Sóng Chìm

Lượt đọc: 1778 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
⚝ III ⚝

Khu rừng có cái tên là lạ, rừng ẩn. Có người kể, xưa kia đây là chốn cư ngụ ẩn nấp của nhiều loài thú dữ, chúng thường về làng quậy phá, gây lắm hiểm họa. Thậm chí đã có kẻ mất mạng. Lại có người nói khu rừng là nơi ẩn náu của bọn đạo tặc, thảo khấu, bọn tội phạm chống đối triều đình. Ban ngày chúng ẩn trong những hốc cây hẻm núi, đêm về túa ra đường cái cướp bóc. Dân trong thị tứ Lân Cồ thì giải thích, hồi đánh Chiêm Thành, Lê Thánh Tông đã bí mật lấy khu rừng nay làm điểm giấu quân, ẩn tướng nên mới có tên rừng ẩn. ở làng Cát vẫn lưu truyền câu chuyện rằng, thủa xửa xưa khi làng Cát và Lân Cồ chưa mang tên, còn hoang sơ, chỉ là đám bùn lầy lội, có đôi vợ chồng trẻ nọ từ đâu xa lắm kéo tới lập nghiệp. Năm tháng qua đi và họ sinh hạ được hai cậu con trai rất khôi ngô tuấn tú. Chồng làm nghề

chài lưới, ngày ngày ra biển kiếm tôm bắt cá. Vợ khai khẩn đất hoang, trồng cây gieo lúa và chăm nom con cái... Nhưng cuộc sống hạnh phúc ấy không kéo dài được lâu, một ngày nọ nhà Vua đã lần ra manh mối hai người và phái lính tới bắt để dẫn giải về kinh. Người vợ chính là công chúa, con gái út đức kim Hoàng thượng, còn chàng trai là gã đánh cá chiều chiều vẫn thả trôi thuyền dọc sông, và ngồi trên mũi thổi sáo.

Tiếng sáo của chàng như có ma lực khiến mây ngừng trôi, chim ngừng bay, và cây cỏ râm ran hòa theo. Mỗi lần tiếng sáo réo rắt cất lên đất trời một vùng xao động... Chiều về, công chúa đứng trên lầu thổn thức, chờ đợi lắng nghe tiếng sáo. âm thanh dìu dặt lúc bổng khi trầm phát ra từ đoạn sáo trúc lan tỏa khiến con gái út đức Vua xao xuyến. Công chúa cảm tiếng sáo, rồi đem lòng yêu chàng ngư dân. Thỉnh thoảng nàng vẫn lẻn ra sông, cùng lên thuyền, theo chàng đi dọc bờ cho tới tận lúc trăng mọc. Hay tin, nhà Vua nổi cơn thịnh nộ, ngài Ngự lệnh đuổi chàng trai biệt xứ, không được đánh bắt cá trên dòng sông này nữa... Chiếu chỉ chưa kịp thực thi thì đêm hôm ấy, công chúa ôm khăn gói cùng người tình trốn khỏi kinh thành. Họ đã đến vùng cát ven biển này... Khi triều đình hay tin, sai quân lính tới, gia đình chàng ngư phủ bèn dắt díu nhau chạy lên rừng. Họ ẩn ở đó. Mấy lần quan quân truy bức, nhưng mỗi lần như vậy, thú dữ nơi đây lại làm rào chắn che cho vợ chồng con cái gia đình nhà nọ... Từ đấy họ yên ổn ẩn trốn. Chẳng rõ câu chuyện có liên quan gì đến cái tên của khu rừng?

Rừng ẩn chếch về phía tây và cách Lân Cồ chừng ba bốn cây số. Đêm đêm đứng trong rừng vẫn có thể nhìn thấy quầng ánh sáng mỏng mảnh nơi thị tứ hắt lên. Từ đây qua sông Thạch Bàn đi tắt về làng Cát không quá một canh giờ. Xưa kia đàn ông vùng này vẫn dắt dao sau lưng lom khom lần lên kiếm củi, hái thuốc. Họ quan niệm rằng rừng ẩn là chốn linh thiêng, là nơi huyền bí, ai có tâm có phúc đều được thần linh nơi đấy che chở, phù hộ... Đường lên núi gập ghềnh, khó đi, nếu không thành tâm sẽ khó lần ra lối về, dễ làm mồi cho thú dữ...

Biết rừng ẩn là căn cứ du kích Việt Cộng, mấy lần binh lính Quốc gia được lệnh càn lên, nhưng rừng ẩn mịt mờ, đường đi lối lại ngoắt ngoéo dễ vào khó ra, u u minh minh thiên la địa võng, Việt Cộng lại ẩn hiện khôn lường, bởi vậy kéo quân đi rồi lại tơi tả chán nản kéo quân về. Đánh vào rừng ẩn khác nào đấm vào bị bông.

Mấy ngày qua rừng ẩn ẩm ướt trĩu nặng. Mây sà thấp vờn trên ngọn cây. Rồi mưa. Nước trên đồi cao đổ về không ngớt. Những con suối mùa khô co lại, dịp này phình nở, chảy ầm ầm...

Trong hang đá lưng chừng núi, chiều nay có cuộc họp của cán bộ làng Cát. Sau ngày Tám Phụng làm phản và sau trận càn gần đây, hết thảy cán bộ chủ chốt và du kích của làng đều lánh lên cứ. Ai cũng ý thức rằng đây là biện pháp tình thế, biện pháp tạm thời. Phương châm là phải bám dân, bám địa bàn... Hơn chục con người ngồi quanh chiếc bàn ghép bằng nứa. ánh sáng từ cửa hang hắt vào mờ mờ... Bí thư chi bộ Ba Tánh nhìn khắp lượt mọi người:

– Ta bắt đầu nghe. Tôi triển khai nhanh để các bộ phận còn vào việc. Tình hình thế nào các anh biết cả rồi. Âm mưu của địch là tìm cách triệt phá cho bằng hết đảng viên, cán bộ, du kích và cơ sở ở làng Cát. Sự phản bội của Tám Phụng đã gây ra không ít tổn thất. Các anh Nguyễn Đình Thanh, Lương Thúc, Đinh Hiệt, Đào Khắc Độ, Nguyễn Bách, Hoàng Mai... người thì bị giết, người bị bắt...

– Tôi đề nghị tìm cách thịt Tám Phụng! - Xã đội trưởng Mười Bàng chợt nói to. Anh nhấp nhổm trên ghế như người ngồi đúng tổ kiến lửa.

– Chuyện đó rồi tính! - Ba Tánh nói - Nhưng cảnh cáo Tám Phụng không dễ nghe. Từ ngày chiêu hồi Tám Phụng ru rú trong đồn của Ba Hoàng suốt...

– Không diệt Tám Phụng thì diệt Trần Nhũng...

– Anh Mười để tôi nói hết đã... - Ba Tánh ngắt lời xã đội trưởng. Tuy bằng tuổi lại ở cương vị bí thư nhưng lúc nào Ba Tánh cũng tôn trọng Mười Bàng. Anh rõ Mười Bàng nóng nảy nhưng là người bộc trực, tốt tính và hăng hái; còn dũng cảm thì khó ai bì. Từng một mình một súng xông vào làm náo loạn hội đồng xã khiến Trần Nhũng và đàn em xanh mặt. - Tôi nhất trí với ý kiến anh Mười, để lấy lại lòng tin cho dân, một mặt ta phải củng cố lực lượng, mở rộng cơ sở, mặt khác phải cảnh cáo một số tên ác ôn...

– Chuyện đó chúng tôi lo được!... - Mười Bàng sốt sắng.

– Không quá dễ như thọc túi lấy quả mận quả ổi đâu, nhưng phải làm... Kế hoạch cụ thể tôi đề nghị anh Mười chủ động bàn thêm với anh em du kích. Nhưng nhớ đấy cũng là biện pháp trước mắt, chủ trương lâu dài, tỉnh chỉ thị phải có nhiều trận đánh lớn.

– Ai chẳng khoái đánh lớn, nhưng tìm đâu ra vũ khí, anh Ba?

– Anh hỏi tôi, tôi hỏi ai?

– Bí thư về bảo sắp có súng đạn mà mong hoài vẫn bằn bặt... Định đánh địch bằng cùi chỏ sao?

– Điều ấy tỉnh biết, huyện biết và đang tìm cách gỡ... Mấy ổng còn lo hơn anh em mình... Chuyện tiếp nhận súng đạn là chuyện dài dài, tiến biến tới đâu trên phổ biến đến đó... Có cơ sở vững, có lực lượng mạnh mới nói tới việc nhận vũ khí được... Hôm rồi Sáu Sinh có nhắc lại rằng trong khi chờ đợi, làng Cát phải hành động. Lấy vũ khí địch đánh địch và tận dụng mọi thứ có trong tay.

– Khó lắm! Mấy khẩu moi ở đất lên, khi bóp cò, đạn không nổ. Tôi ngán cách nói tận dụng mọi thứ trong tay quá trời...

Mười Bàng có cái lý của Mười Bàng. Anh đã nhiều phen len lỏi vào tận sào huyệt bọn trùm ác ôn, tưởng đã ăn chắc, ai dè khi bóp cò, súng không nổ, lanh trí đưa được cái mạng thoát ra khỏi chốn hang hùm ổ sói đã là may. Những lần vậy Mười Bàng bực bõ, vò đầu bứt tai tiếc hùi hụi.

– Chẳng lẽ mình cứ ngồi chờ...

– Không chờ..., là nói để lường cho hết.

– Bây giờ tôi chuyển qua chuyện trước mắt... - Ba Tánh nói tiếp. - Ngay trong đêm nay tôi đề nghị huy động bà con làng Cát đấu tranh chôn cất thím Tư cho chu đáo. Đây là việc nghĩa việc tình và cũng là cách biểu thị thái độ của chúng ta...

– Chuyện thím Tư, nhỏ Ba Thành biết chưa, anh Ba? - Có người hỏi.

– Việc đó anh Sáu Sinh khắc có cách, khỏi lo đi...

– Ba con thằng Ba Hoàng là lũ nhẫn tâm. Hồi nhỏ thằng chó này vẫn lê la tới nhà thím Tư chơi với thằng Thanh thằng Thành đó chớ. Đồ phản phúc! Tôi mà có súng...

– Khỏi dài dòng nữa, anh Mười. Chuyện ba con Trần Nhũng có nói suốt buổi cũng không hết. - Ba Tánh ngước lên. - Sắp tối rồi, các bộ phận chuẩn bị còn qua sông về làng cho kịp. Nhớ không quá khích gây tổn thất nghe.

... Đêm đó trời tối thui. Làng Cát đông cứng trong nỗi thấp thỏm. Nơi bãi dương đoàn người kéo thành một vệt dài lặng lẽ bước. Bóng họ liêu xiêu hắt lên nền trời đen đặc. Đám đàn bà con gái đi trước. Kế đó là những người khênh quan tài. Đàn ông chốt hậu. Mọi người đi chậm. Qua bãi dương. Qua trảng cát. Cuối cùng dừng lại bên gò đất trống. ở đó một hố sâu đã được đào sẵn.

Sáng hôm trước, từ Lân Cồ hai chiếc xe nhà binh vội vã cắn đuôi chạy về làng Cát. Chiếc xe Jeep dẫn đầu. Phía sau là chiếc xe tải. Thi thể thím Tư Đởn, thằng con trai Trần Nhũng cho đặt trên đó. Đến sát bãi dương hai chiếc xe dừng lại. Ba Hoàng từ chiếc Jeep nhảy xuống. Viên đại úy vẫy tay, bọn lính lập tức xúm vào khiêng xác thím Tư. Người thím quắt hóp, bê bết máu, cứng khô. Ba Hoàng chọn một chỗ đất cao và lệnh đặt thím lên đó. Rồi thằng đại úy hô:

– Vô làng lùa dân ra. Già trẻ lớn bé gì xua hết!

Gần trưa lính Ba Hoàng cũng đưa được hơn chục người, đa phần là ông bà già và trẻ con ra mô đất trống gần bãi dương, nơi có thi thể người đàn bà làng Cát. Viên đại úy nhìn khắp lượt mọi người, ánh nhìn hăm dọa, rồi y nói:

– Các người nhìn cho thiệt rõ để làm gương nghe. Theo Cộng sản, tiếp tay cho Cộng sản số phận sẽ là vậy... Ai có ý chôn Tư Đởn cũng sẽ bị phơi nắng như Tư Đởn đó.

Nhiều tiếng sụt sùi. Có người lau nước mắt.

– Các người cứ nhìn cho kỹ nghe!

Nói rồi Ba Hoàng vẫy tay, đám lính nhâng nháo nhảy lên chiếc xe tải. Hai chiếc xe lại cuốn bụi hướng về phía Lân Cồ.

Xác thím Tư phải qua hai ngày nằm phơi dưới nắng, tối nay mới được dân làng mang đi táng. Khi mọi người chuẩn bị hạ huyệt, từ trong làng hơn chục dân vệ do Nguyễn Xấn chỉ huy hò nhau chạy tới. Gã chỉ huy dân vệ chững lại trước đám đông, hô:

– To gan! Ai cho các người chôn cất mụ Cộng sản này. Đã có lệnh trên là phơi nắng đến khô...

Ông Năm Bào bước lên:

– Nói vậy mà không sợ phải tội sao ông dân vệ? Thím Tư cũng là người làng Cát như ông đó.

– Mụ đã che chở cho Sáu Sinh, trùm Cộng sản vùng này.

– Ông chớ quên ông giáo Sáu đã từng dạy chữ con ông nghe...

– Không lý luận. - Nguyễn Xấn quát - Anh em dân vệ, đưa xác Tư Đởn về chỗ cũ.

Đám lính rấn vào chỗ chiếc quan tài. Mấy người đàn ông vội cản lại.

– Các chú chớ làm vậy, thất đức.

– Bọn này chỉ biết làm theo lệnh.

– Không được! - Ông Năm Bào đưa tay, huơ con dao bài to bản trông như cây đao của Quan Vân Trường, đứng chắn trước quan tài, nói to. - Kẻ nào đụng vào thím Tư Đởn hãy bước qua xác lão đây. Sống ngần này tuổi cũng đủ rồi!

Bọn lính chùn lại. Nguyễn Xấn giẫm chân:

– Định làm loạn phải không?... Gô cổ Năm Bào...

Bọn dân vệ lại xông vào. Đám đông dân làng cũng ào lên. Đôi bên giằng co... Một phụ nữ nói to:

– Anh em dân vệ! Bọn họ giết người mà không cho chôn cất, xét về đạo lý anh em thấy có được không? Cùng là người làng anh em nên để bà con lo cho thím Tư mồ yên mả đẹp...

Có báng súng thúc mạnh vào bụng Năm Bào, ông ối một tiếng, quặn người lảo đảo. Nguyễn Xấn giật khẩu cạc bin trên tay một dân vệ, định bắn, nhưng đám đông đã kịp vây quanh ông Năm, Nguyễn Xấn chới với giữa đám người... Trong lúc đang lộn xộn, những người ở gần quan tài đã nhanh trí đưa được thím Tư vào huyệt, và tùa nhanh đất xuống. Nguyễn Xấn bứt ra khỏi đám đông, chĩa súng lên trời, bóp cò. Tiếng nổ vang đanh trong đêm. Mọi người giãn ra.

– Ai dám phản loạn sẽ bị trừng trị. - Nguyễn Xấn nói to - Đừng tưởng người cùng làng nên tụi này chùn tay nghe.

Dân làng đứng im nhìn gã chỉ huy dân vệ. Người phụ nữ lúc nãy bước tới:

– Ông Xấn, ông chớ quên mình cũng là người làng Cát... Người làng mình sống có nghĩa tình. Ác quá sợ rồi chết lại không có đất chôn...

– Mụ dọa ta hả?

– Không ai dọa ông... Nhưng ông cứ ngẫm đi...

Nguyễn Xấn lúng túng, ngó trước nhìn sau, thấy đám dân vệ trơ ra, bèn nói to:

– Các người tự gây họa thì ráng chịu nghe. Ngày mai liệu mà ứng phó với lính của Ba Hoàng... Đi tụi bay.

Cũng tối ấy, Ba Thành và Sáu Quyên ngồi trên chiếc thuyền nhỏ, vượt sông Thạch Bàn về làng Cát. Mùa này dòng sông rộng ra, nước đỏ lừ, chảy cuồn cuộn. Vừa nhảy lên bờ Ba Thành đã có ý nhào vào làng.

– Chú Sáu dặn dò sao, em quên rồi, Ba? - Sáu Quyên làm bộ nghiêm vội giữ Ba Thành lại.

– Chị ơi, chị cho em được nhìn mặt má em lần cuối... - Rồi Ba Thành chợt khóc to: Má ơi, sao má khổ thế... Con về với má rồi nè... Con ở gần má mà... Sao chúng nó ác quá vậy... Má có tội tình gì?...

Sáu Quyên thấy mủi, hai mắt cũng rưng rưng, nhưng cố gắng nuốt nước mắt vào trong, làm bộ cứng:

– Thôi mà... Chị can... Để tụi đó biết em và chị về làng nguy hiểm lắm... Nghe chị.

Ba Thành không đáp, ngồi hướng mặt vào rặng cây, khóc tức tưởi. Sáu Quyên cũng khóc theo, có điều cô kìm không để bật to thành tiếng.

Biết tính Ba Thành, chiều nay Sáu Giáo đồng ý cho anh về làng nhưng ông cử Sáu Quyên đi kèm. “Việc đã rồi, dù thế nào cũng phải bình tĩnh nghe - Ông dặn - Chú cho Sáu Quyên theo. Và Sáu Quyên là người chỉ huy. Nhất nhất cháu phải nghe lời. Rõ không?... Xong mọi việc, khi dân làng chôn cất má và đã về làng, chị em mới được vô... Thắp hương cho má xong phải qua sông trong đêm... - Giọng ông Sáu nghèn nghẹn - Chú chưa về được, cháu thay chú thắp thêm cho má nén nhang...”. Nước mắt người Bí thư Tỉnh ủy rịn ra. ông vội quay mặt sang chỗ khác, rồi ra hiệu cho Sáu Quyên và Ba Thành lên đường. Với thím Tư, Sáu Sinh có quá nhiều điều để nhớ và chịu quá nhiều ơn huệ. Thời chín năm, khi còn dạy học ở làng Cát, thím Tư là người duy nhất biết Sáu Sinh được tổ chức cử về đây nắm địch, gây dựng phong trào. Hồi ấy Sáu Sinh ốm nhách, lại đau yếu luôn, trái gió trở trời là ôm ngực ho sù sụ. Mỗi lần thấy vậy, Tư Đởn lo lắm. Thím sốt sắng lần lên Lân Cồ lấy thuốc, tự tay sắc rồi sai anh em thằng Thanh, thằng Thành mang sang. Có miếng gì ngon, thím giấu nhịn để, như thím vẫn nói, dành cho thầy giáo sắp nhỏ. Có dạo Sáu Sinh nằm bẹp tới mấy ngày như người cảm hàn; ông lang hành nghề bốc thuốc trên Lân Cồ thím mời về sau khi xem mạch người bệnh, lắc đầu, lạnh lùng buông một tiếng:

– Khó!

Thím Tư hốt hoảng:

– Không còn cách chi sao, thầy?

– Chị đủ tiền bạc theo chăng?

Tư Đởn hoang mang. Thím đào đâu ra tiền bạc! Kiếm đủ để nuôi hai thằng con đã khó... Thím ẩn tiếng thở dài, bối rối nhìn Sáu Sinh hệt giải khoai héo đang nằm trên giường, lại nhìn người thày lang có khuôn mặt bí hiểm vô hồn như khuôn mặt các pho tượng vẫn để nơi đình chùa. Một lát Tư Đởn tuông vào buồng, lục lọi trong chiếc rương gỗ rồi mang ra một hộp nhỏ được bọc kỹ qua nhiều lần vải, mở ra. Đó là đôi khuyên vàng ba má tặng hồi thím lấy chồng. Đôi khuyên từng được Tư Đởn cất giữ, coi như đồ gia bảo.

– Bấy nhiêu đủ không, thày? - Tư Đởn hỏi.

Ông lang xoay qua xoay lại hai vật bằng kim loại óng ánh trên tay, không tin là đang cầm của báu, ngước lên:

– Chị bán thiệt? Đồ hiếm đó.

– Mạng người quý hơn chớ...

Những năm gần đây ngôi nhà nhỏ giữa xóm của thím là nơi Sáu Sinh thường xuyên qua lại. Sau nhiều năm bằn bặt, hôm Sáu Sinh lần tới ngôi nhà đó và cất tiếng gọi nhỏ, Tư Đởn ngơ ngác như thể người nằm mơ vội rón rén bước tới tâm liếp, hé nhìn rồi tròn mắt thốt lên:

– Trời phật, chú Sáu Giáo?

Sáu Sinh lách nhanh vào nhà.

– Chị cho lánh tạm nghe - Sáu Sinh ngó quanh ngôi nhà, nói nhỏ.

– Tưởng chú theo tỉnh theo huyện ra Bắc tập kết chớ. - Giọng thím Tư chưa hết run. - Mà bấy lâu ở đâu?

Sáu Sinh vặn nhỏ ngọn đèn:

– Trên biểu phải có người ở lại với bà con... - Suýt nữa Sáu Sinh buột mồm phô rằng những ngày qua ông và Tám Phụng ẩn dưới chuồng heo nhà Năm Bào - Lần này tôi lại quay về làng Cát quấy rầy bà con.

– Đừng nói chuyện quấy rầy. Có các chú là bà con an tâm rồi. Cách mạng vẫn ở bên cạnh mình mà...

Lúc cao điểm tố cộng, đêm đêm lính tuần tra nện gót giày rầm rập diễu khắp làng. Nằm dưới hầm Sáu Sinh thấp thỏm không yên và ông rõ rằng trên nhà, thím Tư cũng đang dỏng tai phấp phỏng nghe chừng. Thời đó bọn dân vệ cắm tấm biển “gia đình Cộng sản” ngay trước ngõ nhà thím. Gia đình nào có người thân đi tập kết đều có “bảng đen”, danh sách đen như vậy. Những người thuộc diện thân cộng, vài ba ngày lại bị gọi lên hội đồng xã thẩm vấn... Không khí trong làng ngột ngạt, căng thẳng, cái sống cái chết cách nhau chỉ sợi tóc... Những ngày đen tối ấy thím Tư lặng lẽ nuôi giấu Sáu Sinh trong nhà. Người trong vùng không hay đã đành mà cán bộ làng Cát cũng chẳng ai biết...

Sáu Sinh nhìn theo Ba Thành và Sáu Quyên đi khuất xuống núi mới quay vào lán... Ngồi với Sáu Quyên chờ đợi bên mép sông Thạch Bàn, Ba Thành thấy thời gian trôi đi sao chậm chạp. Chiều nay chú Sáu mới báo cho Thành biết mọi chuyện... Cu Nhặt chết cháy cùng ngôi nhà, và má bị chúng nó bắt, tra tấn đến kiệt sức, rồi đưa về làng phơi sương phơi nắng... Chết rồi mà má vẫn chưa được chôn cất, sao vô lý vậy hả ông trời! Má ơi, con thương má quá! Cả một đời sống nhân hậu, cả một đời làm phúc cho hết thảy những người gặp rủi ro khó khăn, má có làm mếch lòng một ai bao giờ. Đến con sâu cái kiến má cũng ngại ngùng, không nỡ giết hại... Biết trong nhà ngày mai chẳng còn cái bỏ vào nồi, hôm nay có người túng bấn cần giúp vẫn vét lẻ gạo cuối cùng mang sang cho họ. Một đời tần tảo lam làm hết nuôi chồng lại nuôi con, chưa một ngày má được thanh nhàn. Sao đời má lại tội vậy, má ơi! Lấy chồng chưa trọn tháng đã phải chia tay. Hồi chín năm ba đi biền biệt, hết chiến dịch này tới chiến dịch nọ. Họa hoằn lắm có ghé về cũng chỉ ở vài ba ngày, như chuồn chuồn đáp nước rồi mặc má vò võ một mình, lại ra đi. Năm này qua năm khác, vừa lận đận nuôi dạy chúng con, vừa làm phúc làm đức, má vừa ngong ngóng lo âu cho chồng. Hòa bình lập lại, ba về, ngỡ lần này được đoàn tụ, nhưng niềm vui của má chỉ thoảng như tia chớp, mấy hôm sau ba bảo rằng mình sắp theo tàu thủy ra Bắc. Lần này ba đi thiệt xa, còn kéo theo luôn cả anh Thanh cùng đi. Má lại thấp thỏm chờ, thấp thỏm đợi. Cuộc đời má là chuỗi ngày trông ngóng khôn nguôi. Mong chồng, lo lắng cho chồng lại mong con, lo lắng cho con... Khi con lên cứ, ngỡ có thêm cu Nhặt má đỡ hiu quạnh, đỡ buồn. Vậy mà ai ngờ... Má ơi, sao má lại khổ thế... Con biết mình phải làm gì đây? Má đi rồi mà con vẫn không được nhìn thấy mặt lần cuối. Muốn khóc to cũng gìm lại, không dám. Gầm trời này sao nhiễu nhương quá vậy chớ...

Chợt có tiếng súng từ phía cồn cát đưa lại. Tiếng nổ hậc lên trong đêm khiến bóng tối như bị xé loãng ra. Sáu Quyên và Ba Thành cùng đứng lên.

– Chúng... - Ba Thành sợ hãi thốt ra.

– Để xem chừng đã... - Sáu Quyên nói - Chắc bọn dân vệ bắn dọa nhằm ngăn không cho bà con hạ huyệt thím Tư.

– Chị cho em tới đó nghe... Em sẽ liều mạng với chúng nó.

– Không một tấc sắt trong tay em định làm gì?... Chờ động tĩnh thế nào rồi chị em mình tính...

– Má ơi!... Má ơi! - Ba Thành nấc khẽ, tiếng nấc bất lực tắc nghẽn nơi cổ họng.

Đêm mông lung. Dòng Thạch Bàn trải ra lờ nhờ bàng bạc. Gió từ mặt sông mang theo hơi nước và không khí ẩm ướt thổi lên rất nhẹ. Về khuya tiếng sóng cạp bờ nghe mỗi rõ... Trên không trung những con chim ăn đêm bay qua bật ra tiếng kêu chéc chéc. Tiếng chim nằng nặng, tanh mùi biển. Người làng Cát cho rằng khi những con chim bắt cá đêm ngoài khơi trở về bất chợt cất tiếng kêu thường báo hiệu có điềm gở...

Khuya, Sáu Quyên và Ba Thành lần về phía trảng cát, nơi họ biết thím Tư được chôn cất ở đó. Sáu Quyên đi trước, Thành thấp thỏm bám phía sau. Vừa đi vừa quan sát. Hàng ngày vào giờ này, Nguyễn Xấn thường cho dân vệ phục ở các bãi dương giáp bờ sông đón lõng du kích từ rừng ẩn về. Nhiều đêm Sáu Quyên suýt mất mạng khi vào làng bắt liên lạc. Đêm nay xem ra yên yên. Có thể bọn dân vệ nghĩ là thím Tư đã được chôn cất, nên du kích không lần xuống nữa...

Qua bãi dương, hai người nhao đến trảng cát. Đêm yên tĩnh. Chỉ tiếng gió lao xao nơi bãi dương vọng lại. Và trên không trung, vẫn những tiếng chéc chéc khô khan báo điềm gở của những con chim bắt cá đêm. Tới ngôi mộ mới đắp còn nham nhở, Sáu Quyên và Ba Thành cùng thụp xuống. Nước mắt Sáu Quyên giàn giụa. Cô gìm tiếng khóc trong họng, miệng gọi tên thím Tư, rồi kể lể... Lúc này Ba Thành bình tĩnh hơn. Anh bật lửa, đốt nhang cắm xuống phía trước ngôi mộ, lẩm bẩm khấn:

– Má ơi, con là thằng Ba Thành, con về với má đây nè... Con về mà chẳng chút hoa quả tiền vàng, chỉ có nắm nhang nhỏ thắp lên mộ cho má... Tháng trước khi con lẻn về thăm, má giữ ở lại một đêm và đã dặn rằng gắng giữ gìn, mũi tên hòn đạn nó không từ một ai, đừng để má cô quạnh, má buồn... Vậy mà nay má bỏ con ở lại một mình, má ơi. Sao chúng nó độc ác quá vậy chớ? Con nhớ hôm đó má rờ nắn khắp lượt người con, cười mà nước mắt trào ra, rồi bảo: rắn rỏi, má mừng lắm... Ai hay đó là đêm cuối con được ngủ cạnh má và cu Nhặt. Má đặt cu Nhặt nằm giữa con và má. Thằng em nuôi thỉnh thoảng lại thức giấc, quờ tay tìm, biết má vẫn nằm cạnh, nó chóp chép miệng yên tâm ngủ tiếp... Thằng Nhặt chưa đầy năm, có tội tình chi mà bọn chúng giết?... Má ơi, tuần nhang này con thắp giùm chú Sáu, chú Sáu gửi lời thăm má đó. Má nghe rõ con nói không má?...

Giọng Ba Thành nghẹn lại, rồi khóc thút thít như trẻ nhỏ. Sáu Quyên thỉnh thoảng lại nấc to... Cồn cát tối mò, bóng hai chị em nhòa vào phần mộ. Xa xa có tiếng sóng biển mài lên bãi vọng vào, âm thanh rời rạc, buồn tênh.

– Em chào thím lần nữa rồi còn đi, Thành. Trời sắp sáng đó. - Tiếng Sáu Quyên nghẹn ngào, cô cúi xuống vái ba vái. - Con đi nghe thím... Sống thím ở với làng Cát nay thác xuống cùng tổ tiên thím lại về với cát mà... Thím cứ an giấc nơi đây, thỉnh thoảng về làng con lại ghé thăm... Con đi...

Ba Thành gục xuống phần mộ, chưa muốn đứng lên. Sáu Quyên nhắc:

– Nào, đừng yếu đuối vậy thím Tư buồn... Ba Thành bật khóc thành tiếng:

– Má ơi, con đi! Khổ thân má quá, sao má lại phải lạnh lẽo nằm đây một thân một mình hả má... Con đi rồi con sẽ về với má...

Có tiếng chó sủa trong làng vọng tới. Sáu Quyên ngẩng nhìn, kéo vội BaThành:

– Lẹ lên, em!

Hai người lần về chỗ bãi dương. Sáu Quyên ấn Thành ngồi xuống:

– Nè, ra bờ sông và chờ chị ở đó nghe...

– Chị?...

– Vô làng một lát rồi ra ngay mà...

– Cho em đi cùng!

Không trả lời Ba Thành, nhanh như con sóc, Sáu Quyên bật khỏi những thân dương, thoáng cái đã mất hút vào bóng đêm. Cô lần về phía ngôi nhà cuối xóm của Tư Nhâm...

*

Đêm yên tĩnh. Sau những ngày mưa dầm dề bầu trời nơi rừng ẩn ráo mây, quang đãng trở lại. Nằm trên chiếc võng vải, Sáu Sinh trông rõ những ngôi sao đang nhấp nháy sau kẽ lá. Ông hít một hơi thật sâu

vào lồng ngực, khép nhẹ mắt, cố tạo thoáng thư giãn nghỉ ngơi. Ông đang vui. Chiều nay bộ phận quân sự đã báo cho hay tổ điện đài Trung ương cử vào đã được đón và đưa về cứ. Sáu Sinh liền tuông tới. Hóa ra toàn anh em quen biết, đều người tỉnh nhà ra Bắc tập kết thời năm tư. Ôm lấy nhau mà nước mắt giàn giụa. Mừng khôn xiết! Sáng qua nghe báo cáo rằng bộ phận công tác đặc biệt vẫn chưa bắt liên lạc được với tổ điện đài từ ngoài cử vào, đang ngồi trên chiếc ghế dài ghép bằng nhiều cây vầu trong ngôi lán dựng nơi khu rừng, Sáu Sinh bật dậy hệt chạm phải sâu róm. Ông lặng đi một lát rồi nói, giọng cáu bẳn:

– Chưa đón được anh em coi như chưa hoàn thành nhiệm vụ... Các đồng chí biết đây là việc hệ trọng liên quan đến một chủ trương chớ?

Người đội trưởng lúng túng;

– Chúng tôi ý thức được... Và đã lần tìm khắp các bãi, các vũng...

– Vô lý!... - Chợt Sáu Sinh quay lại và hỏi. - Đã ra vịnh Xuân Đài chưa?

– Báo cáo, chúng tôi nghĩ Xuân Đài là nơi địch thường tập trung quân nên...

Sáu Sinh ngắt lời:

– Đêm nay bố trí ra đó coi... Rất có thể anh em mình lợi dụng yếu tố bất ngờ khi địch cậy đông nên chủ quan...

– Rõ!

– Vịnh Xuân Đài rộng lại trống trải nên cần phối hợp với du kích làng Cát... Nhưng phải tuyệt đối bí mật... Có khả năng anh em mình trà trộn vào thuyền của dân.

Sáu Sinh đã đúng. Mấy hôm rồi chiếc thuyền của tổ điện đài có giấy tờ làm ăn hợp pháp nên đã vào vịnh Xuân Đài, giả bộ như thể thuyền đánh cá của bà con ngư dân vùng bên bị lạc, ghé lại tìm nước ngọt và mua thực phẩm. Ban đêm họ lẻn lên bãi, tìm chỗ đào cát chôn giấu máy móc rồi tỏa đi bắt liên lạc. Đêm đầu không thấy ai đón, đành chờ. Đêm thứ hai phát hiện ra người cần bắt liên lạc nhưng lại phải lẩn trốn, không dám lộ diện. Nghe chuyện, Bí thư Tỉnh ủy xúc động lặng đi. Cuộc chiến này có những điều thật thần kỳ. Chuyện là vậy mà nghe như không phải vậy... Trong mấy du kích làng Cát phối hợp với

tổ công tác đặc biệt của tỉnh đi đón “mấy anh cán bộ của khu về gây dựng phong trào” có Hai Liên, người yêu của tổ trưởng Xuân. Từ trong hốc đá, phát hiện ba bóng người đang có ý dò tìm, Xuân hất hàm cho một tổ viên ra hỏi ám hiệu. Nhưng anh vội kéo người tổ viên trở lại. Phía tốp người có tiếng con gái nghe quen quen: “Thuyền ai mà mấy hôm rày neo hoài nơi đây vậy ta? Hay là thuyền bọn thám báo, anh Mười?”. Tiếng ai như tiếng Hai Liên? Chẳng lẽ lại có sự ngẫu nhiên kỳ lạ như vậy? “Không, tụi thám báo tới chi vùng này. - Người đàn ông đáp - Chắc mấy cha mạn trong đi đánh cá bị lạc dạt vô... Chừ vầy, chia ra, anh Sánh vòng sang núi Dừa, tôi đi dọc bờ, còn Hai Liên đi vô mạn Hòn Chồng nghe.” Hai Liên! Trời ơi, đúng cô ấy rồi... Hai Liên, anh, Bảy Xuân... Bảy Xuân đã về quê đây nè... Trái tim trong lồng ngực Bảy Xuân đập rộ lên... Nhưng lúc đó có tiếng người chỉ huy cất lên bên tai: “Nhiệm vụ này vô cùng quan trọng. Bởi vậy bí mật là yếu tố hàng đâu. Nếu lộ ra, Trung ương khó bề chỉ đạo...Về quê, nếu gặp người quen, phải tránh. Không một ai biết sự xuất hiện của các đồng chí và nhiệm vụ của các đồng chí ở vùng này...”.

– Sao nhấp nhổm vậy, anh Xuân? - Người tổ viên ngạc nhiên hỏi.

– Chờ đã. Người... quen...

Tổ trưởng Xuân vốn là người trên Thượng Nghĩa. Làng Thượng cách thị tứ Lân Cồ cả chục cây số... Hồi sắp đình chiến Xuân đóng quân tại làng Cát và đem lòng yêu Hai Liên, cô gái được coi là xinh nhất làng, hát hay nhất làng. Những hôm bộ đội và thanh niên đốt lửa trại gần bãi dương liên hoan văn nghệ, Bảy Xuân và Hai Liên thường hò đối đáp. Mỗi lần đôi trai gái cất tiếng, mọi người lặng phắc lắng nghe. Giọng Hai Liên trong, cao vút; giọng Xuân lại dày, trầm ấm. Hai giọng hát quyện vào nhau lan trên cát, tan vào gió biển có cái gì đó gợi nhớ, gợi thương, khó quên. Không đi bậu nhắc bậu trông - Đi thì lại sợ Cù Mông Xuân Đài - Cù Mông là một, dốc chùa Rởi là hai - Dốc Giăng dốc Quýt dốc Xuân Đài là Năm... Anh nguyện với em tại bữa trăng rằm - Ai làm nên nỗi con tằm xa dâu?... Hòa bình trở về, đơn vị Xuân có lệnh đi tập kết. Hôm gần lên đường Xuân hẹn gặp Hai Liên nơi bãi dương giáp biển, là chỗ họ vẫn cầm tay nhau hát dân ca.

– Đi thiệt à? - Hai Liên hỏi, cô bước chậm lại.

– Mai có lệnh hành quân rồi.

– Không nhớ?

– Nhớ chớ!

– Vậy mà cầm lòng...

– Nhiệm vụ... Chưa đi đã thấy nhớ...

– Xạo... Ra ngoài đó gặp con gái Bắc lại quên...

– Thề!

– Thề... Nếu lời thề hiệu nghiệm thì đã chẳng còn mống đàn ông nào trên đời... - Hai Liên chợt thở dài - Con gái có thì...

– Lần trước bảo cưới không chịu nghe...

– Lần đó chưa biết phải xa... - Hai Liên dừng lại, đôi mắt như có lửa chiếu vào Bảy Xuân... - Hôm nay... cưới được không?

– Trời đất...

- Em muốn làm vợ trước khi anh đi... Chúng mình vô bãi dương nghe...

... Khi hai người mệt mỏi và thỏa mãn gối đầu lên tay nhau nằm xoài trên cát, Hai Liên nói:

– Bây giờ em không còn giữ anh nữa... - Rồi cô xoay qua, xoa tay lên bộ ngực trần của Bảy Xuân - Ra ngoài đó được tự do... Muốn đến với ai cũng mặc.

– Anh đã là chồng em và em đã là vợ anh... Với anh chỉ em mới có ý nghĩa...

Hai Liên trườn người, sung sướng hôn vào đôi mắt Bảy Xuân:

– Thiệt nghe.

– Nếu có một người đàn ông trên cõi này biết tôn trọng lời thề, đó là anh...

Và Bảy Xuân đã thực hiện như vậy. Hơn mười năm sống trên đất Bắc lúc nào anh cũng đau đáu nghĩ về làng Cát. Cái đêm chồng vợ cùng Hai Liên trên bãi xế vạt dương ám ảnh khôn nguôi... Khát thèm, nhớ nhung, mong ngóng... Vậy mà lúc này Hai Liên chỉ cách có gang tấc, vẫn không sao quờ tới, không sao gặp được. Xuân biết cô cũng đang đi tìm anh, đang tìm “người cán bộ quân khu về xây dựng phong trào”...

Đêm thứ ba, tổ điện đài gặp được tổ công tác.

... Sáu Sinh trở người ngồi dậy. Bóng đêm đặc quánh, gió vờn trên vòm lá rất nhẹ. Đâu đó từ những con suối bao quanh căn cứ có tiếng nước chảy vọng tới. Tiếng suối về đêm nghe rầm rào như lời kể chuyện đơn điệu rời rạc của người già... Hôm nay với Bí thư Tỉnh ủy là ngày đặc biệt. Nhiều niềm vui đến với ông. Buổi sáng Ba Tánh cho người lên báo cáo rằng việc chôn cất thím Tư Đởn ở làng Cát đúng như dự kiến; trước áp lực và lý lẽ của dân làng, bọn dân vệ đã phải chùn tay... Rồi tin tức của Tư Nhâm và A.5 thu lượm được do Sáu Quyên báo về khiến ông an tâm... Cuộc họp sắp tới ông sẽ báo cáo và đề nghị với Khu ủy cho tiến hành mở bến chuẩn bị tiếp nhận vũ khí. Các yếu tố gần như đã chín mùi. Vấn đề còn lại là mở bến ở khu vực nào thuận lợi và an toàn nhất... Điều này sẽ được Khu ủy quyết định trong hội nghị tới...

Sáu Sinh đứng lên, ông bước vào ngôi lán lợp lá ẩn dưới mấy gốc cây lớn. Chiếc đèn dầu nơi bàn được vặn to... Từ ngôi lán khít đó, Ba Thành bước sang.

– Khuya rồi, chú. - Thành nói.

– Cháu cũng chưa ngủ à? - Sáu Sinh ngước lên. - Ngồi xuống đây...

– Cháu pha cho chú ấm trà nghe.

– Khỏi!... Chú có câu chuyện muốn bàn với cháu. - Sáu Sinh nói khi Ba Thành đã ngồi đối diện trước mặt ông. - Chú sẽ đưa cháu sang bộ phận trinh sát... ở đó có điều kiện tiến bộ hơn. Cháu thấy sao?

– Nếu được vậy cháu vui lắm ạ... Cháu có nguyện ước đã lâu. Chỉ lo cháu đi rồi lấy ai chăm sóc chú.

– Việc đó đã có mấy anh bên tổ chức... - Sáu Sinh nói - Nhiệm vụ của cháu là gắng lập công để thỏa mãn vong linh má...

– Sang đó cháu có điều kiện trả thù cho má cháu...

– Không phải vậy... Trả thù cho má đâu ở chỗ diệt mấy tay ác ôn... Phải chung sức để có những thành tích lớn hơn...

– Dạ!... Bao giờ cháu...

– Chú đã bàn với mấy anh bên đó. Cháu có thể sang bất cứ lúc nào.

... Ba Thành đi rồi, Sáu Sinh mở sổ viết mấy nội dung chính ông có ý định báo cáo trong cuộc họp Khu ủy sắp tới. Trọng tâm vẫn là chuyện mở bến đón vũ khí từ ngoài Bắc đưa vào. Lực lượng. Bến bãi. Tổ chức cất giấu. Bảo vệ...

Đêm ở rừng mông lung; không khí dường như đặc hơn. Về khuya sương xuống dày, ngàn ngạt, khó thở. Từ trong hốc đá có tiếng tắc kè vọng ra. Vào giờ này con tắc kè bảy năm tuổi quen thuộc vẫn bò ra điểm nhịp. Sáu Sinh buông bút, nhìn đồng hồ rồi lần tới chiếc võng buộc sẵn nơi gốc cây... Đêm yên ả trôi.

*

Xế thị tứ Lân Cồ, cạnh con đường đi về làng Cát có một quán giải khát nhỏ. Quán không mấy rộng nhưng lúc nào cũng nhộn nhịp đông vui. Khách phần lớn là lính. Người ta khoái đến đây bởi quán gần đường cái, bán nhiều chủng loại: rượu bia, nước hoa quả tươi có, đóng chai có, giá bình dân. Nhưng điều này mới hấp dẫn, đàn ông thường sà tới chốn này bởi chủ quán Năm Hồng là người phụ nữ dễ dãi, xởi lởi. Gần chạm tuổi bốn mươi nhưng trông vẫn còn nuột nà ngon mắt, cứ như khúc giò nạc, thoáng nhìn đã muốn cắn. Cặp vú bánh dày ở tuổi hồi xuân sau lần áo mỏng không quen đeo phần đỡ gần như chẳng hề nhão xệ qua năm tháng, núng nính nhảy tưng tưng trên ngực theo bước đi như thể mời chào khiến khối người ngồi uống rượu mà mắt liếc vẹo cả cổ. Mỗi khi Năm Hồng bận chiếc áo trễ cổ, cái rãnh sâu nơi ngực được tạo nên nhờ hai gờ thịt nhô cao gợi mở nhiều tưởng tượng trong những cái đầu luôn háo thèm của lạ của đám đàn ông. Khách đến đây không những được cợt nhả tán tỉnh nói tục thoải mái mà khi cơ hội thuận lợi còn có thể sàm sỡ vuốt nhẹ vào cặp mông căng tròn gợi cảm lúc nào cũng hằn lẳn chiếc quần trong loại trễ, tạo nhiều liên tưởng của bà chủ...

Lính Rồng Biển của thiếu tá Hai Rạng lúc nhàn cư to nhỏ rằng người đàn bà này trời phú cho năng lực đặc biệt. Năm Hồng chưa bao giờ có khái niệm “no xôi...”. Sự ham muốn đực cái nơi chị là chiếc thùng không đáy. Người ta kháo rằng một đêm Năm Hồng có thể chấp cả một tiểu đội lính tơ. Không tin cứ bỏ tiền ra cá cược. Năm ngoái, nghe đâu đã có hơn chục chàng trai lún phún ria mép mới vào lính góp nhóp được một số tiền và hồi hộp rủ nhau đến quán thử cho biết. Cuối cùng thua. Chị Năm mới ưỡn mình vặn người vài ba chiêu, những trai tơ khỏe mạnh đã không thể kìm giữ, thèm khát và hưng phấn vội vã đổ thống đổ tháo. Ra khỏi phòng cậu chàng nào cũng tặc lưỡi thòm thèm tiếc rẻ... Còn chị Năm cứ tô hô phơi cơ thể phốp pháp trắng mịn trên giường, giọng rất tỉnh: “Ngoài đó có em nào vô nốt để chị còn rửa ráy một thể”.

Vùng Lân Cồ nay chỉ một người duy nhất khiến Năm Hồng phải phục, coi là đàn ông thứ thiệt. Đó là Mười Bàng. Da ngăm ngăm, người chắc như cây lim, tay chân cứng hệt sắt nguội, Mười Bàng có lần vần cho Năm Hồng bã bượi, phải thở bằng tai... Hôm ấy đã khuya, đang liu thiu Năm Hồng lờ mờ cảm thấy có bàn tay ai đó sờ vào chân mình, rồi như thể biết bò, bàn tay giống con sên mơn man men dần lên đùi...

– ối giời ôi!... Ai thế? - Năm Hồng khoái trá kêu khẽ khi những ngón tay ranh mãnh luồn vào quần thuần thục sờ sịt moi móc chỗ ngã ba giữa hai đùi và bụng dưới... Rồi Năm Hồng đuỗi người chộp lấy bàn tay ấy, đờ dại làm đồng minh miết qua miết lại...

– Ngoan nào, Mười Bàng đây.

– Ngoan chớ, đang háo... Mình giết người ta cho kỳ chết nghe... Quần áo nhanh chóng được chủ động tuột bỏ. Khối thịt ngẫn ngà lồ lộ sáng bừng trong đêm. Người đàn ông lập tức đổ ụp xuống. Kế đó là xoáy xiết trào dâng những đợt sóng. Mê mụ. Cuồng si. Riết rít... ào ạt dồn dập cuồn cuộn cứ như nước biển đập vào bờ đá hôm trời bão... Miệng rên ư ử, mũi thở hào hển, Năm Hồng đê mê ưỡn cong người hưởng ứng, sau đấy là cảm giác nhũn nhão, tan chảy như cục nước đá gặp nhiệt...

– Khiếp, sao có cái giống đàn ông quý thế!... - Xong mọi sự, Năm Hồng no nê và mãn nguyện thả lỏng người xệp ra giường, khen ngợi, giọng sung sướng. - Người ta cài then cửa chặt vậy cũng mò vô được.

– Du kích mà!

– Cô ả nào vớ được anh làm chồng thiệt có phúc... Khi nào hứng lại tới nghe.

Mười Bàng gật đầu nhưng sau đó đã lặn một hơi không sủi tăm... Nghe nói chuồn lên “rờ”. Có người phong thanh biết chuyện rỉ vào tai Năm Hồng:

– Mười Bàng là du kích Việt Cộng đó.

Năm Hồng thản nhiên:

– Cái giống quý ấy của Việt Cộng khác Quốc gia sao? Người trần mắt thịt làm sao tôi phân biệt được...

Bẵng đi mấy tháng, vào một đêm tối trời, Mười Bàng lại lẻn đến.

– ác! Cho người ta nếm mùi rồi bỏ đi biệt tăm... - Mắt Năm Hồng sáng lên, miệng lào thào. - Nhớ thấy mồ.

– Mấy đứa giúp việc đâu không thấy?

– Hồi chiều chúng xin về dưới quê... Đêm nay ở lại nghen.

– Nhưng Năm phải giúp một việc đó.

– Cứ làm sướng như hôm nọ đừng nói chi một việc, mười việc cũng ưng.

– Năm biết Ba Hoàng hôm nay đi đâu không?

– Hai vợ chồng đánh xe lên Tuy Hòa từ chiều... Hình như dự lễ sinh nhật đại tá Long tại câu lạc bộ.

– Chắc chớ?

– ở vùng này cu thằng nào to, cu thằng nào dài tôi còn rành nữa là...

– Cám ơn nghe! - Nói rồi Mười Bàng tuông đi...

– ủa, không ở lại? - Năm Hồng tiếc nuối nhìn theo.

– Thưởng sau, Năm!

Đấy là hôm Mười Bàng đưa du kích làng Cát đánh vào câu lạc bộ sĩ quan ở Tuy Hòa nhưng không thành... Mấy ngày sau lính Rồng Biển vào quán uống rượu kể với nhau rằng Ba Hoàng và đám sĩ quan trên Tuy Hòa cao số, lựu đạn Việt Cộng rơi ngay dưới chân nhưng chẳng rõ vì nguyên do gì không nổ. Có người bảo vì chôn dưới đất lâu, bị xịt. Thoát chết, Ba Hoàng ba hoa trước đám sĩ quan trong câu lạc bộ rằng sẽ càn lên núi ẩn và quyết hót chẳng sót một bóng cộng quân nào...

... Ba Hoàng ít khi ra quán này uống rượu. Hôm nay là một ngoại lệ. Cái chết của Trần Nhũng khiến viên đại úy bị xốc. Ba Hoàng xốc không hẳn bởi Trần Nhũng là cha đẻ của mình, mà gã bất an bởi nhiều sự. Du kích Việt Cộng đã táo tợn luồn vào tận nhà gã và bắn chết ông già ngay tại bàn uống nước, một hành động mang tính trả thù, khiến gã choáng. Ba Hoàng chưa bao giờ nghĩ tới tình huống ấy. Dân vệ rào kín vòng trong vòng ngoài, và ông Hội đồng là kẻ tinh quái, biết lường trước mọi điều, hôm ngủ trên giường dì ba, hôm lên gác và nhiều đêm ra trụ sở xã nằm chen giữa đám dân vệ, vậy mà... Hôm qua nếu Hai Rạng không gàn, thậm chí quát lên như ra lệnh, Ba Hoàng đã đưa lính về làm cỏ làng Cát... Nhất định đã có kẻ thông tỏ đường đi lối lại, biết quy luật sinh hoạt của ông hội đồng và chỉ điểm...

– Mẹ khỉ! - Hoàng vô thức buột tiếng chửi và dốc ngược ly rượu vào họng.

– Đại uý uống nhiều rồi! - Trung sĩ Độ, gã vệ sĩ thân tín của Ba Hoàng, vẫn lẽo đẽo theo viên đại úy như cái bóng, nhìn Ba Hoàng và gàn.

– Cho xị nữa nghe, chị Năm! - Ba Hoàng quay vào quầy, gọi to,giọng đã phê phê.

Người chủ quán dạ nhẹ một tiếng, đánh cặp mông mẩy như hai tảng bánh đúc được bó chặt sau lần vải mỏng trông rất bắt mắt, cầm xị đế lướn phướn bước tới.

– Năm Hồng làm với tụi này một ly nghe... - Ba Hoàng cầm tay người đàn bà, kéo xuống... Trung sĩ Độ vội vàng với chiếc ly để cạnh, rót rượu.

– Xin chia buồn với đại úy... - Năm Hồng ngước nhìn Ba Hoàng và đưa ly rượu viên trung sĩ mới rót lên ngang mày - Ly này mong cho ông Hội đồng mát mẻ nơi chín suối... Du kích Việt Cộng táo bạo quá! Đôi mắt đỏ ngầu, viên đại úy chạm mạnh chiếc ly của mình vào chiếc ly của Năm Hồng.

– Táo bạo mẹ gì... Tôi sẽ cho quân lên núi ẩn quét sạch... Tiêu diệt hết... Đây là trò của lão Sáu Sinh, và Mười Bàng chớ ai... Mẹ khỉ, nhất định trong làng Cát có kẻ giấu mặt. Khui được, tôi băm nát nhừ... Năm Hồng thấy đứa nào khả nghi, cứ báo nghe. Có thưởng.

– Ông Hội đồng chết thảm quá!... Tội.

Câu nói của Năm Hồng thổi phồng nỗi đau của Ba Hoàng, viên đại úy dốc cạn chỗ rượu trong ly, ngồi lặng. Đôi mắt vằn đỏ, lờ đờ. Đúng là ba gã chết tang thương quá. Khi được báo, từ trên đồn Ba Hoàng tuông về, xác Trần Nhũng vẫn nằm trong vũng máu, ngay giữa nhà. Ba vết đạn xuyên qua ngực trổ ra phía sau loe mở như ba chiếc phễu. Lưng nát bấy. Tờ giấy viết nguyệch ngoạc: “Cách mạng cảnh cáo những kẻ làm tay sai cho giặc” úp trên mặt. “Thằng nào?” - Ba Hoàng gầm một tiếng, xé vụn tờ giấy, rồi đứng lặng như chôn chân giữa nhà, cằm bạnh ra, hai hàm răng cắn vào nhau nổi lên những múi thịt, rung rung...

Người vợ ba của Trần Nhũng ngất xỉu, mềm nhũn hệt bị thịt chúi vào một góc, khuôn mặt trắng bạc như người chết đuối vừa vớt ở sông lên nghe tiếng gầm của con trai chồng chợt tỉnh, lập cập bò ra, đôi môi lắp bắp:

– Họ... Chúng có ba đứa... Rất sợ...

– Sao phải sợ! - Ba Hoàng hét - Mọi lần cãi nhau với chồng bà to mồm lắm mà...

– Đã kêu... Nhưng... họ có súng...

– Đúng là lợn cái - Ba Hoàng rủa rồi quay qua Nguyễn Xấn lúc ấy đang lấm lét và run rẩy đứng ngơ ngáo bên cạnh - Các ông canh phòng gác xách vậy đó?

– Thưa...

– Hay là chính dân vệ các ông có người dẫn đường? Sắp tới lượt ông rồi... Liệu mà mua quan tài trước.

Nguyễn Xấn ngước lên nhìn, đôi môi dẩu ra mấp ma mấp máy giống như đít gà cái lúc vừa đẻ trứng, chẳng rõ lão nói gì...

– Mà sao lão Nguyễn Xấn ngu vậy chớ... - Ba Hoàng tự tay rót rượu vào ly của mình, lại rót rượu vào ly của Năm Hồng - Khi nghe súng nổ lại ngỡ ba tôi bắn chơi... Mẹ khỉ, sao có loại dốt nát thậm tệ... Quả ba tôi thỉnh thoảng có chĩa khẩu côn lên trời bắn vài phát giải sầu. Nhưng phải phân biệt được tiếng cạc bin với tiếng súng ngắn chớ... Năm Hồng nhớ nghe, tôi đâu đã cho qua vụ này. Ba Hoàng là Ba Hoàng, Hai Rạng là Hai Rạng. Khác nhau chớ. Đụng vào cha con Trần Nhũng, Trần Hoàng là tụi du kích vuốt râu hùm rồi... Uống đi Năm Hồng. Uống với tôi ly nữa nghe... Có ly rượu vào trông Năm Hồng ngon quá ha. Hai má đỏ hây hây. Đẹp! Ngồi thêm với kẻ đang buồn này chút nữa...

– Mất mát gì mà không ngồi. - Năm Hồng đưa cặp mắt sắc được kẻ một vệt đen dưới mi rất điệu nghệ liếc nhìn Ba Hoàng. - Chỉ sợ cô đại úy hay, lại tới phá quán, kẹt đường làm ăn...

– Đã có Ba Hoàng bảo lãnh còn sợ chi ai... Nếu có người đến quậy cứ báo cho trung sĩ Độ hay. Trung sĩ Độ biết là Ba Hoàng biết... Nào, cạn... - Chợt Ba Hoàng đặt mạnh ly rượu xuống bàn, đôi mắt như hai hòn than hướng về cửa ra vào. - ủa, ai như là cô Tư Nhâm... Đúng Tư Nhâm rồi. Trung Sĩ Độ, kêu cô Tư tới luôn... Đúng là có duyên. Đang định gặp cô Tư thì cô Tư tới.

Từ cửa, Tư Nhâm lúng túng bước vào. Tình huống hơi bất ngờ khiến chị bối rối...

– Chào đại úy, chào trung sĩ, chào chị Năm.

– Cô Tư ngồi! -Trung sĩ Độ kéo thêm chiếc nghế. Tư Nhâm nhẹ nhàng thả mình xuống.

– Mời cô Tư một ly! - Ba Hoàng đưa cho Tư Nhâm ly rượu. - Hôm đám ông già tôi thấy có cô Tư đến viếng, cám ơn nghen.

– Nghĩa tử là nghĩa tận...

– Mấy lần về làng Cát có ý định ghé vô nhà chơi mà cô Tư đi vắng hoài.

– Tôi mải chạy chợ...

– Chỉ hai má con cũng cực vậy sao cô Tư?

– Thì cướp được của ai đâu mà không phải làm...

– Lại nặng lời rồi... Nghe nói cô Tư từ chối việc thiếu tá Hai Rạng chu cấp...

– Sao đại úy lại ngoèo ông thiếu tá vô đây?

– Vậy không có việc ấy thiệt sao?... Nghĩ tức cười, một thiếu phụ trên ba mươi tuổi, xinh đẹp, chín nẫu như quả lựu trên cây, lúc nào cũng có thể rụng, nếu không chờ ai đó hoặc hứa hẹn với ai đó thì phải lấy chồng chớ. Cớ gì để ông thiếu tá năn nỉ hoài...

– Tôi đã trót dại một lần nên đành cam chịu. - Tư Nhâm thong thả đáp

– Thiệt vậy sao?... Năm Hồng, chị có tin điều ấy không?

– Đại úy hôm nay uống hơi nhiều... - Năm Hồng đáp.

– Nghĩa là Năm Hồng biểu tôi say? Tôi không say... Hai Rạng mềm yếu cả tin, nhưng Ba Hoàng thì khác. Ba Hoàng không tin bé Thảo là con hoang. Người như cô Tư đây làm sao có khả năng ấy. Muốn trăng hoa đâu dễ. Lẳng lơ cũng phải có mác chớ, đúng không người đẹp Năm Hồng? Để có đứa con ngoài giá thú phải bản lĩnh lắm. Đến tay chơi cỡ vợ tôi hay Năm Hồng đây cũng chỉ dám nhảy múa vờn ve vòng ngoài, đâu có cái gan mang bầu. Hả, tôi nói đúng chớ, Năm?

– Suy diễn là quyền của đại úy. -Tư Nhâm đứng dậy - ... Xin lỗi, tôi đang có việc bận.

– Cô Tư đừng đi vội... Phụ nữ có lòng chung thủy, một dạ chờ chồng, không chịu thành hôn với ai kể cả người có quyền thế trong quân lực cộng hòa, đáng nể đó... Nói vậy cho vui chớ tôi tin cô Tư. Bao giờ làm lễ cưới nhất định Ba Hoàng sẽ có quà mừng. Quà lớn... Bây giờ cô Tư cứ ngồi chơi, tôi đi... Tôi còn phải tìm cho ra mấy đứa gan to mật lớn dám giết ba tôi. Nếu phát hiện ra manh mối cô Tư giúp tôi nghe.

– Đàn bà con gái như tôi biết gì.

– Chà, khéo quá ha. Chào...

Ba Hoàng xiêu vẹo đứng lên, chật chưỡng bước.

– Bao nhiêu chị Năm? - Trung sĩ Độ vội hỏi.

– Thôi mà. Hôm nay đại úy có chuyện buồn, tôi khuyến mãi.

– Cám ơn nghe.

Hai Độ chạy ra đường cái, rất thành thạo tót lên xe. Chiếc Jeep nổ máy, chạy về thị tứ Lân Cồ.

– Cha Đại úy thấy em đâu là gây sự. - Tư Nhâm nhìn theo chiếc xe. - Kỳ thiệt!

– Cô mới là kỳ... - Năm Hồng thu dọn cốc đĩa trên bàn - Lão thiếu tá nó mê thì lấy phắt cho xong. Coi ra hắn cũng là thằng đực khỏe mạnh. Cứ vò võ một mình, thiếu đàn ông mà cô chịu được. Cô không đòi hỏi, không ham muốn cái thứ đời thường đó à? Phụ nữ như cô thiệt lạ.

– Em không có cái quyền dành cái không phải của mình...

– Cái gì là không phải của mình? Sinh ra đàn ông trên cõi này là để làm sướng phụ nữ chúng ta. Ta có toàn quyền...

– Với nữa hoàn cảnh em, chị tính... Rồi con chung, con riêng... em ngại lắm.

– Ngại thì đừng đẻ thêm nữa. Cô học tôi đây nè, thằng nào háo tôi cho uống nước tuốt. Mất gì. Hao gì. Có mòn đâu mà sợ. Nhưng phải là những gã khỏe mạnh, biết cách; chớ rượu vào rồi nhấp nhấp như con chuồn chuồn đạp nước làm mình thêm ngứa ngáy tôi đạp ra khỏi giường liền.

Tư Nhâm nhìn Năm Hồng, khẽ thở dài.

– Những thằng nát rượu như Ba Hoàng vợ nó theo trai là phải. - Năm Hồng nói tiếp - Đêm về nằm ườn xác ra ngáy, đàn bà nào chịu thấu. Thằng chồng trước bị tôi quẳng qua cửa sổ cũng bởi vậy. Mình rửa ráy xong, ưỡn ra tơ hơ chờ, nó đi về không kịp thay quần áo, ặt ra ngủ, lại chóp chép miệng nói mớ, mồm sặc hơi rượu nữa chớ... - Năm Hồng hạ giọng, nhìn Tư Nhâm bằng ánh mắt thông cảm. - Đàn bà không có đàn ông tưới tắm, khác gì cái cây không có nước, lúc nào cũng háo cũng cằn cõi, khô héo khổ lắm cô ạ...

Tư Nhâm ngồi im, nghe mà như không nghe. Đôi mắt nhìn ra đường cái giống đôi mắt kẻ vô hồn. Sao chị lại không rõ nỗi khổ nơi người đàn bà khi vắng thiếu đàn ông! Cũng da thịt ấy, cũng những nhu cầu ham muốn đời thường ấy, chớ đâu là gỗ đá. Có ai hay đêm đêm một mình chị bã bời trong nỗi khổ sở chống trả quyết liệt với những đòi hỏi nhức buốt cứ rình cơ hội nhoi lên hành hạ... Và đã bao lần chị thở dài với ý định buông xuôi bỏ cuộc. Đời người ngắn, đời con gái càng ngắn, sức chịu đựng có hạn, vở kịch lại không rõ bao giờ mới đến hồi cuối, hồi kết thúc. Chị quá mệt mỏi với vai diễn này rồi...

Nhưng có cái gì đó rất khó gọi tên khiến những tháng ngày qua chị phải trụ và đã trụ được. Chị vẫn làm tốt vai trò của mình trong hoàn cảnh éo le và hết sức cô đơn... Chính chị cũng ngạc nhiên bởi điều ấy... Phải chăng bên cạnh ý thức, cái ý thức bắt nguồn từ gốc gác gia đình hình thành từ khi Tư Nhâm còn bé xíu, cái ý thức được cài nắn tự nhiên vô thức trong những ngày ở cứ, là những ý niệm mơ hồ có tên nhiệm vụ, những quan hệ cụ thể, là thói quen và sự ràng níu vô hình của những sức mạnh kỳ bí không tên khác?... Và có lẽ còn là điều cụ thể này nữa: đại úy Ba Hoàng. Viên sĩ quan này đã khiến Tư Nhâm quá bận tâm đối phó mà quên đi những đòi hỏi đời thường như Năm Hồng nói. Mối hiểm họa luôn rình rập là sự quan tâm đầu tiên của con người. Lâu nay, bằng trực giác nhạy cảm buộc phải có ở những người sống trong hoàn cảnh như chị, Tư Nhâm cảm nhận được rằng Ba Hoàng đã bắt đầu manh nha một điều gì đó, có thể là những nghi ngờ đối với mình. Gã rình rập, cho người bí mật theo dõi và mỗi lần gặp lại huyên thuyên cố tình khiêu khích... Hễ rỗi rãi, hay những lúc nằm một mình trên giường, khuôn mặt có nước da trắng mịn như trứng gà bóc và đôi mắt luôn mở to với cái nhìn đa nghi soi mói của viên đại úy lại hiện lên. Mỗi khi đụng chị, gã nhệch cặp môi mỏng như lá lúa xéo sang một bên như thể là cười khiến Tư Nhâm chột dạ. Nụ cười nửa miệng hết sức tinh quái giễu cợt ấy như thể bảo rằng: đừng phù phép nghe, đừng nghĩ tôi không hay bà là người của Việt Cộng cài lại!... Chẳng hẳn không có lúc Tư Nhâm giật mình tự vấn, hay là thằng mật vụ cà trớn này đã nhìn thấy chút sáng của cây kim vẫn giấu trong bọc?...

Chị nhớ hồi cuối năm ngoái, cũng tại quán Năm Hồng, khi Tư Nhâm đang vô tình cầm tờ báo lên coi, một kẻ lạ mặt chừng trên bốn mươi tuổi đã lân la tới, tự nhiên ngồi xuống cạnh, thả nụ cười ruồi, hỏi:

– Xin lỗi, trông cô quen quen... Trước đây, hình như cô có ở K5...?

– K5? K5 là cái gì, thưa ông...

– Cô không nhớ K5, thiệt sao?

– Làm sao tôi biết... Tôi chỉ là người quê mùa...

– Chà, quê mùa mà cũng quan tâm tới thời sự ha?...

– Tôi chỉ quan tâm tới giá cá hàng ngày.

– Thấy cô có đọc báo mà.

– à, thấy thằng nhỏ tội tội, mua một tờ chơi.

– Cô có thể...

– Ông muốn đọc báo hôm nay phải không, tôi biếu ông...

Về tới nhà, lục lạo trí não mãi chị mới lờ mờ nhớ ra kẻ lạ mặt nọ. Hôm đó chị đi bán hàng trên chợ Lân Cồ. Buổi sáng, người mua kẻ bán khá đông... Một chú bé bán báo vặt từ phía phố, ôm xấp báo trên tay, vừa chạy vừa rao:

– Báo đây, báo đây! Tin chiến sự mới nhất... Tiểu đoàn dù đã đụng độ với một đơn vị quân Việt Cộng, và đã tiêu diệt hoàn toàn... Báo đây! Báo đây!

Đi qua chỗ Tư Nhâm, chú bé dừng lại:

– Mua tờ Cộng hoà ngôn luận, dì Hai?

– Sáng ra, dì chưa mở hàng! - Tư Nhâm đáp.

– Không có tiền, dì tặng con con cá nhỏ, con về nướng cho mèo.

Tư Nhâm cười: “Cái thằng!”, rồi chị nhặt con cá bằng bàn tay, xâu vào dây, đưa cho chú bé. Chú bé cảm ơn và biếu Tư Nhâm tờ báo, lại vụt đi, miệng rao dẻo quẹo... Tư Nhâm nhìn theo, thấy vui... Ai ngờ hành động của chị và chú bán báo không lọt qua mắt người đàn ông mặc thường phục, đeo kính mát đang ngồi trong quán giải khát gần đó.

– Nhóc! - Người đàn ông vẫy ngón tay trỏ.

– Ông mua báo? - Cậu bé bước vào, hớn hở hỏi - Nhiều tin hay lắm!

– Nè, tao muốn mua con cá mày cầm trên tay.

– Ông muốn mua con cá này? - Cậu bé nhìn người đàn ông, mắt mở to ngạc nhiên.

– Đừng tròn mắt vậy... Để con cá lại... - Người đàn ông rút ví, đưara tờ giấy bạc - Cầm lấy, và xéo đi!

Chú bán báo vừa ra khỏi cửa, người đàn ông vội đặt con cá lên bàn, móc túi lấy con dao nhỏ, cẩn thận rạch ngọt một đường... Tư Nhâm nhớ

ra con người này bởi khuôn mặt lão khi thất vọng nhận ra trong bụng cá

không có những thứ lão hoài nghi cứ là lạ, nó méo xệch, nhăn nhúm giống như miếng thịt bò ế phơi nắng... Lão đâu ngờ cái lão cố tìm nằm ở con cá khác. Lúc lão đang loay hoay với con cá trong quán giải khát, có một người phụ nữ ăn mặc chải chuốt, trang điểm đẹp, đeo kính gọng to, đang đứng trước hàng của Tư Nhâm. Người này hóa trang khác lạ tới mức chị cũng ngạc nhiên.

– Cá này nấu cháo ngon lắm cô Ba... - Tư Nhâm ngẩng lên nhìn người phụ nữ, chào mời. - Tôi đã làm sạch.

Người phụ nữ nhanh chóng cho con cá vào làn, kiêu kì lôi từ ví

đầm ra xấp tiền, rút một tờ, thả xuống rổ cá...

– Cám ơn cô Ba ! - Tư Nhâm xởi lởi - Lần sau cô Ba lại tới mua giùm nghe.

Người phụ nữ nguẩy mông, đi thẳng. Đó là Sáu Quyên. Và trong bụng cá là những thông tin về tiểu đoàn “Rồng Biển” của thiếu tá Hai Rạng... Nhưng lão mặc thường phục trong quán đâu đã hết nghi ngờ. Lão lách nhách đến chỗ Tư Nhâm.

– Ông mua cá? - Tư Nhâm hỏi.

– Cô cho tôi coi qua tờ báo được không? Và cũng như hôm nay, Tư Nhâm dễ dãi:

– Tôi biếu ông...

Mình đang bị người của Ba Hoàng theo dõi, trên đường về, Tư Nhâm bất an nghĩ. Khi Tư Nhâm nói lại với Sáu Quyên những lo lắng của mình, người liên lạc của chú Sáu điềm tĩnh khuyên: “Chị khỏi ngại. Hai Rạng còn theo đuổi chị, Ba Hoàng chẳng dám đụng vào sợi tóc”. Tư Nhâm thừ ra, nén tiếng thở dài. Tức là chị vẫn phải dựa vào cái bóng của viên thiếu tá để làm bình phong che chắn cho mình. Sao oái oăm trớ trêu vậy chớ! Sáu Quyên thỉnh thoảng đảo qua, vội vội nhận tin, vội vội chỉ thị mấy điều ngắn gọn, rồi lên cứ đâu thấu nỗi khổ tâm, mà không hẳn lúc nào cũng dễ phô ra của chị...

... Thấy Tư Nhâm ngẩn mắt ngồi xị như kẻ thua bạc, Năm Hồng phán:

– Tôi không ưa những người làm bộ cao đạo nghe. Thích thì bảo

rằng thích và tìm cách mời mả để đáp ứng. Chẳng con đực nào từ chối khi con cái lên mùi đánh tín hiệu. Tin tôi đi. Chuyện này tôi rành hơn cô... Lẳng lơ thì cũng ra ma. Mà cô chính chuyên với ai chớ? Mình đâu trinh nguyên gì cho đặng... Tự hãm mình, hành hạ thân vậy ích gì...

Tư Nhâm không đáp. Chị không thể sống như Năm Hồng... Người chủ quán có thể tự do buông mình trong bản năng khát thèm vốn là sức mạnh cũng là niềm kiêu hãnh đàn bà. Năm Hồng có lối sống của chị ấy và không hẳn không có lý. Trời phú cho cái năng lực tiềm tàng giống cái và Năm Hồng đã không mảy may mặc cảm vượt qua những thói nghĩ thông thường nhằm triệt để tận hưởng... Âu cũng

là một thứ lộc... Lúc nào chị ấy cũng phơn phớn vô lo vô nghĩ, coi việc ngủ với đàn ông như một lần vào toa lét. Sáng ra người ta bỏ đi, chị cũng quên ngay để đêm sau nếu ai đó có nhu cầu và chị thấy sướng lại dễ dãi bằng lòng để họ toài lên bụng...

– Hay dọn tới đây bán hàng với tôi! - Năm Hồng gạ - Ăn nhiều chớ ở mấy... Không thích lão Hai Rạng tôi tìm cho đám khác. Người như cô lượm đâu chẳng được thằng đàn ông ưng ý. Bọn háo gái dùng chổi quét ba ngày không hết.

– Em về, chị Năm...

– Có việc gì không?

– Đi qua ghé vô coi chị làm ăn sao thôi.

– Vậy hả. Năng tới nghe

*

Trong căn lán xế suối Phấn nằm sâu trong rừng ẩn sáng nay có cuộc họp của Thường vụ Liên khu ủy. Các anh Năm Phô, Bí thư Liên khu; Sáu Sinh, Bí thư Phú Yên; Nguyễn Phương, Phân khu trưởng; YBLốc, Phó Tư lệnh Liên khu. Bí thư một số tỉnh ven biển miền Trung đều có mặt. Mọi người đã được thông báo về nội dung cuộc họp trước đó, nhưng Bí thư Liên khu vẫn nhắc lại rằng hội nghị chủ yếu nghe báo cáo về công tác chuẩn bị đón vũ khí từ ngoài Bắc đưa vào và bàn cách tiếp nhận.

Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên đang phát biểu thì một người lính bảo vệ lách vào và nói gì đó với ông. Sáu Sinh vội xin phép bước ra.

– Có chi mà tìm chú gấp vậy, Sáu? - Sáu Sinh hỏi khi thấy Sáu Quyên bước qua bước tới trên đám cỏ xế chỗ họp, khuôn mặt bồn chồn, lo lắng.

– Chú ơi, có tin quan trọng, biết chú đang bận nhưng cháu phải báo kẻo trở tay không kịp... Chị Tư Nhâm và A5 vừa cho hay, ngày mai tiểu đoàn Rồng Biển của Hai Rạng có không quân yểm trợ càn lên núi ẩn. - Sáu Quyên nói. - Lần này chúng huy động đến ba đại đội và...

– Chà... Nó muốn tróc mình ra khỏi vùng này đây... Cháu cứ về, trưa nay qua chỗ chú nói lại cho kỹ nghe.

Cô gái dạ một tiếng rồi bước đi. Sáu Sinh chui vào túp lán nhỏ. Chiếc lán vốn là chỗ ở cũng là nơi làm việc của Bí thư Liên khu Năm Phô. Nhưng anh Năm ít khi có mặt tại đây, anh thường xuống các địa bàn chỉ đạo phong trào, gặp đâu mắc võng ngủ đó, lúc sống với du kích, lúc ở cùng cơ sở nơi mấy xã vừa giải phóng...

– Ta tiếp tục làm việc nghen! - Bí thư Liên khu nói và hướng đôi mắt thiếu ngủ về phía Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên. - Mời anh Sáu, anh đang trình bày công tác chuẩn bị tiếp nhận vũ khí...

– Báo cáo anh Năm với mấy anh, tôi xin nói tiếp. - Sáu Sinh hắng giọng. - Báo cáo để mấy anh an tâm, tổ điện đài Trung ương cử vô đã tới cứ an toàn. Hôm qua đã có phiên liên lạc thử, kết quả rất tốt... Như vậy là vấn đề thông tin với trên trong quá trình chuẩn bị tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc đưa vào bằng đường biển đã giải quyết ổn. Việc còn lại cần làm là nhanh chóng xác định chính xác vị trí tàu vào rồi báo cáo ra ngoài đó để Trung ương cho ý kiến...

– Xác định vị trí đặt bến là việc hệ trọng! - Anh Năm Phô gật gù.

– Hết sức hệ trọng!... Vũ khí vô được trót lọt hay không và vô được lâu dài hay không chủ yếu ở khâu này, bởi vậy tôi đề nghị các anh cân nhắc thiệt hơn và bàn cho kỹ. Nếu cuộc họp này ta chưa thống nhất, có thể quyết định ở cuộc họp khác. Phương châm là khẩn trương nhưng không nóng vội... Tôi tin nếu chúng ta bàn chín, Trung ương sẽ nhất trí... ở cuộc họp trước, ta đã đưa ra mấy địa điểm để cùng xem xét, đó là vịnh Xuân Đài, Vũng Hẻo, Vũng Rô... nhưng chưa thống nhất. Tôi đề nghị hôm nay ta bàn tiếp... Mời các anh.

– Báo cáo anh Năm và các anh! - Anh Nguyễn Phương nói. - Sau nhiều lần khảo sát, chúng tôi thấy vịnh Xuân Đài đủ những yếu tố để có thể tiếp nhận vũ khí. Một là, nơi đây nước sâu, tàu vài ba trăm tấn vô được. Hai là vịnh Xuân Đài có chỗ cho tàu ẩn nấp. Ba là các xã quanh vịnh phong trào cách mạng khá mạnh, ta đã làm chủ liên hoàn, việc vận chuyện vũ khí nhiều thuận lợi...

– Yếu tố để có thể vận chuyển vũ khí đi nhanh tới các tỉnh là một trong những điều đầu tiên phải xem xét nghe. - Bí thư Năm Phô nói thêm. - Mời các anh khác.

Phó tư lệnh Liên khu YBLốc phát biểu:

– Những điều anh Phương trao đổi về mặt thuận của vịnh Xuân Đài, tôi nhất trí. Đúng là Xuân Đài có nhiều điều hay. Tôi chỉ băn khoăn là, hành lang phía sau vịnh Xuân Đài hẹp, nếu huy động lực lượng đông, khó có chỗ tập kết, việc chuyển vũ khí đi các tỉnh trong khu sẽ gặp khó khăn. Vũ khí đưa vào, nếu không chuyển kịp nguy hiểm lắm... Đề nghị các anh cân nhắc.

– Khó có một vị trí nào hoàn hảo như ta mong muốn. - Anh Phương quay lại và nói. - Được cái này lại mất mặt khác... Nhưng nhìn tổng thể, Xuân Đài so với các nơi nhiều yếu tố thuận lợi hơn...

Bí thư khu ủy Liên khu dứng đậy, anh bước tới tấm bản đồ treo bên

vách. Mọi người bước theo, và cùng hướng lên.

– Xuân Đài đây, Hòn Hẻo đây và Vũng Rô nằm đây... - Năm Phô chỉ lên bản đồ và nói. - Trong ba vị trí này, Vũng Rô nằm sát đường quốc lộ Một hơn nên tạm thời ta loại ra cho dễ lựa chọn...

– Báo cáo anh Năm - Sáu Sinh nói - tôi lại muốn chọn Vũng Rô làm vị trí để tàu vào... Mọi người cùng quay lại, ngạc nhiên nhìn.

– Vũng Rô? - Năm Phô bật ra.

– Dạ, Vũng Rô!

Năm Phô rà tay chỉ vào Vũng Rô như có ý để mọi người tập trung vào. Rồi anh bước lại bên bàn và ngồi xuống. Mọi người ngồi theo. Năm Phô nhìn khắp lượt các thành viên thường vụ như có ý dò hỏi.

– Vũng Rô có nhiều ưu điểm hơn Xuân Đài. Nước sâu hơn, kín hơn, có vách núi chĩa ra, giấu tàu rất thuận lợi. - Anh Phương nói. - Chúng tôi cũng đã khảo sát. Ngặt một nỗi Vũng Rô nằm ngay chân đèo Cả, vị trí địch đang kiểm soát, mạn Tu Bông, Đại Lãnh địch đóng quân đông...

– Đề xuất Vũng Rô chắc anh Sáu đã có chính kiến? - Năm Phô hỏi

Sáu Sinh đứng lên, giọng tự tin:

– Báo cáo các anh - Ông nói chậm - Quê tôi ở đây nên tôi thuộc vùng này. Vũng Rô không chỉ nước sâu, mà sóng cũng rất êm. Phía bắc vũng có nhiều hang đá, nếu vũ khí đưa vô chưa có điều kiện chuyển ngay, có thể tạm thời giấu vào các hang ở đấy. Từ Vũng Rô ta có hành lang tương đối an toàn, đó là Hiệp Hóa, Hiệp Xuân ở phía tây; làng Cát ở mạn đông... Từ Vũng Rô vũ khí chuyển qua các tỉnh hoặc lên cứ rất tiện. Điều các anh băn khoăn có lẽ là bọn địch nơi đèo Cả. Quả có thế. Nhưng biết che mắt địch, Vũng Rô thuận hơn Xuân Đài trên nhiều phương diện...

– Mạo hiểm! - Có tiếng ai đó ngồi phía sau buột ra.

Mọi người lại đưa mắt nhìn nhau như thăm dò, cũng là để xem chừng.

– ý kiến anh Sáu có nhiều hợp lý. - Bí thư Năm Phô sau một lúc trầm ngâm, lên tiếng. - Cầu toàn quá e khó tìm ra bến. Nhưng nếu chọn Vũng Rô, ngoài vấn đề che mắt địch ở đèo Cả, trong khi chờ vũ khí vô, nhiệm vụ của các xã bao quanh Vũng Rô, kể cả làng Cát, phải đẩy mạnh phong trào du kích, phá thế kìm kẹp của địch, phát động nhân dân vùng lên làm chủ làng xã để mở rộng hành lang an toàn và huy động nhân lực khi cần... Rồi đào thêm hầm bí mật, đào địa đạo để có thể sống và chiến đấu... Đề nghị các anh, đặc biệt là Phú Yên chỉ đạo việc này tỉ mỉ...

YBLốc chăm chú nghe, rồi anh phát biểu:

– Từ ngày nhận được chỉ thị của Trung ương đi tìm bến bãi để đón tàu vô, chúng tôi đã mấy bận đến Vũng Rô. Và thú thực, đã muốn nhắm chỗ này. ý anh Sáu trùng với dự kiến bên quân sự chúng tôi. Vũng Rô sát quốc lộ Một, lại nằm ngay dưới chân đèo Cả. Đó là khó khăn nhưng cũng là thuận lợi. Nói thuận lợi tức chúng tôi muốn đề cập đến yếu tố bất ngờ. Cho tàu vào Vũng Rô là lợi dụng yếu tố ấy. Kẻ địch khó lường rằng tàu của ta lại vào được đó... Anh Sáu nói đúng, vấn đề không chỉ ở chỗ vị trí tàu vào, mà còn là quá trình vận chuyển vũ khí đi các nơi. Về điểm này, không đâu hơn hành lang Hiệp Hòa, Hiệp Xuân... Hoạt động

ở đây đã lâu, tôi rõ... Mạn Sông Cầu không bằng mạn Tuy Hòa. Sáu Sinh nhìn mọi người rồi nói:

– Nếu thường vụ nhất trí chọn Vũng Rô, tôi xin thay mặt Liên khu đảm nhận nhiệm vụ tổ chức bến, tổ chức hành lang tiếp nhận súng đạn, cất giấu và vận chuyển...

– Dù không chọn Vũng Rô, lâu nay thường vụ cũng đã có ý ấy. - Năm Phô nói vui.- Từ nay gọi Bí thư Sáu Sinh là bến trưởng bến Vũng Rô nghe.

Mọi người cùng cười.

– Ai có ý kiến gì nữa không? Mời các anh bàn thêm cho kỹ... Không còn ý kiến tức là ta thống nhất nghe. Vậy tôi xin tạm kết luận. Thường vụ nhất trí hai điểm, một là chọn Vũng Rô làm bến đón tàu từ ngoài vào. Hai là cử anh Trần Sinh, ủy viên Thường vụ Khu ủy, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên thay mặt Thường vụ đảm nhận công tác chỉ đạo tổ chức bến. Nếu các anh thấy hợp lý, tôi sẽ điện ra xin ý kiến Trung ương...

– Báo cáo anh Năm, còn một việc nữa muốn xin ý kiến chỉ đạo của Thường vụ... - Sáu Sinh nói - Tôi vừa nhận được tin ngày mai địch cho lực lượng khá lớn càn lên khu vực này...

– Địch càn? Có việc đó sao không nói sớm, anh Sáu?

– Tôi cũng vừa nhận được tin...

– Địch nó càn ngẫu nhiên hay đã manh nha đánh hơi ra điều gì ta?

– Theo tôi địch càn là muốn quét lực lượng các cơ quan khu và tỉnh ra khỏi cứ... Chúng chưa thể phát hiện ra chủ trương ta chuẩn bị nhận vũ khí từ ngoài Bắc vô...

– Nên tính sao, anh YBLốc?

– Đứng về tương quan, ta không nên bộc lộ lực lượng. - YBLốc nói. - Để chuẩn bị cho những việc lớn hơn, trước mắt là nhiệm vụ đón tàu chở vũ khí vô, nên làm cho kẻ địch bị hẫng...

– Nghĩa là cho lực lượng rút lui...

– Thời điểm này tránh đụng độ tốt hơn. Trước mắt cần bảo vệ an toàn cơ quan Khu ủy và các tỉnh...

– Có lý! - Năm Phô nói - Nếu các anh đồng ý phương châm đó thì cần triển khai ngay... Phải có kế hoạch hành động trong đêm... Chúng ta còn rất ít thời gian...

... Đêm ấy sau khi theo bộ phận trinh sát rút sâu nữa lên miền Tây, mắc võng nằm dưới cánh rừng già, Sáu Sinh trằn trọc không ngủ được. Ông cứ băn khoăn mãi về câu nói của Sáu Quyên hồi trưa: “Chú à, trường hợp chị Tư kể cũng tội. Hay chú cho chị ấy rút lên cứ... Hai Rạng cứ đeo đuổi miết, làm sao giờ?”. Lúc đó ông nói gì chớ? Phải rồi, ông đã buột ra theo thói quen: “Động viên Tư Nhâm gắng chịu ít lâu nữa... Công việc sắp tới rất cần thông tin của Tư Nhâm...”. Lúc này nghĩ lại, ông rõ rằng nói vậy có cái gì đó chưa ổn, tức mới nghĩ một chiều. Đặt mình vào trường hợp Tư Nhâm, ông thấy quả là khó. Làm thế nào để vừa bảo đảm nhiệm vụ, vừa giữ được lai lịch mình, lại vừa chống đỡ với tình cảm ngày mỗi gắn kết của Hai Rạng? Động viên Tư Nhâm duy trì mối quan hệ với Hai Rạng để làm vỏ bọc cho mình tức đã đẩy Tư Nhâm vào trường hợp hết sức trớ trêu, khó xử và khó lường. Với nữa chẳng thể kéo dài mối quan hệ như hiện nay mãi được. Sự kiên trì của Hai Rạng chắc có hạn. Sớm muộn gì Hai Rạng, nếu không thỏa mãn tình cảm, điều tự nhiên là sẽ sinh lòng hoài nghi, và một cái gì đấy có thể một dấu hỏi treo lửng trong đầu về Tư Nhâm là điều khó tránh. Xét bề ngoài, Tư Nhâm đồng ý yêu cầu của Hai Rạng là phải lẽ. ở góc độ tình cảm đơn thuần mà suy, họ đến với nhau là hợp lý. Hai người vốn quen biết từ nhỏ, đã từng có những kỷ niệm của thủa mới lớn, mà kỷ niệm thời bắt đầu nhận biết hằn sâu vào trí não người ta như dao khắc trên đá. Họ cùng độc thân và không thể nói là không muốn có một gia đình... Vậy lý do gì cả hai chẳng đến với nhau? Không chỉ Ba Hoàng, mà bất kể ai có chút suy diễn đều cho rằng Tư Nhâm từ chối Hai Rạng là điều không bình thường... Nhưng đưa Tư Nhâm ra cứ tức Tỉnh ủy đã tự chặt tay, bịt mắt mình... Để có mối liên kết giữa Sáu Quyên - A5 - Tư Nhâm, ông đã mất bao công phu, bao công sức. Chặt đi một mắt xích đó là phá bỏ một đường dây nội tuyến quan trọng, đường dây không chỉ phục vụ cho công việc tiếp nhận vũ khí sắp tới mà còn là vấn đề chiến lược lâu dài... Đành rằng Sáu Sinh đã có lần hứa với Tư Nhâm rằng, hãy cho bé Thảo về ngoại và sẽ bố trí đưa Tư Nhâm ra cứ, nhưng hình như đấy chỉ là chút tình cảm bột phát, sau đó thì tình thế và sự bức bách của công việc lại khiến ông phải cân nhắc, suy tính... Nếu Tư Nhâm lên cứ, ai là người thông tin cho ông hay có trận càn này? Khó nghĩ quá!... Để Tư Nhâm ở lại, liệu ông có ích kỷ quá không? Quyền lợi của cách mạng là trên hết! Tư duy giáo điều ấy cũ quá rồi, nhưng xét trong hoàn cảnh cụ thể hình như nó vẫn mang đầy đủ tính hợp lý nào đó. Trường hợp Tư Nhâm, chắc lại phải quay về với quan niệm ấy.

Phải, quyền lợi của cách mạng là trên hết, cuối cùng Sáu Sinh đành tặc lưỡi trấn an và an ủi mình bằng câu khẩu hiệu ông vẫn cho rằng sống sượng, có cái gì chương chướng đó...

Sáu Sinh vốn là bạn của Bảy Cường, ba Tư Nhâm. Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, lúc Sáu Sinh vừa dạy học vừa gây dựng phong trào ở làng Cát, Bảy Cường theo tổ công tác lên Tây Nguyên. Những năm cuối cuộc chiến, Bảy Cường được lệnh về đồng bằng, ông đưa con gái cùng ra cứ. Vào thời gian ấy Sáu Sinh cũng được lệnh rời làng Cát và ông biết Tư Nhâm bởi vậy. Hồi đó Tư Nhâm gầy nhẵng, thoạt trông thơ dại như cô bé vẫn xách lẵng vào rừng nhặt quả thông trong câu chuyện của một nhà văn Nga, nhưng ẩn sau cái bề ngoài ấy, cô có phẩm chất của một chiến sĩ quân báo: sáng dạ, nhanh nhẹn, tháo vát và cũng là tay thiện xạ có hạng. Hồi đó có khẩu hiệu mỗi viên đạn là một quân thù, và người thực hiện hiệu quả nhất là cô con gái Bảy Cường. Khi mới vào cứ người ta phân công Tư Nhâm làm liên lạc, giúp việc trong cơ quan, rồi do bộ phận quân báo thiếu người, Tư Nhâm được chuyển qua. Cô đã từng theo đồng đội vào hậu cứ địch nắm tình hình và làm công tác dân vận. Nhiều người khen cô khôn khéo, biết ứng phó... Nhiều lần thoát chết không hẳn chỉ do may mắn, mà nhờ biết khai thác triệt để những điểm mạnh của hoàn cảnh...

Sáu Sinh cũng là người tác thành cho Tư Nhâm với Tư Lăng để họ thành vợ thành chồng. Sau khi Bảy Cường hy sinh, Sáu Sinh quý Tư Nhâm như con, và không ai khác, chính ông đã giữ Tư Nhâm ở lại, rồi bố trí về làng Cát hoạt động. Ai hay thiếu tá Hai Rạng, tiểu đoàn trưởng Rồng Đen lại là người quen biết cũ của Tư Nhâm... Cuộc đời nhiều ngẫu nhiên, nhiều những thứ không thể đoán định trước, kỳ lạ như thể có bàn tay vô hình nào đấy cố tình sắp đặt, nhào nặn...

Sáu Sinh trở mình. Trời gần sáng. Khu rừng yên tĩnh. Mọi người

đang ngủ sau một chặng đường hành quân vượt núi khá dài. Tiếng gió lướt trên vòm lá rất khẽ, Sáu Sinh cũng chìm dần vào giấc ngủ...

Khi mặt trời chiếu những tia nắng đầu tiên vào khu rừng, Sáu Sinh choàng thức. Phía cuối rừng ẩn có tiếng động cơ máy bay vọng lại và kế đó là tiếng nổ dồn dập của các loại bom. Mọi người đứng dậy và cùng hướng về phía ấy.

– Chúng càn lên rồi!

Sáu Quyên đứng phía sau Sáu Sinh buột ra. Sáu Quyên là người đầu tiên biết sẽ có trận càn này. Đúng hơn cô là người đầu tiên được Tư Nhâm báo cho hay.

Nghĩ đến Tư Nhâm, Sáu Quyên thấy thương chị quá chừng. Mỗi lần gặp, cô thường giả bộ mang vẻ mặt dửng dưng và hay nói cứng để Tư Nhâm khỏi yếu mềm nhụt chí, mà làm vậy Sáu Quyên còn muốn động viên và “làm tư tưởng” cho cả mình, nhưng trong thâm tâm, cô hết sức hiểu và thông cảm với hoàn cảnh của chị... ở tình cảnh Tư Nhâm, sự chịu đựng trên nhiều phương diện là quá sức. Nhiều lúc Sáu Quyên tự hỏi, nếu đặt vao cảnh huống như chị, liệu mình có trụ được? Trước đây là Trần Nhũng và bây giờ là Hai Rạng. Đến cây tre cây nứa tán mãi còn đổ nữa là... Nhưng nỗi khổ tâm đâu phải chỉ vậy. Được chú Sáu giao nhiệm vụ là người duy nhất bắt liên lạc và nhận thông tin từ Tư Nhâm chuyển qua, Sáu Quyên hiểu tâm trạng người phụ nữ này. Đã hơn mười năm nay không một tin tức của chồng, sự chờ đợi của chị khác nào đêm đêm người ta hướng vào mặt trăng gọi Cuội, niềm hy vọng mỏng tang như bọt bóng xà phòng chơ vơ bay trước gió. Nhưng vẫn phải cắn răng chờ. Nó là đạo lý, là tình cảm và còn là một cái gì cao hơn thế... Sáu Quyên biết Tư Nhâm khổ tâm và không phải là không dằn vặt. Nỗi chồng, nỗi con, những đối phó và nhiệm vụ. Làm thế nào để không đánh mất mình mà vẫn làm trọn công việc chú Sáu, đúng hơn là tổ chức giao đâu hẳn dễ dàng... “Dựa vào Hai Rạng, chị khỏi lo mối hiểm họa từ Ba Hoàng”, Sáu Quyên thường nói với Tư Nhâm vậy, nhưng thực tình cô đâu muốn. Dựa vào Hai Rạng khác nào dùng con dao hai lưỡi và ai mà lường được hậu quả sau đó... Nhưng trong tình thế hiện nay, chẳng còn cách nào khác. Chỉ mong sao sớm qua cái đận này, mọi sự êm êm, để chú Sáu đưa Tư Nhâm ra cứ..

Sáu Quyên ngồi tựa gốc cây, hướng mặt về phía có nhiều tiếng súng nổ...

– Qua chỗ chú có việc nghe, Sáu! - Sáu Sinh nói.

– Dạ! Sáu Quyên bước tới chỗ Bí thư Tỉnh ủy. Hai người lần xuống con suối gần đó.

– Hôm qua cháu đề xuất việc để Tư Nhâm ra cứ, chú băn khoăn mãi. - Sáu Sinh vào chuyện. - Mà không phải hôm nay. Chú nghĩ đã mấy tháng qua... Khó ha!

– Cháu thấy chị Tư kẹt vào tình thế khó xử quá.

– Chú biết chớ... - Sáu Sinh nhìn ra xa, nơi có những cây lành lạch mọc chồng lên nhau, kết lại như những đụn rạ, giọng Sáu Sinh nhỏ xuống. - Cháu rõ hôm qua Thường vụ Khu họp chớ?

– Dạ.

– Thường vụ đã quyết định chọn Vũng Rô làm bến để tiếp nhận vũ khí...

– Vũng Rô? - Sáu Quyên ngạc nhiên quay lại, khuôn mặt hớn hở như trẻ nhỏ được mẹ cho quà.

– Làm gì la lên vậy?... Tuyệt mật đó nghe...

– Cháu ngỡ mình nghe nhầm... Thiệt có việc ấy sao chú?

– Bởi vậy chú cứ nghĩ hoài tới việc của Tư Nhâm...

– Dạ, cháu hiểu...

– Đặt mình vô chỗ của Tư Nhâm mới thấy tội... - Sáu Sinh khẽ thở dài. - Mà cháu thấy Hai Rạng là người ra sao?

– Hai Rạng khác Ba Hoàng, viên thiếu tá này có học, hiểu nhiều, cũng là con người ga lăng, văn hóa, không hung hăng, nhưng hai kẻ đó giống nhau ở một điểm là chống Cộng sản đến cùng.

Sáu Sinh im lặng. Rồi ông chợt buông tiếng thở mạnh...

*

Quán Năm Hồng hôm nay đông hơn mọi bận. Đám lính Rồng Biểnvừa càn trên núi về được nghỉ, tranh thủ tới xả hơi. Căn nhà ồn ã tiếng người và sặc mùi bia rượu. Một xị đế với miếng khô cá là đủ cho người

ta vung tay trương gân cổ la hét coi trời bằng vung và có thể công kênh nhau lên tận tít trên sao hỏa. Rượu quả là một trong những phát minh vĩ đại nhất mà con người may mắn có được. Nếu thiếu thứ nước nồng nồng cay cay ấy, chẳng rõ nhân loại hiu quạnh buồn tẻ vắng lặng và vô nghĩa đến dường nào. Vui cần đến rượu mà buồn người ta cũng cần đến thứ đó. Đám ma đám cưới không có rượu, nhạt thếch. Thất tình, mất của, vợ theo trai..., nếu không có rượu lấy gì làm cứu rỗi? Rượu quả là tri âm tri kỷ. Rượu làm cho người ta khùng, dũng cảm hơn và cũng khiến người ta thật hơn, bộc bạch hơn. Chẳng một điều gì trong lòng không lôi tuột ra phơi bày giữa thanh thiên bạch nhật khi rượu vào. Rượu là kẻ thù của đàn bà, nhưng là ma lực để đàn ông có những giây phút thăng hoa; phàm đã sinh ra làm thằng đực, khó ai bước qua...

– Các cha biết tại sao mấy hôm rồi chúng ta vô rừng đổ đạn đánh Việt Cộng nhưng lại đuổi thỏ chớ? Không rành hả? Vậy tới đại úy Ba Hoàng giảng giải cho nghe.

– Không bỏ mạng, vác được con giống về là quý rồi cha nội ơi.

– Mẹ kiếp, mình lên núi thì Cộng sản lại mò xuống... Nghe tin gì chưa? Nguyễn Xấn chỉ huy dân vệ làng Cát đêm qua lại bị du kích đột nhập vô bắn chết tại nhà. Bọn dân vệ sợ mất vía chạy té đái lên Lân Cồ xin cứu viện bị Ba Hoàng tức giận cho ăn bạt tai...

– Bọn ngu... Không chống nổi thì mặc, cớ chi phải lên Lân Cồ cho khổ xác...

– Du kích vô làng như vô chỗ không người... Cho thêm xị nữa chị Năm...

Tại chiếc bàn xế góc, một gã trông vẻ bặm trợn, bộ râu quai nón chưa kịp cạo tủa tủa hai bên má lởm chởm như lông heo làm không kỹ bắt chước giọng Chế Linh, lè nhè: Tôi thề tôi chẳng yêu ai, vì người ta cứ phụ tôi hoài... Tôi thề tôi chẳng yêu ai...

Cô gái chàng ta nhặt được đâu đó rồi mang vào đây cùng uống rượu lườm ngang:

– Hát chi rầu vậy cha nội... Đã có em nè.

– Ngày mai anh ra trận, em cũng bai anh thôi, anh rành đàn bà mà... Tôi thề tôi chẳng yêu ai... Chỉ có chị Năm là người đàn bà bậc nhất chung tình với tụi lính chiến này thôi, phải vậy không chị Năm? - Gã nói và quờ tay vuốt nhẹ cặp mông tròn căng vổng cao khơi gợi của người chủ quán, mắt rực lên...

– Có sức không mà ham hố vậy cha? - Năm Hồng quay lại, đôi mắt sắc như dao cứa lên mặt gã, lại cứa lên mặt cô gái ngồi cạnh. - Biết nuốt không trôi mà cố dễ sặc nghen.

– Sặc? Hôm nào chị Năm cho thử được không? Coi bộ vậy nhưng tôi còn dai sức ha. Gã cười, rồi choàng tay qua vai cô gái, hôn nhẹ vào má.

– Trời ơi, ợ ra sặc mùi rượu... Hôi thấy mồ! - Cô gái điệu bộ phẩy tay.

– Sao, hôi thấy mồ? Rượu là đặc ân thượng đế ban mà nói hỗn... - Gã đứng dậy, đưa ly lên - Nào, uống cạn nghe, anh em.

Gần chục cái ly sóng sánh rượu châu vào nhau.

– Dô! - Gã hô.

Đám lính hô theo, rồi những khuôn mặt đỏ lựng ngửa lên, dốc ngược chiếc ly cầm ở tay vào miệng.

– Đời chỉ còn một thứ có nghĩa. - Gã ngoẹo cổ, ặt vào vai cô gái, chuyếnh choáng. - là đàn bà, còn lại vô lý ráo. Chức quyền, phù phiếm; tiền tài, chẳng nghĩa gì. Chết là hết... Vậy mà người ta cứ xỉa súng, xỉa dao nhọn vào mặt nhau, người ta thích giết nhau... Cộng quân nói Cộng quân đúng, Quốc gia bảo Quốc gia phải... Tai họa lớn nhất của nhân loại là ở chỗ ai cũng cho rằng mình đúng... Mẹ khỉ, thế nào là đúng, thế nào là sai... Vô nghĩa... Nào rót đi... Chỉ rượu và đàn bà là muôn năm đúng...

– Nói ba láp Ba Hoàng xích cổ vô cột đá nghe.

– Ba láp?... Không ba láp... Nói đúng phóc hết. - Gã lại hát, giọng sên sến. - Phải ra dáng một người đàn ông - Hãy sống cho hôm nay, ngày mai còn xa lắm...

Có tiếng phanh xe rít gấp gáp, mọi người cùng nhìn ra. Chiếc Jeep khựng ngay cửa quán. Đại úy Ba Hoàng nhảy xuống, trung sĩ Độ xuống theo.

– Mấy anh ở đội nào, làm loạn phải không? - Hoàng hằm hằm bước vào và hỏi, đôi mắt khó chịu nhìn lướt khắp lượt đám lính.

– Thưa đại úy, hôm nay được tự do nên đến quán cùng vui. - Gã có râu quai nón buông cô gái, đưa tay ngang vành mũ, tiến lên, hai chân liêu xiêu... Đại úy uống với tụi em một ly nghe?

– Say xỉn cả rồi!

– Chưa xỉn và cũng chưa say, thưa đại úy... - Gã cầm chai rượu, run run bước tới. Ba Hoàng gạt ra:

– Về đơn vị ngay! - Viên đại úy bực bõ ra lệnh - Tất cả về đơn vị!.

– Thưa... Tại sao phải về?

– Chống lệnh hả?... Đừng để lần thứ hai tôi nhìn thấy bộ mặt lè phè và đỏ như mào gà chọi của anh nữa nghe.

– Không chống lệnh. Quân lệnh là sơn, là núi, là keo, là xà bông... Đã lệnh! Vậy thì về!

Đám lính ngơ ngác nhìn nhau, cuối cùng cũng lẳng lặng đứng lên, thanh toán tiền và len lén rút ra khỏi quán.

– Rượu vào chỉ huyên thuyên tuyên truyền không công cho Cộng sản... - Ba Hoàng càm ràm, không có ý nói cho ai nghe cả, gã nói phóng thiên; rồi lầm lầm bước ra, tót lên xe không cả quay lại gật đầu chào Năm Hồng. Hai Độ như một cái bóng nịnh bợ hấp tấp chạy theo. Thực ra Ba Hoàng không đến đây dẹp đám lính. Gã đang bực, đang khó chịu trong lòng, giống như người ta tức đái, chưa có chỗ thải, vớ đống cỏ rác, vậy là xả luôn. Đám lính chính là đống cỏ rác. Ba Hoàng bực tới mức quên chào cả Năm Hồng. Mọi lần, có chuyện buồn gã thường tới đây làm vài ly để được tán tỉnh và ngắm ngó bộ ngực mướt mát, cặp đùi căng, hai mông mẩy bó chặt trong chiếc quần may chật của người chủ quán. Biết Năm Hồng đa tình lại đã đến với già nửa đàn ông trong vùng, xổ ra phải một rổ cái thứ của quý mà mỗi lần ngà ngà men, nửa nằm nửa ngồi trên chiếc ghế tựa, lim dim mắt nhìn cái cơ thể mẩy lẳn gợi cảm của người đàn bà này, cái vật kề bụng dưới cứ nóng ran và đầu óc lại quay đảo trong những tưởng tượng thân xác... Gã coi đó như những phút thư giãn, nhằm lấy lại thăng bằng. Nhưng hôm nay Ba Hoàng không chỉ buồn mà đang tức, đang hận, đang rối trí. Gã không muốn gì cả, chỉ thấy cáu giận... Mấy ngày nay dồn dập những chuyện không hay. Cuộc hành quân lên núi ẩn thất bại. Du kích lộng hành ở làng Cát. Nguyễn Xấn bị giết. Lại còn chuyện Tám Phụng nữa chớ. Mẹ khỉ, chẳng rõ sao thằng cha bỏ Cộng sản theo Quốc gia này cứ khật khờ hệt cái bóng không hồn, hỏi gì cũng gật, gật rồi bất chợt ngoác cái mồm rộng như mồm cá ngão ra nhăn nhở cười. Có lúc cười to đến phát ho, kéo theo cả rắm rít. Hắn muốn gì nữa chớ? Quốc gia không chỉ tha mạng sống, còn đối xử như khách, cho ăn ngon, cho mặc đẹp, cho chỗ ở đàng hoàng, lại có lính gác cửa chẳng khác gì nhà tướng Long nơi Tuy Hoà. Vậy mà lão cứ héo quắt, da mặt bủng xanh như cái lá khoai môn bị mấy bà bán cá ghé đít chuầy chòa ngồi cho nhàu nhĩnh. Còn đôi mắt lúc lóe lên tia nhìn hoảng loạn, rồi giáo giác nhìn ra xung quanh; lúc lại lờ đờ, thiếu sinh khí như kẻ đã nằm trong quan tài... Có người bảo rằng lão bị ma ám. Ba Hoàng không tin. Nếu có ma thật Ba Hoàng đã bị vật chết lâu rồi. Xóm dưới cuối làng Cát có một chốn được coi là linh thiêng, đó là đền Cả. Ngôi đền giáp Mả Ma này xây từ bao giờ chẳng ai hay, thờ ông tướng cụt đầu có công đánh giặc từ xa xưa, nghe nói rất ứng nghiệm. Ai có việc gì uẩn khúc, oan ức đến đó cầu khấn đều được giải. Thậm chí nhiều người chết mười sống một đến xin quẻ, về nhà đốt giấy hòa vào nước uống thay thuốc, đều khỏi. Vậy mà Ba Hoàng đã đầu têu bọn trẻ trong làng làm một việc động trời. Chính ngọ, bọn ôn dịch này, dân làng Cát sau đó gọi chúng như thế, dám vác búa ra đập tượng ông hộ pháp canh cửa đến vụn tơi. Hay tin, Trần Nhũng sợ xanh mặt, chân tay rụng rời, nói không ra lời, vật xuống tựa người cảm gió. Chỉ một mống con trai, phen này chắc mất. Mà tại sao cái thằng trời đánh này đổ ngu đổ dại ra vậy chớ. Rầu ruột quá!... Có người mách phải sắm lễ tạ tội suốt trong ba ngày. Trần Nhũng sợ hãi làm theo. Đêm thứ hai, Ba Hoàng đi đánh trận giả ngoài bãi dương về, đói bụng, liền lẻn vào, trèo lên bệ thờ vơ hết hoa quả, xôi oản ra chia cho đám trẻ. Ăn xong chúng còn thi nhau đái cầu vồng vào sân đền xem đứa nào đái cao, đái dài nhất. Vậy mà Ba Hoàng cứ sống nhăn nhăn cho tới bây giờ... Chẳng có ma nào hết, nếu là ma thì kẻ đó chính là Tám Phụng. Nhiều lúc thấy lão nghệt ra như gà mái rặn đẻ rồi phá lên cười ngặt ngẽo, sau đó ôm mặt khóc hu hu, miệng lảm nhảm “ác địa, ác địa”, Ba Hoàng cũng hoang mang: hay chính lão là ma? Tám Phụng ma hay người mặc xác lão, nhưng hắn đã khiến Ba Hoàng và Hai Rạng bất

đồng. Có lần viên đại úy đề nghị:

– Khử thôi, Tám Phụng hết tác dụng rồi.

Hai Rạng không những không nghe, còn cự nự:

– Quốc gia khác Cộng sản chỗ đó. Không được vắt chanh rồi bỏ vỏ, dẫu sao ông Tám đã giúp ta rất nhiều việc.

– Không khử thì để lão tự do.

– Ra khỏi đây Tám Phụng lập tức bị Cộng sản làm thịt, như vậy ai còn muốn về với chính nghĩa quốc gia?

Ba Hoàng ấm ức, nhưng cũng rõ mình đuối lý, nên im lặng. Song, cuộc trò chuyện sáng nay với Hai Rạng mới thật sự khiến gã khó chịu. Viên đại úy không mảy may nghi ngờ Hai Rạng chểnh mảng trong cuộc chiến tiễu trừ Cộng sản. Hơn ai hết gã rõ ý thức triệt để phụng sự lý tưởng Quốc gia của viên thiếu tá. Không có mối thâm thù truyền kiếp từng bị Cộng sản cướp phá nhà cửa tịch thu đồ đạc ruộng vườn như gia đình gã, Hai Rạng theo Quốc gia một cách tự giác trên cơ sở niềm đam mê muốn xây dựng một xã hội tự do, bác ái, vì con người cần lao. Nhưng nhược điểm của Hai Rạng là quá nhu nhược, quá tin người bởi vậy, theo Ba Hoàng, đã đánh giá sai Cộng sản và thiếu cảnh giác. Sáng nay trong phòng làm việc của Hai Rạng, Ba Hoàng có ý nghi ngờ nguyên nhân thất bại của cuộc hành quân lên núi ẩn, đã tâm sự:

– Cả một kế hoạch hành quân bài bản, được tạo dựng trên cơ sở những phân tích tình báo chuẩn xác, vậy mà đã diễn ra theo một kịch bản được khớp nối như thể đôi bên có duy nhất một bàn tay đạo diễn... Thật không hiểu nổi.

Hai Rạng không những không thông cảm còn trách cứ:

– Không có gì khó hiểu! Lỗi là ở CIA các ông. Các ông nắm tình hình không chắc, lại quá tự tin.

Ba Hoàng vẫn nhã nhặn:

– Tôi lại có ý nghĩ khác, thưa thiếu tá. Tôi đồ rằng rất có thể bàn tay Việt Cộng đã thò vào cạnh sườn chúng ta.

– Đại úy mắc bệnh nghề nghiệp, hoặc bệnh hoang tưởng rồi. - Hai Rạng nhìn Ba Hoàng và giễu.

– Bệnh nghề nghiệp, vâng, có thể... Một kế hoạch bí mật tới vậy mà Việt Cộng vẫn biết trước, thậm chí biết rất chi tiết, biết rất cụ thể, từ lực lượng đến ngày giờ xuất quân và đã khôn ngoan lừa chúng ta,

làm cho chúng ta bị lỡm, bị tưng hửng. Chúng ta dàn quân ra và đã đấm một quả đấm mạnh vào bị bông. Chẳng lẽ đó là một ngẫu nhiên?... Phải có ai đó, nhất định phải có ai đó biết kế hoạch, lấy được thông tin và tuồn ra cho Cộng sản.

– Nè đại úy, hay là tôi...?

– Thưa, xin thiếu tá đừng nặng lời. Tôi đâu dám hồ đồ tới mức ấy. Lòng trung thành của thiếu tá đối với chế độ, hơn ai hết tôi là người rành chớ.

– Hay là cô Tư Nhâm? - Hai Rạng làm bộ nghiêm - Nghe nói lâu nay đại úy vẫn cho người theo sát cô ấy? Cần gì đại úy cứ hỏi tôi nè, theo chi cho mệt. Tôi rành Tư Nhâm như rành tôi vậy.

– Thưa thiếu tá, nhiệm vụ của tôi là...

– Đại úy chớ độc quyền yêu Quốc gia nghe. Chính thể này không phải chỉ có Ba Hoàng biết bảo vệ.

Ba Hoàng uất tím mặt, gã ra khỏi phòng, vẫy Hai Độ. Hai thầy trò lên xe... Và đám lính ở quán Năm Hồng đã tội nghiệp làm bia để Ba Hoàng xả uất ức.

– Thưa, về doanh trại? - Hai Độ ướm hỏi hỏi khi chiếc xe gần tới Lân Cồ.

– Về nhà tôi!

Hai Độ đánh vô lăng, chiếc Jeep cua nhẹ, rẽ vào con đường nhỏ, và cuối cùng dừng lại trước ngôi nhà có sân trồng nhiều hoa lý.

– Ba về! Ba về! - Hai đứa nhỏ, một bé trai chừng mười tuổi, bé gái chừng tám tuổi từ trong sân hớn hở ào ra đón.

Ba Hoàng nhảy xuống, vui vẻ bế bé gái vào lòng, dắt bé trai đi cạnh. Bà giúp việc từ trong bếp bước tới:

– Cậu đã về! - Bà chào, người hơi cúi xuống, khuôn mặt tỏ sự lễ phép, cam chịu.

– Nhà tôi đâu? - Ba Hoàng hỏi.

– Dạ thưa, mợ có dặn lại rằng trưa nay không về. Mợ có việc vô Nha Trang mấy hôm.

– Nha Trang?

– Ba ơi, thiếu tá Tư Sum từ dưới đó đưa xe về rước má đi. - Đứa con lớn nói thêm.

– Má đi công chuyện đó mà... - Ba Hoàng trấn an con trai, cũng là để trấn an mình rồi quay về phía Hai Độ. - Hai giờ chiều đón tôi vô doanh trại nghe.

– Dạ!

Mâm cơm đã được người giúp việc dọn sẵn. Ba Hoàng thay quần áo và cùng hai con ngồi vào bàn. Gã làm một cử chỉ âu yếm, thơm nhẹ lên má cậu bé, lại thơm lên má cô bé.

– Chỉ còn hai đứa là niềm vui của ba đó... Các con ăn ngoan, ăn nhiều cho chóng lớn nghe.

Ba Hoàng rất yêu con. Gã cho rằng tài sản lớn nhất ở đời là con cái, bởi vậy dẫu không bằng lòng với thói trăng hoa của vợ, lâu nay gã đã gắng chịu đựng, và cho qua nhiều chuyện tằng tịu của người đàn bà này với đám sĩ quan trên phố. Ba Hoàng không muốn có điều gì ảnh hưởng đến hai đứa nhỏ. Nơm nớp như vậy nên gã thường nói với vợ:

“Em gian díu với ai mặc lòng, nhưng không được để bọn trẻ buồn bỏ học đó”. “Bộ chỉ anh biết thương con sao?” - Vợ gã đáp. Ba Hoàng coi câu trả lời của vợ như một thỏa ước ngầm giữa hai người. Ai ngờ hôm nay thị công khai đi với người tình trước mặt con. Ba Hoàng cố thanh minh với lũ nhóc rằng má đi có việc, nhưng gã rõ vợ đi đâu và đi làm gì... Tối qua, lúc đã khuya khuya, người đàn bà xoay người

sang và bảo:

– Em cần một số tiền...

– Quần áo, giày dép và mỹ phẩm em khuân về như vậy chưa đủ? - Gã nói.

Người đàn bà vùng dậy, bước tới bên của sổ, nhìn ra:

– Anh không nghĩ rằng đàn ông luôn để cho vợ hỏi xin tiền là đáng xấu hổ sao? Gã uể oải đáp:

– Anh mệt mỏi với cách tiêu pha của em rồi. Người đàn bà quay nhanh về phía Ba Hoàng:

– Vậy hả? Đáng ra anh nên nói sớm hơn.

– Em cần bao nhiêu? - Ba Hoàng xuống nước. Gã lo sợ một cuộc to tiếng khiến các con thức giấc.

– Hai ngàn đô!

– Có nhiều quá không?

– Đàn bà có những nhu cầu mà người đàn ông chân chính không nên xía vô.

Ba Hoàng thua, nhưng bây giờ thì gã rõ đó là món tình phí của vợ dành cho thiếu tá Tư Sum trong vài ba hôm hai người nghỉ mát nơi những biệt thự sang trọng ven biển Nha Trang. Người đàn bà này đã quá táo tợn và bất chấp... Ba Hoàng chẳng lạ gì Tư Sum. Hắn là tên Sở Khanh có tem mác chuyên đi lừa đàn bà và moi tiền của họ. Điều không thể giải thích là chẳng hẳn những con cái bị lão nhử vào tròng không ý thức được điều ấy, nhưng lão có ma lực bùa phép gì đó mà hễ người đàn bà nào đã dính vào, khó có thể rời. Họ tự nguyện biến mình thành nô lệ, đồ chơi, trò tiêu khiển và sẵn sàng đi lừa những gã đàn ông dại gái khác để cung phụng lão... Một hôm Ba Hoàng nói với Tư Sum:

– Bỏ cách móc túi đàn bà đi. Hãy làm thằng đàn ông.

Lão cười rất mãn nguyện:

– Đàn ông đích thực là biết làm cho đàn bà sướng, họ theo. Bọn lại cái sao gọi đàn ông!

Ba Hoàng giật mình, gã nhớ đã có lần người đàn bà gã kêu là vợ cũng đã nói với gã một câu tương tự. Đó là hôm Ba Hoàng đi nhậu trên Tuy Hòa về, và đã không kịp thay quần áo, đổ xuống giường tựa cái giẻ rách, ngủ thiếp. Đang đêm chợt gã giật mình: vợ gã bỗng dưng chồm dậy nhanh như mèo vồ chuột và để nguyên quần áo ngủ, tuông ra khỏi nhà. Chân nam đá chân chiêu, Ba Hoàng vội vã đuổi theo:

– Anh xin lỗi... chúng nó chèo kéo...Người đàn bà quay khuôn mặt lúc bấy giờ nóng ran như người sốt cao, nhìn vào mắt gã và nhiếc:

– Anh là đàn ông hay loài lại cái?

Lại cái, sao Ba Hoàng có thể là loài lại cái! Chẳng hẳn mỗi lần ra quán Năm Hồng, mới khẽ chạm mắt vào cánh đồng cỏ chắc chắn là phì nhiêu nơi cái ngã ba mênh mông nhiều liên tưởng của người đàn bà ấy, Ba Hoàng đã rạo rực nóng ran khắp trên dưới sao! Vợ gã đòi hỏi điều gì nữa chớ. Tiền không thiếu, chiều hết cỡ, và so với đám sĩ quan cùng lứa gã là một đực rựa khỏe mạnh... Tư Sum hơn ở điểm nào?... Nếu không vì hai đứa con, Ba Hoàng đã phá tan cái gia đình này, lành làm gáo vỡ làm muôi và vào doanh trại sống như Hai Rạng từ lâu... Điều trớ trêu là hình như vợ gã biết yếu điểm đó nên càng làm già...

– Anh hứa... - Ba Hoàng dìu vợ vào nhà, dịu giọng.

– Đã từ lâu anh không coi tôi là một con cái nữa... Tôi đi chạ, đừng oán nghe...

Vợ gã có thể đi chạ, chạ với bao nhiêu con đực khác cũng được, Ba Hoàng chai với điều ấy rồi. Ba Hoàng ngấm ngầm chấp thuận. Với nữa, người đàn bà đó đi với trai thì người đàn ông này đi với gái. Có tiền khắc có của lạ. Nhưng lấy tiền gã gom góp nhằm nuôi con và mua tương lai của chúng để bao trai, Ba Hoàng quyết không để yên... Nhiều người bảo rằng với lính, và cấp dưới quyền Ba Hoàng là một sĩ quan cứng rắn, gã gia trưởng, quyết đoán, nóng nảy và bởi vậy chớ dại dột làm điều gì trái ý để viên đại úy phải khùng. Khi đã cáu giận là bất chấp, trời lúc đó cũng nhỏ. Còn với Việt Cộng, Ba Hoàng có nhiều thâm thù nên hết sức hằn học, nhẫn tâm, gã không mảy may do dự, không chút chùn tay xả súng vào đầu bất cứ kẻ nào gã cho là Việt Cộng hoặc liên quan đến họ. Phương cách ứng xử của Ba Hoàng phù hợp với ý định của quốc gia: giết nhầm còn hơn bỏ sót... Nhưng điều khó hiểu là trong gia đình, gã là kẻ hèn kém, một người chồng nhu nhược, biết vợ cắm sừng lên đầu vẫn cay đắng nhẫn nhịn chấp nhận, thậm chí còn coi đó như quy trình tất yếu của sự sống: để đạt đượcđiều gì đấy ắt phải trả một cái giá nhất định... Đám sĩ quan rỉ tai nhau rằng Ba Hoàng cố tình làm thấp mình xuống chỉ vì con cái. Họ có lý. Gia tộc họ Trần toàn độc đinh. Ông nội Ba Hoàng chỉ sinh được một mình Trần Nhũng. Lấy ba vợ, nhưng cộng con chính thức lẫn đám ngoài giá thú Trần Nhũng cũng chỉ có Ba Hoàng, nói như lão hồi còn sống, trời cho để nối dõi tông đường. Và đến lượt Ba Hoàng, gã cũng chỉ một trai một gái. Phải chăng bởi vậy gã muốn yên phận mà giữ lấy dòng giống họ Trần?

– Hai con ăn nhanh để dì Tư đưa tới trường nghe. Ba Hoàng nói rồi bước ra phòng khách.

Chiều đó Hai Rạng đến chỗ làm việc tìm Ba Hoàng. Hai khuôn mặt đã dịu lại. Đúng hơn là viên thiếu tá có lẽ nhận ra điều gì hơi quá lời trong cách ứng xử sáng nay nên muốn dàn hòa.

– Tôi muốn bàn với đại úy cách ứng phó ở làng Cát. - Hai Rạng vào chuyện. - Đây là việc khó... Để Việt Cộng làm chủ làng Cát, tức vành đai chiến lược bao quanh quốc lộ Một bị lỗ thủng lớn. Và vết thủng ấy rất có thể theo phản ứng đô-mi-nô loang rộng ra... Điều quan tâm không chỉ ở chỗ du kích Việt Cộng đêm đêm vẫn lẻn về, mà bằng những thông tin thu góp được và bằng trực giác của mình, tôi linh cảm như họ đang sắp có một ý đồ gì đấy, có thể là chuẩn bị tấn công vào Lân Cồ, cũng có thể đánh giao thông trên đường Một...

– Thiếu tá có những nhận định rất chuẩn xác... Tôi cũng cảm thấy như vậy.

– Nhưng đấy là việc lớn, sẽ bàn kỹ sau... Tôi tới là muốn nói chuyện khác. Tôi muốn đại úy hiểu hơn về quan hệ giữa tôi và Tư Nhâm... Có thể đại úy cho rằng mối tình đó không bình thường. Phải, không bình thường theo lối nghĩ một chiều. Tôi yêu Tư Nhâm bằng tình cảm thật của mình như bất cứ người đàn ông chân chính nào khác. Cô ấy chưa ưng thuận có thể do mặc cảm, và cũng có thể do quan niệm về cách nhìn nhận các mối quan hệ xã hội... Tôi thật không hiểu tại sao người Việt lại hận thù người Việt và phải một mất một còn để rồi những người như tôi, như Tư Nhâm trở nên xa lạ, khách sáo mặc dù không phải kẻ thù. Mỗi lần tới nhà chơi, cô ấy kêu tôi bằng thiếu tá, ngỡ như hiển nhiên, nhưng xét kỹ thấy đau lắm. Sao Tư Nhâm không thân thiện, vồ vập gọi tôi là anh Hai như thời còn bé chớ? Cuộc chiến này có cái gì đấy hết sức trớ trêu, đại úy thấy vậy không?

– Đó là một trong những thuộc tính của chiến tranh...

– Đúng, chiến tranh kéo theo nhiều mất mát! Nhưng tại sao cứ nhất thiết có chiến tranh? Phải chăng bởi ông Các Mác nói rằng lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp nên Cộng sản đã bám vào đó như một liều thuốc duy nhất, một bảo bối tuyệt hảo để ham hố phát động cuộc chiến này, coi như quy luật phát triển?

– Họ gọi đó là cuộc cách mạng giai cấp... Tôi không bao giờ quên gia đình tôi ba đời bị Cộng sản giết hại, thưa thiếu tá...

– Tôi chia sẻ tâm trạng ấy của đại úy... Xin lỗi, chúng ta lại lạc đề rồi. Tôi đang nói về mối quan hệ giữa tôi và Tư Nhâm... Tại sao tôi yêu người đàn bà đã có một con đó, lại là một đứa con, người làng Cát gọi là con hoang?...

– Thiếu tá chắc bé Thảo là đứa con ngoài giá thú của Tư Nhâm?

– Vậy đại úy không rành chuyện sao?

– Thưa thiếu tá, thiếu tá vẫn chẳng nói cô Tư là người đoan trang và thiếu tá mến cô ấy còn bởi lý do đó...

– ý đại úy là... Nhưng người ta cũng có thể lầm lỡ chớ...

– Và nhầm lẫn...

– Nhầm lẫn là bản tính con người. Và thích sinh sự cũng là bản tính con người, Fơ - Rớt gọi đó là bản năng xâm kích, tệ hơn con người còn coi sự ấy như một nhu cầu... Kỳ thiệt! Nói như vậy là muốn kể chuyện này: làng tôi có hai nhóm người sinh sống, một nhóm theo lương, một nhóm theo đạo. Họ chẳng thân thiện gì. Luôn hiềm khích và tìm cơ hội tiêu diệt nhau. Chuyện ấy ảnh hưởng đến bọn nhóc chúng tôi... Trẻ con đạo và trẻ con lương thường vót những chiếc cọc nứa thiệt dài thiệt nhọn và đánh nhau suốt. Một lần tôi bị đám nhỏ bên đạo rượt, bèn chạy vô nhà Tư Nhâm. Cô ấy luống cuống bắc thang để tôi trèo lên trốn trên ràn trâu. Khi tụi trẻ thù địch với tôi ào tới, Tư Nhâm sợ hãi chạy ra, hớt hải dang hai tay cản lại nhưng đôi mắt lại ngoái nhìn vào chỗ tôi trốn, miệng la to: anh Hai Rạng, anh Hai Rạng không có ở đây! Tức cười, làm vậy khác chi báo cho chúng biết tôi đang nằm run rẩy trên ràn trâu. Giữa tôi và Tư Nhâm có rất nhiều kỷ niêm... Gặp lại nhau là duyên phận... Với nữa... Tư Nhâm đẹp chớ, hả?

Ba Hoàng đưa mắt nhìn Hai Rạng. Tư Nhâm là một phụ nữ đẹp, Ba Hoàng sao không hay! Người đàn bà này vừa rực rỡ vừa có nét duyên thầm, một nét đẹp thuần khiết, đằm lắng. Nếu Năm Hồng là loại cô nhắc mà dân nghiền thoáng ngửi hơi đã thèm, cuống quýt muốn uống ngay thì Tư Nhâm hấp dẫn như loại vang nho Pháp, không xốc không nồng, không làm cho người ta khùng nhưng nếu uống sẽ ngấm, sẽ say lâu và khó bỏ. Chẳng một thời Trần Nhũng háo khát đi mòn con đường dẫn đến ngôi nhà nơi rìa xóm đặng tìm kiếm chút hương trời đó sao! Và lấp ló đâu đấy trong đầu Ba Hoàng không phải không có lúc đã từng thoáng những tưởng tượng thèm muốn với người đàn bà này... Đàn bà vẫn cứ là đàn bà và họ mãi mãi làm khổ đàn ông! Nhưng phải có lý trí. Phải, lý trí. Ba Hoàng cho rằng Hai Rạng thật thà, thiếu sự nhạy cảm cần thiết và dễ bị lợi dụng.

– Xưa nay mỹ nhân đã làm sụp đổ bao triều đại. - Ba Hoàng nói bóng gió - Đúng vậy không, thiếu tá?

Hai Rạng chợt cười to:

– Đại úy coi tôi là vua sao? - Hai Rạng đùa nhưng trong giọng nói nhè nhẹ đó ẩn chứa cái gì như thể sự răn đe. - Tuy vậy, ai đụng đến Tư Nhâm là coi thường Hai Rạng này nghe... Nếu đại úy thấy chuyện của tôi mệt mỏi rồi, qua chuyện khác. Ta quay về với mối hiểm họa của Cộng sản trong vùng...

« Lùi
Tiến »