Sông Thạch Bàn như một dải sáng lờ nhờ, hắt lên không trung. Mặt nước bình lặng, thơi thả ngửa ra hứng sao từ trời rơi xuống phởn phơ tựa ả đàn bà nhỡ thì mãn nguyện sau cuộc tình. Đêm se lạnh. Gió lặng. Phía bờ sông nơi có con đường nhỏ như sợi chỉ mảnh mai vắt qua nhiều bụi rậm ngoằn ngoèo hướng lên núi ẩn, một con xuồng nhỏ đơn côi kín đáo lặng lẽ cắm sào né mình trong cỏ rậm. Ông Năm Bào thu lu ngồi nơi mũi xuồng đôi mắt chong chóc hướng về phía con đường. Trước cảnh sông nước tiêu điều đêm khuya thanh vắng, trông ông có cái gì phiêu lãng bí hiểm từa tựa các hảo hán Lương Sơn Bạc thời xa xưa bên Tầu chờ đón khách. Ông cắm sào đợi từ chập tối. Thằng Thành hẹn ông đón vào cuối giờ Dậu mà mãi tới lúc này chắc đã quá giờ Tuất vẫn chưa thấy? Việc quân sự lại làm ăn kỳ cục vậy sao! Trên danh nghĩa mấy huyện ven biển Phú Yên đã giải phóng, chính quyền làng xã được gây dựng, cán bộ có thể từ cứ trở về hoạt động công khai trong mỗi xóm, nhưng nhiều nơi vẫn là vùng tranh chấp, ban đêm cách mạng làm chủ, ban ngày quyền ấy thuộc về Quốc gia, làng Cát ở trong tình thế đó, nhưng ai rõ đêm nay trong các bờ bãi không có lính Ba Hoàng túa về vây ráp rình phục?
Ông Năm thấy sốt ruột. Định nghển lên quan sát thì từ bụi rậm trước mặt có tiếng tù và thổi rung rúc tựa cú kêu.
– Thôi, khỏi làm hiệu nữa mày. Xuống đi, trễ rồi! - Ông Năm đứng dậy, nói vọng lên.
Thành từ bụi cây trệu trạo bước tới:
– Chú nhận ra cháu? Không đánh ám hiệu mà đã lên tiếng, mất cảnh giác nghe.
– Được Sáu Sinh cho vô đội võ trang, vô chủ lực nên làm phách, định dạy khôn già này nữa sao?... Có mấy người?
– Một tiểu đội võ trang và một cán bộ bự. Qua được chục người không chú?
– Biểu họ xuống lẹ lên! Tao chờ hoài rồi.
Thành quay trở lại, vẫy tay. Một lúc sau gần chục người lẳng lặng như những cái bóng bước xuống. Chiếc xuồng chòng chành. Ông Năm đứng cuối mũi cố gìm tay chèo. Thành vội nhảy xuống nước, hai tay bám mép xuồng phụ giúp.
– Đủ chưa? - Chờ mọi người ngồi yên, ông Năm hỏi.
– Đi thôi, chú! - Thành nói và chống tay xuống mạn xuồng, hất mình lên.
Chiếc xuồng nhẹ nhàng sang sông. Tiếng nước va vào mạn rất nhẹ. Người Thành kêu là cán bộ bự ngồi giữa, chờ cho xuồng ra xa bờ mới hỏi:
– Trận chống càn vừa rồi du kích làng mình diệt được nhiều địch không chú Năm?
– Ai hỏi đó? Như giọng Sáu Sinh phải không? - Ông Năm vẫn hướng về phía trước, tay chèo rất dẻo, hỏi lại.
– Coi bộ chú còn tinh tường ha!
– Trời đất, chẳng lẽ lẫn tới mức đó rồi sao? Về mà lặng tiếng vậy?
– Đâu có lặng, chú. Làng mình xã mình giải phóng rồi còn gì phải lặng nữa. Không gặp chú đây thì dịp này cũng có ý ghé qua nhà thăm.
– Vậy hả? Cám ơn đồng chí Bí thư nghe... Nhưng giải phóng rồi có cái sướng mà cũng có nỗi cực của giải phóng.
– Cực sao chú Năm? Mình làm chủ mà.
– Phải, được làm chủ, được tự do đi lại chút chút... Nhưng phải chạy giặc liên miên. Dăm ba bữa nửa tháng thằng Ba Hoàng cho lính về càn, lại lùng lại sục. Nhà cũ chúng đốt. Dựng cái khác lên, chúng lại đốt... Cực là cực chỗ đó. Giá chi mấy đứa du kích có đủ súng đạn thì đỡ.
– Cũng sắp sắp rồi chú Năm. - Thành buột miệng tham gia.
– Sắp là bao giờ? Tao nghe nói vậy hoài hoài. Gặp, đứa nào cũng dẻo miệng động viên bảo chờ, gắng chờ. ừ, thì chờ. Chờ cho tới lúc tao xuống mồ luôn...
Sáu Sinh cười. Một lát ông nói:
– Coi bộ chú Năm nóng lòng ha.
– Sao không nóng... Có súng đạn bọn Hai Rạng, Ba Hoàng mới đỡ làm càn. Có súng tao bảo với Mười Bàng một câu và nhảy vô du kích liền.
– Bây giờ chú cũng là du kích rồi chớ bộ... - Sáu Quyên ngồi cạnh Sáu Sinh, cô tham gia.
– Du kích chi? Du kích chẳng có súng tao không màng... - Năm Bào đáp, một lúc sau hạ giọng hỏi. - Dịp này sắp đánh lớn hay sao mà đồng chí Bí thư thân chinh về làng Cát ta?
– Quan trọng hơn cả đánh lớn đó chú Năm. - Thành lại ngứa ngáy mồm, loe xoe. Cậu chàng định nói thêm gì đó nhưng Sáu Quyên ngồi cạnh đã kịp giật giật tay áo, biết lỡ lời nên anh chàng nỏ miệng ngồi im.- Tao cũng ngửi thấy có cái gì đó cựa quậy rục rịch, nhưng chưa nghĩ ra... Nhưng làm gì cũng cho Năm Bào tham gia với nghe, Sáu Giáo. Đừng thấy lão này già mà hất ra ngoài, tội nghiệp.
– Chú chẳng đang tham gia đó sao?
– Nhì nhằng cái chân chèo xuồng này?
– Sắp tới cần rất nhiều xuồng và cũng cần rất nhiều người biết chèo xuồng đó chú Năm.
– Vậy sao? Nhưng chèo xuồng chạy lính Rồng Biển của Ba Hoàng càn lão này không hám nghe... - Ông Năm nói tiếp. - Chẳng rõ đồng chí Bí thư đã rành chuyện này chưa, làng Cát có mấy người chịu không thấu cảnh nay địch ruồng mai địch bố đã bỏ làng đi...
– Số đó nhiều không, chú Năm?
– Xã đội trưởng Mười Bàng bỗ bã nóng nảy vậy, nhưng nó nói đúng phóc.
– Mười Bàng nói sao?
– Tôi phô ra nhưng Bí thư không được phê bình nó tội nghiệp.
– Nói phải củ cải cũng ừ, sao lại phê bình, chú Năm...
– Vậy được. Mười Bàng nói rằng ai sợ địch mà bỏ làng đi lên Lân Cồ là phản bội, là... nói tục chút nghe, là đồ bú cặc cho Ba Hoàng.
Sáu Sinh bật cười to. Mọi người trên xuồng cùng cười theo.
– Mình là người gốc làng Cát thì dù khổ mấy cũng ráng trụ lại mà giữ lấy mồ mả ông bà chớ. Trốn chạy thì sao gọi là người nữa. Tôi nói vậy trúng chớ, ông Bí thư?
– Cũng trúng phóc như Mười Bàng luôn...
– Vậy nói tiếp nghe. Trong làng không ít kẻ dát chết. Nhưng cũng có người, ví như nhà Tư Nhâm chẳng hạn, cô này chuyển lên giáp thị trấn Lân Cồ mua nhà ở vì lý do khác. Người làng Cát nói rằng Tư Nhâm đang ở kỳ ngứa ngáy động đực nên lên đó cho gần lính Rồng Biển. Con người hư thân mất nết ấy là dân ngụ cư ọt ẹt, lang chạ đâu, mặc xác. Cho Hai Rạng hay Ba Hoàng làm đực, không chấp... Nếu con gái nhà này tao xé ra từng mảnh, hoặc dìm sông lâu rồi...
Sáu Sinh thôi cười. Có cái gì nằng nặng bỗng chốc chèn ép trong đầu. Ông ngồi im. Đôi mắt hướng về phía làng Cát thoáng chút hãi sợ thấp thỏm giống cái nhìn của kẻ chờ đợi tòa tuyên. Ông rõ rằng khi bố trí để Tư Nhâm chuyển lên xế Lân Cồ hoạt động là thêm một lần nữa thất hứa, làm khó con người này và đẩy chị vào tình thế trớ trêu, nghẽn tắc...
Trước đó ông đã phải cân nhắc tính tới tính lui, đặt ra nhiều phương án, nhưng cuối cùng bất lực. Vẫn biết trong chuyện này có cái gì vương vướng chưa ổn, nhưng hoàn cảnh đặt vào tình thế cấp thiết không cho phép xử lý theo hướng khác... Làng Cát đã giải phóng. Trên cũng đã thông báo ngày một ngày hai tàu chở vũ khí sẽ vào. Nắm được mọi hoạt động của tiểu đoàn Rồng Biển để kịp ứng phó và quyết định thời gian tàu cập bến là điều hệ trọng bậc nhất lúc này. Nhiệm vụ đó ngoài Tư Nhâm và A.5 ông biết trông cậy vào ai?... Lý là vậy nhưng còn tình? Tư Nhâm đã đưa con về quê cho ngọai với hy vọng sẽ được ra cứ, mà đành lần lữa. “Chú biết mày không trông chờ quyết định này... Nhưng...” “Chú ơi, con ráng được...” Sáu Sinh bối rối, thoáng ngạc nhiên. Không phải ông an ủi Tư Nhâm mà Tư Nhâm đang động viên, gỡ bí cho ông. “Mười năm nay con vẫn vậy, gắng thêm một thời gian nữa chẳng sao mà. Con sẽ tìm cách ứng phó với Hai Rạng. Con người ấy có văn hoá, đó là thế mạnh cũng lại là điểm yếu của anh ta”. Khuôn mặt ông Sáu giãn ra, lắng chút cảm động: “Trời ơi, nếu mày nghĩ được vậy chú mừng lắm... Con có thấu nỗi khổ tâm của chú không, Tư?”. “Con hiểu chớ... Chú áy náy hoài làm con buồn đó. Công việc ấy là nhiệm vụ của con mà. Có chú, có Sáu Quyên luôn bên cạnh là con an tâm rồi... Con nhờ chị Năm Hồng tìm giùm nhà trên ấy nghe. Chị Năm quen biết rộng.” Tư Nhâm nói, tỏ ra bình thản để người chỉ huy yên lòng nhưng chẳng mấy khó khăn ông cũng nhận ra trong giọng cô và cả trong đôi mắt đang hướng về phía ông vẫn thoáng ẩn nỗi buồn vời vợi... Thời gian không ủng hộ. Song Tư Nhâm đã khôn khéo, chủ động giải quyết những việc ông giao nhanh hơn ông tưởng. Một tuần sau trận càn của lính Rồng Biển vào làng Cát, người dân ở đây thấy Tư Nhâm sợ hãi hơ hải gồng gánh “chạy nạn” lên giáp Lân Cồ. Nhiều người bỉu môi khinh miệt lườm ngang, nhưng rồi nói như ông Năm, mặc xác, còn nhiều việc sống chết bày ra hàng ngày đáng bận tâm hơn là xì xầm về chuyện người đàn bà ngụ cư... “Chú ơi, nghĩ cảnh chị Tư cũng thấy tồi tội... Từ hôm chuyển nhà lên gần Lân Cồ, Hai Rạng càng năng tới. Y hí hả, vui lắm...” Một bận Sáu Quyên ái ngại nói, và ông đã gắt lên: “Biểu không bàn tới việc đó nữa!”, nhưng lòng ông rối như canh hẹ. Nếu chẳng hay có sự gì xảy ra ngoài mong muốn, ông có lỗi với Tư Nhâm đã đành còn có lỗi với người đang ở xa... “Con người ấy có văn hoá, đó là thế mạnh cũng là điểm yếu của anh ta...” Sáu Sinh chợt thở dài. Thôi, trước mắt đành tạm bíu vào sợi tơ nhện mỏng mảnh ấy làm phao mà toài qua đận này vậy...
Con xuồng cập bờ. Bí thư Ba Tánh và xã đội trưởng Mười Bàng thu mình ngồi đợi vội chạy ra. Mọi người cùng nắm tay nhau.
– Mạnh chớ, anh Sáu? Nghe tin anh về mừng quá trời! - Mười Bàng bóp mạnh bàn tay thư sinh của Sáu Giáo trong bàn tay thô ráp cứng quẹo của mình, hồ hởi.
– Mọi người đến đủ chưa? - Sáu Sinh hỏi.
– Mấy anh ở các huyện biết anh cùng tổ võ trang về phổ biến và xây dựng bàn đạp Vũng Rô đặng đón tàu từ miền Bắc chở súng đạn vô nên hồi hộp lắm! Thấp thỏm ngong ngóng Bí thư suốt từ chập tối tới giờ...
– Nè, hỏi trước chút, cần huy động chừng năm mươi người, làng Cát có đủ chớ?
– Anh coi nhẹ làng Cát rồi. Không chỉ năm mươi mà cả trăm người cũng có. Mới giải phóng nên bà con khí thế lắm...
– Huy động đông người mà vẫn giữ được bí mật không dễ nghe. Phải chọn những người ưu tú, có ý thức chính trị, có sức khoẻ để thành lập các đội dân công, nhưng phải tự lo lấy lương thực đó... Những điều kiện ấy làng Cát làm được không?
– Báo cáo đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ, chúng tôi làm ngon lành! - Ba
Tánh đáp.
– Đừng chủ quan nghe.
– Còn du kích thì sao, chưa thấy anh Sáu giao nhiệm vụ? - Mười Bàng hỏi.
– Du kích chớ sợ không có việc. Du kích là lực lượng nòng cốt. Phân khu quyết định rút trung đội du kích làng Cát kết hợp với bộ phận võ trang của Phân khu để thành lập đơn vị mới...- Phấn khởi ha... Nhưng xin anh Sáu nói kỹ hơn chút chút được không?
– Vào cuộc họp tôi phổ biến cụ thể...
*
Đêm chống chếnh. Sóng từ biển mài lên cát vọng tới nghe lao xao ầm ì như thể có trận mưa rào đang kéo tới. Về khuya gió thốc trên mái nhà hệt bầy cáo hoang hối hả tìm mồi lướt qua khiến những cọng lá dừa nước lâu ngày đã tơ tướp đập vào nhau phát ra âm thanh lạt sạt. Thỉnh thoảng từ cuối xóm, chỗ giáp Vũng Bầu mơ hồ nghe như có tiếng chim ăn đêm gọi bầy. Ngày trước, nơi đó dương xanh mướt mọc rậm rì như rừng, ban đêm các loại chim bay về trú ngụ, gần sáng vỗ cánh lào rào. Bây giờ đã không thế, họa hoằn lắm mới có đôi ba con quen đường đáo qua rồi như thể nhớ cảnh xưa vội vã kêu vài tiếng cheng chéc và hớt hải bay đi...
Mỗi lần có việc về làng Cát, tâm trạng Sáu Sinh rất lạ. Có cái gì đó vui vui, buồn buồn lại nhớ nhớ làm ông chộn rộn; chuyện xưa, chuyện nay đan cài dặm vá đến nôn nao. Nghĩa tình, nỗi đau, niềm hận và cả những điều riêng tư dẫu đã bị thời gian đẩy lùi đến mấy mươi năm vẫn canh cánh tiếc nuối xót xa trăn trở... Ngày tháng, chức vụ và vị thế chẳng thể đóng băng quãng sống cùng những kỷ niệm lúc nào cũng đau đáu đã thành máu thịt, mà thiếu thứ ấy cuộc đời trở nên khô khốc vụn tơi, đơn điệu.
Nằm trong ngôi nhà của Năm Bào đã trở thành chỗ đi lại quen thuộc nhiều năm nay, Sáu Sinh trằn trọc thao thức quay qua quay tới. Ông mông lung trong những ý nghĩ chắp nối lúc như dòng chảy liên tục của con suối Yên nơi núi ẩn, lúc rời rạc tựa cơm nguội phơi khô... Hận thù đời này qua kiếp khác triền miên và quyền lực hão đã cuốn cái làng nghèo nhách nhỏ bé chỉ cát và cát này vào guồng quay oái oăm trớ trêu nghiệt ngã, vô lý và vô nghĩa. Không ai thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn hãi hùng đó. Nó là chiếc xe lu kềnh càng mà thân phận mỗi con người chỉ là mầm cỏ, cái kiến bám trên đó...
Trời đã khuya lắm. Xa xa hình như có tiếng gà eo óc gáy sáng. Năm Bào cũng khó ngủ, bèn trở mình quay sang Sáu Sinh.
– Sao, trước đây sống chui rúc, khi ngủ cũng co ro nằm ẹp dưới hầm, nay được thảnh thơi nằm trên giường trên phản lại không chợp được mắt, phải chưa? - Năm Bào hỏi.
– Sáng sớm mai anh Năm đi cùng tôi ra bãi dương nghe...
– Ra bãi dương phải đi thiệt sớm đó. Lính Ba Hoàng sục sạo bất thường lắm. Muốn thắp hương cho Tư Đởn hả?
– Thím Tư ân nghĩa... Tôi mang ơn tình con người ấy nhiều như cát.
– Thắp hương cho ai nữa?
– Rồi qua mộ chị Hai Hậu nhà mình...
– Còn ai nữa? - Năm Bào gặng.
Sáu Sinh không đáp. Hai bàn tay đan lại làm gối để dưới gáy, đôi mắt mở to nhìn lên mái nhà lợp lá dừa nước lâu ngày đã ải. Một lát, ông hỏi lại:
– Hình như anh Năm có biết chuyện?
– Mụ nhà này và cô Ba Hương là chị em con dì con dà đó nghe. Hai Hậu là con người chị, Ba Hương là con người em...
– Chuyện đó tôi rành mà, anh Năm.
Sáu Sinh đổi cách xưng hô. Những lúc chỉ có hai người, chuyện trò mang tính tâm tình, Sáu Sinh thường kêu Năm Bào bằng anh. Gọi vậy đúng hơn, Sáu Sinh năm nay gần sáu mươi, Năm Bào chỉ hơn chục tuổi, coi như cùng thế hệ. Thấy bọn trẻ kêu Năm Bào bằng chú, ông quen miệng cũng gọi theo vậy thôi. Với nữa kêu Năm Bào bằng anh còn có nghĩa khác...
– Con dì con dà lại cách nhau cả chục tuổi nhưng Hai Hậu nhà này và Ba Hương quý nhau như hai chị em ruột. Chắc do hợp. Chuyện lớn chuyện nhỏ, chuyện gia đình, chuyện riêng tư đều rủ rỉ tâm sự với nhau...
Nghe Năm Bào nói, Sáu Sinh chợt hiểu ra rằng trong nhiều năm qua chắc Năm Bào, bằng cách nào đó đã hay chuyện tình nghĩa giữa ông và Ba Hương.
– Những điều ấm ách trong lòng nếu kể ra được cho người biết nghe, biết thông cảm cũng là cách trút bỏ, làm vơi vợi chút chút nỗi phiền muộn. - Năm Bào nói tiếp. - Hồi dì Ba lâm chung, người dì vời tới để nhắn gửi những lời cuối cùng là Hai Hậu nhà này... Số dì Ba khổ. Lấy được kẻ giàu có, của nả dư thừa nhưng tâm không an. Lúc chết vẫn còn những điều băn khoăn áy náy... Tội! Những chuyện dì Ba ôm nặng bọc giấu trong lòng, chỉ mở ra một lần cho Hai Hậu hay mãi sau này, khi mụ nhà này biết chắc bệnh tình mình khó qua mới lại kêu tôi tới, thều thả đứt nối kể lại cho nghe. Còn dặn mãi rằng phải giữ kín... - Năm Bào quay qua, chợt hỏi. - Vẫn nghe tôi nói đó chớ?
– Thời gian trôi đi nhanh thiệt, phải vậy không anh Năm? - Sáu Sinh đáp và nghĩ rằng chuyện Năm Bào đang nói cũng chỉ xoay quanh mối tình của ông và Ba Hương. Việc ấy đã lâu và có những điều được giữ kín chỉ trời biết, đất biết và hai người biết. Rồi trước khi qua đời, Hương có lẽ muốn thêm Hai Hậu biết nữa và sau đó người vợ đã trăng trối lại với Năm Bào... Bây giờ gặp Sáu Sinh, điều kiện thời gian thư thả chắc Năm Bào muốn nhắc tới sự biết ấy như một câu chuyện kín đã không còn bí mật...
– Hồi đứa con trai của dì Ba Hương lên hai tuổi, dì bị bệnh quái qủy gì đó không ai hay. Chỉ thấy quằn quại ôm bụng kêu đau. - Ông Năm say chuyện, kể tiếp. - Mấy cha xì xằng làm thuốc trong làng sờ sờ nắn nắn một lát rồi lắc đầu. Không còn cách chi khác, thằng chồng dì ấy đành cuống quýt đặt dì lên võng, kêu người khiêng lên Lân Cồ hi vọng vào nhà thương trên ấy... Đường xa nên mãi gần sáng người và võng mới rồng rắn tới ngã ba Lân Cồ, nơi ngày nay Năm Hồng mở quán nước. Lúc đó dì Ba đã đuối lắm. Dì làm hiệu dừng võng và phào phào nói rằng muốn gặp chị Hai Hậu. Mụ nhà này lúc ấy đứng ngay cạnh liền sà xuống. “Gắng lên nghe em, chỉ quãng nữa tới nhà thương rồi đốc tơ thăm bệnh cho.” Dì Ba run ró quờ tay tìm bàn tay mụ nhà này, đặt vào lòng, nói rất khẽ: “Em sắp đi rồi... Con em còn nhỏ dại... Em muốn nói với chị một việc và trông cậy cả vào chị... Chị ơi, cúi thấp xuống chút nữa để nghe em nói cho rõ nè...”. Nghe xong, khuôn mắt mụ vợ tôi thất sắc, nước mắt trào ra, miệng lảm nhảm như người điên: “Trời đất! Vậy thì em phải sống... Phải sống. Em không được chết.” Song lúc đó bàn tay lạnh ngắt của dì Ba đã buột ra khỏi bàn tay Hai Hậu... Chuyện cũng đã trên mấy mươi năm rồi đó, Sáu Sinh.
Sáu Sinh gắng nén tiếng thở mạnh. Đôi mắt vẫn mở to hướng lên mái nhà. Phải, chuyện đã hai ba mươi năm có dư và cả Năm Bào, cả Sáu Sinh chưa ai quên. Nó như thể mới xảy ra ngày qua ngày kia lận... Người xưa nói hồng nhan bạc phận, trường hợp Ba Hương quả như vậy. Xinh đẹp nhất làng và cũng lận đận bất hạnh nhất làng. Bị ép duyên lấy chồng giàu, thôi cũng đành, nhưng khi sinh hạ được đứa con trai ngỡ rằng thế là có chỗ an ủi bấu víu, ai dè con bắt đầu bi bô biết gọi má, lại từ bỏ cuộc sống người đời vẫn cho là sung sướng mà ra đi. Ba Hương mất còn quá trẻ. Năm ấy mới xấp xỉ hai lăm... Nhưng những chuyện ấy mãi sau này Sáu Sinh mới hay. Khi Ba Hương phải mặc áo mới, đội khăn để về nhà người an phận làm vợ, rồi sinh con và qua đời, Sáu Sinh còn ôm hận rúc rủi nơi quê ngoại. Ông lên đó nhằm ẩn trốn nỗi đau, cũng là biểu hiện sự yếu đuối, sự chán nản để rồi suốt cuộc đời còn lại đành cay đắng cõng mối tình đầu cùng nỗi hận bất lực không cách chi bảo vệ được người yêu níu bám trên lưng...
Mảnh mai như một giải lụa nhưng tâm hồn gợi mở rộng lớn tựa đại dương, Ba Hương là hun đúc kết tinh của những gì tốt đẹp nhất trời đất phú cho vùng cát nóng và nắng rang rang này. Da trắng. Môi mỏng và đỏ. Đôi mắt luôn mở to ngơ ngác. Ba Hương với những gì trời ban tặng như thể không phải sinh ra tại dải cát ven biển gió mặn hun da hun thịt này. Yếu ớt như một cọng rêu, cô dễ tạo cho người đời ý thức che chở... Hồi đó cậu Sáu cũng bạch diện thư sinh, nói năng nhỏ nhẹ, thưa gửi lịch sự nên được Hương chú ý. Cô thường lúng túng ngấp nghển giả bộ vô tình tạt qua con đường cậu vẫn đi học, lúc dúi cho gọi kẹo, lúc gửi chiếc khăn... Họ quý mến tình ý phải mặt nhau từ bao giờ, cả hai không hay. Nhưng một ngày không nhìn thấy nhau là xốn xang mong nhớ chẳng yên. Bởi vậy thường tạo ra cớ để được thấy mặt. Và cũng chỉ cần thoáng nom thấy bóng nhau là thoả mãn...
Hôm ấy là đêm rằm, Ba Hương hẹn Sáu Sinh ra bãi biển. Trăng rất sáng, nhóng nhánh dát bạc xuống nước, xuống cát. Sóng cùng ánh trăng nhè nhẹ mơn man vỗ lên bãi, âm thanh ì ao đơn điệu tựa lời hát ru buồn thảm gợi cảm ở những người đàn bà xa chồng khuya về ôm con nằm trên võng cất lên tâm trạng nhớ thèm của mình... ánh sáng mỏng mảnh dìu dịu nhẹ tênh trong đêm khơi gợi cảm giác buông xuôi... Phảng phất đâu đấy vẫn hương vị nồng đượm quen thuộc của các loại cá ướp muối khi lên men. Có cái gì đó chòng chành, cởi mở trong không gian ngàn ngạt gió biển.
Mảnh mai như một giải lụa nhưng tâm hồn gợi mở rộng lớn tựa đại dương, Ba Hương là hun đúc kết tinh của những gì tốt đẹp nhất trời đất phú cho vùng cát nóng và nắng rang rang này. Da trắng. Môi mỏng và đỏ. Đôi mắt luôn mở to ngơ ngác. Ba Hương với những gì trời ban tặng như thể không phải sinh ra tại dải cát đen biển gió mặn hun da hun thịt này. Yếu ớt như một cọng rêu, cô dễ tạo cho người đời ý thức che chở... Hồi đó cậu Sáu cũng bạch diện thư sinh, nói năng nhỏ nhẹ, thưa gửi lịch sự nên được Hương chú ý. Cô thường lúng túng ngấp nghển giả bộ vô tình tạt qua con đường cậu vẫn đi học, lúc dúi cho gọi kẹo, lúc gửi chiếc khăn... Họ quý mến tình ý phải mặt nhau từ bao giờ, cả hai không hay. Nhưng một ngày không nhìn thấy nhau là xốn xang mong nhớ chẳng yên. Bởi vậy thường tạo ra cớ để được thấy mặt. Và cũng chỉ cần thoáng nom thấy bóng nhau là thoả mãn...
Hôm ấy là đêm rằm, Ba Hương hẹn Sáu Sinh ra bãi biển. Trăng rất sáng, nhóng nhánh dát bạc xuống nước, xuống cát. Sóng cùng ánh trăng nhè nhẹ mơn man vỗ lên bãi, âm thanh ì ao đơn điệu tựa lời hát ru buồn thảm gợi cảm ở những người đàn bà xa chồng khuya về ôm con nằm trên võng cất lên tâm trạng nhớ thèm của mình... ánh sáng mỏng mảnh dìu dịu nhẹ tênh trong đêm khơi gợi cảm giác buông xuôi... Phảng phất đâu đấy vẫn hương vị nồng đượm quen thuộc của các loại cá ướp muối khi lên men. Có cái gì đó chòng chành, cởi mở trong không gian ngàn ngạt gió biển.
– Ngồi gần vô chút nữa được không? - Hương nhìn Sáu Sinh và nói.
Hai người đang ngồi bên mép nước, cùng nhìn ra biển. Sáu Sinh ngoan ngoãn dịch người, ngồi sát lại.
– Em hỏi nè, anh thương em thiệt chớ?
– Sao hỏi vậy, ngày nào không gặp nhớ đứt ruột... Thương nhau mới nhớ quằn nhớ quại vậy.
Hương chợt thở hắt ra. Khuôn mặt thoáng nét buồn và lại hướng ra xa.
– Giả dụ bây giờ anh không có em, anh tính sao?
– Chết luôn!...
– Không đúng!...
– Thiệt! Anh thương em nhiều lắm. Nhiều như nước biển lận. Hương buồn rầu:
– Rồi anh sẽ quen. Rồi anh chịu được... Cuộc đời phù phiếm lắm... -
Một lát, lại hỏi: Anh có ý định cưới em không?
– Trời đất, em là đặc ân tạo hoá ban cho, anh sung sướng muốn có em làm vợ chớ. Nhưng thư thả để anh học hết đã...
Lại thở dài:
– Hôm nay chúng mình là vợ là chồng nghe. Em muốn... ngay đêm nay.
Sáu Sinh ngạc nhiên quay qua nhìn Hương. Khuôn mặt cô lạnh khô, buồn rười rượi. Mọi bận cô rụt rè e thẹn, vô tình chạm tay vào người Sáu Sinh đã run lên như dẽ và vui tươi hay nói hay cười, đâu xỉu xo lại nói những câu mạnh bạo như vậy chớ.
– Anh không ưng?... Hay sợ?... Đưa tay đây em bảo.
Sáu Sinh chưa kịp phản ứng, Hương đã chủ động cầm bàn tay anh rồi bất ngờ luồn nhanh qua lần áo mới mở cúc, đặt vào ngực cô. Vừa chạm vào bầu vú căng tròn mát mịn của người con gái, bất chợt Sáu Sinh sung sướng và hoảng sợ rúm người lại tựa chạm vào lửa, rồi run bắn và nóng sực như lên cơn sốt. Anh chưa ý thức chuẩn bị cho tình huống này. Anh hoang mang toan rụt lại nhưng bàn tay đã được Hương giữ chặt. Thêm mấy chiếc cúc áo nữa buột ra. Khuôn ngực trinh nguyên trắng ngần với hai ốc đảo tươi non dồ lên lồ lộ dưới ánh trăng. Đúng hơn khuôn ngực ấy cũng là một vầng trăng. Nó đang toả ra ánh sáng, cũng là thứ ánh sáng dìu dịu mát rượi, trong trẻo đa đoan, gợi cảm tình tứ. Sáu Sinh giật mình choáng ngợp, vừa tò mò vừa ngạc nhiên gần như không hiểu gì nữa. Máu dồn lên mặt nóng phừng. Đầu óc quay rối hoang mang... Nhưng thoáng đó qua đi rất nhanh. ý thức được tình yêu nơi Hương, tình yêu nơi mình cùng sự háo hức đàn ông, Sáu Sinh cuống quýt rồi vụng dại úp khuôn mặt vào vầng trăng ngẫn ngà thánh thiện trong veo như thuỷ tinh đó. Và sau phút thăng hoa ấy anh nhanh chóng trở thành người đàn ông mạnh mẽ, táo bạo và quyết đoán... Hương sung sướng nhận ra sự vụng về trong những cử chỉ e dè mà bạo liệt có cái gì táo tợn đáng ngạc nhiên nơi anh. Cô cũng mạnh dạn dần lên. Có cái gì đó giật dột thúc bách từ những điểm nhạy cảm lan toả khắp cơ thể khiến Hương cũng run rẩy, cuống cuồng. Ngây dại và đam mê trong ý thức và bản năng, cô cà khuôn mặt mình lên khuôn mặt anh. Đôi môi và bàn tay hăm hở lần tìm, lần tìm...
– Của anh, tất cả là của anh đó... đừng ngại. - Hương thấp thả trong hơi thở đứt nối của sự mãn nguyện thực hiện ý định nơi mình.
Đêm ấy hai người đã dành hết cho nhau. Họ chuầy choà trên cát. Ngỡ ngàng. Cuồng nhiệt. Bất chấp. Không có gì phải kìm giữ. Bản năng và ý thức đã thuộc về nhau của hai cơ thể khỏe mạnh khiến họ đam mê, dai dẳng, xoắn bện. Cát bết lên mặt, cát dính vào tóc, cát bám vào mọi ngóc ngách... Hôm ấy bầu trời chỉ còn là một khum tay bé tẹo và biển trở nên đơn điệu vô duyên trơ trẽn. Chỉ còn sự đồng loã của ánh trăng, bãi cát và nỗi khát thèm...
Gần sáng hai cơ thể trong veo bết cát nhoà ánh trăng say đắm dính vào nhau như thể họ đã hoà quyện, kẻ nọ tan ngấm vào da thịt kẻ kia...
Nước bắt đầu cường. Những con sóng nhã nhặn trườn lên vỗ về nhè nhẹ vào hai cặp chân trần như an ủi, đánh thức... Hai cơ thể ướt sũng nước và dấp dính cát co ro và tiếc nuối lặng thinh ngồi bên nhau một lúc nữa. Khuôn mắt Hương chợt trở lại trạng thái xa xăm khó hiểu. Rồi cô nói, giọng rất tỉnh. Có nỗi đau vô phương cứu vãn khiến con người trở nên hoá băng chai sạn tỉnh táo dửng dưng.
– Anh ơi, ngày mai em phải lấy chồng! - Gắng nén nỗi lòng, giọng cô mỏng như hơi thở.
Đó là thông điệp cuối cùng, lời nói cuối cùng của người con gái ở nghĩa nào đấy đã trở thành vợ Sáu Sinh...
“Anh ơi, ngày mai em phải lấy chồng!”, nhiều năm rồi, chưa lúc nào Sáu Sinh bằng yên nguôi ngoai câu nói cuối cùng ấy của người mình yêu. Nỗi đau giằng xé trái tim mềm yếu của Sáu Sinh khiến ông xót buốt nghẽn đắng suốt khúc đời còn lại. Không thể san vơi cùng ai, ông câm lặng chịu dựng, một mình mình biết, một mình mình hay. Nỗi đau càng bị nén như thể càng phồng lên nhức rát... Khi hay tin Hương qua đời, ông chuếnh choáng bàng hoàng như kẻ nhận ra mình đang sa xuống vực. Xót xa, tiếc nuối, ông hối hả thu xếp việc nhà rồi nhanh chóng trở lại vùng cát nhiều đa đoan lắm mưa, sẵn nắng đó làm anh giáo làng. Ông không thật rõ tại sao mình hành động như vậy. Cuộc sống có những điều chẳng dễ lý giải gọi tên... Nhớ tiếc, bù đắp, ân hận, thù giận... và cả những gì nữa ông không thật rõ. Chỉ thấy rằng cứ có cái gì đấy thúc gọi phải về làng Cát, vậy thôi. Ông bọc giữ nuôi dưỡng những kỷ niệm như báu vật. Không cách gì quên được người con gái mảnh mai mềm như dải lụa và cái đêm trăng loã thể toả ánh sáng dìu dịu xuống bãi cát ướt... Nhiều năm rồi, vẫn vậy. Vẫn tươi nguyên nỗi nhớ và tình cảm mơn mởn diệu kỳ ấy...
Cuộc sống dù dư tràn nỗi bất hạnh vẫn không bao giờ dừng lại. Nó là dòng chảy bất tận của thời gian, giống như dòng nước con sông Thạch Bàn về mùa lũ triền miên xuôi ra biển... Năm năm tháng tháng qua đi, cũng như lũ trẻ trong làng, đứa con trai của Hương lớn lên lại long nhong cắp sách đến trường để thầy Sáu Giáo dạy chữ... Thằng bé may mắn thừa hưởng nhiều nét đẹp của mẹ. Cao ráo, khuôn mặt dễ coi, da trắng, mịn. Và đôi mắt to, ánh nhìn tinh nghịch. Chỉ tính nết là giống bố, chưa đầy chục tuổi đã tỏ ra cao ngạo, kẻ cả. Nó thường dựa thế con nhà giàu để bắt nạt anh em nhà Tư Đởn và lũ trẻ cùng lứa... Sáu Sinh không mấy cảm tình với nó, nhưng cũng không ghét bỏ. Ông đối xử bình đẳng công bằng như trẻ khác trong lớp. Học thuộc bài, ông thưởng. Nghịch ngợm, lười biếng và đến lớp trễ giờ, bị phạt. Thằng nhỏ biết thầy giáo nghiêm lại công minh nên cũng kiêng dè, tôn trọng. Nó chỉ quậy nghịch ngoài đường còn khi đã vào lớp biết học chăm chỉ và tỏ ra nghe lời... Ai dè lớn lên, thâm thù cố hữu với những người cùng làng cùng xã, những người nó được tiêm nhiễm rằng đã dựa thời thế mà cướp trắng tài sản ruộng vườn, hành hạ gia đình nó, và vẫn đang tìm cơ hội giành giật những gì bố con nó cũng nhờ vào lợi thế ở giai đoạn mới mà lấy lại được, nó trở thành kẻ tàn nhẫn, cuồng tín và bất chấp...
... Sáu Sinh trở người. Tiếng gà gọi sáng lao xao khắp xóm. Năm Bào cũng bật dậy. Ông bước khỏi giường, ra cửa ngó nghiêng nhìn trời rồi quay vào. Chợt ông hỏi:
– Ở đời cái gì là quý nhất, Sáu Sinh? Lão già này thì cho rằng cái tình đồng chí Bí thư ạ. Chớ không phải vậy sao? Của nả, chức vị, tiền tài... vô nghĩa hết. Chết có mang theo được không?
– Trời sáng rồi hả anh Năm?
– Để tôi tìm bó nhang và hộp quẹt... Thằng khốn đó hung hăng bắn giết nhưng với má nó cũng là thằng con có hiếu. Nó xây mộ má nó to nhất làng Cát.
– Ai vậy, anh Năm?
– Thằng con Ba Hương đó...
– ờ!
– Dì Ba Hương là người hiền lành nhân hậu, nhu mì, sống tình cảm, sao lại sinh ra thằng con chuyên làm những điều thất đức vậy chớ... Dưới suối vàng mà hay chuyện chắc dì Ba buồn lắm... Đồng chí Bí thư cẩn thận giữ mình nghe, nó săn suốt đó.
– Ta đi chớ?
– Sáu Sinh, mặc thêm chiếc áo, ngoài bãi dương sáng sớm sương xuống trời lạnh!
IV
Tư Lăng trùm tấm áo mưa khá rộng lên chiếc ba lô đeo trên lưng, trầy trượt nơi con đường đất lầy lội, đi về phía quân cảng. Trời lất phất mưa. Mấy hôm nay khí hậu đỏng đảnh, tạnh ráo một lát trời lại lắc rắc đổ nước xuống. Các cụ trong làng nơi Tư Lăng và mấy học viên ở nhờ trong thời gian bổ túc cấp tốc lớp cán bộ thuyền gọi là mưa rươi. Mấy hôm rồi chợ bán ê hề, giá lại rẻ. Chị chủ nhà trưa nay xách về nửa cân với dụng ý làm bữa ăn tươi chia tay với Tư Lăng và mấy anh em ngày mai mãn khoá trở về đơn vị. Rươi rửa sạch, đập thêm vài ba quả trứng, vỏ quýt thái chỉ, hành, lá gừng, thìa là, thịt nạc vai băm nhỏ trộn vào, khi rán nức mùi, chưa ăn đã biết là ngon. Bữa rượu chỉ có rươi rán, riêu cá, rau sống và đĩa lạc rang nhưng kéo đến quá ngọ. Người chủ nhà khéo nịnh nắc nỏm khen vợ nấu ăn giỏi. Mấy anh chàng ở cùng nhà với Tư Lăng háo hức uống chén này đến chén khác. Họ biết sắp được xuống tàu chiến nên mừng. Riêng Tư Lăng không mấy vui. Một lần nữa số anh lại hẩm hiu, được cấp trên bố trí về làm thuyền phó một tàu vận tải... Lại đành tự an ủi rằng tổ chức biết sắp xếp sao để có lợi cho cách mạng nhất. Không chờ đến sáng hôm sau, chiều nay anh tạm biệt mọi người, đi nhờ ôtô lớp học xuôi xuống Hải Phòng, từ đó cuốc bộ lần về đơn vị mới...
Mưa vẫn đều đều đổ xuống. Tư Lăng kéo tấm áo mỏng, hơi cúi người tránh nước tạt, hướng về phía bờ sông...
Ngôi nhà làm sở chỉ huy giáp cầu cảng không mấy rộng. Đồ đạc sắp xếp lỉnh kỉnh. Hòm, gói bó buộc chồng xếp lên nhau.
– Sắp phải sơ tán nên cũng hơi luộm thuộm. - Người trung úy tự giới thiệu mình là trợ lý tham mưu đơn vị khi Tư Lăng trình giấy quyết định điều động, kéo ghế mời anh ngồi, rồi thanh minh. Giọng anh rất vui, có cái gì thân tình, xởi lởi - Đã được thông báo có cậu bổ sung về nên bọn mình ngóng suốt... Dân Phú Yên hả? Hay rồi! Từ ngày tập kết có tin tức gì quê hương không? Có vợ có người yêu gì chưa, là mình hỏi trong Phú Yên ấy...
Loạt câu hỏi người trợ lý tham mưu cấp tập bắn ra không làm Tư Lăng mếch lòng, anh thấy ấm áp, dễ chịu.
– Này, mình hỏi thật nhé, từ ngày ra Bắc tới nay đã léng phéng với cô nào chưa? Lính đặc công các ông ẩn hiện bất thường lắm... Đã tập kích đột nhập vào đâu là chắc thắng, khi rút ra biết cách không để lại dấu vết... Khi nào có điều kiện truyền kinh nghiệm nhé.
– Tôi đã có vợ và một cô con gái ở quê.
– Con gái à, tuyệt vời. Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng... Nghe nói phụ nữ Phú Yên xinh lắm. Vợ cậu, con cậu cũng xinh chứ?...
– Tôi chưa biết mặt con mình. Khi xuống tàu để ra Bắc tập kết, vợ mới cận ngày sinh.
– Vậy mà khoe là con gái.
– Mấy anh em xuống tàu đi chuyến sau thông báo cho hay là vợ đẻ con gái.
– Nghĩa là nán lại thêm chút chút sẽ nhìn thấy mặt con. Hiểu rồi... Này, thế đã sẵn sàng nhận công tác được ngay chưa? Dưới đó anh em đang mong cậu lắm.
– Hình như có việc gì quan trọng, lại gấp phải không anh?
– Tắm rửa rồi tối nay về dưới cảng ngủ với mình... Sáng mai xe đơn vị sẽ đưa cậu ra Đồ Sơn. Tàu đang neo đậu ở đó... Nóng lòng hả, về đấy khắc biết... Chúc mừng.
Đêm ấy Tư Lăng nghĩ mông lung. Lão trung uý phổi bò tốt tính này cứ úp úp mở mở đến khó chịu. Công việc vận tải có quái gì quan trọng mà chúc mừng? Một năm vài ba chuyến đưa hàng ra đảo rồi lại về neo tàu ở bến lê la mài đũng quần mòn cả mông trên boong đánh bài và nói bậy tán tục giết thời gian. Làm thuỷ thủ trưởng hơn ba năm, anh còn lạ gì!
Nhưng sau đó thì Tư Lăng sửng sốt và mừng vui đến ngẩn ngơ khi hiểu rằng mọi điều không như mình nghĩ, số anh may mắn hơn anh tưởng, may mắn hơn cả mong đợi. Khi thủ trưởng Đoàn đọc quyết định, trao nhiệm vụ rồi căn dặn những điều cần thiết, anh ngỡ ngàng ngạc nhiên và bàng hoàng như không tin đó là điều có thật. Nằm mơ Tư Lăng cũng chẳng nghĩ tới việc mình được bổ nhiệm làm thuyền phó trên con tàu mà mấy ngày nữa sẽ nhổ neo đưa vũ khí bí mật về quê hương Phú Yên. Không thể tưởng tượng được! Cha trung uý trợ lý tham mưu vậy mà kín. Lão cứ huỵch toẹt ra mấy hôm trước có phải bây giờ Tư Lăng đỡ choáng... Trời ơi, được trở về quê, trở về quê thật! Trở về trở bằng chính con tàu Tư Lăng đang đứng trên đó...
Những ngày chuẩn bị kế đấy Tư Lăng nôn nao đến phát điên. Ban ngày trằn nhoài vào công việc. Nhận dầu, nhận thực phẩm, lấy nước ngọt, bốc xếp vũ khí, và vô vàn những công những việc tủn mủn không tên khác trước mỗi chuyến đi. Nhưng đêm về lại lên boong tủm tỉm ngồi nhìn ra biển. Chỉ còn mấy hôm nữa tàu rời bến mà cảm giác lâu như vô tận. Nỗi mong ngóng ngày lên đường tràn dâng như nước đại dương... Liếc sang cạnh, đốm lửa trên miệng thuyền phó Thơm chốc chốc lại loé đỏ. Người đồng niên, đồng chức và đồng hương cùng huyện Sông Cầu này hồi hộp chẳng kém Tư Lăng. Mấy hôm rồi Thơm cũng ít ngủ, lên boong ôm gối ngồi đốt thuốc suốt. Thỉnh thoảng lại hỏi:
“Lực lượng nhận hàng là bộ đội hay du kích chớ, liệu có gặp ai quen để hỏi han thăm nom một chút không ta? Thả hàng xong là đưa tàu ra khơi ngay sao?”. Người nào cũng có tâm trạng. Thuyền trưởng Thanh còn trẻ, mấy lần chỉ huy đưa tàu vào Cà Mau, đám lính kháo nhau rằng có kinh nghiệm nhưng lần này xem ra cũng thấp thỏm... Anh khuyên mọi người gắng giữ sức khoẻ song lại là người thức khuya nhất tàu. Máy trưởng Quý hễ thấy đám thuỷ thủ túm tụm trên boong là sán vào khoe:
“Nhà mình giáp thành phố Nha Trang nên quanh năm hưởng gió biển. Không mất tiền mà được ở trong khu du lịch”. Hôm Tư Lăng mới về, đấm vai bồm bộp: “Vợ con trong đó cả hí? Vui rồi... Tuy Hoà cách Nha Trang hơn trăm cây số thôi nghe”. Cán bộ tàu, chỉ chính trị viên Chiêu là dân miền Bắc... Anh thường doạ mọi người bằng con ngoáo ộp: “Đã là nghị quyết chi bộ thì cứ vậy thực hiện, không bàn thêm”. Nguyên tắc ấy với anh là bất di bất dịch. Song đó là con người vui tính và trách nhiệm. Anh lo cho chuyến đi đến xọp cả người. Cũng mong ngày lên đường như hết thảy “anh em quê trong đó”...
Rồi ngày ấy cũng đến. Buổi sáng làm thủ tục xuất phát. Những chiếc thẻ Đảng, thẻ Đoàn được bọc gói, từng người lặng lẽ bước lên trao lại cho thủ trưởng Đoàn. Ngắn gọn nhưng trang trọng thiêng liêng.
Xế chiều, chiếc xe của Tư lệnh quân chủng đột ngột xuất hiện nơi cầu tàu. Ông lặng lẽ bước lên boong. Chính trị viên Chiêu lúng túng chưa rõ nên xử trí thế nào, đứng đực ra, miệng lắp bắp lí nhí những câu vô nghĩa. Tư lệnh cười, nói vui:
– Khỏi thủ tục nữa, nghe đồn tàu ta có rượu ngon, lại biết máy trưởng Quý uống rượu như uống nước lã, hôm nay xuống xin một chén chia tay với anh em thôi.
Chiêu gãi gáy, thở phào, lúc đó mới nhếch miệng thoải mái cười theo... Thuỷ thủ nhanh chóng được triệu tập, ngồi quây trên boong. Hình như Tư lệnh quân chủng cũng đang cố nén một điều gì, ông không hề có ý nói tới chuyến đi của tàu T.35. Ông hỏi han chuyện riêng tư từng người.
– Đồng chí thuyền phó mới bổ sung về ngồi đâu nhỉ? - Chợt ông hỏi.
Tư Lăng vội đứng dậy:
– Báo cáo Tư lệnh, tôi, thuyền phó Tư Lăng đây ạ. Tư lệnh làm hiệu để anh ngồi xuống:
– Như vậy trên tàu đa phần là người Phú Yên mình, đúng chưa? Bộ Tư lệnh có ý là muốn chính các đồng chí chở vũ khí về cho quê hương đánh giặc... Vui chớ?
– Báo cáo, rất vui ạ... - Tư Lăng đáp.
– Vợ con rồi chứ, hả? Thời kháng chiến chống Pháp, có thời gian tôi hoạt động ở mạn đó. Xuýt nữa làm rể Phú Yên. Gái Tuy Hoà mặn mà lắm... Này, Tư lệnh xuống thăm mà không có ý định khao gì à, ông Chiêu? Có rượu thì mang ra đây cùng làm một chén trước khi lên đường. Nhưng phải là rượu ngon, rượu có thể đốt cháy... Nếu không có thì Tư lệnh khao lại vậy. - Ông nhìn sang. Người trợ lý vội đưa chiếc cặp. Ông lấy ra chai rượu trắng. - Loại quốc lủi nút lá chuối này mới đáng uống, rượu Tây nhìn thì sang trọng nhưng nhạt thếch. Cho muợn cái cốc, ông Chiêu. Chúng ta uống chung nhé.
Tư lệnh uống trước. Cốc rượu được chuyển vòng qua từng người. Ai cũng nhâm nhi một ngụm. Không khí trở nên thân tình cởi mở.
– Rượu của thủ trưởng ngon quá! - Máy trưởng Quý tấm tắc.
– Biết uống đấy! - Tư lệnh nói.
Tư lệnh thường cặp kè chai rượu trong cặp, lúc làm việc căng thẳng lại mang ra nhấp một ngụm. Thói quen uống rượu có từ thời ông còn trẻ. Ngày đó, cách đây đã khá lâu, ông làm chân chạy long toong sai vặt trong mấy đồn lính Pháp nơi Đà Nẵng. Nhanh nhẹn, tháo vát lại xởi lởi, vui vẻ và biết giao dịch bằng tiếng Tây nên mấy viên sĩ quan khoái ông lắm, đi đâu cũng cho theo, và buổi tiệc nào cũng được gọi đến phục dịch. Thậm chí những lúc hứng khởi, chúng ném cả chiếc chai còn già một phần rượu về phía ông, lúc đó đang đứng khép nép chờ sai bảo nơi góc phòng, và khi thấy chai rượu được ông vươn tay ra đón rất diệu nghệ, đám sĩ quan thích chí, nháy mắt cười hi hí rồi hô: uống! Không cần ly, ông đưa chai rượu lên miệng. Đầu tiên phải uống theo kiểu đó làm ông khó chịu, thậm chí nhiều lúc bị sặc, mặt đỏ bừng... Nhưng được bọn lính khích lệ dần dà đâm quen, thậm chí nghiện, không có lại nhớ... Hồi vào rừng theo kháng chiến đã có lần ông suýt mất mạng vì rượu. Hôm đó đơn vị tổ chức trinh sát đồn La Chà. Ông còn lạ gì cái đồn này, mụ đầm vợ viên quan ba nơi đây đêm nào chẳng vào phòng riêng ườn tấm thân xồ xề trắng như bột lọc trong bộ váy ngủ, rồi kêu ông tới bắt xoa bóp. Phần thưởng thường là nửa chai rượu mác tanh vợ chồng viên sĩ quan uống chưa hết. Chân mụ như hai cái bắp chuối, tay ông cố dõng ra bóp, vẫn không ôm khít. Mỗi lần mụ nằm úp xuống giường, cặp vú thộn thện lài ra cạnh sườn trông như miệng con trai thè lè khi tìm mồi. Mụ khoái vén áo lên để ông đấm đấm bóp bóp quanh lưng. Còn ông thì mỗi lần thế là một lần bị tra tấn. Cặp mông to bè sau lớp vải mỏng vổng lên và cái mùi gây gây của đàn bà xứ Tây lẫn mùi nước hoa hăng hắc làm ông bối rối, khó chịu... Những khi như vậy chẳng rõ sao ông thường dừng lại, dốc ngược cái chai, tớp cạn. Rượu hun cho nóng ran, ông xoa càng dẻo. Mụ đầm khoái chí, lim dim mắt hưởng thụ. Mụ nghiện ông mân mê còn ông khoái nốc rượu của mụ... Lần ấy sau khi tổ trinh sát vẽ xong sơ đồ, đang định rút thì bỗng dưng ông nhận ra hương rượu Tây thơm nồng quyến rũ từ phòng ngủ của viên quan ba đưa tới. Không cưỡng được, ông mon men lần đến bên cửa sổ kiễng chân lé mắt nhìn vào. Thân hình phốp pháp với những ngấn thịt trắng hồng của người đàn bà Tây tênh hênh trên giường giống như những bức tranh khỏa thân các họa sĩ thời Phục hưng vẽ, bọn sĩ quan Pháp vẫn treo trên tường nơi phòng làm việc và chai rượu vật nghiêng cạnh đó đã mở nút khiến ông háo hức nuốt nước bọt. Chẳng rõ ông thèm cái cơ thể nẫn nà của người đàn bà kia hay thèm rượu. Có lẽ cả hai. Một thoáng chần chừ rồi ông quyết định vọt qua cửa sổ, luồn vào phòng...
Đưa chai rượu lên uống, ông uống ực một ngụm. Mụ đầm thấy động, hình như nhận ra điều gì liền thức giấc. Mụ hoảng loạn nhìn ông rồi líu ríu xổ một tràng tiếng Tây. Ông vội ngửa cổ tu hết chỗ rượu, ném chai vào tường rồi toài nhanh qua cửa sổ co chân chạy đuổi theo đồng đội. Sau lưng đạn vãi như lúa giống rắc ruộng mạ. Lần đó ông bị kiểm điểm và người ta có ý đuổi ra khỏi đơn vị, nhưng nhờ trận đánh vào đồn La Chà mấy hôm sau ông đã dẫn đường để đại đội lập công to nên mọi chuyện êm xuôi. Song trận đó đã có một bí mật không ai hay, lại chính ông đã cứu bà đầm đó. Khi tên quan ba Pháp bị bắn chết, mụ vợ hãi sợ giãy lên đành đạch như con cá chuối bị sống dao mấy bà nội trợ đập vào đầu vội chui xuống gầm giường tránh đạn, ông đã lao tới lôi mụ ra, vừa làm hiệu vừa nói nhỏ vào tai bằng tiếng Tây, ý rằng muốn sống đừng cuống lên như vậy, hãy giả vờ chết. Hiểu ý, mụ liền duỗi chân dang tay ẹp xuống sàn nhà, cứng đờ như con gián bị lật ngửa. Còn ông vừa xoạc chân phóng qua, vừa bắn vu vơ và hô xung phong... Biết phô chuyện ấy ra thể nào cũng bị rắc rối và chắc chắn khó tránh khỏi kiểm điểm lập trường và khó thoát kỷ luật nên ông ỉm đi. Chỉ sau này, khi đã là Tư lệnh hải quân, những lúc thư giãn với đám trợ lý ông mới vui vẻ nửa đùa nửa thật mang ra kể. Có người tin có người không tin, chẳng sao, kỷ niệm của một thời ấy mà...
– Đàn ông không rượu như kỳ vô phong... Nói vậy thôi, tuổi trẻ các cậu không nên gần rượu. Hả, để mình làm ly nữa nhé. - Ông nhìn người trợ lý như thể có lỗi rồi đưa ly rượu lên, uống cạn. Ông nói tiếp: “Thế này nhé, tôi chẳng căn dặn gì đâu. Mọi điều mấy ngày qua chỉ huy Đoàn đã làm việc với các đồng chí. Nói thêm là thừa. Hôm nay chỉ xuống chơi và chia tay với mọi người thôi. Đây là lần đầu ta đưa vũ khí vào khu Năm nên Bộ Tư lệnh và tôi lo lắm. Nhưng tôi tin vào bản lĩnh, sự thông minh của hết thảy mọi người trên con tàu này. Tôi hứa khi tàu trở về, sẽ xuống thăm và lúc đó chúng ta sẽ uống thật say. Được không ông Chiêu?”
– Báo cáo Tư lệnh được ạ... Chúng tôi hứa cố gắng hoàn thành nhiệm vụ...
– Mọi người biết câu này chứ, rượu có bạn hiền ngàn chén thiếu, lời mà không hợp nửa câu thừa. Do vậy khi trở về, cán bộ tàu phải chuẩn bị nhiều rượu đấy. Lúc đó nếu không đủ uống là phải phạt nặng.
Tư lệnh nói vui vậy nhưng khi đã ngồi trên xe quay về Bộ Tư lệnh, ông trở nên trầm tư. Hơn ai hết ông rõ khó khăn, những phức tạp của chuyến đi lần này. Bến mới, địa hình lạ, địch nhiều thủ đoạn. Đây thực sự là cuộc đấu trí, ai khôn ngoan hơn, thông minh hơn sẽ thắng. Thế mạnh của con tàu là ở yếu tố bất ngờ. Nhưng không ai dám chắc mười mươi rằng địch đóng trên Đèo Cả chủ quan. Hôm qua ông vẫn nhận được thông tin từ Vũng Rô báo ra: “bến yên”. Song ngày mai, ngày kia và những ngày tiếp sau nữa liệu còn yên? Tin tức cho hay cả một tiểu đoàn quân chủ lực ngụy túc trực quanh khu vực sẵn sàng bao vây khi có động tĩnh. Chỉ cần một lực lượng nhỏ của chúng ém nơi cửa vũng là mọi sự trở nên khó lường... Không ai khẳng định chuyến đi nhất định thành công. Đó chỉ là ý muốn... Sáng nay Tư lệnh đã định xuống tàu để có thể nói chuyện được nhiều hơn với anh em, nhưng ông sợ mình không thắng sự yếu đuối khi chứng kiến cảnh các thành viên trên tàu lặng lẽ trao lại tất cả giấy tờ tuỳ thân cho tổ chức. Việc làm ấy nhằm giữ bí mật, đã đành, nhưng ai cũng rõ đấy còn là hành động tự nguyện, một hình thức làm lễ truy điệu mình trước. Ra đi là xác định cảm tử...
Tư lệnh nhìn ra phía biển qua cửa xe rồi chợt hỏi:
– Ở con người cái gì là đáng quý giá nhất?
– Lý tưởng, phải không ạ? - Người trợ lý ngồi ghế trên đáp.
– Không đúng. Sự sống!
– Sự sống?
– Phải!... Chết là điều tồi tệ nhất... Cho xe dừng lại nhé. Mình muốn được đi bộ một vòng.
Chiếc U oát nép sát biển. Tư lệnh bước xuống. Ông đủng đỉnh như người đi dạo. Rồi ông dừng lại trên cát, mắt hướng ra biển. Gió bật tung mái tóc lưa thưa khiến khuôn mặt ông trông già hẳn... Hình ảnh Vũng Rô chợt hiện ra... Vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, khi làm tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn bộ đội chủ lực Quân khu Năm ông đã nhiều lần dẫn đơn vị luồn lên đường Một tổ chức đánh giao thông nơi Đèo Cả. Đèo Cả khá cao, hiểm trở, một bên nối với Trường Sơn, phía còn lại là biển. Vũng Rô nằm dưới chân đèo. ở đó nước sâu, vách đá đổ ra chênh vênh. Từ trên đèo nhìn xuống, Vũng Rô giống như một cái nong lớn chứa đầy nước, thẫm xanh, ngăn ngắt, lặng phắc có cảm giác như khối nước khổng lồ ấy đặc quánh, dẻo quẹo, có thể xắn ra được. Núi Bia và mũi Mác như hai càng cua ôm lấy vũng nên lối vào rất hẹp, chỉ một tàu địch chắn ngay cửa là tàu ta khó vào... Nhưng quả nơi ấy có địa hình lý tưởng để bốc hàng, lấy hàng, ém tàu... Chọn Vũng Rô, các anh trong đó chắc đã tính toán kỹ... Đưa tàu vào Vũng Rô ngoài những thuận lợi khác, chắc còn muốn khai thác triệt để yếu tố bất ngờ, chủ quan của địch...
– Ta về chứ ạ? - Người trợ lý nhắc.
– ừ, về thôi!
Chiếc xe con ra khỏi Đồ Sơn, trời gần tối. Không khí đã dịu hơn. Tư lệnh uể oải ngả người tựa vào chiếc ghế hàng sau, hai mắt nhắm lại, cố thả lỏng toàn thân cho đầu óc thư giãn. Nhưng có bao điều đan xen chen lấn hiện về... Tư lệnh nhớ hôm ông và đồng chí Cục phó Cục Tác chiến lên báo cáo với Quân uỷ phương án đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của Khu Năm muốn có vài ba chuyến tàu chở vũ khí bằng đường biển vào các tỉnh Trung Trung Bộ, nghe xong Đại tướng Tổng Tư lệnh đã nhắc nhở: “Đường biển là con đường dành cho đồng bằng sông Cửu Long!”. Lúc này ngẫm lại, ông thật sự thấu hiểu điều lo lắng nơi người chỉ huy... Khu Năm dẫu vô vàn khó khăn vẫn còn cơ hội nơi con đường bộ. Con đường xuyên Trường Sơn đang gắng tìm nhiều phương cách để có thể vươn tới khu vực này. Nhưng nếu lộ con đường biển là Nam Bộ hoàn toàn cắt đứt mọi chi viện. Năm ngoái, lúc chiếc tàu gỗ đầu tiên chở hơn ba mươi tấn vũ khí cập bến Cà Mau thành công, ông lên báo cáo với Đại tướng, không ngờ Tổng Tư lệnh mừng vui đến vậy. Đại tướng ôm choàng lấy ông, xúc động: “Cám ơn, cám ơn, vậy là vùng cực Nam không cô lập nữa, trong đó đã có vũ khí...”, và hình như từ khóe mắt ông, dấp dính những giọt nước mắt. Không mừng vui sao được khi một chủ trương được chuẩn bị lâu dài, chuẩn bị công phu với biết bao nhọc nhằn lao tâm khổ tứ, hy vọng rồi thất vọng... đã thắng lợi. Kể từ ngày những chiếc thuyền gỗ của Nam Bộ vượt biển ra miền Bắc xin vũ khí đến khi những khẩu súng đầu tiên được chở vào trong đó, không chỉ tính bằng ngày, bằng tháng mà tính bằng năm. Trong những năm ấy đã có biết bao lo toan, biết bao tính toán và biết bao phương án đã vạch ra; thất bại có, chưa phù hợp có, và nhiều lúc nao núng tưởng chừng như không thể thực hiện được... Trong lãnh đạo không phải đã không có người hoài nghi. Sự hoài nghi ấy có căn cứ. Liệu có mạo hiểm quá khi hải quân ngụy với sự viện trợ của Mỹ dàn hàng ngàn tàu chiến trên biển như lá tre, với rất nhiều phương tiện hiện đại quản lý mặt biển, và liệu những chiếc thuyền nhỏ bé của ta có chống chọi được với sức mạnh biển cả? ấy là chưa kể nơi tàu vào có đủ những điều kiện an toàn và yếu tố địa hình để thực hiện?... Bao khó khăn, bao tình huống... Vậy mà... sau chuyến mở đường thắng lợi, những tháng ngày kế đó vũ khí liên tục vào Nam Bộ, không chỉ chở bằng tàu gỗ, con đường vận chuyển ấy đã có tàu sắt. Không chỉ chở vài ba chục tấn mà đã có thể chở một chuyến vài trăm tấn. Vũ khí nhỏ và cả vũ khí loại lớn. Vũ khí đánh bộ binh và cả vũ khí đánh xe tăng, xe bọc thép, đánh máy bay trực thăng, đánh đồn bốt... Tư lệnh chợt nhớ lại những ngày đầu, khi manh nha hình thành chủ trương không ít người hoài nghi thì đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đã khẳng định: Trong chiến dịch Điện Biên Phủ ta đã thắng thực dân Pháp bằng những chiếc xe thồ thì nay ta sẽ thắng Mỹ bằng những chiếc thuyền gỗ... Vũ khí cho chiến trường Nam Bộ đang là đòi hỏi có tính cấp thiết, một yêu cầu mang tính sống còn của cách mạng vùng này.
Tư lệnh rõ rằng để hình thành con đường vận chuyển trên biển, quyết tâm của Bộ Chính trị, của Quân ủy rất cao. Sau chuyến ra khơi của chiếc tàu gỗ xuất phát tại Quảng Bình với ý định chở năm tấn vũ khí vào vùng biển Hải Vân hồi năm sáu mươi thất bại, Trung ương đã chỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam Bộ tiếp tục chuẩn bị bến bãi, và cho thuyền vượt biển ra Bắc vừa để báo cáo tình hình vừa để trinh sát, nắm địch trên biển. Những chiếc thuyền ấy đã tới hậu phương và đó là tiền đề cho những chuyến chở vũ khí vào Nam sau đó.
Làm một con tính đơn thuần những người khó tính dễ hoài nghi cũng có thể thấy ngay hiệu quả lớn lao của những chuyến vượt biển đưa súng đạn vào Nam Bộ. Trong lúc con đường bộ vượt Trường Sơn khó khăn lắm, kỳ công lắm, chật vật gian nan lắm vào thời điểm này cũng chỉ mới men tới ngã ba biên giới, còn khả năng vươn tới Khu Năm, miền Đông là không thể định thời gian. Còn để vào được Nam Bộ là điều hoang tưởng, không một ai dù hăng hái nhiệt tình tới mấy khó có cơ sở để mơ tới... Mà con đường bộ Trường Sơn kết quả rất hạn chế. Do sử dụng phương cách vận chuyển thô sơ nên hiệu quả không cao. Mỗi chiến sĩ gắng hết sức cũng chỉ gùi được 20 ki lô gam hàng. Muốn chở 10 tấn hàng cần có năm trăm cán bộ chiến sĩ, ấy là chưa kể ốm đau, bệnh tật, địch đánh phá và số người phục vụ cho năm trăm con người đó, và những tổn thất do nhiều nguyên nhân không tên khác. Vậy muốn chở một trăm tấn hàng, một ngàn tấn hàng, một vạn tấn hàng phải cần bao nhiêu nhân lực và phải tiến hành trong vòng bao nhiêu năm? Song, khi thông con đường biển, để có một trăm tấn vũ khí cho Nam Bộ, chỉ cần mười lăm thủy thủ trong khoảng thời gian không quá một tuần là vùng cực Nam đất nước có súng đạn. Đó là bài toán không phải trong tưởng tượng mà đã trở thành hiện thực. Những con tàu của hải quân đã làm được cái điều thần kỳ không dám mơ tới ấy... Thắng lợi vượt ngoài cả dự kiến, vượt ngoài mong đợi...
Súng đạn đã vào được Khu Chín, Khu Bảy và sắp tới sẽ là Khu Năm. Hơn ai hết ông rõ những phức tạp, những khó khăn khi cho tàu bí mật chở vũ khí vào khu vực này. Cung đường so với nơi mút cùng đất nước có ngắn hơn, song việc chọn bến rất không thuận. Suốt dải đất miền Trung không chỗ nào có kênh rạch và cây um tùm phủ xuống như ở Nam Bộ. Tàu muốn vào, chỉ có thể cập vào bãi ngang. Bãi ngang thường thoai thoải cát, nước cạn, gần bờ sóng to, địa hình trống trải nên nếu vì nguyên nhân nào đấy tàu phải ở lại, rất dễ lộ. Chưa kể nơi đây giáp vùng giới tuyến, giáp Quốc lộ Một nên địch canh phòng gắt... Càng nghĩ càng thấy việc chọn Vũng Rô làm bến là thuận về nhiều mặt. Đã từng hoạt động ở vùng này, ông có thể hình dung địa hình quanh khu vực. Vũng Rô khít Quốc lộ Một, đó là khó khăn cũng là thuận lợi. Vũ khí bốc lên bờ, vượt qua đường Một là có thể tỏa vào rừng an toàn. Chọn Vũng Rô làm bến là rất táo bạo, cũng lại là một cân nhắc rất khôn khéo...
Tư lệnh ngồi thẳng người, nhìn ra ngoài. Gần đến Hải Phòng, người trợ lý quay qua:
– Thủ trưởng về thẳng nhà chứ ạ? - Anh hỏi.
– Không. Đưa mình về cơ quan.
Bên ngoài yên tĩnh. Thành phố đã lên...
... Đêm đó con tàu được lệnh nhổ neo. Nó lặng lẽ trườn ra cửa sông rồi xuôi về hướng Nam.
Biển trải ra mông lung. Bầu trời tối nhờ nom từa tựa một tấm bánh đa khổng lồ chi chít những hạt sao, chòng chành đung đưa. Sóng đập vào mạn khiến con tàu lắc nhẹ... Tư Lăng và Thơm ngồi đầu mũi nhìn ra. Thơm bập từng hơi thuốc. Tư Lăng hướng về phía chân trời lúc đó đã nhoà vào bóng tối.
– Nghĩa là ông vẫn chưa được nhìn thấy mặt con gái mình? - Thơm không quay lại, chợt hỏi. - Cuộc đời lạ lắm ông ạ, cách đây một tuần tôi mơ thấy mình về quê, vậy mà thật. Hồi tập kết, nỗi đau bị phụ bạc nơi thằng đàn ông khiến tôi tự ái, nên đã không về làng chào ông bà già trước khi đi, hận quá. Ngỡ chỉ hai năm, ai dè biền biệt cả chục năm.
– Thuyền trưởng Thanh nói rằng anh vẫn yêu người phụ nữ đó lắm...
– Nè, xã ông giáp chợ huyện, đúng không?
– Kề sông Lung chớ.
– Ờ, tôi nhớ rồi, xã ông ở mạn tây Lung Giang, tôi ở mạn đông. Người làng tôi vẫn chèo xuồng chở khoai lang qua sông sang bên ấy bán.
– Khoai lang làng anh ngon nức tiếng khắp vùng...
– Chỉ trồng trên cát mà khoai thơm, mềm lại ngọt vậy đó...
– Chỉ cách một con sông mà hồi đấy sao tôi không biết anh hè?
– Mình vô chủ lực từ năm mười tám tuổi. Vô chủ lực sớm nên mới được nhiều con gái mê. Hồi đó bộ đội chủ lực có giá lắm.
– Cỡ tuổi đó tôi cũng bỏ làng lên cứ... Giáp hòa bình thì lấy vợ. Tư Nhâm dịp đấy cũng đang ở trên cứ. Khi cô ấy có chửa, tổ chức bố trí cho về quê. Thỉnh thoảng nhớ, tôi lại bơi qua sông trốn về thăm... Thú thật, mấy năm đầu ở trên đất Bắc nhớ vợ phờ phạc như thằng ốm, chỉ ước có đôi cánh mà bay ngay về... Đêm nằm cứ bực bõ nghĩ sao
cuộc đời vô lý vậy chớ...
– Từ ngày ra Bắc tới giờ không một tin tức gì?
– Có dò hỏi mấy lần nhưng biệt vô âm tín. Cách đây hai năm, nghe tin mấy anh em người Phú Yên vượt tuyến ra Bắc, tôi xin nghỉ mấy ngày lên Hà Nội tìm gặp. Nhưng họ cũng không rành. Nóng lòng thì xuống ao úp nơm vậy thôi, cũng biết là khó...
– Lần này liệu có ai người Sông Cầu ra nhận hàng không nhỉ?... Nghe nói mạn đó đã được giải phóng, có chính quyền rồi, nhưng địch càn dữ lắm. Ông bà già mình nếu còn năm nay đã cụng bảy mươi chớ bộ... Con gái cậu cũng hơn mười tuổi rồi...
Tư Lăng không đáp. Chuyến đi này đâu dám nghĩ tới chuyện gặp vợ gặp con, nếu may lắm biết được chút gì đó tin tức về họ đã là mừng. Mà cũng không dám chắc. Thời gian xa cách đã lâu, chiến sự lại triền miên dai dẳng nên có biết bao biến động xáo trộn xảy ra. Được tận mắt nhìn thấy quê hương, nghe giọng nói quê hương, và được đặt chân lên bãi cát quê hương là mãn nguyện rồi... Tư Lăng cũng chỉ ước ao có thế.
Sóng vẫn lao xao vỗ hai bên mạn. Trước biển con tàu trở nên quá nhỏ nhoi. Chỉ là chấm bé mỏng như hạt cát trong mênh mông bạt ngàn sa mạc nước. Hai người như hai cái bóng lặng thinh ngồi trên boong, họ đang nghĩ về một thời, đang trở về với dòng sông, rặng cây, ngôi nhà, phiên chợ huyện... và xôn xao bao kỷ niệm.
*
Nói cứng với Sáu Sinh rằng mình đã có cách ứng đối với tình cảm Hai Rạng, lại nói Hai Rạng là kẻ ít nhiều có văn hoá, không dễ làm càn, nhưng chống chếnh trong ngôi nhà mới, Tư Nhâm không khỏi hoang mang, lo sợ. Có cái gì đó trống vắng cô đơn hơn hồi còn sống ở làng Cát. Tất cả đều lạ lẫm. Đêm về Tư Nhâm gần như không ngủ. Chị nằm nghe tiếng sóng từ biển mải miết mài lên bãi và thấp thỏm đếm từng đợt xe nhà binh chốc chốc lại hú còi hớt hải chạy trên đường. Căn nhà của người bà con Năm Hồng chuyển đi ở chỗ khác chị mua lại gần đường cái hơn và cũng gần biển hơn. So với chỗ ở cũ, nơi đây thuận nhiều bề. Việc buôn bán cũng dễ dàng, đi già cây số là đến chợ Lân Cồ. Sáng sớm xuống bãi lấy cá, quá buổi đã có thể xoạc chân ngồi bày bán ở chợ. Nằm xế thị trấn nhưng căn nhà khá thoáng đãng, rộng rãi. Có nhà ngang, có vườn lại có cả một hàng cây cao bao bọc xung quanh. Hôm mới chuyển đến, Năm Hồng tới chơi, đáo một vòng, khen kín đáo nhưng lại phán rằng đơn chiếc một thân một mình sống nơi đây không hợp.
– Nè, hay là cô chuyển lại cửa hàng tôi ở có chị có em cho vui, căn nhà cứ khoá cửa để đó. Nơi đây âm âm u u giống cái nhà mồ, cô quạnh một mình buồn chết. Chỗ tôi lúc nào cũng đông đúc... - Năm Hồng tuyệch toạch. - Nếu thêm thằng đàn ông nào nó khoái mình và mình cũng thích nó, ngả ngớn với nhau hay lắm. Tôi dành sẵn cho cô một buồng, của ai người đó xài. Không ảnh hưởng tới nhau. Ưng chưa?
– Mỗi người có một phận. Em đâu muốn cướp đi cái duyên bán hàng của chị... Với nữa chị đã có mấy người phụ giúp. Họ cũng đã thạo việc...
– Cô nghĩ đám đàn ông năng lui tới đó nhậu vì cái gì chớ? Mấy năm nữa tôi nhăn nheo, vú teo tóp, hông và mông không còn nở có mà ma tới.
– Chị còn duyên mà, còn nhiều người theo.
– Cô thấy vậy à?
– Gái mười tám đôi mươi chắc gì đã ăn đứt chị.
Năm Hồng hớn hở típ mắt cười, khuôn mặt giãn ra, lại nhún mông đi thêm vòng nữa quanh căn nhà. Rồi đứng trước chiếc gương con treo nơi cột nhà, nghiêng ngó tự ngắm khuôn mặt mình.
– Nhưng mà vắng lặng thế này đêm về thiếu thằng đàn ông lạnh lắm...
Tư Nhâm kín đáo khẽ thở dài. Điều ấy chị rõ hơn Năm Hồng. Những lúc tắt nắng, trời bắt đầu xẩm tối, khu vườn và căn nhà như rộng ra. Nỗi cô đơn do vậy cũng phình nở. Chị rất sợ thời khắc ấy. Những nhu cầu nơi người đàn bà ban ngày bận bịu quên đi, lúc đó lại có cơ được đánh thức. Càng ít ngủ càng bị hành. Đã có hôm bất chấp nỗi sợ hãi, chị vùng dậy lang thang nơi sân, nơi vườn trong đêm như một kẻ mất trí. Chút nguôi ngoai do bị đánh lừa ấy qua đi rất nhanh, chỉ là tạm thời, đòi hỏi bản năng cứ âm ỉ như than trấu ủ nóng bên bếp lúc nào cũng chực bùng lên...
– Mà cô cũng kỳ, chuyển nhà lên đây chi cho cực. - Năm Hồng nói. - Dưới làng Cát dù sao cũng quen hơn...
– Chị tính, bom đạn liền liền còn làm ăn sao...
– Kỳ thiệt, cùng là người Việt lại chia làm hai phe rồi hì hụi tậu súng đạn đánh nhau miết. Họ tranh giành, giựt giật cái gì chớ? Chỉ làm khổ dân lành. Kẻ nào nắm quyền chẳng được. Việt Cộng là ai, Quốc gia là ai? Đều máu đỏ da vàng cả. Việt Cộng hay Quốc gia thì cũng là con người, cũng giống nhau ở chỗ chẳng ông nào cao đạo, đều ham hố cái chuyện ấy... Trời ơi, ham hố thứ đó mới đáng ham hố chớ... Bình yên để đàn ông đàn bà quặp nhau cho sướng có hơn không. Tôi chẳng phân biệt ai đỏ ai vàng. Cứ giống đực mà mình khoái là cho... Cô cũng nên học cách sống vậy kẻo rồi chẳng mấy nữa già, lại tiếc... Không cần học ai, bắt chước chị Năm đây nè.
Những điều Năm Hồng nói khác gì dầu đổ vào lửa, đêm đến lại bùng lên hong nỏ Tư Nhâm. Cũng có lúc chị đau đớn buông xuôi với ý đình hoá thân làm cọng củi khô để được cháy theo ngọn lửa. Nhưng hình như vẫn có mãnh lực vô hình và hữu hình nào đó làm nguồn nước lạnh dập tắt những gì đang rừng rực trong lòng khiến người đàn bà bừng tỉnh, kéo chị ra khỏi những ham muốn chơ vơ... Đó là thời khắc gắng gượng chống trả quyết liệt, thậm chí viện cả chồng con và những điều hết sức to tát ra đánh đổi.
Rồi Hai Rạng lại đến. Con người ấy vừa có khả năng tạo ra lửa, nhưng do hoàn cảnh hết sức trớ trêu cùng những điều ý thức được qua lời giáo huấn nhiều năm vẫn túc trực trong tâm thức Tư Nhâm, nên lại là nước.
Từ khi Tư Nhâm chuyển lên giáp Lân Cồ, Hai Rạng lấy làm vui. Anh không nghĩ rằng người đàn bà ấy tới ở gần chỗ đóng quân của tiểu đoàn Rồng Biển là biểu hiện những tình cảm thân thiết gần gũi nào đó với Hai Rạng. Anh không ngây thơ và ngộ nhận thế. Nhưng trong thâm tâm, vẫn hy vọng những gạch nối mỏng mảnh bắt đầu bằng chuỗi kỷ niệm và chút tình cảm thủa ấu thơ dịp này sẽ được đắp đầy để có thể hình thành một cái gì khác. Dù bận chỉ huy đơn vị, rồi hành quân liên miên, từ ngày Tư Nhâm chuyển nhà viên sĩ quan năng lui tới hơn. Anh đến bất chợt, ban ngày, lúc mặt trời đã xuống và có lần đi công chuyện tiện đường ghé qua. Hai Rạng không có gì phải xấu hổ khi tự thú rằng mình rất yêu Tư Nhâm, cần Tư Nhâm. Càng ngày anh càng nhận ra khó có thể thiếu người phụ nữ không hẳn dễ tìm ấy. Đó là đặc ân tình cờ nhưng đầy định mệnh thượng đế đã dành cho. Trong những câu chuyện mỗi lần gặp nhau, anh đã ý tứ tế nhị hơn, không sấn sổ nói những lời cầu hôn vội vã thẳng thắn bộc trực như hồi mới gặp lại nữa. Anh đã biết chờ đợi, anh hi vọng vào thời gian và sự chân thực của mình. Anh kể tùm lum, chuyện xã hội, chuyện nhà và hay nhắc tới những kỷ niệm ngày xa xưa khi hai người còn bé tẹo. Lạt mềm thường buộc chặt. Mưa dầm dễ ngấm... Điều ấy khiến Tư Nhâm hãi sợ. Chị vừa nơm nớp e ngại vừa như thể mong ngóng viên sĩ quan xuất hiện. Tối tối căn nhà có tiếng đàn ông quả đỡ tẻ hơn. Và Tư Nhâm thấp thỏm lo lắng, lại thoáng chút bằng lòng nhận ra rằng mình đã bắt đầu quen quen với sự có mặt thường xuyên của Hai Rạng trong căn nhà này. Chị nhìn viên thiếu tá không như kẻ xa lạ cách biệt nữa, thậm chí nhiều lúc nhìn anh cười chị bất chợt nhận ra dáng vẻ hết sức quen thuộc của Hai Rạng ham mê chọi dế ngày xưa khoái chí la lên khi thắng cuộc. Nhiều năm rồi nụ cười hồn nhiên dễ ưa ấy gần như không thay đổi. Trong câu chuyện, bởi vậy không hẳn suồng sã bỗ bã nhưng đã chẳng mấy giữ kẽ, có cái gì đấy chân tình hơn...
– Lâu nay Tư ít về làng phải không? Tôi cũng vậy. Từ ngày ông bà già chuyển lên Sài Gòn làm ăn chỉ có mỗi một lần đảo qua. Ngày trước thấy làng Cọt và bãi cát giáp bờ sông, nơi tụi mình vẫn ra đổ dế rộng thênh thang, cứ như đó là cả thế giới, nay có dịp quay lại, cảm giác bé tẹo. Cây đa đầu làng bí hiểm, tối đến bọn trẻ đâu dám đi qua một mình, nay bị đạn phạt mất ngọn, chỏng chơ chỉa lên trời tội nghiệp như bàn tay cụt. Tôi nhớ có lần gặp Tư mếu máo nơi đó, phải chưa, hỏi ra thì bảo rằng thương con dế quán quân vừa mất...
– Lần ấy khóc không phải vì con dế... Xuống ngoại cúng, mải chơi nên má về trước, liền khóc oà rồi chạy đuổi theo...
– Ờ, phải rồi, chắc tôi nhớ nhầm... Khi tôi dắt Tư về, thím Bảy Bương la là con gái chi mà mau nước mắt, suốt ngày bám váy má lớn lên làm được trò gì. Rồi thím ra vườn hái khế ngọt cho hai đứa ăn. Cây khế đó còn không, Tư?... Hồi ấy tôi hỏi sao khế ngọt vậy, em giải thích rằng trước đây có một lần ngoại đến chơi và chôn xuống gốc xác con mèo đen, nên khế chua thành khế ngọt...
– Ô, anh nhớ kỹ ha, đã bao năm rồi...
– Nhưng có thiệt khế chua có thể trở thành khế ngọt được không?
– Hai Rạng chọi dế có thể trở thành sĩ quan quân lực cộng hoà thì khế chua cớ chi không trở thành khế ngọt được.
Viên sĩ quan cười:
– Tư nói hệt giọng Cộng sản ha!... Ngày xưa em hiền lành, đa sầu đa cảm, đâu đáo để vậy... Có con dế chết, khóc thương mấy ngày liền.
– Hoàn cảnh tạo nên tính cách, chẳng có lần anh nói thế sao.
– Vậy gắng làm cho hoàn cảnh tốt lên... Phụ nữ ở tuổi em sống thiếu đôi lứa là phi tự nhiên nghe. Sống như thể không phải với những gì trời cho.
– Đáo để nhằm tồn tại... Mà tại sao con trai, hồi nhỏ thích tiêu khiển bằng trò bắt dế để chọi... Lớn lên hình như lại khoái đánh nhau.
– Không ai muốn, nhưng tình thế buộc phải vậy. Nếu dân làng Cát cứ yên phận theo Quốc gia mà làm ăn, lính Rồng Biển đâu phải nay xuống dẹp, mai xuống bình định.
– Thiếu tá lại sắp kéo quân về đó? Càn vậy vẫn chưa đủ sao? Dân làng Cát oán lắm...
– Chiến tranh có những nghiệt ngã phi lý phải chấp nhận. Nhưng lần này không là làng Cát. Dân trên Sông Cầu đang làm loạn... Mà em quan tâm tới ba cái chuyện đó chi cho mệt. Chiến tranh không phải việc của đàn bà.
– Đàn bà cũng phải chạy loạn hoài hoài.
– Em tới được vùng kiểm soát của Quốc gia là an toàn rồi...
Câu chuyện thường nghẽn tắc ở khúc đó, khi Tư Nhâm trở về với con người ý thức của mình. Nhưng dù luôn túc trực là con người ý thức, Tư Nhâm vẫn là một người đàn bà với nhiều đa đoan và yếu đuối...
Một lần đang có mưa, Tư Nhâm rỗi rãi nằm sấp trên giường, úp mặt xuống gối vẩn vơ trong những liên tưởng chập chờn, bỗng dưng Hai Rạng xuất hiện. Anh không đường đột bước vào nhà mà đội mưa đứng ngoài sân gọi. Trời ơi, sao tới không đúng lúc vậy chớ, Tư Nhâm đỏ ửng mặt, khẽ thở dài rồi vùng dậy, bối rối vuốt lại mớ tóc, bước ra. Cũng như mọi lần, thấy chị, Hai Rạng cởi mở nở nụ cười. Anh ngồi xuống ghế, xo ro như thể bị lạnh. Tư Nhâm nhìn Hai Rạng trong bộ “sơ vin” giản dị chẳng ra dáng một người lính, cũng thấy có cái gì đó ái ngại.
– Đang mưa tới chơi chi cho cực! - Chị nói và với chiếc bình thuỷ, rót cốc nước nóng đẩy về phía Hai Rạng. - Uống chút cho đỡ lạnh nghe.
Kế đó chị vào nhà trong, giật chiếc khăn mặt, bước ra:
– Anh cầm lau đỡ.
Hai Rạng cảm động ngước lên nhìn, tỏ sự cám ơn. ánh mắt nhiềungụ ý của viên thiếu tá như thể đọc được tâm trạng Tư Nhâm khiến chị lúng túng, hai má nóng phừng.
– Không nghĩ là mưa. - Hai Rạng lau nước trên mặt, nói hồn nhiên. - Đi được già đường trời mới đổ nước xuống. Hôm nay rỗi tới thăm Tư, với nữa có cuốn sách hay mang để em đọc cho đỡ buồn. Chạy chợ nhưng cũng có lúc rảnh rang chớ. Thời gian rỗi nên tiêu vào sách. - Hai Rạng lôi trong người ra cuốn Hội chợ phù hoa và đặt lên bàn. - Toàn chuyện tình cảm, hay lắm!
Tư Nhâm liếc nhanh lên bìa sách. Đôi nam nữ trên đó đang hôn nhau. Chị vội nhìn ra sân, nén tiếng thở mạnh.
– Giáp tháng tám mà trời cứ mưa hoài... - Chị nói bâng quơ, hai mắt như thể lơ đãng vẩn vơ hướng ra màn nước.
– Tháng bảy mưa ngâu mà...
– Phải, mưa ngâu.
– Em rõ chuyện tại sao trời mưa ngâu không, Tư?
Tư Nhâm im lặng. Chị biết chuyện đó chớ. Hồi nhỏ, lúc còn sống dưới làng với má, những ngày trời sụt sùi thế này, bên rổ ngô rang má vẫn kể để chị nghe câu chuyện tình nhỡ nhàng của cặp nam nữ đó. Tội nghiệp, một năm mới gặp nhau một lần nên sướt mướt suốt. Nhưng chuyện tình cảm yêu đương nói ra lúc này e vô duyên. Chị lại nhìn vào màn mưa và cố tình lảng sang chuyện khác.
– Chuyện chàng Ngưu Lang và nàng Chức Nữ chắc cũng có thật... - Hai Rạng nhìn Tư Nhâm và nói.
– Mưa vầy biển sẵn cá lắm nghe.
Hai Rạng ngồi yên. Một lát anh kéo ghế dịch sát lại phía Tư Nhâm.
– Tư nè...
– ...
– Tư nè, tôi hỏi thiệt và Tư cũng phải thiệt lòng nghe...
– Người ta bảo mưa có bong bóng nổi lên là còn mưa lâu đó.
– Em thiệt tình không thương tôi, hay còn lý do khác?
– Sao anh... thiếu tá lại hỏi vậy? - Tư Nhâm giật mình, phản xạ theo thói quen, và lập tức chui vào vỏ, trở lại vai diễn của mình. Song hình như người đàn bà trong chị ở thời khắc này là kẻ bướng bỉnh nên chị cảm thấy có điều gì đó chống chếnh lo sợ. Tư Nhâm toan đứng lên nhưng Hai Rạng đã kịp cầm lấy tay, rồi cúi xuống, gục khuôn mặt lạnh ngắt lên hai đầu gối chị.
– Tư à, tôi thương em thiệt lòng mà... Cớ gì em cứ lẩn trốn tình cảm đó? Tôi không tin em chẳng có mảy may cảm tình nào đối với tôi. Tư Nhâm, em nhìn thẳng vào mắt tôi nè và hãy nói thực lòng mình... Hay Tư đã có nơi có chốn hoặc đang chờ đang đợi ai? Nếu vậy hãy nói với tôi một lời... - Hai Rạng choàng tay ôm qua người Tư Nhâm, rồi riết chặt chị vào lòng. - Đừng dửng dưng vậy tội nghiệp mà. Chúng mình đâu còn thơ dại, đúng không? Anh thiệt tình yêu em, Tư à...
Tư Nhâm run lên, bàng hoàng. Như người ngạt thở, chị không thật rõ cảm giác của mình lúc đó. Mặt nóng bừng và toàn thân cũng nóng bừng. Hình như những gì kìm nén tựa liều thuốc nổ được châm ngòi, bung ra, chị đờ đẫn mặc cho Hai Rạng nắm lấy hai bàn tay của mình, lần hít khắp cơ thể. Và vẫn trong trạng thái bải hoải đó, chị nhũn nhão không còn sức lực chống cự, cũng không mảy may phản ứng để mặc Hai Rạng mạnh mẽ và cuồng nhiệt bế thốc vào giường. Lơ mơ bên cạnh là hơi thở gấp gáp. Mùi đàn ông. Trần nhà. Và cái vật thể cương nóng rắn cứng nơi người đàn ông ma sát vào đâu đó... Tư Nhâm chùng xuống, lịm đi... Nhưng vào phút đó, thời khắc bàn tay Hai Rạng nóng như lửa vội vã và táo bạo chạm được vào phần nhạy cảm nhất của người đàn bà, như có một sức mạnh thần bí tiềm ẩn khó hiểu đâu đó đến lúc hồi sinh, phần bản năng đàn bà trong Tư Nhâm hoá thân thành người ý thức. Rất nhanh, hình ảnh Tư Lăng không một mảnh vải trên ngưòi, cường tráng ụp vào chị cái đêm anh vượt sông về qua nhà và ánh mắt lưu luyến lúc hai người chia tay cách đây đã hơn chục năm, rồi tia nhìn thơ ngây hồn nhiên của đứa con gái, khuôn mặt Sáu Sinh, Sáu Quyên, khuôn mặt bà Bảy Bương cùng nụ cười hơ hớ giễu cợt trên khuôn mặt trắng mịn của Ba Hoàng cứ xoay tròn, méo mó, chùng chập, lờ mờ lúc ẩn lúc hiện gồng chị choàng ra khỏi cơn mê. Hoảng loạn, bất định, chị toài ra được khỏi giường, chuệnh choạng bước ra phòng ngoài. Chị đổ xuống ghế, thở gấp. ý thức về vai trò diễn viên kéo chị trở lại với bộ mặt nghiêm nghị không thật nữa của mình.
Hai Rạng như người phát khùng vừa qua cơn hoảng loạn, xấu hổ vì bất lực thua cuộc, lón nhón bước tới cạnh Tư Nhâm.
– Xin lỗi... Nhưng tôi yêu em thiệt tình...
– Không ai có lỗi... Thiếu tá ngồi!
– Nhưng tại sao, tại sao... Tôi không hiểu. Em giải thích đi, Tư Nhâm...
– Tôi lấy đỡ thiếu tá cốc nước lọc nghe.
Tư Nhâm không ngẩng lên, nói rất tỉnh. Chị nhập vai không đến nỗi nào, khuôn mặt giả bộ vô cảm, và giọng dửng dưng như không...
Bên ngoài trời vẫn rả rích mưa.
Sáng hôm sau, Tư Nhâm không ra chợ. Đêm qua là quãng thời gian dài vô tận, chị vật vã trên giường, không sao đè nén những hoang dại thèm muốn cứ mỗi lúc lại bùng lên, cuối cùng đành trốn chạy bằng cách dầm mình trong mưa để những sợi nước quất vào người cho tới lúc lạnh cóng, mới sũng sượt rã rượi vào nhà. Gần sáng gây gây lên cơn sốt, chị mệt mỏi dán mình trên giường...
Đang mê man nửa ngủ nửa thức thì có tiếng phanh xe rin rít, kế đó là tiếng loang choang như mảnh sành va vào nhau từ sân gọi vào:
– Cô Tư có nhà không?
Ba Hoàng! - Tư Nhâm nghĩ nhanh rồi với khuôn mặt phờ phạc, chị chuếnh choáng rời khỏi giường, lần ra phòng ngoài. Ba Hoàng có trung sĩ Độ tựa cái bóng bám lẽo đẽo phía sau, bước vào.
– Có việc gì mà đại uý và trung sĩ đến sớm vậy? - Tư Nhâm uể oải kéo chiếc ghế mời hai người ngồi và hỏi.
– Qua ngõ nghĩ rằng cô Tư có nhà, ghé vô chơi chút thôi. Coi bộ cô Tư không được khoẻ...
– Cám ơn!
– Chà, ngôi nhà vắng vẻ nhưng được cô Tư dọn dẹp tươm tất ha... Mà con nhỏ đi đâu lâu nay không thấy, cô Tư?
– Cháu về ngoại...
– à, cô Tư đưa nó về dưới đó chắc để được rảnh rang... Mà cớ chi từ làng Cát cô Tư phải chuyển lên đây ở chớ, có phải để được gần thiếu tá Hai Rạng? Nếu đúng vậy thiệt mừng ha.
– Việc đó cũng liên quan tới đại uý sao?
– Liên quan chớ, cô Tư. Trong thâm tâm, Ba Hoàng này vẫn coi cô Tư là người nhà, là bà thiếu tá nay mai... Nè, ông thiếu tá của tôi thề sẽ không lấy vợ nếu người đó không phải là cô Tư đây. Đàn ông như vậy kể cũng kỳ. Kỳ hơn nữa là nhiều lúc ông tương tư đến ngẩn ngơ... Một mối tình thiệt hay, thiệt đáng quý. Cô Tư chờ chi nữa mà không ưng thuận?
– Việc riêng của tôi đại uý xía vô chi. Ông lo chuyện nhà mình chưa đủ?
– Chuyện của cô Tư và của thiếu tá Hai Rạng đâu còn là chuyện riêng của hai người. Tôi là cấp dưới cũng có bổn phận chớ... Cô Tư nè, Lân Cồ là vùng Quốc gia kiểm soát, nhưng Việt Cộng vẫn xuống quấy nhiễu và thậm thụt về lấy tin tức. Nói vậy là tôi có ý lo cho cô và giữ uy tín của thiếu tá Hai Rạng. - Giọng Ba Hoàng khiêu khích - Kẻo rồi khi xảy ra chuyện lại biểu Ba Hoàng không biết điều... Mà đến nước đó, Hai Rạng cũng khó đỡ được.
Tư Nhâm giật mình. Chị biết lâu nay Ba Hoàng vẫn mong manh ngờ ngợ, việc chị chuyển lên Lân Cồ, càng khiến hắn có cái gì đấy nghi vấn, khó hiểu và càng để ý. Viên đại uý thường xuyên cho người theo dõi, bám sát. Bán hàng nơi chợ, nhưng Tư Nhâm rõ rằng vẫn có đôi mắt trong quán giải khát gần đó canh chừng hướng về phía chị, và mọi động tĩnh đều đến tai Ba Hoàng. Nhưng không ngờ hôm nay hắn doạ dẫm sát sạt vậy. Hay hắn đã đánh hơi ra điều gì? Liệu mấy lần Sáu Quyên qua chỗ chị có bị người của hắn nắm được? Chắc là chưa. Nếu lộ, thằng mật vụ ranh mãnh này đâu chịu để yên. Hắn đang nhăm nhăm tìm bằng chứng và khi đó thì như hắn doạ, Hai Rạng cũng không đỡ được...
– Ông đại uý nói chi đâu tôi thiệt không hiểu! - Tư Nhâm cố trấn tĩnh rồi nói. - Tôi lên đây để được yên ổn chạy chợ, quan tâm chi đến Việt Cộng với Quốc gia.
– Là tôi cứ lường trước vậy... Nhân đây thông báo với cô Tư chuyện này nữa. Cô Tư biết Tám Phụng chớ, Tám Phụng Huyện uỷ viên Việt Cộng đã chiêu hồi về với Quốc gia mấy tháng trước đó. Lão treo cổ tự vẫn rồi. Thiệt ngu. Cơm có người hầu, ở có người canh phòng, sướng như một sĩ quan cao cấp của quân lực lại không biết hưởng, cớ chi chết uổng chớ. Lão dùng dây thừng ngoắc mình lên cửa sổ. Người Lân Cồ đang hiếu kỳ xúm xít bàn tán như chuyện lạ... Cô Tư rảnh cũng nên lên đó nghe cho biết. - Ba Hoàng chợt quay về phía gã vệ sĩ: Trung sĩ Độ!
– Có tôi, thưa đại uý!
– Nếu cô Tư đây muốn lên Lân Cồ, bố trí xe để cô Tư đi nghe.
– Dạ rõ, thưa đại uý...
– Tôi đâu có thì giờ dính mũi tò mò vào ba thứ chuyện lăng nhăng đó... Tôi còn phải xuống bãi nhặt cá đây, đại uý thông cảm nghe...
– Cô Tư đuổi khéo tôi sao? Được, Ba Hoàng đi. Nhưng Ba Hoàng còn quay lại thăm cô Tư đều đều... Vậy chào cô Tư.
Thầy trò Ba Hoàng vừa bước ra cổng, Tư Nhâm kiệt lực bải hoải thả mình xuống ghế. Chị ngồi thừ ra, thấy trong người rổng rểnh óp ải, rã rời như vừa gắng làm cái gì quá sức...
Bên ngoài, những giọt nước mắt của đôi tình nhân đã thôi nhỏ xuống. Bầu trời quang quạnh. Và tiếng sóng từ biển lại rì rầm vọng vào, đều đều...
*
Chưa bao giờ làng Cát chộn rộn như hôm ấy. Có cái gì đó náo nức, nén ép vừa phô mở lại như vừa kìm giữ. Chưa tối, đường làng đã hối hả bước chân. Tiếng thanh niên nam nữ nhi nhới gọi nhau:
– Hoà ơi, đi chưa?
– Ngũ, trễ rồi, lẹ lẹ lên chút...
Ở một hẻm khác:
– Con đi nghe má.
– Tụi mày không kịp ăn gì sao?
– Nhiệm vụ đặc biệt mà, má.
– Đặc biệt thì cũng phải no cái bụng đã. Chẳng rõ có việc gì quan trọng mà đứa nào cũng hấp ha hấp hởi như ma làm vậy chớ...
– Rảo cẳng lên kẻo Mười Bàng lại la hét um sùm nghe. Đến trễ là lão Trương Phi xả bậy bạ ra như hắt nước vào mặt đó.
– Không rõ đi bao nhiêu ngày, hồi chiều vét đến lon gạo cuối cùng của má rồi, liệu có đủ ăn.
– Thiếu gạo thì ăn rau rừng. Bộ đội chỉ nhai hột mít đánh giặc đã sao. Được tham gia việc cách mạng là khoẻ rồi.
– Mà đi đâu, làm việc gì cũng phải phổ biến truớc một câu chớ. Cứ như chơi trò bịt mắt bắt dê...
Nơi bãi cát xế rìa làng, gần năm chục nam nữ thanh niên túm tụm trên đó. Người đứng kẻ ngồi. Lổn nhổn những bị, những ba lô. Xã đội trưởng Mười Bàng đang điểm quân số. Anh lầu bầu nói tục khi có người báo rằng thôn Ba chưa đủ quân.
– Lần sau biểu mấy cha đó cắt cu để lại nhà cho nhẹ nghe. Nếu kêu ra đây cho ngủ với gái lại không đạp lên nhau mà chạy chí chết... Khỉ, giờ với giấc! Rậm rà rậm rờ cứ như đàn bà vừa đi vừa rặn đẻ...
Từ phía sau, ông Năm Bào chen mọi người, rướn lên.
– Mười Bàng, mày xạo nghe. - Ông đứng trước xã đội trưởng và nói.
– Lần trước hứa sao? Vậy mà trong dach sách đi làm nhiệm vụ không có tên già này. Mày giải thích coi?
– Trời ơi, bộ chú khùng hay sao, chú Năm. Lần này chỉ điều động thanh niên thôi.
– Nghĩa là hạng như tao già yếu rồi không có ích nữa phải không? Được, hôm nay tao thử sức vóc với mày. - Ông Năm làm động tác đứng tấn, hai gối chùng xuống, lòng bàn tay nắm chặt, mắt hướng thẳng về trước. - Nào, mày cậy khoẻ hơn, nhào vô thử coi...
Đám thanh niên thấy vậy cười ồ. Mười Bàng cũng cười:
– Biết là chích đầu gối chú Năm vẫn còn máu, nhưng...
– Tao không khoái chữ nhưng nghe mày. - Ông Năm không thay đổi thế đứng, ngắt lời. - Thì cứ nhào vô một lần cho biết...
– Chuyến này đi xa, đi dài ngày đó, chú Năm.
– Xa, dài tao cũng tham gia... Tụi hoi hoi cười cái gì? - Ông quay về phía đám đông, lúc ấy đang ôm nhau ngặt nghẽo. - Tao không ngán đứa nào nghe. Thay Mười Bàng thử một hiệp, nếu thua, tao chịu ở nhà!... Còn không đứa nào dám thử sức, không có tên, tao cũng theo. Tụi bay cậy thế để độc quyền làm cách mạng, tao kiện lên Sáu Sinh đó...
Bí thư xã Ba Tánh đứng cạnh đành xuống nước:
– Thôi được, mời chú tham gia. Chú ở tổ Ba nghe. Nhưng chú đã chuẩn bị lương thực chưa? Phải tự túc trong một tuần.
– Chuyện nhỏ. Chẳng lẽ bọn trẻ có ăn lại bỏ già này đói. Không có gạo thì đào củ, kiếm lá rừng mà ăn. Chết đói dễ vậy đâu còn là dân làng Cát...
– Vậy mời chú đứng vô hàng... - Ba Tánh nhìn mọi người rồi nói.
– Thưa các đồng chí, Đảng có nhiệm vụ quan trọng đặc biết. Và làng Cát ta vinh dự được tham gia... Đây là công việc tối mật, nên ai được phân công việc gì chỉ biết việc đó, không tìm hiểu, không dò hỏi, không để cho bất cứ ai biết việc mình làm. Xong nhiệm vụ mới được về. Trong thời gian ấy, nghiêm cấm ra khỏi nơi mình đang công tác... Ai vi phạm sẽ kỷ luật nặng. Chúng ta có làm được không?
Nhiều tiếng đồng thanh đáp:
– Làm được!
– Vậy hoan nghênh... Việc ăn ở sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng tin rằng với tinh thần quật cường của làng Cát, chúng ta biết khắc phục để hoàn thành nhiệm vụ. Có ai ý kiến hoặc thắc mắc gì không?
– Bao giờ lên đường mà dền dứ hoài vậy, ông Bí thư? Chúng tôi nóng ruột nóng gan lắm rồi... - Trong hàng có người lên tiếng.
– Tụi tôi không sốt ruột sao? Nhưng việc gì cũng có thời điểm... Ngay bây giờ, ngay đêm nay chúng ta lên đường đi làm nhiệm vụ...
Ba Tánh vừa nói xong, đám đông chợt ô, a lao xao bàn tán.
– Đề nghị trật tự nghe nói hết đã. Trên đường đi, phải hết sức kín đáo. Không được qua bãi cỏ tranh. Đốn cây phải đốn xa đường. Và không chặt một chỗ. Cành cây lá cây phải giấu kín, đừng để máy bay lượn qua phát hiện ra lá héo... Rõ cả chưa?
– Rõ! - Mọi người lại đáp.
– Dặn hoài như trẻ con... - Có người nói.
– Xã đội trưởng Mười Bàng sẽ dẫn đường. Các đội, xuất phát!
Mười Bàng đi đầu, đoàn người theo hàng một, thứ tự ra khỏi làng. Họ đi về phía núi Bia...
Gần sáng, dân quân du kích làng Cát có mặt ở Vũng Rô. Từ Đèo Cả nhìn xuống, quanh khu vực Vũng Rô yên ắng như chốn hoang lạnh. Nơi đây bốn bề núi chắn, chỉ một lối duy nhất nối thông ra biển. Nghe nói trước kia vùng này có con quái vật đầu người mình rắn vẫn ẩn hiện. Lại có người bảo quanh Vũng Rô là chốn mê cung, nhiều tà khí u u mê mê, đã vào không có ra. Bởi vậy đã từ lâu, chẳng ai có gan đùa giỡn với sự nguy hiểm, dại dột bước vào vương quốc của tà ma ám khí... Thỉnh thoảng lắm mới có chiếc tàu nhỏ của quân đội lè vè lượn một vòng lấy lệ, rồi cũng vội vã quay mũi rút nhanh ra khỏi chốn hoang vắng này. Nơi đây chưa bao giờ có tiếng người...
Nhưng mấy hôm nay quanh Vũng Rô rậm rịch. Thanh niên từ các xã đổ về khá đông. Họ đốn cây dựng lán, sửa đường, bắc cầu cảng... Công việc tiến hành lặng lẽ, nhưng khẩn trương. Sát mép nước, nơi phần việc làng Cát đảm nhiệm, Bí thư Ba Tánh và Xã đội trưởng Mười Bàng như con thoi. Đốc thúc, chỉ đạo, hò hét. Hai người quát tháo khản cả tiếng.
Ngày thứ ba, trời vừa bén tối, thanh niên làng Cát dưới sự chỉ huy của xã đội trưởng nhanh chóng khiêng những khối gỗ lớn cùng những tấm ván mới xẻ từ núi xuống bãi cát. Họ có nhiệm vụ hoàn thành cầu cảng trong đêm. Người dầm mình dưới nước đóng cọc. Người lặn xuống nạo bùn, vần những tảng đá ngầm chuyển đi nơi khác... Mười Bàng ngâm nửa người dưới nước, đỡ tấm ván từ trên bờ lao xuống, dặn người bên cạnh:
– Buộc sao cho ván chìm dưới nước nghe, nhưng khi tháo dây ra, cầu cảng nổi lên để tàu cập vô.
– Tụi tôi rành rồi mà, anh Mười. Sáng mai bảo đảm mặt nước nơi đây vẫn êm như tờ...
Đến lúc này thì gần như mọi người đều hiểu rằng họ đang làm cái công việc cuối cùng nhằm đón tàu chở vũ khí từ miền Bắc vào, nên hết thảy đều phấn khởi. Điều bí mật đã không còn bí mật nữa.
– Lẹ tay lên, trời sáng mà công việc chưa xong là kẹt nghe. - Mười Bàng nói.
– Cũng muốn lẹ nhưng cái bụng cồn cào nên cái tay nó run. Tối nay lót dạ chỉ lưng lửng chén cơm ghế củ.
– Phải hăng hái nhiệt tình như khi nhấp nhổm trên bụng đàn bà chớ. Sao những lúc đó mấy anh hùng hục hăng say mải miết vậy?
– Cái tí hỉn lum khum của các mụ đó nó hấp dẫn, có ma lực, có sức hút mạnh lắm Xã đội trưởng ơi.
– Việc cách mạng không có ma lực sao? Cứ coi công việc đang thực thi như khi toài trên bụng đàn bà lạ mà làm cho hăng.
– Có đàn bà lạ ườn ra mời chào cho không biếu không nhưng bụng đói cũng đành nuốt nước bọt chào thua.
– Vậy phải coi công việc đang làm trên cả việc đó...
– Có chuyện gì hay hay kể nghe cho đỡ mệt, anh Mười.
– Đời này chỉ có mỗi một chuyện hay hay, có thể quên mệt là chuyện tí tởn với đàn bà.
– Nghe nói anh Mười thỉnh thoảng vẫn ngó nghiêng thậm thụt ghé qua quán Năm Hồng thưởng thức chút của lạ...
– Năm Hồng đâu của riêng ai mà phải thậm thụt?...
– Cái ấy của Năm Hồng phổng phao, khác lạ, không giống như những người đàn bà khác, đúng không anh Mười?
– Tò mò thì tới đó chạm tay vô một lần cho biết. Nhưng làm thằng đàn ông để đàn bà coi thường cho rằng chỉ loen quen, lấp nhấp không đủ gãi ngứa rồi bị họ đạp xuống giường thì đừng vác mặt tới nghe...
– Tôi làng nhàng vậy nhưng coi bộ dai sức đó, anh Mười.
– Dai sức thì cố làm lẹ lên...
Đám người cười rộ...
Cách mép nước không xa, trong lán chỉ huy mới dựng nơi lưng chừng đồi, Bí thư Tỉnh uỷ Sáu Sinh đang nghe các đơn vị báo cáo công việc.
– Báo cáo anh Sáu, chúng tôi đã cho dựng đủ ba mươi tám lán tạm, có chỗ ở cho hơn trăm người. - Một cán bộ nói.
– Cố gắng dựng thêm, tối mai tối kia quân số sẽ đông hơn...
– Kẹt một nỗi là..
– Lại vấn đề lương thực phải không? Tôi đã thông báo rằng các đơn vị tự lo. Phải khắc phục thôi.
– Vâng, tưởng là tỉnh giúp cho ít nhiều... Đành vậy.
– Còn làng Cát, cầu tàu đêm nay xong chớ?
– Báo cáo Bí thư, đã thực hiện hơn hai phần ba kế hoạch. - Ba Tánh nói. - Đêm nay xong.
– Động viên anh em gắng nghe... Tiện đây phổ biến luôn, tôi vừa nhận được thông báo, tàu chở hàng đã xuất phát... Các điểm chốt cần theo dõi địch thường xuyên, lơ là rồi trở tay không kịp...
– Việc đó anh Sáu yên tâm... - Một người nói - Bữa ăn chỉ có cơm với rau rừng chấm muối nhưng biết được tham gia việc lớn nên hết thảy anh chị em đều phấn khởi hồ hởi lắm... - Người này chợt chùng giọng. - Hình như bên Hiệp Hoà có chuyện gì đó phải không, anh Sáu. Thấy mấy đứa cứ xầm xì?
– Không tò mò, các anh về lo công việc bộ phận mình đi.
... Khi mọi người đã ra khỏi lán, một mình ngồi bên ngọn đèn dầu, Sáu Sinh thấy oải. Chuyện vừa xảy ra ở Hiệp Hoà như vết dao chém vào cơ thể chưa đủ thời gian lên da non, lại nhói buốt. Ông ngồi lặng tựa hòn đá mới mọc, nghĩ mông lung. Công việc không đơn giản như mọi người đang phấn khích vẫn nghĩ. Tình hình phức tạp hơn nhiều.
Ông lờ mờ cảm thấy có cái gì đó hết sức chênh vênh, bất ổn. Mới triển khai công việc vài ba hôm mà mọi sự đã rối lên, trắc trở. Từ nay cho tới lúc tàu cập được vào chốn này còn chuyện gì có thể xảy đến nữa đây. Rất nhiều việc nằm ngoài dự kiến, nằm ngoài tư duy đã nghễu nghện mò tới. Điều đó khiến ông lo lắng, sợ hãi, thậm chí hoang mang. Đêm qua ông đã không hề chợp mắt. ám ảnh trách nhiệm và nỗi khổ tâm trong câu chuyện xảy ra ở khu vực du kích Hiệp Hoà đảm nhiệm hành hạ khiến ông day dứt, quặn thắt... Người thanh niên ấy không đáng phải chịu hình phạt như vậy! Cậu ta chưa đầy hai hai tuổi, sức trẻ còn tràn trề, vậy mà... Trời ơi, sao lại có thể trớ trêu, vô lý thế được chứ! Chuyện thật mà ngỡ như không phải... Chiến tranh quả đã gây ra bao tai vạ không sao hiểu nổi, tàn ác, nhẫn tâm... Con quái vật khổng lồ ấy có từ ai, nó nhe răng ra ngoạm vào bất cứ người lương thiện nào. Sự nghiệt ngã thật khó lường... Khi nghe ngưòi cán bộ xã Hiệp Hoà hớt hải, khuôn mặt đau đớn xanh tái báo cáo lại sự việc, ông bàng hoàng hoảng loạn như thể đang ngồi bên bờ vực mà dưới đó là ma là quỷ... Ông đau đớn thấy tội cho người chết mà cả tội cho người sống! Chưa đầy hai ngày sau sự việc ấy, tóc người cán bộ xã đã bạc trắng... Nếu ở tình thế như người cán bộ Hiệp Hoà, ông xử trí thế nào?... Nơi tiếp nhận vũ khí là khu vực tuyệt mật. Không một ai được vào đã đành nhưng đã vào đó cũng chẳng vì nguyên cớ gì để trở ra. Điều ấy có lý, bởi bến bị lộ, địch sẽ càn và con đường vận chuyển vũ khí trên biển với bao công sức tạo dựng coi như bỏ... Bí mật “bến” được hết sức chú trọng, được coi là yếu tố hàng đầu... Vậy mà chàng trai trẻ ấy đã không chịu được nỗi kham khổ, lại quá nhớ người yêu cứ tìm cách để nằng nặc đòi về. Khuyên giải, phân tích, đe nẹt tựa nước đổ lá môn. Chàng ta ậm ự tỏ ra nghe lời nhưng đang đêm lỉnh ra khỏi “bến”. Cái tin ấy làm chỉ huy xã thất thần. Trong cơn hoảng loạn, lo sợ, xã đội trưởng Hiệp Hoà đã ra lệnh cho một tổ gồm ba du kích vác súng đuổi theo, nếu không bắt được thì... bắn. Và họ đã... bắn. Sau vụ ấy, người ra lệnh chùng xuống như tàu lá úa. Chỉ hai đêm đã không còn nhận ra. Hốc hác, sọm sẹo, méo mó. Hình thể chẳng khác môt cái xác không hồn. Tội nghiệp! Trong tình thế ấy biết làm sao chớ... Lộ bến, lộ con đường là toàn mặt trận không có vũ khí... Chiến tranh, khủng khiếp quá! Trớ trêu và nghiệt ngã quá!... Đã đành là phải hy sinh cái trước mắt vì những lợi ích lớn hơn. Nhưng chuyện đó sao mà đau, sao mà buồn! Người cán bộ phải làm vậy cũng là tình thế bắt buộc. Người mất mạng thiệt, nhưng chỉ chết một lần, còn người thực thi còn đau hơn, phải dằn vặt, chết dần dần... “Nó chỉ nhỉnh hơn thằng con tôi hai tuổi mà, anh Sáu...”. Câu nói buốt xót như mếu của người xã đội trưởng ám anh Sáu Sinh mấy ngày qua... Ông bước ra khỏi lán, ngước lên bầu trời cố xua đi những lởn vởn quanh cái chết phi lý của người thanh niên nọ...
Một du kích hớt hải chạy tới. Sáu Sinh quay ra hỏi:
– Có gì vậy, Năm? Người du kích ấp úng:
– Báo cáo chú Sáu...
– Cứ nói!
– Báo cáo chú... Thưa chú, tổ của Ba Thành vừa qua sông thì bị lính Ba Hoàng phục kích. Hai du kích hy sinh, Ba Thành bị thương và... bị bắt.
Sáu Sinh giãy nảy như vừa uống phải thuốc độc. Ông thả người xuống bãi cỏ, khuôn mặt thừ ra, lặng ngắt...
... Đêm ấy “tàu không số” của thuyền trưởng Thanh nhận được điện từ Sở Chỉ huy: “Giảm tốc độ, tiếp tục đánh cá ngoài hải phận quốc tế. Bến động”.
*
Đại uý Ba Hoàng ngồi đốt thuốc sau chiếc bàn được dọn gọn và sạch trong phòng làm việc của mình. Đối diện là Ba Thành, bạn học thủa thiếu thời của y. Bắt được Ba Thành khiến Ba Hoàng khoái chí. Kẻ cùng làng này là chiếc chìa để có thể mở bung những gì viên đại úy lờ mờ cảm nhận qua những thông tin cũng hết sức mu mơ về một chiến dịch nào đó của Cộng sản trong vùng tiểu đoàn Rồng Biển kiểm soát.
Bởi vậy Ba Hoàng muốn đích thân mình hỏi cung. y cố tỏ ra kiên nhẫn, thong thả rít từng hơi thuốc, nhưng ánh mắt không giấu được sự nôn nóng. Với những gì đã biết về tính cách Ba Thành và chuyện y hành xử với gia đình nhà Tư Đởn, Ba Hoàng không có ý dùng tình cảm ngọt nhạt mang tính phủ dụ như những kẻ bị bắt khác. Hy vọng vào sự sợ hãi, hoang mang của Ba Thành để từ đó con người này quy thuận là ảo tưởng. Phải “duya rếch”, ngửa bài ngay từ đầu. Với ý thức ấy, Ba Hoàng cố nén sự hí hửng. Vất chiếc tóp thuốc xuống nền nhà, đôi mắt mở to nhìn thẳng vào kẻ đang ngồi trước măt, y tỏ ra chủ động.
– Anh tưởng bọn tôi không rành Việt Cộng sắp đánh lớn sao? - Ba Hoàng giả bộ thủng thẳng. - Tôi chỉ muốn thêm thông tin để biết đích xác họ đang ém quân ở mạn nào, vậy thôi. Rất đơn giản, đúng không? Chỉ cần anh nói một câu, tôi ra lệnh thả liền. Hứa danh dự... Anh còn lạ gì tính tôi...
Ba Thành cũng ngước lên, chiếu tia nhìn vào Ba Hoàng.
– Tôi chỉ là anh du kích quèn, làm sao biết những chuyện động trời đó!
Ba Hoàng đứng dậy, cười khẩy:
– Tôi rất thiện chí, nhưng anh vẫn xạo... Anh nghĩ tôi ngu lắm hả? Anh tưởng bọn tôi không rõ anh là liên lạc, là người giúp việc thân tín của Bí thư Tỉnh uỷ Trần Sinh?
– Tôi biết ông Sáu hồi ông còn là thầy giáo ở làng... Còn sau này ổng làm gì, đâu rành.
– Đừng gạt bọn này nghe, Ba Thành... Nể tình người làng, lại một thời trẻ nít từng học với nhau, tôi chỉ hỏi riêng anh. - Hắn hạ giọng. - Chuyện anh nói ra chỉ tôi và anh biết... Nếu như anh sợ Việt Cộng trả thù, tôi sẽ bố trí để anh thoát một cách êm ả... Coi như anh trốn...
– Tôi làm sao nói ra những điều tôi không rõ...
– Được, vậy tôi bật mí để anh suy nghĩ nghe, thanh niên làng Cát, thanh niên các xã Hiệp Hoà, Xuân Hoà... kéo nhau lên rừng, anh cũng không biết?
– Tôi đâu phải chỉ huy!
– Vậy tôi nói để anh hay... Quân chủ lực Việt Cộng về, chúng cần nhiều người tải đạn, tải gạo... vậy đó...
– Mấy ông đã rõ, còn hỏi chi?
– Anh chỉ cần nói hai tiếng. - Hoàng cúi xuống sát mặt Thành. - Phải, chỉ hai tiếng địa danh nơi đó, một phút sau, anh tự do...
Ba Thành im lặng, anh thấy mừng. Công việc quan trọng anh và mọi người đang thực hiện, với bọn Ba Hoàng vẫn là ẩn số, chúng chưa mảy may hay biết. Có thể đánh hơi ra một chút gì đấy nên Ba Hoàng đoán già đoán non rồi mang sự phỏng đoán lờ mờ ra doạ. Điều ấy khiến Ba Thành nhẹ người. Anh cảm thấy yên tâm.
Ba Hoàng ngẩng phắt lên:
– Lòng kiên nhẫn của tôi có giới hạn nghe... Đừng để bọn lính nó dùng nhục hình cậy miệng anh ra... - Hoàng lại cúi xuống: Anh nói nhỏ thôi... Nào, bộ đội đang tập trung ở đâu? Rừng ẩn? Đại Lãnh? Vũng...
Thành giật mình... Anh ngẩng lên nhìn Hoàng...
– Hay Vũng... Hay vịnh Xuân Đài... Hay ở Hoà Xuân?
– Tôi đâu rõ ba chuyện đó. - Ba Thành thở phào - Có lẽ các ông nhầm...
– Phải, tao đã nhầm. - Hoàng túm lấy cổ Thành. - Đáng ra tao phải giết mày và thằng anh Cộng sản của mày từ thời còn con nít... Tao nhầm, đã bỏ lọt, nên thằng anh mày mới theo mấy cha Cộng sản ra Bắc... Hoàng hất hàm ra cửa: Dẫn hắn đi!... Xuống đó suy nghĩ thêm nghe...
Hai thằng lính đã túc trực sẵn, xông vào, giật tay Thành ra phía sau, lôi khỏi phòng. Ba Hoàng mệt mỏi và bất lực thả mình xuống ghế.
Những lúc cảm thấy bất an, bực bội, Ba Hoàng thường kêu trung sĩ Độ và hai thầy trò lại ra quán Năm Hồng uống rượu. Y muốn có những phút, như y nói là giải toả để đỡ căng thẳng. Năm Hồng và quán rượu là chỗ xả phiền muộn, đặng lấy lại thăng bằng hợp nhất. Lần trước, sau khi Tám Phụng, chẳng rõ vì nguyên do ngu muội gì thắt cổ tự vẫn, Ba Hoàng bị Hai Rạng ca trách rằng canh gác hời hợt, thiếu lương tâm, y bực, cũng ra quán Năm Hồng và hôm ấy, lần đầu tiên vừa uống rượu vừa sờ mó, vuốt ve mông và đùi người đàn bà mãi tận khuya mới liêu xiêu về tới nhà... Lâu nay Ba Hoàng chẳng mấy quan tâm đến việc vợ có nhu cầu đòi hỏi, nhu cầu giường chiếu nữa hay không. y chai lỳ và buông xuôi trước sự đó. Vợ đi với người tình cũng chẳng bực bõ để tâm. Vợ y cũng vậy, Ba Hoàng say hay tỉnh, mặc lòng. Khi sự ham muốn nhục cảm đã có chốn để thoả mãn bão hoà, người đàn bà trở nên dửng dưng với chồng. Đêm đêm họ, giống hai cái bã, trở về nhà chỉ còn là nhu cầu của thói quen.
Ba Hoàng ra quán Năm Hồng không chỉ vì rượu. Rượu nơi đâu chẳng có. Nhưng ở quán Năm Hồng có một thứ đầy huyền bí ma lực. Ba Hoàng ngày càng nhận ra người đàn bà này phong giữ những bí ẩn hấp dẫn hơn y tưởng. Không hẳn là ở cặp mông căng tròn, đôi chân với phần giáp đùi hằn lộ mây mẩy, hai vú mềm mại uyển chuyển, mà còn có một cái gì là lạ nữa rất đàn bà, rất giống cái, rất phong tình người phụ nữ khác không có khiến bản năng giống đực nơi đàn ông được đánh thức, cường tráng, thúc nén... Điều ấy khó gọi tên cụ thể, chỉ cảm được... Từ ngày hết ham muốn với vợ, Ba Hoàng năng lui tới chỗ Năm Hồng. Y thường ngồi góc khuất, lia mắt vào những đường nét trên cơ thể người chủ quán rồi buông lỏng cho trí tưởng tượng mặc sức tung hoành. Ba Hoàng khoái như vậy. Những điều chỉ nghĩ ra chưa có cơ với tới khiến những tưởng tượng thêm phong phú, càng huyền bí mênh mông và bởi vậy sự ham muốn càng lên men kích thích...
Hôm nay Ba Hoàng uống ít rượu. Y muốn khám phá. Cũng phải biết người đàn bà này có cái gì khác lạ hấp dẫn mà hút đàn ông tới vậy chớ. Hương thơm trời cho mất gì chẳng nếm, chẳng thưởng thức!
Chờ Năm Hồng bước tới gần, Ba Hoàng cầm tay người đàn bà, kéo xuống.
– Năm chiếu cố ngồi xuống chút được không?
– Đại uý cũng có thời gian rỗi sao?... - Năm Hồng thả người xuống ghế bên cạnh.
– Với Năm Hồng, có thể rỗi cả đêm luôn. - Y sẽ sàng đặt bàn tay người đàn bà trong lòng bàn tay nhỏ nhắn thư sinh của mình, đôi mắt đỏ như hòn than, suồng sã cắm vào giữa cặp đùi, vị trí khơi gợi nhiều thứ nhất...
Năm Hồng rụt tay lại:
– Còn sức không mà nói mạnh vậy?
– Nhìn thấy Năm là người cứ rậm rật nôn nao...
– Thật sao?
– Thật chớ. Mới ngửi hơi thôi đã thèm... Năm Hồng cứ như có bùa phép. Ngày càng nõn nà... Cho chút được không?
– Được! Đại uý về xin phép vợ và nếu cô đại uý đồng ý, hôm nào ra thử nghe.
– Năm khỏi lo. Tôi ngán con người đành hanh ấy tận cổ rồi... Mụ đã có người khác săn sóc. Mẹ kiếp, nếu không vì hai đứa nhỏ tôi đã bai từ lâu...
– Người đàn bà đi với người đàn ông khác bởi người đàn ông của mình bất lực... Trong quan hệ vợ chồng, chuyện làm tình quan trọng bậc nhất. Nếu đại uý dư tràn sức lực cô đại uý đâu phải kiếm tìm thêm cho mệt.
– Nghĩa là Năm coi thường, chê tôi kém cỏi phải không? Được, hôm nay tôi sẽ chứng tỏ để Năm biết thế nào là Ba Hoàng nghe... - Ba Hoàng kéo sát Năm Hồng vào người, mơn trớn vuốt ve.
– Đại uý, khách đang nhìn đó!
– Nếu Năm Hồng thích, tôi có thể đuổi tất cả lũ này ra khỏi đây ngay lúc này.
– Biết đại uý dư sức rồi... Đại uý về thể hiện sức mạnh với cô đại uý coi... - Năm Hồng nói và đứng dậy, bước ra chỗ quầy.
Ba Hoàng liu riu mắt nhìn theo, rồi đưa ly rượu lên miệng, tớp cạn.
– Về!
Tối đó Năm Hồng đóng cửa sớm. Chị dọn hàng, vào nhà tắm, rồi không mảnh vải trên người, trần truồng bước vào phòng ngủ. Chị đứng trước tấm gương treo cạnh cửa, khoái cảm ngắm ngó cơ thể lằn lẳn nhiều đường nét và mờ ảo những mảng tối sáng của mình. Chị vẫn có thói quen như vậy, những hôm biết rằng đêm nay không có ai vuốt ve thì trước khi đi ngủ, tự ngắm ngó vuốt ve... Năm Hồng xoay qua quay lại, nâng nâng cặp vú, miết tay vào mông, vuốt vào đám cỏ rậm rạp và khi đã thoả mãn, chị chui vào bộ váy ngủ bằng lụa mỏng tang, mỏng như không thể mỏng hơn được nữa, rồi lên giường...
Đang mơ mơ màng màng thì cảm được có bàn tay cứng như gỗ thành thạo sờ soạng vào bẹn... Năm Hồng tỉnh giấc, nhận ra hơi thở quen quen của Mười Bàng.
– Trời đánh, lần nào cũng đột nhập như ma. - Năm Hồng khoái chí, rạo rực rên khẽ. - Cửa cài chặt vậy mà vẫn vô được, kỳ tài! - Rồi sung sướng cầm bàn tay người đàn ông, đưa lên miệng cắn mạnh.
– Ối! Đau thế?
– Đau à? Ai biểu làm khổ người ta... Chui nhủi mãi đâu mà cả tháng trời mới ló mặt đến? Không nhớ?... Hôm nay phải suốt đêm cho bõ đó.
– Đừng giả bộ thiếu thốn nghe. - Mười Bàng thổi hơi nóng vào tai người chủ quán.
– Không thiếu, nhưng bọn lại cái yếu ẹt, chẳng đã...
– Mấy đứa giúp việc có ở nhà?
Năm Hồng hất bàn tay cứng quẹo của Mười Bàng ra khỏi bàn tay mình, vùng vằng:
– Lần nào tới cũng hỏi lũ trẻ ranh ấy, kỳ vậy? Thèm à?
– Sợ vật nhau huỳnh huỵch, lại kêu rống lên như mèo, tụi nó biết...
Năm Hồng cười:
– Khỏi lo! Chúng quen cảnh ấy rồi... Đưa tay đây, miết vô khởi động đi...
Bàn tay cứng như gỗ của Mười Bàng được bàn tay nóng tựa hơ trên lửa của Năm Hồng hoa tiêu, luồn vào ngực, lại luồn vào chiếc váy mỏng, men từ đùi đến giáp bụng dưới...
– Năm biết chuyện Ba Thành làng Cát chưa? - Mười Bàng chợt hỏi.
– Đang thích tự dưng hỏi chi ba thứ đó. Đừng làm mất hứng nghe... Bỏ quần áo ra!
– Nó bị Ba Hoàng bắt...
– Người của Việt Cộng à?
– Du kích!... Sợ Ba Hoàng hành xử như đối với thím Tư Đởn trước đây.
– Người cùng làng mà đánh nhau hoài, kỳ thiệt... Nào, trườn lên...
– Phải cứu hắn ra... Năm giúp một tay nghe.
– Chuyện đó rồi bàn... Trời ơi, đang khoái lại nói chuyện đâu đâu... - Năm Hồng rối rít - Nào, bắt đầu đi... Đó... ôi, giỏi!...
Chiếc giường rung bần bật. Năm Hồng vặn vẹo như nằm trên sỏi trên đá. Mắt lim dim, miệng ư ử giống tiếng chó con mới tách đàn. Rồi lảm nhảm những câu hết sức vô nghĩa... Người mướt mát mồ hôi, Mười Bàng biểu hiện sức mạnh đàn ông bằng những chiêu quái đản khiến người đàn bà thỉnh thoảng giật nảy, hộc lên, be be như dê bị chọc tiết. Hai cơ thể xoắn bện, tan chảy vào nhau...
– Ngon! - Khi đã lưng lửng, Năm Hồng nằm ườn ra giường nhấm nháp và nói. - Bây giờ nhờ đi, muốn cứu con trai nhà Tư Đởn phải làm gì?
– Thở... Thở chút đã... - Mười Bàng đứt quãng...
Năm Hồng đưa tay vuốt nhẹ hai bên má người đàn ông:
– Mệt à?
– Mấy hôm nay ăn đói...
– Trời ơi, sao không nói trước. Khổ!
Năm Hồng chồm dậy, không khoác áo cũng không mặc quần, ngỗn ngện bước tới chiếc tủ lấy ra hộp bánh.
– Ăn tạm cho có sức... Rồi tiếp tục, cưng... Hôm nay không dễ dàng tha đâu...
– Năm biết Ba Hoàng nhốt thằng Thành ở đâu chớ? - Mười Bàng tống miếng bánh vào miệng, gần như nuốt chửng, rồi hỏi.
– Biết!
Năm Hồng đáp rất nhanh. Chị nói cứng vậy bởi chiều nay Tư Nhâm tới quán chơi và úp úp mở mở vô tình phô ra. Chuyện ai bị bắt, Quốc gia và Cộng sản đánh nhau ở mạn nào, thiệt hại ra sao, Năm Hồng đâu để tâm. Chị chỉ có hai niềm vui, bán hàng và tìm cảm giác lạ nơi đám đàn ông vẫn lui tới, bất biết họ cộng quân hay Quốc gia. Lúc này Mười Bàng hỏi, người chủ quán mới nhớ ra. Hồi chiều, đang ngồi trò chuyện, chợt Tư Nhâm thừ mặt thở dài rồi nói:
– Nhà thím Tư Đởn vậy mà đen, chết chưa xanh cỏ, nay thằng con trai lại bị Quốc gia bắt...
– Cô quan tâm tới ba chuyện đó chi... Cái đáng quan tâm thì không quan tâm...
– Em đâu để ý, sáng nay Hai Rạng tới chơi, hết chuyện nọ xọ chuyện kia kể ra mới hay, em buồn, nói lại với chị vậy thôi... Chuyện Quốc gia và Cộng sản thù oán hơi sức đâu lo cho mệt... Nghe nói Ba Hoàng giam Ba Thành phía sau khu nhà ngang trại lính và vặn hỏi dữ lắm.
– Làng Cát đến ngày mạt rồi, anh em bạn bè cũng hận thù và đánh nhau... Cô tránh xa chuyện của họ ra... Vẫn đi chợ đều chớ?
– Ế ẩm lắm, chị Năm.
– Biểu tới đây cùng bán hàng đâu có nghe...
Tư Nhâm về rồi, Năm Hồng cũng quên luôn những gì vừa nghe, vừa nói, ai ngờ những chuyện tào lao giải sầu đó lúc này có giá để mặc cả với Mười Bàng.
– Đã biểu quanh vùng này, chuyện to chuyện nhỏ gì Năm Hồng cũng rành mà. - Năm Hồng nói.
– Tuyệt! Đáng công chui vô đây.
– Ăn đi, làm xong phận sự đàn ông rồi đâu có đó...
– Vẫn chưa đủ?
– Nhằm nhò gì... Miếng ngon ăn mãi không chán... No một lúc lại thèm. Phải thông đêm nghe.
– Được... Hôm nay không bùng như lần trước nữa...
– Ngoan lắm!... Không bùng thì nằm giáp vô...
Mười Bàng trở người và bàn tay thô ráp với những ngón xù xì tựa quả chuối hột như thể có mắt lại khôn ngoan tiếp tục sờ sẩm chu du khắp gò nổi, đồng cỏ, ao chuôm nơi thân thể người đàn bà... Và hai khối thịt, một đen thủi đen thui, một trắng ngần ngận đó lại xoắn bện chập vào làm một.
Chiếc giường khốn khổ dồi lên dằn xuống như thuyền đi biển gặp sóng lớn...
Khuya hôm sau có mấy chiếc xe máy của tiểu đội quân cảnh lướt nhanh trên đường phố Lân Cồ, rồi bất ngờ ngoặt tới khu nhà ngang trại lính tiểu đoàn Rồng Biển...
Sáng sớm, Ba Hoàng cúi gầm trước mặt Hai Rạng chịu trận.
– Đã biết Ba Thành là thân tín của Sáu Sinh mà lơ là, không có phương cách canh phòng, để du kích cướp ngay trong trại... - Hai Rạng nhăn nhó. - Tôi đã nhắc hoài, nhắc hoài mà đầu óc các anh tăm tối quá... Phải biết tính, phải biết nghĩ chớ... Đâu phải bắn nhiều, giết nhiều là đắc sách...
– Thưa... Nhất định trong trại có nội ứng...
– Nội ứng! Nghe câu đó hoài rồi... Người bị chỉ trích la rầy là tôi... Du kích làng Cát, du kích Hoà Xuân, biệt động Lân Cồ làm mưa làm gió, rồi chủ lực Việt Cộng về Hiệp Hoà, rừng ẩn... cũng lại tôi chịu trận. Mấy anh chỉ hung hăng nhưng đầu óc rỗng không...