi buồn cũng không vì biết được quy luật của trời đất mà biến mất. Nhưng nhờ hiểu rõ được điều ấy mà…”

“Mà sao?”

“Con người có thể đứng vững được trước nỗi buồn.”

“…”

“Con người có thể chấp nhận nỗi buồn như một kẻ đồng hành.”

“…”

“Dật Thế ạ, cậu có thể yên tâm. Vì ngay cả nỗi buồn cũng không kéo dài mãi. Biết được điều này, con người sẽ có thể đứng dậy cùng với nỗi buồn.”

“…”

“Chỉ có điều, Dật Thế ạ…”

“Điều gì?”

“Trong một vài trường họp, nỗi buồn lại kéo dài hơn cả cuộc đời một con người…”

“Cậu đang nói đến chuyện gì?”

“Đến chuyện của Quý phi.”

“Chuyện gì của Quý phi?”

“Dù Quý phi có sống đến trăm năm hay nghìn năm, thì nỗi buồn Quý phi mang trong lòng sẽ theo cùng bà ấy đến hết đời.”

“…”

“Con người không thể sống ngang bằng với chiều kích của núi non.”

“Ý cậu là sao?”

“Rốt cuộc thì con người chỉ có thể sống trong chiều kích của mình. Con người sinh ra, rồi chết đi trong chiều kích của con người, hay nói cách khác là quy luật của con người, chứ không phải Phật pháp.”

“…”

“Nghĩa là, vì như thế nên mới có Mật pháp.”

“Mật pháp?”

“Ừ. Giáo lý của Mật pháp mà tớ phải lặn lội sang Đường để cầu tìm chính là thứ giáo lý dạy người ta cách vận dụng Phật pháp, tức là quy luật của vũ trụ, trong chiều kích của con người.”

“E hèm.”

Chẳng biết nói gì, Dật Thế chỉ còn biết gật đầu trước lời Không Hải.

Đúng lúc Dật Thế mở miệng định nói điều gì đó thì bên ngoài có tiếng gọi.

“Thầy Không Hải…”

Là giọng Đại Hầu.

“Việc gì thế?” Không Hải đáp lại.

“Có khách đến tìm thầy.” Đại Hầu nói.

“Vị nào thế?”

“Là ông Lưu Vũ Tích ở chỗ Liễu Tông Nguyên tiên sinh.”

“Ồ.”

“Ông ấy nói có mang theo thư của Liễu tiên sinh.”

“Vậy mau đưa ông ấy vào đây.” Không Hải nói.

❖ 8 ❖

Lưu Vũ Tích bặm môi như đang tức giận gì đó. Ông ta ngồi trước mặt Không Hải và Dật Thế với vẻ mặt khó đăm đăm. Sắc mặt không được khỏe. Bọng mắt thâm quầng, mái tóc bung ra lòa xòa trước trán.

Liếc qua cũng có thể nhận thấy vẻ tiều tụy ấy, nhưng riêng đôi mắt đang nhìn thẳng vào Không Hải thì vẫn sáng quắc.

“Nom ông không được khỏe.” Không Hải gợi chuyện.

“Tôi không ngủ được mấy.” Lưu Vũ Tích đáp lời.

“Liễu tiên sinh chắc cũng bận rộn lắm phải không?”

“Vâng.”

“Vương Thúc Văn tiên sinh hẳn cũng vất vả vì có nhiều chuyện xảy ra ở trong cung.”

Không Hải nói như thế để tỏ ý động viên Liễu Tông Nguyên và Lưu Vũ Tích, những người đang làm việc dưới trướng Vương Thúc Văn, vì biết rằng họ đang quay cuồng với những chuyện xảy ra.

“Thầy Không Hải, thầy đã biết những việc đang xảy ra trong cung phải không?”

“Nếu là việc đàn ruồi hoặc con mèo quấy rầy hoàng đế thì tôi có nghe…”

“Chính là việc ấy.”

“Hòa thượng Huệ Quả ở Thanh Long Tự cũng đã ra mặt phải không?”

“Nếu đã biết đến đó, hẳn thầy đã đoán được tình cảnh mà chúng tôi đang đối mặt.”

“Tôi đoán là rất cam go. Nếu cùng một lúc phải dùng tay trái và tay phải, mắt trái và mắt phải cho hai việc khác nhau thì không thể chu toàn cả hai được.”

“Đúng như thầy nói. Lúc này chúng tôi không có nhiều thời gian. Chẳng biết còn lại bao nhiêu thời gian nữa…”

“Ý ông nói là thời gian còn lại cho hoàng đế phải không?”

Nghe Không Hải nói đến đó, Lưu Vũ Tích tỏ ra kinh ngạc, nín thở nhìn xung quanh.

“Kìa thầy Không Hải, thầy chớ nói những điều khinh suất như vậy. Thầy nói đúng, nhưng biết đâu lại có tai vách mạch rừng.”

“Sức khỏe của Thuận Tông hoàng đế đã kém lắm rồi phải không?”

Lưu Vũ Tích không đáp lại câu hỏi của Không Hải bằng lời, mà chỉ đồng tình bằng ánh mắt.

Sau khi Đức Tông hoàng đế băng hà, người kế vị là Lý Tụng. Lý Tụng lên ngôi lấy tên là Thuận Tông.

Người được Thuận Tông cực kỳ sủng ái chính là kỳ thủ cờ vây Vương Thúc Văn. Điều mà Vương Thúc Văn đang làm lúc này là cải cách triều đình nhà Đường. Bãi bỏ chế độ cung thị, biếm chức Lý Thực, đuổi cổ phần lớn bọn ngũ phường tiểu nhi. Vương Thúc Văn làm được điều này chính là nhờ Thuận Tông kế ngôi Đức Tông. Nhưng Thuận Tông lại đổ bệnh từ trước khi trở thành hoàng đế. Đó là chứng xuất huyết não. Bán thân bất toại, thể trạng yếu ớt. Dù trở thành hoàng đế, nhưng chẳng biết sự sống còn duy trì được bao nhiêu năm nữa.

Nếu thời gian cho phép thì công cuộc cải cách sẽ tạo được một nền móng vững chắc, Vương Thúc Văn cũng có thể gây dựng được một vị trí như bàn thạch. Tuy nhiên, hoàng đế có bệnh, mệnh chẳng còn dài. Thời gian cho cuộc cải cách ấy liệu còn được bao lâu nữa?

Đã thế, lúc này lại có bao nhiêu chuyện rối ren xảy ra xung quanh Thuận Tông. Dường như có kẻ nào đó đang dùng bùa chú hòng rút ngắn sự sống của Thuận Tông hoàng đế.

Vương Thúc Văn vốn dĩ đã bận bịu với cuộc cải cách do mình khởi xướng, nay lại càng bận hơn vì phải đối phó với vấn đề bùa chú nhắm vào Thuận Tông hoàng đế, thành ra những kẻ dưới trướng như Liễu Tông Nguyên, Lưu Vũ Tích, Hàn Dũ cũng phải căng mình ra mà lo liệu công việc.

“Tôi vẫn chưa được biết mục đích hôm nay ông đến đây.” Không Hải nói tiếp. “Ông nói rằng có đem theo thư của Liễu tiên sinh?”

“Vâng.” Lưu Vũ Tích gật đầu, lấy trong bọc áo ra một bức thư. “Nó đây.”

Không Hải đón lấy bức thư mà Lưu Vũ Tích vừa chìa ra.

“Thư này Liễu tiên sinh mới viết hôm qua. Tiên sinh đòi tôi hôm nay mang cho thầy đọc rồi đem hồi âm của thầy về.”

“Tôi hiểu rồi.”

Không Hải mở bức thư ra, bắt đầu đọc.

Lưu Vũ Tích im lặng nhìn Không Hải đọc.

Đọc xong, Không Hải ngẩng mặt lên, gật đầu nói: “Tôi hiểu rồi.”

“Ông hãy nói lại với Liễu tiên sinh là tôi đồng ý.”

“Vậy thì may mắn quá.”

“Buổi tối sau đây bảy ngày đúng không?”

“Vâng. Đúng như thầy Không Hải có nói, hiện nay Liễu tiên sinh đang rất bận rộn, tiên sinh chỉ có thể thu xếp được thời gian vào buổi tối sau bảy ngày nữa.”

“Tôi định sẽ đi cùng với Quất Dật Thế bạn tôi đây, việc đó không hề gì chứ?”

“Tất nhiên không hề gì thưa thầy.” Lưu Vũ Tích gật đầu. “Vậy cáo phép thầy.”

Lưu Vũ Tích nhổm dậy tỏ ý rằng việc đến đây đã xong. Sau đó kính cẩn cúi đầu rồi nhanh chóng đi khuất.

❖ 9 ❖

“Này Không Hải, rốt cuộc là có chuyện gì vậy?” Dật Thế hỏi.

“Thư của Liễu tiên sinh ở đó, cậu hãy đọc thử đi.”

Nghe Không Hải nói vậy, Dật Thế liền cầm lấy bức thư đặt trên bàn.

“Tớ đọc nhé.”

“Ừ.”

Chờ Không Hải gật đầu xong, Dật Thế mới yên tâm mở bức thư ra.

Bức thư không dài. Chẳng mấy chốc mà Dật Thế đã đọc xong.

Dật Thế ngẩng đầu lên nói: “Chẳng phải đang nói về bức thư thứ hai mà bà Bạch Linh từng giữ hay sao?”

“Đúng vậy.”

“Bức thư từng do thân mẫu Liễu tiên sinh cất giữ nay đã không còn. Hơn thế nữa, phải rồi hơn thế nữa, đó không phải bức thư do ngài Triều Hành viết, mà là của… của…”

“Ngài Cao Lực Sĩ viết cho ngài Triều Hành.”

“Hơn thế nữa, bức thư ấy không phải bị thất lạc hay bị đánh cắp, mà được người khác mua lại…”

“Người mua lại nó là…”

“Hòa thượng Huệ Quả ở Thanh Long Tự…”

“Đúng vậy.”

“Ông ta nói muốn gặp cậu sau bảy ngày nữa, mục đích đương nhiên là vì chuyện này đúng không?”

“Chắc là vậy.”

“Nhưng rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra hả Không Hải?”

“Tớ cũng chẳng biết.”

“Vậy phải làm sao?”

“Tất cả phải chờ đến buổi tối sau đây bảy ngày nữa.”

“Nhưng tớ đang hỏi ta phải làm sao cho tới lúc đó?”

“Hãy cứ làm những việc cần phải làm cho tới lúc đó mà thôi.”

“Những việc cần phải làm?”

“Tiếng Phạn này.”

“…”

“Nếu không tranh thủ học tiếng Phạn trước đi thì sẽ chẳng làm được gì. Còn một việc nữa là viết thư.”

“Viết thư? Cho ai?”

“Thanh Long Tự.”

“Cho Huệ Quả A-xà-lê á?”

“Cho Phụng Minh.”

“Cho Phụng Minh?”

“Đã đến lúc tớ phải gặp Huệ Quả A-xà-lê rồi. Nhưng ngay bây giờ thì chưa được, vì hẳn là hòa thượng đang rất bận. Nên tớ muốn viết thư để dạm hỏi Phụng Minh xem khi nào thì thích hợp.”

“…”

“Nếu là Phụng Minh, cậu ta sẽ đoán ra ý tớ và báo cho tớ biết nội tình của Thanh Long Tự. Đồng thời sẽ dò hỏi giúp tớ xem thời điểm nào là thích hợp, mặc dù cậu ta đã nói trước với Huệ Quả A-xà-lê rằng sẽ có Không Hải từ Oa quốc tới.”

“Ừm.”

“Mặc dù chưa thể đến gặp Huệ Quả A-xà-lê ngay vì ngài còn vướng bận việc trong cung. Nhưng về phần mình, tớ cũng không thể đủng đỉnh được.”

“Ý cậu là sao?”

“Nếu Huệ Quả A-xà-lê xuất đầu lộ diện trong vụ việc lần này thì chưa biết chừng, mệnh ngài không giữ được bao lâu.”

“Không phải Thuận Tông hoàng đế mà là Huệ Quả A-xà-lê sao?”

“Phải.”

“Vì sao?”

“Tớ nghe nói, sức khỏe của hòa thượng hiện đang không được tốt. Nếu phải thi triển pháp thuật trong tình trạng đó, sẽ rất tổn hại cho cơ thể.”

“…”

“Vả lại, nếu hòa thưọng có mệnh hệ gì thì sẽ rất gay go cho việc thỉnh Mật của tớ.”

“Hừm.”

“Có khi tớ còn phải nhờ Liễu tiên sinh nói đỡ cho vài lời về việc bức thư ấy nữa.”

“Bức thư nào?”

“Bức mà ngài Triều Hành viết cho ngài Lý Bạch ấy. Chưa biết chừng, chính miệng Liễu tiên sinh đã nói ra rồi cũng nên.”

“…”

“Mà thôi Dật Thế ạ, như tớ nói lúc nãy, đây là lúc mà chúng ta phải làm việc của mình.”

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của baku yumemakura