Thứ Năm, ngày 12 tháng Chín. Tiết sáu, lớp 12B.
Vi phân, tích phân là cửa ải cuối cùng của môn Toán cấp ba. Không nắm vững phần này thì đừng mơ đạt điểm cao trong kì thi đại học. Chẳng biết có phải tại cách giảng của tôi mà cả lớp chưa bao giờ đạt điểm bình quân trên 50 khi kiểm tra vi phân tích phân.
Tôi viết các công thức toán phức tạp lên bảng, thỉnh thoảng nhìn xuống chỉ thấy những khuôn mặt vô hồn. Học sinh lớp Mười hay Mười một ít nhiều còn tỏ thái độ phản kháng kiểu “Sao lại phải học mấy thứ này nhỉ?” hay “Toán thì có lợi gì cho đời đâu!” Nhưng lên lớp Mười hai, học sinh chẳng buồn thắc mắc nữa. Chắc đã giác ngộ cả rồi, ai nấy đều mang vẻ mặt “Thích giảng thì cứ giảng đi!”
Nhìn một vòng các gương mặt học trò, tôi chợt dừng mắt ở Kei ngồi dãy bên trái, bàn thứ tư từ trên xuống. Cô bé chống cằm nhìn ra cửa sổ, không hiểu nhìn lớp khác tập thể dục dưới sân hay ngắm nghía nhà dân đằng xa. Ít khi cô bé lơ đãng thế này. Trong giờ của tôi, Kei tương đối chăm chú nghe giảng.
Tôi chưa tóm tắt xong bài học thì chuông báo hết giờ. Cả lớp tươi tắn vui vẻ hẳn lên. Vì không bao giờ giảng quá giờ, tôi lập tức gập sách lại, “Buổi học hôm nay kết thúc đây.”
“Cả lớp, nghiêm! Chào thầy!” Lớp trưởng hồ hởi hô.
Ra khỏi phòng học vài bước thì Kei đuổi theo. “Thầy! Hôm nay thầy đến tập chứ?” Khác với hôm qua, giọng điệu cô bé hôm nay như tra hỏi.
“Tôi định thế.”
“Định ấy ạ? Chưa chắc chắn ạ?”
“Ừ. À không… Chắc chắn.”
“Thầy hứa rồi đấy nhé.” Nói xong, Kei nhanh chân quay về lớp.
Dõi theo qua kính cửa sổ, tôi thấy Kei đến chỗ Asakura Kanae và nói gì đó. Kanae là phó chủ tịch câu lạc bộ bắn cung. Chắc hai đứa trao đổi về việc luyện tập.
Về tới phòng giáo vụ giữa lúc Murahashi kéo Fujimoto, một giáo viên trẻ lại và nói liến thoắng, nghe chừng cằn nhằn vì kết quả bài kiểm tra đột xuất vừa rồi quá kém. Murahashi rất hay cằn nhằn, và chúng tôi luôn phải làm người lắng nghe. Đủ các kiểu nội dung, nào là học sinh hư, hiệu trưởng chậm hiểu, lương thấp… Vô cùng vô tận. Tuy nhiên có một điểm chung trong mọi câu chuyện, là anh ta rất hối hận vì đã trở thành giáo viên trường nữ sinh cấp ba.
Murahashi tốt nghiệp cao học Khoa học Tự nhiên tại một trường đại học công lập ở tỉnh nhà. Anh ta hơn tôi hai tuổi, cũng dạy Toán, nhưng khác tôi ở chỗ học cao học xong là đi dạy ngay nên thâm niên khá dài. Nghe đâu mấy năm đầu, anh ta định dạy đại học. Vốn phấn đấu trở thành giáo sư Toán nhưng thất bại nên đành làm giáo viên cấp ba. Lúc ấy anh ta chưa từ bỏ giấc mơ của mình, tiếc thay ước ao mãi không thành hiện thực nên giờ anh ta không buồn nghĩ tới việc dạy đại học nữa. Anh ta từng tâm sự với tôi, vào một lần các giáo viên Toán đi uống rượu.
“Tớ chẳng có ý định giảng bài cho học sinh hiểu.” Murahashi đã ngà ngà say, hơi rượu hầm hập phả vào tai tôi. “Tất nhiên ban đầu, hồi mới về trường ấy, tớ hăng hái lắm, tâm niệm giảng sao cho ai nấy đều thấm thía được môn học khô khan khó nhằn này. Khổ nỗi không thể, không thể. Tận tình đến đâu mặc kệ, giảng mười chúng không hiểu một. Nói đúng hơn, chúng không muốn hiểu. Ngay từ đầu đã không thèm nghe giảng. Thoạt tiên tớ tưởng là tại vấn đề ý thức. Chỉ cần có ý thức thì sẽ khác hẳn. Hóa ra nhầm to.”
“Tôi nghĩ là vấn đề ý thức thật mà.”
“Không phải, hoàn toàn không phải. Đầu óc chúng nó chỉ đến thế thôi, không đủ sức chứa cho Toán cấp ba, dù muốn cũng không ngấm nổi. Với chúng nó, nghe giảng Toán chẳng khác gì nghe tiếng nước ngoài, động lực phấn đấu tiêu tan. Kể cũng đáng thương. Nghe như nước đổ đầu vịt mà cứ phải ngồi yên suốt năm mươi phút.”
“Vẫn có trường hợp học được mà. Theo chỗ tôi biết, phải đến hai ba em kha khá rồi.”
“Số ít thôi. Hai phần ba là đồ bỏ. Nghiêm túc mà nói, đầu óc bã đậu không đủ khả năng tiêu hóa. Tớ nghĩ từ lớp Mười một nên cho học sinh chọn môn. Chó bắt đi cày sao được? Đứa nào đủ khả năng và can đảm chọn Toán thì sẽ rèn luyện tới nơi tới chốn. Thế thôi! Môn Toán cao sang đem nhồi nhét cho học trò ngày nay chỉ tổ giảm giá trị. Cậu thấy sao?”
“Ừm…” Tôi gượng cười đưa chén rượu lên môi. Toán thì cao sang cái gì? Tôi cũng chưa từng trăn trở về hệ thống giáo dục như Murahashi. Dạy học với tôi đơn giản là mưu sinh.
Murahashi chỉnh lại gọng kính vàng rồi tiếp tục, “Làm giáo viên ở trường nữ sinh cấp ba là sai lầm. Người ta cứ bảo bây giờ là thời đại phụ nữ đi làm. Thật ra đại bộ phận lấy chồng xong đều ru rú ở nhà, trường này liệu được mấy đứa mai đây vào công ty lớn, làm việc và tiến thân hơn nam giới? Hầu hết chúng nó đều chọn trường cao đẳng hay đại học nữ, bài vở vừa phải, ra trường làm văn phòng một thời gian, tóm được anh nào ổn ổn là cưới. Miệt mài dạy dỗ cái loại như thế thì thật là… Không hiểu sao tớ lại học cao học chứ… Càng nghĩ càng chán đời.” Murahashi càng nói càng hăng, ngửa cổ nốc một hơi như để xua đi nỗi cám cảnh. Ngày thường anh ta cũng hay cằn nhằn, nhưng chưa bao giờ tỏ ra suy sụp như hôm đó.
“Kiểm tra đột xuất thì đổ tại bất ngờ. Khổ nỗi kiểm tra giữa hay cuối kì cũng có chịu ôn tập trước đâu. Chán không buồn nói nữa.” Murahashi lấy tay gạt mái tóc rẽ ngôi bên rất chỉn chu của mình, trông không có vẻ gì là sẽ ngưng cằn nhằn.
Tôi nhẹ nhàng cầm bộ quần áo thể thao ra khỏi phòng giáo vụ trước khi bị anh ta túm lại. Tôi thường thay đồ ở phòng thay đồ dành cho giáo viên phía sau nhà thể chất. Đó là một căn phòng xây bằng gạch, rộng khoảng 16 m 2 . Trong phòng có một bức tường cũng xây bằng gạch giống tường ngoài, dùng để ngăn hai bên nam nữ. Phòng này cải tạo từ kho chứa đồ. Cửa ra vào bên nữ lại trổ ở mặt sau phòng, cấu trúc khá lạ, có lẽ nó vốn là cửa sổ hay đại loại thế. Tuy gọi là phòng dành cho giáo viên, nhưng giáo viên thể dục có chỗ thay riêng, nên đối tượng sử dụng phòng này chủ yếu là giáo viên không dạy thể dục, chỉ làm cố vấn cho câu lạc bộ mà thôi. Giáo viên cố vấn không thường xuyên tập với câu lạc bộ, thành ra rất ít người vào đây, lắm hôm chỉ mình tôi dùng.
Đang thay đồ thì Fujimoto xuất hiện. Cậu ta vừa cười vừa khẽ thở dài. Fujimoto là cố vấn câu lạc bộ quần vợt. Hôm nay chỉ có tôi và cậu ta sử dụng phòng thay đồ nam.
“Thầy Murahashi toàn thuyết giảng lê thê. Mệt quá.”
“Anh ta nói nhiều để giải tỏa căng thẳng đó.”
“Thật chẳng lành mạnh chút nào. Thay bằng vận động cơ thể thì hợp lý hơn.”
“Trí thức tinh hoa mà lại!”
“Trí thức tinh tướng thì có!”
Tôi bật cười trước câu nói đùa của Fujimoto, rồi ra khỏi phòng thay đồ.
Muốn đến bãi bắn cung, phải đi men theo khu phòng học rồi vòng qua sân vận động. Bình thường tôi đều đi đường này, nhưng do vụ chậu cây hôm trước nên tôi quyết định thay đổi lộ trình.
Câu lạc bộ bắn cung phương Tây trường Seika thành lập đã mười năm, khởi đầu là do một cố vấn cung đạo cho học sinh tập thử. Bắn cung phương Tây không cứng nhắc như cung đạo, lại có nhiều yếu tố mang tính trò chơi nên các cô bé khá ưa thích. Sau hai, ba năm thì câu lạc bộ chính thức thành lập. Từ đó trở đi, với đồng phục sặc sỡ, động tác thanh tao, lại không quá vất vả như quần vợt hay bóng rổ, môn này trở nên hấp dẫn. Năm nào cũng có rất nhiều học sinh xin gia nhập. Bây giờ, câu lạc bộ bắn cung đã có mặt trong nhóm năm câu lạc bộ lớn nhất của trường.
Hồi mới về nhận công tác, tôi được phân công làm cố vấn ở đây, do từng tập bắn cung suốt bốn năm đại học. Mà tôi cũng muốn cầm lại cánh cung, nên kể ra là phù hợp.
Sau khi tôi về làm cố vấn, câu lạc bộ có khởi sắc. Vài thành viên tham gia thi đấu chính thức. Thành tích chưa nổi trội lắm nhưng tôi tin là một số em có kĩ thuật tốt như Kei và Kanae sẽ tỏa sáng sớm thôi.
Tôi tới sân tập bắn đúng lúc các thành viên vừa khởi động xong và đang đứng quay tròn quanh Kei nghe phổ biến nội dung tập hôm nay. Nghe xong ai nấy tản ra, nhanh chóng vào vị trí 50 mét và bắt đầu bắn. Một buổi tập như thường lệ.
“Mãi hôm nay thầy mới tới.” Kei bước lại gần. “Thầy phải hướng dẫn bù cho những ngày trốn tập đi.”
“Không phải trốn tập.”
“Thật không ạ?”
“Thật chứ sao không. Mà thôi. Tình hình thế nào? Mọi người ra sao?”
“À dạ, vẫn tàng tàng.”
“Trông tình hình thì năm nay ít hy vọng.”
Ý tôi muốn nói tới giải vô địch cá nhân cấp tỉnh diễn ra tháng sau. Trong giải đó, ai có kết quả tốt sẽ đại diện tỉnh thi đấu toàn quốc. Tuy nhiên thực lực của chúng tôi chưa đủ, từ ngày thành lập câu lạc bộ chưa ai đạt được thành tích này. Điểm số cũng khỏi bàn, còn quá xa để với tới giải quốc gia.
“Nói thế chứ Kei thì sao? Cơ hội cuối cùng đấy.”
Tôi nhớ lại buổi trao đổi với hiệu trưởng và chuyện phiếm với chủ cửa hàng đồ thể thao hôm qua.
“Em cũng muốn làm được điều gì đó!” Kei nói với giọng rất người lớn như mọi khi rồi bước tới vạch bắn 50 mét, luyện tập nội dung rút gọn để chuẩn bị cho vòng loại.
Môn bắn cung có hai nội dung là toàn năng và rút gọn. Nội dung toàn năng với nam bao gồm 90 mét, 70 mét, 50 mét, 30 mét; với nữ gồm 70 mét, 60 mét, 50 mét, 30 mét, mỗi cự ly bắn 36 mũi tên, tổng cộng 144 mũi và tính điểm tổng để xếp hạng. Nội dung rút gọn cả nam và nữ đều chỉ có hai cự ly 50 mét và 30 mét, mỗi cự ly 36 mũi, tổng cộng 72 mũi và tính điểm tổng để xếp hạng. Tâm bia bắn là 10 điểm, vòng ngoài liền đó là 9 điểm, ra ngoài nữa là 8 điểm… cứ thế cho tới vòng ngoài cùng là 1 điểm. Có nghĩa điểm số cao nhất ở nội dung toàn năng là 1440 và rút gọn là 720.
Giải quốc gia thi nội dung toàn năng, còn ở tỉnh chỉ thi nội dung rút gọn. Tuyển thủ đông nên tổ chức nội dung toàn năng khá mất thời gian. Vì lý do đó, câu lạc bộ chúng tôi chỉ tập trung vào cự ly 50 mét và 30 mét để phục vụ cho giải đấu ở tỉnh.
Tôi đứng phía sau các cung thủ, kiểm tra tư thế đứng bắn và mức độ tiến bộ của từng người. Có em giương cung rất khí thế, có em nhẹ nhàng, có em bắn mạnh như con trai, có em lại rất thùy mị. Được đào tạo như nhau nhưng sau một thời gian, mỗi người lại hình thành cá tính hoặc thói quen riêng. Kể ra cũng không sao, đáng nói là hầu hết các cá tính và thói quen đó không đóng góp gì cho thành tích bắn cung.
Về kĩ thuật và lực bắn, Kei vẫn ổn định nhất. Phó chủ tịch Kanae ngày càng vững vàng nhưng chưa đủ để thi đấu toàn quốc. Các thành viên mới thì sàn sàn nhau, cứ giương cung là nhả tên. Với nhóm này, chưa đến bước hướng dẫn tư duy bắn, riêng Emi lại gây chú ý vì bắn rất thận trọng. Lắp tên và giương cũng khá ổn, chỉ tiếc động tác buông dây chưa đạt. Cứ nhắm đích xong là thân thể cô bé run bần bật, đứng từ xa cũng thấy rõ.
“Em sao thế? Sợ à?” Tôi bắt chuyện. Emi giật mình ngẩng lên, rõ ràng là nín thở. Mất một lúc mới nhẹ nhàng thở ra và nói. “Trước khi bắn em cứ phân vân…”
“À ra thế!” Tôi gật đầu thông cảm, tình trạng này ai cũng trải qua. “Chỉ là chơi thể thao thôi mà. Đừng căng thẳng quá. Sợ thì cứ nhắm mắt mà bắn.”
Emi khẽ đáp “Vâng ạ” rồi từ từ kéo dây cung. Ngắm, kéo căng, nhắm mắt lại và thả cho tên bay ra.
Mũi tên cắm vào bia nhưng cách khá xa hồng tâm. “Thế là được.” Nghe tôi nói, Emi gật đầu, nét mặt vẫn căng thẳng.
Bắn xong cự ly 50 và 30 mét, tất cả giải lao mười phút. Tôi lại gần Kei.
“Mọi người bắn cũng tàm tạm.”
“Không xuất sắc lắm.” Kei nói, nét mặt vô cảm.
“Tốt hơn tôi tưởng. Không tới mức phải thất vọng.”
“Em thì sao?”
“Cũng được. Tốt hơn hồi tập huấn.” Tôi vừa dứt lời thì Kanae ngồi bên cạnh thản nhiên xen vào. “Tại Kei có bùa hộ mệnh của thầy nên mới bắn tốt đấy.”
“Bùa hộ mệnh?”
“Kanae, cậu đừng nói linh tinh.”
“Bùa nào cơ? Tôi không nhớ đã cho Kei cái gì như vậy.”
“Có gì đâu. Cái này này.” Kei rút một mũi tên ra khỏi ống đựng. Ống đựng là bao dài đựng tên đeo bên hông người bắn.
Đó là một mũi tên đã ngả đen, đuôi gắn lông vũ cũng màu đen. Tôi từng thấy mũi tên này rồi. Mà đâu chỉ là từng thấy. Tôi còn dùng nó suốt một thời gian dài.
Cung thủ thường có mũi tên riêng. Tùy phong cách bắn và thể lực, mỗi người chọn cho mình loại tên phù hợp về chiều dài, độ lớn, độ đàn hồi, góc cắm lông… Chưa hết, màu sắc, hình dạng và lông vũ, thậm chí hoa văn của logo cũng có thể tự phối theo sở thích. Nói chung không ai có mũi tên giống ai, cả về hình dạng lẫn kiểu cách.
Bộ tên tôi dùng bấy nay đã mòn nên hôm trước có chế bộ tên mới. Kei bèn nói muốn xin một mũi, và tôi đưa ngay. Mấy năm nay giới chơi bắn cung rộ lên trào lưu giữ một mũi tên khác với bộ tên của mình để trang trí. Mũi tên đó thường được gọi là tên hộ mệnh.
“Ô, hóa ra từ lúc mang theo nó, em bắn lên tay hả?”
“Tình cờ là thế. Chắc nhờ vía thầy.”
Kei cất tên vào ống. Tên Kei dùng dài 23 inch, còn mũi tên này dài 28,5 inch nên trội hẳn.
“Thích nhỉ! Cho em một tên vía tốt với.” Kanae vòi vĩnh.
Tôi bèn đáp, “Được thôi, tôi để trong phòng sinh hoạt câu lạc bộ, em thích tên nào cứ lấy.”
Mười phút giải lao kéo dài thành mười lăm phút, buổi tập tái khởi động. Đồng hồ đeo tay đã chỉ quá 5 giờ 15 phút. Tiếp theo là nâng tạ, giãn cơ và chạy bộ. Lâu rồi tôi mới tập tới cuối buổi với học trò. Chạy năm vòng 400 mét đã đuối, giữa đường gặp câu lạc bộ quần vợt cũng đang chạy. Cố vấn Fujimoto chạy cùng, cậu ta sung sức lắm, dẫn đầu cả nhóm.
“Ồ, lâu quá mới thấy thầy Maejima chạy!”
Đây là giọng của người đang chạy hả? Chẳng có biểu hiện gì là hụt hơi cả.
“Ừ thì… thỉnh thoảng… cũng phải… Mà mệt thật!” Tôi đáp giữa hơi thở hổn hển.
“Thôi, em chạy trước nhé!” Fujimoto phăm phăm chạy tiếp. Tôi nhìn theo mà ngỡ như nhìn một sinh vật lạ.
Chạy xong quay về bãi bắn, tất cả cùng hít thở thư giãn, cuối cùng lại quây thành vòng tròn, công bố điểm số của mình. Bắt đầu từ chủ tịch, phó chủ tịch, ai cũng nhận xét vài lời về buổi tập. “Hãy tuân thủ từng bước cơ bản và bắn một cách trung thực,” Kei nhắc nhở rất bình thường. Ngày nào cũng tập thì lấy đâu ra nhiều điều đặc biệt để nói.
Kết thúc buổi tập, đồng hồ đã chỉ hơn 6 giờ. Dạo này ngày ngắn đi, nhưng hiện tại trời vẫn sáng. Phía bên kia là sân quần vợt, họ thường tập lâu hơn chúng tôi.
“Hôm nay chắc thầy mệt lắm, phải không ạ?” Kei đuổi theo tôi, ống đựng tên nảy nảy bên hông.
“Tôi có làm gì đâu mà mệt.”
“Chỉ cần thầy có mặt là được.”
Tôi chợt giật mình. Sự vui vẻ lúc nãy đã biến mất, giọng Kei thực tế một cách lạ lùng.
“Chỉ cần thế thôi hả?” Tôi cố ý đùa. Chúng tôi trao đổi qua về việc tập luyện, nhưng Kei khá lơ đãng. Đang nói dở thì đã tới phòng thay đồ.
“Ngày mai thầy cũng tới chứ?”
“Tôi sẽ cố.”
Bất bình với câu trả lời của tôi, Kei quay đầu bỏ đi. Trời chưa tối hẳn, chắc cô bé còn tập thêm một lúc. Tôi đặt tay lên cửa phòng thay đồ, tai vẫn nghe tiếng tên nảy lọc xọc trong ống theo nhịp chân Kei.
“Ủa?” Tôi chợt thấy lạ. Cửa bình thường đẩy một cái là mở mà sao giờ kẹt cứng thế này. Tôi đẩy mạnh hơn mà không ăn thua.
“Sao vậy ạ?” Chắc do thấy tôi lấn cấn ở cửa nên Kei quay lại.
“Cửa không mở. Hay bị vướng cái gì chăng?”
“Lạ nhỉ!” Kei nghiêng đầu nghi hoặc rồi vòng ra phía sau phòng thay đồ. Tôi cố đập cửa rồi nâng lên nhưng cánh cửa vẫn không nhúc nhích. Một lúc sau Kei trở lại. “Thầy ơi, cửa bị chặn bằng gậy rồi. Em nhìn qua lỗ thông gió thấy thế.”
“Bị chặn bằng gậy?” Tôi theo Kei vòng ra phía sau, thắc mắc ai lại làm thế. Lỗ thông gió là một ô nhỏ hình vuông, mỗi cạnh chừng 30 centimet, gắn cánh lật nghiêng ra ngoài khoảng 30 độ. Theo lời Kei, tôi ngó vào bên trong. Phòng tối mờ, phải căng mắt mới thấy.
“Ừ đúng. Ai làm thế nhỉ?” Tôi lùi ra khỏi lỗ thông gió.
Kei nhìn tôi chằm chằm, “Ai nhỉ… Hay có người bên trong?”
“Có người bên trong?” Tôi toan hỏi “Tại sao?” thì lại à lên. Kei nói đúng. Phải ở trong mới chặn cửa bằng gậy thế kia được.
Cửa bên nữ vẫn khóa. Chúng tôi lại vòng ra đằng trước, đập cửa. “Có ai không?” Gọi thế nào cũng không thấy hồi đáp. Hai thầy trò nhìn nhau, cùng linh cảm có chuyện chẳng lành.
“Chỉ còn cách phá cửa thôi.” Nghe tôi nói, Kei gật đầu. Chúng tôi dùng hết sức xô mạnh người vào cánh cửa. Khoảng năm, sáu lần thì có tiếng răng rắc phía trên. Cửa đổ rầm vào trong, bụi bay mù mịt. Chúng tôi mất đà chúi tới trước. Vài mũi tên rơi ra khỏi ống đựng của Kei.
“Thầy ơi, có ai kìa…”
Nghe Kei chỉ, tôi nhìn theo vào góc phòng. Một người đàn ông mặc vest xám nằm gục ở đó, ngay phía dưới lỗ thông gió. Thế nên lúc nãy chúng tôi mới không phát hiện ra.
Áo vest xám này, tôi từng trông thấy rồi.
“Kei… Gọi điện thoại.” Tôi nuốt nước bọt, cố nói thành lời.
Kei cứ bấu chặt cánh tay tôi, “Điện thoại à… Gọi đi đâu ạ?”
“Bệnh viện. À không, gọi cho cảnh sát tốt hơn.”
“Chết rồi hả thầy?”
“Chắc thế.”
Kei buông tay tôi, bước qua chỗ cửa vừa phá ra ngoài. Được một lúc cô bé quay lại, mặt xanh lét, “Mà ai đấy ạ?”
Tôi liếm môi rồi đáp, “Thầy Murahashi.”
Kei trợn tròn mắt câm nín, rồi cắm đầu bỏ chạy.
Hết giờ học đã lâu nhưng nhiều học sinh vẫn ở lại trường. Loa nhắc các em nhanh chóng ra về nhưng không có vẻ gì là chúng sẽ nghe theo, gần phòng thay đồ đã có đám đông hiếu kì tụ tập.
Trong lúc Kei đi báo cảnh sát, tôi đứng phía ngoài cửa phòng mới bị xô đổ. Tất nhiên quay mặt ra vì không đủ can đảm nhìn xác chết. Được một lúc thì Fujimoto hớn hở xuất hiện, bô lô ba la tập xong sảng khoái quá hay đại loại thế, tôi không nhớ rõ. Đúng hơn là tôi không nghe. Tôi lắp bắp thuật lại sự việc. Nói một lần chưa rõ, tôi phải nói tới hai lần. Nhìn nét mặt ngơ ngác của cậu ta, tôi đưa tay chỉ vào bên trong.
Fujimoto la lên thất thanh. Các ngón tay run lẩy bẩy. Nhưng không hiểu sao, nhìn vẻ mặt kinh hoàng của cậu ta, tôi lại thấy bình tĩnh hơn. Để Fujimoto đứng đó, tôi chạy đi báo hiệu trưởng và trợ lý hiệu trưởng. Khoảng ba mươi phút sau, tôi quay về.
Trước mặt tôi, một toán cảnh sát đang sục sạo khắp nơi. Dù căn phòng bé tẹo, họ vẫn xem xét tỉ mỉ từng ngóc ngách, thỉnh thoảng trao đổi với nhau bằng giọng rất nhỏ để người ngoài không nghe thấy. Chúng tôi đứng túm tụm một bên nhìn lại, có cảm giác mỗi trao đổi của họ đều hàm chứa ngụ ý thâm thúy nào đó, nên càng thêm căng thẳng.
Cuối cùng, một điều tra viên cường tráng khoảng ba lăm ba sáu tuổi tiến về phía chúng tôi. Chúng tôi ở đây là tôi, Kei, Fujimoto, và Hori. Hori là một giáo viên đứng tuổi, dạy văn kiêm cố vấn câu lạc bộ bóng chuyền. Chị là một trong số ít người sử dụng phòng thay đồ nữ, và hôm nay thì chỉ có đúng chị dùng.
“Tôi muốn trao đổi một chút.” Điều tra viên nói, giọng ôn tồn nhưng ánh mắt sắc lẹm và đầy cảnh giác khiến tôi liên tưởng tới mắt chó săn.
Họ gọi cả bốn đến phòng khách của trường, tiến hành lấy lời khai, đầu tiên là với tôi. Chắc do tôi là người phát hiện xác chết.
Tôi bước vào phòng khách, ngồi xuống đối diện điều tra viên. Anh ta cho biết tên mình là Otani. Ngồi cạnh Otani là một điều tra viên trẻ hơn, làm nhiệm vụ ghi chép, nhưng không xưng tên.
“Anh phát hiện ra sự việc lúc mấy giờ?” Đây là câu hỏi đầu tiên. Otani nhìn tôi như thăm dò. Lúc này, tôi không hề hay biết rằng về sau mình còn phải gặp anh ta nhiều.
“Tôi phát hiện sau khi tập xong với câu lạc bộ, tầm 6 giờ 30 phút.”
“Vậy à, câu lạc bộ gì?”
“Câu lạc bộ bắn cung, cung phương Tây ấy.” Vừa đáp tôi vừa nghĩ, sao phải hỏi đến câu lạc bộ.
“À thế à? Hồi trước tôi cũng chơi bắn cung… Mà thôi. Anh hãy thuật lại tình hình lúc phát hiện xác chết, càng chi tiết càng tốt.”
Tôi thuật lại khá chính xác mọi việc từ lúc tập xong tới lúc tìm ra Murahashi đã chết và đi báo cho mọi người, nhấn mạnh vào việc cửa phòng thay đồ bị chặn gậy bên trong.
Nghe xong, Otani khoanh tay trầm ngâm hồi lâu mới hỏi, “Cửa bị đẩy mạnh mà vẫn không lay chuyển à?”
“Vâng, tôi còn đập rầm rầm nữa.”
“Vẫn không ăn thua nên anh phải dùng cả người để xô vào?”
“Vâng.”
Otani hí hoáy ghi vào sổ tay, nét mặt đăm chiêu. Và với nét mặt đó, anh ta hỏi tiếp, “Murahashi có bao giờ sử dụng phòng thay đồ không?”
“Không. Vì thầy ấy không làm cố vấn cho câu lạc bộ thể thao nào cả.”
“Nghĩa là ngày thường Murahashi không sử dụng phòng thay đồ, tự dưng hôm nay lại vào phòng thay đồ… Chuyện này là sao? Anh nghĩ thế nào?”
“Chính tôi cũng thấy lạ.” Tôi thành thật đáp.
Otani hỏi sang tình hình Murahashi gần đây cùng các hành vi nổi bật. Tôi nói qua về tính cách kiêu ngạo, tác phong hà khắc trong vai trò trưởng ban quản lý học sinh của anh ta, cuối cùng kết luận, “Thời gian gần đây thầy ấy không có biểu hiện gì lạ cả.”
Otani chưa thỏa mãn, nhưng vốn không kì vọng nhiều nên chỉ khẽ gật gù, “Vậy à!”
“Với cả, có thể không liên quan tới bản chất vụ án, hiềm nỗi…” Anh ta mào đầu để đổi đề tài. “Tôi thấy vài điểm lạ khi kiểm tra phòng thay đồ. Anh giải thích giúp được không? Không có gì to tát đâu. Chuyện nhỏ thôi.”
Otani quay sang điều tra viên trẻ tuổi, hỏi lấy một tờ giấy trắng rồi đặt trước mặt tôi, vẽ một hình chữ nhật phác họa phòng thay đồ.

“Khi chúng tôi tới nơi, hiện trường như thế này đúng không? Gậy chặn cửa đã rơi xuống.”
Tôi nhìn phác họa và gật đầu.
“Tôi muốn hỏi một điều. Phòng thay đồ nữ khóa ngoài. Bên nam thì sao? Bên nam quy định không cần khóa à?”
Câu hỏi này, cả tôi và Fujimoto đều khó trả lời. Chẳng qua do chúng tôi lười khóa mà thôi.
“Nói chung có quy định là phải khóa.” Tôi trả lời nước đôi.
“Nói chung… nghĩa là sao?”
“Chúng tôi không quen khóa. Vì phải đến phòng tạp vụ lấy chìa, dùng xong lại đi trả, hơi nhọc công. Mà trước giờ chưa bao giờ mất trộm cả.” Giải thích xong, tự tôi cũng thấy câu cuối hơi có ý biện bạch.
“Cho nên Murahashi thừa sức ra vào tự do, phải không?”
Otani suy luận một cách tự nhiên thôi, nhưng tôi có cảm giác anh ta đang ám chỉ rằng việc không khóa là một trong những nguyên nhân dẫn đến án mạng. Bất giác tôi nhún vai.
“Bên nam không khóa thì bên nữ có khóa cẩn thận mấy cũng vô nghĩa. Anh không thấy thế sao?”
Otani thắc mắc hợp lý. Như đã nói, giữa phòng thay đồ có tường gạch ngăn cách hai bên nam nữ, tường này không cao chạm trần, mà còn cách trần khoảng nửa mét cho thông thoáng. Nói cách khác, nếu muốn thì có thể trèo từ bên nọ qua bên kia.
“Thật ra trước đây, các cô giáo từng yêu cầu khóa cửa bên nam, nhưng chúng tôi không thực hiện… Sau vụ này chắc chúng tôi phải cẩn thận.” Tôi chợt lạc giọng.
“Gậy chặn cửa thì sao? Vẫn ở trong phòng từ trước à?”
“Không.” Tôi lắc đầu. “Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nó.”
“Nghĩa là ai đó đã mang vào?”
Tôi bỗng nhìn chằm chằm vào Otani. “Ai đó” là sao? Ngoài Murahashi ra thì còn ai chứ?
Otani vẫn thản nhiên như thể chi tiết này chẳng có gì to tát, rồi bất chợt ngẩng lên như sực nhớ ra, “Xin lỗi, tôi hỏi chuyện khác. Murahashi vẫn độc thân phải không?”
“… Vâng.”
“Anh ta đang theo đuổi ai à? Anh có biết không?”
Chẳng rõ có phải là tại tính chất chủ đề, Otani rặn ra một nụ cười. Tôi hơi khó chịu trước thái độ cợt nhả ấy, bèn cố ý đanh mặt, “Ồ, tôi chưa từng nghe nhắc đến.”
“Anh ta có qua lại chơi bời với các cô gái không?”
“Tôi không biết.”
“… Thế à?” Nụ cười đưa đà đã tắt ngúm. Thay vào đó, Otani nhìn tôi bằng ánh mắt soi mói như ngầm bảo “Tôi không nghĩ anh nói dối, nhưng tôi cũng không cho rằng Murahashi chưa có người yêu”.
“Anh cho hỏi, nguyên nhân tử vong của thầy Murahashi là gì?” Tôi tranh thủ hỏi lúc hội thoại tạm ngừng.
Otani ngẩn ra một thoáng rồi trả lời ngắn gọn, “Ngộ độc xyanua.”
Tôi im lặng. Đây là một chất độc rất phổ biến.
Otani nói tiếp, “Có một chiếc cốc giấy rơi gần thi thể. Cốc đựng nước ngọt bán ở máy tự động trong nhà ăn. Chúng tôi đoán nước có pha xyanua.”
“Thầy ấy… tự sát à?” Tôi bật ra một câu vẫn băn khoăn nãy giờ.
Mặt Otani đanh lại, “Đó là một giả thuyết đáng xem xét. Tiếc rằng lúc này chưa khẳng định được. Nói vậy chứ tôi cũng mong đây chỉ đơn thuần là một vụ tự sát.”
Trực giác mách bảo tôi, tay điều tra viên này đang nghiêng về giả thuyết cố sát. Tại sao chứ? Nhưng giờ mà hỏi, chắc anh ta sẽ không trả lời đâu.
Cuối cùng, Otani hỏi tôi là gần đây có sự kiện gì lạ không. “Kể cả không liên quan tới Murahashi cũng được.”
Tôi ngập ngừng, không biết có nên kể với tay này rằng mình cũng đang bị một kẻ nào đó tìm cách sát hại hay không. Thực sự lúc nhìn xác Murahashi, một suy nghĩ đáng sợ vụt qua trong đầu. Phải chăng anh ta đã chết thay tôi?
Tôi cũng đang bị đe dọa tính mạng! Câu nói suýt buột khỏi miệng, may là tôi tức tốc kìm lại được trước ánh mắt như chó săn kia. Tôi không muốn bị một gã đàn ông có khứu giác tinh quái đánh hơi mọi chuyện xung quanh mình. Hơn nữa, đã hứa với hiệu trưởng rồi… Thành ra tôi chỉ đáp, “Nếu thấy gì lạ, tôi sẽ báo lại.”
Được giải phóng, không hiểu sao tôi lại thở dài lúc rời khỏi phòng khách. Tôi nhận ra vai mình co cứng, chắc là tại đã quá căng thẳng.
Kei, Fujimoto và Hori đang ngồi chờ ở phòng bên cạnh. Thấy tôi, cả ba thở phào ra đón.
“Lâu thế. Họ hỏi thầy những gì?” Kei lo lắng hỏi. Cô bé đã thay về đồng phục học sinh tự lúc nào.
“Đủ thứ. Biết đến đâu tôi trả lời đến đấy thôi.”
Ba người vẫn bồn chồn, xem chừng còn muốn hỏi han nhiều nữa, nhưng điều tra viên trẻ tuổi ngồi ghi chép cạnh Otani ban nãy đã xuất hiện sau lưng tôi.
“Em Sugita Keiko. Mời em qua đây.”
Kei hoang mang nhìn sang, tôi im lặng gật đầu. Cô bé gật đầu lại rồi điềm đạm đáp, “Vâng!”
Trong lúc Kei trả lời ở phòng khách, tôi kể lại vắn tắt nội dung trao đổi ban nãy cho Fujimoto và Hori biết. Nghe xong, họ dịu nét lo âu, chắc đã yên tâm hơn vì nhận thấy bản thân sẽ không gặp rắc rối gì lắm.
Cuối cùng, Kei cũng quay ra, sắc mặt nhẹ nhõm hơn hẳn. Sau đó là Fujimoto, rồi Hori lần lượt được gọi sang.
Hơn 8 giờ, Hori rời khỏi phòng khách. Hôm nay cũng không còn việc gì nữa nên bốn chúng tôi cùng ra về, vừa đi vừa nói chuyện. Đại thể câu chuyện là thế này.
Kei có mặt lúc phát hiện thi thể. Phần mô tả tình hình hầu như khớp với lời khai của tôi, chỉ thêm công việc quan trọng là đi báo cảnh sát.
Fujimoto khai báo với tư cách là người cuối cùng sử dụng phòng thay đồ. Điều tra viên tập trung vào câu hỏi, có thấy gì khác lạ trong phòng giữa lúc thay đồ với lúc phát hiện thi thể không. Câu trả lời của cậu ta là “Tôi không để ý.”
Còn các câu hỏi cho Hori thì thiên về khóa cửa bên nữ. Mở khóa đi vào lúc mấy giờ, khóa cửa rời khỏi lúc mấy giờ, chìa cất ở đâu… Hori trả lời, “Sau giờ học chiều, tôi đến phòng tạp vụ mượn chìa, khoảng 3 giờ 45 phút mở khóa vào phòng thay đồ, khoảng 4 giờ ra khỏi phòng và khóa cửa. Chìa thì tôi giữ.” Tất nhiên, trong lúc thay đồ không có ai ra vào, bên nam cũng không nghe động tĩnh gì lạ. Fujimoto rời phòng thay đồ vào khoảng 3 rưỡi nên điểm này là hợp lý thôi, cảnh sát không thắc mắc gì thêm. Hori còn khai, tủ đồ bên nữ bị ướt, phần ướt gần phía cửa vào. Cảnh sát nói họ cũng nhận thấy điều đó.
Kei, Fujimoto và Hori nhận được hai câu hỏi giống của tôi. Thứ nhất là có thấy gì lạ liên quan tới cái chết của Murahashi không, và thứ hai là Murahashi có người yêu không. Cả ba đều trả lời không thấy gì và không biết. Tôi vẫn băn khoăn vì sao Otani lại quan tâm tới chủ đề người yêu như vậy.
“Chắc là câu hỏi theo thủ tục thôi.” Fujimoto không cho là đáng để ý.
“Có lẽ thế, nhưng tôi vẫn thấy họ quan tâm thái quá.”
Không ai bình luận thêm trước nhận xét của tôi. Bốn chúng tôi im lặng đi ra cổng. Đám đông hiếu kì đã giải tán. Hori đột nhiên lẩm bẩm, “Chắc cảnh sát cho rằng thầy Murahashi bị giết nhỉ?”
Tôi dừng lại, quay sang nhìn chị. Kei và Fujimoto cũng dừng bước.
“Tại sao?”
“Tôi cảm thấy thế… Trực giác thôi.”
Đột nhiên Fujimoto cao giọng, hoàn toàn lạc quẻ với bầu không khí, “Án mạng phòng kín. Thật là hấp dẫn.” Cậu ta cố ý đùa bỡn, nhưng hẳn trong lòng cũng như tôi, không mong đây là án giết người chút nào.
Fujimoto và Hori đi xe đạp nên chúng tôi chia tay tại cổng trường. Tôi và Kei bất giác nhìn nhau, không ai bảo ai cùng thở dài rồi nặng nề cất bước.
“Cứ như nằm mơ ấy.” Kei lẩm bẩm, giọng ỉu xìu khác hẳn bình thường.
“Ừ. Không thể tin đây là sự thật.”
“Mà chẳng biết có phải tự sát không?”
“Ừ, chẳng biết thế nào…” Tôi lấp lửng lắc đầu, bụng bảo dạ không thể có chuyện đó. Murahashi không phải dạng người dám tự sát. Thậm chí anh ta ham sống tới mức sẵn sàng gây tổn hại cho người khác để bảo toàn bản thân ấy chứ. Suy ra chỉ còn khả năng anh ta bị giết thôi. Tôi thoáng nhớ tới từ “phòng kín” mà Fujimoto vừa nêu. Đúng là hiện trường bố cục như phòng kín thật. Liệu có âm mưu gì như các tiểu thuyết trinh thám hay viết không? Nghĩ lại, điều tra viên Otani quả có đặc biệt quan tâm đến cấu trúc nội bất xuất ngoại bất nhập của căn phòng.
“À, có gậy chặn cửa nhỉ?”
“Đúng rồi. Em cũng biết còn gì.”
“Dạ vâng,” Kei lại đăm chiêu.
Một lúc sau chúng tôi tới ga. Tàu về nhà Kei ngược hướng tôi. Qua khỏi cửa soát vé, chúng tôi chia tay. Đứng trên tàu, tay bám vào dây da phía trên đầu, tôi vừa nhìn cảnh vật lướt qua cửa sổ vừa nghĩ về cái chết của Murahashi. Mới đây thôi anh ta còn sa sả chì chiết học trò, giờ đã thành người thiên cổ. Vẫn biết ai cũng phải chết, song kết thúc cuộc đời như thế thật quá đột ngột, không để lại chút dư âm nào.
Mà tại sao Murahashi lại chết trong phòng thay đồ? Có tự sát đi chăng nữa, đó cũng không thể là địa điểm anh ta chọn để từ giã cõi đời. Nếu bị giết thì sao? Phải chăng phòng thay đồ là địa điểm thuận tiện cho hung thủ? Hay có lý do đặc biệt bắt buộc hắn phải chọn phòng thay đồ?
Còn miên man suy nghĩ, tàu đã tới ga nhà, tôi thẫn thờ bước xuống, chân nặng như chì, cảm giác mệt mỏi rã rời xâm chiếm châu thân. Từ ga về chung cư mất khoảng mười phút đi bộ. Tôi đã sống ở chung cư này từ khi chuyển ra ở riêng, căn hộ có hai phòng ngủ, không con cái nên cũng không thấy quá chật. Tôi nặng nề leo cầu thang rồi bấm chuông cửa, lâu lắm rồi mới về muộn thế.
Sau tiếng tháo móc và vặn chốt lích kích, cửa mở. “Anh đã về!” Yumiko chào. Trong phòng vọng ra tiếng TV.
Thay quần áo xong và ngồi vào bàn ăn bữa tối muộn, tôi đã tĩnh tâm hơn, bèn kể cho Yumiko nghe về vụ việc. Cô ấy kinh ngạc dừng đũa, “Tự sát hả anh?”
“Hừm… Chưa rõ nữa.”
“Sáng mai xem báo chắc biết anh nhỉ?”
“Có lẽ vậy.” Nói là nói thế chứ trong bụng tôi vẫn bán tin bán nghi. Cảnh sát còn chưa khẳng định được là tự sát hay cố sát mà. Ánh nhìn sắc lạnh của điều tra viên Otani lại hiện lên trước mắt tôi.
“Gia đình thầy ấy… chắc đau khổ lắm.”
“Hẳn rồi. May là chưa vợ.”
Tôi chực kể với Yumiko là mình cũng đang bị đe dọa tính mạng. Cuối cùng lại thôi. Kể ra chỉ làm cô ấy hoảng sợ, chẳng ích lợi gì.
Đêm đó tôi không tài nào ngủ được. Không chỉ vì hình ảnh xác chết chập chờn trong đầu, mà còn vì càng nghĩ đến nguyên nhân cái chết, tôi càng trằn trọc. Murahashi bị giết thật ư? Nếu thế thì ai giết? Hung thủ và kẻ đang tìm cách giết tôi có phải là một không? Nếu là một thì động cơ là gì?
Yumiko nằm bên, hơi thở đều đều trong giấc ngủ say. Với cô ấy, cái chết của một người chưa từng gặp mặt, dù là đồng nghiệp của chồng, cũng chỉ là một mẩu tin qua đường. Tôi quen Yumiko hồi làm ở công ty cũ. Một cô gái ít trang điểm, lặng lẽ và giản dị. Các cô vào công ty cùng đợt thì suốt ngày hẹn mấy anh độc thân lái xe hóng gió hay đi đánh quần vợt. Yumiko hầu như không tiếp xúc với đàn ông, trừ cấp trên của mình. Với tôi cũng vậy, chỉ xã giao dăm ba câu lúc pha trà giúp.
Chẳng bao lâu ai nấy đều xì xào, “Ôi dào, con nhỏ chán lắm. Rủ mãi không đi. Có đi cũng nhạt nhẽo.” Dần dần Yumiko vắng mặt luôn trong cả các buổi tụ tập của đồng nghiệp trẻ.
Thấy thế, một lần tôi rủ, “Hôm nay tan làm đi cà phê nhé!” Bụng bảo dạ sẽ bị từ chối thôi, không ngờ Yumiko nhận lời. Tôi còn hơi ngạc nhiên vì cô không tỏ vẻ gì là lưỡng lự.
Ở quán cà phê, chúng tôi chẳng nói năng mấy. Thỉnh thoảng tôi lên tiếng, Yumiko gật đầu, và hầu như không chủ động bắt chuyện. Thế mà tôi lại phát hiện ra, người phụ nữ mình cần chính là thế này, một người biết sẻ chia những phút giây tĩnh lặng khiến lòng an ổn.
Dần dà chúng tôi hẹn hò. Gọi là hẹn hò, thật ra chỉ ngồi nhìn nhau, nhưng như thế cũng đủ để đôi bên tìm hiểu. Có lần tôi hỏi Yumiko, “Tại sao hôm đầu tiên anh rủ đi uống cà phê, em lại đồng ý ngay?” Yumiko suy nghĩ một chút rồi trả lời, “Cũng giống lý do anh rủ em thôi.” Chúng tôi để ý đến nhau, có lẽ vì cùng là những người lầm lũi.
Khi tôi nghỉ việc ở công ty và chuyển sang đi dạy, hai bên vẫn duy trì liên lạc. Tình hình không thay đổi nhiều, trừ việc Yumiko cởi mở với tôi hơn. Ba năm trước, chúng tôi về chung nhà bằng một đám cưới giản dị. Cuộc sống hôn nhân diễn ra bình thường, chỉ có một lần hơi trục trặc. Khoảng sáu tháng sau khi cưới, Yumiko có thai.
“Em sẽ phá thai chứ?” Tôi hỏi thẳng, giọng vô cảm.
Yumiko đang long lanh mắt báo tin vui, nghe thế thì quá ngỡ ngàng, nét mặt rạng rỡ vụt đông cứng.
“Bây giờ chưa con cái được đâu. Anh đã cẩn thận tránh rồi, sao lại dính?”
Không biết đau buồn vì tôi lạnh nhạt với tin vui, hay tổn thương vì câu “sao lại dính”, hai hàng nước mắt lăn dài trên má cô ấy.
“Tại mấy tháng nay kinh nguyệt em không đều… Mà dù sao cũng lỡ có con rồi…”
Chữ “có con” khiến tôi phát cáu, “Đã bảo không được là không được. Đợi đủ điều kiện hẵng hay. Bây giờ sớm quá.”
Yumiko khóc thút thít suốt đêm. Hôm sau, hai vợ chồng tới bệnh viện. Mặc cho bác sĩ thuyết phục, tôi vẫn quyết từ bỏ mầm sống nhỏ bé đó.
Điều kiện sống khó khăn chỉ là cái cớ bên ngoài. Lý do thực sự là, tôi thấy làm cha quá rắc rối và nặng nề. Một đứa trẻ chào đời, tính cách nó thế nào sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn của mình. Nghĩ vậy, tôi đâm ra sợ cảm giác có con.
Phải thừa nhận sự kiện này làm tình trạng gia đình thay đổi rõ rệt. Yumiko sụt sùi suốt. Tôi thì thường xuyên cáu kỉnh. Trong một hai năm tiếp theo, Yumiko hay đứng ngẩn người trong bếp. Gần đây cô ấy đã hơi phấn chấn trở lại, nhưng chắc vẫn chưa tha thứ hoàn toàn, tôi cũng chẳng biết làm thế nào khác được.
Ít ra không để vợ mình âu sầu thêm lần nữa. Tôi thầm xác định.
Nghĩ tới nghĩ lui, quá 3 giờ tôi mới thiu thiu ngủ, nào ngờ ác mộng ập đến giày vò tinh thần. Tôi mơ thấy mình bị một bàn tay trắng trẻo đuổi bắt. Càng muốn nhìn rõ là tay ai thì hình ảnh càng nhòe mờ.
← Cung của Nhật, khác với cung phương Tây.