Sáu Giang Hồ Và Những Mảnh Đời Phiêu Dạt Khác

Lượt đọc: 1324 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chớp mắt trăm năm

Yêu người mặn cả chiêm bao

Lìa nhau nắng ngọt mưa ngào bỗng chua

Bao giờ chín trái tình thua

Để lòng thay lá sang mùa phôi pha?

1.

MẶC NHỮNG TỐP LÍNH RÃ NGŨ, BỎ NGỎ CÁC phòng tuyến đâu đó ở ngoại vi thành phố ùa về, rảo bước, chen chúc nhau lên những chiếc xe đò, xe lam, xe tải, xe nhà binh la hét tranh giành hoặc câm nín ngang qua các đường phố bừa bãi những áo quần lính trận, mũ sắt, dây nịt đạn... quăng ném vội vàng. Mặc bọn hôi của thoắt biến thoắt hiện quanh những ngôi nhà vắng chủ ngang nhiên chia chác “chiến lợi phẩm” giữa thanh thiên bạch nhật. Mặc bụi khói ám mù cảnh vật dưới mặt đất, bầu trời thành phố Huế hôm ấy vẫn rất trong xanh, hoa phượng vẫn cháy đỏ màu muôn thuở.

Hôm ấy, chân chưa rời khỏi Huế mà sông Hương đã trở thành nỗi nhớ trong lòng không ít người ra đi. Trong số người đi có trung úy Hãn, áo quần trận lấm bụi, mũ lưỡi trai kéo sụp ngang mày cỡi chiếc Honda Dame chầm chậm ngang qua đường Trần Hưng Đạo nghiêng ngó, chốc chốc dừng lại dõi mắt săm soi vào đám người tản cư mang xách, gồng gánh khoác chung vẻ lam lũ, cam chịu từ tóc tai quần áo đến điệu dáng mệt mỏi, phờ phạc, thất thần. Già có, trẻ có, họ lê bước lếch thếch, hoặc tụ lại từng nhóm đứng lóng ngóng bên vệ đường, thấy xe nào ngang qua cũng đưa tay ngoắc rối rít, to tiếng van xin quá giang. Những xe đầy từ chối đã đành, có xe lưng lửng cũng vọt nhanh, dông biến để lại làn bụi làm lem úa những mặt người thất vọng vụt khựng sững như là tượng.

– Hãn, anh... Hãn!

Dừng vội xe, ngoảnh mặt về phía tiếng gọi, Hãn chưa kịp lên tiếng thì người đàn bà trẻ đã rảo bước đến bên hắn, chiếc túi xách nặng nề kéo lê theo chân, nón lá hất ngược ra sau để lộ gương mặt không son phấn nhễ nhại mồ hôi, mắt long lanh ánh vẻ mừng khôn tả:

– Trời đất, tưởng anh đi rồi, sao còn ở đây?

Tạt vào khoảng trống trước căn nhà đóng kín có tấm bìa lịch cũ ai đó viết nguệch ngoạc lời nhắn: Mạ đã vô Đà Nẵng. Chìa khóa gửi ở dì K. treo trên cửa sắt, Hãn cau ríu đôi mày sâu róm, nhìn từ đầu đến chân Ngà:

– Em... Ngà đi từ lúc nào?

– Sáng hôm kia lận, đón xe hoài không được, cuốc bộ từ cây số 17 vô tận đây muốn rã từng lóng xương. Còn anh Hãn, sao...

– Đơn vị rút từ Giạ Lê về lúc 5 giờ sáng, anh vội chạy ra nhà coi thế nào, nói mãi ông bà già nhất quyết không đi, vợ chồng thằng em đi rồi, chẳng rõ giờ này đang ở đâu, kiếm hoài chưa gặp.

– May thì vô tới Đà Nẵng, không may thì còn ở dọc đường đâu đó, anh khéo lo, biết đâu mà lần!

– Lâu lắm mới gặp, Ngà sống thế nào?

– Dạ cũng tàm tạm. Anh đã rước cô nào về làm dâu làng Kế Môn chưa?

– Chưa. Còn em, đi bước nữa rồi chứ?

– Dạ, vẫn ở không!

Người đàn bà trẻ cúi mặt cắn chặt môi, gã trai lắc đầu khẽ tặc lưỡi chẳng rõ ái ngại hay ân hận đã buột miệng hỏi cái câu thiếu tế nhị, nhạy cảm không phải lúc. Hãn nổ máy, cúi cầm cái túi xách gác ngang sườn xe, thấp giọng:

– Chậc, đã đến nước này thì... anh sẽ xoay xở thử xem. Lên xe đi.

Thoáng ái ngại rồi Ngà ngồi lên yên sau:

– Đi đâu anh?

– Thì đi kiếm xe. Không phải em muốn vô Đà Nẵng sao?

– Ờ há!

Xe qua cầu Trường Tiền, tiếng Hãn bạt trong gió:

– Nếu là em, anh cóc cần đi.

– Nghĩa là anh không sợ chết, bom hay pháo coi như pha hả? Em thì yếu bóng vía lắm, người ta nói trận này sẽ ác liệt gấp trăm lần trận năm 72, mùa hè đỏ lửa.

– Sống chết đều có số cả, giày dép còn có số huống nữa là con người. Người xinh xắn như Ngà chắc chắn có số đẹp, sống dai.

– Lúc nào anh cũng đùa được!

Hai người cùng cười. Kiểu cười lặng, không phát thành tiếng. Nụ cười làm giãn vẻ mặt mệt mỏi của Ngà ra chút đỉnh, nom tươi tắn hơn. Nụ cười khiến Hãn nghe lòng vơi được phần nào nỗi bất an mấy hôm nay cứ bám riết lấy mình như đỉa. Con đỉa vô hình hút dần sự thanh thản, hồn nhiên vốn có ở bất cứ gã trai trẻ nào còn lưng chừng ở độ tuổi giữa hai mươi và ba mươi, có chừng dăm năm mặc đồ trận chui rúc trong rừng sâu núi thẳm, may mắn lành lặn quay về, nhưng tâm hồn bị xém cháy ít nhiều sự tự tin, biết trân quí hơn cuộc sống, bởi đã có lúc cận kề cái chết ngoài trận mạc.

– Lâu nay em có quay lại trường Luật, học tiếp mấy cái chứng chỉ còn lại không?

– Học hành gì nữa, chữ nghĩa rỉ sét cả rồi, phải chi hồi đó...

– Đừng vội lên xe hoa, trở thành đại úy phu nhân hả?

– Anh vẫn còn mê đọc sách chứ? – Ngà lảng chuyện. Hãn lại cười:

– Với anh, sách luôn là những người đẹp hoàn hảo hơn bất cứ người đẹp nào ngoài đời thực, mê sách lại an toàn hơn mê người đẹp bằng da bằng thịt.

– Dóc tổ cái ông này! – Ngà đấm khẽ vai Hãn.

Xe qua khỏi cầu, đổ dốc, rẽ trái rồi dừng lại. Khu trường Đại học Sư phạm, điểm Bộ tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh chọn làm nơi đóng quân tạm trên đường di tản, sớm mai còn đông đặc người của các phòng, ban, các máy móc, khí tài phục vụ cho guồng máy đầu não của một tập thể gồm nhiều trung, tiểu đoàn bộ binh và những đơn vị đặc nhiệm nay vắng hoe, còn trơ lại những phòng học mở cửa tan hoang, rỗng tuếch, lác đác vài kẻ “điếc không sợ súng” đi nhặt nhạnh những thứ vặt vãnh còn rơi rớt lại.

– Muộn mất rồi!

Hãn dựng xe, buồn rầu nói, rảo bước lao nhanh lên lầu 2, nơi bộ chỉ huy tiểu đoàn truyền tin tạm đóng. Phòng ốc trống không, cả cái ba lô đựng đồ cá nhân của hắn cũng “bốc hơi” đằng nào mất rồi. Hãn vội vàng quay xuống. Một chiếc Jeep từ phía bên hông trái chất đầy lính với một người mang lon đại úy ngồi cạnh tài xế bỗng quành ra, tăng tốc nhắm hướng cổng. Hãn đưa tay ngoắc, gọi:

– Đại úy, thưa... đại úy!

Chiếc Jeep chạy trờ tới, thắng đánh “kít”, Hãn đưa tay ngang mày dập hai chân vào nhau chào theo thói quen thâm niên ngoài 5 năm quân ngũ, kể cả thời gian huấn luyện ở quân trường, nói gấp:

– Đi hả, đại úy?

– Dọt lẹ, mẹ kiếp, giờ này còn em với út hả mậy?

– Dạ không phải, người nhà, cho em gửi đứa em quá giang...

Gã đại úy ném mắt ra phía sau, trên ấy hơn chục mạng chèn như cá trong hộp, lắc đầu:

– Chịu thôi, chạy theo bọn tao!

– Đi đâu, đại úy?

Chiếc xe tăng ga, quẹo phải ra đường, gã đại úy đưa hai tay lên trời gào, như thể không nói với Hãn mà với trời xanh đang bắt đầu ngã màu hoàng hôn tím thẫm:

– Thuận An!

Chiếc Honda Dame lao vọt đi. Ngà vòng tay ôm chặt eo Hãn. Chiếc xe máy được nhấn ga rung rẩy lên từng hồi như thể mọi bộ phận sẵn sàng rã ra. Tiếng Ngà kề bên tai Hãn bởi nàng chọn vai hắn để gác cằm lên cơ hồ cho đó là điểm tựa vững vàng nhất từ mấy hôm nay, từ hôm khăn gói cuốn theo dòng người tránh bom né đạn:

– Sao lại về biển?

– Đường bộ tắc rồi, có lẽ đèo Hải Vân đã bị cắt.

– Những người hồi nãy...

– Cùng đơn vị truyền tin với anh. Họ rút muộn, có lẽ vì còn nán lại phá hỏng máy móc.

– Kể cũng hên, không gặp họ mình chẳng biết đi đằng nào.

– Đường trời lúc này may ra, còn đường đất hoặc đường biển may ít rủi nhiều.

– Khi không anh phải nặng gánh thế này, em áy náy hết sức.

– Có khi nào Ngà chạy lẹ kiểu này chưa?

– Dạ chưa.

– Giờ thì nhắm mắt lại, anh sẽ đưa em lên...

– Lên đâu hả... ông tướng?

– Lên thiên đàng!

Ngà khẽ cười, đấm dứ vai Hãn liền hai cái, lập lại cái câu đã nói lúc họ qua cầu Trường Tiền:

– Lúc nào anh cũng đùa được.

Lúc nào... Đúng là giữa hai người đã từng có một thời ấm áp những câu đùa, những tiếng cười. Thời ấy giờ đã xa xôi chưa hẳn như cổ tích mà bị chôn vùi dưới biết bao nếp gấp ghời gian, buồn nhiều hơn vui, dữ nhiều hơn lành, dù cả hai chưa bao giờ “cùng nhìn về một hướng” mà chỉ song hành, thậm chí đường ai nấy đi, thỉnh thoảng gặp rồi chia, chia tới bặt vô âm tín rồi thình lình bỗng gặp như lúc này, người này thấy kẻ kia già dặn hơn một tí, hình như xa cách hơn một tí, và ngược lại, nhưng chẳng ai nói ra điều này.

Qua khỏi chợ Mai chừng hơn cây số, xe đột ngột bị chặn lại giữa đường bởi một gã râu tóc bờm xờm, chai rượu kẹp nách, mặc bộ đồ rằn ri thoạt trông biết ngay thuộc binh chủng biệt động quân. Bảng tên, cấp bậc, phù hiệu đơn vị đã được gỡ bỏ. Cây M.18 ngắn nòng cầm huơ huơ trên tay uy lực hơn tiếng hét sũng men của gã:

– Ê dừng lại! Tao bảo... Đ.m dừng lạạại!

Mũi súng thôi huơ mà chĩa thẳng về phía hai người khiến Hãn không thể không dừng lại, không thể không cho gã say ngồi lắp vào sau lưng người đàn bà trẻ. Xe vừa lăn bánh, gã ngoác miệng phà hơi men vào tai Ngà:

– Nè ông trung úy, làm vài hớp ly bôi đi! – Đưa chai Whisky còn lưng nửa về phía Hãn, nói giọng cà rỡn, đoạn gã ông ổng hát: – Bạn ơi quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai tui đã... đã... đi xa rồi...

Hãn làm thinh. Trả chai rượu lại vào nách, gã tiếp:

– Bọn đại bàng, phượng hoàng với lại các mệnh phụ phu nhân vú bơm mông độn lên trực thăng hô biến cả rồi. Đ.m tổ tông năm đời bảy kiếp cái lũ mang con bỏ chợ. Đứa nào còn sót lại như ông và tui lúc này gọi là gì biết không?

Hãn im lặng, gã cười:

– Là cóc nhái, chuột cống, gà toi đang dẫn xác vô lò nướng thành các món quay, hê hê hê, quay, quay, quay tuốt, mẹ kiếp, xuôi tay cho mệ nuốt!

2.

TRỜI SỤP TỐI KHI HỌ TỚI TÂN MỸ, DẢI ĐẦM PHÁ không rộng lắm lúc này bỗng trở thành cái chảo lửa kinh hoàng phải vượt qua nếu muốn tới cửa biển Thuận An. Cái chảo lửa sẵn sàng xơi tái, nhấn chìm hoặc nướng chín tất thảy những ai xấu số bị ăn đạn từ những nòng súng chẳng thù hằn mà điên tiết, hoảng loạn bởi hội chứng cùng đường, tuyệt lộ.

Tân Mỹ lúc này tựa chỗ trũng, vũng xoáy hội tụ không biết hàng ngàn hay hàng vạn “sinh linh” trước đó khoác áo đủ loại binh chủng, giờ gần như xóa trắng hết mọi phiên hiệu nhưng vũ khí vẫn lăm lăm trong tay, buộc quanh dây nịt đạn. Dưới ánh sáng ma trơi của pháo sáng, pháo hiệu không ngớt lơ lửng trên nền trời đen mun, tiếng nổ của cơ man nào là loại súng thi nhau xé rách, bắn nát tả tơi màn đêm. Gió lộng từ đầm lên, từ biển vào không xua tan nổi mùi khét của khói súng, mùi tai ương ngờm ngợp bốc lên mỗi lúc có người ngã đạn bởi cố chen chân lên một chiếc xuồng, thuyền, đò hay sà lan vừa cướp được, hoặc bị Hà Bá nhấn chìm bởi các phương tiện ấy phải gồng gánh quá tải.

Tiếng kêu la, rủa sả, hò hét tựa đám bọt ngầu nổi lềnh khênh trên mặt chảo lửa sôi sùng sục ấy và, Hãn – Ngà chỉ là hai con gà toi – theo cách nói của gã say lúc nãy – đứng rũ cánh, chốc chốc khẽ cúi thấp người bởi các loạt đạn xé gió bay ngang trên đầu chiu chíu. Thoạt tiên cố len lỏi giữa đám đông tìm cách tiếp cận bờ đầm tìm phương tiện, sau họ bị dồn đẩy như thể có cơn sóng dữ dồn đẩy sau lưng, đôi khi phải ngồi sụp xuống để cưỡng lại “dòng cuốn”. Có lúc Hãn ngỡ đã níu được tay Ngà nhảy xuống một chiếc xuồng ba lá cỡ trung, nhưng rồi một loạt đạn tỉa dọc thân người đi trước hắn chừng một bước khiến hắn chùng lại, kéo Ngà quay ngoắt lại, cố rẽ “sóng” ngược lui.

Họ quay lại chỗ những chiếc container trước kia hẳn chứa vũ khí, đạn dược hay hàng quân nhu, quân tiếp vụ gì đó, giờ sét rỉ, móp méo bị vất nằm chỏng chơ bên lối mòn cạnh bãi trống đông nghẹt người, cái còn cửa, cái không, tất thảy ngậm kín bóng tối và bốc mùi xú uế lưu cữu, mùi cứt đái lưu niên, ... nói chung là mùi của một bô rác kiêm cầu tiêu hoang phế. Họ quay lại và Ngà quờ tay vào hốc tối của chiếc container ngoài cùng, mừng rỡ reo lên:

– May quá, nó vẫn còn nguyên nè anh!

Nhận lấy chiếc túi từ tay Ngà mang vào vai, Hãn rảo bước ra khoảng trống bên vệ đường, Ngà lúc thúc theo sau. Họ ngồi sát vào nhau vì cùng cảm thấy lạnh. Cái lạnh hồ như chưa ai từng cảm thấy trong đời, lạnh giá từ trong lòng ra, và từ cái chảo lửa ngoài kia rờn rợn ập vào.

Nhẹ nhàng mở dây kéo túi xách lấy thêm áo khoác ngoài, đoạn Ngà lấy ra gói mì ăn liền cười bảo:

– Nhai cho đỡ buồn miệng, anh!

– Cho đỡ đói! – Hãn cười buồn – Từ sáng tới giờ đã có gì bỏ bụng đâu.

– Chờ em một chút. – Ngà nói mau và lập tức biến vào biển người bên kia dãy container. Lát sau quay lại với hai bọc trà đá có ống hút thò ra trên miệng, nhỏ nhẹ nói:

– Giờ này nước quí hơn vàng, đắt kinh khủng.

– Đắt là bao nhiêu?

– Anh không thể tưởng tượng nổi đâu.

– Gấp mười ngày thường chứ gì?

– Không, gấp trăm ấy chứ.

– Thật à? Vậy thì phải nhấp từng giọt từng giọt một như là hồng đào mỹ tửu, không nên uống theo kiểu ngưu ẩm hồ đồ.

– Lúc nào anh cũng đùa được.

– Càng gần kề cái chết, những gì thuộc về cái sống càng trở nên đắt giá. Ngày mai hai bọc trà đá này sẽ tăng giá gấp hai hoặc ba trăm lần. Nhưng liệu lúc đó mình có còn để uống nữa không!?

Ngà đưa tay bịt miệng Hãn:

– Anh chỉ nói bậy.

Họ nhỏ nhẻ nhai từng cọng mì giòn rụm, nhỏ nhẻ nhấm nháp từng giọt nước nghe ngon hơn bất cứ bữa tiệc ngon nào từng ăn trong đời.

– Giờ tính sao anh? Lấy lại sức xong có nên phiêu lưu lần nữa, hay nói như cái gã say hồi hôm là ngồi đây “xuôi tay cho mệ nuốt”? – Ngà nhìn chăm mắt Hãn cùng lúc pháo hiệu kẻ nào đó vừa bắn lên trời, thấy cơ hồ có ngọn lửa đỏ trong ấy. Đỏ như mắt thỏ.

– Không nên phiêu lưu, chắc chắn sẽ ăn đạn thôi. Chờ sáng hẵng tính. Cùng lắm anh sẽ bị bắt làm tù binh, còn em, thường dân thì có gì mà sợ?

– Nhưng mà... Anh quên em từng là vợ lính sao?

– Lính tử sĩ thì Việt cộng đâu thèm tính sổ, hay sờ gáy làm gì!

– Lại đùa! – Ngà đưa tay che miệng ngáp, nghe cơn buồn ngủ nằng nặng trên mi mắt, duỗi người nằm nghiêng trên vệ cỏ, tay gối đầu, tay chống cằm trông lên gương mặt Hãn trong khoảng tranh tối tranh sáng chốc chốc lóe sáng hoặc nhuốm hồng bởi trái sáng hay pháo hiệu, vẻ mặt có cái gì đó là lạ như thể nàng mới thấy hắn lần đầu, và Ngà bỗng nhớ đến người chồng đã khuất.

Hồi ấy Ngà đã nhận một lúc hai nỗi đau mất mát. Chồng Ngà biến thành tử sĩ cùng một thời điểm, cùng một trận địa với Lược, anh trai nàng. Lược – trung úy trung đội trưởng và Tiêu – em rể – đại úy tiểu đoàn phó một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 54 bộ binh. Cả hai ngã xuống giữa vùng rừng núi Mỏ Tàu, một điểm nóng ở phía Tây huyện lỵ Phú Lộc. Sau này mỗi lần có dịp ngang qua cái địa danh không thể nào quên ấy, từ đường cái quan Ngà không thể không ngước nhìn lên đỉnh non mù mây khói, mường tượng thấy hai người khoác vai nhau, băng trắng quấn kín từ đầu đến chân như xác ướp, buồn bã trông hút theo chiếc xe hay chuyến tàu có mình ngồi. Sự mường tượng thường tan nhòe trong nước mắt.

Như con chim trốn tuyết, trốn mùa đông lạnh giá, sau đó Ngà đi “tị nạn” nỗi đau bằng cách rời quê vào sinh sống ở Đà Nẵng.

Nhan sắc đang độ chín, lại có hai chứng chỉ đại học Luật, nói khá sõi tiếng Anh, từ vị trí kế toán khiêm tốn, nàng nhanh chóng trở thành tài pán, quản lý tới ngoài ba mươi cô “đào” trẻ xinh đẹp của một quán bar kiêm vũ trường thuộc loại sang trọng, nổi tiếng nhất nhì Đà Nẵng, nơi thu hút lắm tay nhậu tay chơi lính Việt đã đành, cả lính Hàn, lính Mỹ. Những tưởng cuộc đời cứ thế xuôi chảy mãi, chí ít cũng kiếm được một tấm chồng danh giá trong đám khách hào hoa để xóa bỏ mặc cảm góa bụa, nhưng rồi Ngà lại quay về quê, buôn bán, đổi chác hàng quân tiếp vụ quanh những quán hàng “vệ tinh” của các căn cứ quân sự đóng dọc trận địa cây số 17 – sau lần bị vợ một thiếu tá không quân mướn bọn đầu gấu đánh ghen, trận đòn phũ phàng làm bà góa phụ trẻ chẳng những bị cạo đầu bôi vôi, mà còn gãy tới ba giẽ xương sườn, phải chữa trị cả năm mới bình phục.

Ngà ngồi lên thu người kêu lạnh. Hãn nói:

– Không thể ngủ kiểu phơi sương thế này được.

Thoáng ngập ngừng rồi chẳng ai bảo ai, họ chui vào cái container giấu túi xách của Ngà lúc nãy. Ngà lấy chai dầu Nhị Thiên Đường từ túi áo ra để hai người cùng khử mùi. Loay hoay thu xếp, sau cùng họ cũng có được một chỗ tương đối ổn để ngả lưng. Mặc mùi xú uế vây quanh, mặc bao thứ tiếng động tai ương, chết chóc gào hú bên ngoài, họ nằm xa nhau mấy gang tay, rồi khoảng cách thu hẹp dần lúc nào chẳng hay. Lúc cảm nhận được hơi ấm của người nằm cạnh nàng khẽ nhích ra, chàng quàng tay giữ rịt nàng lại, luồn tay kia cho nàng gối đầu. Ngà nằm im không cục cựa, Hãn nói, tiếng nói phả hơi ấm vào tai nàng:

– Nói nghe buồn cười, em có chồng rồi mất chồng, nhưng lúc nào anh cũng nhớ như in cái hồi em mới mười hai, mười ba tuổi.

– Thật à?

– Thật! Nhớ mùa hè đầu tiên anh ghé thăm nhà, ra đồng tìm Lược, rồi cùng hắn và em đi đào hang bắt chuột, nướng bắp...

– Rồi anh rủ em cùng đạp xe nước. Anh đạp lọng cọng mắc cười muốn chết, nước vô ruộng một phần, chảy ngược ra sông tới ba bốn phần. Đúng anh thuộc nòi thợ bạc, chứ không phải nòi nhà nông. À mà hồi ấy trông em chắc xấu xí nhà quê lắm hả?

– Ừ, đúng là quê một cục nhưng không xấu lắm, tóc hoe nắng ngọn vàng ngọn đỏ, hai con mắt tròn xoay, đen láy in hệt hai hột nhãn.

– Mãi tới bây giờ có lúc nhớ những chuyện tiếu lâm anh kể, em còn cười một mình.

– Hồi trẻ ai cũng cười nhiều, càng lớn lên nụ cười càng hiếm đi.

Có đám rượt đuổi nhau ngang qua ngoài cửa, tiếng chân rầm rập, tiếng quát tháo inh ỏi, rồi một loạt đạn đanh thúc quét lạc vào container cách chỗ họ nằm chừng dăm thước khiến Ngà hớt hãi ôm riết lấy Hãn, run lên trong tay hắn. Hệt cơn lốc đã đi qua, sau loạt đạn là tiếng vọng âm âm từ chảo lửa ngoài đầm vẳng vào sôi réo, trầm đục, chốc chốc vụt chát chúa giống hợp âm của một dàn nhạc do các tay nhạc công điên khùng hỗn tấu.

– Em thích, thậm chí rất ngưỡng mộ tình bạn lâu dài của anh và anh Lược – tiếng Ngà lại nhỏ nhẹ vang lên làm ấm cả khoảng ngực, cổ Hãn: – Cùng ra phố trọ học chung nhà, cùng đi lính, rồi cùng về đóng quân chung một sư đoàn, thỉnh thoảng vẫn có thể tìm nhau, gặp nhau. Hỏi thật nghe, hồi đó, cách đây lâu thiệt là lâu rồi, có lúc nào anh nghĩ đến em không?

– Có, nhưng chỉ như là đứa em nhỏ nhít, những ngọn tóc cháy nắng, nhớ chứ, rất... dễ thương. Ngà này, sao em lấy chồng sớm vậy, vội vậy? Yêu thằng Tiêu nhiều phải không?

– Hồi đó mới mười bảy tuổi rưỡi đã biết yêu yếc gì đâu, thấy anh Tiêu đẹp trai hiền lành, anh Lược lại nói, ông đại úy tiểu đoàn phó của anh thuộc loại con ông cháu cha, quen biết nhiều, có thể vận động để cả hai sau này chuyển về hậu cứ trung đoàn, kể như mang chữ Tho trên lưng, ai ngờ... – Đoạn Ngà kể nỗi ám ảnh mỗi lần đi tàu hay xe ngang qua vùng rừng núi Mỏ Tàu, rồi tiếp: – Cả trong những giấc mơ của em anh Lược và anh Tiêu cũng luôn luôn khoác vai nhau. Họ cơ hồ đã dính liền, hóa thành một, thỉnh thoảng em còn mơ thấy chữ Tho không phải trên lưng mà trên ngực họ, chữ Thọ nhỏ máu ròng ròng – Ắng lặng vài giây rồi Ngà tiếp tục câu chuyện qua ngõ khác: – Hãn này, có điều rất, rất bí mật, anh đừng cười em mới dám nói.

– Nói đi, anh đang mếu đây.

Người đàn bà trẻ thu người gọn lỏn trong vòng tay gã trai khúc khích cười, những tiếng cười nhỏ, mảnh cơ hồ luồn vào tận tim hắn nhồn nhột, âm ấm.

– Từ hồi còn học lớp đệ ngũ, lắm lúc em mơ thấy anh là... chồng!

– Là chồng à? Ngộ vậy sao? Lãng mạn ghê! – Hãn cười thành tiếng: – Không ngờ giấc mơ ấy tới bây giờ mới trở thành sự thực, ở cái “phòng tân hôn” thơm tho, kinh dị thế này.

3.

RẠNG SÁNG. MẶT TRỜI CHƯA LÊN. CHẢO LỬA dần dịu lại trong nỗi thắc thỏm đè nặng mọi lồng ngực: Một cuộc tấn công bằng pháo hoặc xe tăng sẽ ập tới bất cứ lúc nào. Chẳng còn đông đảo như hồi đêm, các cuộc tranh cướp phương tiện để ra biển cũng ngớt dần. Số người còn kẹt lại, trong đó có Hãn và Ngà liều lĩnh lội ra đu bám vào các hàng sáo, và những cái nò đơm cá dựng giữa đầm. Thảng hoặc một chiếc thuyền, sà lan có gắn máy hoặc không chở đầy người khẳm lừ ngang qua, là cả một rừng tay vẫy, một rừng miệng van nài.

Vận may tưởng chừng đã đến với hai người, nhưng rồi chỉ mỗi mình Ngà “được phép” quá giang, lên một chiếc đò chèo đầy ứ những lính là lính. Tới lượt Hãn, hắn đã bị một họng súng M.16 hất tay văng ra khỏi mạn đò, kèm câu rủa tục tằn của một gã đầu trọc tếu, vận quần rằn ri, khoác áo giáp, dây nịt đạn không mang ở thắt lưng mà quàng chéo trước ngực lòng thòng những lựu đạn, súng colt, súng bắn pháo hiệu, bi đông:

– Đ.m mày trung úy, giờ này vẫn muốn làm quan sao con?

Mặc tiếng kêu thất thanh của Ngà, chiếc đò chòng chành nặng nhọc cỡi sóng rời xa. Sực nhớ mấy cái bông mai vẫn còn đính trên cổ áo, Hãn bực bội gỡ chúng ném xuống nước, rủa thầm: Mẹ kiếp trôi đi, trôi đi, trôi đi những tháng ngày u mê chiến trận, mệt mỏi trại đồn. Trôi đi tất tần tật quá khứ hôm qua, dọn mình đón cái chết đầu tiên, phút sống sau cùng sẽ đến, sắp đến. Ngà ơi, ơi, ơi... Tiếng kêu thầm tuyệt vọng trườn êm qua mặt sóng nống đẩy mặt trời lừng lững ngoi lên từ hướng đông.

Chiếc đò chèo ì ạch mãi rồi cũng cập được bờ phía bên kia, tốp lính rã ngũ nhanh chóng tản vào các ngõ xóm khuất khúc rợp bóng dừa tìm lối ra cửa biển. Khác hẳn không khí chộn rộn, chết chóc ở bờ đối diện, bên này làng xóm vẫn hết sức bình lặng, thậm chí rất thanh bình. Trẻ con cười đùa đuổi bắt nhau sau các mành lưới phơi trước sân nhà, người lớn thong thả lui tới làm các công việc thường ngày như thể những giây phút sau cùng, những sự cố sau cùng kết thúc cuộc chiến tranh dài bấy nhiêu năm sẽ không bao giờ ngang qua đây, không đông lắm nhưng chợ vẫn họp trên bến, dọc lối đi.

Cái túi xách không còn, cả Hãn cũng chẳng còn kề bên, Ngà trơ trọi hệt chiếc lá bị quăng ném từ cõi hỗn mang này sang cõi hoang vắng khác. Buồn rầu đưa tay ngang mày che những tia nắng chói đầu ngày dõi mắt trông hút bờ đầm phía bên kia, kí ức chợt lóe sáng chút hạnh phúc đêm qua cùng chia sẻ với Hãn trong cái “phòng tân hôn” quái dị làm nàng thoáng ấm lòng, nhưng rồi Ngà lại mường tượng thấy cái dáng tuyệt vọng của Hãn giữa bao dáng tuyệt vọng khác hệt những con dơi khổng lồ rũ cánh trên các hàng sáo giữa mặt đầm kia, nàng lại cảm thấy đau lòng, đôi giọt xót lặng lẽ ứa lăn trên má.

Giờ đi đâu, làm gì? Vừa lủi thủi bước đi Ngà vừa lẩn thẩn nghĩ. Gã đầu trọc tếu – từng hất tay Hãn khỏi mạn đò và cao giọng rủa hắn một cách cay độc – nhanh tay níu lấy Ngà khi nàng ngang qua gã:

– Nè em gái, tính chuồn luôn sao? Tính quên ơn cứu mạng của qua sao?

Ngà lừ mắt nhìn gã, cắn chặt môi.

– Nhập bọn với tụi qua đi, qua sẽ bảo vệ cho, quen thấy mồ cứ làm bộ lạ. Trước đây cưng từng ở Đà Nẵng phải không nào? Chậc, giống y ran con ghệ ở bar Thanh Khê Melody. Con ghệ bị đánh ghen tơi bời, bị đưa cả hình lên báo...

Thoáng giật thót, Ngà cố nắn giọng điềm tĩnh:

– Ông nhầm người rồi!

Bà Chanh ngồi sau mấy cái mẹt tre bày đầy cá nục tươi bên đường vừa hóng chuyện vừa ái ngại nhìn Ngà, bỗng lên tiếng:

– Cô ơi mua cá đi, cá nục tươi vừa...

– Nè, tính ngồi đây chờ Việt cộng hay sao mà tỉnh khô tỉnh rụi vậy hả mấy bà nội nhỏ? – Gã trọc cướp lời, đảo mắt nhìn quanh. Chẳng len lét cúi mặt như các bạn hàng khác, bà Chanh mát mẻ nói:

– Mấy ông mới lo cút xéo đi, chết tới nơi rồi còn ghẹo gái.

Ngà ngồi xuống vờ săm soi mấy con cá nục tươi. Làm bộ chẳng thèm chấp lời “con mẹ hàng cá hàm hồ”, gã trọc đưa mũi súng khều nhẹ vai Ngà:

– Quên mẹ cái thằng cha căng chú kiết cùng đi với cưng đi, giờ này còn kẹt bên bển Vixi (V.C) không xơi tái thì đạn lạc cũng giúp nó tiêu diêu miền cực lạc rồi cưng!

Thoáng sững người vì chợt nhớ ra gã đã gạt tay Hãn khỏi mạn đò, đoạn Ngà cầm cái mẹt cá bất thần đứng vụt lên quật vào mặt gã, rít qua kẽ răng:

– À thì ra mày chính là thằng đã...

Bất ngờ hứng cả mẹt cá vào mặt, gã trọc nổi dóa lùi lại lên đạn cây M.16 đánh “rắc”, trừng mắt hét:

– Con đĩ thúi, tao cho mày chết!

Một gã đồng bọn nhào tới ngăn, lôi gã trọc ra xa, nhăn nhở cười:

– Thôi huynh, em xin can, bảnh mắt đã gặp gái kiểu này xui tận mạng, đi thôi!

Một chiếc Goebel thồ hai cái cần xé đầy cá ở yên sau giảm ga chạy trờ tới. Gã đầu trọc và gã đồng bọn nhào ra chĩa súng vào ngực thằng nhỏ cầm lái, xô nó ngã xuống đường:

– Mượn đỡ chiếc xe nghen mậy! – Gã trọc hét, gã đồng bọn nhanh tay mở dây buộc hất văng hai cái cần xé làm cá bắn tung tóe ra mặt đất. Chúng lên xe nổ máy dông biến ra phía biển.

4.

NHỮNG QUẢ PHÁO ĐẦU TIÊN MỞ MÀN CHO ĐỢT pháo cấp tập chiếm lĩnh trận địa miền biển rớt xuống bên bờ đầm Tân Mỹ. Những cây dừa đổ gục xuống và nỗi khiếp hãi mưng ngợp. Sau tiếng pháo là sự im lặng choáng, căng. Sau những cột nước lác đác vọt lên trên mặt đầm ngầu sóng, những “con dơi khổng lồ” rũ cánh trên các hàng sáo bỗng biến mất như thể đã hóa thành khói bay lên trời, hóa thành cá lặn sâu dưới mặt nước.

Từ những nơi trú ẩn không định trước, bạ đâu chui vào ẩn đó, những đôi mắt lấm lét nhìn nhau chẳng còn tị hiềm hay đằng đằng sát khí mà dịu hẳn đi, dại hẳn đi, có vẻ đã tỉnh cơn cuồng tâm loạn trí, tất thảy dù không muốn cũng không thể khước từ cái hiện thực đang trùm phủ không chỉ lên người mà lên cả số phận họ: không có phép lạ nào có thể xua tan “hương vị” khó tả của cái chết đang tán lạc quanh đây, đang phân phát chia đều cho từng người, không sót một ai. Thứ “hương vị” khiến đầu óc mê mụ đi, thân xác rã rời. Không có ma lực, thần lực nào chấm dứt được “trò chơi” đậu vãi. Mỗi quả pháo là một hạt đậu vãi xuống bung thành những cái dấu chấm hết cho nhiều số phận “sinh linh” quên tuổi lú tên, hóa vô danh, sẵn sàng bước vào hàng ngũ “thập loại chúng sinh”, mai này hồn phách dật dờ ăn mày từng miếng cháo lá đa ở những buổi cúng tế cô hồn đầu sông cuối chợ!

Tay vẫn bám chặt cột nò, “con dơi khổng lồ” hôm qua có tên là trung úy Hãn, giờ đang là cựu trung úy hụp đầu xuống nước mỗi lần nghe “đậu vãi”, nhịn thở hết nổi lại ngẩng lên hít lấy hít để không khí. Lần nào hụp xuống Hãn cũng đinh ninh rằng mình sẽ chết, nhưng rồi có lần ngẩng lên thấy một chiếc sà lan gắn máy ngang qua chỉ cách mình có mấy sải tay, đang hãm bớt ga lách tránh mấy cái xác vắt trên cọc nò cản lối. Hãn liều lĩnh lao vút ra, bơi như thể có cái máy điện cơ gì đó trong mình vừa khởi động tiếp sức và, lần này thì vận may đã mỉm cười với hắn, có kẻ nhận ra hắn, đưa cây dầm ra cho hắn nắm, ráng sức kéo để hắn lấy đà leo lên sà lan. Kẻ ra tay “tế độ” ấy chẳng phải ai xa lạ, chính là gã biệt động quân râu tóc bờm xờm, từng mời Hãn “cạn chén ly bôi” dọc đường, và ông ổng hát, đúng hơn, gào: Bạn ơi quan hà xin cạn chén ly bôi...

Khi chiếc sà lan có Hãn quá giang ra tới cửa biển Thuận An, và bọn họ được cứu hộ bởi một chiếc tàu lớn thì trên đất liền, đạn đạo của những quả pháo mỗi lúc mỗi dài ra, trùm phủ lên cả vùng cửa biển.

5.

HÃN VÀO TỚI ĐÀ NẴNG VỪA LÚC PHỐ XÁ LÊN đèn. Phản ứng dây chuyền của hội chứng cùng đường, tuyệt lộ tiếp diễn ở đây tuy có phần êm dịu hơn, nhưng sự căng thẳng táo tác, thắc thỏm không hề tỏ ra giảm bớt “nhiệt độ”. Ngang qua một góc phố tương đối vắng, Hãn cởi bỏ cái dây nịt đạn vẫn đeo dính khẩu Colt 45 mấy hôm nay như một vật thừa ném vào một góc tối khuất, chẳng kiếm phương tiện đến điểm tập trung của đơn vị – theo “lệnh” oang oang phát trên loa phóng thanh, có cái từ “tử thủ” lập đi lập lại lắm lần – mà thả bộ về đường Trần Cao Vân đến nhà một bà chị họ tắm rửa, ăn uống qua loa và đánh một giấc đến tận sáng. Trong giấc ngủ sâu, có lúc Hãn mơ thấy thằng bạn cũ – Lược, băng trắng quấn kín từ đầu đến chân mang chữ Thọ nhỏ máu ròng ròng trên ngực đứng khoác tay Ngà tươi cười trên một đỉnh non mù mây trắng, họ cười, họ vẫy tay, và Hãn bơi, bơi, bơi trên mặt biển ngầu sóng mà không cách chi tới chỗ họ được.

Hôm sau khoác cái quần dài nâu, áo sơ mi ca rô rộng thùng thình mượn đỡ của ông anh rể, Hãn đi lang thang gần như khắp Đà Nẵng, sang tận bán đảo Sơn Trà tìm kiếm Ngà theo biểu hú họa, bởi hắn đinh ninh qua được đầm Tân Mỹ thế nào thì nàng cũng đã về đến đây. Chẳng thấy tăm dạng, Hãn chán nản rồi yên chí có khi Ngà đã may mắn thoát hiểm, và không chừng lúc này đang bình yên trên một hạm đội lớn nào đó của Mỹ tận ngoài khơi. Những tàu của hạm đội 7 nghe nói sẵn sàng đón các tàn binh và thường dân di tản, ngược hẳn “lệnh tử thủ” đang được nghe hết sức hờ hững ở đây, hờ hững như nghe tin dự báo thời tiết.

Ăn vật vờ, uống vật vờ, ngủ vật vờ, đi đứng vật vờ, cả đọc sách cũng vật vờ nốt! Sau này nhớ lại Hãn cho đó là khoảng thời gian bản lề, chuyển tiếp, giao mùa u mê ám chướng nhất đời mình.

Vợ chồng bà chị họ vốn là giáo sư của trường trung học Phan Chu Trinh, nhà có một tủ sách lớn dàn kín tới ba bức tường của một phòng đọc rộng cạnh phòng ăn. Lang thang chán ngoài đường, Hãn lại quay về làm “mọt sách”. Ban đêm đôi khi chợt thức sau một cơn ác mộng nào đó không ngủ lại được, hắn đọc sách tới sáng, rồi chợp mắt ngủ bù đến tận trưa hôm sau. Hôm quân giải phóng vào tiếp thu Đà Nẵng, đứa cháu vào nơi dành riêng cho khách thấy đèn vẫn để sáng, cuốn Kẻ Xa Lạ của Albert Camus đọc dở còn úp trên mặt Hãn, nó vừa lay ông cậu đánh thức vừa đùa: “Nè kẻ xa lạ, Việt cộng vô tới rồi kìa, dậy trốn lẹ đi cậu!”

Hắn chẳng trốn, đứng trước cửa nhìn thành phố rùng rùng trong nhịp điệu chuyển động mới, cờ băng rợp trời. Cảm nhận đầu tiên của Hãn trong ngày hôm ấy là, hình như mọi ám ảnh nặng nề về chiến tranh đã cất khỏi mọi lồng ngực, ai cũng thở phào nhẹ nhõm.

Hôm sau, phớt lờ thông báo tập trung của Ủy ban quân quản phát trên đài phát thanh và từ các xe thông tin lưu động ngoài phố, Hãn tiếp tục nằm nhà đọc sách. Nửa đêm, một toán trong đội Thanh niên Cờ đỏ ập vào lục soát, hắn bị dẫn độ vào nơi tập trung. Hành lý mang theo khá ít ỏi, hai bộ quần áo, ít đồ ăn khô, vài gói thuốc Bastos xanh, và phần còn lại của cái túi xách cũ kỹ ken đầy những sách văn chương, triết học. Tiếc thay, số sách ấy sau này lên tới trại Hiệp Đức đã bị cán bộ quản giáo “giữ giùm”, kèm câu cảnh cáo nghiêm khắc: “Không được đọc các loại văn hóa phẩm đồi trụy, phản động”.

Hòa Cầm hai ngày, Hội An chừng hơn tháng, và Hiệp Đức, Phú Ninh ngoài ba năm. Những ngày tháng ấy thoạt tiên tưởng như không thể chịu đựng nổi, nhưng rồi những tờ lịch cũng trôi theo mồ hôi mỗi ngày tuôn xuống làm bóng lưỡng những cán cuốc, cán dao, theo các thao tác ban đầu vụng về sau nhuyễn dần của việc trồng trọt, đẵn gỗ, phát rừng làm rẫy... Trôi theo những câu chuyện tiếu lâm chay có mặn có bạn bè chung nhà, chung trại hễ gặp là nài nỉ Hãn phải kể để được cười thả dàn, quên bớt mệt nhọc. Trôi theo những câu chuyện võ hiệp kỳ tình của Kim Dung hắn từng đọc, nhớ như in từng chương, hồi, từng tình tiết, và kể lại vanh vách lúc pha giọng hài tếu, khi cường điệu dàn trời. Kể chuyện chọc cười đổi thuốc hút. Kể chuyện kiếm, chưởng được người nghe sẵn sàng san sẻ cả những món ngon, hiếm được tiếp tế vào mỗi kỳ thăm nuôi, so với tiêu chuẩn cơm độn khoai mì, mắm cái rau rừng hàng ngày. Trôi luôn và qua tuốt. Có điều hắn không hề ngờ, vào một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, cái thằng ít được thăm nuôi nhất trại lại được gọi ra khu tiếp tân, nhận tin mình sắp lên chức... cha. Người mang tin đến chẳng ai khác hơn là Ngà.

Gặp lại Ngà quả là bất ngờ ngoài sức tưởng tượng, Hãn hết trân trối ngắm nàng lại siết chặt tay lắc lắc như để chắc rằng thực chứ không mơ. Xa lâu rồi bỗng gặp, hệt một đoạn phim quay chậm, phần cuối của cái đêm dài dằng dặc bên bờ đầm Tân Mỹ ấy tuần tự hiện ra trong hồi ức của cả hai người. Chẳng rõ có bị ảnh hưởng dây chuyền bởi hội chứng cùng đường, tuyệt lộ đang “hành hạ” lũ người gần như mất trí ngoài đầm hay không, ám ảnh về nỗi chết gần kề sau cùng đã ráp họ thành đôi lứa, cơ hồ do sự phối ngẫu của định mệnh. Thoạt tiên ngại ngần, dần dà bạo dạn hẳn lên, chàng quấn lấy nàng trong tiếng kêu trầm thống thịt gọi thịt, da gọi da, nhịp tim gọi nhịp tim hào hễn, tận hiến và tận hưởng từng phút giây hạnh phúc sôi nổi, háo hức, nồng nã quí báu rất có thể là những phút giây sau cùng. Cái đêm hôm ấy chỉ đến với họ duy nhất một lần trong đời, giờ đã thành kỷ niệm ngấm trong hồn, chìm vào xác, và chẳng trừu tượng chút nào, nó đang lớn từng ngày ở người đàn bà lần thứ nhất được làm mẹ. Vuốt cái bụng lùm lùm, Ngà nheo mắt cười:

– Hôm ấy tưởng anh không vượt qua được đầm Tân Mỹ, em đã yên chí anh chết, khóc suốt.

Đoạn Ngà kể, ngay sau loạt pháo đầu tiên, nàng hớt hãi theo chân mấy bà bán cá vào hầm trú ẩn trong nhà bà Chanh cách chợ chừng trăm mét. Thấy nàng bơ vơ, bà Chanh thương tình cho ở lại qua đêm. Sáng sớm hôm sau nghe im tiếng súng, chẳng rõ có còn chiến tranh nữa hay không, Ngà cũng tất tả đón đò quay lui bên kia đầm Tân Mỹ.

Từng đám tù, hàng binh chân trần, nhếch nhác xếp thành hàng dọc đi bộ ngược ra mạn Bắc trước các họng súng lăm lăm canh giữ. Nàng hết lui lại tới, hết đi bộ lại xin quá giang xe tải, xe máy, và cả xe nhà binh, ngược xuôi tìm kiếm. Suốt hai ngày liền trong hàng ngũ những gương mặt bụi lầm nắng xém ấy chẳng có gương mặt nào mang tên Hãn. Điều khó tin và kỳ diệu là, cái túi xách bỏ lại ở “phòng tân hôn” vẫn còn y nguyên, lấy chai dầu Nhị Thiên Đường ra xức một tẹo, quặn lòng nhớ chàng, nàng lại khóc như mưa.

Về tới cây số 17 nghỉ ngơi vài ngày, Ngà lại tiếp tục quay lại Huế tìm đến những nơi nghe người ta bảo là cơ quan của chính quyền cách mạng, của ủy ban quân quản, là trại tập trung các công chức, sĩ quan chế độ cũ... Không, không, và không tìm thấy, nàng đinh ninh rồi yên chí Hãn đã mất tích hoặc chết rấp ở bụi bờ hóc xó nào đó, nhưng rồi cái mầm sống ngày mỗi lớn trong nàng lại thầm nhắc nhở và, Ngà lại cầm lòng không đậu, lại tiếp tục tìm kiếm.

– Sao biết anh ở đây? – Hãn âu yếm ngắm gương mặt Ngà trắng xanh điểm lấm tấm những hạt mồ hôi bên cánh mũi nom đẹp, và hiền đến tội.

– Đến nhà anh ở Kế Môn năm lần bảy lượt, ai cũng nói sốt ruột chờ tin. Ông già đòi lập bàn thờ, bà già cứ khóc suốt không cho, hai vợ chồng chú em trai nói có đi xin xăm, coi bói, thử đi tìm vài nơi rồi cũng đành về không. Riêng em không hề mất hy vọng, cách đây chừng mươi hôm lại về Kế Môn, và may mắn là... Sao anh lặn mất tăm lâu vậy?

Hãn cúi mặt, cau ríu đôi mày sâu róm nom áy náy hơn là ân hận, thấp giọng nói:

– Thư từ ở đây ra ngoài qua nhiều cửa dễ thất lạc. Vả lại anh biết ở nhà bây giờ cũng không ít khó khăn, phải gánh thêm phần lo cho anh đâm ra nặng, ra tội, và rồi nói chung... anh cũng lười viết thư!

– Anh coi cái sự lười của mình to tát, vĩ đại hơn nỗi âu lo của ông bà già và anh em ở nhà sao? Quên béng cả em sao? Từ nay đừng có khùng vậy nữa!

Họ cùng cười, Ngà cầm tay hắn đặt úp lên bụng mình giấu sau cái túi xách, âu yếm nói:

– Làm quen với con đi chứ, anh có mừng không?

– Mừng!

– Nghe yếu xìu, nói lần nữa coi!

– Ừ thì... mừng, nhưng liệu em có nuôi nổi nó cho đến ngày anh về không?

Ngày về! Dạo mới đến Hiệp Đức, vào trại chừng hơn tuần lễ, có người ở chung nhà được tiếp tế một trái mít chín cây. Hãn được chia hai múi gọi là ăn lấy thảo. Ăn xong hắn mang hai cái hạt vùi ở vạt đất trống sau nhà tập thể, cạnh cửa sổ, cười bảo: “Bao giờ hai cái hạt mít này nứt mầm thành cây ra trái thì chắc tụi mình mới được về!” Ai nghe cũng cho là hắn cường điệu. Người bảo cùng lắm là 6 tháng, kẻ đoán chắc 1 năm là cùng, mà mít có trái thì ít ra cũng phải ngoài 3 năm, lâu quá! Hai hạt mít nứt mầm được Hãn chăm sóc mỗi ngày, được tưới bằng nước vo gạo xin ở nhà bếp, và bón bằng phân bò nhặt đâu đó trên đường đi lao động, chúng đâm cành nẩy lá lớn dần, xanh tốt, mượt mà và, chẳng ai bảo ai, hễ trông thấy chúng là họ lại sực nghĩ đến ngày về. Có kẻ nghĩ đến hóa rồ, nhảy băng qua cửa sổ nhổ mất một cây, vừa dày đạp nó vừa lớn tiếng thóa mạ thằng Hãn gàn, thằng Hãn lẩm cẩm, thằng Hãn... Bị Hãn phẫn nộ ngăn chặn kịp thời nên một cây vẫn còn sống sót, giờ đã cao hơn 1 mét, thân vẫn còn một rẻo vải trắng để tang cho cái cây anh em đã chết thảm.

– Tới ngày anh về à? Làm như anh phải ăn đời ở kiếp nơi này mãi hay sao ấy! – Ngà khẽ vặc, Hãn kể chuyện hai cây mít. Nàng cười: – Anh quả là khéo tưởng tượng.

– Không, anh rất thực tế. Kể chuyện cây mít để em đừng quá trông mong.

– Ờ thì... trông vừa vừa thôi vậy! Nhưng anh đừng có quá coi thường em, ý chí em chẳng bằng thép nhưng em đã muốn làm cái gì thì phải làm cho bằng được. Như anh biết rồi đó, trước đây lấy chồng xong em vẫn tiếp tục đi học, lấy hai cái chứng chỉ Luật.

– Hồi ấy em chúi mũi vào việc học để lấp đầy khoảng thời gian chờ đợi chồng đi trận về. Còn bây giờ...

– Bây giờ chờ anh đi tù về cũng có khác gì đâu? Em lấp đầy khoảng trống bằng việc nuôi con. Anh lo em không nuôi nổi nó à? – Ném lia mắt bốn phía, Ngà láu lỉnh cầm bàn tay chai sần của Hãn vẫn giấu sau túi xách đặt lên bầu vú căng tràn thanh xuân của mình, cười nói: – Chỉ với hai bình sữa này thôi cũng dư sức nuôi con, và nếu cần... nuôi cả cha nó nữa!

Hai người cùng cười. Chạm phải tia nhìn soi mói, sắc lạnh của tay cảnh vệ trẻ bồng súng đứng gác trước cửa, vờ lơ đãng nhưng không hề bỏ qua bất cứ cử chỉ hay lời nói nào có thể nghe thấy, Hãn rụt vội tay lại.

Cái tay rụt lại nhưng dư chấn cảm xúc của sự va chạm lửa – rơm thoáng chốc vẫn còn ngân nga, bứng rứng chưa nguôi khắp nẻo da ngõ thịt. Hãn khẽ thở dài, ngầm chống đỡ sự “nổi loạn” của bản năng gốc đang cộm cứng giữa hai đùi.

Lao động miệt mài đến nhão cả cơ bắp, ăn uống kham khổ, có lúc ngỡ cái phần Con bản năng bị phầnNgười thuần lý lấn át, thậm chí triệt tiêu. Nhưng rồi cái phần tưởng chừng trở thành số không ấy thỉnh thoảng lại trỗi dậy khá mãnh liệt. Một chiếc dép nhựa phụ nữ cũ mèm, đứt quai, một chiếc kẹp tóc rỉ sét bất chợt nhìn thấy ở một xó rừng nào đó nhanh chóng trở thành đề tài để cả đám tù trẻ quá lâu không được “lảy cò” trong trận mây mưa nào nhao nhao tranh nhau tán gẫu cơ man nào là chuyện thanh lẫn chuyện tục về đàn bà. Trên đường đẵn gỗ, cuốc nương, đốt than, dọn rẫy tăng gia sản xuất... tình cờ “chạm trán” vài đại diện phái đẹp trong vóc dáng các bà các cô sơn nữ nhan sắc hoang dã, những cô giáo bổ túc, mậu dịch viên gì gì đó cỡi xe đạp đi công tác, hoặc các tốp nữ thanh niên xung phong đi khai hoang vỡ hóa ngực căng vì quai ba lô siết chặt ngang qua, lập tức cả trăm đôi mắt, trăm cái mồm há hốc cất lên háo hức chào đón, lập tức hàng loạt liên tưởng tội lỗi nở bung ra trong đầu như nấm mối gặp mưa, để rồi đêm về đâm ra khó ngủ, trăn trở mãi trên mặt giường khô khốc những nan sậy đan dối, hắn ngỡ không riêng mình mà tất thảy những thằng đực khắp mấy dãy lán trại quanh năm tịnh không một bóng đàn bà, cùng khổ sở đánh vật với những giấc mơ bay liệng toàn váy áo, đồ lót hàng tơ mịn sực nức mùi son phấn, những giấc mơ cương cứng tưởng khoan sụt cả đất, nống vỡ cả trời, rồi “vũ trụ” thoắt xẹp xuống khi dục vọng khôn cầm hệt thác lũ vỡ tràn qua đập chắn, biến thành hơi thở hắt âm u, để lại cảm giác trống rỗng tột cùng từ mỗi chân tóc đến mỗi lóng xương. Kỳ diệu thay sức trẻ và cũng đáng hãi lắm thay cái phần Con luôn đòi hỏi được nuôi dưỡng, được đối đãi công bằng y hệt như với phần Người ở mỗi cá thể loài động vật có vú tên gọi là Con Người!

Ơn trời, sau cùng dư chấn cũng biến bặt, Hãn bẻ ngoặt câu chuyện qua ngõ khác:

– Ở đây có người thỉnh thoảng nhắc đến em, bữa nay biết tin em chắc hắn sẽ ngạc nhiên lắm.

– Ai vậy anh?

– Còn nhớ thằng say hát hỏng tùm lum hôm mình chạy ra biển không?

– À, cái gã mời cạn chén ly bôi hả?

– Ừ, chính hắn là người đã cứu anh ở đầm Tân Mỹ, nay bị lùa vô chung một rọ, lại gặp, trở nên thân nhau. Cũng chính hắn đã nổi đóa nhổ, dày xéo cây mít của anh. Cái thằng nóng tính nhưng tốt bụng, lại khỏe như trâu, luôn chia sẻ, gánh giúp anh những việc nặng.

– Ngộ quá hả? Nhưng ít ra anh ta cũng có một cái tên chứ?

– Kiêm. Hắn tên Kiêm.

– Cho em gửi lời thăm anh Kiêm, hứa sẽ hậu tạ cái ơn cứu tử – Ngà bỗng thấp giọng, gần như thì thầm: – À mà anh Hãn này, từ đây đến ngày sinh con còn lâu mới gặp anh lần nữa, em muốn biết anh thích đặt tên con là gì?

– Chậc, tên gì chẳng được...

– Nói như anh thì... Em tính nếu là con gái sẽ đặt tên Tân Mỹ.

– Tên cái đầm quỉ tha ma bắt ấy hả?

– Anh không thích sao? Để kỷ niệm...

– Được thôi, còn nếu là con trai sẽ đặt tên nó là Công!

– Công à? Nghe cũng được, nhưng sao lại là Công, anh?

– Thì container, “phòng tân hôn” độc nhất vô nhị, trên mặt đất này không nơi nào có, cái nơi cha mẹ nó...

Họ cùng cười, Ngà lùa tay khẽ nhéo đùi Hãn, mắng yêu:

– Cái anh này, lúc nào cũng đùa được.

Một đứa con, đặt tên cho nó! Mãi tới lúc này cái cảm giác mới mẻ vì bất thần biết tin mình sắp có con vẫn còn mưng ngợp trong Hãn. Mình có yêu Ngà không nhỉ? – Có! Đã có lúc mình quay quắt nhớ Ngà tưởng chừng muốn trốn khỏi trại để đi tìm nàng. Nếu mỗi người chỉ yêu một lần trong đời thì có phải là lần này không? Trước Ngà, những gặp gỡ qua đường, những đêm tình tạm bợ, những mẩu tình bỡn cợt, chắp vá cùng bao cô gái phấn son dọc những vùng hành quân, trại đồn nhòa trong bia bọt thâu đêm suốt sáng, ngầu trên chiếu rượu hay chiếu bạc bạt mạng cô hồn. Tất thảy đã khép lại sau cánh cửa hôm qua, đã lắng tận đáy quá vãng, để bây giờ chỉ còn một gương mặt, một tên gọi bật nổi trên cái bề mặt chìm khuất ấy: Ngà!? Thoáng ngập ngừng rồi Hãn siết chặt tay nàng, xúc động nói:

– Cảm ơn em!

Ngà khẽ xoay người áp sát vào Hãn, quàng lẹ tay siết chặt hắn, đoạn “liều mạng” đặt lén lên mang tai người tình chiếc hôn nồng nã đến... gai người.

6.

Ở RỪNG, MÙA MƯA KHẮC NGHIỆT HƠN MÙA KHÔ gấp bội. Đó là mùa sinh sản cấp tập của sên vắt, muỗi mòng, những “người bạn” khó chịu của thợ sơn tràng, người đi rừng, cực chẳng đã phải sống chung với chúng, củi khô trở nên khan hiếm để nhóm bếp hơ quần áo, và nấu ăn, mái lều tạm lắm khi khó chống chỏi với những cơn mưa trút, những con suối sớm mai ngang qua ròng sát đáy, chiều quay về mưa đã biến thành những dòng sông vạm vỡ tràn bờ khó thể vượt qua... Đã từng trải qua nhiều mùa mưa đồng bằng lẫn miền núi, nhưng mùa mưa ở Hiệp Đức năm ấy để lại trong Hãn dấu ấn không thể nào phai.

Một ngày như mọi ngày, ra khỏi trại lúc hừng sáng, mỗi người khoác một tấm nylon phong phanh lầm lũi bước dưới trời lất phất mưa pha sương. Đến cửa rừng, toán lấy mây rẽ trái khuất dạng sau xưởng mộc, xưởng rèn ồn động tiếng cưa, bào, thổi bễ, quai búa. Đi chung thêm một quãng nữa, toán đốt than lại rẽ phải mất hút sau bạt ngàn bạch đàn gầy guộc trong mùa khô giờ đua nhau đâm cành, nẩy lộc, và toán đẵn gỗ đông đảo nhất, trong đó có tổ lao động của Hãn và Kiêm băng qua con suối cạn, vượt dãy đồi chập chùng xanh mượt nương bắp, khoai mì, đậu phộng nối mãi vào rừng chồi rải rác nhiều hố pháo hố bom, lúp xúp những chồi non mới nhú, vượt thêm chừng dăm cây số đường rừng nữa mới tới rừng đại ngàn với lắm khe suối, đồi, lũng sâu, còn nhiều dấu vết hầm hào, lán trại của một căn cứ cũ nay bỏ hoang. Đến nơi, nghỉ ngơi chừng mươi phút rồi từng tốp tản ra đi khai thác gỗ. Gỗ được đẵn bằng rựa, dao hoặc mác, chẳng có cưa máy hay cưa tay trợ giúp, nhưng qua ngày này tháng nọ nhiều vạt rừng cũng phải lùi bước trước sức chịu đựng nhẫn nại, dẻo dai của bọn người trước đây chưa từng biết lao động là gì.

Quá trưa, cây chò dài 14 thước, đường kính 2 tấc đúng chuẩn chỉ tiêu được giao, khiêng bởi bốn người: Hãn và Kiêm một đầu, đầu kia, hai bạn chung tổ – theo kiểu khiêng quan tài với hai đòn ngang xỏ vào dây mây máng cây gỗ toòng teng ở giữa, và hai đòn khiêng ngắn hơn đặt trên vai mỗi người – đưa từ dưới thung lên nhập vào các tốp khác ở cửa rừng chờ lệnh xuất phát.

Cơn mưa dai dẳng từ sau bữa cơm ăn vội đứng quây quanh dưới mái lều che tạm làm bếp đến giờ mỗi lúc mỗi nặng hạt. Tất thảy mọi người đều tỏ vẻ ái ngại, duy chỉ có hai cảnh vệ đi kèm là coi thường thời tiết.

Một cảnh vệ giảm âm cái radio nhỏ đeo bên hông đang phát tin thời sự, lật tay dòm đồng hồ, hét tướng:

– Tập họp đủ rồi chứ? Nào bắt đầu đếm!

Từ trái sang phải vang lên tiếng đếm từ 1 đến 14.

– Tốt! Lên đường – Xốc lại chiếc áo mưa chiến lợi phẩm màu đất sét, tăng âm cái radio, tay cảnh vệ lại hét và, 14 tổ khiêng lục tục nâng đòn lên vai.

Trong màn mưa trùng điệp, thoạt tiên các tốp nối thành hàng một giữ khoảng cách khá đều, dần dà tốp trước tốp sau có khi cách quãng cả vài trăm thước.

Cây gỗ dài đòn khó xoay chuyển mỗi lúc qua các lối mòn cua ngặt, quẹo gắt, hai anh bạn chung tổ gánh phần ngọn vẫn càu nhàu than nặng. Kiêm nói:

– Kể chuyện gì vui vui cho tụi tao đỡ nặng đi mày, Hãn!

Nhấc cái đòn khiêng đổi từ vai trái sang vai phải, Hãn làu bàu:

– Mệt thấy ông bà ông vãi dưới suối vàng, mếu chứ cười gì nổi! Tụi mày cứ vừa đi vừa nhắm mắt mường tượng thấy mình là cây chò chứ chẳng phải người khiêng nó sẽ nhẹ nhõm ngay.

Ba thằng “phu khiêng” gần như cùng lúc kêu lên:

– Xạo, đồ xạo! Thì ra nãy giờ mày vừa đi vừa ngủ à?

– Thực chứ xạo gì! – Hãn cãi: – Này nhé, các Thiền sư đạt đạo, trở thành bậc Quán Tự Tại có thể dùng trí huệ siêu nhiên thấy được năm Uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là Không! Rõ chưa? Tới năm Uẩn cònKHÔNG thì nhằm nhò gì một cây chò này.

– Đúng là không nhằm nhò gì! – Kiêm nói: – Chỉ nặng thấy ông bà ông vãi thôi, nhưng cây chò là cây chò, còn mày đếch phải... Thiền sư hay bậc Quán Tự Tại con ạ!

– À vậy hả! – Hãn làm bộ nhăn nhó: – Tại tao... quên!

Cả bọn cùng cười. Sau mươi lần dừng nghỉ dọc đường, bọn Hãn rớt lại sau cùng với một cảnh vệ đi khóa đuôi. Tay này luôn miệng ca cẩm, giục đi mau, ngại trời tối.

Và rồi tai nạn xảy ra khi họ cố vượt qua khe Ma Đuổi – một trong những cái tên tự đặt để ghi nhớ những mốc, chặng trên đường, nơi hẹn gặp để cùng cơm nước, nghỉ ngơi. Có những tên buồn cười như Dốc Tức Ngực, Suối Bì Bạch hoặc Rú Đoạt Hồn vân vân – Cái khe hẹp nhưng nước chảy xiết, đường xuống khe dốc nghiêng chừng 30 đến 35 độ, hễ đổ dốc là phóng nhanh như bị ma đuổi, ma rượt. Trước khi qua khe – lúc này nước tràn, chảy xiết hệt con thác – bọn họ đã cẩn thận “sắm” mỗi người một cây gậy để chống đỡ lúc trượt dốc. Dù đã hết sức trì níu, thận trọng dò dẫm từng bước đưa phần ngọn xuống trước, nhưng rồi không cưỡng được dòng cuốn, đòn khiêng tuột khỏi vai người khiêng đằng gốc, Kiêm bị trượt chân ngã ngửa. Trên đà lao theo dòng cuốn, cây chò xoay gốc bật mạnh vào phần dưới người Hãn, hắn bị té sấp, ngất xỉu, bị cuốn đi chừng hai mươi thước, may mắn vướng vào một thân cây mục đổ ven bờ, dừng lại.

Hạ bộ bị thương trầm trọng, máu ra nhiều, người bị nạn được chuyển về – sau khi băng bó sơ cứu – bằng nhiều phương tiện, thoạt tiên trên cáng làm bằng cây rừng, tiếp đến quá giang trên cộ xe bò, xe kéo máy cày, và trên chuyến xe đò liên tỉnh cuối cùng trong ngày, về đến bệnh viện huyện gần nửa đêm, ở đó điều trị hơn mười hôm, rồi quay về tiếp tục an dưỡng ở trạm xá trại, sau cùng được trại chiếu cố, Hãn chuyển sang làm việc nhẹ ở xưởng mộc. Hắn giấu kín không hề báo cho Ngà và gia đình biết về sự cố bất hạnh này.

Sau tai nạn, sức khỏe bình phục khá nhanh nhờ sức trẻ, nhưng Hãn cơ hồ biến thành kẻ nào khác, xa lạ với mọi người, xa lạ với chính bản thân mình. Từ một người thích đùa, hễ nhắc đến chuyện tiếu lâm hay truyện chưởng là bốc hứng thao thao bất tuyệt, giờ thì hắn cứ y như cái hũ đóng kín nút, đâm ra kiệm lời, sau giờ lao động thường ở lại chăm chút mảnh vườn nho nhỏ bên xưởng mộc trồng gần như đủ các loại rau củ như cải, rau thơm, ngò gai, mướp ngọt, ớt... tăng thêm chút chất tươi cho bếp ăn tập thể, ngồi hàng giờ trông ra cây mít cô đơn bên cửa sổ, hoặc lên hội trường vùi đầu vào mớ sách báo của cái góc khiêm tốn được gọi là thư viện trại.

Kiêm luôn bị dằn vặt bởi cái ngã ngửa không thể cưỡng chống của mình khi vượt khe Ma Đuổi, tiền đề dẫn đến tai nạn khiến thằng bạn đồng cảnh ngộ hóa ra đổi tính đổi nết một cách ngang xương như thế. Càng hiểu rõ nỗi đau kín thầm của Hãn – nỗi đau hầu hết mọi người ở trại ai cũng biết nhưng vì tế nhị, ai cũng vờ như không biết – Kiêm càng hết lòng chăm sóc bạn hơn. Đổi lại, Hãn luôn tiếp nhận sự tốt bụng của Kiêm một cách hờ hững, thậm chí lạnh lùng. Nhìn dáng vẻ lủi thủi, cô đơn như cố tách biệt mình ra khỏi thế giới chung quanh mà không thể của Hãn trong lúc làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi, thỉnh thoảng Kiêm lại lắc đầu, lẩm bẩm: “Giá như mình đừng ngã, hôm ấy trời đừng mưa. Phải chi... Sao ông Trời lại giáng cho nó một đòn đau, hiểm ác đến thế!”

Cái tên Hãn buột miệng nói ra trong ngày chủ nhật thăm nuôi ấm cúng, hạnh phúc giờ đã hóa xa xôi ấy, tưởng như đùa ấy lại được Ngà thực hiện. Đứa con trai sinh ra nàng đặt tên Công – Thái Ngọc Công, và sau kỳ ở cữ chừng hơn ba tháng, Ngà lại khăn gói lên Hiệp Đức.

Nàng hết sức kinh ngạc khi Kiêm thay mặt Hãn ra nhà tiếp tân nhận đồ thăm nuôi. Hắn nhận ra nàng ngay, còn Ngà thì cảm thấy ngờ ngợ.

– Rất tiếc Hãn bệnh đột xuất nên... Tôi là Kiêm, cô Ngà còn nhớ tôi không? Mình từng gặp nhau...

– À thì ra là anh. Anh Hãn em bệnh thế nào ạ?

– Cũng xoàng thôi, bị viêm răng sưng má trông kỳ cục nên cu cậu không muốn gặp Ngà đấy thôi! – Kiêm nói dối một cách trơn tru. Ngà cười buồn:

– Tiếc thật, thế mà đêm qua ngủ trọ dưới thị trấn Hà Lam chờ đón xe thồ lên đây em cứ thao thức mãi không chợp mắt được, chuẩn bị biết bao lời sẽ nói với anh ấy, cứ ngỡ bữa nay sẽ rất vui.

– Cháu vẫn khỏe chứ? Hôm nhận thư cô báo tin đã sinh con trai, Hãn nó mừng lắm. Trên đường đi làm tôi đã lén mua được một bi đông rượu đế cùng vài anh em làm tiệc khoai mì bảy món chúc mừng...

Kiêm bỏ lửng câu nói, không nỡ kể tiếp về cuộc rượu chúc mừng ấy, vì Hãn đã uống rượu mà chẳng tỏ ra hân hoan chút nào, cứ trầm ngâm như thể đang đắm vào thế giới bí ẩn nào khác. Mắt người đàn bà vụt ngời lên giống bao bà mẹ khác khi nhắc đến con mình, giọng trở nên ấm áp hẳn:

– Cảm ơn anh, cháu vẫn khỏe. Có cái ảnh chụp nó kèm thư gửi anh Hãn trong giỏ xách, nhờ anh...

– Chúc cô và cháu khỏe vui luôn, tôi phải vào đây.

Cầm lấy giỏ đồ thăm nuôi đã được cán bộ quản giáo kiểm kỹ, đoạn Kiêm lấy từ túi quần ra cái hộp diêm nhỏ xíu dúi lẹ vào tay Ngà, thấp giọng nói:

– Suýt quên, Hãn gửi...

Cử chỉ lẹ làng của hắn không thể qua mắt cảnh vệ. Anh ta bước đến chìa tay trước Ngà, lừ mắt nghiêm giọng:

– Xin lỗi, cho tôi mượn cái hộp quẹt.

Săm soi sợi dây chuyền vàng mang hình tượng Phật, và mảnh giấy nhỏ chỉ ghi vỏn vẹn một dòng chữ xong, cho lại vào hộp diêm đưa trả Ngà, rồi anh ta quay lại gay gắt cảnh cáo Kiêm về cử chỉ lén lút vừa rồi. Kiêm thành khẩn nhận lỗi, hứa lần sau không dám tái phạm, đoạn xách giỏ đồ quày quả vào trại.

7.

GẮNG NUÔI CON. QUÊN ANH ĐI. THỨ LỖI CHO anh! Hãn. Đó là nội dung dòng chữ bút chì trên mảnh giấy xé từ tập vở học trò gấp tư, kèm sợi dây chuyền vàng giấu trong hộp diêm. Mười một chữ hệt mười một con nhặng, vừa đọc thấy tức khắc chúng cất cánh bay vù đáp vào mắt khiến Ngà tối tăm mày mặt. Mười một chữ viết theo lối đánh điện tín ngắn gọn, mà chứa lượng thông tin có sức nặng làm trĩu trái tim giàu cảm xúc của người đàn bà trẻ.

Sững sờ, nước mắt lặng lẽ ứa lăn trên má, đọc lui tới không biết bao nhiêu lần, vẫn chẳng thể hiểu nổi sự thực ẩn giấu sau dòng “điện tín” ấy, Ngà đến khẩn nài ông cán bộ quản giáo trực tiếp tân xin được gặp “chồng” lần nữa. Ông này lắc đầu:

– Từ trước tới nay không có lệ cho trại viên tiếp thân nhân hai lần.

Ngà trưng mẩu thư ngắn nom tầm thường nhưng chứa cả nội dung “vĩnh biệt” ngậm ngùi, kèm những giọt vắn giọt dài không thể ngăn:

– Hai lần trong một ngày phải không ạ? Vậy tôi xin nán lại chờ đến mai, mong ông thông cảm.

Trả lại mẫu thư cho “khổ chủ”, ông ta lạnh lùng nói:

– Mai không phải là ngày nghỉ. Đây là việc nhà, tôi nghĩ chị có thể trao đổi qua thư từ.

Sau đó bao nhiêu thư đi không hề nhận được tin lại. Vài lần Ngà lên thăm nuôi mang cả thằng cu Công theo, Hãn vẫn cố tình tránh mặt. Kẻ “đại diện” hắn vẫn là Kiêm. Kiêm thường kết thúc nhanh chóng cuộc gặp, nhận giỏ đồ tiếp tế xong là quay vào trại ngay, và bao nhiêu lần hắn lập lui lập tới mãi một câu nghe phát chán: “Hãn vẫn thường, chúc cô Ngà và cháu khỏe vui luôn!”

Để có tiền sinh sống, nuôi con, Ngà chẳng nề hà bất cứ công việc gì, từ nặng nhọc như rửa chén bát trong các tiệm ăn, quán phở, giúp việc trong các lò giết mổ heo, bò... đến tạp nham như bán hàng rong, buôn hàng nhu yếu phẩm ở cửa hàng đằng đông đi bỏ mối lẻ ở các quán tạp hóa đằng tây, theo tàu lửa Thống Nhất buôn chuyến đủ loại hàng hóa trong Nam cần, ngoài Bắc sẵn có, hay ngoài Bắc thiếu, trong Nam thừa, luồn lách tận biên giới Lào buôn lậu hàng qua ngả cửa khẩu Lao Bảo, đường 9... Ăn uống thất thường, ăn vận tuềnh toàng nhưng nhan sắc cứ lồ lộ hệt sen trong đầm, trăng đầu ngõ, đi bất cứ đâu và làm bất cứ gì, không ít phen Ngà phải chống chỏi với các lũ trai lơ, bọn đàn ông thích cà rỡn, ưa trò chim chuột, coi quấy rối tình dục là tuồng mua vui. Người mẹ trẻ ấy chưa bao giờ ngã lòng.

Và, ngày nọ bỗng gặp lại bà Chanh ở giữa chợ Đông Ba, hai người hàn huyên tâm sự gần nửa buổi ở một quán nước. Nghe bà Chanh rủ rê, nói về lợi lộc của cái nghề “tối mật” mối lái, móc nối cho đường dây đưa người vượt biên ra nước ngoài qua cửa biển Thuận An, Ngà phân vân, nửa tin nửa ngờ, đoạn hứa sẽ thử việc. Qua vài lần móc nối trót lọt, nhận thù lao gấp nhiều lần thu nhập do các nghề hầm bà lằng trước đây mang lại, nàng trở thành cái bóng luôn theo hình là bà Chanh, được coi như bà chị kết nghĩa.

Nghề nghiệp mới đòi hỏi phải sống kiểu nửa tối nửa sáng, thoắt ẩn thoắt hiện, lắm lúc phải “tàng hình” bám chặt các bến bãi trước mỗi “trận đánh” đến cả tuần lễ, mươi ngày, không thuận tiện lắm cho việc nuôi con, Ngà đánh bạo mang thằng Công về quê Hãn ra mắt ông bà nội nó. Hết sức ngỡ ngàng, chẳng ai dám nhận, bảo chờ xác minh. Sau đó được Hãn xác nhận qua thư, người em trai vội vã đi tìm Ngà, và không chút ngại ngần nhận thằng cháu về nuôi. Vậy là năm lên ba, thằng Công về ở luôn với ông bà nội và chú thím nó. Thỉnh thoảng Ngà lại về thăm con, dẫu chưa được cưới xin, nàng vẫn đối xử khá tốt với gia đình “chồng”, dưới mắt mọi người, Ngà được tiếng là nàng “dâu” thảo.

Ngày Hãn nhận giấy phóng thích quay về quê thì thằng Công gần lên bốn, ông bà nội rất cưng chiều thằng cháu đích tôn. Trước đó không lâu, vợ chồng người em không con, mới tậu được một cửa hàng nhỏ kinh doanh vàng bạc ngoài phố, dọn ra ở ngoài đó luôn, Hãn trở thành trụ cột chính của gia đình.

Như một số gia đình khác trong làng, ngoài ruộng vườn canh tác quanh năm, nhà Hãn còn có truyền thống kinh doanh vàng bạc từ bao đời nay. Người cha nói:

– Bây giờ thong thả rồi con học nghề là vừa, trước mắt giúp em con phát triển cửa hàng của nó, sau này có cái nghề lận lưng để nuôi vợ con.

– Không, con không có ý định sống xa nhà nữa.

– Xa nhà là sao?

– Thì từ bao đời nay làng mình ai muốn ăn nên làm ra bằng nghề thợ bạc cũng phải tha hương ra phố, ra huyện, thậm chí lang bạt kỳ hồ khắp nơi. Bản thân cha cũng vậy thôi, nếu chưa chào thua tuổi già, cha đâu đã chịu “qui cố hương”!

Người cha cười:

– Đi thỉnh thoảng lại về, có gì đâu mà ngại.

– Vả lại, con đã nguyện sống độc thân đến hết đời.

– Cái gì mà... độc thân? – Người cha xoe tròn mắt kinh ngạc nhìn gã trai như thể trên trán hắn bất thần nẩy ra cái sừng... bò: – Thế đã báo tin cho Ngà nó biết con về chưa? Bao nhiêu năm người ta sắt son chờ đợi, lo kiếm tiền nuôi con mọn, sao giờ con lại...

Run tay châm thêm cho đầy tách trà, ông cụ uống cạn cơ hồ đang rất khát. Đan hai tay bó lấy đầu gối, Hãn lảng mắt ra cây bồ đề cổ thụ cao chừng năm sáu tấc thu mình đứng trong chậu kiểng màu lam ngọc với bộ rễ sù sì chưng trước hiên, thường ngày ai cũng khen thế đẹp, oai phong, bộ rễ mạnh mẽ, ấn tượng, giờ nom lẻ loi đến phiền muộn. Hãn nói:

– Dù mẹ thằng Công đã từng... nhưng giờ con coi cô ấy cũng chỉ là bạn!

– Lâu nay ở nhà vẫn đối xử với nó như dâu thảo, và nó coi cha mẹ như cha mẹ chồng, tình cảm như bát nước đầy. Đừng có ruồng bỏ, quay lưng lại với người ta một cách vô ơn bạc nghĩa thế con ạ!

– Con có một lý do rất riêng chưa tiện thưa với cha lúc này, xin khất lúc khác tiện hơn. Mỗi thằng Công con nghĩ trả hiếu cho cha mẹ cũng đủ rồi. Biết đâu sắp tới vợ chồng chú Hiếu hết “tịt ngòi”, lại đẻ sồn sồn năm một, lúc đó chỉ sợ cha lại than mệt vì bị cháu chắt quấy rầy.

– Con có tự thấy bây giờ con khác trước nhiều không?

– Con vẫn là con thôi, có gì khác đâu? Con muốn chăm sóc lại khu vườn, cha thấy thế nào ạ?

– Chơi với cuốc xẻng chẳng nhàn nhã bằng chơi với các dụng cụ nhỏ gọn của nghề thợ bạc đâu, con cần cân nhắc kỹ. Việc cuốc đất lật cỏ ai chẳng làm được?

– Đất sẽ đẻ ra vàng nếu mình biết cách bắt nó đẻ. Còn nghề thợ bạc chỉ là gia công vàng thôi!

Đẩy mục kỉnh lên tận gốc mũi, người cha ngắm đứa con nay đã rắn rỏi, phong trần hơn trước, có cái gì đó cứ phảng phất trên vẻ mặt hắn nom buồn buồn, nghiêm nghiêm khó thể hiểu nổi. Ông khẽ phẩy tay:

– Ờ thì... – Ông cụ bỏ lửng câu nói với vẻ mặt cau có, cau ríu đôi mày sâu róm y hệt mày của Hãn, nhưng Hãn biết ông sẽ không bắt buộc hắn phải theo cái nghề thợ bạc truyền thống của gia đình nữa.

Vốn gốc gác nhà nông, rời làng ra phố chợ học hành, đỗ đạt, đi lính theo sắc luật tổng động viên, thất trận, rã ngũ, giờ quay về lại “hiện nguyên hình” là anh nông dân với ít chữ nghĩa trong đầu, ít trải nghiệm cuộc sống, và tâm hồn hằn dấu một nỗi đau thầm, Hãn cầm lại cây cuốc thoạt tiên hơi lọng cọng sau quen dần, chí thú chăm sóc mảnh vườn tạp hơn 7 sào đất quanh nhà lâu nay gần như hoang phế. Thuê người làm sạch cỏ dại, khơi lại giếng, khai thông mương tưới tiêu, gia cố thêm vồng, liếp. Không chỉ các loại trái cây lưu niên như cam, quít, bưởi, xoài, sabôchê... mà cả các loại rau củ ngắn ngày cũng được lên kế hoạch sản xuất, sau vài tháng, khu vườn đã có “bộ mặt” mới.

Công việc vườn tược chiếm hầu hết thời gian trong ngày, phần còn lại Hãn dành cho việc chăm chút, dạy dỗ thằng Công và đọc sách, đa số là sách Thiền học, Phật học và Triết học.

8.

RA TRẠI SAU HÃN CHỪNG NỬA NĂM, KIÊM VỀ phụ việc ở nhà máy sản xuất nước đá của một ông chú ở Hòa Vang – Đà Nẵng. Vào một buổi chiều cuối tuần, ngang qua khu phố có quán bar Thanh Khê Melody ngày xưa, nay đổi bảng hiệu thành quán nhậu bình dân Mai Hồng, lác đác có vài bàn đầy khách, Kiêm ghé vào. Hắn hết sức ngạc nhiên và vui mừng gặp lại Ngà ở đây. Nàng mang bia bơi, bò lúc lắc ra chiêu đãi khách. Sau vài câu thăm hỏi thông thường, Kiêm nói:

– Sao cô lại phiêu bạt giang hồ vào tận đây, cứ ngỡ là đang vui vầy với thằng Hãn và cu Công ngoài Huế chứ.

Ngà khẽ so vai nói giọng không buồn không vui:

– Anh Hãn bây giờ khác xưa nhiều quá, em không thể hiểu nổi, nên rất tiếc không thể vui vầy như anh nói.

– Không sống chung nhưng vẫn yêu hắn chứ?

– Có lẽ không bằng ngày còn mang thằng nhóc trong bụng.

– Thế Ngà có gặp Hãn thường không? Tôi cũng tính đi thăm nó một chuyến nhưng công việc cứ lu bu...

– Thì thỉnh thoảng em vẫn về thăm thằng Công ấy mà! Ngại ở riết với anh Hãn, con trai em rồi cũng sẽ đâm ra gàn dở như cha nó, em đòi mang nó vào trong này. Cả anh ấy và gia đình nhất định không cho, nói nó là cháu đích tôn, như hũ mắm treo đầu giàn.

Uống cạn ly bia hơi, rót đầy, Kiêm cau mày ra dáng nghĩ ngợi rất lung, đoạn lái câu chuyện qua ngõ khác:

– Ngà mở quán lâu chưa? Hình như chỗ này trước đây là bar Thanh Khê...

– Chỗ quen cũ của em, ông chủ vượt biên, bị sung công làm trụ sở dân phòng một thời gian, nay người nhà xin lại...

– Chắc cũng phải thân thế ghê lắm mới...

– Đương nhiên, em sang lại gần một năm nay. Thời buổi này buôn bán kiểu bình dân, làng nhàng vậy cho chắc ăn.

– À ra thế, vị trí thuận lợi, mặt bằng này chắc đắt lắm!

– Chỉ có sáu cây thôi, ăn nhằm gì! – Ngà nheo mắt cười.

Sáu cây vàng là cái giá không rẻ giữa thời buổi cơm độn bột mì hay bo bo hàng bữa, mọi nhu yếu phẩm phải mua bằng tem phiếu theo tiêu chuẩn phân phối dè xẻn của nhà nước... Kiêm đưa ly lên, họ cụng rồi cạn nửa ly, Ngà nhắc khách ăn, gọi hầu bàn mang ra một bình bia nữa. Kiêm bỗng nhìn người đàn bà – hơi đẫy đà nhưng vẫn còn khá xinh đẹp y như trước kia – bằng con mắt khác, sau khi nghe cái giá nàng đã sang mặt bằng, buột miệng:

– Khâm phục, khâm phục! Hỏi thật nhé, bộ cô được hưởng quyền thừa kế gì hay sao?

– Thừa kế gì đâu, tay làm hàm nhai thôi anh! Anh hiểu sao bây giờ em phải mở quán ngồi lượm bạc cắc thế này không? Bởi vì, sợ lắm rồi... Chẳng còn hồn vía để phiêu lưu vô mấy cái nghề hốt bạc nữa.

Ngầm bị thôi thúc bởi ý định khoe mẽ nghề mối lái, dắt dây người vượt biên chui, sau một lần đổ bể, suýt xộ khám, đành xa chạy cao bay, nhưng rồi Ngà dừng lưỡi kịp, lại nhắc Kiêm ăn uống, cụng ly với hắn, lại than phiền về Hãn; và chẳng rõ do hơi men hay chợt gặp người quen để trút vơi tâm sự, ngữ điệu của Ngà bỗng nhiễm chút hơi hám – người ta thường gọi là – triết lý vụn:

– Đôi khi buồn nẫu ruột, em chợt nghĩ, tụi em giống hai lạch nước nhỏ sau khi đã trải qua lắm ghềnh thác cheo leo dọc đời mới gặp nhau, nhưng thay vì hợp lưu thành một dòng sông êm đềm lại chia ra đôi ngả. Ít ra thì cũng hơn một lần em bảo anh ấy nên làm cái đám cưới, đơn sơ cũng được, hoặc lễ ra mắt họ hàng gì đó, nhưng Hãn cứ hứa suông rồi phớt lờ. Theo anh thì tại sao nào?

Thừa biết lý do Hãn không muốn đeo nhẫn cưới vào tay Ngà, nhưng Kiêm cứ tỉnh như không:

– Thế hắn ta có để mắt hay phải lòng cô nào ở làng không?

– Chắc là... không!

– Sao cô dám đoan quyết vậy?

– Thì nghe vợ chồng chú em và cả vài người trong họ hàng anh ấy nói. Ngoài làm vườn, đọc sách, thỉnh thoảng Hãn cũng đi đây đó làm việc họ, việc làng, nhưng trong mắt mọi người, kể cả các cô gái thì anh ấy là một người lãnh cảm hay trầm cảm gì đó rất khó tả. Điều này em cũng thấy và luôn tự hỏi, có phải do trục trặc tâm thần gì đó mà khi còn ở trong trại anh ấy bảo phải quên anh đi, và luôn tránh mặt em vào những kỳ thăm nuôi!? Các anh, cả anh lẫn anh Hãn đang cố giấu giếm điều bí mật nào đó, phải không?

– Lạ lùng nhỉ! – Kiêm lảng chuyện: – Thế em tính để thằng Công ở với cha nó mãi sao?

– Vào mùa hè, em hay đón nó vào chơi, chừng tuần lễ thằng nhóc lại kêu nhớ đòi về. Mà này, đừng có đánh trống lảng nữa, nói đi, cái gọi là điều bí mật ấy!

– Xin khất Ngà một dịp khác, quả là rất... buồn, như cô nói lúc nãy, cô và Hãn bây giờ tựa sông chia hai nhánh, nhưng dù tan hay hợp thế nào thì sông vẫn chảy.

– Nói như anh thì giàu hay nghèo, sướng hay khổ thế nào thì cũng phải sống chứ gì? Cái sống ấy có khiên cưỡng quá không?

– Thế theo cô phải sống như thế nào?

– Người này phải biết tận hiến để được tận hưởng yêu thương từ kẻ kia, đừng có lãng phí thanh xuân một cách oan uổng. Em đang đi tìm điều này nhưng chưa gặp.

– Tìm sẽ thấy, hình như Chúa Jesus từng bảo thế.

– Thật ra em đã tìm thấy nhưng lại để vuột mất đó thôi. Suy cho cùng, anh Hãn đối với em cũng chỉ là chồng có mỗi một đêm rồi... thôi! Nhiều khi nghĩ đến nát óc em cũng không thể hiểu nổi mình có còn yêu anh ấy không nữa.

– Cái nhánh sông lẻ tên Ngà chảy vòng vo một hồi rồi cũng quay về “hợp lưu” với cái tên Hãn. Sao lại chỉ có một đêm?

Cái bộ dạng ra vẻ kinh ngạc của gã đàn ông khiến người đàn bà hơi chột dạ, nghe môi má vụt nóng bừng với cảm giác phần kín thầm nào đó của riêng mình bất thần phơi lộ trước mắt kẻ khác. Hôm gặp lại sau gần 4 năm xa cách, Hãn cứ tỉnh như không. Không hề giống chút nào trạng huống đoàn viên hạnh phúc của một đôi vợ chồng đã đành, như thể cuộc gặp lại của hai người bạn cũng không nốt. Có cái gì đó giống bức tường vô hình ngăn giữa họ, khiến trong mắt nhìn người đàn bà, người bạn lòng của nàng trở nên xa lạ từ cử chỉ đến lời nói, cơ hồ có lớp giá băng xi mạ lên tất thảy khó hâm nóng, khó gần gũi. Một chỗ nằm chung biết bao đêm cô đơn Ngà từng mong đợi đã được Hãn khước từ một cách bẽ bàng: “Em ngủ với con đi, từ lâu anh đã quen ngủ... một mình!”.

Quen ngủ một mình! Câu nói tựa gáo nước lạnh phũ phàng tạt vào nỗi khát khao cháy bỏng khiến nàng khóc muốn cạn cả nước mắt đêm hôm ấy. Khóc như thể vắt kiệt mình mà không thể như nước mắt: bốc hơi thành mây bay đi!

Không tin Hãn chỉ quen ngủ một mình, Ngà càng không tin mình chẳng còn hấp dẫn đối với hắn. Hôm sau, ở gian nhà lá vắng vẻ, sâu hút giữa vườn, nơi Hãn ươm trồng nhiều giống cây con, nàng chăm sóc bữa trưa cho chàng với nhiều thức ngon kèm chai rượu ngâm thuốc bổ. Chàng ăn ngon lành, uống bạo, nhưng lầm lì ít nói. Thỉnh thoảng nàng cưa đôi vài ly, sôi nổi, tình tứ nhắc lại cái đêm không thể nào quên bên bờ đầm Tân Mỹ, đặc biệt về cái container – “phòng tân hôn” độc đáo của họ. Nàng bảo, trên thế gian này chẳng có nơi thần tiên, chốn ma quỉ nào hạnh phúc của đôi lứa lại được “thăng hoa” từ sự phức hợp của bao thứ mùi xú uế, tục lụy, nói trắng ra là cứt đái như thế, quả là vô tiền khoáng hậu. Thế rồi bị trời hành hay tình hành sao ấy, sau này bất cứ đi đâu về đâu, những lúc cô đơn, tủi cực nhất nàng thường nhớ đến cái tổ ấm dọc đường đầu tiên và, đêm hạnh phúc thứ nhất ấy của hai người, nhớ nao lòng, nhớ thắt ruột! Đại để thế, nàng tha hồ nhắc kể, lúc cười bò ra chiếu, khi ngước mắt rưng rưng, chàng cứ tỉnh khô tỉnh rụi, họa hoằn lắm mới nhũn nhặn góp nụ cười... ruồi.

Xong bữa, thu vén gọn gàng các thứ, đoạn nàng giải chiếu ở chỗ tương đối khuất kín mời chàng nghỉ trưa. Với tâm trạng của một người vợ bình thường muốn tận hiến và tận hưởng yêu thương từ chồng, kẻ duy nhất từng chia sẻ thú vui xác thịt với mình, nàng chờ đợi, nhưng chẳng thấy chàng “động tĩnh” gì, cứ ngồi bó gối bắt mặt trông ra vườn trầm ngâm hút thuốc nhả khói, cơ hồ bị gió lá cành chim ngoài đó hớp mất hồn. Chờ mãi đâm sốt ruột, nàng tự cho phép mình “muối mặt”, nhổm dậy, dịu dàng gỡ mẩu thuốc hút dở trên môi chàng ném đi.

– Yêu em... Hãy... yêu em đi mình! – Vừa nũng nịu nói nàng vừa bật các cúc áo mở tung, quàng tay ôm lấy chàng, khẽ trườn lên áp bộ ngực trần nóng hổi vào gương mặt ngày đêm yêu nhớ, thấp giọng thủ thỉ vào tai chàng: – Nào, yêu em đi. Em khát muốn chết khô đây nè. Yêu em nghe mình!

Dịu dàng gỡ tay nàng ra, du nàng ngồi xuống chiếu, chàng đứng bật lên hệt cái lò xo, nói tỉnh rụi:

– Khi không sao... hứng bất tử vậy?

Sững người đến ba mươi giây, giây thứ ba mươi mốt người đàn bà có cảm tưởng mình không phải bị tạt gáo nước lạnh mà bị dội cả nồi nước sôi bỏng rẫy, xoáy tia nhìn giận dữ vào vẻ mặt vụt trơ như đá của chàng, đưa cả hai tay nâng đôi vú đẹp phập phồng hơi thở gấp lên cao rồi dằn dỗi buông xuống, uất nghẹn nói:

– Bao nhiêu năm em cố công giữ mình, giờ mới biết mình chỉ hoài công, anh không muốn dùng thì...

– Thì sao nào? – chàng lên giọng “chồng chúa vợ tôi”: – Em học ở đâu ra cái thói lẳng lơ trắc nết, ăn nói táo tợn, dung tục, hạ cấp thế hả?

Nàng chậm rãi nhả rời từng tiếng:

– Còn học ở đâu nữa? Chính anh, chính anh và chính anh đã biến em thành đứa lẳng lơ, đứa dung tục mà cứ ngỡ mình là đấng thanh cao! Đồ đạo đức giả!

Khép vội hai vạt áo, cài vội mấy chiếc cúc, Ngà đứng lên nhặt cái cặp lồng cho vào giỏ mây quay lưng rảo bước. Lặng trông theo giây lát, ngập ngừng rồi Hãn đuổi theo nàng. Níu Ngà dừng lại giữa lối đi, hắn từ tốn ôm lấy nàng, áp gương mặt khó tả oán hận hay đau khổ đầm đìa nước mắt vào trũng vai mình, vỗ nhẹ lưng nàng, nhắc lại cái câu “chết người” đã ghi trên mảnh giấy giấu trong hộp diêm sau buổi thăm nuôi – Kiêm đã lén đưa nàng nhưng không qua được mắt cảnh vệ – ở trại T1 Hiệp Đức ngày nào với giọng không buồn không vui, gần như vô cảm:

– Quên anh đi. Thứ lỗi cho anh!

Người chồng một đêm. Vâng, chỉ duy nhất một đêm kinh hoàng bên bờ đầm sôi lửa tai ương, và ám mù khói chết chóc ấy. Rồi thôi! Một đêm, chỉ là cái chớp mắt so với trăm năm sao mà đòi đoạn, đau xót và bẽ bàng đến thế. Xưa ai từng cắc cớ bảo: Kim chích vô thịt thì đau / Thịt chích vô thịt nhớ nhau trọn đời! Câu ca dao thoạt nghe như bông đùa, càng nghe càng ngẫm càng thấm thía diết da da diết biết chừng nào!

Lần gặp hôm ấy ở quán Mai Hồng mở đầu cho những lần gặp sau. Dần dà họ tìm thấy ở nhau lắm điểm tương đồng, vài điểm dị biệt có thể san sẻ được. Nói một cách nôm na thì, một hôm cả hai cảm thấy không thể sống thiếu nhau. Và, để Ngà không còn tiếc nuối, không còn bị ám ảnh mảy may nào về người bạn cũ nữa, Kiêm đã nói cái mà Ngà gọi là điều bí mật của Hãn vào dịp hắn ngỏ lời cầu hôn nàng:

– Thật ra chẳng có gì khó hiểu. Sau một lần bị tai nạn trong rừng, Hãn không còn là đàn ông nữa. Người chồng một đêm tội nghiệp của em mong em có một cuộc đời khác, không phiền lụy bởi sự khiếm khuyết bất hạnh, hoàn toàn ngoài ý muốn và rất đáng tiếc của hắn ta! Đừng oán trách nữa, em nên kính trọng sự cao thượng của Hãn.

Sau đó ít lâu họ cưới nhau, rồi cùng sang Mỹ định cư theo chương trình H.O. Thỉnh thoảng Ngà gửi tiền về tiếp Hãn nuôi thằng Công ăn học, hắn khó thể từ chối.

9.

ĐỦ TIÊU CHUẨN RA ĐI NHƯNG HÃN ĐÃ CHỌN Ở lại, ngày mỗi già đi bên cây trái vườn nhà. Những cuốn sách Thiền học, Phật học và Triết học từ thời ấy đến nay đã cũ sờn vẫn được lật giở một cách trang trọng bởi những ngón tay chai sần, vẫn được đọc đi đọc lại không hề thiếu sự nghiêm túc hay say mê. “Vàng” từ đất vườn nhà hắn bây giờ không chỉ cung cấp cho các bạn hàng rau quả ngoài chợ, mà cả các mối lái từ Huế ra, từ cây số 17 vào.

Định bụng ngày nào đó sẽ quay lại Hiệp Đức thăm cây mít cô đơn hắn trồng coi có còn không, nhưng chưa có dịp. Cây mít ngày bọn Hãn rời Hiệp Đức để chuyển về Phú Ninh – nơi dừng chân của “hành trình” dài ba năm bảy tháng – đã cao ngồng nhưng vẫn còn son trẻ, chưa ra hoa đậu trái, giờ này nếu còn chắc nó hóa lão mất rồi.

Qua bậc tiểu học ở trường làng, thằng Công ra tỉnh học tiếp trung học, rồi tốt nghiệp đại học, đi làm ở một công ty nước ngoài, cưới vợ, lập nghiệp luôn ngoài phố, thỉnh thoảng lại về thăm cha. Vẫn không quên lời trối trăng của ông nội, Công tranh thủ lúc rảnh rỗi đi học thêm nghề thợ bạc ở cửa hàng của chú Hiếu, ông chú đã đi tìm, nhận nó về nuôi từ thuở mới lên ba.

Sài Gòn 2004 – 2005

« Lùi
Tiến »