
Hình 10. b) Một siêu tân tinh kiểu Ia tạo thành từ vụ nổ sao lùn trắng. Lực hấp dẫn của nó hút lớp vật chất khí bọc ngoài ngôi sao cặp đôi với nó (trái). Vật chất tích tụ trên bề mặt sao lùn trắng, làm nhiệt độ của nó tăng lên tới 600 triệu độ, gây ra một vụ nổ nhiệt hạch khủng khiếp (phải).
Sự gia tốc của vũ trụ ngụ ý rằng trong thế giới hiện nay tồn tại một lực phản hấp dẫn có cường độ vượt quá lực hấp dẫn tạo bởi vật chất và năng lượng của vũ trụ. Do thiếu thông tin, các nhà vật lý đành gọi lực đẩy này là “năng lượng tối” – sở dĩ gọi là “năng lượng” là bởi vì nó không cấu thành từ vật chất, và “tối” bởi vì giống như vật chất tối ngoại lai, hiện chúng ta hoàn toàn không biết gì về bản chất của nó. Vậy đóng góp toàn phần của năng lượng tối này vào khối lượng và năng lượng của vũ trụ là bao nhiêu? Hai nhóm các nhà nghiên cứu nói trên đã chỉ ra rằng nó chiếm cỡ... 68% mật độ tới hạn, đúng bằng số lượng còn thiếu trong bản kiểm kê trước đó về các thành phần vũ trụ (0,5% vật chất sáng, 31,5% vật chất tối thông thường và ngoại lai) để vũ trụ có chính xác mật độ tới hạn và do đó có hình học là phẳng (hình)!

Hầu như toàn bộ vũ trụ vẫn còn là bí ẩn đối với chúng ta: chúng ta chỉ biết được bản chất của 5% thành phần của nó (0,5% vật chất sáng cộng với 4,5% vật chất tối thông thường). Bản chất của 95% còn lại (27% vật chất tối ngoại lai và 68% năng lượng tối) vẫn còn hoàn toàn là bí ẩn.
Xem ra mọi thứ đều tốt đẹp: khám phá ra sự gia tốc vũ trụ, đo được kích thước góc của các cấu trúc lớn nhất trong bức xạ nền và sự lạm phát của vũ trụ, tất thảy đều nhất trí nói rằng hình học của vũ trụ chúng ta là phẳng. Cứ như là có phép thần, những đám mây đen làm u ám bầu trời Big Bang đã bị xua tan.
Hiện chúng ta có ý tưởng gì về bản chất của năng lượng tối bí ẩn này, thứ năng lượng tạo ra lực phản hấp dẫn làm cho vũ trụ tăng tốc chưa? Trong những chuyến lang thang trong vũ trụ học, chúng ta đã từng có hai cơ hội gặp lực đẩy: một lần vào năm 1917, khi Einstein đưa vào hằng số vũ trụ để xây dựng mô hình vũ trụ tĩnh, và lần thứ hai là vào đầu những năm 1980, khi Alan Guth đề xuất lý thuyết lạm phát và giả chân không. Liệu lực phản hấp dẫn đang hoạt động trong vũ trụ hiện tại có phải là kết quả của hằng số vũ trụ như Einstein tưởng tượng? Hay đó là một giả chân không do trường Higgs tạm thời bị chặn ở một giá trị lớn hơn giá trị nhỏ nhất, giống như giả chân không đã tạo ra lạm phát? Hay nó liên quan đến một hiện tượng hoàn toàn mới và chưa từng được biết đến? Cho đến thời điểm này không ai có thể trả lời dứt khoát những câu hỏi đó.
Dù là thế nào, thì có một điều chắc chắn là lực đẩy trong vũ trụ hiện tại phải lớn hơn nhiều so với lực liên quan tới hằng số vũ trụ của Einstein, bởi vì vũ trụ không tĩnh mà đang tăng tốc. Nó lại phải nhỏ hơn đáng kể so với lực đẩy trong giai đoạn lạm phát, bởi vì gia tốc của vũ trụ quan sát được tại thời điểm hiện tại nhỏ hơn nhiều so với gia tốc trong giai đoạn lạm phát. Trong giai đoạn lạm phát, tốc độ giãn nở của vũ trụ nhanh hơn ánh sáng, và kích thước của nó tăng lên như hàm số mũ theo thời gian với hệ số cỡ 10 3 0 hoặc cao hơn. Trái lại, sau giai đoạn lạm phát, tốc độ giãn nở của vũ trụ đã trở nên nhỏ hơn tốc độ ánh sáng, và từ năm 380.000 vũ trụ chỉ lớn lên với hệ số khoảng 10 3 .
Một thực tế khác dường như đã được xác nhận: dù lực phản hấp dẫn có dạng của hằng số vũ trụ hay một giả chân không của trường Higgs, thì sự tồn tại của nó phải phụ thuộc vào các tính chất của chân không. Như chúng ta đã thấy, ở thang cỡ chiều dài Planck (10 -3 3 cm), chân không của không gian chứa đựng vô số hạt ảo, tạo nên năng lượng chân không (hay năng lượng của điểm zero) có thể gây áp lực âm. Liệu có thể ước tính được năng lượng chân không này nhờ các lý thuyết hiện có không? Xét cho cùng, một khi chúng ta đã tính được tác dụng của các hạt ảo lên các tấm kim loại (hiệu ứng Casimir), thì tại sao lại không thể làm tương tự với chân không của không gian? Về nguyên tắc, chỉ cần xác định tất cả các loại hạt ảo khả hữu – electron, positron, các quark và phản-quark, neutrino và phản-neutrino, và rất nhiều hạt khác – rồi sau đó tính tổng toàn bộ năng lượng của chúng là xong! Biết rằng một số hạt ảo di chuyển chậm chạp, có ít năng lượng, và đóng góp không đáng kể vào tổng năng lượng, trong khi những hạt khác có chuyển động mạnh mẽ và đóng góp đáng kể vào tổng năng lượng.
Tính toán nhìn qua có vẻ đơn giản thế, nhưng khi các nhà vật lý bắt tay vào thực hiện, họ đã thu được một kết quả không có ý nghĩa: năng lượng của chân không thu được bằng cách này hóa ra lại là vô hạn! Trong khoa học, như chúng ta đã thấy, sự xuất hiện của một đại lượng vô hạn là một dấu hiệu chắc chắn cho biết rằng các định luật vật lý đã mất hiệu lực trong tình huống đang được xem xét. Nguyên nhân của kết quả vô hạn này không phải là khó nắm bắt. Nó xuất phát từ nguyên lý bất định Heisenberg. Theo nguyên lý này, hạt có năng lượng càng cao thì tuổi thọ càng ngắn; khoản vay từ ngân hàng Tự nhiên càng lớn, thời gian phải hoàn trả khoản vay càng ngắn. Do đó, về nguyên tắc, có thể tồn tại các hạt ảo có thời gian sống vô cùng ngắn và năng lượng vô hạn. Để tránh những đại lượng vô hạn này, sẽ là khôn ngoan khi loại bỏ tất cả các hạt có thời gian sống ít hơn thời gian Planck 10 -43 giây. Như chúng ta đã thấy, vật lý học đã biết dừng lại đối với những khoảng thời gian ngắn hơn thời gian Planck. Chừng nào chúng ta còn chưa phát triển được một lý thuyết về hấp dẫn lượng tử, thì chúng ta sẽ không thể mô tả hành vi của các hạt có thời gian sống vô cùng ngắn và do đó năng lượng vô cùng lớn. Mặc dù máy gia tốc các hạt cơ bản lớn nhất trên thế giới, LHC tại CERN ở Geneva, có khả năng sinh ra năng lượng của vũ trụ lúc một phần ngàn tỷ giây sau Big Bang, nhưng vẫn còn cách xa năng lượng tồn tại vào thời điểm Planck hàng vạn dặm ( 74 ) .
Vậy là các nhà vật lý đã quyết định loại bỏ toàn bộ các hạt ảo có thời gian sống ngắn hơn thời gian Planck và do đó có năng lượng cực lớn khỏi danh sách. Quyết định này, dường như có tính đối phó ở thời điểm hiện nay, biết đâu một ngày nào đó rất có thể sẽ được xác nhận bởi một lý thuyết hấp dẫn lượng tử tương lai. Nói gì thì nói, việc tính toán năng lượng của chân không sau khi loại đi các hạt này liệu có mang lại một kết quả hữu hạn? Câu trả lời là có. Mặc dù vậy, không phải mọi thứ đều tốt đẹp hoàn toàn. Bởi vì năng lượng tính được vẫn cực kỳ lớn – chỉ với sự đóng góp của photon ảo, tổng năng lượng chân không đã cực kỳ lớn, bằng 10 116 jun ( 75 ) , hay gấp tỷ tỷ tỷ tỷ tỷ lần năng lượng của tất cả các ngôi sao trong vũ trụ quan sát được giải phóng trong toàn bộ cuộc đời của chúng cộng lại. Một năng lượng lớn đến mức lực đẩy sinh ra sẽ phá vỡ toàn bộ các cấu trúc của vũ trụ...
Vẫn chưa hết! Các photon ảo không phải là những hạt duy nhất đóng góp cho năng lượng của chân không, nên chúng ta cũng phải xét tới tất cả các hạt ảo khác. Một số sẽ cho đóng góp dương vào tổng năng lượng của chân không, trong khi một số khác cho đóng góp âm. Do đó việc ước lượng tổng năng lượng của chân không theo lý thuyết chuẩn, có tính đến tất cả các hạt ảo, cho ta một kết quả còn kỳ lạ hơn, và cực kỳ không phù hợp với năng lượng cần thiết để giải thích sự tăng tốc của vũ trụ! Thật vậy, năng lượng chân không tính toán được cao hơn gấp 10 120 lần năng lượng đẩy cần thiết. Nói cách khác, nếu năng lượng đó có mặt trong vũ trụ, các thiên hà, sao, hành tinh và tất cả các cấu trúc khác trong kiến trúc vũ trụ sẽ tan rã, cuộc sống và ý thức sẽ không thể xuất hiện, vũ trụ sẽ trống rỗng và cằn cỗi...
SUSY và lý thuyết dây


Nhà vũ trụ học người Nga Yakov Zeldovich (1914-1987) (hình bên) là người đầu tiên đưa ra vấn đề năng lượng của chân không, nguồn gốc của sự bất đồng lớn chưa từng có giữa lý thuyết và quan sát vào năm 1967. Gần nửa thế kỷ sau, lời giải đáp vẫn chưa xuất hiện. Chúng ta hiện vẫn không biết tại sao các định luật của vật lý đã biết, tức là cơ học lượng tử cho những cái vô cùng bé và thuyết tương đối rộng cho những cái vô cùng lớn, lại cho chúng ta một ước lượng năng lượng của chân không, về bậc độ lớn, lớn hơn một trăm hai mươi lần so với giá trị quan sát thấy. Câu trả lời rất có thể nằm ở thực tế là chúng ta vẫn chưa thể thống nhất được hai lý thuyết trụ cột này thành một lý thuyết duy nhất về hấp dẫn lượng tử, một Lý thuyết của vạn vật.
Bắt đầu từ những năm 1980, như chúng ta đã thấy, các nhà vật lý bắt đầu đầu tư rất nhiều hy vọng (và nỗ lực) vào cái gọi là “lý thuyết dây”, theo đó các hạt cơ bản tạo nên thế giới vật chất không phải là các hạt điểm như những giả thuyết trước đây, mà là những biểu hiện khác nhau của dao động của các dây vô cùng nhỏ bé, cỡ độ dài Planck (10 -33 cm). Nó có vẻ tương ứng với lý thuyết hấp dẫn lượng tử đang được ráo riết tìm kiếm bởi vì, như có phép thần, trong số nhiều mode dao động của các dây có xuất hiện graviton , một hạt giả thuyết, được cho là hạt truyền tương tác hấp dẫn.
Vậy lý thuyết dây đã nói gì với chúng ta về năng lượng của chân không? Theo nó, tổng số các hạt trong vũ trụ phải được nhân đôi. Thực tế, lý thuyết dây dựa trên ý tưởng về siêu đối xứng (viết tắt là SUSY: supersymmetry) được đưa ra vào những năm 1970 để thống nhất vật chất và ánh sáng. SUSY dựa trên nguyên lý đối xứng nhằm kết nối các hạt vật chất có spin bán nguyên (1/2, 3/2...), chẳng hạn electron và quark, gọi chung là các “fermion”, và các hạt có spin nguyên (0, 1...) chẳng hạn photon và những hạt truyền lực khác như các hạt W và Z và các gluon, được biết với tên chung là các “boson”. Trong một vũ trụ do SUSY chi phối, số các hạt cơ bản, cứ như nhờ cú vẩy của chiếc đũa thần, sẽ được nhân đôi, mỗi boson được liên kết với một fermion gọi là hạt siêu đối ứng fermion của nó, và mỗi fermion lại liên kết với một siêu đối ứng boson. Các hạt siêu đối ứng này có mọi khía cạnh giống như hạt bình thường liên kết với nó (cùng khối lượng, cùng điện tích, vv), chỉ trừ spin phải khác nhau 1/2. Ví dụ, siêu đối ứng của photon có spin 0, được gọi là “photino”, có spin 1/2, trong khi electron với spin 1/2 có siêu đối ứng là selectron có spin 0.
Nhưng vũ trụ dường như không phải là siêu đối xứng. Chưa có ai từng nhìn thấy selectron, photino, hoặc các siêu đối ứng khác, mặc dù trên nguyên tắc chúng ta có những máy gia tốc đủ mạnh để làm chúng xuất hiện.
Để cứu SUSY khỏi cái chết chắc chắn, các nhà vật lý đã phải thừa nhận rằng sự đối xứng được công bố giữa các hạt và các hạt siêu đối ứng của chúng đã bị phá vỡ, ít nhất là liên quan đến khối lượng của chúng. Họ phải giả định rằng khối lượng của các siêu hạt này lớn hơn nhiều so với khối lượng của các hạt đối ứng của chúng (hình). Điều này có thể sẽ giải thích được tại sao không phát hiện được chúng, bởi vì khối lượng lớn có nghĩa là năng lượng lớn, và các máy gia tốc trong quá khứ không đạt được năng lượng cần thiết để làm chúng xuất hiện. Có lẽ LHC, máy gia tốc có khả năng tạo ra năng lượng rất lớn, một ngày nào đó sẽ tìm ra các hạt như vậy. Trong khi chờ đợi, SUSY ở dạng ban đầu, trong đó các khối lượng là hoàn toàn như nhau đối với một hạt và siêu đối ứng của nó, dường như không phù hợp với hành vi của tự nhiên.

Siêu đối xứng (SUSY). Lý thuyết dây dự đoán rằng, đối với mỗi hạt cơ bản, phải có một hạt “siêu đối ứng” tương ứng nặng hơn, có spin chênh lệch nhau 1/2. Hiện tại, không có hạt siêu đối ứng nào đã từng được phát hiện.
Khám phá đáng kinh ngạc về gia tốc của vũ trụ vào năm 1998 cho chúng ta thêm một lý do để nghĩ rằng có thể không có sự đối xứng hoàn hảo giữa các boson và fermion. Thực tế, gia tốc vũ trụ ngụ ý năng lượng chân không là khác 0. Nhưng các boson, như photon, các hạt W và Z truyền tương tác điện yếu, hay hạt Higgs, đều có đóng góp dương vào năng lượng của chân không. Trái lại, các fermion, như electron, neutrino và quark, lại cho đóng góp âm. Trước khi khám phá ra sự tăng tốc của vũ trụ, hầu hết các nhà vật lý đều nghĩ rằng phải có một đối xứng hoàn hảo giữa những đóng góp dương của boson và âm của fermion, và chúng sẽ hoàn toàn triệt tiêu nhau. Năng lượng của chân không do đó sẽ không phải là lớn hơn 0 một chút, mà chính xác bằng 0.
Nhưng khám phá ra sự gia tốc của vũ trụ cho chúng ta biết rằng điều này không thể xảy ra: năng lượng của chân không không bằng 0, mà hơi lớn hơn 0 một chút. Như chúng ta đã thấy, nếu tính tổng các đóng góp dương của năng lượng các boson và tổng đóng góp âm của các fermion, hai kết quả này đều cao hơn rất nhiều (gấp cỡ 10 120 lần) năng lượng chân không quan sát được. Điều này có nghĩa là: để hiểu tại sao năng lượng chân không nhỏ hơn 10 120 lần so với đóng góp riêng biệt của các boson và fermion, chúng ta phải giải thích tại sao đóng góp âm của các fermion lại chính xác bằng và ngược dấu với đóng góp dương của boson, và triệt tiêu nhau một cách chính xác đến 120 chữ số thập phân, cả hai chỉ có thể bắt đầu khác biệt từ chữ số thứ 121 – nói cách khác, trong hiệu số giữa đóng góp dương của các boson và âm của fermion, chữ số đầu tiên khác 0 chỉ xuất hiện sau 120 số 0!
Sự điều chỉnh chính xác một cách kinh hoàng như thế chẳng khác gì ma thuật! Vậy vũ trụ đã làm trò ảo thuật này như thế nào? Bí ẩn của năng lượng chân không vẫn còn nguyên vẹn cho đến khi một đề xuất gọi là “vị nhân” được đưa ra.
Một vũ trụ sinh ra từ chân không
Để thấy rõ ràng hơn, đã đến lúc phải tóm tắt lại những gì mà vũ trụ học hiện đại đã dạy chúng ta về lịch sử của vũ trụ. Nó bắt đầu từ một chân không vi mô đầy năng lượng. Ở các thang nhỏ nhất, nguyên lý bất định làm không gian tan thành vô số các thăng giáng lượng tử. Trong một phần nhỏ của một giây, lạm phát làm khuếch đại theo hàm số mũ những thăng giáng vi mô để làm chúng xuất hiện trong thế giới vĩ mô và sau đó đóng vai trò hạt giống của các thiên hà.
Việc giải phóng năng lượng chân không trong giai đoạn lạm phát ngoài việc gây ra vụ “bang” của Big Bang, còn sinh ra các thành phần vật chất của vũ trụ. Einstein đã dạy chúng ta rằng khối lượng của một hạt vật chất cũng chính là năng lượng của nó chia cho bình phương tốc độ ánh sáng. Khi đồng hồ vũ trụ điểm một phần mười tỷ (10 -10 ) giây, vũ trụ đi vào kỷ nguyên điện yếu và các hạt cơ bản và phản hạt của chúng (như quark và phản quark, và electron và phản electron) xuất hiện. Toàn bộ vũ trụ là một hỗn hợp của các hạt cơ bản. Trong những cái ôm riết chết người, các hạt và phản hạt hủy nhau để trở thành ánh sáng, rồi lại chuyển đổi thành các cặp hạt-phản hạt. Vật chất và ánh sáng xuất hiện và biến mất trong vòng sinh tử không ngừng trong một khoảng thời gian vô cùng nhỏ. Tuy nhiên, sự hủy vật chất-phản vật chất không hoàn toàn triệt để do tự nhiên ưu ái vật chất hơn một chút xíu – cỡ một phần tỷ – so với phản vật chất. Cứ mỗi tỷ phản hạt, sẽ có một tỷ lẻ một hạt. Điều này nghĩa là với mỗi tỷ cặp hạt-phản hạt triệt tiêu nhau để trở thành các photon, sẽ còn lại một hạt vật chất không có đối tác phản hạt. May mắn thay cho chúng ta, bởi vì trong một vũ trụ đối xứng vật chất-phản vật chất hoàn hảo, toàn bộ vật chất và phản vật chất sẽ hủy nhau hết, chỉ còn lại ánh sáng, và chúng ta sẽ không bao giờ có thể xuất hiện.
Khi các khoảnh khắc tiếp tục trôi qua, vũ trụ sẽ lớn dần lên, loãng ra và nguội đi, cho phép hình thành các cấu trúc ngày càng phức tạp hơn. Thật vậy, nhiệt độ cao sẽ gây ra các chuyển động và va chạm dữ dội, dẫn đến sự hủy hoại không thể tránh khỏi của các cấu trúc phức tạp đã được tạo dựng. Để tránh sự hủy diệt này, vũ trụ phải kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi nhiệt độ giảm xuống nhằm đạt được sự phức tạp. Tại một phần ngàn giây sau Vụ nổ lớn, khi nhiệt độ của vũ trụ giảm xuống một ngàn tỷ (10 1 2 ) độ Kelvin, các quark kết hợp theo bộ ba để tạo thành các proton và neutron, những viên gạch của vật chất thông thường. Khoảng phút thứ ba, hai loại hạt này kết hợp với nhau tạo thành hạt nhân của hydrogen (một proton) và helium (hai proton và hai neutron). Vào năm 380.000, đến lượt các electron kết hợp với hạt nhân để hình thành các nguyên tử hydrogen và helium. Ba phần tư khối lượng của vũ trụ được tìm thấy dưới dạng các nguyên tử hydrogen, trong khi phần tư còn lại bao gồm các nguyên tử helium ( 76 ) . Các electron, bị mắc kẹt trong nguyên tử, không còn cản trở sự lưu thông của ánh sáng nữa. Màn sương mù bao trùm vũ trụ tan đi và vũ trụ trở nên trong suốt. Anh sáng nguyên thủy, sinh ra trong những khoảnh khắc đầu tiên của giây, cuối cùng có thể lan truyền một cách tự do. Nó đến với chúng ta ngày hôm nay dưới dạng một bức xạ vô tuyến hóa thạch (hay bức xạ nền vũ trụ).
Rồi vài trăm triệu năm trôi qua. Khoảng thời gian này là cần thiết để các thăng giáng mật độ vật chất – các hạt giống thiên hà sinh ra từ chân không và được khuếch đại bởi lạm phát – có thể thông qua lực hấp dẫn hút các thăng giáng vật chất khác và phát triển thành các đám mây khí hydrogen và helium đủ lớn để chúng có thể co sập lại dưới tác dụng của lực hấp dẫn của chính mình. Khí nén sẽ bị nóng lên đến nhiệt độ trên 15 triệu Kelvin. Các phản ứng hạt nhân được khởi phát, tạo ra một lượng năng lượng khổng lồ. Rồi các khối cầu khí phát sáng: vậy là những ngôi sao đầu tiên đã được sinh ra, chiếu sáng bầu không gian tối đen như mực. Trong hàng tỷ năm tiếp theo, lực hấp dẫn vẫn sẽ tiếp tục tác động. Hàng trăm tỷ ngôi sao sẽ hợp lại với nhau thành các thiên hà, và hàng trăm tỷ thiên hà trong vũ trụ quan sát được sẽ hợp lại thành đám và siêu đám thiên hà để cho ra đời một kiến trúc tuyệt vời trong vũ trụ: những cấu trúc dạng sợi dài và mỏng kéo dài hàng trăm triệu năm ánh sáng, ranh giới của các khoảng trống rộng lớn mênh mông với đường kính hàng chục triệu năm ánh sáng, hoàn toàn trống rỗng không chứa một thiên hà nào. Cái vô cùng bé đã sinh ra cái vô cùng lớn như thế đó ( 77 ) .
Đa vũ trụ
Trong số hàng trăm tỷ thiên hà của vũ trụ quan sát được, có một thiên hà với cái tên thật dịu dàng là Ngân Hà, gần một ngôi sao có tên là Mặt Trời, trên một hành tinh gọi là Trái Đất, các nguyên tử sẽ kết hợp thành các chuỗi DNA, rồi dẫn đến sự sống khoảng 3,8 tỷ năm trước, rồi đến ý thức và con người biết đặt ra những câu hỏi về vũ trụ sinh ra mình. Do có sự hiện diện của chúng ta trong vũ trụ, nên nảy ra một câu hỏi: liệu năng lượng chân không có phải được xác định bởi chính sự kiện đơn giản là chúng ta tồn tại hay không?
Cần biết rằng tất cả các thuộc tính của vũ trụ, sự tiến hóa và số phận của nó phụ thuộc một cách rất chính xác vào các định luật vật lý bị chi phối đồng thời bởi một ít con số được gọi là các “hằng số cơ bản của tự nhiên” và những điều kiện ban đầu, nói cách khác là những tính chất mà các bà tiên đã ban cho vũ trụ lúc lọt lòng. Các hằng số vật lý – có khoảng mười lăm số – bao gồm tốc độ ánh sáng, khối lượng các hạt cơ bản, các hằng số quy định cường độ của bốn lực cơ bản của tự nhiên, như hằng số hấp dẫn hoặc hằng số Planck quy định kích thước của các nguyên tử. Còn các điều kiện ban đầu, ví dụ như mật độ của vật chất tối thông thường và ngoại lai và năng lượng tối vào lúc vũ trụ sinh ra, hoặc tốc độ giãn nở ban đầu của vũ trụ. Các nhà vật lý thiên văn đã nhận ra rằng sự tồn tại của sự sống và ý thức trong vũ trụ phụ thuộc vào sự căn chỉnh cực kỳ chính xác các hằng số vật lý và các điều kiện ban đầu đó. Chỉ cần thay đổi các tham số này một chút thôi là vũ trụ sẽ hoàn toàn khác: nó sẽ không thể cưu mang sự sống, và bản thân chúng ta cũng sẽ không tồn tại. Một số tham số yêu cầu độ chính xác cực cao. Chẳng hạn như mật độ vật chất ban đầu của vũ trụ phải được căn chỉnh với độ chính xác tới 100 -60 . Chỉ cần thay đổi chữ số thập phân thứ 60 thôi, là mọi thứ sẽ đảo lộn: vũ trụ sẽ trống rỗng và cằn cỗi. Ngay cả khi việc điều chỉnh các tham số khác không chính xác đến mức như thế, thì kết luận vẫn không thay đổi: bất kỳ sự thay đổi nào đều kéo theo việc loại bỏ sự sống và ý thức. Nhà thiên văn người Pháp gốc Anh Brandon Carter (1942), vào năm 1974, đã đề nghị nâng thực tế này thành “nguyên lý vị nhân” ( anthropos theo tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “con người”) ( 78 ) .
Trong một thời gian dài, các nhà vật lý nghĩ rằng Lý thuyết của vạn vật, nếu được tìm ra, có thể sẽ giải thích được giá trị chính xác của các tham số này. Nó có thể cho chúng ta biết, ví dụ, tại sao khối lượng của electron lại nhỏ hơn gần hai ngàn lần proton, tại sao lại có bốn lực cơ bản trong tự nhiên, tại sao lực hấp dẫn lại yếu hơn 10 39 lần so với lực điện từ, hoặc tại sao ánh sáng lại chuyển động với tốc độ 300.000 kilomet mỗi giây. Các nhà vật lý miệt mài làm việc. Nhưng họ đã vỡ mộng. Lý thuyết dây, được cho là Lý thuyết của vạn vật và được đặt rất nhiều hy vọng, đã không thực hiện được lời hứa của nó. Trong khi đó, khái niệm về các vũ trụ song song hoặc đa vũ trụ lại ngày càng trở nên quan trọng hơn trong vật lý hiện đại, khiến chúng ta phải xem xét lại các ý tưởng này một cách triệt để.


Trong quá khứ gần đây, chúng ta vẫn hiểu “vũ trụ” là toàn bộ những gì tồn tại. Nhưng những tiến bộ trong vật lý đã buộc chúng ta phải xem xét lại định nghĩa này, cũng như xem xét một cách nghiêm túc khái niệm về các vũ trụ song song với vũ trụ chúng ta mà chúng ta không thể tiếp cận bằng cách quan sát, một phần hoặc toàn bộ, tất cả tạo thành một đa vũ trụ vô cùng rộng lớn ( 79 ) . Phiên bản đầu tiên của các vũ trụ song song này, mà có lẽ là có khả năng nhất, xuất phát từ lý thuyết “lạm phát vĩnh cửu” của nhà vật lý người Mỹ gốc Nga Andrei Linde (1948) (hình). Theo lý thuyết này, sự giãn nở chóng mặt theo hàm mũ của không gian nguyên thủy, gây bởi một giả chân không tiến tới chân không thật sự, không chỉ xảy ra một lần duy nhất ở một nơi duy nhất, mà xảy ra vô số lần ở vô số địa điểm. Mỗi lần giãn nở như thế lại sinh ra một bong bóng vũ trụ. Như vậy, vũ trụ của chúng ta cũng chỉ là một trong vô vàn các vũ trụ bong bóng khác, tất cả tạo thành một siêu vũ trụ. Đó chính là đa vũ trụ lạm phát (hình trang sau).

Đa vũ trụ lạm phát bao gồm vô số các bong bóng vũ trụ trong một siêu vũ trụ. Mỗi bong bóng vũ trụ tạo ra vô số các bong bóng vũ trụ khác, từ đó tạo ra một sự bùng nổ của các bong bóng vũ trụ, và cứ như thế.
Lý thuyết dây không hề chịu thua kém. Nó cũng cung cấp cho chúng ta phiên bản của riêng mình về đa vũ trụ. Phiên bản đơn giản nhất của lý thuyết dây được gọi là “Lý thuyết M”, trong đó M chỉ từ “membrane” (màng). Lý thuyết M nói răng vũ trụ giống như một brane (màng) (dạng rút gọn của từ “membrane”) có ba chiều không gian và một chiều thời gian nhìn thấy được. Nó cũng đòi hỏi thêm sáu chiều không gian nữa không nhìn thấy ngoài ba chiều mà chúng ta cảm nhận được. Chỉ có điều các chiều phụ thêm này không “phồng lên” bởi quá trình lạm phát lúc ban đầu mà vẫn cuộn lại rất chặt đến mức không thể quan sát được (kích thước của chúng cỡ độ dài Planck, 10 -33 cm). Theo lý thuyết M, các chiều phụ này phải được cuộn chặt lại có dạng hình học rất cụ thể gọi là Calabi-Yau, theo tên của nhà toán học Eugenio Calabi (1923) và Shing-Tung Yau (1949), người đã khám phá ra chúng rất lâu trước khi lý thuyết dây ra đời. Do các dạng hình học Calabi-Yau cực kỳ đa dạng (hình 11, ảnh màu), và do cách mà sáu chiều không gian không nhìn thấy cuộn lại theo một dạng Calabi-Yau, và mỗi một lần như thế lại cho ra đời một vũ trụ khác nhau với bốn chiều nhìn thấy được (gồm ba chiều không gian và một chiều thời gian mà chúng ta biết), nên lý thuyết M tiên đoán sự tồn tại của một số lượng rất lớn các vũ trụ song song với vũ trụ chúng ta. Con số này, bằng với số hình học Calabi-Yau khả hữu và vượt quá trí tưởng tượng phong phú nhất: nó cỡ 10 500 ( 80 ) ! Mỗi vũ trụ màng sẽ có một tổ hợp các hằng số vật lý và các điều kiện ban đầu riêng. Một số sẽ rất giống với vũ trụ của chúng ta, có lẽ chỉ khác ở vị trí hoặc vận tốc của một hạt cơ bản. Một số khác thì khác biệt hoàn toàn với các định luật và hằng số vật lý, các hạt cơ bản, và các lực cơ bản, tất cả đều khác. Như vậy, lý thuyết dây nói với chúng ta rằng vũ trụ của chúng ta chỉ là một trong số 10 500 vũ trụ song song khác, tạo thành một đa vũ trụ màng rộng lớn (hình trang sau).

Hình 11. Bốn dạng Calabi-Yau trong số 10500 dạng khả dĩ. Trong phiên bản đơn giản nhất, lý thuyết dây đòi hỏi thêm sáu chiều không gian, cuộn chặt lại, làm chúng trở nên không thể nhìn thấy được. Sự dồi dào tuyệt vời của các dạng Calabi-Yau tạo nên sự vô cùng đa dạng các cách mà các chiều không gian này có thể cuộn lại.

Các đa vũ trụ màng theo lý thuyết dây. a) Dây được gắn vào các mặt gọi là “màng”. b) Mỗi màng tạo thành một vũ trụ khác biệt, và tập hợp tất cả các màng tạo thành một đa vũ trụ rộng lớn.
Chưa hết, đa vũ trụ cũng xuất hiện trong lý thuyết về “vũ trụ phân nhánh ( 81 ) ” được nhà vật lý người Mỹ Hugh Everett III (1930-1982) đề xuất vào năm 1957, để cung cấp một cách giải thích khác thay thế cách giải thích xác suất cho các hiện tượng nguyên tử và hạ nguyên tử của trường phái Copenhagen ( 82 ) . Theo Niels Bohr, Werner Heisenberg và các đồng nghiệp, chừng nào thiết bị đo chưa được kích hoạt để quan sát, chẳng hạn một electron, chúng ta chỉ có thể mô tả thực tại (tốc độ, vị trí, v.v) của nó bằng một sóng xác suất. Chỉ sau khi phép đo được thực hiện nó mới biến đổi thành một hạt, đặc trưng vị trí hoặc tốc độ. Thông thường, khi có nhiều khả năng hành động hay lựa chọn thay thế, chúng ta sẽ chọn một và loại bỏ tất cả những khả năng còn lại. Tuy nhiên, theo Everett, mỗi lần có sự lựa chọn, vũ trụ phân nhánh thành nhiều bản sao gần như tương tự, và tất cả các tùy chọn và các kịch bản khả dĩ đều có thể trở thành thực tế. Đối với electron, khái niệm vũ trụ song song làm cho vị trí quan sát được và tất cả các vị trí khác của hạt này hay sóng (xác suất) đều khác 0 và hoàn toàn bình đẳng. Electron chiếm tất cả các vị trí dù quan sát được hay không, nhưng mỗi vị trí nằm trong các vũ trụ song song khác nhau. Nói cách khác, tất cả các khả năng đều được thực hiện, nhưng là trong các vũ trụ song song. Vì vậy, trong một vũ trụ, con mèo Schrödinger là chết, nhưng ở một vũ trụ khác nó lại là sống ( 83 ) (hình). Trong một vũ trụ bạn sẽ ở nhà đọc cuốn sách này, ở một vũ trụ khác bạn lại đến rạp chiếu phim. Trong một vũ trụ, Napoléon thua trận Waterloo, trong vũ trụ khác ông ta lại giành chiến thắng. Trong một vũ trụ, sự nóng lên toàn cầu sẽ không xảy ra trong khi đó một Trái Đất khác trở thành không thể sống được. Các vũ trụ song song có những nhà quan sát giống hệt nhau bị phân đôi, nhưng hoàn toàn bị tách rời nhau: sẽ không bao giờ có bất cứ sự liên lạc nào giữa các nhà quan sát thuộc các vũ trụ khác nhau. Một số khác thậm chí còn có những khác biệt cơ bản hơn: các định luật, các hằng số vật lý và các điều kiện ban đầu của chúng sẽ khác biệt hoàn toàn; một số có sự sống và ý thức, trong khi số khác sẽ cằn cỗi, vô sinh. Và các vũ trụ song song này đều là thực như nhau. Đó là đa vũ trụ của các vũ trụ phân nhánh.

Trong đa vũ trụ của các vũ trụ phân nhánh, vũ trụ sẽ phân thành hai mỗi khi có sự lựa chọn hoặc thay thế: sẽ có một vũ trụ trong đó con mèo Schrödinger còn sống và vũ trụ khác trong đó nó chết.
Năng lượng của chân không liệu có được quyết định bởi sự có mặt của chúng ta?
Đối mặt với khái niệm đa vũ trụ được áp đặt ngày càng dai dẳng lên quang cảnh của vũ trụ học đương đại, một số nhà vật lý đã bắt đầu đặt lại vấn đề về một ý tưởng xưa cũ, theo đó tất cả các đặc tính cơ bản của vũ trụ có thể được xác định bởi một lý thuyết vật lý duy nhất, Lý thuyết của vạn vật. Xét cho cùng, nếu có vô số các vũ trụ song song, mỗi vũ trụ có một tổ hợp các hằng số vật lý và các điều kiện ban đầu riêng, thì những hằng số ấy sẽ không còn là “cơ bản” nữa. Vì chúng có thể có bất kỳ giá trị nào, và sẽ không có ý nghĩa gì trong việc cố gắng tìm kiếm một lý thuyết giải nhằm thích tại sao chúng lại có giá trị cụ thể này mà không phải là một giá trị nào khác. Và rồi, nếu bất chấp tất cả những nỗ lực của chúng ta trong gần nửa thế kỷ mà Lý thuyết của vạn vật vẫn không thể ra đời, thì có lẽ đơn giản là nó không tồn tại!
Nhưng nếu chúng ta từ bỏ con đường của lý thuyết này, làm thế nào có thể giải thích được các thuộc tính của vũ trụ chúng ta? Và đặc biệt, để trở lại câu hỏi chúng ta quan tâm ở đây, là tại sao năng lượng của chân không lại có giá trị như nó có, khác 0, bởi vì cần để lý giải sự gia tốc của vũ trụ, nhưng năng lượng ấy là cực kỳ nhỏ vì sự đóng góp dương và âm của các hạt ảo khác nhau trong chân không phải chính xác bằng nhau và trái dấu để triệt tiêu nhau đến chữ số thập phân thứ 120.
Trong tuyệt vọng, một số nhà vật lý đã quay sang con đường vị nhân: năng lượng chân không phải như thế để tương thích với sự tồn tại của chúng ta ( 84 ) . Chẳng hạn, nhà vật lý người Mỹ Steven Weinberg, vào năm 1987 (11 năm trước khi phát hiện sự gia tốc của vũ trụ), đã tính được giá trị năng lượng của chân không (dưới dạng một hằng số vũ trụ kiểu như của Einstein) cần thiết để cho phép sự xuất hiện của sự sống và ý thức trong vũ trụ. Chúng không thể xuất hiện trong một vũ trụ với năng lượng chân không quá dương, ông lý luận: lực phản hấp dẫn rất lớn của nó sẽ gây ra sự giãn nở dữ dội đến mức không có vật chất nào có thể tập hợp lại được dưới tác dụng của lực hấp dẫn hút ( 85 ) để hình thành các ngôi sao, nơi sẽ sản xuất ra các nguyên tố nặng cần thiết cho sự phát triển của sự sống và ý thức. Ngược lại, chúng cũng không thể xuất hiện trong một vũ trụ với năng lượng chân không quá âm: thay vì một lực phản hấp dẫn khổng lồ, năng lượng chân không âm này lại tạo ra một lực hấp dẫn cực lớn, thêm vào với lực hấp dẫn của vật chất, sẽ làm cho vũ trụ co sập lại trong một vụ big crunch (vụ co lớn), trong một khoảng thời gian tương đối ngắn; vũ trụ sẽ không có hàng tỷ năm cần thiết để sinh ra các nguyên tố nặng qua lò giả kim thuật hạt nhân của các ngôi sao, cũng như cho quá trình hình thành của sự sống và ý thức từ các nguyên tố nặng. Tất cả mọi thứ diễn ra trên một sự cân bằng rất tinh tế: Weinberg chứng minh rằng sự tồn tại của chúng ta chỉ có thể nếu vũ trụ có một năng lượng chân không chỉ hơi dương một chút, đủ để lý giải được sự tăng tốc quan sát được của vũ trụ. Nói cách khác, theo nhà vật lý này, giá trị của năng lượng chân không của vũ trụ chúng ta được xác định một cách vị nhân: nghĩa là nó có giá trị như vậy là do sự hiện diện của chúng ta. Trong vô số các vũ trụ song song, chỉ có vũ trụ của chúng ta có những điều kiện cần thiết, và đó là lý do tại sao chúng ta có mặt ở đây để đặt câu hỏi về năng lượng của chân không. Tất cả các vũ trụ khác có năng lượng chân không quá dương hoặc quá âm, đều không có sự sống và ý thức.
Phải nghĩ thế nào về lời giải thích mang tính vị nhân về giá trị năng lượng của chân không này? Nó đặt chúng ta trong một tình huống rất khó xử, bởi vì nó dựa trên giả thuyết đa vũ trụ. Mà các vũ trụ song song lại không thể tiếp cận để quan sát được: chúng ta không bao giờ có thể trực tiếp xác minh sự tồn tại của các vũ trụ đó. Bằng kính thiên văn, chúng ta chỉ có thể tiếp cận với vũ trụ quan sát được, giới hạn bởi một mặt cầu-chân trời có bán kính 47 tỷ năm ánh sáng. Giới hạn này không phải là do sự áp đặt của công nghệ (về nguyên tắc, chúng ta có thể xây dựng các kính thiên văn ngày càng lớn và thấy được các đối tượng càng mờ và xa hơn) mà là của tốc độ ánh sáng. Ánh sáng của các thiên hà bên kia mặt cầu-chân trời không đủ thời gian để đến được với chúng ta trong 13,8 tỷ năm của vũ trụ. Toàn bộ vũ trụ, mà các nhà thiên văn học tin rằng có bán kính gấp hai triệu tỷ tỷ lần so với vũ trụ quan sát được, sẽ vĩnh viễn nằm ngoài khả năng của chúng ta. Tương tự, các vũ trụ song song của đa vũ trụ lạm phát thậm chí còn ở xa hơn, tức là cũng sẽ nằm ngoài tầm của các kính thiên văn. Trong lý thuyết M, vũ trụ song song của đa vũ trụ màng, về nguyên tác, rất giống với chúng ta, ở rất gần vũ trụ màng của chúng la, nhưng cũng không thể tiếp cận được chúng để quan sát bởi vì chúng nằm trong các chiều không gian khác. Còn với lý thuyết về các vũ trụ phân nhánh, nó thậm chí dường như thoát khỏi mọi kiểm chứng thực nghiệm: nó tiên đoán các hiện tượng giống hệt với những tiên đoán của cơ học lượng tử trong phiên bản xác suất của nó, và không có cách nào phân biệt được bằng thực nghiệm hai phiên bản và xác minh rằng vũ trụ phân nhánh thực sự được chia thành vô số bản sao bất cứ khi nào có sự lựa chọn hay quyết định.
Trong tình trạng hiểu biết hiện tại của chúng ta, dường như không có thực nghiệm hay quan sát nào có thể xác nhận hoặc phủ nhận sự tồn tại của đa vũ trụ vào một khi nào đó. Khái niệm này là “không thể bác bỏ”, theo thuật ngữ của triết gia người Áo Karl Popper (1902-1994), và do đó không phải là khoa học. Khoa học, xin nhắc lại một lần nữa, là dựa vào sự tác động qua lại thường xuyên giữa quan sát và lý thuyết, và nếu không có quá trình thường hằng này, thì khoa học sẽ sớm sa lầy vào siêu hình. Giải thích mang tính vị nhân về năng lượng của chân không do đó rất không thỏa đáng.
Tương lai của một vũ trụ tăng tốc độ giãn nở
Vậy tương lai của vũ trụ sẽ như thế nào? Sau giai đoạn giãn nở điên cuồng trong pha lạm phát, từ 10 - 3 4 đến 10 -32 giây, vũ trụ chuyển sang giãn nở bình lặng hơn và chậm rãi hơn ( 86 ) . Do lực hấp dẫn gây ra bởi vật chất và ánh sáng đối ngược với lực bùng nổ do năng lượng của chân không gây ra, vũ trụ trải qua giai đoạn giảm tốc trong bảy tỷ năm đầu tiên của nó. Nhưng từ tám tỷ năm trước, chuyển động giảm tốc đã biến thành chuyển động tăng tốc. Hành vi này tương tự như chuyển động của một chiếc xe hơi dừng lại ở đèn đỏ: người lái xe nhấn phanh, xe sẽ giảm tốc độ cho đến khi nó dừng lại hoàn toàn; khi đèn chuyển sang xanh, người lái xe đạp ga và xe tăng tốc vài giây trước khi đạt tốc độ không đổi. Còn vũ trụ thì, nó sẽ tiếp tục tăng tốc đến thời gian vô tận.
Tại sao vũ trụ phải mất tới bảy tỷ năm để chuyển từ chuyển động giảm tốc sang chuyển động tăng tốc? Tại sao năng lượng của chân không với lực đẩy do nó gây ra không thể hiện sớm hơn? Thực tế, lực này luôn hiện diện, nhưng ẩn trong bóng tối, từ lúc khởi đầu của vũ trụ. Chỉ có điều là trong bảy tỷ năm đầu tiên nó quá yếu, không thể vượt qua được lực hấp dẫn do vật chất (thông thường và ngoại lai) và ánh sáng của vũ trụ gây ra. Đó là lúc lực hấp dẫn thống trị và làm giảm tốc độ giãn nở. Nhưng thời gian vốn ưu ái năng lượng của chân không, nó chỉ cần kiên nhẫn và chờ đợi thời điểm phù hợp để chiếm quyền kiểm soát các sự kiện. Thực tế, khi thời gian trôi qua và thể tích của vũ trụ tăng lên, mật độ vật chất và bức xạ không ngừng giảm đi (nhớ rằng mật độ tỷ lệ nghịch với thể tích) trong khi mật độ năng lượng của chân không vẫn không đổi (vì, như chúng ta đã thấy, áp lực âm của chân không đã phân phối năng lượng cho không gian trong quá trình giãn nở). Sau tám tỷ năm, lực đẩy của năng lượng chân không chiếm ưu thế so với lực hấp dẫn hút của vật chất và bức xạ, và vũ trụ chuyển sang chế độ tăng tốc.
Sự kiểm kê các thành phần năng lượng (ánh sáng cũng là một dạng năng lượng) và vật chất trong vũ trụ cũng như các quan sát kích thước góc của những thăng giáng mật độ trong bức xạ nền, như đã nói, đã phát lộ cho chúng ta biết rằng chúng ta đang sống trong một vũ trụ có hình học phẳng, có độ cong bằng 0 và mật độ bằng mật độ tới hạn. Sự tăng tốc độ giãn nở của vũ trụ sẽ là vĩnh viễn. Vũ trụ sẽ tiếp tục loãng hơn và nguội đi. Nhiệt độ của bức xạ nền, ngày nay chỉ khoảng ba Kelvin hay -270 độ C, sẽ tiếp tục giảm dần, tiến dần tới 0 độ tuyệt đối (hay 0 Kelvin), nhiệt độ mà ở đó mọi chuyển động nguyên tử đều chấm dứt. Khi thời gian trôi qua, bầu trời sẽ ngày càng thưa dần các thiên hà. Do sự tăng tốc độ giãn nở của vũ trụ, các thiên hà xa xôi sẽ chạy ra xa dải Ngân Hà ngày một nhanh, cho tới khi bằng và thậm chí vượt quá tốc độ ánh sáng ( 87 ) . Những thiên hà này sẽ biến mất khỏi tầm quan sát của chúng ta. Thật vậy, hiệu ứng Doppler sẽ làm cho ánh sáng của chúng tới chúng ta ngày càng dịch về phía đỏ. Nói cách khác, bước sóng ánh sáng (khoảng cách giữa hai đỉnh hoặc hai hõm liên tiếp của sóng ánh sáng) đến từ một thiên hà xa xôi sẽ tăng lên khi thời gian trôi qua: ánh sáng ban đầu của nó nằm trong phạm vi khả kiến sẽ chuyển dịch dần sang ánh sáng hồng ngoại, ánh sáng vi sóng, và sau đó là ánh sáng vô tuyến, cho đến khi bước sóng lớn đến mức nó sẽ vượt quá cả kích thước của vũ trụ; và tại thời điểm này, thiên hà sẽ biến mất mãi mãi khỏi tầm nhìn của chúng ta. Các phép tính cho thấy, do bị cuốn đi bởi sự giãn nở tăng tốc của vũ trụ, vài trăm tỷ thiên hà của vũ trụ quan sát được hiện nay sẽ trở nên không còn nhìn thấy nữa đối với chúng ta sau khoảng hai ngàn tỷ năm nữa, nghĩa là gấp khoảng một trăm lần tuổi hiện tại của vũ trụ. So với sự tồn tại một trăm năm của chúng ta, khoảng thời gian này có vẻ rất lớn, nhưng xét cho cùng nó cũng chỉ là một cái chớp mắt so với vĩnh cửu.
Liệu điều này có nghĩa là Ngân Hà sẽ chỉ còn lại đơn độc trong không gian bao la tối đen như mực? Không, bởi vì nó là một phần trong một cấu trúc kỳ vĩ của vũ trụ được gọi là “Siêu đám địa phương”. Cấu trúc khổng lồ và phức tạp này chứa khoảng mười ngàn thiên hà tập hợp thành các cụm vài chục thiên hà – Ngân Hà nằm trong Cụm địa phương bao gồm thiên hà Andromeda (hình 12, ảnh màu) và vài chục thiên hà lùn – hoặc thành các đám chứa hàng ngàn thiên hà. Do lực hấp dẫn liên kết các thiên hà của Siêu đám địa phương, nên chúng sẽ không bị tan rã trong tương lại vì sự tăng tốc giãn nở của vũ trụ. Những thiên hà thuộc Siêu đám này sẽ luôn có mặt để làm mãn nhãn con cháu chút chít chụt chịt của chúng ta. Nhưng trong tương lai xa, chúng sẽ không còn là các thực thể riêng biệt nữa: lực hấp dẫn sẽ làm chúng lao về phía nhau để tạo thành một Siêu thiên hà. Chẳng hạn, dải Ngân Hà rồi sẽ hợp nhất với thiên hà láng giềng Andromeda sau khoảng bốn tỷ năm. Trong hai ngàn tỷ năm nữa, hậu thế của chúng ta sẽ có ấn tượng rằng toàn bộ vũ trụ quy gọn chỉ còn là một Siêu thiên hà và bao quanh siêu thiên hà đó chỉ là không gian trống rỗng. Khi ấy chúng sẽ nghĩ một cách sai lầm rằng không gian này là tĩnh, bởi vì không có thiên hà nào khác ở ngoài Siêu thiên hà, chúng sẽ không còn các cọc tiêu vũ trụ nào nữa để đo sự giãn nở của vũ trụ, ấy là chưa nói đến chuyển động tăng tốc của nó! Trớ trêu hơn nữa, các nhà thiên văn của tương lai xa xôi sẽ có cùng một nhận định – mà hoàn toàn sai lầm – về thế giới như cách đây khoảng một thế kỷ, vào năm 1915, khi tổ tiên của chúng ta tin rằng vũ trụ chỉ được giới hạn trong dải Ngân Hà và rằng không gian xung quanh nó là tĩnh và trống rỗng!

12. Thiên hà Andromeda (hay Messier 31) cách Trái Đất 2,3 triệu năm ánh sáng, là thiên hà giống và gần nhất của dải Ngân Hà. Cùng với dải Ngân Hà, nó chiếm tỷ trọng lớn khối lượng của Cụm thiên hà địa phương bao gồm thêm khoảng 20 thiên hà lùn có khối lượng nhỏ hơn.
Nhưng có thể sẽ không mất hết tất cả. Điều gì sẽ xảy ra với bức xạ nền tràn ngập khắp nơi trong vũ trụ? Con cháu chúng ta liệu có thể quan sát nó để suy luận, như chúng ta đã làm, rằng trong quá khứ vũ trụ đã có một trạng thái cực kỳ nhỏ, nóng và đặc, và rằng nó đã được sinh ra trong một vụ nổ dữ dội của không gian gọi là “Big Bang”? Thật không may, ngay cả quan sát này chúng cũng không thể có được. Thật vậy, không gian giữa các vì sao của Siêu thiên hà, kết quả của sự hợp nhất các thiên hà riêng lẻ thuộc Siêu đám địa phương, sẽ chứa đầy khí nóng lên đến hàng triệu độ bởi va chạm của các thiên hà. Mà nhiệt độ cao đồng nghĩa với chuyển động dữ dội. Các nguyên tử khí sẽ va chạm và bị ion hóa, tức mất đi các electron của chúng. Khí giữa các vì sao sẽ trở thành cái mà các nhà vật lý gọi là “plasma”, chứa đầy hạt nhân nguyên tử và các electron tự do. Chúng sẽ ngăn chặn sự di chuyển của các photon vô tuyến của bức xạ nên từ bên ngoài Siêu thiên hà vào bên trong (nơi có dải Ngân Hà), do đó các nhà thiên văn học trên Trái Đất trong tương lai sẽ không bao giờ quan sát được bức xạ đó nữa ( 88 ) . Đối với những con cháu xa xôi của chúng ta, câu chuyện về Big Bang, sự giãn nở của vũ trụ, vật chất tối và năng lượng của chân không sẽ giống như một huyền thoại tuyệt vời về một nền văn minh cổ xưa đã biến mất, được tưởng tượng ra để giải thích nguồn gốc của thế giới, nhưng không dựa trên bất kỳ quan sát thực tế nào.
Vật lý hiện đại đã dạy chúng ta rằng chân không là nguồn gốc của tất cả mọi thứ: vũ trụ được sinh ra từ chân không, tất cả các thành phần của vũ trụ cũng xuất phát từ chân không và chân không cũng quy định chuyển động của nó. Sau đây chúng ta sẽ thấy rằng, thật đáng kinh ngạc, quan niệm này về thế giới lại rất gần với các truyền thống tâm linh lớn của phương Đông: Ấn Độ giáo, Đạo giáo và Phật giáo.
Chương VI. Đạo của cái Không
Tri thức lý tính, tri thức huyền bí
Liệu có mối liên hệ gì giữa tri thức khoa học với các truyền thống tâm linh phương Đông không? Cách tiếp cận thực tế của hai lĩnh vực đó thoạt nhìn dường như hoàn toàn đối lập. Để đột phá những bí mật của tự nhiên, nhà khoa học chủ yếu dựa vào trí tuệ và lý trí của mình. Bằng cách sử dụng những công cụ tinh xảo để thu thập các dữ liệu quan sát và thực nghiệm – từ các kính thiên văn dùng cho những cái vô cùng lớn, đến các kính hiển vi hoặc máy gia tốc hạt dùng cho những cái vô cùng bé – họ không ngừng đo đạc, phân chia, phân loại, phân tích hay so sánh để nghiên cứu hiện thực. Để diễn tả các quy luật tự nhiên, họ sử dụng một ngôn ngữ đã phát triển rất cao là toán học. Trực giác không phải là thứ vắng mặt trong khoa học, nhưng nó chỉ hữu ích nếu được hỗ trợ bởi một mô hình hoặc một lý thuyết được xây dựng trong một cấu trúc toán học chặt chẽ và nhất quán. Cách tiếp cận của khoa học về cơ bản là mang tính quy giản luận: nó dựa trên ý tưởng cho rằng tự nhiên có thể được phân chia thành các bộ phận, mỗi bộ phận có thể được nghiên cứu một cách độc lập, và chỉ cần nghiên cứu những thuộc tính của các bộ phận là có thể hiểu được tính chất của toàn thể. Nếu phân tích một phần nhỏ của vũ trụ mà không hiểu được toàn thể thì khoa học không thể phát triển. Ví dụ, tôi sẽ không thể thực hiện công việc của mình với tư cách một nhà thiên văn, nếu tôi hiểu được quỹ đạo của Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời, mà không tính đến tương tác hấp dẫn của tất cả các ngôi sao và các thiên hà trong vũ trụ. Mặc dù khoa học đương đại đã chứng tỏ một thực tế là vũ trụ tạo thành một tổng thể phụ thuộc lẫn nhau một cách khăng khít, nhưng phương pháp quy giản luận đã cho thấy nó rất hiệu quả.
Trái lại, nhà hiền triết không có ý định phân mảnh thực tại thành các phần nhỏ, mà lại cố gắng nắm bắt thực tại trong tính tổng thể của nó. Cách tiếp cận của họ không phải theo quy giản luận mà là theo cách toàn diện. Họ không cần viện đến các dụng cụ đo lường tinh xảo và những quan sát phức tạp, vốn là cơ sở thực nghiệm của khoa học hiện đại. Dụng cụ duy nhất mà họ sử dụng chính là tâm trí của mình. Những phát biểu của các truyền thống tâm linh về thế giới hiện tượng không được diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học có cấu trúc và phát triển cao. Chúng có bản chất định tính hơn là định lượng. Trực giác và kinh nghiệm nội tại đóng vai trò hàng đầu trong cách tiếp cận chiêm nghiệm hơn là trí tuệ và lý trí. Và trước hết, cách tiếp cận của khoa học và của tâm linh có bản chất hoàn toàn khác nhau: trong khi sự hiểu thấu thế giới hiện tượng bên ngoài là mục tiêu hàng đầu của khoa học, thì sự hoàn thiện tồn tại bên trong để giảm bớt đau khổ và đạt được sự thanh thản và hạnh phúc mới là mối quan tâm chính của các truyền thống tâm linh. Chẳng hạn, Phật giáo quan tâm tới bản chất tối hậu của thế giới vật chất không phải là để hiểu cách vận hành của tự nhiên, mà vì khi đạt được chân lý tuyệt đối và xua tan được sự vô minh, chúng ta có thể giải phóng mình khỏi những khổ đau do việc gắn kết sai lầm bản thân với thực tại biểu kiến của thế giới bên ngoài, và nhờ vậy mà đạt được tiến bộ trong sự hoàn thiện nội tâm chúng ta.
Với phương pháp và mục tiêu khác biệt như thế, liệu có hợp lý khi ta so sánh quan điểm của khoa học và truyền thống tâm linh phương Đông về thực tại, và đặc biệt về chủ đề liên quan đến chúng ta ở đây: khái niệm cái Không? Câu trả lời khẳng định dứt khoát là có. Sự kết hợp tri thức lý tính và huyền bí chỉ có thể làm giàu có và phong phú thêm mà thôi. Nó chỉ có thể tạo ra các tổng hợp bất ngờ, các quan điểm mới và các câu hỏi mới. Như nhà vật lý Werner Heisenberg đã nói rất rõ: “Tham vọng vượt qua những đối lập, bao gồm việc tổng hợp thâu tóm cả hiểu biết lý tính và kinh nghiệm huyền bí về tính thống nhất, là chuyện thần thoại ( mythos ), là cuộc tìm kiếm, dù nói ra hay không, của thời đại chúng ta ( 89 ) .”
Cái Không tràn đầy của phương Đông
Giống như ở phương Tây, khái niệm về hư vô và cái Không trong các truyền thống phương Đông xuất hiện trong bối cảnh các thần thoại về sự sáng thế. Chúng ta đã thấy rằng trong phần lớn những câu chuyện thần thoại phương Tây, vũ trụ không phải chuyển đổi từ hư vô sang một cái gì đó, từ không tồn tại đến hiện hữu, mà vũ trụ hầu như luôn luôn nảy sinh từ một môi trường đã có từ trước. Đối với người Hy Lạp, thể nền nguyên thủy là một trong bốn nguyên tố chính: thường là nước, nhưng cũng có thể là không khí, lửa, và đất, và được thêm vào một nguyên tố thứ năm là ether. Ý niệm cái Không và sự hỗn mang ban đầu gắn liền với nó đã tạo ra một nỗi sợ hãi siêu hình và phải lảng xa nó bằng mọi giá. Chúng ta đã thấy rằng chính vì sự sợ hãi hư vô mà số 0 đã không được phát minh bởi người Hy Lạp, bất chấp sự tiến bộ đầy ấn tượng của họ trong toán học.
Ngược lại với phương Tây, khái niệm cái Không đã được các nền văn minh phương Đông đón nhận một cách cởi mở. Chẳng hạn, nó đã đóng vai trò chủ đạo trong Ấn Độ giáo. Trong kinh Rig-Veda (thế kỷ 12-10 trước CN), một bộ sưu tập các kinh tụng ca của Ấn Độ cổ đại, được viết bằng tiếng Phạn khoảng năm 1500 đến năm 900 trước CN, và là một trong bốn bộ kinh kinh điển của Ấn Độ giáo, một thần thoại về sáng thế viết như sau:
Không có tồn tại đồng thời cũng không có không-tồn tại
Không có không gian cũng chẳng có bầu trời ở ngoài kia
Nó chứa gì? Nó ở đâu? Ai coi sóc nó?
Liệu nó có nước sâu, nước vô đáy?
Kinh Rig-Veda nói rằng ngay từ đầu “không có tồn tại”. Nhưng nó cũng không khẳng định rằng mọi thứ lúc đầu đều chỉ là hư vô vì ngay sau đó, nó viết thêm: “Cũng không có không-tồn tại. Nói cách khác, cái Không nguyên thủy không phải là không có gì, mà là chứa đầy tiềm năng. Đó là những tiềm năng sẽ được hiện thực hóa để sinh ra vũ trụ và các thành phần của nó. Trong Ấn Độ giáo, vô số sự vật và hiện tượng bao quanh chúng ta và tạo nên hiện thực chính là biểu hiện của một nguyên lý sáng tạo ẩn phía sau, được gọi là Brahman trong tiếng Phạn. Brahman , nguồn gốc của vạn vật, thường được mô tả là trống rỗng và vô hình vô tướng. Nhưng không nên nhầm lẫn cái Không đó với hư vô vì Brahman là cốt lõi của mọi hình thái và nguồn gốc của mọi sự sống. Nó là ý thức vũ trụ hiện diện trong mọi vật. Nó là linh hồn phổ quát đối ngược với linh hồn cá nhân, được gọi là atman , được tái sinh và ở trong mỗi chúng ta. Kinh Upanishad miêu tả nó như sau:
Brahman là sự sống, Brahman là niềm vui,
Brahman là cái Không,
Thực chất niềm vui, không gì khác, chỉ là cái Không
Và cái Không thực chất, không gì khác, chỉ là niềm vui.
Ý tưởng về một cái Không đầy tràn là nguồn gốc của vạn vật cũng có mặt trong Đạo giáo. Sinh ra ở Trung Quốc vào thế kỷ 5 trước CN, dòng tư tưởng này xuất hiện gần như đồng thời với Nho giáo. Hai trường phái tư tưởng này đại diện hoàn hảo cho hai thái cực bổ sung cho nhau của tính cách Trung Hoa: Nho giáo phản ánh phương diện thực dụng cao – làm thế nào sống trong xã hội, cư xử thế nào với người xung quanh, tôn kính tổ tiên thế nào... – trong khi Đạo giáo phản ánh phương diện siêu việt, lý tưởng chủ nghĩa của nó – làm thế nào vượt lên trên những đòi hỏi, những dằn vặt và mâu thuẫn của cuộc sống đời thường để đạt tới những đỉnh cao của minh triết. Đạo giáo là một triết lý của tự nhiên và của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên: con người chỉ có thể nhận thức được nếu phù hợp với trật tự tự nhiên, nếu có thể buông mình theo trực giác và hành động một cách tự phát, không bị cản trở bởi các quy tắc xã hội. Ngược lại, xã hội đóng vai trò hàng đầu trong tư duy Nho giáo: “Đạo không ở bên ngoài con người... Người quân tử chỉ cần tự biến đổi mình và dừng lại ở đó. ( 90 ) ” Khổng Tử (551-479 trước CN) là triết gia Trung Quốc đầu tiên đặt con người vào trung tâm suy ngẫm của mình. Để đạt được đức hạnh cao quý nhất ( nhân ), mỗi lời nói và cử chỉ của người quân tử phải được thực hiện trong mọi mối quan hệ xã hội theo những quy tắc hành xử nhất định ( lễ ), cho dù với gia đình, bạn bè hay cấp trên. Vì Đạo giáo liên quan đến thế giới tự nhiên và sự vận hành của nó, nên chúng ta sẽ xem xét các ý tưởng của Đạo này song song với những khám phá của khoa học hiện đại.
Lão Tử (khoảng thế kỷ 6 trước CN) và Trang Tử (khoảng thế kỷ 4 trước CN) thường được coi là cha đẻ của Đạo giáo. Đạo Đức Kinh, tác phẩm căn bản của Đạo giáo, được cho là của Lão Tử. Một bộ sưu tập cách ngôn, văn bản kinh điển tương đối ngắn này (năm ngàn từ), được viết một cách súc tích, sinh động và đầy chất thơ, mà theo nhà Trung Hoa học người Anh Joseph Needham thì nó là “đẹp nhất và sâu sắc nhất từng được viết bằng tiếng Hoa.” Nam Hoa Kinh của Trang Tử là văn bản trọng yếu thứ hai của Đạo giáo, dài hơn Đạo Đức Kinh. Sự tồn tại lịch sử của hai nhà tư tưởng này đã bị nghi ngờ bởi một số học giả đương đại. Họ đưa ra giả thuyết cả Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh đều không phải là tác phẩm của một người, mà là kết quả tập thể của nhiều tác giả kế tiếp nhau theo thời gian.
Cái Không và Đạo giáo
Đạo là gì theo Đạo giáo? Chúng ta có thể dịch từ này là “Con đường” hay “Phương pháp”. Con đường của cái gì? Của vũ trụ ( 91 ) . Các nhà Đạo giáo tin rằng có một thực tại tối hậu của vũ trụ, khác với thực tại biểu kiến mà các giác quan của chúng ta cảm nhận. Thực tại tối hậu này tiến hóa và thay đổi không ngừng. Vũ trụ giống như một dòng chảy rộng lớn của các sự kiện và rất sống động, tất cả đều được kết nối với nhau và tương tác liên tục. Mọi thay đổi, mọi vận động, tất cả đều là vô thường. Thay đổi là phổ biến và vĩnh viễn.
Không phải là dễ dàng để định nghĩa được Đạo. Nó dường như luôn vuột khỏi tay chúng ta ở chính thời điểm mà bạn nghĩ rằng đã nắm được nó. Lão Tử đã nói:
Là một thứ hỗn độn tạo thành,
sinh ra trước Trời Đất.
Yên lặng, hư không, đứng một mình mà không đổi.
Vận động tuần hoàn không nghỉ.
Có thể xem là mẹ của Trời Đất.
Ta không biết tên của nó, miễn cưỡng viết chữ là Đạo ( 92 ) .
Trang Tử cũng nhấn mạnh tính chất không thể xác định này: “Đạo không thể thấy được; cái gì thấy được thì không phải là Đạo. Đạo không thể đem ra giảng được; cái gì giảng được thì không phải là Đạo... Nội cái việc hỏi về Đạo đã đủ tỏ rằng chưa nghe gì về Đạo. Đạo thì không thể đem ra hỏi được, mà hỏi thì không trả lời được. Đã không thể hỏi mà còn hỏi thì câu hỏi đó rỗng không, đã không đáp được mà còn đáp thì lời đáp đó vô nghĩa. Dùng lời vô nghĩa mà đáp một câu hỏi rỗng không, như vậy là ngoài thì không quan sát vũ trụ, trong thì không biết nguồn gốc, tất không vượt được núi Côn Lôn, mà ngao du ở cõi Thái Hư ( 93 ) ” Trong đoạn này triết gia Trung Quốc thể hiện sự nghi ngờ của Đạo giáo về tri thức lý tính, nghi ngờ về việc đạt được chân lý tối hậu chỉ bằng lý trí. Đạo khó có thể được định nghĩa bằng lời, nó chống lại các phân tích bằng lý luận, nó không chấp nhận việc phẫu tích thành các câu hỏi và trả lời.
Trong đoạn văn này, Trang Tử gắn kết một cách tường minh Đạo với “Thái Hư, tức cái Không tối thượng”. François Cheng đã cố gắng làm rõ mối quan hệ này: “Có thể nói, một cách rất đơn giản, rằng so với cái Không, Đạo có nội dung tổng quát hơn. Đôi khi nó đại diện cho nguồn gốc, khi đó nó dễ bị nhầm lẫn với cái Không; đôi khi nó lại là một biểu hiện của cái Không này; đôi khi nữa, theo một nghĩa rộng hơn, nó bao gồm toàn bộ vũ trụ cố hữu ( 94 ) ”.
Đạo là “Mẹ của vũ trụ” theo Lão Tử. Giống như Ấn Độ giáo, điều quan trọng là không nên nhầm lẫn cái Không (còn gọi là “Không có gì”) với hư vô: “Chứa đựng sự hứa hẹn của Tất cả, Không có gì có nghĩa là Không tồn tại, và sự Không tồn tại này chính là nơi mà Tồn tại đến từ đó. Khái niệm Không tồn tại là tất yếu bởi vì phải từ nó chúng ta mới có thể thực sự hình dung được Tồn tại ( 95 ) ”, François Cheng giải thích. Khái niệm về cái Không tràn đầy theo Đạo giáo là nguồn gốc của tất cả mọi thứ, từ Không tồn tại tạo ra Tồn tại, có một sự cộng hưởng tuyệt vời với những gì mà vũ trụ học hiện đại đã nói với chúng ta. Hãy nhớ rằng, vật lý học mà ta đã biết (chi phối vũ trụ kể từ sau thời điểm Planck 10 -43 giây) cũng nói với chúng ta rằng vũ trụ xuất phát từ một chân không nguyên thủy. Giống như cái Không của Đạo giáo không phải là hư vô, chân không vũ trụ không phải là không có gì, mà là đầy ắp. Vũ trụ nguyên thủy chứa đầy một trường năng lượng gọi là “trường Higgs”, bị chặn trong một trạng thái giả chân không, tạo nên một lực đẩy khổng lồ, gây ra sự lạm phát điên cuồng của vũ trụ. Do chân không tràn đầy gây ra cái “bang” của Big Bang, các nhà vũ trụ học có thể kết luận, như Đạo giáo, rằng chân không là mẹ của vũ trụ, và chính cái Không tồn tại đã sinh ra cái Tồn tại.
Đạo sinh Một
Với Đạo giáo, chính cái Không sinh đã sinh ra vạn vật trong vũ trụ. Một đoạn rất nổi tiếng trong chương 42 của Đạo Đức Kinh đã miêu tả sự tiến hóa này như sau:
Đạo sinh Một
Một sinh Hai
Hai sinh Ba
Ba sinh Vạn vật
Vạn vật c õ ng âm
Và bồng dương
(Hai) khí xung nhau mà lại hòa ( 96 ) .
“Đạo sinh Một”. Quan điểm hợp nhất nguyên thủy này của thế giới không chỉ thuộc về riêng Đạo giáo. Các truyền thống tâm linh lớn khác của phương Đông như Phật giáo hay Ấn Độ giáo cũng nhấn mạnh tính không thể phân tách của thực tại của thế giới. Và ý tưởng này cũng hài hòa với quan niệm của khoa học về vũ trụ. Dần dần theo các phát hiện khoa học, theo sự chỉ đường của cái đẹp và đối xứng ( 97 ) , các nhà vật lý đã thống nhất được các hiện tượng tưởng như hoàn toàn tách biệt. Aristotle đã nghĩ rằng Trời và Đất bị chi phối bởi các định luật hoàn toàn khác nhau – mọi vật chuyển động theo đường thẳng trên Trái Đất trong khi các thiên thể chuyển động theo đường tròn trên bầu trời. Vào thế kỷ 18, Newton đã xóa bỏ sự phân biệt đó của Aristotle và thống nhất đất với trời bằng cách chứng minh rằng chính quy luật vạn vật hấp dẫn đã giải thích được cả sự rơi của quả táo và chuyển động của các hành tinh xung quanh Mặt Trời. Tiếp sau đó, khi âm thanh được công nhận chẳng qua cũng chỉ là một sóng lan truyền qua không khí, thì tới lượt âm học trở thành một bộ phận của cơ học Newton. Vào thế kỷ 19, Maxwell phát hiện ra rằng điện và từ chỉ là hai mặt của cùng một thực tại. Ngoài ra, bằng cách chứng minh được rằng sóng điện từ không gì khác chính là sóng ánh sáng, ông đã thống nhất quang học với điện từ học. Vào thế kỷ 20, Einstein đã thống nhất thời gian và không gian. Chúng ta sống trong vũ trụ bốn chiều: để định vị bạn, không những phải chỉ ra ba tọa độ không gian mà còn cần tới thời gian được đo tại vị trí này.
Vào đầu thế kỷ 21, các nhà vật lý tin rằng ở thuở ban đầu của vũ trụ, khi nó nóng hơn tất cả các địa ngục có thể tưởng tượng được, bốn lực cơ bản chi phối thế giới hiện nay được thống nhất thành một siêu lực duy nhất. Sự nguội đi của vũ trụ đã phá vỡ sự thống nhất đó và làm cho chúng tách riêng ra. Giống như Đạo giáo, vật lý hiện đại đảm bảo với chúng ta rằng mọi thứ đều xuất phát từ cái Một.
Sự tiến hóa của vũ trụ
Đoạn trích dẫn ở trên của Đạo Đức Kinh đã mô tả cho chúng ta thấy làm thế nào mà xuất phát từ cái Một, vũ trụ đã phát triển thành nhiều, từ đồng nhất trở nên đa dạng và phức tạp: Một sinh Hai, Hai sinh Ba, Ba sinh Vạn vật. Cũng như vậy, vũ trụ học hiện đại cho chúng ta biết rằng lịch sử của vũ trụ là lịch sử tạo dựng vật chất, khi tiến hóa từ cái đơn giản nhất đến cái phức tạp nhất. Nó cung cấp cho chúng ta một kịch bản chính xác và chi tiết về bộ sử thi tuyệt vời của vũ trụ trải dài trong suốt khoảng 14 tỷ năm, và đó cũng là lịch sử của chúng ta bởi vì nó dẫn đến sự xuất hiện con người. Từ một chân không siêu nhỏ chứa đầy năng lượng, vật chất và phản vật chất sinh ra dưới dạng các hạt cơ bản (quark và electron) và phản hạt. Nhiệt độ cực hạn của vũ trụ nguyên thủy khiến các hạt và phản hạt va chạm mãnh liệt để tiêu hủy thành ánh sáng. Các hạt ánh sáng, đến lượt mình, biến mất để trở thành cặp hạt-phản hạt (hình dưới). Việc sinh và hủy của vật chất và phản vật chất xảy ra kế tiếp nhau theo các vòng sinh tử chỉ trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi.

Sự sinh vật chất (ở đây là các electron) và phản vật chất (ở đây là các phản electron, tức positron) từ ánh sáng (các photon gamma) và sự hủy của chúng thành ánh sáng kế tiếp nhau theo nhịp điệu của địa ngục trong vũ trụ nguyên thủy.
Sự tương tác vật chất-phản vật chất trong vũ trụ nguyên thủy cũng giống như tác động của cặp Âm-Dương được mô tả trong Đạo giáo. Theo quan điểm Đạo giáo, thế giới được hình thành như là kết quả của sự tương tác động và tương hỗ của hai lực có quan chặt chẽ này, trong lực này chứa mầm mống của lực kia và kế tiếp nhau một cách tuần hoàn (hình trang sau). François Cheng mô tả sự tương tác của cặp đôi Âm-Dương như sau: “Từ Đạo gốc, được coi là cái Không tối thượng (Thái Hư), sinh ra Một là Khí ban sơ, từ đó tạo ra hai khí tương hỗ là Âm và Dương: rồi qua sự kết hợp hài hòa của âm dương tạo ra Hòa khí và sinh ra vạn vật ( 98 ) ". Như vậy vũ trụ tuân theo một chuyển động tuần hoàn vĩnh cửu, Dương đạt đến đỉnh cao sẽ nhường chỗ cho Âm, rồi tới lượt mình Âm sẽ được thay thế bằng Dương sau khi đã đạt đến mức tối đa. Sự tương tác hài hòa của cặp Âm-Dương được thể hiện trong nhiều tình huống: bầu trời gắn liền với Dương, sức mạnh nam giới, mạnh mẽ và sáng tạo, trong khi Trái Đất được thể hiện bằng Âm, yếu tố nữ tính, người mẹ và trực giác; Mặt Trời, nóng và sáng, là Dương, Mặt Trăng, ấm áp và tối tăm, là Âm; mùa hè tươi sáng và nóng tiếp sau mùa đông ảm đạm và lạnh lẽo, bóng đêm tiếp nối ánh sáng ban ngày, vật chất Dương và phản vật chất Âm, rất nhiều ví dụ về sự tương tác của cặp đôi Âm-Dương.

Cặp đôi Âm-Dương. Trong Đạo giáo, vũ trụ được định hình bởi tương tác động và tương hỗ của hai lực thái cực, Âm (màu đen) và Dương (màu trắng). Cái này chứa mầm mống của cái kia và nối tiếp nhau một cách tuần hoàn.
Liên quan đến cặp vật chất-phản vật chất, vũ trụ học hiện đại dạy chúng ta rằng không có sự đối xứng hoàn hảo giữa số lượng hạt và phản hạt. Nếu có, thì toàn bộ vật chất và phản vật chất sẽ bị hủy hoàn toàn, và như vậy, trong vũ trụ sẽ chỉ còn ánh sáng. Các thiên hà, sao, hành tinh và con người sẽ không thể xuất hiện. Vũ trụ sẽ trống rỗng và khô cằn, hoàn toàn không có tiếng chim hót và tiếng cười con trẻ. May mắn thay, tự nhiên lại ưu ái vật chất hơn một chút, chỉ cỡ phần tỷ lần, so với phản vật chất, do đó trong vũ trụ hiện tại cứ mỗi tỷ photon lại có một hạt vật chất. Lý do của sự ưu ái này – mặc dù rất bé – đối với vật chất so với phản vật chất hiện vẫn đang còn là một bí ẩn. Dẫu sao thì có một thực tế là chắc chắn: đối xứng hoàn hảo là cằn cỗi trong khi một sự phá vỡ nhỏ của đối xứng lại rất mầu mỡ, phì nhiêu.
“Ba sinh Vạn vật. Vạn vật cõng âm và bồng dương.” Mô tả súc tích này về sự tiến hóa của vũ trụ trong Đạo Đức Kinh đã được minh chứng bởi vật lý thiên văn hiện đại. Nó cho chúng ta một bức bích họa lịch sử vĩ đại mà trong đó, từ quark và electron, những kẻ sống sót sau sự hủy diệt của vật chất và phản vật chất, vũ trụ sẽ dần dần tạo ra các nguyên tử (hydrogen và helium), các phân tử, sao, thiên hà và các hành tinh. Trên một hành tinh tên là Trái Đất, sự sống và ý thức sẽ xuất hiện.
Sự tương tác không ngừng giữa Không và Doanh
Như vậy, cái Không có xu hướng tiến tới đầy: “Không là gốc của Đạo, ngoài ra nó còn là điều kiện của sự hòa hợp trong tiến trình của Đạo. Dựa vào Không tức là theo hướng của Đạo, Đạo không ngừng dịch chuyển từ Không sang Doanh (tràn đầy) rồi quay trở lại Không, nơi Khí nguyên thủy làm mới lại chính mình... Tồn tại không chỉ đơn giản là theo dòng chảy của sự tồn tại, mà là liên tục thực hiện hành động tồn tại, từ sự không tồn tại ( 99 ) ”. Đạo giáo thường đề cập tới cặp đôi Không- Doanh bằng hình ảnh của thung lũng và nước, giống như khí ban sơ, “thâm nhập khắp mọi nơi và tác động đến mọi thứ”. Lão Tử so sánh Không với thung lũng: nó như hõm, rỗng ở giữa lòng núi – đầy – bao quanh nó, nhưng tự nó cũng là đầy vì chứa mọi thứ trong lòng nó, cây cối, sông suối... (hình 13, ảnh màu). Doanh làm cho vật chất hiển hiện và rõ ràng, nhưng chính Không mới tạo nên cấu trúc sự tồn tại và tác dụng của nó ( 100 ) . Đối với Trang Tử, “Thung lũng là nơi mà đổ mãi không bao giờ đầy và nơi rút mãi không bao giờ cạn”.

13. Hội họa Đạo giáo với các thung lũng và núi non, minh họa một cách tinh tế tương tác giữa Không và Doanh. Trong Đạo giáo, Không thường được so sánh với một thung lũng có vẻ như trống rỗng ở giữa núi non xung quanh. Thế nhưng thung lũng này lại tràn đầy bởi vì nó chứa trong lòng mình cây cỏ, sông suối...
Hội họa Trung Quốc cổ đại minh họa một cách tinh tế sự tương tác đó giữa Không và Doanh. Được coi là một hoạt động thiêng liêng, nó tiến hóa từ truyền thống hiện thực chủ nghĩa đến một quan niệm ngày càng mang tính chất tâm linh. Ở đây, thuật ngữ này không ám chỉ một bức tranh tôn giáo, chẳng hạn như các thể hiện về Chúa trong hội họa phương Tây hay Đức Phật trong các bức tranh Phật giáo, mà chính bản thân hành động vẽ là hành động tâm linh: “Hội họa không chỉ đơn thuần là để tái tạo vẻ bên ngoài của sự vật, nó tìm cách nắm bắt các đường nét bên trong và các mối quan hệ ẩn giấu giữa chúng ( 101 ) ” Nói cách khác, hội họa Trung Quốc cổ đại, chủ yếu lấy nguồn cảm hứng từ Đạo giáo, không chỉ nhằm mục đích thẩm mỹ mà còn nhằm phát lộ bí mật của vũ trụ. Bằng cách đưa ra một biểu diễn của không gian nơi mà các dòng “khí thiết yếu” chảy khắp, nó muốn làm sáng tỏ mối quan hệ sâu sắc của con người với vũ trụ và làm rõ những ý nghĩa cơ bản của vận mệnh con người: “Nếu vũ trụ bắt nguồn từ Khí nguyên thủy và duy trì nhờ Khí thiết yếu, thì hội họa cũng trở nên sống động nhờ các khí này... Tương quan với khái niệm khí, khái niệm Âm-Dương chính là biểu hiện của các định luật động chi phối tất cả. Từ Âm-Dương, ý tưởng phân cực được sinh ra trong hội họa: Trời-Đất, Núi-Nước, Xa-Gần... (Điều này) chỉ có thể thực hiện được nhờ một yếu tố luôn tiềm ẩn: đó là cái Không. Trong hội họa cũng như trong vũ trụ, không có Không, khí sẽ không lưu thông, Âm-Dương sẽ không hoạt động. Nếu không có nó, Nét bút, hàm nghĩa là thể tích và ánh sáng, nhịp điệu và màu sắc, không thể biểu hiện tất cả các tiềm năng của nó. Vì vậy, khi vẽ một bức tranh, Không tác động tới ở tất cả các cấp độ, từ các nét vẽ cơ bản đến bố cục tổng thể... Đối mặt với Doanh, Không là một thực thể sống. Động lực của tất cả mọi thứ, nó thậm chí tác động cả vào bên trong của Doanh, bằng cách thổi vào những luồng khí thiết yếu ( 102 ) ”.
Cặp đôi Âm-Dương có mối liên hệ mật thiết với cặp đôi Không-Doanh: “Âm-Dương chi phối luật động của Thực tại được đánh dấu bởi Doanh, Không là nơi diễn ra sự chuyển đổi ( 103 ) ” Hòa khí, khí “ở giữa” lấy sức mạnh từ Không nguyên thủy, cho phép cặp Âm-Dương tương tác với nhau, đưa chúng về phía nhau tạo nên một “biến đổi có lợi” và một sự hài hòa màu mỡ. Nói cách khác, không có sự hiện diện của Hòa khí, cặp đôi Âm-Dương không thể tác động tới Doanh hay cũng chính là tới vũ trụ của vật chất và bản thể, và không gì có thể hoạt động và tiến hóa được. Mọi thứ sẽ bị đóng băng trong sự bất động cằn cỗi. Hòa khí là phần tử thiết yếu thứ ba của cặp đôi Âm-Dương, và bộ đôi đã trở thành bộ ba. Bộ ba này hòa nhập với Đạo thành một. Do đó chúng ta thấy mình đối mặt với hai phương trình nghịch lý: 2 = 3 và 3 = 1 3 .
Một vũ trụ luôn tiến hóa
Ý tưởng về sự tương tác liên tục giữa Không và Doanh, nói cách khác là giữa không tồn tại và tồn tại, ngụ ý sự chuyển đổi không ngừng của các hiện tượng tự nhiên. Do Không không ngừng tiến hóa hướng về Doanh và ngược lại, nên không gì có thể vĩnh cửu và bất biến. Ý tưởng về sự chuyển đổi không ngừng này đã xuất hiện rất sớm, người ta tìm thấy nó trong Kinh Dịch. Được coi là một trong những cuốn sách quan trọng nhất của tư tưởng phổ quát, Kinh Dịch bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước CN. Tích lũy hàng ngàn năm trí tuệ của Trung Hoa, ban đầu nó là một bộ sưu tập của 64 ký hiệu, được gọi là “quẻ”, dựa trên biểu tượng của Âm và Dương của Không và Doanh, và ban đầu được các nhà tiên tri sử dụng. Trong các quẻ, Doanh gắn với dương, là một nét liền trong khi Không, gắn với Âm, là một nét đứt. Chính cái Không này tạo ra các biến đổi trong vũ trụ. Các quẻ này biểu hiện bản chất vô thường của vũ trụ, sự chuyển động của các hiện tượng tự nhiên trong những biến đổi của chúng. Như có sự chuyển đổi liên tục của các dấu hiệu hướng về nhau, các hiện tượng này không ngừng phát triển từ hình thức này sang dạng khác. Kinh Dịch, như Đạo giáo sau này, cố gắng giải thích những thay đổi không ngừng trong tự nhiên, cũng như mối quan hệ luôn thay đổi và biến động giữa con người.

64 quẻ của Kinh Dịch. a) Trong đó, Dương được biểu diễn bởi một nét liền và Âm bởi một nét đứt; b) Một quẻ được tạo từ hai quái chồng lên nhau, mỗi quái có ý nghĩa riêng của nó, chứ không phải là một loạt sáu vạch. Mỗi quẻ biểu diễn một trạng thái hay tiến trình vũ trụ, được tạo ra bởi sự tương tác động của cặp đôi Âm-Dương, không chỉ có trong vũ trụ, mà còn trong các mối quan hệ giữa con người.
Khái niệm về sự chuyển dịch, thay đổi vĩnh cửu này phù hợp với quan niệm của vũ trụ học hiện đại: vũ trụ đang không ngừng tiến hóa, trái ngược hẳn với quan điểm của Aristotle. Aristotle tin rằng bầu trời, cõi giới của Thượng Đế, phải hoàn hảo và không gì có thể thay đổi được nữa, bởi vì không thể cải thiện cái hoàn hảo được. Vào những năm 1950, lý thuyết vũ trụ tĩnh vẫn cho rằng vũ trụ về trung bình là không thay đổi theo thời gian cũng như không gian. Chỉ đến năm 1965, sau khi khám phá ra bức xạ hóa thạch, lý thuyết Big Bang mới chiếm ưu thế. Nó quét sạch ý tưởng về một vũ trụ tĩnh và không thay đổi, mang lại cho vũ trụ một lịch sử: vũ trụ có quá khứ, hiện tại và tương lai. Sinh ra trong một vụ nổ lớn từ trạng thái cực nóng và đặc, vũ trụ giãn nở không ngừng và sự giãn nở có gia tốc của không gian sẽ tiếp tục làm giảm mật độ của vũ trụ và làm cho nó nguội đi tới khi thời gian kết thúc. Không chỉ vũ trụ thay đổi, mà tất cả các cấu trúc chứa trong nó cũng đang thay đổi. Từ các hành tinh đến các sao, thiên hà đến đám thiên hà, không có gì là vĩnh viễn. Các ngôi sao được sinh ra, sống bằng cách tiêu hao nhiên liệu hydrogen và helium, và khi chết phóng các khí giàu nguyên tố hóa học do các lò giả kim thuật hạt nhân tạo ra vào không gian giữa các vì sao. Khí này rồi sẽ co sập lại dưới tác dụng của lực hấp dẫn để sinh ra một thế hệ sao mới, và một vòng đời mới lại bắt đầu. Nhưng vòng đời sinh tử của các ngôi sao không được đo bằng bách niên (trăm năm) như cuộc đời của con người, mà bằng hàng triệu, hàng tỷ năm.
Mọi thứ không chỉ thay đổi, mà còn luôn vận động. Các hành tinh, sao, thiên hà hoặc các cụm thiên hà đang miên man chuyển động trong một vũ điệu vũ trụ tuyệt vời. Vào khoảnh khắc khi bạn đang đọc những dòng này, Trái Đất đưa bạn đi qua không gian với tốc độ khoảng 30 km mỗi giây trong hành trình hằng năm của nó quanh Mặt Trời. Đồng thời, Mặt Trời cũng đưa hành tinh của chúng ta di chuyển với tốc độ khoảng 233 km/s xuyên qua không gian giữa các vì sao của dải Ngân Hà, do ngôi sao của chúng ta quay trọn một vòng xung quanh tâm của Ngân Hà mất 250 triệu năm. Thiên hà của chúng ta lại dịch chuyển về phía thiên hà Andromeda với tốc độ 90 km/s do lực hút hấp dẫn của nó. Và vẫn chưa hết: ngoài ra còn có chuyển động của Cụm địa phương và Siêu đám địa phương chồng lên các chuyển động giãn nở của vũ trụ.
Thế giới của các hạt cơ bản cũng không ngoại lệ. Vật lý học đương đại dạy chúng ta rằng ở thế giới này cũng vậy, mọi thứ đều là vô thường. Phần lớn các hạt đều không bền: chúng sẽ tự phân hủy. Chẳng hạn, một neutron tự do, khi không bị cầm tù trong một hạt nhân nguyên tử, sẽ biến thành proton sau khoảng mười lăm phút, đồng thời phát ra một electron và một neutrino. Hầu hết các hạt xuất hiện trong lòng của máy gia tốc chỉ sống ngắn hơn cả chớp mắt – một phần triệu giây hoặc thậm chí còn ngắn hơn – và biến mất. Những hạt bền nhất, chẳng hạn như electron, photon hoặc neutrino, không sống cô lập, và sớm hay muộn, sự tương tác với các hạt khác sẽ làm thay đổi bản chất của chúng hoặc làm chúng biến mất. Như cái Không đột biến thành Tràn đầy và ngược lại, năng lượng của một hạt có thể chuyển thành vật chất, hoặc ngược lại, vật chất có thể trở thành ánh sáng bằng cách hủy diệt chính nó với phản vật chất. Vô số các hạt ảo sống trong không gian xung quanh chúng ta do nguyên lý bất định của năng lượng. Xuất hiện và biến mất theo vòng sinh tử trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi, chúng thể hiện ở mức cao nhất sự vô thường của thế giới, nơi mà mọi thứ chỉ là đột biến và chuyển đổi.
Con người và cái Không
Theo tư duy Đạo giáo, khái niệm Không áp dụng không chỉ đối với vũ trụ mà còn đối với cả con người. Con người không chỉ là máu và thịt, mà còn là khí và tinh thần, đồng thời cũng là nơi cư ngụ của Không. Và thông qua Không, con người có thể cảm nhận được cái Không nguyên thủy, trở thành tấm gương phản chiếu thế giới, hiểu được nhịp điệu của thời gian và không gian, và nắm vững các quy luật chuyển hóa: “Không, vừa có mặt ở gốc vừa ở trung tâm của tất cả mọi thứ, bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn của sự sống trong khuôn khổ thời gian-không gian. Theo mức độ mà ở đó thời gian sống chỉ là sự thực tại hóa của không gian thiết yếu, Không giống như một kiểu điều tiết làm biến đổi mỗi giai đoạn của cuộc sống thành một không gian được các khí thiết yếu làm cho sống động – điều kiện tiên quyết để duy trì được vận may, để có một sự tràn đầy thực sự, để có một cuộc sống thực sự không phải chỉ là một chiều... Khi đưa sự gián đoạn vào trong dòng chảy của thời gian, Không sẽ tái đầu tư, theo một cách nào đó, chất lượng của không gian trong thời gian, để đảm bảo nhịp điệu đúng của các khí và khía cạnh toàn diện của các mối quan hệ... Cái Không ngụ ý Nội hiện và Toàn thể ( 104 ) ” Các khí thiết yếu, thúc đẩy cái Không sinh ra vũ trụ và sự sống, được Đạo giáo gọi là khí . Khái niệm này rất giống với quan niệm về trường của vật lý hiện đại. Tựa như khí lấp đầy cái Không của Đạo giáo, các trường gắn với các lực cơ bản và các hạt vật chất lấp đầy chân không vật lý.
Theo Đạo giáo, khí rất quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta. Sức khỏe, cả thể chất cũng như tinh thần và đạo đức, phụ thuộc vào thực tế là khí đi qua cơ thể của chúng ta có hài hòa và thông suốt không. Chẳng hạn, trong cơ thể con người, các mạch lưu thông của khí , xác định bởi kinh mạch và huyệt đạo, tạo thành nền tảng của y học cổ truyền Trung Quốc: châm cứu. Mục đích của phương pháp này là tạo thuận lợi và kích thích sự lưu thông của khí thông qua các kinh mạch đó ( 105 ) . Những nguyên lý này cũng áp dụng đối với Thái Cực quyền, võ thuật Đạo giáo, dùng sự trôi chảy của động tác kết hợp với hơi thở để kích thích sự lưu thông của khí .
Trong đoạn trích dẫn ở trên, François Cheng cũng nói về một “Thời gian sống chỉ đơn giản là sự thực tại hóa của không gian thiết yếu”. Ý tưởng Đạo giáo cho rằng cặp không-thời gian là không thể tách rời và thời gian có thể được biến đổi thành không gian và ngược lại là một ý tưởng có tính báo hiệu. Khoảng 25 thế kỷ sau, Einstein sẽ chứng minh bằng thuyết tương đối của ông rằng thời gian và không gian không phải là tách biệt như trong vũ trụ của Newton. Vũ trụ hiện nay có bốn chiều, chiều thời gian thêm vào với ba chiều không gian. Thời gian và không gian đã mất đi tính cứng nhắc của chúng trong vũ trụ của Newton. Cả hai đều trở nên động, co giãn và dễ uốn, với các hành vi luôn bổ sung cho nhau. Không gian có thể được chuyển đổi thành thời gian và ngược lại khi bạn di chuyển rất nhanh hoặc đang ở trong một trường hấp dẫn mạnh. Đối với một người quan sát chuyển động với tốc độ gần tốc độ ánh sáng, không gian co lại và biến đổi thành một thời gian kéo dài hơn. Những biến dạng phối hợp này có thể được xem như một sự chuyển đổi không gian thành thời gian, với tỷ giá hoán đổi tại ngân hàng vũ trụ cực cao: cứ mỗi 300.000 km không gian, bạn sẽ chỉ nhận được một giây thời gian. Trong vũ trụ của Einstein, cũng như trong thế giới Đạo giáo, thời gian và không gian không còn phần tách được nữa.
T í nh Không của Phật giáo hay là
sự thiếu vắng tồn tại của bản ngã
Đạo giáo không phải là truyền thống tâm linh duy nhất ở phương Đông quan tâm tới khái niệm cái Không. Phật giáo cũng đã làm như vậy, nhưng theo một cách rất riêng. Đây là truyền thống tâm linh lớn của nhiều nước châu Á, bao gồm Myanmar, Campuchia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Lào, Nepal, Sri Lanka, Thái Lan, Tây Tạng và quê hương tôi, Việt Nam. Mặc dù ra đời ở Ấn Độ, Phật giáo không còn là hình thức tâm linh thống trị ở đó nữa, một phần vì sự chống đối mãnh liệt của nó đối với hệ thống đẳng cấp ở đất nước này. Người sáng lập của Phật giáo, Siddhartha Gautama, Đức Phật (Bouddha, tức giác ngộ theo tiếng Phạn), sống vào thế kỷ 6 hoặc 5 trước CN (các nhà sử học còn chưa nhất trí), một khoảng thời gian đặc biệt trong lịch sử nhân loại với sự xuất hiện của nhiều nhân vật kiệt xuất khác – như Khổng Tử và Lão Tử ở Trung Quốc, cùng với các triết gia Hy Lạp vĩ đại – mà trí tuệ của họ vẫn còn dẫn dắt chúng ta ngày hôm nay.
Nếu Phật giáo cũng quan tâm đến bản chất của thế giới, thì không phải bởi vì đó là mối quan tâm đầu tiên của nó, về cơ bản giống như khoa học, mà là vì theo Phật giáo, sự vô minh có thể là nguồn gốc của đau khổ. “Sự vô minh” theo Phật giáo không đơn giản chỉ có nghĩa là thiếu kiến thức, mà là một quan niệm sai lầm về thực tại khiến chúng ta tin rằng mọi thứ đều vĩnh viễn và vững chắc, rằng bản ngã của chúng ta thực sự tồn tại. Cái dẫn dắt chúng ta hành động theo cách để thỏa mãn bản ngã đó, đôi khi lại gây thiệt hại cho người khác, dẫn đến một hành vi hoàn toàn ích kỷ và phá hủy sự yên bình trong nội tâm chúng ta. Để loại trừ sự vô minh này, Phật giáo dạy chúng ta phải học cách phân biệt thực tại biểu kiến (cách mà các sự vật trình hiện trước chúng ta) với thực tại tối thượng (bản chất thực của chúng). Có được tri thức trong Phật giáo trước hết là vì mục đích trị liệu: nó giúp con người loại bỏ những đau khổ bằng cách đi theo con đường Giác ngộ, trạng thái tri thức tối thượng gắn liền với lòng từ bi vô hạn.
Một trong những khái niệm cơ bản mà Phật giáo đã suy ngẫm một cách sâu sắc là khái niệm của cái Không. Nhưng cái Không Phật giáo không quan tâm nhiều đến không gian xung quanh chúng ta như bản chất của sự vật. Chúng ta sẽ chỉ khái niệm này bằng từ “tính Không” để phân biệt nó với sự trống rỗng của không gian. Phật giáo dạy chúng ta rằng cái Không là bản chất tối hậu của thế giới. “Tính Không” không có nghĩa là “hư vô” như các nhà bình luận phương Tây đầu tiên về Phật giáo, chẳng hạn triết gia Đức Schopenhauer, đã nghĩ một cách sai lầm ( 106 ) , mà là “thiếu vắng sự tồn tại riêng”. Các hiện tượng và chức năng mà các sự vật chứa đầy, theo tư tưởng Phật giáo, là không tồn tại độc lập và vĩnh hằng.
Khái niệm tính Không xuất phát trực tiếp từ một ý tưởng cơ bản khác của Phật giáo, đó là sự tương liên của các hiện tượng, theo đó một sự vật chỉ có thể được xác định trong mối quan hệ với những sự vật khác: không gì có thể tự thân tồn tại hoặc là nguyên nhân của chính nó; bất kỳ hiện tượng nào cũng chỉ có thể biểu hiện nếu nó được kết nối với các hiện tượng khác. Chẳng hạn, hãy thử xem xét cái bàn gỗ mà tôi sử dụng để viết. Nó sẽ không tồn tại nếu không có gỗ đã được sử dụng để làm ra nó. Gỗ này lại lấy từ một cái cây, mà cây này sẽ không thể phát triển nếu không có ánh sáng mặt trời, không được nước mưa tưới tắm, và không có đất để mọc. Cái bàn cũng không thể xuất hiện nếu thiếu người thợ mộc tạo hình cho nó và người tiều phu đã đốn cây lấy gỗ. Cả hai đều phụ thuộc vào người thợ rèn làm ra các công cụ cho họ sử dụng. Sau đó, chúng ta cũng phải nói tới thợ làm bánh mì phục vụ tất cả mọi người, rồi người nông dân đã trồng và thu hoạch lúa mì, người thợ xây nên lò bánh mì, người thợ mỏ đào than để đốt lò nướng, và cứ như vậy. Chuỗi kết nối sẽ còn kéo dài mãi mãi. Một đối tượng đơn giản nhất trong cuộc sống hằng ngày là hậu quả của sự hiện diện và hoạt động của các vật khác. Thực tại là kết quả hội tụ của một số vô hạn các điều kiện và nguyên nhân không ngừng thay đổi. Các hiện tượng tự thân chúng không là gì hết. Sở dĩ chúng có được bản chất của mình là nhờ phụ thuộc lẫn nhau.
Tất cả mọi thứ đều phụ thuộc vào cái khác. Vì vậy, thực tại không thể được coi như bị phân mảnh và cục bộ hóa, nó được kết nối và phụ thuộc lẫn nhau và phải được hiểu trong tổng thể của nó. Chúng ta luôn được khoa học nhắc nhở về sự tương liên này của thế giới. Chẳng hạn, vũ trụ học hiện đại cho chúng ta biết rằng ta là hậu duệ của các ngôi sao bởi vì tất cả chúng ta đều được tạo ra từ các nguyên tố hóa học được sản xuất bởi các quá trình hạt nhân, trước hết là trong vụ nổ Big Bang tạo ra hydrogen và helium, sau đó là ở trung tâm các ngôi sao tạo ra các nguyên tố nặng hơn. Chúng ta có chung phả hệ vũ trụ với những đóa hồng thơm ngát và đàn linh dương trên trảng cỏ, một phả hệ có niên đại khoảng 13,8 tỷ năm. Được kết nối qua không gian và thời gian, tất cả chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau ( 107 ) . Phật giáo rút ra bài học từ điều này: một sự hiểu biết đúng đắn về khái niệm tương liên là phải làm cho chúng ta nhận ra rằng bức tường được dựng lên bởi tâm trí giữa ta và người khác là nhân tạo và không có lý do tồn tại. Ngược lại, chúng ta phải thực hành từ bi và yêu thương người khác vì hạnh phúc của chúng ta phụ thuộc vào hạnh phúc của mọi người. Sự Giác ngộ, chúng ta hãy nhớ, không chỉ là trạng thái tri thức không giới hạn, mà còn là từ bi vô hạn nữa.
Thế giới nguyên tử và hạ nguyên tử cũng không nằm ngoài vấn đề này. Một thí nghiệm nổi tiếng được đề xuất năm 1935 của Einstein và hai đồng nghiệp của ông, Boris Podolsky (1896-1966) và Nathan Rosen (1909-1995), cho chúng ta biết rằng thực tại là tương liên, rằng nó là “không thể tách rời”, rằng hai hạt ánh sáng tương tác liên tục là một phần của cùng một thực tại duy nhất. Bất kể khoảng cách giữa hai hạt này, hành vi của chúng luôn có tương quan tức thời mà không hề có sự truyền tải thông tin nào. Thí nghiệm này buộc chúng ta phải vượt qua những khái niệm thông thường về không gian. Nó buộc chúng ta phải từ bỏ những ý tưởng về sự định xứ của các sự vật, về nhận thức của chúng ta về đó và đây. Nó buộc chúng ta thừa nhận rằng thực tại không có tính cục bộ, mà là toàn cục.


Bởi vì mọi thứ đều phụ thuộc lẫn nhau, chúng không có sự tồn tại độc lập và thường hằng, cũng không có một thực tại nội tại. Phật giáo nói rằng chúng là “Không”. Theo triết gia Phật giáo Ấn Độ Nagarjuna (150-250) (hình bên), “các hiện tượng có được bản chất của mình là nhờ sự phụ thuộc lẫn nhau và tự chúng sẽ không là gì hết”. Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ bảy đã tóm tắt mối liên hệ giữa khái niệm tương liên và tính Không như sau:
Hiểu sự tương liên, sẽ hiểu được tính Không,
Hiểu tính Không, sẽ hiểu được sự tương liên,
Đó là Trung Đạo
Thoát khỏi vực thẳm khủng khiếp
của chủ nghĩa hư vô và hiện thực ( 108 ) .
Phật giáo không ủng hộ chủ nghĩa hư vô (mọi thứ đều không tồn tại) hay chủ nghĩa hiện thực vật chất (mọi thứ đều có một thực tại nội tại và tồn tại một cách độc lập), mà giữ một quan điểm trung gian: Trung Đạo (mọi vật tồn tại nhưng không có tồn tại nội tại). Không nói không có gì và cũng không nói có cái gì đó, điều mà Nagarjuna diễn đạt như sau: “Nói ‘có’ là nhận mọi thứ là vĩnh cửu; nói ‘không có’ là chỉ thấy sự hủy diệt của chúng. Đây là lý do tại sao những người sáng suốt không chấp mê với ý tưởng tồn tại hay không tồn tại”. Đối với Phật giáo, việc chúng ta không nhận thức được thế giới như là một mạng lưới rộng lớn của các sự vật kết nối với nhau, mà chẳng qua là một tập hợp các thực thể hoàn toàn tách biệt, chỉ là một sự thật thông thường chứ không phải chân lý tối thượng. Quan niệm này của chúng ta sẽ không còn đứng vững nữa ngay khi ta phân tích nó một cách sâu sắc. Phật giáo không bao giờ tuyên bố rằng các hiện tượng – như một hạt cơ bản, một cái bàn hay vũ trụ – không tồn tại vì chúng ta đã trải nghiệm chúng qua các giác quan của chúng ta và các nhà vật lý đã đo được các đặc tính của chúng bằng các dụng cụ của họ. Nó cũng không tranh cãi về các luật nhân quả và các định luật vật lý và toán học làm cho vũ trụ vận hành. Nó đơn giản chỉ nói rằng nếu bạn đi đến tận cùng của sự vật, thì sẽ có một sự khác biệt giữa cái cách mà thế giới trình hiện trước chúng ta và bản chất tối hậu của chúng. Hiểu rằng mọi thứ là Không, không phải là để loại bỏ thế giới và sự tồn tại của chúng ta ra khỏi sự đa dạng và phong phú, mà ngược lại, là để phát lộ toàn bộ sự lộng lẫy của chúng.
Sự không tồn tại và vô thường của vạn vật
Đối với Phật giáo, tính Không của các sự vật liên quan mật thiết với sự vô thường của các hiện tượng. Bởi vì hiện hữu được thay thế bằng không tồn tại (anatman trong tiếng Phạn), và bởi vì không tồn tại không phải là hư vô, mà là không có chất bản hữu, không có gì là vĩnh cửu và mọi thứ đều có thể thay đổi và chuyển hóa: “Tất cả những gì được sinh ra, đều sẽ bị mất đi”. Núi sẽ bị xói mòn, những lâu đài không được chăm sóc sẽ trở nên đổ nát, tất cả chúng ta sẽ đi từ cái nôi đến ngôi mộ. Trong mỗi khoảnh khắc vô cùng bé, mọi sự vật và chúng sinh xung quanh chúng ta – và ngay cả chúng ta nữa – đều biến đổi và tiến hóa. Thay đổi là không thể tránh khỏi và nhận thức được sự hiện diện khắp nơi của nó dẫn chúng ta tới việc nhận ra rằng vũ trụ không bao gồm các thực thể vững chắc và tách biệt, mà gồm các dòng động luôn trong quá trình biến đổi và tương tác. Không gì có thể đông cứng và bất động, đồng nhất với chính nó. Đối với Đức Phật, vô thường là có thể là nhờ bản chất Không của các sự vật. Tính Không của chúng được thể hiện bởi một thực tại liên tục hình thành, bởi một dòng lưu chuyển phổ quát của hiện thực được liên tục biểu hiện qua các vòng sinh tử không ngừng của tất cả chúng sinh và sự vật. Khái niệm về sự vô thường này của Phật giáo trùng hợp với sự thay đổi vĩnh viễn của triết lý Kinh Dịch và Đạo giáo. Nó cũng hòa hợp, như chúng ta đã thấy, với các mô tả khoa học hiện đại về vũ trụ, thế giới nguyên tử và hạ nguyên tử.
“Bởi vì mọi thứ đều là tính Không, mọi thứ đều có thể” Câu nói nổi tiếng này của Nagarjuna có thể được xem là một câu trả lời cho câu hỏi nổi tiếng không kém của nhà triết học và nhà khoa học người Đức Gottfried Leibniz (1646-1716): “Tại sao lại có một cái gì đó chứ không phải là không có gì? Bởi vì không có gì là đơn giản và dễ dàng hơn là có cái gì đó. Hơn nữa, nếu như giả định rằng mọi thứ phải tồn tại, thì ta phải có khả năng giải thích được tại sao chúng lại tồn tại theo cách này chứ không theo cách khác.” Trong cuốn La Perfection de la sagesse ( Sự hoàn hảo của trí huệ ) Nagarjuna viết: “Không, mọi thứ xuất hiện; khi xuất hiện, chúng lại là Không.” Tính Không không chỉ là bản chất tối thượng của hiện tượng, mà nó còn cho phép triển khai các hiện tượng này đến vô cùng. Chẳng hạn, không gian trống rỗng cho phép có núi, rừng và sông suối. Ở đây chúng ta lại thấy cặp đôi Không-Doanh của tư tưởng Đạo giáo: đó là Không của thung lũng (nó là hõm, rỗng ở giữa các ngọn núi đầy xung quanh) cho phép nó được đầy, khi cưu mang trong lòng nó cây cối, sông hồ... Nếu không gian toàn là đá, không hiện tượng nào có thể triển khai được. Tương tự, nếu bản chất sâu của các hiện tượng không phải là tính Không, nếu chúng sở hữu một thực tại nội tại và bất biến, chúng sẽ không thể tự biểu hiện đến vô cùng. Bởi vì bản chất cuối cùng của các sự vật là không có sự tồn tại độc lập và vĩnh hằng, thì các hiện tượng mới có thể xảy ra. Một sự vật chỉ có thể nảy sinh nếu nó được kết nối, có điều kiện và tạo điều kiện. Một thực thể tồn tại độc lập với tất cả mọi thứ khác sẽ không thể tác động lên bất cứ cái gì và không gì có thể ảnh hưởng đến nó. Thế giới các hiện tượng có thể biểu hiện theo hàng ngàn cách bởi vì bản chất cuối cùng của nó là tính Không. Một câu trả lời khả dĩ của Phật giáo cho câu hỏi của Leibniz có thể được diễn đạt dưới dạng một câu hỏi khác: tại sao lại không có gì khi các hiện tượng, do tính Không của chúng, là có thể và có thể được triển khai một cách vô hạn?
Phật giáo và sự vô thủy của vũ trụ
Vì nguyên lý tương liên và tính Không của các sự vật, nên Phật giáo đã xem xét sự ra đời của vũ trụ, sự chuyển tiếp của nó từ hư vô sang hiện hữu, không phải theo sự sáng thế ex nihilo (tức từ không có gì), mà theo một quan điểm hoàn toàn khác. Chẳng hạn, đối với Phật giáo, các hiện tượng của thế giới không phải thực sự được sinh ra, theo nghĩa là chúng đã chuyển từ không tồn tại sang tồn tại. Sở dĩ như vậy là bởi vì, về cơ bản, chúng không có thực tại tối hậu và chỉ tồn tại theo một thực tại tương đối.
Theo quan điểm này, câu hỏi về nguồn gốc của vũ trụ, về sự chuyển tiếp từ không tồn tại sang hiện hữu là một vấn đề giả (tạo), hoặc ít nhất câu hỏi này không được đặt ra một cách gay gắt như trong trường hợp sự sáng thế ex nihilo của một vũ trụ có sự tồn tại riêng. Theo Phật giáo, vấn đề nguồn gốc dựa trên niềm tin vào thực tại của các hiện tượng, đặc biệt là sự tồn tại thực sự của thời gian và không gian. Đây chỉ là những khái niệm gắn liền với sự hiểu biết tương đối của chúng ta về thế giới và về những gì nó thể hiện. Chúng không có sự tồn tại riêng. Từ quan điểm chân lý tuyệt đối, không thể có sự sáng tạo ex nihilo của vũ trụ vì không có gì có thể được biểu hiện mà không có nguyên nhân hoặc các điều kiện, nói cách khác, không gì có thể bắt đầu tồn tại hoặc ngừng tồn tại. Lý lẽ như sau ( 109 ) : Nếu không có gì không thể trở thành một cái gì đó, thì đó là vì không có gì không thể chuyển đổi mà không rời bỏ hiện trạng hư vô của nó; nhưng làm thế nào để nó có thể rời bỏ một cái không hề tồn tại? Bởi vì hư vô là một khái niệm chỉ có thể được định nghĩa liên quan đến sự tồn tại, chứ nó không có một thực tại của chính nó. Vào thế kỷ 7, triết gia Ấn Độ Shantideva lập luận theo cùng hướng đó:
Nếu hiện hữu không ở thời gian không tồn tại,
Thì nó sẽ tồn tại khi nào?
Bởi không tồn tại sẽ không hề biến mất
Chừng nào tồn tại chưa được sinh ra,
Nhưng cái này không thể sinh ra
Chừng nào không tồn tại chưa biến mất.
Cũng vậy, tồn tại không thể chuyển sang không tồn tại,
Bởi vì cùng một vật đều có bản chất kép này ( 110 ) .
Do Phật giáo bác bỏ ý tưởng về một vũ trụ đi từ không tồn đến hiện hữu, vậy nó quan niệm như thế nào về nguồn gốc của thế giới? Nó nói về một “tiềm thế” giúp các hiện tượng xuất hiện. Nếu thế giới xuất hiện, thì đó là bởi vì một tiềm thế của biểu hiện đã có sẵn. Như vậy, tính Không không chỉ là bản chất tối hậu của các hiện tượng, mà còn chỉ tiềm thế cho phép những hiện tượng này triển khai vô tận. Ý tưởng về tiềm thế biểu hiện, tiềm thế không gian này thật đáng ngạc nhiên khi gợi ta nhớ tới các khái niệm về chân không tràn đầy của nhà vật lý: như chúng ta đã thấy, các khoảng trống của không gian được choán đầy bằng một trường Higgs mà, sự chuyển pha của nó trong quá trình vũ trụ nguội đi, đã sinh ra thế giới với tất cả các thành phần của nó; và vì nguyên lý bất định, không gian trống rỗng nhung nhúc các hạt ảo có thể xâm nhập vào thế giới thực ngay khi chúng hiện diện trong một trường hấp dẫn mạnh.
Như vậy, Phật giáo không chấp nhận ý tưởng về khởi thủy của vũ trụ với sự xuất hiện đồng thời của thời gian và không gian. Bởi vì mọi thứ đều phụ thuộc lẫn nhau, thế giới có điều kiện là không có bắt đầu, bởi vì mỗi trạng thái nhất thiết phải do một trạng thái trước đó không phải là hư vô, mà là một tiềm thế gây ra. Từ quan điểm chân lý tuyệt đối, không hề có sự sáng thế hay sự chấm dứt. Không gì có thể bắt đầu tồn tại hoặc ngừng tồn tại. Và như vậy, vũ trụ không có bắt đầu hay kết thúc. Vũ trụ duy nhất tương thích với quan niệm Phật giáo là vũ trụ tuần hoàn. Trong từ vựng của vũ trụ học hiện đại, vũ trụ phải trải qua một chuỗi không đầu hoặc cuối của các big bang (các giai đoạn giãn nở) và các big crunch (giai đoạn co lại). Theo quan điểm này, vụ big bang gây ra vũ trụ hiện tại sẽ không còn là vụ nổ nguyên thủy duy nhất, thời gian và không gian xuất hiện đồng thời, nhưng là sự khởi đầu của một chu kỳ cụ thể trong một chuỗi các chu kỳ, thời gian mở rộng đến vô hạn theo cả hai hướng, tới quá khứ và tương lai.


Trong lịch sử vũ trụ học, nhà khoa học đầu tiên xây dựng mô hình vũ trụ tuần hoàn là nhà vật lý và toán học người Nga Alexander Friedmann (1888-1925) (hình bên). Năm 1922, sử dụng các phương trình của thuyết tương đối tổng quát, ông đã đề xuất một vũ trụ trải qua vô số các giai đoạn giãn nở và co lại, bất chấp sự phản đối dữ dội từ cha đẻ của thuyết tương đối, người ban đầu đã bảo vệ quyết liệt ý tưởng về một vũ trụ tĩnh. Friedmann đã mô tả vũ trụ tuần hoàn của mình như sau: “Vũ trụ co lại thành một điểm, sau đó bán kính của nó lại tăng lên, rồi lại co lại, và cứ như thế mãi. Ta không thể không nghĩ đến thế giới tuần hoàn của thần thoại Ấn Độ giáo.” Ở đây Friedmann đã liên tưởng đến huyền thoại Ấn Độ giáo, theo đó thần Brahma (hình) đã tạo ra thế giới trong khi đang ngủ và mơ. Mỗi chu kỳ vũ trụ tương ứng với một trong những hơi thở của thần, vũ trụ nở ra khi thần thở ra và co lại khi thần hít vào. Mỗi hơi thở của Brahma kéo dài xấp xỉ 8,6 tỷ năm ( 111 ) , một điều đáng kinh ngạc là nó gần so với tuổi hiện nay của vũ trụ ước tính là 13,8 tỷ năm ( 112 ) .

Trong thần thoại Ấn Độ giáo, vị thần Brahma (được thể hiện với bốn đầu, tượng trưng cho bốn phương thức hoạt động của tư duy: tinh thần, trí tuệ, bản ngã và ý thức) đã tạo ra vũ trụ trong mơ khi đang ngủ. Vũ trụ tan rã sau một trăm chu kỳ (860 tỷ năm) khi giấc mơ kết thúc. Sau đó Brahma bắt đầu mơ lại và vũ trụ bắt đầu lại trong một giai đoạn một trăm chu kỳ mới.
Thế các quan sát thiên văn cho chúng ta biết những gì? Liệu chúng ta có sống trong một thế giới tuần hoàn? Chúng ta đều đã thấy rằng không phải như vậy. Các đo đạc cho thấy tổng lượng vật chất sáng và tối trong vũ trụ còn xa mới đủ (nó chỉ đóng góp khoảng 1/3 mật độ tới hạn) để lực hấp dẫn làm đảo ngược quá trình giãn nở và gây ra một vụ big crunch. Ngược lại, năng lượng tối bí ẩn (đóng góp 2/3 còn lại của mật độ tới hạn), tạo ra lực phản hấp dẫn, đang đẩy nhanh sự giãn nở của vũ trụ, và sẽ cứ như thế cho đến tận cùng thời gian. Như vậy, các quan sát hiện tại loại trừ khả năng một vụ big crunch, và do đó loại trừ một vũ trụ tuần hoàn, ít nhất là theo lý thuyết Big Bang chuẩn. Nhưng hiện có những phiên bản không chuẩn khác của thuyết Big Bang, như lý thuyết màng mà chúng ta đã đề cập. Theo lý thuyết này, Big Bang là kết quả của sự va chạm giữa vũ trụ-màng của chúng ta với một vũ trụ-màng song song khác, và va chạm này sẽ chỉ là một giai đoạn trong một chu kỳ vô hạn của các va chạm khổng lồ. Lý thuyết này có thể phù hợp với quan niệm vũ trụ tuần hoàn, vô thủy vô chung của Phật giáo.
Khi bác bỏ ý tưởng vũ trụ được tạo ra ex nihilo , Phật giáo không cần tới sự tồn tại của một Đấng Tạo Hóa. Đức Phật không phải là Thiên Chúa, Phật mô tả mình chỉ đơn giản là người hướng dẫn: Ngài chỉ cho chúng ta con đường, và mỗi người trong chúng ta phải tự đi qua nó để giải phóng bản thân (và những người khác) khỏi đau khổ và đạt được hạnh phúc. Trái lại, ý tưởng cho rằng Thiên Chúa tạo ra vũ trụ từ hư vô đóng vai trò cơ bản trong các truyền thống Thiên Chúa giáo. Một trong những lập luận được sử dụng nhiều nhất ở phương Tây để chứng minh sự tồn tại của một Đấng Sáng Thế được gọi là “lập luận vũ trụ học”. Nó đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà triết học và thần học vĩ đại nhất trong suốt nhiều thế kỷ, từ Plato và Aristotle đến Kant và Leibniz, và cả Thomas d’Aquin. Nó thừa nhận rằng mọi thứ đều có nguyên nhân và không thể có một chuỗi vô hạn các nguyên nhân được: sớm muộn gì, ta cũng phải đi đến nguyên nhân gốc rễ, cái nguyên nhân đã gánh trách nhiệm về toàn bộ sự sáng thế. Nguyên nhân gốc rễ chính là Đấng Sáng Thế, vốn là nguyên nhân của chính mình ( causa sui theo tiếng Latin): sự tồn tại của Ngài không đòi hỏi phải có nguyên nhân vì nó là cần thiết, sự tồn tại của Chúa không cần giải thích bởi vì nó xuất phát từ bản chất của Ngài. Lập luận về vũ trụ học dựa trên nguyên tắc túc lý được đưa ra bởi nhiều người trong đó có Leibniz như sau: “Không gì có thể xảy ra nếu không có nguyên nhân hoặc ít nhất là một lý do xác định.” Nó cũng dựa trên quan niệm phương Tây về thời gian tuyến tính: một sự kiện A xảy ra, gây ra B, là nguyên nhân của C, và cứ như vậy. Lập luận này không còn đúng khi ta xem xét một thời gian không còn là tuyến tính, mà có tính tuần hoàn.
Sự mờ nhòe lượng tử cũng đập tan tành ý tưởng về một nguyên nhân gốc rễ. Nhờ nguyên lý bất định, chúng ta đã thấy không gian trống rỗng chứa đầy những hạt ảo xuất hiện và biến mất theo những vòng sinh tử vô cùng ngắn ngủi. Những hạt này xuất hiện một cách đột ngột và không thể đoán trước được bằng cách vay mượn năng lượng từ tự nhiên, và sự tồn tại của chúng càng ngắn khi khối lượng của chúng càng lớn và đòi hỏi phải vay mượn năng lượng càng nhiều. Không thể biết chắc nơi nào và khi nào chúng xuất hiện, mà chỉ có thể nói được theo xác suất mà thôi. Chẳng hạn, xác suất tồn tại của chúng sẽ lớn hơn khi ở gần trường hấp dẫn mạnh của một lỗ đen. Nói cách khác, các hạt không có nguyên nhân chính xác và hành vi của chúng không thể xác định trước. Các nhà vật lý ngày nay tin rằng những gì đúng với các hạt cơ bản có thể cũng sẽ đúng đối với toàn bộ vũ trụ. Vũ trụ không còn cần đến một nguyên nhân gốc rễ hay nguyên nhân đầu tiên, nó có thể xuất hiện nhờ vào những thăng giáng lượng tử. Sau khi được tạo ra, lạm phát sẽ làm nó giãn nở theo hàm số mũ trong những khoảnh khắc của giây đầu tiên, và sự tiến hóa của vũ trụ, được chi phối bởi các định luật vật lý và sinh học, sẽ dẫn đến thế giới vốn quen thuộc với chúng ta. Mô tả này có vẻ giống với sự sáng tạo ra vũ trụ ex nihilo theo truyền thống Thiên Chúa giáo ( 113 ) . Nhưng trong trường hợp này, sự xuất hiện của vũ trụ dường như có thể được giải thích bởi các quá trình vật lý thuần túy, mà không đòi hỏi sự tồn tại của một nguyên nhân gốc rễ, dù là thần thánh hay không. Chỉ với sự phát triển của một lý thuyết về hấp dẫn lượng tử trong tương lai mới có thể cho chúng ta biết liệu kịch bản này có giá trị gì hay không.