Sài Gòn, Chuyện Đời Của Phố Tập 1

Lượt đọc: 2756 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tranh Gốm Ở Chợ Bến Thành

Năm 1953, trận lũ năm Thìn diễn ra dữ dội, nước lênh láng khắp nơi. Ba tôi đang phụ trách lớp xóa nạn mù chữ ở Biên Hòa cố hoàn tất xong việc dạy dỗ rồi về Sài Gòn. Ông xin vào làm thư ký hiệu buôn của một người Hoa gốc Quảng Đông, chuyên kinh doanh hàng nữ trang xi mạ ở chợ Bến Thành. Lúc đó, cuộc sống đang ổn định, dân Sài Gòn và lục tỉnh thích sửa soạn trang điểm, đồ xi mạ vàng chóe lấp lánh với giá vừa phải là sự chọn lựa khôn ngoan của họ.

Ba tôi kể lại, cuộc sống của ông khi đó đang lên phơi phới. Công việc ổn định, lương cao, chủ ưu đãi hậu hỉ, miễn là nhân viên làm ăn trung thực và kỹ lưỡng. Ông mua ngay một chiếc xe gắn máy hiệu Sachs của Đức, thay cho chiếc xe đạp đi lại hàng ngày. Chợ Bến Thành vừa mới chỉnh trang lại. Mặt tiền tháp đồng hồ ở cửa Bắc vẫn còn đó, nhưng dãy mái ngói nhấp nhô phía trước ở hai bên tháp đồng hồ trong ảnh đã được che chắn bằng các dãy tường dài, một bức cao nhất ở giữa và hai bức thấp hơn ở hai bên. Mỗi mặt chợ ngó ra bốn hướng đông tây nam bắc. Trên ba bức tường mỗi mặt chợ đều có những bức tranh gốm rất đẹp bao gồm bức tranh lớn cao khoảng hai mét, ngang một mét rưỡi. Hai bức nhỏ hai bên có kích cỡ bằng phân nửa bức lớn.

97
98
99

Ảnh: Nguyễn Đình

Khách đến chợ Bến Thành, vốn là chợ trung ương phân phối sỉ và lẻ, khá tất bật. Họ đưa hàng từ các tỉnh về bỏ mối và lấy hàng về phân phối. Phụ nữ đến chợ mua sắm, ăn chè và bún tôm càng, làm móng tay, se lông mặt.

Những ngày trước Tết chợ đông khủng khiếp, gian hàng từ trong chợ tràn ra các kiosk phía ngoài. Không mấy ai để ý những bức tranh gốm đẹp đẽ trên cao ở bốn mặt tiền. Riêng ba tôi, thỉnh thoảng khi hết việc, trước khi lấy xe ra về, đi dạo vòng quanh chợ và ngước mặt lên ngắm những bức tranh. Con bò và con heo nằm dưới đất, con mực và nải chuối, con bò và con ngỗng… những hình ảnh thân thuộc của quê hương Cù lao Phố, do chính những người ở quê hương ông thực hiện sao quá đỗi thân thương. Có khi ông ra quán cóc phía bên đường Tạ Thu Thâu, ngồi ngắm nghía mà nhớ những ngày nước lũ trên sông Đồng Nai. Những bức tranh thân thuộc với cuộc sống hằng ngày của ông, như ngôi chợ nổi tiếng này, suốt một phần tư thế kỷ.

Khi ba còn sống, tôi có mang một bức phù điêu nhỏ và cái bình gốm Biên Hòa về nhà chưng. Ông lấy đôi kính lão dày cộm, xoay cái bình và xem rất kỹ.

Ông kể, khi còn đi làm, ông vẫn thích mua một cái bình gốm Biên Hòa vì mê màu men vàng ngà chuyển sang màu nghệ, và để ngắm những lúc rảnh rỗi. Tuy nó không quá đắt, ông đã không mua cho đến khi bao biến động xảy ra năm 1978, ông chủ người Hoa phải ra đi và ông nghỉ việc.

100

Ông Lê Văn Mậu (đeo kính, góc trái), tác giả vẽ mẫu cho những bức phù điêu gốm chợ Bến Thành. Ảnh: tư liệu của Nguyễn Minh Anh

101
102
103

Ảnh: Nguyễn Đình

Gốm mỹ nghệ Biên Hòa vào nhà tôi bằng cách như vậy. Cách nay hơn mười năm, khi còn lang thang dạo chơi chợ đồ cổ Lê Công Kiều trong những ngày cuối tuần, tôi biết đồ gốm Biên Hòa với màu sắc đa dạng chỉ thu hút mạnh những người Việt ra chợ nhằm tìm đồ nội thất đẹp mắt, và người Pháp đang sống ở Việt Nam, thích trang trí nhà theo phong cách thuộc địa.

Khi có một số bài báo viết sâu về giá trị dòng đồ này và trưng ra những món đẹp nhất, giới chơi đồ cổ đã bất ngờ. Lâu nay, họ bỏ lửng một dòng gốm mỹ thuật mà từ năm 1925 đã được trường Mỹ nghệ Biên Hòa, cái nôi của nó đưa đi tham dự hội chợ triển lãm quốc tế về mĩ thuật trang trí và công nghệ hiện đại tại Paris. Các loại bình trang trí đẹp mắt, các tượng gốm với nhiều kiểu dáng khác nhau của trường Mỹ nghệ Biên Hòa đã thu hút rất nhiều khách tham quan và được ban tổ chức khen ngợi, tặng huy chương vàng. Qua ba kỳ tham dự triển lãm, trường đã nổi danh trong và ngoài nước. Các hội chợ triển lãm quốc tế sau này đều mời nhà trường tham gia như: Indonesia (1934), Nhật và Pháp (1937), Réunion và Hà Nội (1938), Sài Gòn (1942).

Và bây giờ, tôi không ngạc nhiên khi dòng gốm này được săn lùng, nhất là những tác phẩm của thập kỷ 1960 đổ về trước. Giới chơi cổ vật từ Nam ra Bắc không ngại sưu tầm cả những món sản xuất ở thập niên 1990, kể cả khi nó bị lỗi lò, bung men. Một dòng gốm bền, tạo hình đẹp và mẫu mã có tính mỹ thuật rất cao. Nó xứng đáng có mặt trên bốn mặt tiền của ngôi chợ lớn nhất và nổi tiếng nhất Sài Gòn, mà thế giới có nhiều người biết đến.

104

Ảnh: Nguyễn Đình

105

Bình gốm Biên Hòa

106

Phương Đông Trên Chiếc Dĩa Tây

Cách nay 84 năm, một người Pháp sống ở Huế, ông H. Peyssonneaux vốn là nhà sưu tầm nghiệp dư đã cố lý giải về niềm đam mê của một nhà sưu tầm cổ vật trên một Tạp chí bằng tiếng Pháp xuất bản tại Huế thời đó. Ông tư lự “Vấn đề khá phức tạp. Ngày nọ bị lôi cuốn bởi một dịp may, hoặc bởi tin đó là vận may, người ta đã mua một đồ vật… để lấp vào chỗ trống trong nhà khi trang hoàng. Người ta cũng nhận thấy một cái bình, tấm lụa, bức tranh nào đó mua theo cách vừa nói thật sự ứng phó được với yêu cầu thẩm mỹ nội thất, trông đẹp mắt… Người ta ước mong mua được một đồ cổ mới. Rồi hai, ba, rồi mười, phó mặc may rủi… người ta tập tành được thói quen mua và trở thành một con người hăng say mua đồ cổ…” ( Những người bạn cố đô Huế - NXB Thuận Hoá, 2001)

Có lẽ tất cả những nhà sưu tầm nghiệp dư hay chuyên nghiệp đều nhận ra chính mình khi đọc những dòng chữ trên. Và tôi nhớ lại thuở mình mới bắt đầu đam mê thú chơi này. Tôi cảm thấy mình đi qua được một chặng đường và thu lượm được nhiều điều lý thú thông qua một bộ sưu tập nhỏ, những cái dĩa gốm phương Tây, xuất hiện tại Việt Nam vào khoảng nửa sau thế kỷ 19. Những chiếc dĩa với cốt xốp, họa tiết in rập xuất hiện nhiều trong các gia đình tầng lớp trên ở Sài Gòn và các tỉnh Nam bộ thời Pháp thuộc.

Rõ ràng, sưu tầm không chỉ là một thú chơi hay một cách đầu tư tiền bạc mà qua đó, có những điều thú vị chờ đợi người chơi. Giới sưu tầm cổ vật đã qua nhiều cơn sốt và đợt săn lùng khác nhau. Thời cụ Vương Hồng Sển còn sống, và mãi cho đến sau này, đồ lam Huế do triều đình nhà Nguyễn ký kiểu tại Trung Hoa lúc nào cũng là niềm ao ước và sau này là cạm bẫy cho người chơi kém sành sỏi. Tượng Chăm, bằng vàng hay đá sa thạch là những món độc, được giới sưu tầm nước ngoài đánh giá cao vì vẻ đẹp và là chứng nhân sự tàn lụi của một thời đã qua. Đồ cổ vớt biển ở Cà Mau (thời Ung Chính nhà Thanh), Bình Thuận (nhà Minh), Quảng Nam (nhà Trần, gốm Việt Chu Đậu) dù có số lượng nhiều nhưng những món độc luôn được săn tìm.

Tuy nhiên, gốm sứ phương Tây ở Việt Nam chưa bao giờ là đối tượng săn lùng mạnh. Một cuộc triển lãm cổ vật tư nhân tại Sài Gòn năm 2002 chỉ trưng bày một ít cổ vật phương Tây nghèo nàn.

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TPHCM trước đây có trưng bày một bức bình phong năm lá rất thú vị, trên đó treo 19 cái dĩa gốm cổ phương Tây thuộc dòng này. Ở giữa bình phong là một bình đựng gia vị của giám mục Bá Đa Lộc. Bình phong có tại đây từ trước 1975, nay không biết có còn không?

107

Dĩa gốm cổ phương Tây gắn trên một bức tường lăng Kiên Thái Vương ở kinh đô Huế năm 1885.

Cái dĩa Tây đầu tiên tôi tìm được mang hình ảnh rất phổ biến, người Việt thường gọi Tùng-Đình, phương Tây gọi là Willow Pattern (họa tiết cây liễu). Đó là một phong cảnh hữu tình với tòa lâu đài và tán cây liễu bên bờ sông, một cây cầu bắc ngang dòng sông với người qua lại, xa xa là một tiểu đảo có con thuyền đang đi tới. Tại sao có một bức tranh mà đồ sứ Tàu, đồ sứ Nhật và đồ gốm phương Tây đều thể hiện giống nhau dù in hay vẽ tay?

108

Họa tiết Tùng-Đình trên một chiếc dĩa Tây

Khi tra cứu, nó trình bày một truyền thuyết xưa, tóm tắt như vầy “Ngày xưa, khi Trung Quốc còn được cai trị bởi những vị hoàng đế, một viên quan tên là Tso Ling, sống trong lâu đài nguy nga, nằm bên một cây cầu. Phía trên cầu rủ xuống những cành liễu, Tso Ling là cha của một thiếu nữ đẹp, Kwang-se, và đã hứa gả nàng cho một thương gia giàu có. Thế nhưng cô gái lại đem lòng yêu Chang, viên thư lại của cha nàng. Đôi tình nhân trốn đi, vượt biển để đến một ngôi nhà tranh trên đảo vắng. Người cha giận dữ truy bắt và giết họ, thượng đế thương tình biến hai người thành đôi chim bồ câu.” Bạn có thể nhìn thấy đôi chim đang nhìn vào mắt nhau ở phía trên hình vẽ trong chiếc đĩa. Một bài thơ dài của Anh viết về họa tiết này có những câu như sau:

“Trên chiếc dĩa bình thường bạn thấy đôi chim câu. Bay cao trên bầu trời. Đó là linh hồn của Chang và Kwang-se. Được kết giao mãi mãi trong tình yêu" . Người ta cho rằng có vẻ như câu chuyện này sinh ra từ họa tiết nhiều hơn là ngược lại. Dù trên thực tế thì 9/10 câu chuyện đời Thanh có sự xuất hiện của một ông quan xấu và một cô gái đẹp.

109

Đến chiếc dĩa thứ hai, tôi bất ngờ nhận ra nó cùng loại với chiếc dĩa Anh mà ông H. Peyssonneaux có nhắc tới. Dĩa thể hiện phong cảnh người chèo đò bên bờ sông, trên sông là một ghe nhỏ có hai người, tiếp theo là cây cầu, một bãi cỏ với cừu đang gặm cỏ, phía sau là các tòa nhà. Dĩa có nhãn hiệu W.Adams.

Đến giờ, các lái đồ cổ thỉnh thoảng xuất hiện ở phố đồ cổ Lê Công Kiều, trong túi là những chiếc dĩa rất già men hiệ u Wild Rose Cochran Glasgow, Staffordshire, Ridway... Và chúng ta không khỏi thắc mắc vì sao đồ gốm phương Tây, nhất là đồ Anh lại xuất hiện nhiều như vậy ở Việt Nam? Theo tác giả trên, đầu thế kỷ 19 đã có sự du nhập quan trọng các hàng hóa Tây phương nói chung, hàng hoá Anh quốc nói riêng vào các cửa biển Trung Hoa, Siam, Ấn Độ, và từ các cửa biển này, hàng hóa đã đi vào Annam bằng những con đường khác nhau… Hoàng đế Đại Nam với số tiền lớn đã ra lệnh mua tại Batavia (nay là Jakarta) nhiều đồ vật sang trọng và cầu kỳ… mỗi khi ghe thuyền của vua từ các hải cảng Trung Hoa hay Ấn Độ trở về đều có mang theo các đồ gốm của người Anh.

Ở một đoạn khác, ông cho biết “Các đồ gốm này xuất phát từ các nhà sản xuất của nước Anh được mang sang bán tại Á Châu, cho các nước Ấn Độ, nước Trung Hoa đã gây yêu thích đối với các quan Annam chỉ huy thuyền bè và các người Annam đại diện chuyên chở hàng hóa khi các người đã trông thấy được nó tại các hải cảng Bangkok, Quảng Đông, Thsiouen, Singapour, Batavia…”

Và đó là câu trả lời vì sao họa tiết được in chuyển họa (transfer printed) trên những cái dĩa chúng tôi có lại đa dạng và thật lý thú. Bạn có thể thấy những con rồng được họa sĩ vẽ rất kỳ cục với mỏ đại bàng, đầu lưỡi hình mũi tên. Những con long mã lắp ghép thô thiển với bốn chân khác nhau của giống hươu, ngựa, hổ và… hạc, thân hình thì phần trước có vẩy, phần sau là lông mịn. Những con phượng hoàng trông buồn cười với đầu gà, đuôi ngắn ngủn loe hoe vài sợi lông.

Những chiếc dĩa khác, không kém thú vị với những thứ trái cây nhiệt đới như sầu riêng, măng cụt, mít. Có cả con bướm to xứ nóng, lá dừa và một cành lá như là lá me. Quày chuối với những trái bám theo nhỏ xíu như lông trên lưng con nhím. Dường như họa sĩ tại các lò gốm ở châu Âu lúc đó đã không có nhiều tư liệu khi vẽ mẫu, đặc biệt là những linh vật chỉ có trong truyền thuyết Á đông.

110
111
112
113
114
115

Với mong muốn được thị trường châu Á chấp nhận, họ đã cố gắng tạo nên những hình tượng trong khả năng vừa phải của mình.

Tuy vậy, các tòa lâu đài lại được vẽ khá chính xác như đền Taj Mahan, Ấn Độ hay một số kiến trúc khác cũng được mô tả khá tỉ mỉ.

Nói chung, ở các họa tiết, hình ảnh đời sống và văn hoá phương Đông thể hiện rất nhiều. Đó là hình tượng người cưỡi voi, người Mãn Thanh có tóc đuôi sam, lâu đài kiểu Trung Hoa, các bảo vật như quạt ba tiêu, bình hoa, cuốn thư, chậu cây trên đôn sứ, cá chép hóa rồng...

116
117
118
119
120
121
122

Ở khía cạnh khác, tôi nhớ đến một cái dĩa của Pháp, trong đó thể hiện Trúc lâm thất hiền (bảy vị hiền minh trong rừng trúc) một hình tượng khá phổ biến trong văn hóa phương Đông. Từ mẫu vẽ của họa sĩ phương Tây cuối thế kỷ 19 thể hiện, cả bảy ông đều… mũi cao, miệng móm, cằm vểnh như các ông Tây thứ thiệt dù bận áo tay dài phương Đông phất phơ.

123

Qua đó, chúng cho ta biết hoạt động ngoại thương ở một khu vực sôi động của thế giới cách nay hơn trăm năm, và những yếu tố khác về mỹ thuật, văn hóa và sự giao thoa giữa hai thế giới Đông - Tây… Và không chỉ thế, hình dáng và công dụng của những chiếc dĩa với đủ hình dạng, hình oval to đủ để đặt một con heo sữa quay, dĩa sâu và trẹt lòng với các kích cỡ khác nhau trong một bộ chén dĩa hoàn chỉnh thể hiện phong cách ẩm thực phương Tây ăn sâu vào đời sống miền Nam và Sài Gòn. Những gia đình sống xa hoa, những buổi tiệc nói toàn tiếng Tây ở Chợ Lớn giữa những người Việt với nhau trong Một tháng ở Nam kỳ của Phạm Quỳnh. Tất cả đã tàn lụi theo năm tháng, chỉ còn lại những chiếc dĩa gốm còn đẹp, màu xanh cobalt rưng rức và trong đường men nứt nẻ còn dư vị những buổi tiệc xa xưa, khi miền Nam còn có tên gọi là Cochinchine.

124

Phải chăng đây chính là cảnh chùa Thiên Mụ ở Huế?

Một Người Sài Gòn Làm Gốm Raku

Cách nay gần 20 năm, khu vực hồ Con Rùa buổi tối còn buồn tẻ, chỉ có một góc đông vui sáng đèn với hai quán mì Vịt tiềm chuyên bán cho giới nghệ sĩ và dân đi chơi đêm ở đường Trần Cao Vân, sát góc Công trường quốc tế. Mùa Sea Games 1995, dân hâm mộ bóng đá chạy rần rần ngang khu vực này, hết mùa, lại vắng lặng từ sau 8 giờ tối.

Khách đi chơi đêm ở Sài Gòn không thể không ngạc nhiên với một gallery nhỏ luôn sáng đèn cho tới chín giờ tại khu vực đó. Phòng tranh mang tên Clay Gallery. Những thứ sang trọng được chưng trong phòng tranh làm từ đất sét nung tráng men óng ánh, rất lạ lẫm trong mắt người Việt. Khách du lịch Tây, Nhật ghé qua, mua vài món đựng trong hộp giấy cứng, ngắm tranh của Hồ Hữu Thủ, Đinh Cường, Nguyễn Lâm… Họ lặng lẽ đứng xem phòng tranh như ở trong một ốc đảo lạc lõng giữa Sài Gòn, chưng một thứ gốm nghệ thuật óng ả và cao giá trong suy nghĩ của những người Việt trung lưu đã từng chưng gốm Biên Hòa hay Thành Lễ trước đó. Khái niệm gốm nghệ thuật còn chưa thịnh hành ở một đất nước vừa thoát khỏi khó khăn.

“Đó là những mơ mộng của tôi khi mới về Việt Nam” - Khưu Đức, chủ nhân Clay gallery và cũng là tác giả của những tác phẩm gốm trong đó - kể lại. Năm 1975, chàng cựu học sinh trường Trang trí mỹ thuật Gia Định rời đất nước và tiếp tục học hai năm ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Bắc Virgnia về Mỹ thuật Thương mại và ngành Gốm. Lúc đó anh không ngờ rằng, sự thích thú với chất liệu đất sét qua lửa nung sẽ đưa anh trở về sống trên quê hương mình.

Trước đó, Khưu Đức đam mê chất liệu sơn mài với gam màu trầm sâu và matière óng ả đầy mê hoặc. Anh cộng tác làm tranh với họa sĩ Nguyễn Văn Minh, người đã làm bức tranh sơn mài lớn Bình Ngô Đại cáo trong dinh Độc Lập, tại phòng tranh của ông ở George Town, Washington D.C. Nhưng ở Mỹ, sơn ta (lacquer) do có độc tố nên bị cấm, họa sĩ Nguyễn Văn Minh muốn có sơn để vẽ phải tìm cách mua từ Nhật. Sau sáu tháng, Khưu Đức đành phải từ bỏ đam mê của mình vì khó khăn đó. Nhận thấy gốm Raku của Nhật với gam màu và matière rất gợi chất liệu sơn mài, anh quyết tâm theo học riêng về bộ môn này. Sau đó, anh hiểu lý do anh chọn gốm Raku không đơn giản như vậy.

Đó là một dòng gốm nổi tiếng của Nhật xuất phát từ Triều Tiên. Có tài liệu ghi nhận rằng Ameya, cha của Raku Chojiro, được cho là người đã giới thiệu kỹ thuật chế tác men tam thái lần đầu tiên tại Nhật Bản. Những món tam thái kiểu Nhật này, tuy vậy, chưa được gọi là Raku. Danh từ này chỉ xuất hiện sau khi Raku Chojiro quen biết với bậc thầy trà đạo Sen Rikyu (1522-1591), và chính ông này đã đề nghị Chojiro làm những chén trà dành riêng cho một nghi lễ thưởng trà do ông làm chủ. Có thể nói, khởi nguồn của gốm Raku là chế tác một chén trà riêng lẻ cho nghi lễ trà đạo. Và kỹ thuật này được lưu truyền gìn giữ trong gia đình Raku, suốt 15 đời làm gốm cho tới nay tại Nhật.

Bên cạnh những tác phẩm đa dạng kiểu dáng, do thấm nhuần tinh thần của gốm Raku hiện đại, Khưu Đức đã thực hiện nhiều ấm trà bằng kỹ thuật này. Dù khởi nguồn của đồ Raku chỉ là chén trà thô mộc, Khưu Đức say mê tạo dáng ấm trà vì bản thân ấm trà đã mang một dáng dấp gợi ý cho sự thư giãn tinh thần, lắng chìm trong suy tưởng. Và cũng vì gốm Raku phản ánh rõ hơn bất cứ loại gốm nào cái tinh thần của wachiba , một thể thức trà đạo do Sen Rikyu chủ trương, trộn lẫn cái “không” của Thiền và cái “có” của Lão.

Trong chế tác ấm trà, Khưu Đức trung thành với kỹ thuật gốm Raku gốc, cho phép anh gửi gắm tâm hồn ý tưởng của mình vào mỗi sản phẩm trong suốt quá trình cho đến thành phẩm cuối cùng một cách xuyên suốt, trực tiếp và riêng biệt. Các ấm trà của anh đa dạng kiểu dáng, phá cách vì không phải mang gánh nặng sử dụng đúng công năng dù là cao cấp, có khi là dáng kim tự tháp, dáng tròn cổ điển như một ấm Nghi Hưng, có khi méo mó đến oằn oại. Matière trên thân gốm là kết quả kỹ thuật hun khói hoặc sốc nhiệt. Và những yếu tố khác dưới bàn tay tài hoa của anh, tạo nên sự độc đáo của Raku hiện đại, vừa mang nét thâm trầm, vừa có ánh kim loại. Cuối cùng, anh hiểu rằng tinh thần thiền của phương Đông mới là điều chính yếu quyến rũ anh, sau gần 20 năm sống ở xã hội phương Tây.

Năm 1992, tác phẩm của anh được nhận cùng lúc Năm giải tuyên dương danh dự từ Hiệp hội Gốm bang Virginia. Từ đó, anh tự tin đi theo con đường mình chọn. Các gallery ở Mỹ từ Virginia, Maryland, Washington D.C quan tâm và mua, trưng bày tác phẩm của anh. Kết hợp với chuyên môn đang làm là trang trí nội thất, anh nhận được nhiều hợp đồng trang trí và dùng gốm Raku như một chất liệu tạo hình tại các nhà hàng, khách sạn lớn… Anh trở thành Hội viên Hội Nghệ thuật Gốm Virginia Hoa Kỳ và ISC (International Sculture Center) từ 1993.

125

Khưu Đức bên cạnh các tác phẩm gốm được giải Tuyên dương danh dự từ Hiệp hội Gốm Virginia năm 1992

Đó là lúc tâm thức quê hương trong anh trỗi dậy. Xuất thân từ một gia đình khá giả, anh có một người cha tha thiết muốn con đi theo con đường công chức như ông, lương cao, sống ổn định và thoải mái. Nhưng con người nghệ sĩ trong anh đã từ chối chuyện đó. Cha anh mất năm 1973 khi Khưu Đức vẫn miệt mài bên giá vẽ.

Năm 1993, khi biết mẹ đã già yếu, anh quyết tâm rời bỏ cuộc sống tiện nghi và đầy thuận lợi cho việc sáng tạo bên Mỹ, về Việt Nam mở phòng tranh Clay, sống chung nhà với ông anh và thường xuyên thăm viếng mẹ già, giờ đã tin là con mình có thể thành đạt theo con đường rất riêng. Thời giờ còn lại, anh ở riết góc sân nhà ông anh, nặn và nung gốm trong cái lò nhỏ.

126

Sài Gòn những năm đầu thập niên 1950, còn thấy tấm bảng cà phê Givral góc đường Bonard và Catinat (nay là Lê Lợi và Đồng Khởi). Anh Khưu Đức còn giữ lại kỷ niệm một chuyến đi chơi cùng ba mẹ khi còn bé thơ.

Tôi biết Khưu Đức từ những ngày đầu tiên anh về Việt Nam hai mươi năm trước. Lúc đó, chúng tôi đi lang thang khắp Sài Gòn trên xe máy, cùng nhau ăn những món ăn của đất Sài Gòn thuở thanh niên của anh: Cơm Bà Cả Đọi ở cái hẻm đường Nguyễn Huệ, tô cháo huyết vỉa hè Lê Lai với ngón tay cô bé bưng cháo luôn cắm vào cháo nóng, và tô hủ tíu Nam Lợi đường Tôn Thất Đạm. Anh nói: “Khi xa Sài Gòn, tôi nhớ nhất là hồi còn trẻ ngồi uống cà phê nhìn lá me bay lất phất như mưa. Và đến giờ vẫn thấy buồn buồn khi hôm nào Sài Gòn có một màu xám trong mùa bão rớt”. Anh mua cái nhà ở gần con kinh có bóng dừa tuốt miệt Gò Vấp, cũng chỉ vì nhớ những ngày lang thang đi vẽ hồi còn trẻ. Ở đó, trong những buổi tối tĩnh lặng, anh chiêm nghiệm rằng hình như mình toàn rời bỏ khi đang lúc sống sung túc nhất, để theo nỗi đam mê nghệ thuật của mình.

“Bây giờ, mỗi khi trở về Mỹ thăm gia đình, tôi lại nhớ Sài Gòn, nhiều nhất không phải là lá me nữa mà là bầu không khí ồn ào, lộn xộn. Nó không làm tôi khó chịu, mà thấy thân thương, không thể chối bỏ”.

Gốm của Khưu Đức giúp anh sống nhẹ nhàng ở Sài Gòn vì chúng luôn nằm trong những gallery của các khách sạn tên tuổi như Caravelle, Sofitel… Mỗi món là một tác phẩm nghệ thuật độc bản có chữ ký và khách chủ yếu là người nước ngoài. Sở hữu một ấm trà Khưu Đức không nhẹ nhàng, điều đó có thể trái với tinh thần Raku. Nhưng rõ ràng nghệ thuật phải có giá của nó.

Raku, là cách người Nhật đọc chữ Lạc, trong tiếng Hán có nghĩa là hạnh phúc. Phải chăng, tinh thần đó đã cuốn hút Khưu Đức từ đầu, như một linh cảm về hạnh phúc mà anh tưởng đã mất từ lúc ra đi qua xứ người?

127
128

Ảnh: PCL

129

Các tác phẩm gốm Raku tại Clay Gallery. Ảnh: PCL

130
131

Những Tờ Nhạc Rời

Sau Tết Mậu Thân 1968, cuộc sống trong cái hẻm nhỏ mà gia đình tôi ở co lại vì lo lắng. Đó là không khí của xóm nghèo trong chiến tranh với đủ thứ lo về chuyện cơm áo, sống chết. Buổi tối trong xóm, không có gì giải trí ngoài giọng ca vọng cổ buồn nẫu ruột trong mấy tuồng cải lương trên radio. Trên nền không khí nặng nề đó, mấy anh em nhà tôi có một niềm vui lớn mà đến hơn bốn chục năm nay còn nhắc lại với nhau. Đó là lúc chị Tư tôi, nữ sinh trường Hoài An gần ngã tư Phú Nhuận mang về một xấp giấy rất dày khổ to, với những bức tranh tuyệt đẹp phía ngoài. Đó là những tờ nhạc rời gấp đôi. Ngoài bìa nhạc có vẽ tranh, bên trong là ca khúc có lời và dòng nhạc. Đây là phần quà của một thầy giáo dạy nhạc, thưởng cho chị Tư khi chị tham gia văn nghệ của trường và có giải.

Anh em tôi xúm lại xem và mừng rỡ thấy có nhiều ca khúc hay lâu nay chỉ nghe trên radio. Đó là những bài như Về bên bếp hồng của Xuân Tiên, Múc ánh trăng vàng của Hoàng Thi Thơ, Bên cầu biên giới của Phạm Duy… Cả mấy anh em nghêu ngao hát theo tiếng đàn guitar của ông anh cả. Kể từ đó, mỗi buổi tối sau giờ học là những giờ phút vui khi tụ lại hát hò, kể cả những đêm cả xóm cúp điện.

Những tờ nhạc này hấp dẫn hơn nữa khi Nhà xuất bản chọn một bức tranh đẹp vẽ theo nội dung lời hát để in ngoài bìa. Những bản nhạc xưa của nhà xuất bản Tinh Hoa - Huế do họa sĩ Phi Hùng vẽ, bút pháp hiện thực bằng màu nước in một màu rất mềm mại. Những bản nhạc ra sau này của nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam, An Phú có bìa từ tranh của họa sĩ Duy Liêm, là những bức tranh lập thể tuyệt đẹp in bốn màu. Sau nữa là tranh của họa sĩ Kha Thùy Châu…

Gia đình tôi vẫn còn giữ được những tờ nhạc rời này, vượt qua bao lần dọn nhà, xây nhà. Những tờ nhạc như một kỷ niệm đẹp, giúp tôi với tuổi lên tám lần đầu được tập hát nhạc hay, ngắm được những bức tranh đẹp, như những bài học cảm nhận nghệ thuật đầu tiên của cuộc đời.

132

Họa Sĩ Của Đại Chúng

Sài Gòn có nhiều họa sĩ tên tuổi được báo chí nhắc đến, nhất là từ thập niên 60 trở về sau. Tranh của họ hiện diện trong các cuộc triển lãm sang trọng, các phòng khách lộng lẫy. Nhưng trong cuộc sống đời thường, có lẽ số người biết và thích tranh của Duy Liêm, một họa sĩ vẽ theo trường phái lập thể và chủ yếu vẽ tranh để in trên bìa nhạc và tạo mẫu sơn mài, lại là con số lớn.

Duy Liêm, một tài năng nghệ thuật riêng lẻ, đứng hẳn một góc đời và vẫn còn lấp lánh trong ký ức nhiều người Sài Gòn khi hồi tưởng về cuộc sống một thời ở thành phố này cách nay ngoài bốn mươi năm. Có người từng ví ông như là Katsushika Hokusai của Việt Nam vì cùng có sự nghiệp sáng tác đồ sộ, tuy tầm cỡ khác nhau nhưng đều gắn bó với đời sống của dân tộc mình và ảnh hưởng tới nền nghệ thuật đương thời.

Họa sĩ Duy Liêm, tên thật Trần Duy Liêm, sinh năm 1916 ở xứ biển Phan Thiết. Hai đấng sinh thành của ông được khá nhiều người Phan Thiết thời đó biết đến là ông Trần Duy Hinh, một nhà tư sản và bà Trương Thị Hạnh, nữ hộ sinh có tiếng trong vùng. Ông Duy Liêm có một người em là Trần Duy Chánh từng là diễn viên chính trong phim “Trọn với tình”, một bộ phim xuất hiện ở giai đoạn còn non trẻ của phim truyện Việt Nam vào thập niên 1930.

133

Từ hồi còn trẻ, Duy Liêm đã bộc lộ khuynh hướng nghệ sĩ rất rõ. Ông vào Sài Gòn nhập học Trường Dạy vẽ Gia Định (Ecole de Dessin) tại khoa Hội họa trang trí và tốt nghiệp năm 1937. Không chỉ thích mỹ thuật, ông còn thành thạo rất nhiều loại nhạc cụ như Violin, Accordeon, banjolin, guitar và cả đàn tranh…

Sau một thời gian sống với gia đình tại Phan Thiết, bản tính nghệ sĩ đã đưa ông tham gia hoạt động du ca và lang bạt khắp nơi. Ông còn hưởng ứng phong trào Tân Việt Nam của giới trí thức giữa thập niên 1940. Phong trào này có sự tham gia của các ông Đào Duy Anh, Phan Anh, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Huyên…

Tại Hội An năm 1946 Duy Liêm gặp ca sĩ Cẩm Vân, tên thật là Phan Thị Dục, em họ Giáo sư Phan Ngô và lập gia đình với bà. Từ thời điểm 1946, chiến tranh chống Pháp lan rộng khắp đất nước. Đang ở Bình Định, Duy Liêm ra Quảng Ngãi. Lúc đó, Việt Minh đang nắm chính quyền. Họa sĩ Duy Liêm đảm nhận việc vẽ giấy bạc tín phiếu cho cơ quan in tín phiếu Liên Khu V ở An Lão, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định trong khoảng thời gian 1947-1948 và sinh cô con gái đầu lòng đặt tên là Nga vào năm 1948. Năm 1949, ông chuyển sang làm cho Sở thông tin của Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến Liên khu V, ông Nguyễn Duy Trinh. Từ 1950 - 1951, ông gia nhập Trung đoàn 802 Quân Y, liên khu 5, xã Nghĩa Hành, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi và tham gia ban văn nghệ với những nghệ sĩ nổi tiếng như Nguyễn Đỗ Cung, Lê Trọng Nguyễn.

134

Họa sĩ Duy Liêm (trái) cùng bạn bè ở Quảng Ngãi. Ảnh tư liệu của họa sĩ Phạm Cung.

Nhờ có thể chăn nuôi gà vịt, trồng trọt, gia đình ông Duy Liêm sống ổn định. Sau một thời gian tham gia đoàn văn nghệ Liên khu V, Duy Liêm trở về đời sống dân sự. Tuy vậy, cuộc sống dần khó khăn hơn vì gia đình đã có thêm cô con gái tên là Mỹ vào năm 1951. Năm 1952 chiến tranh lan rộng ra khắp Liên khu V. Ngoài chuyện bị Tây ruồng bố, còn có người dân tộc thiểu số từ trên Tây Nguyên đòi tự trị đánh xuống. Cuộc sống ở Quảng Ngãi đầy cơ cực, người chết đói nhiều, cả hai năm Quảng Ngãi không có lấy một giọt mưa.

Năm đó, Duy Liêm cùng vợ và bạn là Đinh Lân (anh của thi sĩ Đinh Hùng) đưa hai con ra Hội An sống với gia đình ông Bùi Cam là bác họ của bà Duy Liêm.

135

Họa sĩ Duy Liêm (góc phải) trong chiến khu khoảng năm 1949. Giáo sư Tôn Thất Tùng (thứ 7 từ trái qua) đang tươi cười tay chống hông.

Sau 1954, ông Phan Ngô quyết định vào sống ở Sài Gòn, gia đình ông Duy Liêm cùng vào theo. Ở Sài Gòn, ông Phan Ngô mở trường học lấy tên là Tân Phương ở khu Xóm Gà, Gia Định và trường Văn Hiến ở đường Trần Quang Khải. Cũng từ thời gian này, nhạc sĩ Lê Mộng Bảo được ông Tăng Duyệt là Giám đốc Nhà xuất bản Tinh Hoa - Huế phái vào Sài Gòn mở chi nhánh Nhà xuất bản Tinh Hoa, gọi là Tinh Hoa Miền Nam và mời Duy Liêm vẽ bìa nhạc cho Nhà xuất bản này. Đồng thời ông vẽ bìa nhạc và bìa sách cho các Nhà xuất bản khác như An Phú, Minh Phát, Phạm Văn Tươi, Diên Hồng, Sống Mới, báo Phổ thông của Nguyễn Vỹ, Nhà xuất bản Ly Tao của Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và tạp chí Sáng Dội Miền Nam…

Cho đến 1956, ông Duy Liêm kéo theo “đệ tử” Phạm Cung, làm maquettes tranh sơn mài, các vật dụng sơn mài, thảm cho hãng Thành Lễ với tư cách là họa sĩ chánh. Đây là hãng mỹ nghệ danh tiếng nhất miền Nam thời đó, có sản phẩm được giải nhất Hội Chợ Paris và các nơi khác trong nhiều năm liên tục. Và ở đây có thể nói Duy Liêm đã góp phần quan trọng tạo nên tên tuổi của Công ty này. Sau hai năm làm ăn khấm khá, ông Duy Liêm mua một căn nhà ở khu cư xá Kiến Thiết đường Trần Quốc Tuấn, gần cầu Hang, Gò Vấp.

Với sức sáng tạo dồi dào, họa sĩ Duy Liêm miệt mài vẽ nhiều tranh cho bìa nhạc và sáng tác mẫu cho tranh sơn mài. Tác phẩm của ông với tính chất là tranh mẫu được in hay vẽ lại trên tranh sơn mài nên được phổ biến khắp nơi, có mặt trong nhiều gia đình từ 1937 đến 1990, tạo nên thị hiếu thẩm mỹ vô cùng rõ rệt cho người thưởng ngoạn.

136

Duy Liêm (góc trái cửa vào) đưa khách tham quan xưởng làm tranh sơn mài ở Công ty Thành Lễ

137

Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm giới thiệu bức tranh Nhạc sầu của họa sĩ Duy Liêm cho vị quốc khách từ một nước Đông Nam Á.

138

Họa sĩ Duy Liêm trong một buổi họp măt giới văn nghệ sĩ (thứ 5 hàng đứng từ trái sang). Ông Vương Hồng Sển là người đứng thứ 8

Hình ảnh trên các trang 161-164 thuộc tư liệu của gia đình họa sĩ Duy Liêm

Ông không vẽ nhiều tranh sơn dầu và lụa nhưng có những bức tranh lụa được nhắc tới như Giấc Hè , Du Xuân , Hái sen . Bức sơn dầu tựa đề Nhạc Sầu được Giải nhất Đông Nam Á năm 1954 tại Exposition ở Manille và được mua bởi Tổng Thống nước ấy. Theo trí nhớ của bà Duy Liêm hiện đang sống tại Mỹ, lúc sinh tiền ông Duy Liêm có nhắc đến một bức tranh sơn dầu lấy tên Chài lưới rạng đông đã đoạt giải thưởng cao nhất về hội họa tại Tokyo khoảng thời gian 1938 – 1939 và có nhận được thư khen của Nhật hoàng.

Sau năm 1975, họa sĩ Duy Liêm tuy đã lớn tuổi vẫn tiếp tục vẽ tranh tạo mẫu cho cơ sở sơn mài Vietnam Export từ năm 1976. Khi ông Quân, Giám đốc cơ sở này ra nước ngoài, ông Duy Liêm tiếp tục vẽ tranh tạo mẫu cho hãng tranh thêu Thu Hà và cho Công ty sơn mài Lam Sơn nổi tiếng một thời.

139

Họa sĩ Duy Liêm trên đường Tự Do (nay là Đồng Khởi), Quận 1, khoảng năm 1958.

Năm 1994, họa sĩ Duy Liêm từ trần.

Ông Phạm Cung cho biết trước 1975 tranh lập thể của Duy Liêm rất được ưa chuộng. Nét vẽ của Duy Liêm độc đáo, không nhầm lẫn với bất cứ họa sĩ nào, sinh động và lột tả được tâm trạng nhân vật trong tác phẩm, tạo được cảm xúc cho người xem bằng các nét vẽ gẫy khúc rất riêng biệt…

Nhưng Duy Liêm sống lặng lẽ như người ở ẩn, không tham gia triển lãm, không thích tiếp xúc với đám đông và ít la cà kết bạn với giới báo chí, nên không mấy khi được nhắc đến.

Trong cuốn sách Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại , nhà phê bình nghệ thuật Huỳnh Hữu Ủy đã xếp họa sĩ Tạ Tỵ và Duy Liêm vào một nhóm. Theo Huỳnh Hữu Ủy, sau 1954 cho đến các năm 70, Duy Liêm đã rất thành công với “Lập thể Duy Liêm” trong đại chúng, xâm nhập mạnh mẽ vào cuộc sống hằng ngày của mọi tầng lớp nhân dân. Đặc biệt là minh họa trên các bìa nhạc của những nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Phạm Đình Chương... và vẽ nhiều mẫu tranh cho hãng Thành Lễ với tư cách là họa sĩ chính.

Ông Huỳnh Hữu Ủy dẫn bài viết về Duy Liêm của ông Nhất Uyên trên báo Thế kỷ 21 số tháng 5.93, phỏng định Duy Liêm đã để lại một số lượng rất lớn từ 40.000 đến 50.000 tác phẩm từ sơn mài, sơn dầu, lụa, gốm, thảm và khẳng định đó là một công trình đồ sộ không mấy người đạt được. Theo ông Huỳnh Hữu Ủy, bên cạnh “tiếng nói của Tạ Tỵ có tiếng vang trong một mức độ cao thuộc các tầng lớp trí thức, các giới hoạt động Văn hoá nghệ thuật” thì họa sĩ Duy Liêm “đưa được tiếng nói mới mẻ của nghệ thuật hiện đại trên bề rộng, đến với quần chúng khắp nơi” . Và ông khẳng định “Chính ở điểm này, chúng ta phải công nhận một cách rất khách quan là họa sĩ Duy Liêm đã có công rất lớn trong việc nâng cao và hiện đại hoá cảm quan thẩm mỹ của đại chúng Việt Nam ”.

Ông bà Duy Liêm có chín người con, đều thừa hưởng tài hoa âm nhạc và mỹ thuật của cha mẹ, thành đạt ở nước ngoài trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau như tâm lý học, kiến trúc, tài chính và nghệ thuật hoạt họa... Hầu hết đều thích vẽ tranh, chơi nhạc và dạy đàn.

Trong một bài viết cách nay khá lâu, họa sĩ Phạm Cung cho rằng Duy Liêm là một tài năng đã bị lãng quên. Điều đó có phần đúng, bởi bản tính khép kín cũng như những đánh giá thiển cận cho rằng tranh của ông đa số gắn liền với mục đích thương mại nên báo chí đương thời và sau này hầu như rất ít viết về ông. Tuy nhiên, ký ức về tranh Duy Liêm trên tác phẩm sơn mài, bìa nhạc và bìa sách của người sống ở Sài Gòn trước 1975 luôn âm ỉ sống, mặc dù có thể họ không biết tác giả. Họa sĩ Duy Liêm, họa sĩ tiên phong đầy tài năng của trường phái hội họa lập thể tại Việt Nam, góp phần làm nên giá trị tinh thần của đời sống Sài Gòn những năm tháng chưa xa lắm… không hề bị lãng quên.

140

Bìa nhạc tờ do họa sĩ Duy Liêm vẽ

141
142
143
144
145
146
147
148
149
150

Minh họa của Duy Liêm trong tạp chí Sáng Dội Miền Nam năm 1962

151
152
153

Tranh gốm ghép Thành Lễ thực hiện từ mẫu vẽ của Duy Liêm. Khổ 39x57,5 cm Sưu tập của bà Nguyễn Thị Lê.

154
155
156
157

Mẫu phù điêu gốm do họa sĩ Duy Liêm thiết kế cho hãng Thành Lễ. Hai phù điêu góc trái và phía dưới thuộc Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM. Hai phù điêu còn lại nằm trong bộ sưu tập của anh Nguyễn Đức Huyên. Ảnh: Nguyễn Minh Anh.

158
159
160
161
162
163

Hình tượng thiếu nữ xuất hiện rất nhiều trong tranh của Duy Liêm, thường có đôi mắt nhìn xuống, trầm lặng và buồn. Hai bức tranh lụa thuộc sưu tập của anh Nguyễn Đức Huyên.

Sơn Mài Thành Lễ, Quá Khứ Vàng Son

Trong một dịp tình cờ, chúng tôi xem được một trang lịch trong bộ lịch in màu năm 1962. Bộ lịch có tên là Công nghệ Việt Nam do một cơ quan nước ngoài bỏ vốn ra in. Tờ tháng Hai in hình nữ ca sĩ Kim Chi bên cạnh một chiếc chén, dĩa và ly chân cao bằng sơn mài cẩn trứng do nhà Thành Lễ sản xuất. Lòng tô và dĩa màu vàng nhũ. Họa tiết cánh trúc đơn giản nhưng sang trọng trên nền trứng cẩn trắng ngà rất hài hòa. Những sản phẩm mỹ nghệ cách nay gần 50 năm thật tinh tế và không thua kém bất cứ sản phẩm mỹ nghệ cao cấp hiện nay.

164

Đó là một sản phẩm nhỏ tiêu biểu của hãng Thành Lễ, một công ty sản xuất hàng mỹ nghệ cao cấp khét tiếng của miền Nam trong suốt hơn 30 năm trước 1975. Đây chính là công ty thành công nhất trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh đồ trang trí nội thất, được bày bán ở hai con đường sang trọng bậc nhất Sài Gòn lúc đó là Tự Do (nay là Đồng Khởi) và Hàn Thuyên. Tên tuổi của công ty vượt ra khỏi biên giới nước Việt thời chia cắt.

Theo Nguyệt san Quản trị xí nghiệp số tháng 10 năm 1972 xuất bản tại Sài Gòn, đến thời điểm đó, hãng Thành Lễ đã có những thành tích như sau:

Huy chương vàng Hội chợ Quốc tế Munich 1964

Huy chương bạc do Bộ Kinh tế (Nam Việt Nam) trao năm 1968.

Bằng cấp danh dự Hội chợ Paris 1969

Huy chương và Bằng cấp Danh dự Hội chợ Paris 1970

Huy chương vàng Hội chợ Kỹ nông công thương Sài Gòn 1970

Ngoài ra, sản phẩm của Thành Lễ đã tham gia các cuộc triển lãm sơn mài tại Pháp (1952), Thái Lan (1954), Philippin (1956) và Hoa Kỳ (1959).

Đến nay, Việt kiều các nước, nhất là từ Pháp và những người thích nghệ thuật trong nước vẫn tìm mua các sản phẩm của Thành Lễ. Họ trưng bày trong nhà như để tìm lại một không khí êm đềm và thịnh vượng của đô thị Sài Gòn trước đây. Lúc đó, ít người chơi tranh hay trang trí nhà bằng tranh sơn dầu. Dân trung lưu trở lên của Sài Gòn và các tỉnh lỵ mua được bức tranh sơn mài Thành Lễ, đôn voi, bình gốm Thành Lễ hay thảm len Thành Lễ đã cảm thấy đủ để tạo nên vẻ sang trọng của ngôi biệt thự hay căn phố của mình.

165

Chân dung ông Nguyễn Thành Lễ.

166

Họa sĩ Nguyễn Văn Tuyền. Ảnh: Đức Trí

167
168

Thái tử Sihanouk, Cambodia thăm Công ty Thành Lễ vào đầu thập niên 1960 và xem họa sĩ Ba Tuyền vẽ tranh sơn mài. Góc trái là họa sĩ Lưu Đình Khải, hiệu trưởng trường Mỹ thuật Gia Định

169

Một mẫu rất phổ biến của sơn mài Thành Lễ. Ảnh thuộc tư liệu của họa sĩ Nguyễn Văn Tuyền

170

Bản vẽ mẫu sơn mài của họa sĩ Thái Văn Ngôn. Ảnh thuộc tư liệu của họa sĩ Nguyễn Văn Tuyền

Tuy nhiên, nói riêng về tranh sơn mài là sản phẩm chủ lực của Thành Lễ, cần phân biệt có hai loại. Một loại bán rộng rãi trong showroom với logo có chữ Thành Lễ và loại kia là tranh cao cấp, làm theo Hợp đồng đặt hàng của khách trong và ngoài nước. Theo họa sĩ Phạm Cung có thời gian phụ họa sĩ Duy Liêm là họa sĩ chánh tạo mẫu tranh cho hãng Thành Lễ, loại tranh cao cấp được xác định bằng một logo vẽ phía sau tranh có hình con rồng, phía dưới là chữ Thành Lễ nằm vắt ngang và dát bằng vàng 4 carat. Các giải thưởng nói trên thuộc về loại tranh cao cấp này.

Một chiều cuối năm 2008, chúng tôi may mắn gặp lại lão họa sĩ Nguyễn Văn Tuyền, thường gọi là bác Ba Tuyền tại Bình Dương, quê hương của công ty Thành Lễ. Sinh năm 1924, có lẽ bác là họa sĩ hiếm hoi làm việc lâu nhất cho Thành Lễ (từ 1943 đến năm 1975) còn sống. Những họa sĩ cùng làm việc cho công ty là ông Hai Sù, Châu Văn Trí, Ba Ai, Bảy Dậy, Năm Châu (điêu khắc), Nguyễn Tấn Tam, Nguyễn Văn Tám, Thái Văn Ngôn, Duy Liêm, Trần Văn Nam, Trần Văn Sáu (sáng tác mẫu sơn mài), Ngô Từ Sâm (vẽ lụa), Văn Thọat, Lương Định Tánh (vẽ bàn ghế), các nghệ nhân Bảy Giáp, Sáu Miền, Hai Long (cẩn ốc), Sáu Sa (vẽ men gốm)... hầu hết đã quy tiên.

Theo bác Ba Tuyền, tiền thân của Thành Lễ là xưởng “Thanh & Lễ” do hai ông Trương Văn Thanh và Nguyễn Thành Lễ hợp tác sáng lập năm 1940. Đến đầu những năm 60, ông Nguyễn Thành Lễ tách ra riêng, lập nên xưởng Thành Lễ. Từ đó, bắt đầu một quá trình sản xuất và kinh doanh đủ tạo dựng một tên tuổi không phai mờ.

Bác Tuyền nhớ họa sĩ Thành Lễ sinh năm 1919 tại Long Xuyên, học chuyên về sơn mài và chạm trổ, tốt nghiệp trường Mỹ thuật Thủ Dầu Một khoảng năm 1940 (có tài liệu cho là năm 1938), trước bác Tuyền hai khóa. Khi tách ra, xưởng sơn mài Thành Lễ đặt tại Bình Dương có 12 họa sĩ, 2 nghệ nhân vẽ kiểu, 20 người mộc, 60 người chuyên về sơn, 4 thợ chạm, 1 thợ cẩn xà cừ. Xưởng sản xuất Thành Lễ được xây dựng khá quy mô ở Bình Dương.

Bên cạnh xưởng chế tác là phòng trưng bày được trang trí rất đẹp. Ở đây trưng bày đa dạng sản phẩm từ các bức bình phong lớn, đề tài phong phú từ đề tài lịch sử như Hai bà Trưng đánh đuổi quân Hán, trận Đống Đa, Bạch Đằng Giang, các tích Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên, cảnh đẹp Việt Nam như sông Hương núi Ngự, chùa Thiên Mụ, Tháp Chàm, cảnh sinh hoạt nông thôn và hình ảnh người nông dân, hình ảnh hoa lá chim muông… Ngoài ra, còn có các sản phẩm khác như vật dụng gia đình phủ sơn mài mang tính mỹ thuật cao như bình hoa, bàn ghế, tủ và các món đồ trang trí khác.

171
172

Tranh sơn mài cẩn xương và ngà của Công ty Thanh & Lễ, tiền thân Hãng Thành Lễ sau này. Sưu tập của ông Nguyễn Trọng Cơ. Ảnh thuộc tư liệu của họa sĩ Nguyễn Văn Tuyền

Năm 1962, Thành Lễ mở xưởng dệt thảm len và sáp nhập các cơ sở thành xưởng sơn mài – lò gốm – thảm len Thành Lễ. Từ vài chục công nhân ban đầu, sau xưởng có đến 500 công nhân làm việc. Bác Tuyền cho biết từ thời đó, Thành Lễ đã tổ chức kinh doanh và tiếp thị rất có bài bản. Ông Thành Lễ giỏi tổ chức, có tài năng chuyên môn và biết thu hút nhiều người giỏi từ các nơi như trường Mỹ thuật Gia Định, Mỹ nghệ Biên Hòa và Mỹ nghệ Bình Dương. Các họa sĩ dưới trướng ông có nhiều người giỏi, từng đoạt các giải thưởng hội họa uy tín. Xưởng Thành Lễ đã sáng tạo nhiều mẫu đẹp, giàu giá trị nghệ thuật. Nhiều mẫu mã chỉ dùng một lần cho một tác phẩm nên giá trị nghệ thuật cao và là sản phẩm độc bản.

Theo các tài liệu, ông Thành Lễ rất ghét các mẫu mã làm theo kiểu rập khuôn, luôn yêu cầu các họa sĩ không bắt chước mẫu có sẵn mà phải liên tục sáng tạo cho tới khi đạt tới giá trị nghệ thuật mới đưa vào sản xuất. Bù lại, ông có chế độ lương và thưởng cao nên các họa sĩ làm cho ông sống thoải mái bằng đồng lương. Riêng một mình họa sĩ Ba Tuyền trong suốt hơn ba mươi năm đi làm có thể ung dung nuôi bảy người thân gồm cha mẹ, vợ và bốn người con đang ăn học.

Ông Thành Lễ thường đi nước ngoài nghiên cứu sưu tầm mẫu mã đáp ứng thị hiếu khách hàng, nhất là khách hàng châu Âu. Trong quá trình định hướng phát triển, ông tập trung sản xuất tác phẩm mang tính nghệ thuật cao, phối hợp các nghệ thuật nắn tượng, trang trí, hội họa, điêu khắc. Màu sắc sản phẩm chú trọng giá trị thẩm mỹ, trang nhã và đẹp, nhiều sản phẩm mỹ nghệ đạt đến giá trị nghệ thuật cao.

Nhờ tham gia nhiều hội chợ quốc tế và liên tục đoạt giải, sản phẩm của ông tạo tiếng vang tốt. Dù vậy, ông không chạy theo lợi nhuận mà luôn đề cao chất lượng. Ở mặt hàng sơn mài chủ lực, ông dùng nguyên liệu tốt nhất như ván ép En Kounmé nhập ngoại, ván gỗ Teak (Giá tị) hoặc Gõ đỏ, Bời lời. Trong sơn mài, nguyên liệu chính là sơn Nam Vang có độ bóng và màu sắc có vẻ đẹp riêng.

173

Tượng sơn mài cũng là mặt hàng thu hút của hãng Thành Lễ do tạo hình đẹp, nước phủ sơn mài rất bền vững qua thời gian

Sản phẩm trưng bày tại hội chợ quốc tế nếu được đặt mua, ông không vội giao hàng mà đợi đến 6 tháng sau khi xuất xưởng mới giao, sau khi theo dõi chất lượng tranh hay món đồ có bị biến dạng bởi thời tiết của xứ người không. Nói chung, ông không coi trọng sản lượng mà chỉ quan tâm đến chất lượng, không hề khoán sản phẩm để đạt năng suất cao mà chỉ coi trọng sản phẩm đủ đẹp hay chưa. Có lẽ do vậy, sản phẩm ở đây luôn cao giá hơn cơ sở khác nhưng vẫn đắt khách.

Cũng theo bài báo trên tờ Nguyệt san Quản trị xí nghiệp, không tính đến doanh thu trong nước, đến năm 1972 Thành Lễ xuất cảng mỗi năm với doanh số 100.000 Mỹ kim, là con số đáng kể thời bấy giờ (giá một lượng vàng lúc đó là 200 USD), sản phẩm chủ yếu xuất qua Pháp và Tây Đức. Lúc đó, sản phẩm của Công ty giá vẫn cao hơn hàng cùng loại của Nhật hay Đài Loan vì chất lượng cao, hoàn toàn làm thủ công và dùng nguyên liệu tốt nhất từ nước ngoài. Tiềm năng xuất cảng rất tốt nhưng ông Thành Lễ phải từ chối nhiều đơn hàng vì vấn đề quan trọng nhất là thiếu nhân công do tình trạng bắt lính thời gian đó. Tuy vậy, ông đã hướng tới việc mở thị trường sang Hoa Kỳ, xây dựng xưởng tại khu công nghiệp Biên Hòa với 2000 nhân viên. Kế hoạch này bị đình trệ từ Tết Mậu Thân và đã không thành vì Thành Lễ ngừng hoạt động từ năm 1975.

Những công trình sang trọng nhất của Sài Gòn trước 1975 đều đặt tác phẩm Thành Lễ như phòng ăn dinh Gia Long với tranh sơn mài, khách sạn Caravelle cũng có tranh Thành Lễ. Theo trí nhớ của bác Ba Tuyền, năm 1966, dinh Độc Lập được khánh thành ngoài sự hiện diện của hai bức tranh của họa sĩ Thái Văn Ngôn là người của Thành Lễ, còn có một tấm Thảm len của xưởng Thành Lễ dài 40 mét phải hơn 40 người khiêng, khi đưa đến phải dùng xe rờ moọc dài mới tải nổi. Khách sạn nổi tiếng Majestic cũng đặt một bức cửa lùa chạm thủng mang tên “Đám cưới xưa”. Ngoài ra, nhiều khách quốc tế khi đến Sài Gòn đã được giới thiệu đến tham quan xưởng Thành Lễ. Bác Ba Tuyền còn giữ tấm ảnh thái tử Sihanouk (Campuchia) thăm xưởng và đặt hàng vào những năm 60, như một kỷ niệm quãng đời làm việc.

Theo họa sĩ Phạm Cung, làm việc tạo mẫu tại công ty Thành Lễ trước kia, có lần khoảng đầu thập niên 1960 bên Nhật đặt tới 3 ngàn bức tranh sơn mài các kích cỡ về Phan Bội Châu, người phát động phong trào Đông Du đầu thế kỷ 20. Làm xong một số lượng tranh rồi, họa sĩ Phạm Cung tìm được bức ảnh cụ Phan đang chống gậy trong thời kỳ “Ông già Bến Ngự” cuối đời ở Huế. Bức tranh được làm thử một tấm và khi phía Nhật thấy được, họ quyết định thay đổi mẫu mã cũ, làm tiếp số tranh còn lại từ mẫu này. Ông Cung nhớ lại, tranh làm hoàn toàn bằng gỗ dầu chứ không bằng ván ép như thông thường, khổ lớn nhất là 80x120cm. Qua đó, chúng ta hình dung được vai trò của cụ Phan trong tâm thức của người Nhật.

Sau 1975, ông Thành Lễ cùng gia đình sang sống ở Pháp, đất nước đã kết nạp ông vào Hội Mỹ thuật quốc gia. Trong một bài viết trên trang mạng Hồn quê, tác giả Bích Xuân cho biết “Tác phẩm sơn mài Thành Lễ được treo tại những danh thự như Tư dinh Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon, tư dinh vua Hassan II tại thành phố Ifrane (Maroc), lâu đài Tổng Thống Pháp Charles de Gaulle tại Colombey les II Eglises (La Boissery), OMS (Organisation Mondiale de la Santé) tại Thụy Sỹ...”

Hơn ba mươi năm trôi qua, dù được khẳng định giá trị trong suốt hơn nửa thế kỷ, tên tuổi Thành Lễ dường như vẫn chưa vượt qua được cái nhìn coi nhẹ hàng mỹ nghệ dù cho nó đạt tới mức nghệ thuật nào. Năm 1960, Sài Gòn tổ chức Cuộc triển lãm Mỹ thuật quốc tế lần thứ nhất, bên cạnh tác phẩm của các tên tuổi nổi tiếng thì tác phẩm sơn mài của Công ty Thành Lễ cũng được mời trưng bày và sau đó, có ngay bài phê bình trên tạp chí Bách Khoa số 141 ra ngày 15 tháng 1 năm 1962. Tác giả cho rằng tác phẩm sơn mài Thành Lễ lạc lõng, “có lẽ nên dành cho những cuộc triển lãm riêng về đồ tiểu công nghệ” . Không thấy nêu lý do.

Năm 2009, trong cuốn Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại tổng kết quá trình mấy chục năm theo dõi mỹ thuật miền Nam trước và sau 1975, khi nói về nghệ thuật sơn mài Việt Nam, sau khi nêu thành tựu của các họa sĩ trẻ của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đưa sơn ta vào hội họa, nâng một chất liệu quý trước đây chỉ dừng ngang mức mỹ nghệ lên vị trí đáng nể trong đời sống mỹ thuật trong và ngoài nước ở giai đoạn 1930-1932, tác giả Huỳnh Hữu Ủy viết: “Vài người gốc miền Nam tốt nghiệp từ trường Mỹ thuật Hà Nội như họa sĩ Nguyễn Văn Long đã mang về phổ biến những kết quả mới này ở trường Mỹ nghệ Thủ Dầu Một...

...Ngành sơn mài phát triển rộng, nhân dân thị xã Thủ Dầu Một và các vùng lân cận hầu hết chuyên sống bằng nghề sơn mài. Từ những hàng mỹ nghệ gia dụng nhỏ đã phát triển ngày càng lớn hơn, sản xuất được nhiều mặt hàng có giá trị kinh tế cao như tủ, bàn, bình phong các loại tranh trang trí gây được sự hấp dẫn ở nhiều nơi, xuất khẩu qua các nước Tây Âu, Bắc Phi, Trung Đông, Mỹ... chiếm được nhiều Huy chương vàng tại hội Chợ quốc tế.

Thành công khá lớn của xưởng Mỹ nghệ Thành Lễ trước đây là một chứng cứ điển hình, tuy nằm ngay tại trung tâm Sài Gòn nhưng thực chất là đặt căn cứ trên vùng Thủ Dầu Một, các mặt hàng hầu hết đều do nghệ sĩ sơn mài của trường Mỹ nghệ Thủ Dầu Một đảm trách, hoặc nếu không thì cũng là những người thợ có ít nhiều có liên hệ hay nằm trong ảnh hưởng của trường này.

Với đà phát triển đó, thế hệ những nghệ sĩ sơn mài mới, tài hoa, đam mê, năng nổ, đã đưa nghệ thuật sơn mài đến những vinh quang cao nhất của một phong cách nghệ thuật riêng, rất bí ẩn, kỳ diệu, sâu thẳm, tưởng là phi hiện thực nhưng lại hoàn toàn gần gũi với đời sống con người, phản ánh hiện thực với quy luật chắt lọc tinh túy riêng của nó”.

174
175

Đó là sự khẳng định giá trị của sơn mài mỹ nghệ trong lĩnh vực nghệ thuật mà Thành Lễ là cánh chim đầu đàn. Tuy vậy, hầu như đến bây giờ có rất ít tài liệu, bộ phim, triển lãm trong nước chính thức ghi nhận về giá trị mỹ thuật hay tài năng kinh doanh của Thành Lễ, một thương hiệu có tầm vóc vượt ra khỏi biên giới một đất nước đang trong thời chiến tranh.

Nhưng dù sao, trong lòng những người yêu nghệ thuật miền Nam, tên tuổi Thành Lễ vẫn còn vang vọng như một hoài niệm, một quá khứ vàng son. Và chắc chắn, một tình cảm trân trọng giữ gìn dành cho dòng đồ của một xưởng mỹ thuật danh tiếng đã quá vãng này vẫn âm thầm tồn tại.

176

Ảnh: Đức Trí

177
178
179

Hai Thế Kỷ Thăng Trầm Của Một Dòng Họ

Cách nay hơn năm mươi năm, cô gái Nguyễn Thị Gấm lên xe hoa về nhà chồng. Trước đó, như nhiều cô gái chuẩn bị làm dâu, cô đi coi bói và ông thầy nói: “Cô sẽ được ở nhà cao, cửa rộng… nhưng không phải là của cô”. Nửa thế kỷ qua, bà vẫn ở trong cái nhà cao, cửa rộng đó ở đường Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh. Ngôi nhà đã sửa sang lại trước khi bà về làm dâu, và bà không thể hình dung nó đã tồn tại gần trăm năm trước như thế nào. Trong nhà, vẫn còn hai bộ ván gõ đen bóng hai bên, cái tủ thờ cẩn ốc ở giữa và hai tủ buýp phê hai bên có đặt lư hương. Dấu vết thời gian còn nằm trên bức hoành phi thếp vàng, không hợp lắm với bức tường sơn nước sau nhiều lần tu sửa.

Ngôi nhà là cơ ngơi còn lại của gia đình họ Nguyễn, một gia đình tiêu biểu của đất Sài Gòn - Gia Định xưa. Kể từ ông Nguyễn Văn Vân là thế hệ thứ nhất cho đến đời thứ tám, bao nhiêu người đã sinh ra, lớn lên và mất đi ở khu ngã tư Bình Hòa, tỉnh Gia Định suốt 200 năm nay. Vẫn còn nghĩa trang riêng của dòng họ từ đầu thế kỷ 18, được xây tường rào chung quanh trên đường Hồ Xuân Hương, phường 14 quận Bình Thạnh, với những ngôi mộ đá ong không còn bia, với những cây cột bốn góc mộ nay đã chìm gần sát mặt đất qua thời gian dài.

Xa xưa, khu vực này là làng Bình Hòa, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, thành Gia Định. Đến thời Pháp thuộc 1862-1954, các thế hệ con cháu họ Nguyễn ở đây có người làm việc với Pháp và cũng có người chống lại chính quyền thực dân, hoặc làm nông, làm thợ và kinh doanh. Đến 1954, hầu hết sống và làm việc dưới chế độ miền Nam: viên chức hành chánh, theo binh nghiệp hoặc buôn bán. Sau 1975, con cháu trong họ tản mát đi khắp nơi trên thế giới, một số người vẫn sống trên nền đất cũ của ông bà để lại. Gia đình theo đạo Thờ ông bà nhưng cũng có người trở thành tu sĩ đạo Phật, Cao Đài hay làm mục sư Tin lành.

Cuối thế kỷ 18, một người đàn ông từ Đàng ngoài đi vào đất Gia Định buôn bán. Ông đi bằng ghe bầu, hoặc có lúc đi bằng đường bộ trên lưng voi. Kết duyên với một phụ nữ địa phương, ông định cư ở đây và hình thành dòng họ Nguyễn này. Ông đã có gia đình riêng từ Đàng ngoài? Đến nay con cháu trong nhà vẫn đặt giả thuyết như vậy. Sau khi có một con trai với người vợ tại đây, ông trở về Đàng ngoài và không bao giờ trở lại. Ông không lưu lại tên, quê quán gốc gác, chỉ còn vết tích ở xóm Lò Vôi gần đình Bình Hòa còn có nơi đất trũng xuống có tên là Bãi Voi Nằm, ghi dấu nơi trú lại của đàn voi đi theo ông. Bà sơ tổ mất, được an táng phía sau Nhà việc làng Bình Hòa (góc Lê Quang Định - Nguyễn Văn Trương trước 1975). Sau dời về nghĩa trang gia đình cho đến nay.

180
181

Bà Nguyễn Thị Gấm, ngày về làm dâu nhà họ Nguyễn ở Ngã năm Bình Hoà

Ảnh trong bài do gia đình cung cấp

Thế hệ thứ nhất, con ông sơ tổ là ông Nguyễn Văn Vân "tước Huờn trào Cựu, quyền Chánh cơ" thời vua Thiệu Trị (theo gia phả), sống bằng nghề nông ngay tại Bình Hòa. Con của ông thuộc thế hệ thứ hai có ông Nguyễn Văn Sách làm quan, về sau làm thầy thuốc nên Ngã tư Bình Hòa (Lê Quang Định - Nguyễn Văn Học tức Nơ Trang Long) ngày xưa còn gọi là Ngã tư thầy Sóc (tránh gọi tên Sách).

Một người con khác thuộc thế hệ thứ hai là ông Nguyễn Văn Ân làm nông khá giả, có nhiều điền thổ. Ông muốn các con tự lập, không thích để di sản cho con. Khi các con trưởng thành, ông buộc họ phải mua lại đất của ông để cất nhà, làm ruộng hay canh tác. Ông mất vào đầu thế kỷ 20. Đến thế hệ thứ ba, có người con ông sống trong khu đất bao vi địa không có ngõ thông ra đường cái, hậu quả của việc mua đất chung chỉ để cất nhà ở.

Một bà tên Nguyễn Thị Hòa, thế hệ thứ 4 cháu nội ông Ân sinh năm 1915 ngay tại Bình Hòa nay vẫn còn sống (2013). Năm 2006, bà viết những dòng được đưa vào gia phả dòng họ như sau: “Mặc dù gia đình đông con nhưng ba má tôi vẫn cố gắng cho tất cả những đứa con được đi học. Tôi theo học trường tiểu học Gia Định từ lớp Năm đến lớp Nhì thì trúng tuyển vào trường Trung học Nữ học đường còn có tên là trường Áo Tím vì đồng phục của trường này là áo dài tím… Tôi theo học trường Áo Tím được bốn năm thì bắt đầu theo học ngành điều dưỡng tại nhà thương Gia Định, sau ba năm tôi lại được Dì Phước giám đốc trường đề nghị đi thực tập tại Nhà thương Hồng Thập Tự, sau đó vì có vốn Pháp ngữ nên tôi lại được chuyển sang làm việc ở nhà thương Đồn Đất, một nhà thương của người Pháp.

Trong thời gian làm việc ở đây tôi có quen với một Nha sĩ tên là Gabriel. Khi mãn nhiệm kỳ tại nhà thương này, nha sĩ Gabriel mở phòng mạch riêng và ông nhận tôi vào làm nha tá, lúc đó tôi được 20 tuổi (1935). Trong thời gian này, tôi có dịp tiếp xúc nhiều với Hoàng hậu Nam Phương vì bà là bệnh nhân của Nha sĩ Gabriel. Bà rất mến tôi và có tặng một thẻ kim bài của hoàng tộc”.

Thế hệ thứ năm có cô Nguyễn thị Tý sinh năm 1924, là công chức viễn thông làm việc ở tổng đài điện thoại của Phủ Toàn Quyền và Dinh Độc Lập. Cô cũng là người phụ nữ lái chiếc Vespa đầu tiên ở Sài Gòn thập niên 50. Đến năm 1978, khi đã lớn tuổi, bà đi tu ở chùa Quán Thế Âm gần nhà.

Nhưng dòng họ Nguyễn có một gia đình khá đặc biệt, từng làm nên, thành đạt và giàu có và có lúc thất cơ lỡ vận xuống tới đáy. Các thế hệ đều có cá tính mạnh, bị cuốn theo cơn lốc thời cuộc và dám làm dám chịu, lên voi xuống ngựa và vẫn trường tồn vì vai trò đảm đang chịu thương chịu khó của những người phụ nữ trong nhà. Đó là gia đình ông Nguyễn Văn Chỏi.

Ông Chỏi thuộc thế hệ thứ tư họ Nguyễn, sinh năm 1886. Ông sinh ra và lớn lên khi miền Nam đã thành thuộc địa của Pháp với tên Cochinchine. Vì trước ông, anh chị đều “sút nôi” nên cha mẹ ký gửi ông cho một thầy Miên và được đặt tên là Chỏi. Học hết bậc tiểu học, ông làm viên chức xã ở làng Bình Hòa, là ủy viên tài chánh nên gọi là Xã Chỏi. Sau đó ông trúng cử Bang biện tổng Bình Trị Thượng (theo lời ông phải tốn 5 ngàn đồng, thời giá lúc đó xe du lịch chỉ khoảng 2 ngàn).

Sách Gia Định xưa và nay của tác giả Huỳnh Minh xuất bản năm 1973 viết về ông như sau: “Ngôi đình Bình Hòa ngày nay chúng ta thấy được đồ sộ, có ngăn nắp từ trong ra ngoài, một phần lớn nhờ ông Bang biện Nguyễn Văn Chỏi đóng góp rất nhiều về tài chánh cũng như công cán. Từ ngày khởi xướng xây cất lại ngôi Đình thì có mặt ông thường xuyên. Ông được đồng bào địa phương cảm mến đức độ và sự liêm khiết của ông. Lúc bấy giờ dân chúng mới bầu ông làm Hội trưởng kể từ 1946 đến 1951 thì ông mãn phần, năm ấy ông 81 tuổi” (trang 320).

Theo gia đình, ông Nguyễn Văn Chỏi chính thức giữ chức vụ Hội Trưởng Ban Quí Tế Đình Thần Bình Hòa từ năm 1953. Trước đó, ông tiếp tục nhiệm vụ của thân phụ là ông Nguyễn Văn Ban làm Thủ Chỉ Làng Bình Hòa từ năm 1902. Ông mất năm 1961, thọ 76 tuổi, không như trong sách nêu.

Khi tại chức, trong một vụ bắt bạc, ông lỡ tay bắn chết một bang trưởng người Hoa ở Gò Vấp nên bị bãi chức và suýt bị tù. Sau đó ông trở thành nhà doanh nghiệp có xe đò chạy lộ trình Chợ Lớn - Đức Hòa, Mỹ Tho - Bến Tre, Bà Rịa - Long Hải, Phước Hải. Ông còn khẩn ruộng ở Cà Mau, khẩn đất ở Thị Vải thuộc Bà Rịa. Vào những năm 20, ông trở thành cự phú vùng Gia Định, nhà có xe hơi (kể cả xe Amica Corse cho con trai mới 16 tuổi), ghe máy (ghe bầu), ngựa đua. Sau nhà ông có sân quần vợt, về sau cất thành hai dãy phố ngói. Ông còn là Hội viên sáng lập và cầu thủ đội Ngôi sao Bà Chiểu - Gia Định.

182

Bức Hoành phi thếp vàng có hàng chữ Cao thăng viễn vọng , đã có trong gia đình gần 90 năm nay.

183
184

Ông Nguyễn Văn Ban, cha ông Nguyễn Văn Chỏi. Ông Bang biện Nguyễn Văn Chỏi

Đầu thập niên 30, ông Chỏi và ông Trần Văn Hạnh, y sĩ Đông Dương bảo lãnh nợ ngân hàng cho một người bạn trong Hội đồng quản hạt và khi ông này phá sản thì ông Chỏi cũng mất hết sản nghiệp. Lúc đó, ông chỉ còn 10 mẫu đất mới khẩn ở vùng Thị Vải nhờ người em có quốc tịch Pháp đứng tên nên mới giữ được.

Rồi chiến cuộc tràn lan, kinh tế loạn lạc. Đến năm 1946, Việt Minh tiêu thổ kháng chiến đốt hết nhà ở Thị Vải, ông bỏ về Bình Hòa sống với bản án địa chủ của Việt Minh. Đến đầu thập niên 1950, tình hình an ninh vùng phụ cận Sài Gòn tốt hơn, ông lo phục hồi các nơi thờ phượng đã đổ nát, hoang phế vì chiến cuộc. Ông đã bỏ nhiều công của xây dựng đình Bình Hòa khang trang như ngày nay.

Con ông là Bà Nguyễn Thị Nam sinh 1905, giáo viên trường Nữ công Gia Định nằm trong khuôn viên trường Chi Lăng ngày nay. Bà sống độc thân, nuôi dưỡng cha và đàn cháu. Rất khéo việc bếp núc làm bánh trái, sống bình dị và cần kiệm. Ngoài việc đi dạy, bà còn buôn bán nữ trang đá quý. Đến năm 1959, trước khi cha là ông Chỏi mất, bà còn cất lại được căn nhà của ông lúc đó đã mục nát. Về hưu, bà theo đạo Cao Đài trong giáo phẩm Phối Sư. Thánh danh là Hương Nam.

Con trai ông Chỏi, em bà Nguyễn Thị Nam là Nguyễn Văn Trường sống một cuộc đời khá độc đáo. Ông Trường là con trai duy nhất của ông Chỏi nên rất được yêu thương chiều chuộng. Bà nội của ông không muốn rời xa cháu nên ông không được ra học ở Hà Nội như những con nhà giàu thời bấy giờ.

Sau khi đậu được bằng C.E.F (Certificate d’etude primaire - Tiểu học Pháp) năm 16 tuổi, tuy muộn mằn nhưng ông vẫn được thưởng chiếc xe hơi thể thao Amica course và súng săn. Ông ham chơi thể thao, mê chơi banh đến gẫy xương chân. Muốn chơi quần vợt thì cha cho làm sân ngay sau nhà mà chơi. Rồi đi săn bắn…

Ông Trường lập gia thất (1932) thì cảnh nhà đã sa sút. Ông lấy vợ là bà Huỳnh Thị Bởi, gốc gác họ Từ Tấn ở Bình Định có quan hệ với nhà Nguyễn Tây Sơn nên vào Nam đổi thành họ Huỳnh. Ông đi làm cho các hãng tư như Bachaud frères, Descours Cabaud, Lò sát sinh Chánh Hưng… Năm 1945, ông tham gia Thanh niên Tiền phong nên bị Công an bắt và khi được thả về năm 1947 thì thất nghiệp, xuống sức. Đến 1949, ông mua chiếc xe vận tải nhẹ hiệu Renault để chở hàng thuê các loại cá tươi, nước đá, bia, nước ngọt… Sau đó ông mở chi nhánh dạy lái xe ô tô tại nhà.

185

Ban quý tế Đình thần Bình Hoà. Ông Nguyễn Văn Chỏi bận áo the đen đứng giữa.

186

Đội bóng Ngôi Sao Gia Định trước 1945, chụp chung với các cầu thủ đội bạn. Ông Nguyễn Văn Chỏi, tham gia sáng lập và làm cầu thủ một thời gian đầu đội bóng này (ông ở hàng giữa, thứ ba từ trái qua)

187
188

Biên nhận việc sửa nhà cho ông Nguyễn Văn Chỏi cách nay gần 100 năm

Thời gian này, các sòng bạc Kim Chung, Đại Thế giới hoành hành ở Sài Gòn và thu hút mọi người từ giới làm ăn có tiền đến kẻ phu phen và ông Trường không thoát ra khỏi ma lực của nó. Tiền bạc của ông làm được ra đi dần dẫn đến bán xe, nợ nần…

Tuy vậy, nhờ có bà chị Nguyễn Thị Nam thương cha và các cháu nên đã đứng ra lo toan hết chuyện chi xài trong nhà. Lúc ấy, mỗi tháng cả nhà với 10 miệng ăn tốn hết một bao gạo 100kg, mỗi ngày tốn 10$ tiền chợ. Có hôm bà Nam trước khi đi dạy để lại trên bàn 10$, vợ chưa cất thì ông đã lấy đi đánh số đề thua sạch, cả nhà đành ăn cơm với nước tương. Bà chịu thua trước cá tính của ông chồng. Nợ nần chồng chất, đến năm 1955 bà phải bán 4 mẫu ruộng di sản của cha ruột bà để lại mới sạch nợ. Ngay nơi bàn ăn, bà ghi hai câu thơ:

Hẹn nợ lắm khi trào nước mắt

Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi

Đầu thập niên 1950, ông Chỏi nhờ bạn là Đốc phủ Hồ Quang Hoài đưa ông Trường vào làm Cơ quan tiếp liệu toàn Đông Dương (Salle Dépot). Bây giờ lương và phụ cấp của ông trên 5 ngàn đồng. Gia đình bớt túng quẫn thì ông có vợ thứ vào năm 1951 là một bà gốc Hoa. Bà Nguyễn Thị Nam giận em trai, không ăn cơm chung nữa. Lúc này ông có chiếc xe hơi nhỏ hiệu Rose en gas nhưng đến trận bão năm Thìn 1952 thì gốc me nơi đậu xe đổ đè bẹp nó. Sau đó, ông mua một chiếc Citroen mới tiếp tục làm việc đến các chành gạo, kho thực phẩm để nhận hàng gửi đi các nơi như Côn Đảo, Phú Quốc, Đà Nẵng, Hải Phòng…

189

Ông Nguyễn Văn Trường bên xác voi vừa săn được

Đến năm 1954, một biến cố xảy ra với ông đốc phủ Hồ Quang Hoài khiến ông này lánh ra nước ngoài nên ảnh hưởng đến công việc của ông Trường. Ông Trường thuyên chuyển về tòa Hành chánh tỉnh Gia Định và làm việc đến nghỉ hưu. Vốn mê săn bắn từ hồi trai trẻ, có lúc đi săn ở Bình Tuy ông Trường bị ai đó bắn gãy cả hai chân, nằm bệnh viện hai tháng. Đến khi đã về hưu, chiến cuộc đang khốc liệt, ông lại vác súng săn lên đường. Và ông mất tích trong một buổi đi săn ở Đồng Xoài, Phước Long chỉ vài ngày trước khi xảy ra trận chiến Bình Long - An Lộc khốc liệt.

Khi đến thăm nhà, tôi ngắm tấm hình của ông Trường trên bàn thờ, là gương mặt một người đàn ông tráng kiện, đầy đặn, có vẻ vui tính và lịch lãm.

Trải qua những biến cố trong gia đình, gia đình này vẫn giữ được ngôi nhà trong khoảng sân lớn nay đã cất thêm vài căn cho con cháu ở. Các con của ông Trường là thế hệ thứ sáu, có người đã mất và những người khác sống ở nước ngoài vẫn thường về chơi. Một người đã kỳ công lập nên cuốn gia phả dòng họ rất quý báu để kể lại chuyện sống qua hai thế kỷ của gia đình dòng họ Nguyễn.

Khu nhà với con cháu vây quanh, nên trong ngôi nhà chính không bao giờ thiếu bóng dáng đám trẻ nít, đứa nào cũng lanh lợi, tự tin như thể hiện trong vô thức bản lãnh sống trên đất nhà lâu đời của ông cha mình. Cô con gái của bà Gấm thỉnh thoảng vẫn viết trên facebook kể chuyện những ngày Tết vui trong ngôi nhà của gia đình, hay những lần đi viếng một ông bà tổ tiên, đầm ấm và đầy tự hào.

Nhà họ Nguyễn là một gia đình bình thường ở thành phố này, nhưng khi hiểu thêm qua cuốn gia phả, tôi thấy như sống lại lịch sử vùng đất Sài Gòn - Gia Định, qua lát cắt một gia đình.

190

Sau khi nghỉ hưu, bà giáo Nguyễn Thị Nam đã có thể đi du lịch khắp nơi. Bà đi Nhật, Hongkong và các nơi trong nước. Trong ảnh là chiếc xe đưa khách du lịch tham quan thành phố Huế, và tờ chương trình du lịch vẫn còn giữ được đến nay.

Ảnh trong bài: tư liệu của gia đình họ Nguyễn

191
192
193

Nếp nhà xưa của dòng họ Nguyễn ở Bình Thạnh vẫn còn giữ đến ngày nay.

194

Nghĩa trang riêng của dòng họ từ đầu thế kỷ 18.

195
196

Tranh Thái Công điếu vị vẽ bằng thuốc nước, là quà tặng tân gia nhà ông Nguyễn Văn Chỏi năm 1935. / Cặp ngà có từ thời ông Sơ tổ 200 năm trước, vẫn còn lưu giữ trong nhà ông Nguyễn Văn Luận, dòng họ Nguyễn đời thứ 5.

Trường Nữ Công Gia Định

Đây là Trường dạy môn nữ công, gia chánh cho nữ sinh được chính quyền thuộc địa thành lập khoảng thập niên 1940 hoặc có thể sớm hơn, nằm trong khuôn viên trường Chi Lăng ở khu vực Bà Chiểu thuộc quận Bình Thạnh (nay là trường cấp 2 Hà Huy Tập trên đường Phan Đăng Lưu, cạnh Đại học Mỹ thuật TPHCM).

Theo ký ức của các bậc lão niên ở Ngã tư Bình Hòa, thời điểm 1946-1952, Hiệu trưởng là bà Gauzé (người Pháp) và ban đầu có hai giáo viên, cô Lê Thị Tài (còn gọi là Ba Tài) và Cô Nguyễn Thị Nam (cô Hai Nam). Cô Ba Tài dạy thêu may, cô Hai Nam dạy nấu nướng, làm bánh mứt và các việc bếp núc kể cả phương pháp chọn lựa thức ăn khi đi chợ.

Năm 1952 bà Gauzé về hưu, người kế nhiệm là bà Huỳnh Hữu Hội. Bà Gauzé và bà Huỳnh Hữu Hội kiêm nhiệm hai chức hiệu trưởng Trường Nữ công và Trường Nữ Tiểu học Gia Định (Ecole des filles de Gia Định). Trường còn quản trị một Ấu Trĩ Viện Gia Định, tiền thân của lớp Mẫu Giáo sau nầy. Khoảng cuối thập niên 1950 (?), khi bà Hội được bổ nhiệm Hiệu Trưởng Trường Nữ Trung Học Gia Long, Sài Gòn thì trường nữ công có hiệu trưởng mới, Bà Ngành (không rõ họ của bà), một giáo viên của trường Nam tỉnh lỵ Gia Định. Bà Ngành nổi tiếng là vị giáo chức nghiêm khắc nhất tỉnh Gia Định.

Khi thành lập, trường có tên là Ecole d’Enseignement Menager de Gia Định. Thời gian học tập 2 niên khóa, chứng chỉ tốt nghiệp gọi là Diplôme (!). Mỗi lớp độ trên dưới 30 học sinh. Điều kiện dự tuyển phải có bằng Tiểu học (Certificat d’etude primaire complementaire d’Indochine, viết tắt là CEPCI). Ngoài các môn học về nữ công gia chánh, còn có các môn như Luân lý, Văn, Sử Địa… nhưng “nhẹ” hơn chương trình trung học. Trường dạy học sinh các kỹ năng nấu ăn, làm bánh mứt, tỉa hoa quả, may, thêu. Mỗi giáo viên phụ trách một môn. Học sinh đến từ các nơi trong vùng Sài Gòn – Gia Định. Nữ sinh đi học bận đồng phục với áo bà ba trắng, quần đen hay trắng, tóc tai được bới cao hay cột đuôi gọn gàng. Giáo viên toàn bộ là nữ và là người Việt, bận áo dài đủ màu sắc đi dạy. Bà Gauzé, hiệu trưởng là người Pháp duy nhất. Các giáo viên trong trường ngoài việc dạy học còn tham gia nhiều hoạt động khác như tham gia hoạt động từ thiện (lúc đó gọi là đi ủy lạo). Mỗi khi có tổ chức hội chợ, Ban Giám hiệu đem những sản phẩm do học sinh làm ra để triển lãm cho khách tham quan…

Đến 1975, Ngôi trường đặc biệt này bị giải tán.

197

Bà Gauzé (ngồi giữa) cùng các giáo viên.

198

Chính quyền đương thời đến thăm trường đầu thập niên 1960.

199

Lớp học khá rộng như một hội trường, trần cao và thoáng, đủ chứa hai dãy bàn theo chiều dọc bức tường cho học sinh ngồi đối diện nhau và một số bàn ghế cuối dãy cùng máy may.

200

Các Giáo viên chuẩn bị vật phẩm cứu trợ người nghèo.

201

Một trận thi đấu bóng bàn giữa các nữ sinh.

Hồ Con Rùa Không Có Rùa

Năm 1986, tôi ra Hà Nội và có người hỏi: Hồ Con Rùa trong ấy ra sao, có đẹp và giống hồ Gươm ngoài này không? Giải thích rằng Hồ Con Rùa là cách gọi khác của Công trường Quốc tế, thì bị nghĩ là nơi đang xây dựng công trình gì đó với cát gạch xi măng. Cuối cùng phải tả rõ là diện tích chỉ có bấy nhiêu, có cái trụ nở xòe hình bông hoa, bệ xi măng chạy vòng quanh, dưới có ít nước… Nghe xong, ai cũng buột miệng: “Thế à, sao lại gọi là hồ nhỉ?” . Nếu hỏi tiếp: “Vậy con rùa ở đâu” thì càng khó. Con rùa màu đồng đã thành bụi đất trước đó gần chục năm sau một vụ nổ. Chỉ còn con rùa trong cái tên.

Với các thế hệ tuổi trẻ ở Sài Gòn, Hồ Con Rùa là nơi lui tới gần gũi đáng yêu. Giở ảnh đen trắng trong các album gia đình ở Sài Gòn, thường có tấm hình một nhóm bạn gái ngồi từng cụm quanh các bệ xi măng tròn ốp gạch mosaic, bận quần ống loe, áo ôm.

Chắc chắn chụp xong mấy tấm hình, họ sẽ đi rảo quanh đó, ngắm lá me bay ở “con đường Duy Tân cây dài bóng mát” rồi ăn bò pía, ốc len xào dừa hay bắp nướng mỡ hành. Từ đó, lang thang lên khu tam giác đại học Đinh Tiên Hoàng gặp bạn bè, ra khu nhà thờ Đức Bà xem và mua thiệp Tết góc Hàn Thuyên…

Nhiều người ở tuổi trung niên, khi rời Sài Gòn vẫn nhớ khoảng trời thơ mộng khi không tiền trong túi, vậy mà vẫn vui khi ra ghế đá Hồ Con Rùa ngồi ngắm các cô chụp hình, con gái trường Việt bận áo dài và dân trường Tây thì bận đầm…

Tôi nhớ khoảng sau Tết Mậu Thân 1968, lúc bảy hay tám tuổi, theo anh cả đi mua sách ở Khai Trí trên đường về có ghé mua bong bóng ở đây. Bức tượng con rùa màu vàng trông như bằng đồng, đội trên lưng tấm bia cao có ghi tên một số quốc gia. Sau này đọc tài liệu mới biết Công trường này do ông kiến trúc sư Nguyễn Kỳ thiết kế và tên các nước viện trợ xây dựng Công trường được khắc trên tấm bia, có lẽ vậy nên mới gọi là Công trường quốc tế hay nôm na là “Đài quốc tế viện trợ”. Nhìn từ xa, công trường là một khối kiến trúc hình thành một vòng xoay chung quanh, có một cái Tháp cao nhất ở giữa nhìn như một bông hoa xòe ra. Có người lại cho là hình bàn tay đón nhận viện trợ. Bên cạnh tháp là một bệ tròn có cột trụ đỡ phía dưới, cắm thẳng vào một hồ nước cạn. Từ bệ tròn có một cầu thang dài đi xuống khá đẹp với mấy nhịp ngắt.

Buổi chiều đi ngang qua đó, cảm giác thật là mát mẻ khi nước dưới hồ được phun lên, nhiều cây cao chung quanh và không khí thoáng mát.

202

Ảnh: Nguyễn Đình

Tấm hình bưu thiếp xưa, có hình một cái tháp nước có kiến trúc rất đẹp ghi hàng chữ “Saigon - Le Château d’Eau” được vẽ lại bằng bút sắt bên cạnh được xác định là tháp nước nằm trong hệ thống nhà máy nước đầu tiên ở Sài Gòn. Ông Vương Hồng Sển trong Sài Gòn năm xưa cho đó là “một kỳ công kiến trúc”. Tháp nước này được ghi nhận xây xong năm 1880 và bị phá bỏ năm 1921. Vị trí của nó chính là nơi có Hồ Con Rùa hiện nay. Sau 1921, Pháp cho xây ở đó Tượng đài Chiến sĩ Trận vong Đại chiến Thế giới lần thứ nhất – được dân gian gọi là “Tượng Ba hình” vì có tượng ba người lính, cho đến năm 1964 mới bị phá bỏ.

Hồ Con Rùa đến nay vẫn còn nhưng dường như không mấy khi được tu bổ. Trong mắt người viết sống từ nhỏ ở thành phố này, đây là một kiến trúc đẹp và đầy gắn bó với người dân thành phố từ nhiều năm qua với hình tượng thanh thoát, có nét riêng biệt. Nó trở thành một ký ức đẹp khó phai, và mong rằng sẽ không bị phá bỏ như đã từng xảy ra với một số kiến trúc xưa cũ khác ở Sài Gòn.

203

Bức tượng con rùa đội trên lưng tấm bia cao có ghi tên một số quốc gia viện trợ cho việc xây dựng Công trường này.

204

Tháp nước (château d’ eau) ở công trường Marechal Joffre vào khoảng cuối thế kỷ 19 (vị trí Hồ con Rùa ngày nay)

Xe Điện Sài Gòn

Vài năm trước, trên một tờ nhật báo ở Sài Gòn có bài viết về xe điện Hà Nội và cho rằng “Sài Gòn xưa và TP. HCM ngày nay chưa có hệ thống tàu điện” . Bài báo lập tức bị phản ứng từ một độc giả gần chín mươi tuổi nguyên là nhân viên của Công ty xe điện Pháp tại Đông Dương khẳng định sự tồn tại của hệ thống tàu điện, hay thường được gọi là xe điện Sài Gòn trước năm 1945.

Chú Lý, nhân viên một ngân hàng của Sài Gòn trước đây kể thêm cho người viết những điều tai nghe mắt thấy về hệ thống xe điện Sài Gòn. Điều đáng nói là hệ thống này tổ chức khá tốt, các tuyến lan tỏa đi chung quanh thành phố khá thuận lợi cho người dân cần di chuyển với giá rẻ nhưng chu đáo và thuận lợi.

Trước năm 1945, chú Lý theo ông anh vô Chợ Lớn. Lúc đó xe điện đang phổ biến. Hai anh em lên xe đi từ đường Galliéni (Trần Hưng Đạo). Xe chạy suốt con đường này từ Sài Gòn vô Chợ Lớn mà hai trạm chính là ga Nancy (Nguyễn Văn Cừ bây giờ) và ga Arras (đường Cống Quỳnh).

Lúc đó, có lẽ do hình dáng na ná với xe lửa đầu máy hơi nước chạy tuyến Sài Gòn - Đà Lạt hay Sài Gòn - Mỹ Tho (do Sở Hỏa xa Đông Dương quản lý), xe điện ở Sài Gòn cũng được dân chúng gọi là “xe lửa”. Tuy vậy, xe điện hình dáng thon gọn hơn, màu sơn đẹp hơn. Trên đầu xe có cái cần câu điện bằng thép cao khoảng hai mét hình chữ U lật ngược, khi xe chạy thì rà theo đường dây điện chạy dọc theo đường rầy, xẹt ra tia lửa xanh xanh đỏ đỏ vui mắt. Chiếc xe chỉ có mỗi một toa, vừa là đầu máy vừa là toa chở khách. Toa xe có hai đầu, không có đuôi. Hai bên thành xe còn có hình quảng cáo, phổ biến nhất là: “Một viên Cửu Long Hoàn bằng 10 thang thuốc bổ” của nhà thuốc Võ Văn Vân, thuốc dưỡng thai Nhành Mai, dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín và kem đánh răng Hynos anh Bảy Chà có hình anh da đen nhe hàm răng trắng bóc. Bên trong xe có hai dãy ghế bằng gỗ nằm dọc theo chiều dài xe. Khoảng trống ở giữa khá rộng nên mọi người đa số là giới bình dân, kẻ đứng người ngồi chồm hổm. Xe chạy khá chậm, sắp tới trạm nào thì kêu leng keng vui tai.

205

Hình ảnh xe điện Sài Gòn ở Đại lộ Galliéni (Trần Hưng Đạo) trước 1945, in trên bưu thiếp xưa.

Khách lên xe phải mua vé bằng tấm bìa cứng màu xanh đậm hình chữ nhật khổ cỡ ba phân, dài sáu phân. Lên xe đưa cho nhân viên soát vé, họ sẽ xé ở một cạnh một hình tam giác, coi như vé đã dùng xong. Chú Lý lúc đó còn trẻ con thủ ngay vào túi vì đó chính là thứ đồ chơi phổ biến của con nít Sài Gòn, đứa nào cũng thích sưu tầm cả xấp để chơi tạt giấy. Đặc biệt là vé mua ở ga nào thì có hình biểu trưng (logo) của ga đó vẽ trên một tấm bảng trắng bằng kim loại tráng men, theo kỹ thuật làm đồ pháp lam vốn chịu được mưa nắng nhờ lớp men phủ bảo vệ kim loại bên trong. Chú Lý nhớ ga Sài Gòn có hình biểu trưng là con cò trắng, ga An Bình có hình con khỉ, ga Arrat Cống Quỳnh hình… cây cào cỏ và ga Chợ Lớn có hình… cái xe bồ ệch. Vào trong xe, khách có thể thấy một ông tài xế luôn lái xe trong tư thế đứng (có lẽ để dễ quan sát), làm nhiệm vụ giật cái gọng xe điều khiển xe dừng lại hay chạy tới. Sau lưng ông tài xế có một cái bảng bằng men trắng chữ đen ghi rõ bằng ba thứ tiếng Pháp, Quốc ngữ và chữ Nôm. Nội dung “Xin đừng nói chuyện với người coi máy”. Do có hai đầu, khi xe đi theo chiều ngược lại, ông tài xế trở qua đầu kia và lái tiếp.

Do xe điện chạy với tốc độ chậm, khách trên tàu thường nhảy ra ngoài khi nó chạy gần vào ga. Kinh nghiệm là lúc đó phải bước xuống bậc thấp nhất, quay đầu nhìn về phía cuối xe và bước xuống. Lần đầu nhảy, chú Lý bị chúi nhủi về phía trước và suýt tông vào cột điện.

Theo ông Phụng Nghi, trong cuốn Sài Gòn trong mắt tôi xuất bản tại hải ngoại thì Sài Gòn có các tuyến xe điện sau:

Tuyến xe lửa mé sông chạy từ Sài Gòn đến Bình Tây, dọc theo các đường Bến Chương Dương, Bến Hàm Tử, đường Trần Văn Kiểu (theo mé sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé, kinh Tàu Hủ, kinh Bến Nghé)

Tuyến xe lửa giữa (vì nằm giữa hai tuyến nội đô) có lộ trình từ Boulevard de la Somme (Hàm Nghi), gần mé sông Sài Gòn chạy theo lộ trình Boulevard de la Somme, Galliéni (Trần Hưng Đạo A), Marins (Trần Hưng Đạo B), Tổng đốc Phương (Châu Văn Liêm), Bonhoure (Hải Thượng Lãn Ông) qua các ga Cuniac, Arras, Nancy, An Bình, Jaccaréo, Rodier.

Tuyến Sài Gòn - Phú Nhuận theo lộ trình: Đường Bonard (Lê Lợi), Paul Blancy (Hai Bà Trưng), qua Cầu Kiệu, đến chợ Xã Tài, nay là chợ Phú Nhuận.

Tuyến Sài Gòn - Hóc Môn qua các ga Đa Kao, Bà Chiểu, Bình Hòa, Gò Vấp, Hạnh Thông Tây, Chợ Cầu, Quán Tre, Trung Chánh.

Tuyến Sài Gòn - Lái Thiêu - Búng (nay thuộc Bình Dương).

Hệ thống này do Công ty xe điện Pháp tại Đông Dương CFTI (Compagnie Francaise des Tramways de l’ Indochine) đảm trách và từ năm 1896 bắt đầu khởi công. Nhưng cho đến cuối năm 1912 từ các toa xe sử dụng đầu máy hơi nước mới chuyển sang các toa xe chạy bằng điện (voitures à l’ électricité), kể từ đó dân chúng mới gọi là xe điện.

Năm 1914, tuyến đường xe điện đi từ Sài Gòn qua chợ Bến Thành rồi đi dọc theo đường Galliéni vào Chợ Lớn (Trần Hưng Đạo) (như hình) mới có. Xe điện tồn tại đến thời ông Diệm thì bị dẹp. Lúc đó dư luận Sài Gòn cho rằng các ông trong chính phủ làm kinh doanh - mở hãng taxi - nên dẹp xe điện. Nhiều người nghèo luyến tiếc một phương tiện giao thông thân thiện vì rẻ và tiện lợi.

206

Hai bên thành xe điện cách nay gần trăm năm đã được tận dụng để quảng cáo các sản phẩm gia dụng và cả... quan tài của hãng Tobia.

Bến Xe Thổ Mộ

Những năm Trung học ở trường Nguyễn Thượng Hiền trước 1980, tôi có dăm người bạn từ một vùng có cái tên ngộ nghĩnh là Bà Quẹo về học. Đó là một vùng quê yên tĩnh, vắng vẻ, nhiều cây cối, lắm ngõ đương đất len lỏi giữa những bụi tre trúc dày đặc. Mấy đứa bạn Bà Quẹo, với giọng miền Nam chân chất, mang không khí thôn dã nơi mình sống vào lớp. Tụi nó kể về những món ăn cơm ngon lành như đầu cá thác lác kho nước dừa ăn rất hao cơm, rồi kể chuyện đi tìm bắt ngay tại sân nhà những con rắn mối về nướng lên, thịt trắng ngon hơn thịt gà. Chuyện đi bắt dế cơm to bằng ngón tay, bằng cách bắt kiến đen bỏ xuống hang, dế chịu không nổi chui lên. Có cả chuyện mùa hè sáng dậy sớm bắt ve sầu từ đất chui lên, mình toàn sữa, chiên ăn thật là đã! Một đứa khác thích đi chơi nhưng luôn về sớm, vì còn phải đan giỏ cần xé. Một đứa khác khoe có ba đánh xe ngựa, hay chở nó đi học mỗi ngày hồi còn nhỏ.

Những điều đó thật lạ lẫm. Những năm học cấp 3 là thời gian hoa mộng và lãng mạn. Trong lớp có những đứa bạn nói tiếng Anh giỏi, biết chơi piano, mê nhạc Cung Tiến, Từ Công Phụng, Phạm Duy… Tôi mải mê đọc truyện của Stendhal, truyện ngắn Tchekhov, Gogol… nhưng những câu chuyện về một vùng quê sát nách thành phố luôn giục giã tôi. Tôi không bỏ qua một cơ hội đạp xe về Bà Quẹo chơi. Có những chiều trở về sau một trận banh, thấy có những chiếc xe thổ mộ chạy lóc cóc trên con đường Lê Văn Duyệt hướng về chợ. Một buổi sáng sớm, đi cắm trại ngang qua khu chợ lập lòe đèn của những năm sau 1975, thấy bóng dáng to lớn của những con ngựa bồn chồn đứng đợi chất hàng lên xe. Thành, bạn tôi kể trong hai năm 1979 và 1980, nếu dậy sớm từ hai giờ rưỡi sáng, ra đường là thấy mấy chiếc xe ngựa đi từ bến thổ mộ Bà Quẹo và xa hơn nữa là Hóc Môn đổ hàng xuống ở gần Cư xá Tự Do, khoảng giữa ngã tư Bảy Hiền và chợ Ông Tạ. Trong ánh đèn chai leo lét treo hai bên thành xe, dân buôn đưa hàng nông sản xuống, có gà, heo bó trong mấy cái bu đan bằng tre, rau quả trong các giỏ cần xé. Đến năm giờ sáng, mấy chiếc xe ngựa lên ngã ba Ông Tạ và tiếp tục đổ xuống rau củ cho bạn hàng bán lẻ chợ Ông Tạ. Thỉnh thoảng có mấy chiếc xe bò đi qua, chai đèn treo dưới gầm xe. Xe bò chở lu khạp, thường đổ hàng xuống chợ Tân Bình.

207

Bạn bè gặp lại nhau tóc đã hoa râm, nhắc lại thời đi học và cái bến xe quen thuộc. Chỗ ngã tư đường Lạc Long Quân và Âu Cơ bây giờ, năm 1970 trở về trước chỉ là hai con đường đất đỏ giao cắt nhau với tên gọi Hương lộ 14 (Lạc Long Quân) và Hương lộ 15 (Âu Cơ). Bến xe ngựa, thường gọi là bến xe thổ mộ nằm ngay ngã tư này. Đã có cả trăm chiếc xe ngựa hoạt động ở đây, mỗi xe chỉ do một con ngựa kéo. Bến xe hoạt động rầm rộ hàng ngày từ nửa đêm cho đến 12 giờ trưa ngày hôm sau, rồi trả lại sự vắng lặng tĩnh mịch cho con đường quê từ đầu giờ chiều đến nửa đêm. Theo quy luật hoạt động của các phiên chợ quê, mọi người thường họp chợ rất sớm.

Bến xe thổ mộ tại chợ Bà Quẹo ngưng họat động năm 1972 khi chánh phủ có chương trình hỗ trợ thay thế những chiếc xe ngựa thô sơ, hiện đại hóa các phương tiện di chuyển. Một người bạn khác kể rằng ba của anh được giúp chuyển đổi thành tài xế xe Lambro ba bánh. Hai bên thành xe của ông có ghi rõ hàng chữ “Thay thế mã xa”. Xe ngựa bị cấm cho đến 1975. Sau đó, do khan hiếm nhiên liệu, những chuyến thổ mộ lại được tái lập một thời gian cho đến khi mất hẳn.

Trong số các bức ảnh chụp quang cảnh Sài Gòn đầu thế kỷ 20, nhiều bức có hình ảnh chiếc xe ngựa bên cạnh các dinh thự kiểu Tây. Đến cuối thế kỷ vừa qua, xe ngựa vẫn hiện diện rồi dần lụi tàn. Cùng với những chiếc ghe đưa hàng từ dưới miền Tây lên, xe ngựa cung cấp cuộc sống đủ đầy cho dân Sài Gòn - Gia Định. Đó là dĩ vãng, một dĩ vãng rất đẹp.

Tôi thích nhìn hình ảnh chiếc xe ngựa, với dăm giỏ cần xé buộc hai bên, mấy người phụ nữ quấn khăn, mặc áo bà ba và một hai chú bé đi học ngồi vắt vẻo. Những hình ảnh gợi lên một không khí sống thanh bình, đơn sơ và cần cù, đầy tương phản với dáng hình phố thị Sài Gòn chung quanh nó.

208
« Lùi
Tiến »