Sống Đọa Thác Đày

Lượt đọc: 6156 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 32 -
hứa bảo vì tham nên mất mạng, lợn mười sáu đuổi trăng thành vua.

Tôi rón rén rời khỏi sân nhà Tây Môn, rời khỏi đám người đang vây lấy Mặt Xanh. Tôi đã phát hiện ra đôi mắt khả ố của Hứa Bảo đang thấp thoáng đâu đó trong đám đông vẫn bám lấy bộ dái của tôi. Đoán là lão tặc này chưa dám ra tay, tôi vẫn còn đủ thời gian để nghênh tiếp lão.

Trời đã chập choạng tối, trại lợn đã vắng teo. Giờ ăn đã đến, bảy mươi con lợn may mắn còn sống sót đã đói, kêu lên vang trời. Tôi muốn mở toang cửa chuồng để tất cả được chạy ra ngoài, nhưng cũng ngại là chúng sẽ vây lấy tôi mà hỏi han đủ chuyện. Các bạn cứ gào đi, tôi tạm thời không quan tâm đến các bạn vì tôi đã thấy bóng của Hứa Bảo đang thấp thoáng sau cây hạnh nghiêng, nói chính xác hơn là tôi đã đánh hơi thấy cái mùi xú uế rất đặc biệt của lão thoang thoảng trong không khí. Ngay lập tức, tôi vắt óc để nghĩ ra cách đối phó. Nằm trong ổ, thân sau ép vào góc tường để khỏi bị tấn công từ phía sau là cách tốt nhất để bảo vệ bộ dái, tôi giả vờ ngủ nhưng mắt vẫn hé mở chờ đợi Hứa Bảo! Đến đây đi. Mày muốn cắt bộ dái của ông để nhắm rượu, còn ông đây thì muốn cắn đứt bộ dái của mày để rửa hận cho chính ông và những con vật khác đã bị hại dưới tay mày.

Bóng đêm dày đặc, sương mù giăng kín mặt đất. Những con lợn đã đói lả, không kêu nổi nữa, cả trại vắng lặng một cách đáng sợ, chỉ có tiếng ếch nhái rền rĩ. Mũi tôi đã ngửi thấy cái mùi xú uế ấy đã đến gần lắm, biết là Hứa Bảo chuẩn bị động thủ. Bên ngoài bức tường thấp, cái mặt đầy mỡ nhờn, không có lông mày, không có lông mi, nhẵn nhụi chẳng có sợi râu nào đã xuất hiện. Lão vẫn cười cười với tôi. Nhìn thấy nụ cười ấy, tự nhiên tôi thấy muốn đánh rắm. Nhưng mẹ mày! Mày cứ cười đi, tao chẳng thèm đánh rắm đâu. Lão mở cửa và đứng ngay tại cửa chuồng, tay đưa về phía tôi, mồm chép chép ra chiều thân thiện. À! Mày muốn nhử ông ra khỏi chuồng à? Tôi lập tức đoán ngay ra kế hoạch gây ác của lão. Chỉ cần tôi đứng dậy bước đi mấy bước ra khỏi chuồng là cặp dái của tôi sẽ nằm gọn trong đôi tay lão. Con ơi! Mày nghĩ quá hay, nhưng ông mày Lợn mười sáu hôm nay quyết không để mày lừa. Hứa Bảo lôi từ trong túi ra một chiếc bánh bột nếp thơm lừng đặt trước cửa chuồng. Con ạ, mày lượm lên mà ăn, vất là phí lắm! Lão ở ngoài chuồng làm đủ trò, còn tôi thì nằm im trong ổ không nhúc nhích. Cuối cùng lão điên tiết chửi toáng lên:

- Đ. mẹ! Con lợn này, bộ thành tinh rồi à?

Nếu chỉ thế thôi rồi Hứa Bảo bỏ đi, liệu tôi có đủ dũng khí để đuổi theo quyết một trận với lão hay không? Điều này thật khó nói, mà cũng chẳng cần phải nghĩ bởi vấn đề then chốt là lão chẳng chịu bỏ đi. Đồ lang sói này ăn dái đã thành nghiện, bị hai hòn dái của tôi hớp mất hồn, không để ý gì đến cứt đái, cúi khom người chui vào chuồng.

Tôi cố gắng kiềm chế cơn giận dữ pha lẫn chút sợ hãi của mình. Giờ phút báo oán đã đến! Tôi nghiến chặt đôi hàm răng, cố gắng nằm im. Đồ đốn mạt! Đến đây! Gần một tí, tí nữa! Chờ giặc đến nhà mà đánh, đánh cận chiến, đánh trong đêm tối, một mất một còn! Cách tôi khoảng gần ba mét, lão đứng lại, gương mặt nhăn nhở như muốn dụ tôi xông đến. Đừng mơ tưởng hão! Mày đến đây đi! Tao chỉ là một con lợn ngu ngốc, chẳng thể gây cho mày bất kỳ một nguy hiểm nào đâu! Có lẽ Hứa Bảo cũng đã thấy mình quá đề cao tôi nên chẳng thèm cảnh giác nữa, chầm chậm tiến sát đến bên cạnh tôi, ngay trước đầu tôi, lom khom trước mũi tôi khoảng một mét. Cơ bắp toàn thân tôi căng cứng, giống như một cánh cung đã kéo hết sức để thành một vòng tròn, tên đã đặt lên dây, chỉ cần tôi bật dậy xông thẳng, cho dù đôi chân của lão có linh động bao nhiêu cũng khó mà tránh khỏi đòn tấn công bất ngờ này.

Trong chớp mắt, hình như không phải lý trí ra lệnh, thân thể tôi tự nhiên bật dậy, và như một mũi tên lao thẳng vào hạ bộ của Hứa Bảo. Toàn thân lão bị hất tung, lộn vòng trên không rồi đầu lão đập vào tường, rơi đúng chỗ tôi ỉa đái hàng ngày. Thân xác của lão đã rơi xuống đất nhưng tiếng rú của lão vẫn còn vang vọng trong không gian. Như một xác chết, lão nằm trên đống cứt ở góc chuồng. Vì những người bạn đã do lão mà thân tàn ma dại, tôi quyết định thực hiện kế hoạch: Lấy chính nghề của lão để trị lão. Vừa căm giận, vừa khinh ghét, trong lòng tôi còn nhen nhóm một chút bất nhẫn, song việc gì đã bắt đầu thì phải có kết thúc. Tôi nhằm thẳng vào chỗ giữa hai đùi lão, đớp một cú thật mạnh. Nhưng ơ kìa! Hình như mồm tôi đớp vào một cái gì trống không, chỉ có một mảnh vải quần bị xé rách trong miệng. Tôi ngoạm lấy chiếc quần, dùng sức kéo mạnh. Chiếc quần bị xé rách toạc, một cảnh tượng đáng sợ bày ra trước mắt tôi. A! thì ra Hứa Bảo không có cái ấy! Lão là con người sinh ra đã là thái giám. Hèn chi, cả đời Hứa Bảo vừa căm ghét vừa thèm muốn dái của động vật đến thế! Kể ra, lão cũng là một kẻ bất hạnh. Có lẽ lão vẫn mê muội tin vào cách nói đùa ăn gì bổ nấy của con người mà hi vọng đá đẻ ra dưa, cây khô nhú mầm chăng?

Trong đêm tối mờ, tôi nhìn thấy hai dòng máu đặc sánh từ lỗ mũi lão trào ra. Lão già này, có lẽ nào bạc nhược đến thế, mới dính một đòn mà đã nằm thẳng cẳng rồi ư? Tôi giơ móng trước sờ vào lỗ mũi lão, chẳng có một hơi thở nào. Lão chết thật rồi! Tôi đã từng nghe lén các bác sĩ trên bệnh viện huyện dạy cho mọi người cách cấp cứu, đã nhìn thấy Bảo Phượng cấp cứu cho một đứa bé chết đuối. Tôi dùng hai chân trước đè lên ngực lão, ấn xuống, thả ra... Tôi nghe rõ tiếng xương cốt lão kêu lục cục và cũng thấy máu túa ra nhiều hơn, lần này không chỉ ở mũi mà cả ở miệng và tai...

Đứng ở cửa chuồng, tôi suy nghĩ giây lâu và quyết định một việc trọng đại nhất đời lợn của tôi: Mao Chủ tịch đã chết, thế giới loài người sẽ phát sinh những biến động lớn. Trong lúc này, tôi là một con lợn mang tội giết người. Nếu cứ nằm đây thì chắc chắn cái đợi tôi trước mắt là dao, là nồi, là lửa... Một tiếng kêu văng vẳng đâu đó nơi hoang dã dội về:

- Người anh em! Chạy đi!

Trước khi về với tự do hoang dã, tôi đã kịp mở chuồng cho bảy mươi con lợn còn lại trong trại Hạnh Viên, vừa mở vừa gào lên:

- Các anh em! Chạy đi!

Tất cả bọn chúng đều nhìn tôi đầy hoang mang, chẳng hiểu việc gì đã xảy ra. Một con lợn gầy nhom còn chưa phát dục, lông toàn trắng nhưng dưới bụng có hai bớt đen, chạy đến trước mặt tôi, nói:

- Đại vương, em cùng đi với ngài!

Những con còn lại, đứa thì chạy lung tung trong trại để kiếm cái ăn, đứa thì quay trở lại trong chuồng nằm đợi người ta tới cho ăn.

Tôi dẫn cô lợn cái bé nhỏ chạy thẳng về hướng đông nam. Đất nhão, chân vừa đặt xuống là bùn đã ngập đến tận khuỷu. Sau chúng tôi là bốn hàng vết chân rõ ràng. Chạy đến con sông đào, tôi quay lại hỏi cô lợn cái:

- Tên em là gì?

- Đại vương cứ gọi em là Tiểu Hoa!

- Tại sao lại gọi em là Tiểu Hoa?

- Vì dưới bụng em có hai đóa hoa màu đen!

- Em từ Nghi Mông tới đây, phải không?

- Đại vương! Em không phải là lợn Nghi Mông đâu!

- Em không đến từ Nghi Mông, vậy em từ đâu đến đây?

- Em cũng chẳng biết nữa, thưa Đại vương!

- Bọn chúng chẳng đứa nào theo ta, tại sao em lại theo ta?

- Em sùng bái ngài, thưa Đại vương!

Nhìn cái vẻ ngây thơ thuần khiết của Tiểu Hoa, tôi vừa cảm động vừa thấy thương xót cho nó. Dùng mõm húc húc vào bụng nó biểu thị thân tình, tôi bảo:

- Được rồi, Tiểu Hoa! Bắt đầu từ lúc này, chúng ta đã thoát khỏi sự thống trị của con người, chúng ta sẽ có được tự do như tổ tiên của chúng ta khi xưa. Nhưng cũng bắt đầu từ đây, chúng ta ăn đất nằm sương, cuộc sống khổ ải đang chờ chúng ta. Nếu em hối hận, em quay về vẫn còn kịp đấy!

- Em chẳng bao giờ hối hận đâu, Đại vương! Giọng nó rất cương quyết.

- Thế thì được rồi! Em có biết bơi không?

- Biết!

- Được!

Tôi dùng chân trước ôm chặt mông nó, đẩy xuống sông. Nước rất ấm. Tôi định qua sông để tìm tự do, song xuống nước rồi tôi mới phát hiện rằng, trên bề mặt con sông có vẻ hiền từ, nhưng thực ra tốc độ chảy của nó thật dữ dội, ít ra là năm mét một giây, cuồn cuộn chảy về phía bắc. Phía bắc chính là Vận Lương hà, chính phủ Mãn Thanh ngày xưa đã từng vận chuyển lương thực trên dòng sông này, cũng là dòng sông để vận chuyển quả vải về cung cấp cho cung tần mỹ nữ của hoàng đế. Hai bờ Vận Lương hà đã từng có những người phu kéo thuyền cong lưng khuỳnh chân, những cơ bắp trên người cuồn cuộn cứng như sắt thép, mồ hôi ướt đẫm chảy ròng ròng thấm xuống đất khô. Bơi trong dòng nước ấm và chảy mạnh thế này không tốn nhiều sức lực, chỉ cần vẫy nhẹ đôi chân trước là tôi đã như một con cá mập, lao nhanh về phía trước. Tôi thay đổi kế hoạch của mình. Quay đầu lại nhìn Tiểu Hoa, tôi thấy nó đang bám sát tôi ở phía sau, bốn chân đạp nhịp nhàng dưới nước, đầu ngẩng lên, đôi mắt sáng rực và từ trong lỗ mũi, những giọt nước nhỏ li ti phun lên.

- Thế nào, Tiểu Hoa?

- Đại vương, em vẫn ổn! Vì lo trả lời tôi nên nó bị sặc nước, chân đạp có vẻ loạn nhịp.

Tôi đưa một chân trước xuống dưới bụng nó, nhẹ nhàng nâng lên khiến toàn thân nó như lộ rõ trên mặt nước, nói nhỏ:

- Cô bé! Loài lợn chúng ta đều là kiện tướng bơi lội bẩm sinh. Quan trọng là đừng lo lắng và vội vàng. Để mọi người không tìm ra tung tích của chúng ta, ta đã quyết định là chúng ta không đi đường đất  mà đi theo đường sông, liệu em có chịu đựng được không?

- Đại vương! Em chịu được... Giọng của nó có vẻ rất cương quyết.

- Được, đến đây. Bám vào lưng ta!

Nó tỏ vẻ từ chối, tôi ngụp xuống rồi từ ngay dưới bụng nó, trồi lên. Tự nhiên nó đã cưỡi trên lưng tôi.

- Bám lấy ta, cho dù gặp bất cứ chuyện gì cũng đừng thả ra nhé!

Cõng Tiểu Hoa trên lưng, tôi men theo con sông đào phía đông trại lợn và bơi ra Vận Lương hà. Dòng sông chảy về đông cuồn cuộn sóng. Chân trời phía tây rực rỡ, mây màu biến hóa nhiều hình dáng kỳ dị, nào là rồng xanh hổ trắng, nào sư tử, nào chó hoang... Muôn tia hào quang lấp lánh trên mặt nước. Dọc theo con đê hai bên bờ sông là những hàng cây liễu rủ, những cành lá mềm mại cứ ngã xuôi về đông theo dòng nước, trên đó vẫn còn dấu tích của bùn đất bám đầy, chứng tỏ chúng đã từng bị ngập chìm trong nước.

Lam Giải Phóng, ông có biết không? Thời ấy mà bơi theo con sông lớn này để tìm tự do được con người xem là kỳ tích trong lịch sử Đông Bắc Cao Mật. Lúc ấy, ông đang ở bên kia sông, phía thượng nguồn. Để bảo vệ cho xưởng gia công khỏi bị ngập chìm trong nước, ông và mọi người đều phải túc trực ở bờ đê, còn tôi thì cõng Tiểu Hoa trên lưng xuôi theo dòng về đông để thử nghiệm những ý tứ hào phóng của thơ Đường mà người ta thường ca tụng. Cưỡi sóng mà đi, những con sóng đuổi theo chúng tôi, sóng đuổi theo sóng. Sông ơi! Vì sao mà sóng có sức mạnh đến dường ấy! Ngươi mang trong mình biết bao nhiêu là phù sa để làm màu mỡ bao nhiêu là lúa thơm, cao lương, đại thụ... chảy thẳng về đông, “một lần đi là không bao giờ trở lại”. Ngươi đã đem bao nhiêu là xác lợn của trại Hạnh Viên vứt xuống đây và chúng đang nằm dạt ở trong bờ, dưới những lùm liễu hồng um tùm ven sông kia, chúng trương phình lên, thối rữa, bốc lên mùi lộn mửa. Nhìn thấy xác chúng, tôi có cảm giác rằng, tôi với Tiểu Hoa đã vượt lên trên số phận, vượt lên trên cả dịch bệnh bạo tàn và cũng vượt qua một thời đại đã bắt đầu kết thúc - Thời đại Mao Trạch Đông.

Tôi biết, trong tiểu thuyết “Ghi chép về chuyện nuôi lợn”, Mạc Ngôn đã tả việc người ta đem những con lợn chết ném xuống dòng sông như sau:

“Hơn một nghìn con lợn chết của trại Hạnh Viên nối thành hàng dài trôi lềnh bềnh trên mặt nước, trương phềnh lên và bắt đầu tan vữa, nở bung ra và trên đó lúc nhúc dòi bọ... Những con cá bám chung quanh rỉa thịt chúng, đớp luôn cả dòi bọ vào bụng. Chúng cứ trôi và cuối cùng mất hút trong biển đông mịt mù thăm thẳm, tan biến, chuyển hóa thành bao nhiêu là dạng vật chất khác nhau để hòa nhập với sự tuần hoàn vĩ đại vĩnh hằng bất diệt...”.

Không thể nói là anh ta viết không hay, chỉ đáng tiếc là anh ta đã bỏ lỡ cơ hội trông thấy tôi, Lợn mười sáu cõng Tiểu Hoa đang trôi bồng bềnh trên sóng, chắc chắn anh ta sẽ không miêu tả cái chết mà là ca tụng sự sống, ca tụng chúng tôi, ca tụng tôi! Tôi chính là biểu tượng của lòng yêu cuộc sống, của tự do, của tình yêu... đẹp đẽ và kỳ lạ nhất thế gian này.

Chúng tôi xuôi theo dòng, ngẩng mặt về phía trăng mười sáu tháng tám âm lịch. Đêm nay, trăng khác hẳn với trăng ngày cưới của ông và Kim Long. Đêm ấy trăng từ trời cao rơi xuống, đêm nay trăng lại từ mặt sông bay vọt lên cao. Nó cũng tròn trịa, cũng đỏ rực khi vừa lên khỏi mặt nước, như một hài nhi vừa lọt ra khỏi bụng mẹ vũ trụ, cất tiếng khóc oa oa chào đời khi cả người đang còn dính đầy máu tươi của mẹ, khiến toàn bộ cảnh vật trên sông thay đổi màu sắc. Trăng đêm ấy ngọt ngào và thông cảm, đến để chứng kiến hôn lễ của hai người; trăng đêm nay hùng tráng và thê lương, đến với nhân gian vì Mao Trạch Đông đã tạ thế. Chúng tôi nhìn thấy Mao Trạch Đông đang ngồi trên trăng, dưới sức nặng của thân hình mập mạp khiến đôi khi trăng biến thành hình bầu dục. Ông đang khoác cờ đỏ, thuốc lá kẹp giữa ngón tay, đầu cúi xuống, khuôn mặt như đang suy nghĩ những gì lung lắm.

Tôi cõng Tiểu Hoa xuôi dòng đuổi theo trăng. Nhưng chúng tôi trôi thì trăng cũng lên cao, cho dù tôi đã tận lực sải nước, thân thể tôi nổi hẳn trên nước và lao đi như một quả thủy lôi, nhưng khoảng cách giữa tôi và trăng ngày mỗi xa. Bám trên lưng tôi, Tiểu Hoa luôn mồm cổ vũ: Cố lên, cố lên! Có cảm giác tôi là một con ngựa dưới thân hình nhẹ tênh của nó.

Lúc này tôi mới phát hiện, đuổi theo trăng không chỉ có mình chúng tôi mà còn có cả những đàn cá chép vàng, những con lươn xanh, những chú ba ba tròn trùng trục... Những con cá chép thi thoảng theo dòng quẫy mạnh vọt lên khỏi mặt nước, thân hình dẹp dẹp lấp lánh dưới ánh trăng; những con lươn uốn lượn thật uyển chuyển trên mặt nước; những con ba ba nhờ vào cái bụng to bè nên dễ dàng nổi lềnh bềnh trên sóng, chỉ cần đạp nhẹ bốn chân là chúng đã lao về phía trước như những chiếc thuyền nhỏ tẹo. Đôi lúc tôi cứ tưởng những con cá chép kia đang bay đến mặt trăng, rơi xuống sát bên cạnh Mao Trạch Đông, nhưng định thần nhìn kỹ tôi mới biết là mình nhầm. Cho dù các loài thủy tộc này mặc sức thi triển những sở trường của riêng mình, cự ly giữa chúng và mặt trăng ngày càng xa.

Hai bên bờ, trong những lùm liễu hồng, đom đóm dày đặc đang thắp những ngọn đèn xanh sau đuôi bay loạn xạ khiến mặt nước sông hai bên bờ rực rỡ một màu xanh lục. Trên sông lúc này có dòng chảy màu hồng ở giữa, hai bên là hai dòng chảy màu xanh lục. Đây cũng là một kỳ tích giữa chốn nhân gian, đáng tiếc là Mạc Ngôn không có cơ hội chiêm ngưỡng.

Những ngày đầu thai làm chó sau này, tôi đã từng nghe chính miệng Mạc Ngôn nói với ông rằng, nó muốn đem cuốn “Ghi chép về chuyện nuôi lợn” đầu tư thêm công sức để biến thành bộ tiểu thuyết vĩ đại. Nó còn nói rằng, cách viết của nó trong bộ tiểu thuyết này khác xa với những nhà sáng tác tiểu thuyết nổi tiếng khác, giống như cá kình giữa biển khơi mênh mông với thân hình thô nhám nặng nề, hơi thở phì phò sẽ khác xa với thể hình thon đẹp, hành vi linh hoạt của cá mập, cá nhám. Tôi còn nhớ là ông đã khuyên nó nên viết về một việc gì đó cao thượng lãng mạn một tí, chẳng hạn như viết về tình yêu, về tình hữu nghị, về hoa, về tùng xanh cúc vàng... viết chuyện nuôi lợn làm gì. Lợn, liệu có thích hợp với hai từ “vĩ đại” không? Lúc ấy ông đang làm quan to, tuy đã lén lút lên giường với Bàng Xuân Miêu nhưng bên ngoài thì vẫn còn đạo mạo, oai phong lắm, cho nên ông mới nói những lời ấy với Mạc Ngôn. Tuy giận run người, muốn vồ lấy ông mà cắn  để ông ngậm ngay cái mồm cao thượng lại, song nghĩ lại, tôi và ông vốn giao hảo bấy lâu nay nên dằn lòng lại. Kỳ thực, cao thượng hay không cao thượng đâu có can hệ đến việc viết cái gì mà là viết như thế nào. Mà làm gì đã có tiêu chuẩn thống nhất cho từ “cao thượng”! Chẳng hạn ông là một thằng đàn ông đã có vợ lại lồm cồm bò trên bụng một cô gái nhỏ hơn ông đến hai mươi tuổi rồi treo ấn bỏ nhà  cùng cô ta đi biệt tích, ngay cả loài chó trong huyện cũng chửi ông là đồ khốn nạn, nhưng Mạc Ngôn lại xem chuyện anh bỏ chức theo tình là chuyện cao thượng. Cho nên, lúc ấy tôi cho rằng nếu Mạc Ngôn thấy tôi cùng với các loài thủy tộc đang đuổi theo trăng, đuổi theo hình bóng Mao Trạch Đông ở giữa sông, tôi tin chắc là trong tiểu thuyết của mình, anh ta sẽ kể và người ta sẽ xem đó là chuyện cao thượng. Nhưng tiếc thay, anh ta chẳng hề biết được những gì diễn ra trên sông vào cái đêm mùng chín tháng chín năm một chín bảy sáu, tức mười sáu tháng tám âm lịch ấy, cho nên cuốn “Ghi chép về chuyện nuôi lợn” của anh ta chỉ có một số ít người tán dương, còn tuyệt đại bộ phận những kẻ được xem là chính nhân quân tử đều cho rằng đó là một cuốn sách đồi bại.

Ở ranh giới giữa huyện Đông Bắc Cao Mật và huyện Bình Độ có một bãi bồi nổi lên giữa dòng sông gọi là “Ngô gia sa chủy”, chia con sông làm hai nhánh, một nhánh chảy về hướng đông bắc, một nhánh chảy về hướng đông nam. Chảy quanh một vòng, cuối cùng hai nhánh cùng hợp lưu. Diện tích bãi bồi này khoảng tám cây số vuông, trước đây cả hai huyện Cao Mật và Bình Độ cố tranh chấp sở hữu bãi bồi này, sau đó thì được tỉnh cấp cho binh đoàn sản xuất và xây dựng của Quân khu. Ban đầu, người ta xây dựng ở đây một trại nuôi ngựa, nhưng sau đó thì phá bỏ, hiện tại ở đây trở thành một bãi đất hoang cho liễu đỏ và lau lách sinh sôi. Trăng chở Mao Trạch Đông đến đây, dừng lại giây lát trên đầu rừng liễu rồi bỗng nhiên bay vút lên cao. Chỗ dòng sông chia hai, nước chảy rất mạnh, trong số những loài thủy  tộc, con nào phản ứng nhanh nhạy thì trôi theo dòng nước, còn phần lớn là do lực quán tính và lực ly tâm - thực ra còn có lực hấp dẫn vật chất của mặt trăng và lực hấp dẫn tâm lý của Mao Trạch Đông - bay lên cao và rơi xuống rừng liễu hoặc lau lách trên bãi bồi. Ông cứ hình dung cảnh tượng lãng mạn này: Dòng nước cuồn cuộn bỗng dưng phân thành hai nhánh và rồi, từ khoảng giữa hai dòng, từng đoàn nào cá chép, nào lươn, nào ba ba... nối đuôi nhau bay về phía trăng. Nhưng còn cách một khoảng gần, chúng lại bị lực hấp dẫn của trái đất kéo xuống. Đẹp thật đấy, song cũng thật bi thảm vì đa số đều trở thành thức ăn cho chồn cáo ở đây, số ít may mắn vẫy vùng và quay về được với nước, thuận theo dòng mà bơi đi.

Thân thể tôi nặng, hơn nữa còn cõng theo Tiểu Hoa nên cho dù tôi cũng bay lên, song chỉ khoảng ba mét thì đã rơi xuống, điểm rơi đúng vào đầu một chùm liễu. Thân liễu mềm và có độ đàn hồi rất lớn nên tôi và Tiểu Hoa không hề hấn gì. Với bọn chồn cáo ở đây, tôi và Tiểu Hoa là những con vật to lớn, tất nhiên bọn chúng chẳng thể ăn thịt chúng tôi. Hơn nữa, nhìn thấy hình dáng vai nở đít nhọn có phần giống với những con lợn hoang của chúng tôi, bọn chúng cứ ngỡ là những thổ dân bản địa. Chồn cáo cũng chẳng bao giờ ăn thịt đồng loại và kẻ đồng cảnh ngộ, và vì thế chúng tôi đã an toàn rơi xuống bãi bồi.

Vì chuyện kiếm ăn quá dễ dàng, thức ăn giàu dinh dưỡng nên bọn chồn cáo và lợn hoang ở đây đều mập nung núc. Chồn cáo ăn cá là chuyện bình thường, nhưng nhìn bọn lợn ăn cá, tôi cảm thấy kinh dị bội phần. Hình như ăn cá quá nhiều đã chán miệng, bọn chúng chỉ cắn đầu ăn óc và xẻ bụng ăn trứng, còn các bộ phận còn lại, chúng chẳng thèm ngửi.

Bọn lợn hoang tỏ ra rất cảnh giác khi nhìn thấy tôi và Tiểu Hoa, từ từ vây lấy chúng tôi. Mắt mũi đứa nào trông cũng rất hung tợn, những chiếc răng nanh dài ngoằng trông rất đáng sợ. Tiểu Hoa sợ hãi ôm siết lấy tôi, toàn thân run rẩy. Tôi dắt Tiểu Hoa lùi lại, cố không cho chúng bài binh bố trận  tấn công theo hình rẻ quạt. Có chín con cả thảy, có đực có cái, to lớn mập mạp, tôi đoán chừng con nào cũng hơn trăm rưỡi ký lô, tất cả đều đầu dài mũi nhọn, đôi tai nhọn vểnh lên như tai chó sói, lông đen bóng. Tôi nặng trên hai trăm năm mươi ký, trông như một chiếc thuyền nhỏ. Từ kiếp người qua lừa, thành trâu và làm lợn, tôi luôn có thừa sức mạnh và trí tuệ, nếu lấy một chọi một, bọn chúng đều không phải là đối thủ của tôi. Nhưng đằng này lại đến chín đứa, tôi thất bại là cái chắc. Lúc này tôi nảy ra ý định, cứ lùi dần về phía bờ sông rồi đẩy Tiểu Hoa xuống nước, tôi sẽ còn lại một mình rảnh tay để đấu lực đấu trí với chúng. Bọn này ăn không biết bao nhiêu là óc và trứng cá, nhất định trí não của chúng cũng chẳng tồi, cho nên chúng đã đoán ra ý định của tôi. Hai đứa chạy vòng ra phía sau, rõ ràng bọn chúng định bao vây trước khi chúng tôi kịp lùi đến bờ sông. Nhượng bộ là chết, chi bằng chủ động tấn công, dương đông kích tây để đột phá vòng vây của chúng, dụ chúng đến giữa bãi bồi, ở đấy rộng rãi, lại có nhiều lùm liễu dày, đánh du kích để xé lẻ chúng ra và tiêu diệt từng đứa. Tôi thì thầm với Tiểu Hoa về ý đồ này, nó rơm rớm nước mắt, nói:

- Đại vương! Ngài cứ chạy đi, đừng lo cho em!

- Sao lại như thế được! Chúng ta đã đồng cam cộng khổ, tình như ruột thịt. Ta còn thì em còn!

Nói xong tôi bất ngờ xông thẳng vào một thằng đứng ngay trước mặt. Nó hoảng hốt thối lui nhưng thân hình tôi đột ngột quay ngang húc mạnh vào một con lợn cái ở kế bên. Hai cái đầu gặp nhau, một ánh chớp nhoáng nhoàng và tôi nhìn thấy nó đang lăn lộn cách tôi đến gần hai mét. Đội hình bao vây đã có  một lỗ hổng, nhưng phía sau hình như đang có tiếng thở phì phò của một con khác. Hét lên một tiếng, tôi phi thân về phía trước, nhưng Tiểu Hoa đã không kịp theo tôi. Tôi ghìm chân, quay lại chờ nó, nhưng Tiểu Hoa đáng thương, Tiểu Hoa thân yêu, Tiểu Hoa thơ ngây của tôi đã bị một con ngoạm trúng bụng. Tiếng kêu đau đớn của nó khiến ánh trăng trở nên trắng bạc như tuyết! Tôi gầm lên:

- Thả cô ấy ra!

Không tính toán, cũng chẳng nghĩ đến chiến thuật nữa, tôi lao thẳng vào thằng khốn nạn ấy. Tiểu Hoa kêu lớn:

- Đại vương! Chạy đi! Đừng lo cho em!

Nghe tôi kể đến đây, lẽ nào ông chẳng có một chút xúc động nào sao? Lẽ nào ông không nhận ra rằng, tuy chúng tôi là lợn nhưng chúng tôi là những con lợn cao thượng nhất hay sao? Nghe tiếng kêu đau thương của Tiểu Hoa, tôi như phát điên, nhưng đã có hai đứa đứng chắn ngang đường không để tôi xông đến cứu Tiểu Hoa. Chẳng còn thời gian mà nghĩ đến chiến thuật, tôi nhắm đúng một đứa, xông thẳng đến. Nó không kịp tránh, bị tôi đớp một miếng trí mạng vào cổ. Răng tôi xuyên qua lớp da dày và cứng, ngập đến tận xương. Nó giãy giụa thoát khỏi mồm tôi. Tôi nghe thấy mùi máu tanh tưởi xộc lên. Nhưng lúc này chân sau của tôi cũng bị đứa kia cắn một miếng. Nén đau, tôi ghìm chân trước và tung hai chân sau lên. Độc chiêu này tôi đã dùng khi còn là lừa và lúc ở trại lợn tôi cũng đã từng luyện tập thành thục. Hai bộ móng cứng như sắt của tôi đập thẳng vào cằm nó. Tôi quay đầu lại, xốc tới, thằng này cắm cổ bỏ chạy. Chân sau tôi bị cắn đứt một miếng da to đau đớn không thể tả, máu chảy ròng ròng. Chẳng quan tâm đến vết thương, tôi lao thẳng đến thằng đang cắn Tiểu Hoa, húc mạnh. Cú húc  đầy căm thù và bi thương này thật mãnh liệt, tôi có cảm giác bụng thằng chó chết ấy vỡ toác ra, không kịp kêu lấy một tiếng, văng xa đến ba mét và nằm im không nhúc nhích. Tiểu Hoa của tôi chỉ còn thở thoi thóp. Tôi dùng chân trước đỡ nó lên. Bụng nó đã thủng một lỗ lớn và ruột đang đổ ra loằng ngoằng. Tôi bất lực nhìn đống ruột nóng hôi hổi, trơn loáng...

- Tiểu Hoa, Tiểu Hoa! Ta đã không bảo vệ được em...

Tiểu Hoa cố mở mắt nhìn tôi, đôi mắt đã trắng bạc và dài dại, bọt mép và máu túa ra đầy mồm.

- Em không gọi ngài là Đại vương nữa... mà xin được gọi là anh... được không?

- Em gọi đi, gọi đi...! Tôi khóc. Em gái ngoan, em là người thân nhất đời của anh...

- Anh!... Em hạnh phúc lắm... thực sự hạnh phúc! Tiếng nói Tiểu Hoa yếu dần rồi tắt hẳn, bốn chân duỗi thẳng. Nó đã chết!

- Em gái...! Tôi khóc và gào lên, nhẹ nhàng đặt nó xuống rồi đứng dậy, không quan tâm gì đến nguy hiểm và sống chết nữa, giống như Hạng Vũ bên bờ Ô Giang, từng bước từng bước tiến về phía bọn lợn hoang.

Bọn chúng đang tụ thành nhóm, có vẻ hoảng sợ nhưng đội ngũ vẫn chỉnh tề, từ từ thối lui. Tôi điên cuồng lao đến. Bọn chúng tản ra bốn phía rồi bao vây tôi vào chính giữa. Chẳng thiết gì đến tính mạng, tôi húc, tôi cắn, tôi đá chân sau... hoàn toàn là những đòn đánh liều mạng. Tất cả chúng đều bị tôi đánh trúng, nhưng tôi cũng thương tích đầy mình. Khi vòng vây đã dịch chuyển đến giữa bãi bồi, bên cạnh bức tường đổ của trại ngựa, tôi nhìn thấy một bóng dáng quen thuộc đang ngồi trên cái máng ngựa ăn bằng đá.

- Lão Điêu! Là anh à? Tôi kêu lớn.

- Người anh em, tôi biết thế nào người anh em cũng sẽ đến!

Nói xong, Điêu Tiểu Tam quay đầu lại nói với bầy lợn hoang:

- Ta không thể làm vua của các ngươi. Ông ấy mới là vua chân chính của các ngươi đấy!

Cả bọn tỏ ra do dự và nghi hoặc trong giây lát rồi hai chân trước quỳ xuống đất, đồng loạt hô vang:

- Đại vương vạn tuế vạn vạn tuế!

Tôi muốn nói một điều gì đó, song sự tình diễn ra quá nhanh, đến nước này thì còn gì để nói. Một cách bất ngờ, tôi đã thành vua lợn, được bọn lợn hoang triều bái và cung phụng. Còn vị vua của nhân gian thì đang ngồi trên cung trăng, đã bay lên cao cách trái đất ba trăm nghìn cây số. Mặt trăng chỉ bằng chiếc đĩa bạc, cho nên hình bóng của ông vua chốn nhân gian không thể thấy rõ cho dù lâu nay con người vẫn dùng bao nhiêu là kính viễn vọng tối tân để nhìn.

« Lùi
Tiến »