Sài Gòn, Chuyện Đời Của Phố Tập 2

Lượt đọc: 1419 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
DU LỊCH MIỀN NAM TRƯỚC 1975

Hồi hơn mười tuổi, tôi thường đến chơi bóng bàn với đứa bạn con một bác hàng xóm mà cả xóm gọi là ông Thầu vì bác làm nghề thầu khoán. Ở đó, tôi xem được bức ảnh ông chụp bên cạnh tháp Eiffel bên Pháp. Đó là lần đầu tôi biết một người có thật có hình chụp bên một thắng cảnh nổi tiếng chỉ thấy trong báo và trên phim. Bác kể: “Tôi chụp khi đi du lịch bên Paris”.

Ngày nay, du lịch là một chuyện bình thường. Nhưng cách nay hơn bốn mươi năm, chuyện đó nghe thật lạ tai với một thằng nhóc. Về kể cho má tôi nghe, bà bảo: “Thời buổi này ai mà đi du lịch cho nổi trừ nhà giàu có như ông Thầu. Ba của con có đi du lịch ở Đà Nẵng, nhưng từ chục năm trước rồi, bây giờ đi đâu cũng sợ súng bom!”. Rồi bà chỉ một cái bình nhựa có dây đeo, cho biết cái bình đó dùng đựng nước uống mang theo để ba tôi đeo trên vai khi lên đường. Má tôi kể một bà bác là nhà giáo về hưu có đi được vài nơi, du lịch hẳn hoi với hướng dẫn viên, ra tới Huế và sang Hồng Kông, Nhật Bổn và đó là niềm tự hào cả dòng họ. Nhưng đó là chuyện đầu những năm 1960.

Chuyện đi du lịch của người Sài Gòn hầu như tôi chỉ biết có vậy. Bạn bè tụ họp trong các chuyến đi chơi, bảo nhau hồi trước 1975 nhà nào ham đi chơi cũng quanh quẩn ra Vũng Tàu, sáng đi chiều về. Sang lắm thì lên Đà Lạt, ra Nha Trang là hết. Sài Gòn thời chiến tranh, dân chúng sống càng lúc càng khó khăn, vùng nào cũng có đánh nhau nên ít ai dám đi đâu. Do đó, ngành du lịch ở Sài Gòn tuy không mạnh nhưng thoi thóp tồn tại. Đã có những cố gắng của những người muốn phát triển ngành này, từ nhà nước đến tư nhân. Có những người học chuyên ngành du lịch từ nước ngoài về tham gia vạch kế hoạch phát triển trong thời chiến và cả hậu chiến.

Có lẽ một nền du lịch thực sự ở miền Nam trước 1975 vẫn còn phôi thai, non trẻ cho dù đã có những cuộc tổ chức đi chơi xa cho dân chúng, có chương trình hẳn hoi. Đọc cuốn Hơn nửa đời hư, đầu thập niên 1960 ông Vương Hồng Sển đón cha từ Sốc Trăng lên Sài Gòn đi thăm đền Angkor và người tổ chức chỉ là một người quen, thuê xe, đưa đón, thuê nhà trọ và ăn một chút tiền dôi ra từ các cá nhân đóng góp. Rải rác có các công ty du lịch hình thành đưa khách đi chơi nhưng danh sách điểm đến thật nghèo nàn: du lịch trong nước chỉ tổ chức đi Đà Lạt, Bảo Lộc, Vũng Tàu, Nha Trang… Ra nước ngoài có Angkor, Nhật Bổn, Hongkong…

Trước thời gian đó một chút, năm 1959, có một công ty du lịch hình thành và có thể coi là công ty đầu tiên chuyên làm du lịch của người Việt. Ông chủ đầu tư là ông Nguyễn Văn Liêm, chủ hãng phim Hoàn Kiếm chuyên nhập phim Nhật và cũng là chủ nhân hai điểm lui tới nổi tiếng của giới văn nghệ sĩ là quán La Pagode, thường gọi là quán Cái Chùa và nhà hàng Tự Do ở trung tâm Sài Gòn. Sau khi hình thành, ông mời ông Nguyễn Danh Xương làm Giám đốc, đạo diễn Kha Thùy Châu làm phụ tá và diễn viên điện ảnh Đoàn Châu Mậu phụ trách về giao tế. Công ty lấy tên là Saigon Service Center (S.S.C) chuyên về du lịch đặt trụ sở tại đường Ngô Đức Kế, quận 1. Lúc đó đô thành Sài Gòn sau khi ký Hiệp định Geneva vài năm đang còn ổn định, chiến tranh chưa lan rộng, ông Nguyễn Văn Liêm có tầm nhìn xa, nghĩ là tình hình sẽ thay đổi, người Mỹ và người nước ngoài sẽ vào miền Nam nhiều hơn để làm ăn nên muốn đi đầu trong việc cung ứng các dịch vụ du lịch cho người nước ngoài và cả người Việt Nam khá giả. Còn thực tại thì khách đi du lịch không nhiều, đa số người có máu mặt, người Việt gốc Hoa, và phụ nữ là những đối tượng dễ xin phép ra nước ngoài lúc đó.

Ngay sau khi thành lập, Ban điều hành vạch ra một kế hoạch phát triển khá hấp dẫn. Trước hết, công ty tổ chức các cuộc du ngoạn mỗi ngày đi vòng quanh thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, thăm các thắng cảnh, di tích, Viện bảo tàng dành cho khách đến Sài Gòn du lịch. Phương tiện là đội xe mười chiếc sơn trắng của Ý hiệu TRI-LAMBRETTA do hãng Lambretta tại Sài Gòn nhập cảng về. Đây là loại xe chạy máy hai thì, ba bánh, mái vải, có lối đi lên ở giữa, thông thoáng để có thể quan sát cảnh vật. Hình dáng xe này khá giống loại xe điện dùng để chạy trong các công viên, nhưng chỉ có ba bánh. Bên hông xe có kẻ dòng chữ “SAI GON SIGHT SEEING”. Giá xe mỗi chiếc lúc đó chỉ khoảng 35 đến 45 ngàn đồng, dễ đầu tư vì vốn nhẹ.

68

Hai người trong ban điều hành Công ty du lịch Saigon Service Center (S.S.C), ông Kha Thùy Châu (trái) và ông Đoàn Châu Mậu

• Tư liệu: Kha Thùy Châu

69

Xưa kia, người Sài Gòn gọi Vũng Tàu là Cấp, dựa vào cái tên Cap Saint Jacques thời thuộc Pháp. Ngoài thú vui tắm biển, khách đến Vũng Tàu thích mua mắm ruốc, ăn trứng con vích. Trứng vích có lòng đỏ rất bùi, lòng trắng không đông cho dù luộc chín. Hiện nay, trứng vích bị cấm mua bán để bảo vệ động vật quý hiếm

Đã có dịch vụ đưa khách đi chơi quanh thành phố rồi, ban Giám đốc tính chuyện xa hơn với các kế hoạch lớn hơn. Trước hết, công ty liên kết với dịch vụ Club Nautique tại khu Thanh Đa. Đây là loại hình giải trí Câu lạc bộ dưới nước có từ thời Pháp thuộc, thường xuyên tổ chức chơi trượt nước, dạo chơi trên sông bằng Canoe. Câu lạc bộ này còn có ba nhà hàng phục vụ khách. Công ty đưa khách đến, thuê canoe đi trên sông Sài Gòn ngắm cảnh, lướt sóng ra tới Nhà Bè ăn cá, đến Lái Thiêu ăn trái cây, xem làm đồ gốm...

70

Một đoàn giáo viên Sài Gòn đi viếng chùa Thiên Mụ, Huế

Ảnh: Gia đình bà Nguyễn Thị Nam, Bà Chiểu

Do mới mở nên khách mua dịch vụ lai rai, không ồ ạt. Lúc đó, công ty còn nghĩ đến một kế hoạch táo bạo hơn. Số là sau khi suy tính, cố vấn phụ trách giao tế là ông Đoàn Châu Mậu gửi một lá thư bằng tiếng Anh cho ông Hugh Hefner, chủ tạp chí Playboy chuyên dành cho đàn ông nổi tiếng của Mỹ. Thư đề nghị công ty ông Hefner liên doanh với S.S.C vào dự án xây dựng một Sandy club, khu du lịch có bãi tắm riêng dành cho người nước ngoài tại đảo Thổ Chu, Tây Nam nước Việt. Khu du lịch trên hòn đảo hẻo lánh này, ắt sẽ thỏa mãn những điều kiện du lịch phóng khoáng nhất mà người nước ngoài, đặc biệt là người Mỹ ưa thích, như bãi tắm “tiên”, theo cách gọi bây giờ.

Bức thư gửi đi Mỹ, không biết mất mấy tuần và cũng không chắc được phản hồi. Ai ngờ, một thời gian sau, có một người Mỹ tên là Clinton, đại diện ông Hugh Hefner bay qua Sài Gòn và tìm đến Văn phòng chánh phủ VNCH tìm hiểu điều kiện đầu tư việc mở Khu du lịch liên doanh với Công ty S.S.C tại đảo Thổ Chu. Tin đến tai Tổng thống Ngô Đình Diệm, vốn là một người công giáo gốc phong kiến. Ông nổi trận lôi đình, đòi bắt bỏ tù ai dám thảo thư mời chủ báo Playboy mở loại công ty du lịch như vậy. Ông Kha Thùy Châu nhớ lại: May là bức thư chỉ đứng tên công ty, không có chữ ký cụ thể của ai, nên thoát nạn!

Đến năm 1963, trước khi ông Diệm bị lật đổ, tình hình làm ăn càng lúc càng khó khăn đối với ngành phim ảnh. Ông Nguyễn Văn Liêm, lâu nay chuyên nhập cảng phim Nhật, gặp sự cạnh tranh của các hãng nhập về phim Mỹ đang được ưa chuộng. Đã vậy, khi ông nhập cuốn phim Đức Phật Thích Ca về, chính quyền họ Ngô không cho chiếu. Chi phí bỏ ra cao lại không thu hồi vốn được, ông Liêm đóng cửa công ty Hoàn Kiếm và dẹp tiệm luôn công ty S.S.C.

Đến giữa thập niên 1960, chiến tranh lan rộng, việc đi du lịch đối với dân miền Nam càng trở nên khó khăn, chỉ từ Sài Gòn đi Vũng Tàu cũng bị dừng xe xét giấy tờ thường xuyên hoặc có khi phải quay về vì đường bị “đắp mô” tức bị đặt mìn. Đến năm 1968 sau tết Mậu Thân, số khách du lịch giải trí nghỉ hè sụt giảm hẳn, kể cả với giới có tiền. Về du lịch quốc tế, khách đến từ nước ngoài khá đông nhưng chủ yếu là làm ăn, ngoại giao, việc quân sự, thăm gia đình. Số người Việt ra nước ngoài sau thời điểm đó tăng hơn nhưng chủ yếu là xuất ngoại mua bán hàng hóa khan hiếm và quý kim (do lúc đó có sự hạn chế, cấm chỉ hay đánh thuế nặng của Bộ Kinh tế với hàng xa xỉ).

71
72

Cửa hàng mỹ nghệ công ty Thành Lễ ở đường Tự Do (nay là Đồng Khởi) rất thu hút khách du lịch nước ngoài đến Sài Gòn trước 1975

73

Sản phẩm công ty Thành Lễ trưng bày tại cửa hàng đường Tự Do

Đến năm 1970, tuy vẫn khó khăn vì chiến tranh, ngành du lịch vẫn được nhìn nhận là có mãi lực phát triển dần. Theo ông Lê Thái Khương trong cuốn Du lịch, kỹ nghệ đệ tam đẳng tại Việt Nam , năm 1966 số chi tiêu của người nước ngoài ở Việt Nam là 29 tỉ đồng thời đó. Đến 1967 là 47 tỉ và ước tính năm 1968 là 50 tỉ. Đến 1970, đường bay đã có các máy bay phản lực Boeing 727 nối Sài Gòn với Nam Vang (Phnom Penh), Vọng Các (Bangkok), Đài Bắc, Tân Gia Ba (Singapore), Ma Ní (Manilla) Osaka và Tokyo. Hệ thống khách sạn lúc đó nổi bật là President với 700 phòng, Caravelle với 78 phòng, Victoria với 200 phòng, Majestic với 125 phòng… Nha Trang có khách sạn Giảng, Nha Trang, Hoàng Yến… Vũng Tàu có khách sạn Tam Thắng, Thanh Cảnh, Hoàng Yến, Viễn Đông… Ăn uống thì có các nhà hàng ngon là Đồng Quê, Trung Thành, Calypso, bò bảy món Au Pagolac, Duyên Mai, Ánh Hồng. Cơm Việt tại Nam Đô. Món ăn Ý ở La Dolce Vita, Pizzeria. Món Tây Ban Nha ở Paprika. Món Pháp ở Arc-en-ciel, d’ Admiral, de Bodega, Caruso, Le Cave. Món Hàn có Arirang House, New Seoul. Món Nhật có Fuji Nikko. Món Tàu có Đồng Khánh, Văn Cảnh, Bát Đạt, Quốc Tế, Bồng Lai. Đặc biệt đến nhà hàng Maxim’s với các món Tây, Tàu có ca vũ nhạc đặc sắc. Còn quán cà phê thì có nhiều quán rải rác ở các đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi như La Pagode, Givral, Brodard, Pôle Nord… Ngoài ra, còn có các tiện nghi khác đối với du khách như sau khi đi tham quan các nơi có thể may lấy ngay các bộ âu phục với đường may thanh nhã không kém ở châu Âu và lúc đó thợ may người Việt đã có tiếng may khéo. Trước khi người Mỹ đến 1965, công may lại rất rẻ. Các tiệm may nổi tiếng là Đô Hội, Văn Quân, Tân Tiến… Đi mua sắm thì có sản phẩm da, giày và thắt lưng, đặc biệt là giày bằng da voi rất được ưa chuộng. Các sản phẩm bằng đồi mồi, búp bê Việt Nam bận áo dài, guốc Đa Kao, sơn mài của hãng Thành Lễ, Trần Hà hay Mê Linh. Buổi tối đi chơi thì đến xem phim các rạp Rex, Đại Nam, Eden, Palace, Oscar… Muốn nhảy đầm có Tự Do, Văn Cảnh, Queen Bee, Baccara. Muốn say sưa thì đến các snack bar ở trung tâm Sài Gòn. Xem sân khấu cải lương, thoại kịch về đêm thì đến Quốc Thanh, Nguyễn Văn Hảo, Olympic…

Tuy có một số lợi thế nhất định, ngành du lịch miền Nam đầy dẫy khó khăn. Cuộc chiến tranh đã tàn phá nhiều cơ sở hạ tầng, đường xá và một số lăng tẩm. Ngân sách nhà nước lúc đó cho du lịch rất ít, kinh phí hằng năm được cấp phát quá ít, vào khoảng 400.000 đồng tiền VNCH, chỉ đủ mua được 1/3 chiếc xe hơi du lịch Toyota. Ngành du lịch lúc đó mơ tới một ngân sách khoảng 80 ngàn USD (ngang với Đài Loan), thay vì chỉ 7 ngàn USD như lúc đó, để đủ tiền làm một cuốn phim màu về du lịch mỗi năm, in 500 ngàn cuốn sách chỉ dẫn, 5 tấm bích chương mới về thắng cảnh và bản tin tức hằng tháng. Giới du lịch ganh tỵ với câu chuyện là ở Campuchia, ông hoàng Sihanouk cùng nhân viên trong hoàng cung đi đóng phim màu, ngoại cảnh là các cảnh đẹp trên đất nước họ, nhất là ở khu đền Angkor. Sau đó, người bên đó tổ chức Đại hội điện ảnh các nước trong vùng, tự chấm phim mình giải Nhất để lấy uy tín hầu đem phim đi chiếu ở các nước, nhất là Mỹ và Tây Âu để mở rộng thị trường du lịch của họ.

74

Dù đi du lịch bằng xe đò ra tới Huế, các cô giáo tại Gia Định vẫn mang áo dài nghiêm chỉnh. Cảnh dừng lại mua sắm đợi xe qua phà

Đã vậy, khi người Mỹ đến Việt Nam họ chi tiêu quá nhiều dẫn đến lạm phát càng khổ cho dân nghèo. Do đó, chính quyền Sài Gòn bàn với người Mỹ giải tỏa áp lực này bằng cách hạn chế lính Mỹ ra khỏi trại, trong ba ngày mới có một ngày ra phố, nếu gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng Mỹ được lãi suất cao 10% mỗi năm và khuyến khích họ đi nghỉ ở nước ngoài như sang Nhật, Hongkong, Singapore, Phi hay Úc. Sự hạn chế chi tiêu này là hợp lý cho xã hội nhưng bất lợi cho ngành du lịch Việt Nam và giúp du lịch các nước kia cơ hội phát triển. Do đó, có chuyện Nha du lịch Sài Gòn định lập một trung tâm giải trí Đà Lạt rất quy mô không thua khu giải trí Đồi Walker ở Seoul, Hàn Quốc nhưng cuối cùng bị xếp lại. Còn về nơi trú ngụ cho du khách, cho đến 1970 đa phần khách sạn ở miền Nam vẫn là do người Pháp xây dựng trước kia với kích thước nhỏ bé, thiếu tiện nghi. Cho đến tháng 10 năm 1969, cả miền Nam chỉ có 432 khách sạn với hơn 9000 phòng, riêng Sài Gòn đã là 125 khách sạn với hơn 4000 phòng, chiếm 47% cả nước. Giá phòng ở khách sạn các nước là: phòng đơn 7 USD, phòng đôi 12 USD. Ở Sài Gòn, ví dụ như khách sạn Caravelle, phòng đơn 17 USD, phòng đôi 21 USD. Giá tính ra gấp đôi ở nước ngoài dù tiện nghi không bằng. Còn các loại hình cư ngụ khác như Motel là loại khách sạn có chỗ đậu xe hơi, có nhiều nhà khép kín với các phòng ăn, ngủ, bếp, nhà tắm… thì chưa có. Dạng Lữ quán thanh niên giúp giới trẻ đi du lịch giá rẻ, có thể kết thân với nhau thì chỉ Đà Lạt có một Lữ quán với sức chứa 220 người. Sân cắm trại dành riêng cho du khách sạch sẽ, an ninh và tiện nghi như ở nước ngoài thì hoàn toàn không có.

75
76

Các trang quảng cáo du lịch Vũng Tàu và Tây nguyên (trang bên) trong cuốn Vietnam Export Directory-1973 bằng tiếng Anh do The Vietnam Export Development Center xuất bản

• Tư liệu: Nguyễn Đức Huyên.

77

Poster quảng bá du lịch miền Nam với hình ảnh Cổng Lăng Đức Tổng trấn Lê Văn Duyệt tại Gia Định

78

Ngoài cuốn sách của ông Lê Thái Khương mong muốn nhìn sâu vào những khó khăn hiện tại, triển vọng phát triển của một ngành kỹ nghệ mới mẻ cần được xây dựng, một số báo và tạp chí miền Nam đã viết về du lịch với không ít bài vở nhưng hầu như là kế hoạch hậu chiến đầy triển vọng. Cũng có những trí thức tâm huyết với ngành du lịch, như ông Phan Lương Hoan, phó Giám đốc Air Việt Nam (hãng hàng không của chính quyền Sài Gòn) rời chức vụ chuyển sang làm Giám đốc Nha du lịch quốc gia. Vốn có bằng Master bên Úc, ông hoạch định nhiều kế hoạch du lịch cho tương lai. Trước hết, ông mở một quán cà phê trong nhà hàng thuộc khách sạn Majestic ở đường Tự Do (Đồng Khởi ngày nay), lấy tên là Cyclo House. Khách đến đó uống cà phê hay nước giải khát thay vì ngồi trên ghế sẽ được chễm chệ uống nước trên ghế xe xích lô. Đây là quán cà phê nổi tiếng, gây ấn tượng mạnh với khách đến Sài Gòn. Ông còn có những kế hoạch khác để phát triển du lịch khá quy mô. Tuy nhiên, các kế hoạch đề ra sát năm 1975 nên đã không thành hiện thực.

79

Ca sĩ Kim Vui bên chiếc đèn ngà chạm

Năm 1959, một tờ Lịch màu năm Canh Tý năm 1960 mang tên “Công nghệ Việt Nam” được thực hiện để quảng bá sản phẩm thủ công mỹ nghệ của miền Nam, hỗ trợ cho việc thu hút khách du lịch đến Sài Gòn. Bộ lịch có 12 tấm, mỗi tấm in hình một sản phẩm bên cạnh các nghệ sĩ, thiếu nữ đẹp. Bộ lịch được in tại nước ngoài. Ảnh: báo T.G.T.D, tập IX, số 3

80

Nữ sinh bên gốm Biên Hòa

81

Tượng đất nung Chăm

CHÚ LÝ VÀ KIM PHÁT BAZAR

Suốt thập niên 1940, có một người đàn ông trung niên gốc Quảng Đông tên Lý Ngọc Lang kiếm sống ở chợ Sài Gòn, tên thường gọi lúc đó của chợ Bến Thành. Mỗi ngày, chú Lý đeo một cái tràng đan bằng tre trước ngực, bằng một sợi dây vắt qua cổ. Trên mặt tràng là những món nữ trang như bông tai, dây chuyền, cà rá, móc tai, kim chỉ, hột quẹt...đều được sản xuất từ Chợ Lớn. Chú Lý đi sớm về trễ, mời khách không biết mệt mỏi, ăn cơm hàng cháo chợ quanh năm. Chú chìu khách, biết chịu đựng những lời vặn vẹo, từng câu trả giá sát ván, những cú đá hay lời chửi mắng của bọn cảnh sát Tây rảo chợ mỗi ngày...

Ngày qua ngày, sau một thời gian cần mẫn tiết kiệm “ăn mắm húp giòi, bòn tro đãi trấu”, Lý Ngọc Lang đủ vốn sang một tiệm buôn ở ngôi chợ lớn nhất miền Nam này, mà dân lục tỉnh vẫn thường gọi là chợ trung tâm. Chú dám bỏ tiền sang một lúc hai cái tiệm sát bên nhau, số 301-303 cửa Tây, lấy tên là tiệm Kim Phát. Tiệm chuyên bỏ mối hàng nữ trang xi mạ cho các bạn hàng trên khắp miền Nam, từ lục tỉnh đến các chợ miền Trung. Kim Phát trở thành một tiệm bán đồ xi mạ lớn, không chỉ nhờ diện tích mà còn do quy mô làm ăn.

Năm 1953, sau trận lụt năm Thìn, ba tôi sau mấy năm làm ăn với mấy cái máy dệt nhỏ không thành công đã chán cuộc sống làm ông chủ nhỏ luôn thiếu vốn, bị chính quyền và bạn hàng bắt chẹt đủ đường. Ông xin vào làm nhân viên hiệu Kim Phát của chú Lý Ngọc Lang, nhỏ hơn ông vài tuổi. Từ đó, ông gắn bó với hiệu buôn này suốt một phần tư thế kỷ. Có một nghề ổn định, ăn lương tháng đều đều đủ nuôi vợ con, không bị dính vào chuyện lính tráng, đó là hạnh phúc nhỏ và niềm tự hào lớn của một người kiếm sống trên đất Sài Gòn sáu mươi năm trước.

Chú Lý Ngọc Lang là một ông chủ người Việt gốc Hoa điển hình, chí thú làm ăn và tiếp tục nai lưng làm việc khi đã trở thành ông chủ. Hai vợ chồng chú mỗi ngày đến tiệm làm việc với người nhân viên duy nhất là ba tôi. Ba tôi tính toán tiền bạc, giao hàng bỏ sỉ cho khách và bàn bạc việc đặt gia công các mặt hàng với ông bà chủ. Người Hoa vốn quý người thật thà và nếu đủ độ tin cậy, họ coi như người nhà. Ba tôi được nắm những giao dịch quan trọng của chú Lý, thay mặt chú giải quyết công việc. Rồi theo ý muốn của chú Lý, ba tôi dần tham gia một số hoạt động của gia đình ông, như đi ăn cưới, đầy tháng, thôi nôi, ma chay hiếu hỉ và cả đi du lịch cùng gia đình chú Tám ở Cấp, Đà Nẵng. Ông anh tôi nhớ lại: đi Vũng Tàu cùng với gia đình ông chủ, ba tôi vẫn giữ phận nhân viên, giúp ông lo cho mọi người vui chơi, ăn uống. Ông biết giữ khoảng cách với ông chủ dù từ lâu được coi như người nhà.

Ở tiệm Kim Phát, hàng hóa được đóng gói để trên kệ, khách hàng đến được giao nhanh chóng. Hàng xi mạ bằng bạc luôn có giá cao hơn vì nước mạ đẹp lâu phai hơn đồ bằng nhôm. Thời buổi chiến tranh, phụ nữ Việt bình dân vẫn thích chưng diện nhưng không phải ai cũng có vàng để đeo, đã vậy thời buổi không ổn định, đeo hàng xi vẫn đẹp lại ít tiền, có mất không tiếc, thế là nữ trang xi mạ bán đắt như tôm tươi. Hàng trong Chợ Lớn cung cấp không kịp, ông chủ phải giao cho nhân viên đem nguyên liệu về nhà sản xuất khâu cuối ăn công. Cùng với chú Xịn, em họ bà Tám, ba tôi mang về đủ thứ món để làm ở nhà. Một cuộn dây chuyền cả trăm mét vàng chóe, anh Hai tôi mắc vào cái hộc tủ kéo hẳn ra, rồi dùng kéo cắt từng sợi dài hay ngắn. Anh Năm của tôi dùng nhíp gắn khoen tròn hai đầu sợi dây. Tôi, lúc đó lên mười, dùng nhíp gắn móc kết hai đầu thành sợi dây chuyền tròn. Có khi ba tôi mang cà rá, bây giờ gọi là chiếc nhẫn, về để nhuộm mặt. Anh tôi nhúng mặt cà rá vào sơn đen, chị Tư dùng giẻ lau cho sáng cái mặt cho chữ Phước nổi lên trên nền đen, là xong. Những năm đó, cuộc sống thật khấm khá. Ba tôi mua ti vi năm 1966 hiệu Denon, chiếc ti vi thứ hai trong xóm có được. Mỗi ngày, ông ăn cơm chiều cùng một chai bia lớn La Rue. (Và không bao giờ tôi quên kiểu ngồi khi uống bia của ông: Đặt một cái ghế đẩu gỗ nhỏ trên cái ghế đơn, thứ ghế ngồi ăn bàn tiệc. Ông ngồi co chân trên cái ghế đẩu, chân đặt trên mặt ghế. Ông giữ kiểu ngồi này cho đến khi mất ở tuổi 95).

82

Công việc của thư ký tiệm buôn là đóng gói hàng hóa để sẵn cho các đại lý các tỉnh về nhận, kết toán sổ sách hằng ngày

• Tư liệu T.G

83

Trong nhà lồng, khu ăn uống hiện nay

Ảnh: Nguyễn Đình

Một buổi chiều cuối năm đầu thập niên 1970, trước khi đóng sạp, ba tôi được chú Lý đề nghị ở lại chuyện trò. Chú bảo rằng việc làm ăn tại tiệm rất thuận lợi từ gần hai chục năm nay, “Kim Phát bazar” ai cũng biết tiếng. Chú khẳng định rằng trong đó có công sức không nhỏ của ba tôi vì đã làm việc siêng năng, thật thà chăm chỉ lại biết tính toán có lợi cho chủ. Đáp lại công sức đó, chú đề nghị ba tôi “ra riêng” làm chủ một tiệm ở chợ Bến Thành này, vị trí tiệm đó tốt, việc làm ăn đang lên nhưng chủ cũ bận việc phải ngưng kinh doanh. Chú Lý còn bảo rằng chú sẽ cho ông mượn tiền sang sạp và giúp vốn liếng ban đầu bằng cách bỏ mối hàng hóa cho trả chậm. Nếu ba tôi nhận lời, chú sẽ thấy vui khi từ nay có một đồng nghiệp cùng làm ăn, dù sẽ khuyết đi một nhân viên làm công mẫn cán.

Ba tôi đã mất ăn mất ngủ suy nghĩ mấy ngày về đề nghị hấp dẫn đó. Lúc đó, Sài Gòn đang sống hối hả, việc buôn bán phát triển mạnh nhưng chiến tranh tiếp diễn không ngơi. Cuối cùng, ba tôi quyết định ở lại làm việc với vợ chồng chú Lý. Tính an phận và những lo toan mơ hồ đã khiến ông trở lại công việc cũ, có chút nhàm chán nhưng ổn định. Ông vẫn đi về hằng ngày bằng chiếc xe Sachs hai thì của Đức, cuối tuần một mình đi xem phim Mỹ ở rạp Cathay, hút ống điếu hằng ngày và thỉnh thoảng vào ăn cao lâu cùng chú Tám và bạn hàng ở nhà hàng Soái Kình Lâm, Đồng Khánh trong Chợ Lớn.

84

Ảnh: Nguyễn Đình

Ba tôi làm việc với chú Lý cho đến năm 1978, giúp chú vượt qua những khó khăn của cuộc sống sau 1975 khi nền kinh tế thay đổi hoàn toàn. Đến năm 1978, tiệm của chú Lý và tất cả các sạp hàng tư nhân trong chợ Bến Thành ngưng hoạt động do bị xếp vào thành phần “tư sản thương nghiệp”. Ba tôi thất nghiệp. Năm đó, cả nước lụt lội lại có chiến tranh biên giới, điện bị cúp thường xuyên. Tôi không thể quên hình ảnh ba tôi lúc đó, ngồi ôm đầu lặng lẽ bên ánh đèn dầu trong những ngày mới rời công việc trong suốt mấy mươi năm. Tóc ông bạc rất nhanh, nhất là hai bên mai. Chỉ có má tôi là thấy nhẹ nhõm. Tuy biết từ lúc đó bà sẽ đơn thân gánh nặng gia đình không còn ông chia sẻ, bà mừng vì năm xưa ông đã không nhận tiền để mở tiệm ở chợ Bến Thành. Nếu không, có thể cả nhà đang sống ở một khu kinh tế mới nào đó.

85

Ảnh: Nguyễn Đình

BẢN ĐỒ ÁN DỞ DANG

Tính đến nay (2014), chợ Bến Thành đã tròn một trăm năm tuổi. Được xây dựng từ năm 1914 trên một mảnh đất vốn là một cái ao đã được lấp đầy, Chợ Bến Thành lúc đó không khác với hình dáng bây giờ mấy, nhất là các chi tiết đặc trưng như là tháp đồng hồ bốn mặt. Nhìn không ảnh chụp từ trên cao, cấu trúc chợ khá ổn định từ đó đến nay, vẫn là khu chợ hình chữ nhật nằm giữa các khối phố, cổng chính ở hướng Nam ngó ra cái quảng trường phía trước từng mang các tên: công trường Cuniac thời Pháp thuộc, công trường Diên Hồng trước 1975 và sau này là công trường Quách Thị Trang…

Năm 1971, có một sự kiện tuy không được quan tâm nhiều từ người dân bình thường nhưng thu hút giới kiến trúc, báo chí, và những người buôn bán ở ngôi chợ lớn nhất, quan trọng nhất miền Nam này. Do cảm thấy Sài Gòn lúc đó đang trên đà phát triển nhưng ngôi chợ lớn nhất ở trung tâm thành phố vẫn trong tình trạng của mấy chục năm về trước, chính quyền thời đó muốn có sự thay đổi lớn. Để bắt đầu, họ mở một cuộc thi lớn mang tên “Đồ án chợ Sài Gòn trong tương lai” với giải Nhất bằng hiện kim là 1,5 triệu đồng. Đây là một cuộc thi được giới chuyên môn đánh giá là khó, người dự thi đương nhiên thuộc giới kiến trúc, phải bỏ rất nhiều công sức, thời gian để thiết kế vừa đồ án chi tiết, mô hình để gửi về dự thi. Tác phẩm phải hội đủ điều kiện về kỹ thuật chuyên môn, thẩm mỹ, tiện ích xứng đáng với ngôi chợ lớn nhất và quan trọng nhất miền Nam này. Người dự thi có bốn tháng (từ 27.10.1970 đến 24.1.1971) để nghiên cứu thực hiện các bình đồ, họa đồ và cả mô hình nổi về ngôi chợ. Trong thông báo về cuộc thi, chỉ quy định khái quát về những điểm căn bản: phải có tầng hầm, tầng trệt và ba tầng lầu và mỗi tầng có chức năng riêng phù hợp. Chợ mới phải hệ thống thang máy, xử lý vệ sinh… Tất cả trên diện tích 12 ngàn mét vuông, chiếm toàn bộ vị trí ngôi chợ cũ từ Công trường Diên Hồng đến đường Lê Thánh Tôn.

Do tính chất phức tạp và quy mô của bài dự thi, chỉ có tám đồ án gửi đến khi cuối hạn. Ban Tổ chức cảm thấy bất ngờ và bối rối khi tám bài dự thi đều rất công phu, hiện đại và có thể nói là “vĩ đại” như lời kiến trúc sư Bùi Ngọc Hồ nói với báo chí. Điều này đặt trên vai Ban giám khảo trách nhiệm lớn. Trong Ban giám khảo, có các kiến trúc sư uy tín như KTS Vũ Tòng, đoàn trưởng Kiến trúc sư đoàn; KTS Phạm Văn Thăng là Khoa trưởng Đại học Kiến trúc Sài Gòn cùng giới chức Tòa Đô chánh Sài Gòn lúc đó. Sau một ngày xem xét chấm giải, cuối cùng đồ án của Kiến trúc sư Huỳnh Kim Mảng đoạt giải nhất. Do có khoảng cách với đồ án này, các đồ án còn lại không có giải Nhì. Giải Ba trao cho đồ án của hai tác giả là Nguyễn Huy và Trần Phong Lưu, trị giá 400 ngàn đồng. Ba giải khuyến khích đồng hạng trị giá 200 ngàn đồng cho các KTS Nguyễn Kỳ, Đào Trọng Cương và Nguyễn Hữu Sơn.

KTS Huỳnh Kim Mảng vốn đã thực hiện nhiều công trình quan trọng trước đó như cùng tham gia lập đồ án xây dựng trường Lasan Tabert (nay là trường Trần Đại Nghĩa), rạp hát Victory Lê Ngọc, Trung tâm Văn hóa Pháp. Ông sinh 1920 tại Long Xuyên, từng theo học Đại học Kiến trúc Hà Nội từ 1941, tiếp tục học Đại học Kiến trúc Đà Lạt từ năm 1945 và đến 1949 sang Pháp học tại trường Cao đẳng kiến trúc Paris. Ở đây, ngoài bộ môn kiến trúc, ông còn học thêm thiết kế đô thị tại Đại học Kiến thiết thiết kế đô thị. Ông tốt nghiệp năm 1955 và về Sài Gòn làm việc.

86

Bình đồ trệt. Bóng tòa tháp bên phải góc dưới đổ xuống

87

Vẽ phối cảnh Đồ án Chợ Bến Thành từ trên xuống

88

Phối cảnh mô hình đồ án Chợ Bến Thành của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng

89

KTS Huỳnh Kim Mãng đang giảng bài cho sinh viên kiến trúc năm cuối

Nói về bản thiết kế của mình, ông cho biết phải dùng tới 20 họa viên trong ba tuần lễ để vẽ họa đồ, bình đồ, thực hiện mô hình nổi… Cảm thấy chợ Sài Gòn vừa cũ kỹ và chật hẹp, ông đã tận dụng toàn thể diện tích hiện hữu của chợ gồm ngôi chợ chánh phía trước và khu chợ bán trái cây phía sau. Theo đồ án, chợ sẽ xây thành nhiều tầng. Tầng hầm làm bãi đậu xe 150 chiếc. Tầng trệt cao hơn mặt đất một mét, chung quanh bán thịt các loại, hoa quả và vào trung tâm là khu bán cá giữa nơi thoáng đãng, có ánh sáng rọi từ trên xuống và thấp xuống để giữ vệ sinh chung. Tầng một bán chạp phô, bách hóa các loại. Tầng hai bán quần áo, vải vóc, văn phòng ngân hàng tư nhân. Lầu 3 là nơi vui chơi của trẻ em. Lầu thượng có nhà hàng, quán giải khát, có rạp chiếu bóng, rạp cải lương. Phía trước chợ còn có một ngôi tháp cao 50 mét, phần trên tháp sẽ là một nhà hàng. Chợ có hệ thống thang máy, thang nâng hàng, hệ thống xử lý rác. Hàng hóa đưa vô chợ hoặc lên lầu đều có lối riêng, không dùng chung lối đi với khách. Điểm nổi bật là càng lên cao, diện tích các tầng đều nới rộng ra, được xem là lối kiến trúc táo bạo, thẩm mỹ và đáp ứng nhu cầu buôn bán của chợ lúc đó.

Sở thiết kế Tòa Đô chánh Sài Gòn lúc đó dự tính kinh phí xây chợ mới sẽ tốn chi phí khoảng 1,5 tỉ đồng, và có thể khởi xây năm 1972. Tuy nhiên, dự án này đã không bao giờ được thực hiện. Lý do được báo chí sau này thuật lại là lúc đó dân chúng không đồng tình, muốn giữ lại ngôi chợ cũ vốn gần gũi, quen thuộc từ hơn nửa thế kỷ trước. Và hơn nữa ngân sách thành phố lúc đó không đủ để thực hiện.

Kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng sau 1975 trở thành Cố vấn Hội kiến trúc sư thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1981 đến 1987. Sau này, ông ra nước ngoài sinh sống và mất tại Bruxelles, Bỉ, năm 2007, hưởng thọ 87 tuổi.

90

Mô hình Chợ Bến Thành mới

NGÕ CỔNG BOM, KHU CẤP TIẾN VÀ TRÙM SƠN ĐẢO

Bây giờ, đi qua khu Ông Tạ mấy ai biết ngõ Cấp Tiến, ấp Hàng Dầu, mấy ai biết câu thành ngữ “trai Nam Thái, gái An Lạc” để chỉ tài sắc của dân cư vùng Ông Tạ ba thập niên từ 1960 đến 1980. Khu Ông Tạ vẫn còn bán giò chả, thịt cầy và lá vông trước Tết, vẫn còn dăm tiệm bán đồ làm đám cưới, nhưng sắc màu của một khu dân cư người Bắc khá đặc trưng này không còn như xưa. Chẳng biết buồn hay vui, nhưng chuyện vật đổi sao dời là chuyện bình thường.

Có ai còn nhớ cái ngõ có một cái tên nghe rất... vang là ngõ Cổng Bom.Ngõ Cổng Bom là con ngõ đi vô chùa Khuông Việt bên đường Phạm Văn Hai, Tân Bình. Vì sao gọi là Cổng Bom hay còn gọi là ngõ Khuông Việt? Cư dân cũ quanh vùng còn nhớ lúc đó cổng vào ngõ chùa Khuông Việt có hai cây cột làm bằng vỏ bom bằng aluminium, nên gọi ngõ đó là Cổng Bom. Những ngày lễ như Vu Lan hay Phật Đản, Cổng Bom treo đầy khẩu hiệu đón chào khách thập phương vào chùa cúng lễ. Các chú bé người gốc Bắc di cư gần đó theo đạo Công giáo nhưng không thể bỏ qua một dịp vui như vậy, lũ lượt theo đám bạn Phật giáo vào chùa Khuông Việt xem cúng Phật và tụng kinh. Sau khi lễ lạy xong, mấy sư trong chùa mang oản và bánh trái xuống cho bọn trẻ ăn. Đồ cúng có thể không ngon nhưng đứa nào cũng thích những bánh oản gói trong giấy bóng kiếng màu xanh, màu đỏ rất đẹp mắt.

Trong ngõ chùa Khuông Việt còn có công-xy heo mà lũ trẻ trong vùng xem là nơi để... tham quan nếu đứa nào có gan không sợ xem máu đổ. Đăng Kha, đứa bạn cũ đang sống ở Mỹ ôn lại cho tôi dăm câu chuyện đơn sơ nhưng hấp dẫn về cái công-xy heo này. Ở đó có nhà của bác Tâm chuyên nghề làm thịt heo, thịt bò nên mấy người con ai cũng thông thạo nghề nầy. Kha thường hay theo Thái, con trai bác Tâm vô đây. Ở đó, Kha được Thái, con bác Tâm chỉ cho cách liếc dao và cắt thịt, những loại thịt nào như thịt thăn, thịt nạc vai, thịt ba chỉ, vân vân. Thái liếc dao rất nhanh và cắt thịt rất giỏi mặc dù chỉ trạc tuổi 12,13 nhưng to con, khỏe mạnh. Trên bàn tay của Thái có những vết thẹo, trên cả ngón tay, vết nầy chồng lên vết kia vì va chạm thường xuyên với dao sắc. Có lần Thái còn biểu diễn cho bạn bè xem con dao rất sắc bằng cách lật ngửa dao lên rồi rút một sợi tóc để bên trên và thổi qua một cái là tóc đứt liền. Mỗi ngày Thái ôm một đống dao về nhà để cho ba của Thái mài thật sắc, sửa soạn cho ngày hôm sau đi cắt thịt.

Hằng đêm, những xe cam-nhông chở heo, bò, và trâu, đậu ở trước ngõ Cổng Bom, bỏ chúng xuống, dẫn vào công-xy để tối đem làm thịt, sáng ngày mai đem ra chợ bán. Nhìn những con trâu con bò được dẫn đi vào lò sát sanh thấy tội nghiệp cho chúng. Có nhiều tối, mấy chú trâu hoặc bò có linh cảm là mình sẽ bị giết, lồng lên và nhảy lung tung. Có nhiều con phá đứt dây và chạy húc tùm lum trên đường. Lũ trẻ thường hay ra xem cảnh tượng ấy, có hôm bị bò rượt chạy thục mạng mới thoát nên Kha thường đứng ở ban công trước nhà nhìn lũ bò được dắt xuống xe. Có nhiều con như linh cảm mình sắp đi vào lò sát sinh, chùn bước lại không muốn xuống nên vài người phải leo lên xe và đẩy xuống. Kha kể là thấy họ bóp đuôi trâu bò cho đau để nó phải xuống. Anh cu Thái kể có nhiều con trâu, con bò khi biết mình bị đem đi giết, đã quỳ gối lạy và khóc với những giọt nước mắt rơi xuống để xin tha tội, nhưng số phận chúng vẫn không thoái khỏi bị sát sinh. Thật là trớ trêu khi trong cùng một cái ngõ, lại có một cái chùa nhắc nhở chúng sinh không sát sinh lại gần với cái lò xẻ thịt hằng ngày.

91

Ngõ Cổng Bom vào chùa Khuông Việt nay chỉ còn cái tên. Hai vỏ bom dựng thay cột cổng đã được tháo bỏ - Ảnh: Nguyễn Đình

Bên trong ngõ Khuông Việt còn có một gia đình một chú người Tàu làm bánh phở tươi hàng ngày và bỏ mối cho hầu hết các tiệm bán phở ở khu Ông Tạ. Kha kể hồi nhỏ thường vào đây mua bánh phở tươi mang về cho mẹ nấu phở ở nhà. Họ có những nồi bột gạo lớn và những nồi tráng bánh cũng lớn. Việc tráng bánh làm bằng tay. Người thợ dùng cái gáo làm bằng vỏ dừa múc bột đổ lên khuôn tráng, bên dưới là nước sôi sùng sục. Khi bánh chín, họ dùng một cây khều mỏng làm bằng tre, tróc bánh bên dưới khuôn và nhấc lên để vào mấy cái giỏ, cũng đan bằng tre. Sau đó họ thoa một lớp mỏng dầu lên mặt bánh cho khỏi dính khi đặt lớp bánh thứ hai lên trên và cứ như vậy cho đến khi được nhiều bánh. Khi bánh trong giỏ đầy gần một gang tay, họ mang bánh tới chỗ máy để cắt thành sợi phở. Đứng xem, Kha thấy họ nhấc từng chiếc bánh và để lên trên máy, xong họ đạp dưới chân cái cần, bánh chạy qua máy cắt và rớt xuống cái cần xế bên dưới. Những cần xế này được đem đi bỏ mối cho các tiệm phở. Họ cũng để một vài cần xế phở riêng để bán lẻ cho người dân địa phương. Về sau nhờ làm ăn phát tài, chú người Tàu mua thêm một căn nhà gần đó và để cho gia đình người em trai ở, thông luôn với căn nhà cũ trong xóm Khuông Việt. Nhưng nhà này không bán phở mà bán gạo và bán cám cho heo ăn. Hàng tuần xe gạo chở về tới nhà chú, vừa có gạo để làm bánh phở, vừa có gạo để bán.

92

Chùa Khuông Việt ngày nay - Ảnh: Nguyễn Đình

Từ công-xy heo qua cầu Ông Tạ có con ngõ Cấp Tiến đi tắt ra đường Thoại Ngọc Hầu. Ngõ Cấp Tiến là con ngõ nổi tiếng ở đó. Trong ngõ này có tay anh chị nổi tiếng một thời ở Sài Gòn, đó là ông Sơn Đảo.

Có nhiều truyền thuyết về Sơn Đảo được truyền tụng: như chuyện ông ta đi tù ở Côn Đảo, bị nhốt trong chuồng cọp và trốn thoát vượt biển đầy những cá mập về đất liền. Sơn Đảo là trùm băng đảng. Ai láng cháng đụng đến ông hay băng đảng của ông là không thoát được việc trả thù. Tuy vậy, dưới mắt cư dân khu ông Tạ, xóm Cấp Tiến, ông Sơn Đảo đối xử đàng hoàng với mọi người và không thấy có gì tàn ác như lời đồn. Đã vậy, những chuyện kể về ông làm việc nghĩa hiệp, cướp của người giàu đem cho người nghèo khiến xóm Cấp Tiến nể vì. Có lần đi vào xóm này gọi thợ sửa xe, Kha nhìn thấy mặt ông Sơn Đảo ngay bên cạnh nhà anh thợ. Đó là một người to con, lực lưỡng và mặt mũi khá bảnh bao. Tuy vậy, chuyện băng đảng thanh toán nhau của Sơn Đảo ai cũng biết là có thật vì báo chí Sài Gòn lúc đó đăng tải rất nhiều.

Không lâu sau lần gặp đó, trước năm 1975, Sơn Đảo từ giã cõi đời, không biết bị bạo bệnh hay bởi một tay anh chị nào đó thanh toán. Khu Ông Tạ lúc đó rất xôn xao vì chuyện này, nhiều người không tin cho đó là chuyện bịa đặt để Sơn Đảo lánh mặt đi tìm chỗ ẩn tịch hay một lý do nào đó chỉ những người trong băng đảng của ông mới biết được. Dầu vậy, đám ma Sơn Đảo cũng là một sự kiện lớn cho dân Ông Tạ. Quan tài ông được quàn tại nhà trong ngõ Cấp Tiến với rất nhiều câu đối và vòng hoa phúng điếu. Nhiều tay anh chị ra vô thăm viếng để tỏ sự kính trọng và để tiễn biệt Sơn Đảo lần cuối cùng. Kha cùng lũ bạn không bỏ qua cơ hội ngó nghiêng này. Quan tài của Sơn Đảo được dán toàn giấy bạc năm trăm đồng, có hình đức Trần Hưng Đạo mầu xanh. Xe tang lớn chạy diễu hành trên đường Thoại Ngọc Hầu, nay là đường Phạm Văn Hai. Đoàn người theo sau quan tài của ông ra tận ngoài ngã ba Ông Tạ để đưa tới nơi an nghỉ cuối cùng. Cả khu phố Ông Tạ đổ xô ra xem đám ma. Nghe nói sau khi chôn ông ở nghĩa trang, những tay đàn em của ông đã ở lại canh gác ở đó vì sợ người ta quật mộ ông dậy để bóc lấy tiền dán ở quan tài ra. Thế là xong một kiếp anh hùng khét tiếng của khu Ông Tạ và Sài Gòn thời bấy giờ.

Gần đầu ngõ Cấp Tiến có tiệm thuốc tây Ngọc Thạch. Dược sĩ Nguyễn Ngọc Thạch cũng rất nổi tiếng thời bấy giờ với dân khu này. Có nhiều người bị bệnh, không cần phải đi bác sĩ nhưng cứ ra đây, kể triệu chứng là ông ấy bán thuốc về uống là khỏi liền. Người ta kể rằng, nhà ông làm ăn phát tài, vì mộ tổ tiên được an táng vào một chỗ tốt nên con cháu ăn nên làm ra. Kha tò mò hỏi dò, được biết là mộ cha ông ấy được chôn ở nghĩa trang Thanh Minh Tương Tế, đối diện rạp hát Đại Lợi, nay là trung tâm mua sắm giải trí Unique. Thế là Kha cùng mấy đứa trẻ cùng xóm vào nghĩa trang tìm mộ của tổ tiên ông cho biết hư thực. Nghĩa trang rộng với biết bao nhiêu mồ mả, nhưng tụi nhóc tì cũng tìm ra ngôi mộ của cha ông dược sĩ Thạch. Ngôi mộ được xây kiên cố và rào kín vì bên trên có mối đùn lên, lại có thêm dây tơ trắng phủ lên chung quanh. Phải nói là ngôi mộ như một cái nhà nhỏ có cửa khóa. Nhìn qua những chấn song, người ta vẫn có thể nhìn thấy đống mối đùn lên và những sợi dây tơ trắng. Người ta bảo nếu được dây tơ hồng phủ lên thì con cháu làm ăn còn sung túc hơn nữa và có thể làm quan, làm vua.

Hình như ngõ hẻm nào trên khắp Sài Gòn, khắp nước Việt hay trên thế giới này đều có những câu chuyện đáng nhớ như vậy. Khi kể lại cho nhau nghe, bạn bè tôi bảo nhau rằng dường như đó là những ký ức đẹp nhất ở một đoạn đời đẹp nhất. Không ai biết người dân khu ông Tạ xưa kia có bao nhiêu phần trăm người ra sống ở nước ngoài, nhưng con số đó không ít. Nên đối với đám bạn xưa ở đây, lâu lâu họ lại nhắc những câu chuyện cũ trong mailgroup lớp xưa. Những cái tên Cổng Bom, ngõ Hàng Dầu, khu Cấp Tiến, ngõ chùa Khuông Việt... của một thời thơ trẻ hồn nhiên.

93

Bức ảnh gia đình tuyệt đẹp và đầm ấm này có từ 60 năm trước, ghi dấu một thuở sum vầy không còn nữa. Năm 1954, gia đình ông Bùi Thọ Hựu từ Thái Bình vào Sài Gòn, sống ở căn nhà số 14/5 ngõ Cổng Bom, đường Thoại Ngọc Hầu (nay là đường Phạm Văn Hai), Tân Bình. Trước khi vào Nam, gia đình ông Hựu chụp chung bức ảnh này. Trong ảnh, bà Hựu bận áo the đen, quấn khăn. Ba chú bé trong ảnh, người lớn nhất mất vì bệnh sau khi chụp ảnh này không lâu khi đã vào Nam. Hai chú bé còn lại lớn lên, đi lính VNCH và tử trận liên tiếp trong hai năm 1968 và 1969. Ông bà Hựu thay nhau ra đi sau 1975. Cô bé nhỏ nhất còn lại, trở thành ni cô tại một ngôi chùa ở Canada

• Ảnh tư liệu gia đình bà Bùi Thị Quy, Canada

« Lùi
Tiến »