SỤP ĐỔ

Lượt đọc: 1965 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 13
“khai thác” australia

Tầm quan trọng của Australia - Đất Nước - Khoảng cách - Lịch sử hình thành Australia - Những giá trị nhập khẩu - Thương mại và nhập cư - Suy thoái đất - Những vấn đề môi trường khác - Những tín hiệu của hy vọng và thay đổi.

Khai thác theo nghĩa đen - như khai thác than, sắt, v.v. - là một ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế hiện nay của Australia, nó mang lại doanh thu lớn nhất từ xuất khẩu. Tuy nhiên, theo nghĩa bóng khai thác cũng là một yếu tố quan trọng trong lịch sử môi trường của Australia và trong tình thế khó khăn hiện nay. Đó là bởi bản chất của khai thác là khai thác những nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tự tái sinh theo thời gian, nên khiến chúng bị cạn kiệt. Vàng trong lòng đất không thể sinh thêm vàng, nên con người không cần để tâm tới tỷ lệ tái sinh của vàng và thợ mỏ cứ khai thác vàng từ một mạch vàng với tốc độ nhanh như nghiên cứu khả thi kinh tế đã tính, cho tới khi mạch vàng đó bị cạn kiệt. Bởi vậy khai thác khoáng sản trái ngược với khai thác những nguồn tài nguyên có thể tái sinh - như lâm nghiệp, thủy sản và đất mặt - bằng sinh sản sinh học hay qua quá trình hình thành đất. Những tài nguyên có thể tái sinh có thể được khai thác vô hạn với điều kiện tốc độ khai thác chúng phải chậm hơn tốc độ tái sinh. Tuy nhiên, nếu khai thác lâm nghiệp, thủy sản và đất mặt với tốc độ nhanh hơn tốc độ tái sinh, hiển nhiên chúng cũng sẽ bị cạn kiệt tới mức biến mất, giống như vàng của một mỏ vàng.

Australia đã và đang tiếp tục “khai thác” những nguồn tài nguyên tái sinh của mình như cách họ đã khai thác khoáng sản. Đó là, chúng bị khai thác quá mức với tốc độ nhanh hơn tốc độ tái sinh, hậu quả là những nguồn tài nguyên này đang dần suy giảm. Với tốc độ hiện tại, lâm nghiệp và thủy sản của Australia sẽ biến mất trước các khoáng sản than và sắt từ rất lâu, nhưng trớ trêu thay lâm nghiệp và thủy sản lại là những nguồn tài nguyên tái sinh, còn than và sắt thì không thể tái sinh.

Mặc dù ngoài Australia cũng còn nhiều nước khác hiện đang khai thác môi trường của mình, nhưng Australia đặc biệt thích hợp để được chọn là trường hợp cuối cùng nghiên cứu về các xã hội trước đây và hiện nay vì một số lý do. Thứ nhất, đây là một nước thuộc Thế giới thứ nhất, không như Rwanda, Haiti, Cộng hòa Dominica hay Trung Quốc, nhưng lại giống những nước mà phần lớn những độc giả của cuốn sách này đang sống. Trong những nước Thế giới thứ nhất, thì dân số và nền kinh tế của Australia nhỏ hơn và ít phức tạp hơn nhiều so với Mỹ, châu Âu hay Nhật Bản, bởi vậy tình trạng của Australia dễ hiểu hơn. Về mặt sinh thái, môi trường Australia cực kỳ dễ bị tổn hại, và dễ tổn hại nhất trong số các nước Thế giới thứ nhất, có lẽ trừ Iceland. Bởi vậy, ở đây tồn tại nhiều vấn đề hiển nhiên cũng có thể gây ảnh hưởng tới những nước Thế giới thứ nhất khác và hiện đang hoành hành ở một số nước thuộc Thế giới thứ ba - như tình trạng chăn thả gia súc quá mức, muối hóa, xói mòn đất, sinh vật ngoại lai, thiếu nước và hạn hán do con người gây ra - và những vấn đề này đã trở nên rất nghiêm trọng ở Australia. Mặc dù Australia không có những dấu hiệu đang sụp đổ như Rwanda hay Haiti, nhưng nó cho chúng ta thấy trước những vấn đề thực tế có thể xuất hiện ở bất cứ đâu trong Thế giới thứ nhất nếu những xu hướng hiện nay vẫn tiếp tục phát triển. Nhưng cách giải quyết những vấn đề này của Australia hiện nay khiến tôi tin tưởng vào triển vọng của đất nước này, bởi Australia có dân số có trình độ giáo dục cao, tiêu chuẩn sống cao với những thể chế kinh tế và chính trị tương đối minh bạch theo tiêu chuẩn thế giới. Bởi vậy các vấn đề môi trường của Australia không thể bị coi là sản phẩm của trình độ quản lý sinh thái yếu kém của một dân tộc nghèo đói, tuyệt vọng, không có học thức, cùng một chính phủ và các doanh nghiệp tham nhũng nghiêm trọng, như những lý do thường được viện dẫn để bao biện cho những vấn đề môi trường ở một số nước khác.

Thêm một ưu điểm khác của Australia để trở thành đề tài của chương này là nó minh họa rõ ràng năm yếu tố rất hữu ích có ảnh hưởng lẫn nhau mà tôi thường xuyên đề cập trong cuốn sách này để tìm hiểu khả năng suy thoái sinh thái hay sụp đổ của các xã hội. Con người rõ ràng có những tác động lớn đối với môi trường Australia. Ngày nay, tình trạng thay đổi khí hậu càng khiến những tác động này thêm trầm trọng. Quan hệ hữu nghị của Australia với Anh như một đối tác thương mại và một hình mẫu xã hội cũng có ảnh hưởng tới các chính sách dân số và môi trường của Australia. Mặc dù Australia hiện đại không bị xâm lược bởi ngoại xâm - có bị đánh bom nhưng không bị xâm lược - nhưng nhận thức của người Australia về những kẻ thù nước ngoài hiện tại và tương lai cũng định hướng cho những chính sách dân số và môi trường của Australia. Australia cũng thể hiện tầm quan trọng của những giá trị văn hóa trong việc tìm hiểu những tác động môi trường, trong đó có một số giá trị văn hóa nhập khẩu có thể bị coi là không thích hợp với khung cảnh Australia. Có lẽ hơn bất kỳ một nước Thế giới thứ nhất nào mà tôi biết, người Australia đang bắt đầu suy xét một cách nghiêm túc về vấn đề trọng tâm là: Những giá trị truyền thống cốt lõi nào nên duy trì, và những giá trị nào không còn thích hợp trong thế giới hiện nay?

Lý do cuối cùng để tôi chọn Australia làm chủ đề cho chương này bởi đó là một đất nước mà tôi yêu quý và thân thuộc, và những gì tôi viết là từ những hiểu biết trực tiếp và bằng tình cảm của mình. Lần đầu tiên tôi tới Australia vào năm 1964, trên đường tới New Guinea. Từ đó tôi đã trở lại nơi đây hàng chục lần, kể cả thời gian làm nghiên cứu ở Trường Đại học Quốc gia Australia, tại thủ đô Canberra của Australia. Thời gian đó tôi đã gắn bó và bị ấn tượng sâu sắc bởi những cánh rừng bạch đàn tươi đẹp của Australia, hiện cảm giác yên bình và kỳ diệu vẫn còn tràn ngập trong tôi giống như cảm giác ở hai vùng thiên nhiên tuyệt diệu khác trên thế giới là rừng tùng Montana và rừng nhiệt đới New Guinea. Australia và Anh là hai nước mà tôi từng suy nghĩ nghiêm túc về chuyện di cư sang đó. Bởi vậy, sau khi mở đầu hàng loạt trường hợp nghiên cứu trong cuốn sách này bằng chương viết về môi trường Montana mà tôi yêu quý từ khi còn bé, tôi muốn kết thúc bằng một trường hợp mà tôi cũng yêu mến khi tôi đã trưởng thành, đó là đất nước Australia.

Để tìm hiểu những tác động của con người hiện đại tới môi trường Australia, chúng ta sẽ nghiên cứu ba đặc trưng môi trường đặc biệt quan trọng là: đất của Australia, nhất là độ phì nhiêu và hàm lượng muối; lượng nước ngọt sẵn có; và khoảng cách, cả trong lãnh thổ Australia và giữa Australia với các đối tác thương mại và những kẻ thù tiềm năng ở nước ngoài.

Khi đề cập tới các vấn đề môi trường của Australia, chắc hẳn mọi người nghĩ ngay tới tình trạng khan hiếm nước và các sa mạc. Thực tế, đất đai Australia còn gây ra những vấn đề lớn hơn so với tình trạng khan hiếm nước của nó. Australia là lục địa kém năng suất nhất: độ phì nhiêu trung bình trong đất thấp nhất, tốc độ tăng trưởng của thực vật thấp nhất và năng suất thấp nhất thế giới. Đó là bởi đất đai Australia đa phần thuộc loại đất già nên độ màu của đất bị mưa rửa trôi qua thời gian hàng tỷ năm. Rặng núi Murchison ở miền tây Australia có những tảng đá già nhất trái đất đã gần 4 tỷ năm tuổi.

Đất đai bị bạc màu có thể phì nhiêu trở lại qua ba hình thức chính, nhưng cả ba hình thức này đều không mang lại hiệu quả cao cho Australia so với các lục địa khác. Đầu tiên là đất có thể phục hồi độ phì nhiêu khi những núi lửa hoạt động phun các chất dinh dưỡng mới từ trong lòng đất lên trên mặt đất. Trong khi đây là một yếu tố quan trọng tạo nên độ phì nhiêu cho đất đai ở nhiều nước như đảo Java, Nhật Bản và Hawaii, thì chỉ có một vài khu vực nhỏ ở miền đông Australia có núi lửa hoạt động từ vài trăm triệu năm trước. Thứ hai, quá trình hình thành và tan chảy của các dải băng xới tung lớp vỏ trái đất, nghiền nhỏ đất và để chúng lắng trở lại, những lớp đất được băng làm lắng lại (hoặc bị gió thổi từ nơi khác tới) thường rất màu mỡ. Gần một nửa diện tích Bắc Mỹ, khoảng 18 triệu kilômét vuông, được băng bao phủ trong thời gian hàng triệu năm, nhưng chưa tới 1% diện tích đất liền của Australia, chỉ khoảng 51,7 kilômét vuông ở đông nam vùng Alps, cùng khoảng 2.590 kilômét vuông của đảo Tasmania ngoài khơi Australia là từng được băng bao phủ. Cuối cùng, vỏ trái đất dâng cao dần cũng tạo ra những vùng đất mới và góp phần làm tăng độ phì nhiêu của những vùng đất lớn ở Bắc Mỹ, Ấn Độ và châu Âu. Tuy nhiên, lại chỉ có vài khu vực nhỏ bé của Australia được nâng lên trong vòng hàng trăm triệu năm qua, chủ yếu là ở vùng núi Great Dividing Range ở đông nam Australia và ở khu vực miền nam Australia xung quanh Adelaide (xem bản đồ trang 386). Như chúng ta sẽ thấy, những vùng đất nhỏ nhoi được phục hồi độ màu mỡ dưới tác dụng của núi lửa, đóng băng hay vỏ trái đất dâng cao là những trường hợp ngoại lệ, còn đất đai của Australia chủ yếu là đất kém năng suất và có những đóng góp không tương xứng cho sản lượng nông nghiệp hiện đại của Australia.

Năng suất trung bình của đất đai Australia thấp nên gây ra những hậu quả kinh tế lớn cho các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của Australia. Độ phì nhiêu ban đầu của các loại đất canh tác khi những người châu Âu mới di cư tới đây và tiến hành các hoạt động nông nghiệp đã nhanh chóng bị cạn kiệt. Thực vậy, những nông dân đầu tiên của Australia đã vô tình khai thác hết độ màu của đất. Từ đó trở đi, độ màu của đất được hình thành một cách giả tạo bằng các loại phân bón, bởi vậy càng làm tăng chi phí sản xuất nông nghiệp so với những vùng đất khác màu mỡ hơn ở nước ngoài. Đất kém năng suất có nghĩa là tỷ lệ tăng trưởng và thu hoạch hoa màu trung bình thấp. Bởi vậy, để thu hoạch được một lượng hoa màu tương đương thì diện tích đất đai trồng trọt của Australia luôn rộng hơn những nước khác, nên chi phí nhiên liệu cho các thiết bị nông nghiệp như máy kéo, máy gieo hạt và máy gặt (tương ứng với diện tích đất mà máy phải hoạt động) cũng có xu hướng tương đối cao. Một trường hợp đất đai quá cằn cỗi diễn ra ở phía tây nam Australia, nơi được coi là vành đai lúa mì và là một trong những vùng nông nghiệp giá trị nhất của Australia, bởi lúa mì được trồng trên đất cát bạc màu và tất cả các chất dinh dưỡng cho lúa mì đều được bổ sung bằng phương pháp nhân tạo như phân bón hóa học. Thực vậy, vành đai lúa mì của Australia chẳng khác một chậu hoa vĩ đại mà trong đó (giống như một chậu hoa thật) cát chẳng có tác dụng gì ngoài việc để cắm những cây hoa, còn các chất dinh dưỡng thì phải bổ sung từ ngoài vào.

Do nền nông nghiệp Australia phải gánh chịu những khoản chi phí nhiên liệu và phân bón phát sinh cao bất thường, nên đôi khi sản phẩm của nông dân Australia còn không cạnh tranh được với sản phẩm nông nghiệp ngoại nhập được vận chuyển bằng đường biển ngay trên chính thị trường nội địa, mặc dù các sản phẩm nhập khẩu đã phải cộng thêm chi phí vận tải từ nước ngoài tới. Ví dụ, với sự toàn cầu hóa như hiện nay, những trái cam được trồng ở Brazil rồi được dùng để sản xuất nước cam, sau đó nước cam được vận chuyển trên quãng đường hơn 12.874 kilômét tới Australia vẫn được bán với giá rẻ hơn nước cam trong nước. Thịt lợn và thịt lợn hun khói nhập khẩu từ Canada cũng có những lợi thế tương tự khi so với những sản phẩm cùng loại của Australia. Ngược lại, trong một số “thị trường thích hợp” đặc biệt, như những sản phẩm từ động thực vật có giá trị gia tăng cao ngoài những chi phí chăn nuôi, trồng trọt bình thường, như rượu - thì nông dân Australia lại hoàn toàn có thể cạnh tranh trên các thị trường nước ngoài.

Hậu quả kinh tế thứ hai do đất kém năng suất liên quan tới lâm nghiệp, hay lĩnh vực trồng cây giống như đã thảo luận trong Chương 9 về Nhật Bản. Trong các cánh rừng Australia, phần lớn các chất dinh dưỡng thực tế nằm ngay trong các thân cây chứ không phải trong đất. Bởi khi những cánh rừng bản địa mà những người định cư châu Âu đầu tiên bắt gặp đã bị chặt hết, và khi những người Australia hiện đại hoặc khai thác gỗ từ những cánh rừng tự nhiên tái sinh hoặc đầu tư vào lâm nghiệp bằng cách lập những đồn điền trồng cây lớn, thì tốc độ tăng trưởng của cây ở Australia rất thấp khi so với những với những nước trồng cây lấy gỗ khác. Trớ trêu thay, loại cây thân gỗ bản địa hàng đầu Australia (bạch đàn xanh Tasmania) hiện được trồng ở nhiều nước với chi phí rẻ hơn Australia nhiều lần.

Hậu quả thứ ba khiến tôi và có thể nhiều độc giả khác bất ngờ. Không ai lại nghĩ ngay được rằng sản lượng thủy sản cũng phụ thuộc vào năng suất của đất: xét cho cùng, các loài thủy sản sống trong các sông hồ và đại dương chứ không phải trong đất. Tuy nhiên, tất cả các chất dinh dưỡng trong các sông, và ít nhất một số chất dinh dưỡng ở các vùng biển ven bờ, là từ đất thoát xuống sông và được cuốn ra biển. Bởi các dòng sông và vùng nước ven bờ của Australia cũng tương đối kém năng suất, nên các nguồn thủy sản của Australia cũng nhanh chóng bị khai thác cạn kiệt giống như đất canh tác và các khu rừng của nó. Các ngành thủy sản Australia liên tục đánh bắt cá quá nhiều, tới mức tự đẩy mình vào tình trạng thua lỗ, thường chỉ sau vài năm phát hiện ra nguồn thủy sản. Hiện nay, trong số gần 200 nước trên thế giới, Australia là nước có vùng biển lớn thứ ba thế giới, nhưng lại xếp tận thứ 55 về giá trị các nguồn hải sản, trong khi giá trị của nguồn thủy sản nước ngọt là không đáng kể.

Thêm một đặc điểm khác liên quan đến đất kém năng suất của Australia là vấn đề này không được những người châu Âu đầu tiên định cư ở đây nhận ra. Khi bắt gặp những cánh rừng bạt ngàn, có thể có cả những cây gỗ cao nhất thế giới (cây bạch đàn xanh ở Gippsland, bang Victoria cao tới 122 mét), họ đã lầm tưởng rằng đây là vùng đất năng suất cao. Nhưng sau khi những người chặt gỗ đã đốn hết những cây gỗ đầu tiên, và những con cừu đã gặm trụi những thảm cỏ, thì những người định cư mới sửng sốt khi phát hiện ra rằng lớp cây và cỏ mới phát triển rất chậm, và đất này không mang lại lợi nhuận về mặt nông nghiệp, nhiều khu đất đã phải bỏ hoang mặc dù nông dân và những người chăn nuôi gia súc đã đầu tư vốn lớn để xây dựng nhà cửa, hàng rào và những công việc nông nghiệp cần thiết khác. Ngay từ những ngày đầu thuộc địa hóa tới nay, quy trình sử dụng đất của Australia luôn giống nhau đó là phát quang đất, đầu tư, phá sản, rồi bỏ hoang.

Tất cả những vấn đề kinh tế của nông lâm nghiệp, thủy sản và thất bại trong phát triển đất đai của Australia đều là hậu quả của tình trạng đất kém năng suất. Một vấn đề lớn khác của đất đai Australia là nhiều khu vực không chỉ độ phì nhiêu thấp, mà hàm lượng muối cũng rất cao vì ba lý do. Tại những vành đai lúa mì tây nam Australia xuất hiện tình trạng đất bị mặn hóa do bị gió biển từ Ấn Độ Dương bên cạnh thổi tới trong thời gian hàng triệu năm. Còn nguyên nhân mặn hóa ở phía đông nam Australia, cũng là một vùng đất canh tác năng suất nhất của Australia và có thể sánh với vành đai lúa mì, lưu vực của hệ thống sông lớn nhất Australia là sông Murray và Darling, do nằm ở vị trí thấp và liên tục bị nước biển tràn vào rồi lại rút đi để lại rất nhiều muối. Còn một lưu vực thấp khác nằm trong đất liền của Australia trước đây từng là một hồ nước ngọt, không thoát ra biển, bị muối hóa bởi bay hơi (giống như hồ muối của Utah và Biển Chết của Jordan và Israel), và cuối cùng đã bị cạn khô, tạo thành những mỏ muối bị gió cuốn sang những vùng khác ở phía đông Australia. Một số vùng đất Australia có chứa tới hơn 90 kg muối trên mỗi mét vuông đất mặt. Chúng ta sẽ thảo luận sau về những hậu quả do muối trong đất gây ra: tóm lại, còn một vấn đề là muối dễ bị đưa lên mặt đất do tình trạng phát quang đất đai hay hoạt động tưới tiêu nông nghiệp, khiến đất mặt nhiễm mặn và không một loại hoa màu nào có thể phát triển (Phụ bản 28). Cũng như việc những nông dân Australia đầu tiên, không có những biện pháp hiện đại để phân tích thành phần hóa học của đất, nên không thể biết rằng đất đai của Australia rất nghèo dinh dưỡng, nên cũng không thể nhận ra rằng dưới lớp đất mặt có muối. Nhận thức của họ về vấn đề muối hóa từ các hoạt động nông nghiệp cũng chẳng hơn gì so với vấn đề đất đai bạc màu.

Trong khi những nông dân đầu tiên không nhận ra rằng đất đai Australia cằn cỗi và có độ mặn cao và thế giới bên ngoài cũng ít biết hai đặc tính này, thì các vấn đề về nước của Australia rất rõ ràng và dễ nhận thấy; “sa mạc” là ý nghĩ đầu tiên của nhiều người nước ngoài khi đề cập đến môi trường Australia. Đúng như vậy: một phần diện tích lớn của Australia có lượng mưa thấp hay cực kỳ khô cằn không thể tiến hành các hoạt động nông nghiệp mà không có tưới tiêu. Hiện phần lớn lãnh thổ Australia vẫn không thể sử dụng để trồng trọt hay chăn thả gia súc. Tuy nhiên, những vùng này vẫn có thể sản xuất ra lương thực, thông thường những vùng đất càng gần biển thì có lượng mưa càng cao, bởi vậy những vùng đất sát biển nhất sẽ được dùng làm đất canh tác, trồng trọt hoa màu, cộng với một nửa số gia súc của Australia được nuôi với mật độ lớn; vào sâu vào đất liền là những trang trại nuôi cừu; sâu hơn nữa là những trang trại gia súc (một nửa số gia súc còn lại của Australia được nuôi với mật độ rất thấp), bởi những vùng này có lượng mưa thấp hơn nhưng chăn nuôi gia súc vẫn kinh tế hơn chăn nuôi cừu; và cuối cùng, xa hơn nữa trong đất liền là sa mạc, nơi không thể áp dụng bất cứ hình thức sản xuất lương thực nào.

Lượng mưa của Australia ngoài đặc tính thấp, còn một đặc tính khác tinh vi hơn đó là khó dự đoán. Ở nhiều vùng sản xuất nông nghiệp trên thế giới, mùa mưa hằng năm có thể dự đoán được, ví dụ như miền nam California, nơi tôi sống, hầu như có thể chắc chắn rằng lượng mưa sẽ tập trung trong mùa đông, và mùa hè sẽ ít mưa hoặc không hề có mưa. Ở nhiều vùng nông nghiệp năng suất cao ở nước ngoài, không chỉ trong mùa mưa mà ngay cả lượng mưa hằng năm cũng rất ổn định; ít xảy ra những đợt hạn hán lớn và nông dân có thể đầu tư trồng trọt hoa màu với hy vọng rằng năm nay lượng mưa sẽ đủ cho hoa màu phát triển.

Tuy nhiên, trên hầu hết lãnh thổ Australia, lượng mưa phụ thuộc vào hiện tượng gọi là ENSO (Dao động El Nino ở miền nam), có nghĩa là khó dự đoán lượng mưa hằng năm trong khoảng một thập kỷ, và càng khó dự đoán lượng mưa của mỗi thập kỷ hơn. Những nông dân và người du mục châu Âu đầu tiên định cư ở Australia không thể nào biết được rằng khí hậu Australia bị hiện tượng ENSO chi phối, bởi hiện tượng này hầu như không xuất hiện ở châu Âu và mãi tới những thập kỷ gần đây mới được các chuyên gia khí hậu phát hiện. Ở nhiều vùng của Australia, thật bất hạnh cho những nông dân và những người du mục khi tới đây đúng vào thời kỳ những năm có khí hậu ẩm ướt. Bởi vậy họ đã lầm tưởng về khí hậu Australia, nên họ trồng trọt hoa màu và chăn nuôi cừu với niềm tin rằng những điều kiện môi trường thuận lợi trước mắt họ là đặc tính của vùng đất này. Thực tế, phần lớn các vùng đất canh tác của Australia chỉ có đủ lượng mưa cần thiết để hoa màu phát triển trong vài năm đầu trong suốt thời gian khai thác nông nghiệp, chưa tới một nửa số thời gian đó, có những nơi chỉ hai năm đầu trong 10 năm khai thác là có lượng mưa đủ cho hoa màu phát triển. Điều này càng khiến sản phẩm nông nghiệp của Australia trở nên đắt đỏ và không kinh tế: nông dân phải bỏ tiền để cày bừa và gieo hạt, nhưng ít nhất hơn một nửa số năm trồng trọt của họ lại không được thu hoạch. Một hậu quả đáng buồn khác nữa là khi nông dân cày đất thì họ phải dọn sạch lớp cỏ mọc từ vụ trước khiến lớp đất mặt trở nên trơ trụi. Nếu các hoa màu mà nông dân gieo trồng không ra hoa kết trái, mặt đất lại bị bỏ trơ trụi, thậm chí ngay cả cỏ cũng không có nên rất dễ bị xói mòn. Bởi lượng mưa của Australia không ổn định nên việc trồng trọt các loại hoa màu rất tốn kém trong thời gian ngắn, và làm tăng khả năng bị xói mòn về lâu dài.

Một ngoại lệ lớn trong điều kiện lượng mưa không ổn định của Australia do hiện tượng ENSO gây ra là vành đai lúa mì ở phía tây nam, nơi (ít nhất mãi cho tới gần đây) lượng mưa mùa đông hằng năm tương đối ổn định và năm nào nông dân cũng thu hoạch được một vụ lúa mì bội thu. Lượng mưa ổn định trong những thập kỷ gần đây thúc đẩy lúa mì phát triển át cả các loại cây gỗ và thực phẩm, hai sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu giá trị nhất của Australia. Như đã trình bày, vành đai lúa mì này cũng nằm trong khu vực có những vấn đề đất đai cực kỳ nghiêm trọng như độ màu của đất thấp và độ mặn cao. Nhưng hiện tượng khí hậu toàn cầu thay đổi trong những năm gần đây cũng gây ảnh hưởng tới mức độ ổn định của lượng mưa mùa đông, từ năm 1973 tới nay, lượng mưa mùa đông ở vành đai lúa mì giảm mạnh trong khi lượng mưa mùa hè rơi xuống mặt đất trơ trụi do hoa màu vừa được thu hoạch lại tăng, càng làm đất bị muối hóa. Bởi vậy, như tôi đã đề cập ở Chương 1 về Montana, thay đổi khí hậu toàn cầu làm lợi cho nước này nhưng cũng gây thiệt hại cho nước khác, và Australia là nước chịu thiệt hại còn nặng nề hơn cả Montana.

Australia chủ yếu nằm trong vùng khí hậu ôn đới, nhưng lại cách các nước ôn đới khác tới hàng ngàn kilômét, những thị trường xuất khẩu tiềm năng cho các sản phẩm của Australia. Bởi vậy các sử gia Australia cho rằng “bất lợi khoảng cách” là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của Australia. Thành ngữ này muốn chỉ những hải trình dài dặc ra nước ngoài khiến chi phí vận chuyển đối với mỗi kg hay mỗi đơn vị sản phẩm xuất khẩu của Australia luôn cao hơn hàng xuất khẩu từ các nước Tân Thế giới sang châu Âu, vì vậy chỉ những sản phẩm trọng lượng nhỏ nhưng giá trị cao mới có thể xuất khẩu một cách kinh tế. Ban đầu trong thế kỷ XIX, khoáng sản và gỗ là những mặt hàng xuất khẩu chính. Khoảng năm 1900, khi những chuyến tàu hàng ướp lạnh mang lại lợi ích kinh tế cao, thì Australia cũng bắt đầu xuất khẩu thực phẩm ra nước ngoài, nhất là sang Anh. (Viết đến đây tôi lại nhớ một anh bạn người Australia, vốn không ưa gì người Anh, làm việc trong một xưởng chế biến thực phẩm, kể chuyện với tôi rằng anh ta và bạn bè thi thoảng lại chơi khăm bỏ một, hai túi mật vào số gan ướp lạnh được đánh dấu xuất khẩu sang Anh, và rằng xưởng của anh ta gắn mác “cừu non”, nghĩa là cừu dưới 6 tháng tuổi nếu tiêu dùng trong nước, và sẽ là cừu 18 tháng tuổi nếu xuất khẩu sang Anh). Ngày nay, những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Australia vẫn là những mặt hàng trọng lượng nhỏ nhưng giá trị cao, trong đó có thép, khoáng sản, gỗ và lúa mì; vài thập kỷ trở lại đây rượu và quả hạnh macadamia cũng được xuất khẩu mạnh; ngoài ra còn một số loại hoa màu đặc sản khác trọng lượng lớn nhưng giá trị cao được sản xuất cho những thị trường thích hợp mà một số người tiêu dùng sẵn sàng trả khoản tiền lớn, như lúa mì cứng và những loại lúa mì đặc biệt khác, lúa mì và thịt bò sạch được chăn nuôi và trồng trọt mà không dùng thuốc sâu hay các loại hóa chất khác.

Nhưng còn một bất lợi khoảng cách khác nữa nằm chính ngay trong lòng Australia. Những khu vực sản xuất và định cư của Australia rất ít và nằm rải rác. Dân số Australia chỉ bằng 1/14 nước Mỹ, rải rác rác trên một diện tích tương đương 48 tiểu bang vùng thấp của Mỹ. Hậu quả là chi phí vận chuyển trong nội địa Australia cũng cao nên khiến việc duy trì cuộc sống theo tiêu chuẩn của Thế giới thứ nhất rất tốn kém. Ví dụ, chính phủ Australia trợ cấp cho các hộ gia đình và doanh nghiệp ở trên khắp đất nước kết nối điện thoại vào mạng lưới điện thoại quốc gia, kể cả đặt những trạm kết nối ở những vùng xa xôi cách trạm gần nhất hàng trăm kilômét. Hiện Australia là nước đô thị hóa mạnh nhất thế giới, với 58% dân số tập trung chỉ trong năm thành phố lớn (Sydney 4 triệu người, Melbourne 3,4 triệu người, Brisbane 1,6 triệu, Perth 1,4 triệu và Adelaide 1,1 triệu vào thời điểm năm 1999). Trong số năm thành phố này, Perth là thành phố lớn có khoảng cách tới thành phố lớn bên cạnh xa nhất thế giới (cách Adelaide 2.092 kilômét về phía đông). Không phải ngẫu nhiên mà hai công ty lớn nhất Australia là hãng hàng không quốc gia Qantas và công ty viễn thông Telstra lại phát triển chỉ nhờ vào việc chinh phục những khoảng cách xa xôi này.

Bất lợi khoảng cách nội địa của Australia cùng với những trận hạn hán, là nguyên nhân khiến các ngân hàng và các ngành kinh doanh khác phải đóng cửa các chi nhánh của mình ở những thị trấn biệt lập của Australia bởi không có lợi nhuận. Các bác sĩ cũng đang rời bỏ các thị trấn này bởi cùng một lý do. Bởi vậy, mặc dù các khu định cư của Mỹ và châu Âu được sắp xếp theo những quy mô nối tiếp nhau, đầu tiên là các thành phố lớn, rồi đến các thị trấn trung bình và các làng mạc nhỏ, nhưng Australia lại ngày càng ít các thị trấn trung bình. Thay vào đó, hầu hết cư dân Australia hiện nay hoặc sống trong một vài thành phố lớn, đầy đủ tiện nghi của Thế giới thứ nhất hiện đại, hoặc sống trong những ngôi làng nhỏ hay những vùng xa xôi không hề có ngân hàng, bác sĩ hay những tiện nghi khác. Những ngôi làng nhỏ của Australia với vài trăm dân đủ khả năng chống chọi với một đợt hạn hán kéo dài năm năm thường xuyên xuất hiện trong điều kiện khí hậu bất ổn của Australia, bởi những làng này cũng chỉ có những hoạt động kinh tế nhỏ. Những thành phố lớn cũng có thể tồn tại qua đợt hạn hán kéo dài năm năm bởi chúng hội nhập với nền kinh tế trên một lưu vực sông lớn. Nhưng một đợt hạn hán kéo dài năm năm sẽ phá hủy hoàn toàn những thị trấn quy mô trung bình, bởi sự tồn tại của chúng phụ thuộc vào khả năng cung cấp đủ các loại hình kinh doanh và dịch vụ để cạnh tranh với những thành phố xa hơn, nhưng lại không đủ lớn để hội nhập với một lưu vực sông lớn. Ngày càng nhiều người Australia không phụ thuộc hay thực sự sống trong môi trường Australia, mà họ sống trong năm thành phố lớn có liên hệ với thế giới bên ngoài nhiều hơn là với thiên nhiên Australia.

Châu Âu chiếm phần lớn thuộc địa ở nước ngoài với hy vọng chúng sẽ mang lại cho họ những lợi ích tài chính hay những lợi thế chiến lược. Vị trí của những thuộc địa mà người châu Âu tới định cư được chọn lựa dựa trên khả năng đất đai có thể dựng lên một nền kinh tế thịnh vượng hay ít nhất là một xã hội tự cung tự cấp, trừ vài nơi chỉ có ít người châu Âu định cư để buôn bán với cư dân bản địa. Nhưng Australia là một ngoại lệ, bởi những người châu Âu di cư tới đây trong nhiều thập kỷ không phải để tìm kiếm vận may của mình mà bởi họ bị ép phải tới đây.

Động cơ chính của Anh khi di dân sang Australia là để giảm bớt vấn đề nhức nhối của xã hội khi số người đói khổ, tù tội đang ngày càng đông, nếu không có thể xảy ra bạo loạn. Thế kỷ XVIII, pháp luật Anh quy định tất cả những người ăn cắp từ 40 siling trở lên sẽ bị khép vào tội chết, vì vậy các quan tòa thường kết án những tên tội phạm chỉ ăn cắp 39 siling để chúng khỏi phải nhận án tử hình. Hậu quả là những nhà tù và những hầm tàu tràn đầy những người phạm những tội lặt vặt như ăn cắp và trốn nợ. Tới năm 1783, áp lực đối với các nhà tù được giải tỏa bằng cách đưa những người phạm tội sang Bắc Mỹ để cải tạo, và một số người di cư tự nguyện cũng tìm tới đây hy vọng được tự do về tôn giáo hay nhìn thấy những điều kiện kinh tế tốt hơn.

Nhưng cuộc cách mạng Mỹ đã chặt đứt tuyến đường sang Bắc Mỹ, buộc người Anh phải tìm kiếm nơi nào khác để tiếp tục thực hiện chính sách tống khứ những kẻ phạm tội. Ban đầu, hai địa điểm có nhiều khả năng nhất được xem xét hoặc là vùng cách sông Gambia 645 kilômét ở Tây Phi nhiệt đới, hay sa mạc ở cửa sông Orange nằm trên biên giới giữa Nam Phi và Namibia hiện nay. Nhưng rồi cả hai nơi đều không được chọn bởi có nhiều ý kiến phản đối, khiến Anh phải tính tới chọn lựa dự phòng là vịnh Botany của Australia gần thành phố Sydney hiện nay, mới được thuyền trưởng Cook phát hiện vào năm 1770. Đó là lý do vì sao hạm đội đầu tiên tới Australia vào năm 1778 mang theo những người châu Âu di cư đầu tiên chỉ toàn là những kẻ phạm tội và những người lính canh gác họ. Những chuyến thuyền chở tội phạm liên tục tới Australia cho tới tận năm 1868, mặc dù trong suốt những năm 1840 chúng chỉ chở phần lớn những người châu Âu di cư tới Australia.

Thời gian trôi đi, ngoài Sydney còn có thêm bốn vùng khác rải rác trên bờ biển Australia, gần những khu vực hiện là các thành phố hiện đại Melbourne, Brisbane, Perth và Hobart được chọn là nơi đày ải những kẻ phạm tội. Những khu định cư này sau trở thành trung tâm của năm thuộc địa, được chính quyền Anh kiểm soát riêng biệt, và phát triển thành năm trong sáu bang của Australia hiện đại là: New South Wales, Victoria, Queensland, Tây Australia và Tasmania. Cả năm vùng định cư đầu tiên này đều được chọn bởi những lợi thế như cảng biển hay gần sông chứ không phải vì những lợi thế nông nghiệp. Thực tế tất cả những vùng này đều là những vùng không thích hợp cho phát triển nông nghiệp và không đủ khả năng tự sản xuất đủ lương thực. Thay vào đó, chính quyền Anh phải thường xuyên chở lương thực trợ cấp cho các thuộc địa này để đảm bảo cuộc sống cho những kẻ tù đày, lính gác và những người quản lý. Tuy nhiên trường hợp của Adelaide, hạt nhân để phát triển bang Nam Australia còn lại của Australia hiện đại thì lại khác. Ở đây đất đai rất tốt bởi có hiện tượng mặt đất dâng cao, cộng với lượng mưa mùa đông tương đối ổn định nên thu hút những nông dân Đức di cư tới, đây cũng là nhóm người di cư duy nhất không phải từ Anh. Melbourne cũng có vùng đất tương đối tốt ở phía tây thành phố và trở thành một vùng nông nghiệp phát triển thịnh vượng vào năm 1835, sau khi cuộc di cư những kẻ phạm tội tới những vùng đất nghèo nàn ở phía đông thành phố vào năm 1803 bị thất bại nhanh chóng.

Săn bắt hải cẩu và cá voi mang lại những thu nhập đầu tiên cho những cư dân người Anh ở Australia. Tiếp theo là chăn nuôi cừu, khi tuyến đường qua rặng núi Blue Moutains dài 96,5 kilômét ở phía tây Sydney cuối cùng đã được khai phá vào năm 1813 cho phép tiếp cận với những đồng cỏ năng suất cao. Tuy nhiên, Australia vẫn không thể tự sản xuất đủ lương thực cho mình và Anh vẫn phải tiếp tục trợ cấp mãi cho tới tận những năm 1840, chỉ trước khi bùng phát cơn sốt đào vàng lần thứ nhất vào năm 1851 rốt cuộc cũng đóng góp một phần thịnh vượng cho Australia.

Trước khi người châu Âu đặt chân lên Australia vào năm 1788, tất nhiên thổ dân Australia đã sinh sống ở đây hơn 40.000 năm với những giải pháp duy trì cuộc sống thích nghi với những vấn đề môi trường khó khăn của Australia. Tại những vùng định cư đầu tiên của người châu Âu (nơi cải tạo những kẻ phạm tội) và những vùng định cư sau này thích hợp cho trồng trọt, người Australia da trắng thậm chí còn ít sử dụng thổ dân hơn so với người Mỹ da trắng sử dụng người Da đỏ. Người Da đỏ ở phía đông nước Mỹ ít ra còn là những nông dân và cung cấp những loại hoa màu cần thiết cho sự tồn tại của những người định cư châu Âu trong những năm đầu khó khăn, cho tới khi người châu Âu bắt đầu trồng trọt được hoa màu của mình. Từ đó trở đi, nông dân Da đỏ đơn thuần trở thành những đối thủ cạnh tranh với nông dân Mỹ và bị giết hay bị đuổi khỏi đất đai của mình. Tuy nhiên, những thổ dân Australia lại không làm nông nghiệp, bởi vậy không cung cấp lương thực cho những người định cư nên họ bị giết hay bị đuổi ngay khỏi những vùng định cư đầu tiên của người da trắng. Sau này, người da trắng tiếp tục lấn chiếm những vùng đất thích hợp cho trồng trọt. Tuy nhiên, khi họ vươn tới những vùng có khí hậu quá khô hanh cho trồng trọt nhưng lại thích hợp cho chăn nuôi gia súc, khi đó họ mới thấy cần có những thổ dân giỏi chăn nuôi để chăm sóc đàn cừu của họ: Không như Iceland và New Zealand, hai nước chăn nuôi cừu lớn nhưng không hề có loài vật bản địa nào có khả năng chăn cừu, Australia có giống chó dingo chăn cừu rất giỏi, vì vậy những nông dân Australia chăn nuôi cừu cần người chăn cừu và họ đã sử dụng thổ dân bởi không có đủ lao động da trắng ở Australia. Một số thổ dân còn làm việc cho những người săn bắt hải cẩu, cá voi, ngư dân và các thương gia buôn bán dọc bờ biển.

Cũng như những cư dân người Norse ở Iceland và Greenland mang theo những giá trị văn hóa truyền thống từ quê hương Na Uy của mình (Chương 6-8), người Anh định cư ở Australia cũng mang theo những giá trị văn hóa Anh. Cũng như Iceland và Greenland, Australia cũng có một số giá trị văn hóa nhập khẩu rõ ràng không thích hợp với môi trường Australia, thậm chí những giá trị đó vẫn tiếp tục tồn tại tới tận ngày nay. Có năm loại giá trị văn hóa đặc biệt quan trọng, đó là những giá trị liên quan tới cừu, thỏ và cáo, thực vật bản địa của Australia, các giá trị đất đai và cá tính người Anh.

Nước Anh thế kỷ XVIII tự sản xuất được rất ít len nên phải nhập khẩu từ Tây Ban Nha và Saxony. Những nguồn cung cấp len từ lục địa này bị cắt đứt trong thời kỳ chiến tranh với Napoleon trở nên khốc liệt trong những thập niên đầu tiên người Anh định cư ở Australia. Vua George III của Anh rất lo lắng tìm nguồn cung cấp len, và với sự ủng hộ của ông, nước Anh đã đánh cắp được giống cừu mêrinô từ Tây Ban Nha đưa sang Anh, rồi tiếp tục đưa sang Australia và lập ra ngành công nghiệp len của Australia. Australia trở thành nguồn cung cấp len chính cho Anh. Ngược lại, len cũng là mặt hàng xuất khẩu chính của Australia giai đoạn từ khoảng 1820 - 1950, bởi trọng lượng của nó thấp nhưng có giá trị cao bù đắp cho những bất lợi khoảng cách gây khó khăn cho những mặt hàng xuất khẩu của Australia có trọng lượng lớn hơn khi cạnh tranh với các thị trường nước ngoài.

Hiện một phần lớn đất đai dùng cho sản xuất lương thực của Australia vẫn được sử dụng để chăn nuôi cừu. Chăn cừu đã trở thành một bản sắc văn hóa độc đáo của Australia, nhưng những cử tri nông thôn với nghề chính là chăn nuôi cừu có ảnh hưởng không lớn trong hệ thống chính trị Australia. Tuy nhiên, việc Australia dành một lượng đất tương đối cho chăn nuôi cừu là một điều sai lầm: Mặc dù ban đầu nó có những đồng cỏ tươi tốt, hay có thể phát quang để trồng cỏ, nhưng năng suất của đất (như đã đề cập) rất thấp, bởi vậy nông dân chăn nuôi cừu, thực tế đang khai thác độ màu của đất. Nhiều trang trại chăn nuôi cừu nhanh chóng bị bỏ hoang; ngành chăn nuôi cừu hiện nay của Australia đang rơi vào tình trạng thua lỗ (sẽ được thảo luận bên dưới); và di sản mà nó để lại là những mảnh đất suy thoái trầm trọng do tác động của chăn thả gia súc quá mức (Phụ bản 29).

Những năm gần đây có những đề xuất rằng thay vì chăn nuôi cừu, Australia nên nuôi chuột túi, (không như cừu) đây là loài vật bản địa của Australia thích nghi với điều kiện khí hậu và thực vật Australia. Họ cho rằng những bàn chân mềm mại của chuột túi sẽ ít gây tác hại cho đất như những chiếc móng cứng của cừu. Thịt chuột túi nạc, tốt cho sức khỏe và (theo tôi) ngon tuyệt. Ngoài thịt, da chuột túi còn có giá trị lớn. Đó là tất cả những căn cứ để một số người ủng hộ việc thay thế chăn nuôi cừu bằng nuôi chuột túi.

Tuy nhiên, đề xuất này cũng có không ít những khó khăn thực tế, cả về mặt sinh học và giá trị văn hóa. Không như cừu, chuột túi không phải là loại gia súc sẽ dễ dàng tuân lệnh của người chăn cừu hoặc của một con chó, hoặc có thể dễ dàng lùa chúng vào những chiếc thang dẫn lên xe tải để chuyển tới lò mổ. Thay vào đó, những trang trại nuôi chuột túi chắc sẽ phải thuê thợ săn để săn đuổi và bắn hạ từng con chuột túi. Chuột túi còn có những nhược điểm khác như đặc tính hay di chuyển và khả năng nhảy cao tuyệt vời, nếu bạn đầu tư phát triển đàn chuột túi trong trang trại của mình, và bỗng nhiên chúng bị điều gì đó kích động (như tiếng mưa ở đâu đó chẳng hạn), thì đàn chuột túi quý giá có lẽ sẽ nhảy sang trang trại của ai đó cách chỗ bạn tới 50 kilômét. Mặc dù thịt chuột túi được chấp nhận ở Đức và một số được xuất khẩu sang đây, thì việc bán thịt chuột túi ở những nơi khác có thể vẫn gặp khó khăn do những rào cản văn hóa. Người Australia cho rằng thịt chuột túi không ngon và khó có thể thay thế thịt cừu Anh và thịt bò trong những bữa tối. Nhiều tổ chức bảo vệ động vật của Australia phản đối giết thịt chuột túi mà không nhận ra thực tế rằng điều kiện sống và những biện pháp giết mổ cừu và gia súc còn tàn bạo hơn nhiều so với chuột túi hoang dã. Mỹ công khai cấm nhập khẩu thịt chuột túi bởi họ thấy đó là những con vật đáng yêu, và bởi vợ một nghị sĩ nghe rằng loài chuột túi đang có nguy cơ tuyệt chủng. Thực tế, một số loài chuột túi đang gặp nguy hiểm, nhưng trớ trêu thay những loài đang bị giết thịt lại là những loài có số lượng rất lớn ở Australia. Chính quyền Australia cũng có những quy định chặt chẽ về việc giết mổ và đặt hạn ngạch giết mổ chuột túi.

Mặc dù chắc chắn việc nhập khẩu cừu mang lại những lợi ích kinh tế lớn (và cả những tác hại) cho Australia, nhưng thỏ và cáo du nhập thì rõ ràng là những thảm họa. Những người Anh di cư ban đầu thấy môi trường, thực vật và động vật xung quanh xa lạ với mình và muốn cuộc sống được bao quanh bằng những loài cây và động vật quen thuộc, bởi vậy họ đã cố du nhập nhiều giống chim châu Âu, trong đó chỉ có chim sẻ nhà và sáo đá phát triển rộng rãi, trong khi những loài khác (như chim két, chim hét nhạc, sẻ đồng, sẻ cánh vàng và sẻ cánh xanh) chỉ sinh sống cục bộ. Ít ra thì những loài chim du nhập này không gây thiệt hại nhiều, trong khi giống thỏ Australia rất đông đúc gây ra những thiệt hại kinh tế lớn và làm đất suy thoái do ngốn tới một nửa số thực vật trên thảo nguyên mà đáng lẽ dành để nuôi cừu và gia súc (Phụ bản 30). Cùng với những thay đổi của môi trường sống do cừu gặm cỏ và tình trạng đốt nương làm rẫy của thổ dân, ảnh hưởng chung từ việc du nhập cáo và thỏ cũng là một trong những nguyên nhân chính gây tuyệt chủng hay làm giảm số lượng phần lớn những loài động vật có vú loại nhỏ: lũ cáo đã tấn công chúng, và thỏ thì tranh giành thức ăn với những loài thú bản địa có vú ăn cỏ.

Thỏ và cáo châu Âu hầu như đồng thời được du nhập vào Australia. Không rõ liệu cáo được du nhập trước để tổ chức những cuộc săn cáo theo truyền thống của người Anh, rồi mới tới thỏ để bổ sung nguồn thức ăn cho cáo hay thỏ được du nhập trước để phục vụ thú vui săn bắn hay để làm phong cảnh nông thôn gần gũi với nước Anh hơn, rồi mới tới cáo để khống chế thỏ. Cho dù trường hợp nào thì cả hai đều trở thành những thảm họa gây ra nhiều tốn kém và giờ đây khó có thể tin được rằng chúng được du nhập chỉ vì những lý do tầm thường tới vậy. Thậm chí càng khó tin hơn khi chính người Australia nỗ lực gây giống các loại thỏ: bốn lần du nhập đầu tiên bị thất bại (bởi những con thỏ đầu tiên được thả là giống thỏ trắng đã thuần hóa đều bị chết), và phải tới lần nhập thứ năm là giống thỏ Tây Ban Nha hoang dã mới thành công.

Ngay từ khi thỏ và cáo được nhân giống thành công và người Australia đã nhận ra hành động sai lầm của mình, họ đã cố tiêu diệt hay làm giảm bớt số lượng hai loài vật gây hại này. Vũ khí chính trong cuộc chiến tiêu diệt cáo là đánh thuốc độc và đặt bẫy. Một biện pháp tiêu diệt thỏ, mà hầu như tất cả những người Australia từng xem bộ phim gần đây mang tên Hàng rào chống thỏ đều nhớ, đó là dựng những hàng rào dài để ngăn thỏ ở phía ngoài trang trại. Tôi được nghe ông nông dân Bill McIntosh kể chuyện ông đã lập bản đồ đất đai của mình như thế nào để đánh dấu từng vị trí của hàng ngàn chiếc hang thỏ, sau đó dùng máy ủi phá hủy từng chiếc một. Ông còn thường xuyên kiểm tra và nếu phát hiện có dấu vết thỏ làm hang mới, ông sẽ thả thuốc nổ xuống hang tiêu diệt thỏ, rồi lấp hang lại. Bằng cách này, ông đã cần mẫn phá hủy 3.000 chiếc hang thỏ. Những biện pháp này quá tốn kém khiến người Australia vài chục năm trước đặt nhiều hy vọng vào việc du nhập một loài virut gây bệnh myxomatosis để tiêu diệt thỏ, và ban đầu đã làm giảm tới 90% số lượng thỏ cho tới khi chúng trở nên kháng bệnh và hồi phục. Hiện Australia đang sử dụng một loại vi khuẩn khác tên là calicivirus để kiểm soát số lượng thỏ.

Những người Anh di cư thích những con thỏ và chim két vốn quen thuộc hơn và cảm thấy không thoải mái giữa những con chuột túi và chim hút mật hình dáng lạ mắt của Australia; những cây bạch đàn, những cây keo của Australia có hình dáng, màu sắc và lá rất khác với những loại cây lấy gỗ của Anh cũng khiến họ cảm thấy khó chịu. Những người định cư phát quang thảm thực vật một phần bởi họ không thích sự hiện diện của chúng, và còn bởi họ cầu lấy đất cho các hoạt động nông nghiệp. Cho tới cách đây khoảng 20 năm, chính quyền Australia vẫn không chỉ trợ cấp cho việc phát quang đất đai mà thực tế còn coi đó là một điều kiện để được thuê đất. (Phần lớn đất nông nghiệp của Australia không thuộc quyền sở hữu hoàn toàn của nông dân như ở Mỹ, mà thuộc sở hữu của chính quyền và cho nông dân thuê). Những người thuê đất được khấu trừ thuế cho các loại nông cụ và công lao động trong việc phát quang đất đai, họ cũng phải phát quang một diện tích đất nhất định theo yêu cầu của chính quyền như một trong những điều kiện bắt buộc để tiếp tục được thuê đất, và sẽ buộc phải chấm dứt thuê đất nếu không thực hiện đầy đủ chỉ tiêu này. Những nông dân và các nhà kinh doanh có thể kiếm lợi bằng cách mua hay thuê đất có lớp thực vật bản địa và không thích hợp để phát triển nông nghiệp bền vững, sau đó dọn sạch lớp thực vật này, trồng một hay hai vụ lúa mì làm đất bạc màu, rồi bỏ hoang số đất đai này. Ngày nay, khi cộng đồng thực vật của Australia được công nhận là độc đáo và đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, và khi phát quang đất đai bị coi là một trong hai nguyên nhân chính gây ra tình trạng muối hóa làm đất bị suy thoái, thì rất tiếc phải nhắc lại rằng gần đây chính quyền Australia vẫn còn trợ cấp và yêu cầu nông dân phá hủy thảm thực vật bản địa. Nhà kinh tế học sinh thái Mike Young được chính quyền Australia giao nhiệm vụ thống kê số lượng đất đai cho thuê bị tình trạng phát quang đất đai làm cho trở nên vô giá trị, cho tôi biết rằng thời nhỏ ông và gia đình vẫn phát quang cây cối để lấy đất trồng trọt. Mike và bố, mỗi người một chiếc máy kéo, chạy song song và nối với nhau bằng một sợi xích rà sát mặt đất, sợi xích này sẽ lật tung tất cả những loài thực vật bản địa và thay vào đó là những loại hoa màu mới, đổi lại cha ông sẽ được giảm một khoản thuế lớn. Nếu không có những khoản giảm thuế này của chính phủ như một biện pháp khuyến khích thì chắc đất đai Australia chẳng bao giờ bị phát quang nhiều như vậy.

Khi những người định cư tới Australia và bắt đầu mua hay thuê đất từ những người khác hay từ chính quyền, giá đất được tính theo giá đất ở Anh và được định giá theo những lợi nhuận thu được từ đất năng suất cao ở Anh. Bởi vậy nên đất của Australia bị “đánh giá quá cao”, nó được bán hay cho thuê với giá cao hơn khả năng lợi nhuận tài chính có thể thu được từ các hoạt động nông nghiệp. Bởi vậy, khi một nông dân mua, thuê hay thế chấp đất đai của mình, thì họ phải trả mức lãi cao, do áp lực từ việc định giá đất cao hơn thực tế nên nông dân cố khai thác được càng nhiều lợi nhuận từ đất càng tốt, nhiều hơn cả khả năng mà đất đai có thể mang lại. Đó là một thực tế được gọi là “cưỡng bức đất đai”, có nghĩa là nuôi quá nhiều cừu hay trồng quá nhiều lúa mì trên mỗi mẫu đất. Định giá đất quá cao do ảnh hưởng từ các giá trị văn hóa của người Anh (các giá trị tiền tệ và hệ thống tín ngưỡng) là một nguyên nhân chính khiến lượng gia súc ở Australia quá đông, gây ra tình trạng chăn thả quá mức, xói mòn đất, nông dân bị phá sản và đất đai bị bỏ hoang hóa.

Nói chung, đất đai bị định giá cao khiến các giá trị nông nghiệp của Australia bị điều chỉnh theo những nền tảng của người Anh chứ không phải theo năng suất nông nghiệp thấp của Australia. Những giá trị nông nghiệp đó tiếp tục gây cản trở tới việc giải quyết một trong những vấn đề chính trị nội tại của Australia hiện đại, đó là: ảnh hưởng không cân xứng của các cử tri nông thôn. Australia có một điều khó hiểu hơn cả châu Âu và Mỹ, đó là nông dân luôn được coi là những người trung thực, và người thành phố bị coi là người dối trá. Nếu một nông dân bị phá sản, thì đó là bất hạnh của một người tốt gặp phải những khó khăn vượt quá khả năng của họ (như một đợt hạn hán), trong khi nếu người thành phố bị phá sản thì đó chính là hậu quả của sự gian trá mà anh ta gây ra. Sự thần thánh hóa nông dân và quyền bỏ phiếu cao một cách bất tương xứng của họ bất chấp một thực tế mà tôi đã đề cập rằng Australia là quốc gia đô thị hóa cao nhất thế giới. Chúng tiếp tục góp phần duy trì sự ngoan cố của chính quyền ủng hộ các biện pháp khai thác hơn là bảo tồn môi trường, như phát quang đất đai và trợ cấp gián tiếp cho khu vực kinh tế nông thôn làm ăn thua lỗ.

Cách đây 50 năm, dòng người di cư tới Australia chủ yếu là từ Anh và Iceland. Hiện vẫn còn nhiều người Australia gắn bó chặt chẽ với những giá trị truyền thống của người Anh và sẽ tức giận phản đối bất kỳ ý kiến nào cho rằng họ trân trọng những giá trị đó một cách thái quá. Nhưng di sản đó khiến người Australia làm những gì mà họ cho là đúng, nhưng người ngoài thì đánh giá đó là việc không thích hợp, không cần thiết và không vì những lợi ích tốt nhất của người Australia. Trong cả Thế chiến Thứ nhất và Thứ hai, Australia tuyên chiến với Đức ngay khi Anh và Đức tuyên chiến với nhau, mặc dù không hề có bất kỳ lợi ích nào Australia bị ảnh hưởng trong Thế chiến Thứ nhất (trừ việc đó là cái cớ để Australia xâm chiếm thuộc địa New Guinea của Đức), và Thế chiến Thứ hai cũng không hề ảnh hưởng tới nước này mãi tới tận khi bùng nổ chiến tranh với Nhật Bản hơn hai năm sau khi Đức và Anh tuyên chiến với nhau. Ngày lễ chính của Australia (và cũng là của New Zealand) là ngày Anzac 25 tháng Tư, kỷ niệm ngày một binh đoàn Anzac gồm toàn người Australia và người New Zealand bị tàn sát trên bán đảo Gallipoli xa xôi của Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày này năm 1915, do khả năng chỉ huy kém cỏi của người Anh khi những đội quân này gia nhập lực lượng quân sự của Anh nhằm tấn công Thổ Nhĩ Kỳ nhưng bị thất bại. Cuộc tắm máu ở Gallipoli trở thành biểu tượng của người Australia “luôn” ủng hộ quê hương Anh của mình, và tự coi mình như một nước trong liên bang thống nhất chứ không phải là một thuộc địa với một toàn quyền riêng. Với những người Mỹ thế hệ chúng tôi, sự kiện Gallipoli với người Australia cũng có ý nghĩa tương tự thảm họa Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng ngày 7/12/1941, bởi nó nhanh chóng đoàn kết tất cả những người Mỹ và đưa nước Mỹ ra khỏi chính sách ngoại giao trung lập. Nhưng những người không phải là người Australia chắc không thể không châm biếm rằng một ngày lễ lớn của Australia lại gắn liền với bán đảo Gallipoli, một nơi cách Australia một khoảng cách tương đương một phần ba quãng đường vòng quanh thế giới và ở phía đối diện của xích đạo: một vị trí địa lý chẳng hề liên quan tới lợi ích của Australia.

Những tình cảm gắn bó với nước Anh vẫn còn tiếp tục tới tận ngày nay. Lần đầu tôi tới thăm Australia vào năm 1964, trước đó đã từng sống ở Anh bốn năm, tôi thấy Australia còn mang nhiều nét văn hóa truyền thống về kiến trúc và tư tưởng của Anh hơn cả nước Anh hiện đại. Tới tận năm 1973, hàng năm chính quyền Australia vẫn gửi danh sách đề xuất phong tặng tước hiệu hiệp sĩ cho những người Australia, và đây được coi là những danh dự cao quý nhất của một người Australia. Anh vẫn bổ nhiệm toàn quyền Australia do Australia đề xuất, và toàn quyền có quyền cách chức Thủ tướng Australia, thực tế đã từng diễn ra năm 1975. Cho tới đầu những năm 1970, Australia vẫn duy trì một “Chính sách Australia trắng” và công khai cấm nhập cư từ những nước châu Á láng giềng, khiến họ tức giận. Chỉ mới từ 25 năm nay, Australia mới quan hệ với những người châu Á láng giềng, công nhận vị trí địa lý của mình nằm ở châu Á, chấp nhận những di dân người châu Á và phát triển quan hệ thương mại với châu Á. Anh hiện đã tụt xuống hàng thứ tám trong các thị trường xuất khẩu của Australia, sau Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan.

Thảo luận bên trên về việc Australia tự coi mình như một nước Anh hay như một nước châu Á làm nổi lên một chủ đề được lặp đi lặp lại trong toàn bộ cuốn sách này, đó là: tầm quan trọng của những quan hệ hữu nghị hay thù địch với sự ổn định của một xã hội. Vậy những nước nào mà Australia coi là bạn bè, đối tác thương mại hay kẻ thù và ảnh hưởng của những quan điểm này là gì? Chúng ta hãy bắt đầu với thương mại và tiếp sau đó là sự nhập cư.

Trong suốt hơn một thế kỷ cho tới tận năm 1950, các sản phẩm nông nghiệp, nhất là len, là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Australia, sau đó là khoáng sản. Hiện nay Australia vẫn là nhà sản xuất len lớn nhất thế giới, nhưng cả sản lượng của Australia và nhu cầu của thế giới hiện đều giảm do bị cạnh tranh mạnh mẽ từ sợi nhân tạo. Năm 1970, số lượng cừu của Australia lên tới đỉnh điểm khoảng 180 triệu con (hồi đó trung bình mỗi người nuôi 14 con cừu), rồi bắt đầu giảm mạnh. Hầu như toàn bộ len của Australia đều được xuất khẩu, chủ yếu sang Trung Quốc và Hồng Kông. Các mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu khác bao gồm lúa mì (chủ yếu được bán sang Nga, Trung Quốc và Ấn Độ), nhất là lúa mì cứng, rượu và thịt bò sạch. Hiện Australia sản xuất lượng lương thực nhiều hơn khả năng tiêu thụ của mình và là nhà xuất khẩu lương thực tịnh, nhưng nhu cầu tiêu thụ lương thực nội địa của Australia vẫn tăng do dân số tăng. Nếu xu hướng này còn tiếp tục, Australia có thể sẽ trở thành nhà nhập khẩu tịnh chứ không phải là nhà xuất khẩu tịnh lương thực.

Len và các sản phẩm nông nghiệp khác hiện chỉ đứng thứ ba trong số những mặt hàng có giá trị mang lại ngoại tệ cao cho đất nước, sau du lịch (đứng thứ hai) và khoáng sản (đứng thứ nhất). Các loại khoáng sản có giá trị xuất khẩu cao nhất, xếp theo thứ tự, là than, vàng, sắt và nhôm. Australia là nước xuất khẩu than hàng đầu thế giới. Đây cũng là nước có trữ lượng uranium, chì, bạc, kẽm, titanium và tantali đứng đầu thế giới và thuộc số sáu nước có trữ lượng than, sắt, nhôm, đồng, niken và kim cương hàng đầu thế giới. Nhất là trữ lượng than và sắt lớn tới mức hiện chưa thể biết khi nào mới bị khai thác cạn kiệt. Mặc dù trước kia Anh và các nước châu Âu khác là các thị trường nhập khẩu khoáng sản lớn nhất của Australia, thì nay Australia xuất khẩu lượng khoáng sản sang các nước châu Á cao gần gấp năm lần so với các nước châu Âu. Ba khách hàng lớn nhất của Australia hiện nay, xếp theo thứ tự, là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, như Nhật Bản tiêu thụ gần một nửa số than, thép và nhôm xuất khẩu của Australia.

Tóm lại, trong vòng nửa thế kỷ qua, hàng hóa xuất khẩu của Australia đã chuyển từ các sản phẩm nông nghiệp sang các loại khoáng sản, và các đối tác thương mại đã chuyển từ châu Âu sang châu Á. Mỹ vẫn là nguồn nhập khẩu lớn nhất và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Australia (sau Nhật Bản).

Những thay đổi trong hình thái thương mại đi liền với những thay đổi trong sự nhập cư. Với diện tích tương đương nước Mỹ, nhưng dân số của Australia nhỏ hơn nhiều (hiện chỉ vào khoảng 20 triệu người), bởi một lý do hiển nhiên rằng môi trường Australia kém năng suất hơn nhiều lần nên chỉ có thể cung cấp đủ lương thực cho một số dân nhỏ hơn. Tuy nhiên, trong những năm 1950, nhiều người Australia, kể cả các nhà lãnh đạo chính quyền, dường như e ngại những nước châu Á láng giềng đông dân, nhất là Indonesia với số dân tới 200 triệu người. Australia cũng không thể quên kinh nghiệm thương đau khi từng bị Nhật Bản, một nước đông dân và cách Australia khá xa, đe dọa và ném bom trong thời kỳ Thế chiến Thứ hai. Nhiều người Australia cho rằng đất nước họ đang đứng trước một mối nguy lớn do dân số quá ít so với các nước châu Á láng giềng, nên có thể trở thành mục tiêu bành trướng của Indonesia trừ khi nhanh chóng phủ đầy dân chúng lên tất cả những khoảng trống còn lại. Bởi vậy, những năm 1950 và 1960 Australia đã thực hiện một chương trình cấp tốc nhằm thu hút dân nhập cư như một trong những chính sách trọng tâm của Nhà nước.

Chương trình này xóa bỏ chính sách Australia trắng trước đây của đất nước, theo chính sách đó (một trong những đạo luật đầu tiên của Liên bang Australia được ban hành năm 1901), nhập cư hầu như chỉ giới hạn với những người có nguồn gốc châu Âu, nhất là người Anh và người Ireland. Trong cuốn niên giám chính thức của chính phủ có viết “những người không thuộc dòng Anglo-Celtic sẽ không thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật nhập cư”. Trước thực trạng dân số quá ít, chính quyền Australia đầu tiên là chấp nhận cho nhập cư vào Australia, sau đó là chủ động và khuyến khích người nhập cư từ các nước châu Âu khác, đặc biệt chú trọng Italia, Hy Lạp, Đức và sau đó là Hà Lan và Nam Tư cũ. Cho tới tận những năm 1970, với ý định tăng cường thu hút dân nhập cư từ các nước ngoài châu Âu, đồng thời ngày càng ý thức được vị trí của Australia là ở châu Á-Thái Bình Dương chứ không phải là những người Anh thuần chất, nên chính quyền dỡ bỏ những rào cản pháp luật đối với người châu Á nhập cư. Mặc dù Anh, Ireland và New Zealand vẫn là những nguồn nhập cư chính của Australia, thì hiện 1/4 số dân nhập cư là từ các nước châu Á với Việt Nam, Phillippines, Hongkong, và (hiện nay) người Trung Quốc chiếm số đông trong những năm gần đây. Cuối những năm 1980 là thời kỳ đỉnh điểm của dân nhập cư, và hiện gần 1/4 dân số Australia là người nước ngoài nhập cư, so với con số 12% của Mỹ và 3% của Hà Lan.

Ảo tưởng đằng sau chính sách “lấp đầy” Australia là những lý do môi trường có sức thuyết phục lý giải tại sao, thậm chí sau hơn hai thế kỷ người châu Âu định cư ở đây, Australia vẫn “không tự mình lấp đầy” lãnh thổ bằng cách nâng dân số lên tương đương mật độ dân số của Mỹ. Đó là bởi Australia có những hạn chế trong việc cung cấp nước và tiềm năng sản xuất lương thực, nó cũng không có khả năng nuôi sống một số dân lớn hơn nữa. Dân số tăng sẽ làm giảm tỷ lệ lợi nhuận từ xuất khẩu khoáng sản tính trên đầu người. Australia gần đây đã tiếp nhận người nhập cư nhưng chỉ ở mức tịnh khoảng 100.000 người mỗi năm, như vậy tốc độ tăng trưởng dân số do nhập cư chỉ là 0,5%.

Dù sao, nhiều nhân vật Australia có ảnh hưởng, như Thủ tướng gần đây Malcolm Fraser, các lãnh tụ của cả hai đảng chính trị lớn và Hội đồng Kinh doanh Australia, vẫn cho rằng Australia nên tăng dân số của mình tới mức 50 triệu người. Lý do là bởi nỗi e ngại “họa da vàng” từ các nước châu Á đông dân, cùng khát vọng đưa Australia trở thành một trong những cường quốc trên thế giới, và niềm tin rằng mục tiêu đó sẽ không thể đạt được nếu Australia chỉ có dân số 20 triệu người. Nhưng những khát vọng từ vài thập kỷ trước giờ đã lu mờ tới mức ngày nay người Australia không còn mong muốn trở thành một trong những cường quốc thế giới. Thậm chí nếu thực sự họ mong muốn trỗi dậy thì Israel, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan và Singapore là những tấm gương về những nước có dân số ít hơn nhiều so với Australia (mỗi nước chỉ có vài triệu dân) nhưng trên thế giới vẫn là những cường quốc kinh tế và có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của khoa học và văn hóa thế giới. Trái ngược với các lãnh tụ chính trị và kinh doanh, 70% dân số Australia lại muốn số người nhập cư giảm đi chứ không phải là tăng lên. Có những ý kiến tỏ ý nghi ngờ rằng ngay cả với số dân hiện tại, Australia chưa chắc đã đủ khả năng chăm lo về lâu về dài, theo tiêu chuẩn hiện tại thì số dân thích hợp nhất với Australia nên là 8 triệu người, chưa bằng một nửa dân số hiện tại.

Nếu lái xe từ thủ phủ Adelaide của bang Nam Australia, bang Australia duy nhất có nguồn gốc từ một thuộc địa tự cung tự cấp bởi đất đai ở đây có năng suất khá cao (cao theo tiêu chuẩn của Australia và bình thường theo tiêu chuẩn thế giới), tôi đã thấy trên vùng đất canh tác chính này của Australia những trang trại hoang tàn nối tiếp nhau. Tôi đã tới thăm một trong những trang trại hoang tàn hiện được bảo tồn để làm điểm du lịch: đó là Kanyaka, một trang trại nuôi cừu lớn của giới quý tộc Anh vào những năm 1850, sụp đổ vào năm 1869 rồi bị bỏ hoang và từ đó tới nay chưa một lần được khôi phục. Phần lớn khu vực đất liền Nam Australia được phát triển thành trang trại chăn nuôi cừu trong thời kỳ khí hậu ẩm ướt, giai đoạn từ những năm 1850-1860, khi đó ở đây còn là những cánh đồng cỏ tươi tốt. Với những đợt hạn hán liên tiếp bắt đầu từ năm 1864, phong cảnh thiên nhiên ở đây đã bị tàn phá trơ trụi do chăn thả gia súc quá mức, xác những con cừu chết nằm rải rác đây đó và những trang trại chăn nuôi cừu đã bị bỏ hoang. Thảm họa này khiến chính phủ phải phái tổng thanh tra G. W. Goyder đi xác định diện tích đất liền có lượng mưa ổn định đủ để phát triển nông nghiệp, tính từ bờ biển trở vào. Ông đã vạch ra một ranh giới gọi là ranh giới Goyder, phía bắc của ranh giới này là khu vực có khả năng xảy ra hạn hán ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp. Đáng tiếc là thời kỳ khí hậu ẩm ướt trở lại trong những năm 1870 đã khiến chính quyền lại bán những trại cừu đã bị bỏ hoang từ những năm 1860 với giá cao, để chuyển đổi thành những trang trại lúa mì bị định giá cao hơn thực chất một chút. Ngoài ranh giới Goyder, những thị trấn, đường sắt phát triển bùng nổ và những trang trại lúa mì đó thành công trong khoảng thời gian vài năm do có lượng mưa cao bất thường, rồi lại bị thất bát và buộc phải sáp nhập với nhau thành những trang trại lớn hơn và tới cuối những năm 1870, lại quay trở lại nuôi cừu. Hạn hán trở lại đẩy nhiều trang trại chăn nuôi cừu vào tình trạng phá sản, còn những trang trại tồn tại tới ngày nay thì không thể tự nuôi được bản thân nếu chỉ dựa vào những đàn cừu, những chủ trang trại phải làm thêm những ngành nghề khác để kiếm sống như du lịch hay đầu tư ra ngoài nông nghiệp.

Đa phần những vùng sản xuất lương thực khác của Australia đều có lịch sử phát triển tương tự như vậy. Vậy tại sao nhiều trang trại ban đầu mang lại lợi nhuận nhưng rồi lại thất bát dần dần? Lý do chính là vấn đề môi trường hàng đầu của Australia, chất lượng đất suy thoái do chín hình thái tác động tiêu cực tới môi trường là: tàn phá thảm thực vật nội địa, chăn thả cừu quá mức, nạn thỏ hoang, đất bạc màu, xói mòn đất, hạn hán do con người gây ra, cỏ dại, những chính sách sai lầm của chính quyền và tình trạng muối hóa. Tất cả những hiện tượng tiêu cực này đều xuất hiện ở những nơi khác trên thế giới, trong một số trường hợp còn gây tác hại lớn hơn tại Australia. Nói tóm lại, những ảnh hưởng môi trường đó thể hiện như sau:

Như tôi đã đề cập bên trên, trước đây chính quyền Australia yêu cầu các tá điền thuê đất của chính phủ phải phát quang thảm thực vật bản địa. Mặc dù hiện yêu cầu này đã bị xóa bỏ, nhưng Australia vẫn là nước có diện tích thảm thực vật hằng năm bị tàn phá cao hơn những nước khác trong Thế giới thứ nhất, và trên thế giới tỷ lệ phát quang đất đai của Australia chỉ đứng sau Brazil, Indonesia, Congo và Bolivia. Hiện nay, hầu hết diện tích đất bị phát quang để lấy đất trồng cỏ chăn nuôi bò đều thuộc về bang Queensland. Chính quyền bang Queensland tuyên bố sẽ nghiêm cấm việc phát quang cây cỏ trên quy mô lớn, nhưng cũng phải từ năm 2006 mới kiểm soát được hiện tượng này. Góp phần khiến chất lượng đất của Australia bị suy thoái còn do tình trạng đất đai khô cằn, muối hóa và xói mòn, chất lượng nước không tốt do bị nhiễm mặn và bùn đất lắng đọng, năng suất nông nghiệp và giá trị đất suy giảm và ảnh hưởng tới Dải đá ngầm Great Barrier. Tình trạng đốt cây cối hay để mặc chúng thối rữa làm tăng lượng khí nhà kính hằng năm của Australia và lượng khí thải này gần bằng tổng lượng khí thải từ các loại xe hơi trên cả nước.

Nguyên nhân thứ hai khiến đất bị suy thoái là tình trạng chăn thả cừu quá mức với tốc độ tàn phá thực vật nhanh hơn tốc độ tái sinh của chúng. Một số khu vực như ở quận Murchison của Tây Australia, chăn thả gia súc quá mức gây ra những tác hại lớn và không thể thay đổi được bởi nó khiến đất bị tổn hại. Hiện ảnh hưởng của tình trạng chăn thả quá mức đã được nhận thức rõ, nên chính quyền Australia đã quy định rõ ràng tỷ lệ chăn nuôi cừu tối đa, như nông dân chỉ được phép nuôi một số cừu nhất định trên mỗi mẫu đất thuê. Không như trước đây chính quyền chỉ quy định số lượng gia súc tối thiểu: nông dân có nghĩa vụ chăn nuôi số lượng cừu tối thiểu nhất định trên mỗi mẫu đất như một trong các điều kiện để được tiếp tục thuê đất. Cuối thế kỷ XIX, tổng số lượng cừu của Australia cao gấp ba lần so với mức được coi là hợp lý hiện nay, và thời điểm những năm 1890 thì lượng cừu cao gấp 10 lần mức được coi là hợp lý. Có nghĩa là, những cư dân đầu tiên đã khai thác triệt để những thảm cỏ mà không coi chúng là nguồn tài nguyên có tiềm năng tái sinh. Cũng giống như tình trạng phát quang đất đai, chính quyền hồi đó đã yêu cầu nông dân phải tàn phá đất đai và những người không phá đất đai thì bị hủy hợp đồng thuê đất.

Ba nguyên nhân khác khiến đất suy thoái đã được tôi đề cập ở trên. Thỏ phá hoại thực vật cũng không kém gì cừu, gây thiệt hại to lớn cho nông dân do làm giảm diện tích đồng cỏ để chăn nuôi cừu và gia súc, đồng thời cũng gây tốn kém nhiều bởi nông dân phải sử dụng nhiều biện pháp như xe ủi, thuốc nổ, xây dựng hàng rào, và phát tán vi rút gây bệnh để diệt thỏ. Chỉ trong vài năm đầu phát triển các hoạt động nông nghiệp, đất đai đã nhanh chóng bị bạc màu do hàm lượng chất dinh dưỡng ban đầu trong đất đai của Australia rất thấp. Tình trạng xói mòn lớp đất mặt do nước và gió càng tăng sau khi thảm thực vật bị tỉa mỏng hay bị tàn phá trơ trụi. Hậu quả là đất bị xói mòn xuống sông và biển, làm đục nước biển ven bờ, và đang phá hủy dần Dải đá ngầm Great Barrier, một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Australia (đó là chưa kể giá trị sinh học của nó và là nơi cư trú của các loài hải sản).

Thuật ngữ “hạn hán do con người gây ra” là chỉ một hình thức suy thoái đất đai thứ yếu do tình trạng phát quang đất đai, chăn thả cừu quá mức và thỏ hoang gây ra. Khi thảm thực vật bị gỡ bỏ bằng bất kỳ hình thức nào kể trên, diện tích đất trước đây có thảm thực vật che phủ giờ trơ trụi dưới ánh nắng mặt trời, nên khiến đất nóng hơn và khô hơn. Đó chính là hậu quả thứ cấp tạo ra các điều kiện khiến đất bị nóng và khô gây trở ngại cho thực vật phát triển, giống như những tác động từ hạn hán tự nhiên.

Cỏ dại, như đã thảo luận trong Chương 1 về Montana, được định nghĩa là những loài thực vật có giá trị thấp với nông dân, hoặc bởi cừu hay gia súc không thích ăn những loại cỏ này (hoặc hoàn toàn không ăn) so với những loài cỏ khác, hay bởi chúng cạnh tranh với những loại hoa màu hữu ích. Một số loài cỏ dại là những loại thực vật du nhập ngẫu nhiên từ nước ngoài; khoảng 15% là cố tình nhập nhưng lại sử dụng sai mục đích trong nông nghiệp, một phần ba số cỏ trang trí từ các vườn tược thoát ra môi trường hoang dã; và một số loài cỏ dại khác là cỏ bản địa của Australia. Bởi những loài vật ăn cỏ thích ăn một số loài thực vật nhất định nên cỏ dại càng phát triển mạnh và khiến những đồng cỏ dần dần chỉ còn những loài thực vật ít hữu dụng hay hoàn toàn vô dụng (trong một số trường hợp còn có hại cho động vật). Khả năng diệt trừ các loài cỏ dại cũng khác nhau: một số loại rất dễ nhổ và thay thế bằng những loài thực vật hay hoa màu có ích, nhưng một số loài cỏ khác lại rất khó diệt trừ và diệt trừ rất tốn kém một khi chúng đã phát triển tràn lan.

Hiện Australia có khoảng 3.000 loài thực vật bị coi là cỏ dại và gây thiệt hại kinh tế khoảng 2 tỷ đô-la mỗi năm. Một trong những loài cỏ dại độc hại nhất là Mimosa hiện đang đe dọa tấn công một khu vực đặc biệt giá trị là công viên Quốc gia Kakadu và Khu vực Di sản Thế giới. Loài cỏ này có gai và cao tới 6 mét, và sinh ra nhiều hạt tới mức chỉ trong vòng một năm nó có thể lan ra diện tích rộng gấp đôi. Một loài cây cao su dây leo còn tồi tệ hơn thế, chúng là loài cây bụi được du nhập từ Madagasca vào những năm 1870 để trang trí làm đẹp cho những thị trấn khai thác mỏ vùng Queensland. Nhưng khi thoát ra ngoài thiên nhiên hoang dã, chúng trở thành loài cây quái vật như trong phim khoa học viễn tưởng: không chỉ là loài cỏ độc mà gia súc không thể ăn được, loài này còn bóp chết những loài thực vật khác và mọc thành những đám dày không thể xuyên qua được, quả của nó còn có thể bị thổi xuống các dòng sông và trôi dạt tới những nơi rất xa, mỗi quả chứa tới 300 hạt và khi vỡ ra số hạt này còn tiếp tục được gió cuốn đi. Số hạt trong một quả đủ để gieo trên diện tích 2,5 mẫu.

Góp phần vào những chính sách sai lầm của chính quyền về phát quang đất đai và chăn thả cừu quá mức như đã được đề cập ở phần trước, còn có các chính sách của Hội đồng Lúa mì của chính phủ. Hội đồng này lạc quan dự đoán giá lúa mì thế giới sẽ tăng cao, nên khuyến khích nông dân vay vốn đầu tư các nông cụ để trồng lúa mì trên những mảnh đất không thích hợp với lúa mì. Sau khi đã đầu tư nhiều tiền bạc, nhiều nông dân nhận ra rằng đất đai của họ chỉ có thể trồng lúa mì trong thời gian vài năm, và khi đó giá lúa mì đã hạ.

Muối hóa là nguyên nhân cuối cùng khiến đất đai Australia bị suy thoái và là vấn đề phức tạp nhất, đòi hỏi phải giải thích kỹ lưỡng nhất. Như tôi đã đề cập rằng nhiều khu vực lớn của Australia bị nhiễm mặn, do gió thổi từ biển vào hoặc trước đây từng là vùng biển hay do những hồ nước bị khô cạn. Chỉ có rất ít loài thực vật có thể thích nghi với đất nhiễm mặn, còn đa phần, kể cả phần lớn các loại hoa màu của chúng ta, thì không thể trồng trên các mảnh đất này. Nếu muối nằm sâu hơn rễ cây thì không thành vấn đề. Nhưng có hai quá trình có thể khiến muối dâng lên mặt đất và gây ảnh hưởng tới cây trồng là: tình trạng muối hóa do tưới tiêu và muối hóa do đất khô cằn.

Muối hóa do tưới tiêu có nguy cơ tăng lên ở những khu vực hanh khô có lượng mưa quá thấp hay rất không ổn định cho nông nghiệp, và là nơi tưới tiêu đóng vai trò quan trọng như những vùng ở đông nam Australia. Nếu một nông dân “tưới tiêu nhỏ giọt”, ví dụ như lắp đặt một hệ thống cố định nước tưới tiêu nhỏ ở gốc mỗi cây ăn quả hay mỗi luống hoa màu và để nước nhỏ giọt đủ để rễ cây hay hoa màu hấp thụ, và chỉ có rất ít nước bị lãng phí thì sẽ không gây ra muối hóa. Nhưng nếu nông dân lại áp dụng một biện pháp phổ biến hơn là “tưới tiêu trên diện rộng” như phun nước tràn trề mặt đất hoặc sử dụng hệ thống máy phun để phân phối nước trên một diện tích rộng hơn thì sẽ khiến đất thấm đẫm nước, nhiều hơn cả khả năng hấp thụ nước của cây. Lượng nước thừa không được hấp thụ sẽ thấm sâu xuống lớp đất chứa muối, tạo ra một dải đất ướt liên tục mà lượng muối nằm sâu dưới đất theo đó có thể thấm hoặc dâng ngược lên trên mặt đất, sát với lớp rễ cây và kiềm chế hay cản trở sự sinh trưởng của những loại thực vật không thích nghi với đất nhiễm mặn, hoặc thấm sâu xuống mực nước ngầm và từ đó thoát ra sông. Về mặt này, những vấn đề về nước của Australia, mà chúng ta vẫn nghĩ rằng (và quả thực) là một lục địa khô cằn, không phải là những vấn đề phát sinh từ tình trạng khan hiếm nước, mà ngược lại là do quá nhiều nước: nước vẫn tương đối rẻ tiền và sẵn có để cho phép một số vùng có thể áp dụng biện pháp tưới tiêu trên diện rộng. Cụ thể hơn, nhiều vùng của Australia có đủ nước để tưới tiêu trên diện rộng, nhưng lại không đủ nước để rửa sạch lượng muối đã phát tán. Về mặt nguyên tắc, những vấn đề muối hóa do tưới tiêu có thể giảm nhẹ một phần bằng cách lắp đặt hệ thống tưới tiêu nhỏ giọt thay vì hệ thống tưới tiêu trên diện rộng.

Ngoài muối hóa do tưới tiêu còn tình trạng muối hóa những vùng đất khô cằn đang có nguy cơ gây ảnh hưởng tới những vùng có lượng mưa cung cấp đủ cho các hoạt động nông nghiệp. Nhất là những vùng của Tây Australia và Nam Australia với lượng mưa mùa đông ổn định (hoặc đã từng ổn định). Khi mặt đất những nơi này còn có thảm thực vật tự nhiên che phủ suốt cả năm, rễ các loài thực vật hút phần lớn lượng nước mưa rơi xuống nên chỉ còn rất ít nước mưa thấm qua đất xuống lớp muối nằm sâu dưới đất. Nhưng giả sử một nông dân dọn sạch lớp thực vật tự nhiên và trồng hoa màu lên đó, rồi sau khi thu hoạch hoa màu lại để mặt đất trơ trụi một khoảng thời gian trong năm. Khi đó mưa rơi xuống mặt đất trơ trụi và thấm xuống lớp muối nằm sâu dưới đất, khiến nó dâng lên mặt đất. Không như tình trạng muối hóa do tưới tiêu, muối hóa đất khô cằn rất khó khắc phục, tốn kém và hầu như không thể tái tạo lớp thực vật tự nhiên đã mất.

Muối bị phát tán, hoặc bởi muối hóa do tưới tiêu hoặc do đất đai khô cằn, ngấm vào nước ngầm và trở thành một dòng sông muối chảy ngầm dưới đất, một số vùng của Australia có hàm lượng muối cao gấp ba lần so với nước biển. Dòng sông muối ngầm này sẽ chảy xuống dưới hạ lưu giống như một dòng sông bình thường trên mặt đất, nhưng chậm hơn nhiều. Tất nhiên, nó có thể dồn xuống những vùng đất trũng bên dưới, tạo thành những hồ muối đậm đặc như tôi đã thấy ở Nam Australia. Nếu một nông dân ở vùng đất phía trên cao quản lý đất kém hiệu quả khiến đất bị muối hóa, thì lượng muối đó có thể ngấm dần xuống đất của những trang trại nằm bên dưới, kể cả khi những trang trại đó được quản lý tốt. Australia không có cơ chế cho phép chủ trang trại bên dưới kiện chủ trang trại bên trên khiến anh ta bị phá sản hay phải bồi thường. Một số dòng sông muối ngầm dưới đất không dồn vào những vùng đất trũng bên dưới mà ngấm vào dòng chảy của những dòng sông trên mặt đất, kể cả hệ thống sông lớn nhất Australia là Murray - Darling.

Tình trạng muối hóa gây thiệt hại tài chính lớn cho nền kinh tế Australia dưới ba hình thức. Thứ nhất, nó làm phần lớn diện tích đất canh tác, kể cả một số vùng đất giá trị nhất Australia, giảm năng suất hay thậm chí trở thành vô dụng mà không thể trồng trọt hoa màu hay chăn nuôi gia súc. Thứ hai, một lượng muối thấm vào các hệ thống cung cấp nước uống đô thị. Ví dụ, hai sông Murray và Darling cung cấp lần lượt 40% và 90% lượng nước uống cho Adelaide, thủ phủ của Nam Australia, nhưng lượng muối trong nước sông tăng lên có thể khiến nước sông không còn sử dụng được cho sinh hoạt của con người hay tưới tiêu, nếu không bỏ tiền để khử muối. Thậm chí thiệt hại nặng hơn hai vấn đề trên chính là những thiệt hại do muối ăn mòn hệ thống hạ tầng cơ sở, kể cả đường bộ, đường sắt, sân bay, cầu, các tòa nhà, đường ống dẫn nước, hệ thống nước nóng, hệ thống nước mưa, cống rãnh, các thiết bị công nghiệp và gia dụng, các đường dây điện và viễn thông, và các nhà máy xử lý nước. Nói chung, khoảng 1/3 thiệt hại kinh tế của Australia là do muối hóa và là những thiệt hại trực tiếp của nền nông nghiệp Australia; còn những thiệt hại gián tiếp “ngoài cổng trang trại” và dưới hạ lưu, gây thiệt hại cho hệ thống cấp nước và cơ sở hạ tầng của Australia, còn cao gấp đôi số đó.

Về quy mô của tình trạng muối hóa, hiện nó đã ảnh hưởng tới khoảng 9% tổng diện tích đất đã phát quang của Australia, theo đà này dự kiến diện tích đất bị muối hóa sẽ tăng lên khoảng 25%. Muối hóa hiện đang diễn ra đặc biệt nghiêm trọng tại các bang Tây Australia và Nam Australia; vành đai lúa mì trước kia của bang giờ bị coi là trường hợp muối hóa do đất khô cằn điển hình nhất thế giới. 90% thảm thực vật bản địa của nó đã bị phát trụi, chủ yếu diễn ra trong giai đoạn từ 1920 - 1980, nhằm thực hiện chương trình “Triệu mẫu mỗi năm” do chính quyền bang Tây Australia phát động trong những năm 1960. Không một diện tích đất tương đương nào trên thế giới mà thảm thực vật lại bị phá hủy nhanh tới vậy. Dự kiến trong vòng hai thập kỷ tới, 1/3 diện tích vành đai lúa mì sẽ bị muối hóa làm cho cằn cỗi.

Tổng diện tích đất bị muối hóa trên toàn Australia có nguy cơ lan rộng gấp sáu lần so với mức độ hiện tại, trong đó tăng gấp bốn lần ở bang Tây Australia, gấp bảy lần ở Queensland, gấp 10 lần ở bang Victoria và gấp 60 lần ở New South Wales. Ngoài vành đai lúa mì, một khu vực khác cũng đang bị muối hóa nghiêm trọng đó là lưu vực hệ thống sông Murray - Darling, cung cấp tới một nửa sản lượng lương thực của Australia nhưng hiện đang ngày càng bị muối hóa xuôi về hướng Adelaide bởi nước ngầm bị nhiễm mặn ngày càng xâm nhập nhiều vào lưu vực sông và ngày càng nhiều nước sông bị con người sinh sống dọc theo hai bên bờ sông khai thác để tưới tiêu. (Có những năm nước sông bị khai thác nhiều tới mức không chảy được ra biển). Lượng muối thấm vào hai sông Murray - Darling không chỉ do các hoạt động tưới tiêu xuôi theo hạ lưu của sông mà còn do tác động của hoạt động trồng bông trên quy mô công nghiệp ngày càng phát triển dọc theo thượng nguồn của hai sông ở Queensland và New South Wales. Ngành bông bị coi là ngành ảnh hưởng nhiều nhất tới việc quản lý nước và đất, bởi một mặt bông là một trong những loại hoa màu giá trị nhất Australia, sau lúa mì, nhưng mặt khác lượng muối bị phân tán và thuốc sâu sử dụng trong trồng bông tàn phá các hình thái nông nghiệp khác ở hạ lưu lưu vực hệ thống sông Murray - Darling.

Một khi đã xảy ra tình trạng muối hóa, thường rất khó khắc phục (nhất là trong trường hợp muối hóa do đất khô cằn), hoặc nếu khắc phục được thì sẽ cực kỳ tốn kém và mất một thời gian rất dài. Những dòng sông ngầm chảy rất chậm, nên một khi muối đã bị phát tán do quản lý đất đai kém thì phải mất tới 500 năm mới có thể rửa sạch lớp muối đó ra khỏi đất, thậm chí kể cả khi chuyển sang sử dụng biện pháp tưới tiêu nhỏ giọt suốt đêm và ngăn chặn muối tiếp tục phát tán.

Mặc dù những nguyên nhân khiến đất suy thoái là vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất của Australia, thì vẫn còn năm vấn đề môi trường nghiêm trọng khác đáng được điểm qua, đó là những vấn đề liên quan tới lâm nghiệp, hải sản, thủy sản, nước ngọt và những sinh vật ngoại lai.

Tách ra từ Nam cực, Australia là lục địa có diện tích rừng thấp nhất, chỉ khoảng 20% tổng diện tích lục địa. Nơi đây có lẽ đã từng có những cây gỗ cao nhất thế giới là cây tần bì núi Victoria hiện đã bị tuyệt chủng, có thể sánh ngang hoặc cao hơn cả cây tùng bách mọc trên bờ biển California. Tại thời điểm người châu Âu tới định cư ở Australia vào năm 1788, thì 40% rừng Australia đã bị phá trụi, 35% bị khai thác một phần và chỉ còn 25% nguyên vẹn. Tuy nhiên, việc khai thác gỗ ở phần diện tích rừng già còn lại này vẫn được tiếp tục và trở thành một ví dụ sinh động cho việc khai thác thiên nhiên của Australia.

Khai thác gỗ từ những khoảnh rừng còn lại của Australia mang lại giá trị xuất khẩu rất lớn, ngoài việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa. Trong số những sản phẩm lâm nghiệp xuất khẩu, một nửa không phải là dưới dạng gỗ hay nguyên liệu thành phẩm mà được chế biến thành những tấm ván gỗ xuất khẩu chủ yếu sang Nhật Bản để sản xuất giấy và các sản phẩm khác, đáp ứng tới 1/4 nguyên liệu ngành giấy Nhật Bản. Mặc dù giá xuất khẩu ván gỗ sang Nhật Bản giảm 7 đô-la/tấn, nhưng giấy thành phẩm bán ở Nhật Bản với giá 1.000 đô-la/tấn, như vậy hầu hết toàn bộ giá trị gia tăng của gỗ sau khi bị chặt đều dồn về Nhật Bản chứ không phải là về Australia. Đồng thời với việc xuất khẩu ván gỗ, Australia nhập khẩu lượng sản phẩm từ lâm nghiệp gần gấp ba lần lượng xuất khẩu của mình, trong đó hơn một nửa là giấy và các sản phẩm các tông.

Bởi vậy, buôn bán các sản phẩm lâm nghiệp của Australia mang tính hai mặt. Một mặt, Australia, một trong những nước Thế giới thứ nhất có diện tích rừng thấp nhất, vẫn tiếp tục khai thác những cánh rừng đang ngày càng bị thu hẹp để xuất khẩu sang Nhật Bản - cũng là một nước Thế giới thứ nhất có diện tích rừng che phủ tới 74% lãnh thổ và vẫn không ngừng tăng lên. Mặt khác, các sản phẩm lâm nghiệp của Australia được xuất dưới dạng nguyên liệu thô với giá thấp, và được chế biến thành sản phẩm ở một nước khác với giá cao hơn, có giá trị gia tăng cao, rồi sau đó lại nhập khẩu những thành phẩm này. Có thể dễ dàng nhận thấy sự mất cân đối này không chỉ diễn ra trong quan hệ thương mại giữa hai nước Thế giới thứ nhất, mà còn diễn ra cả với những nước phi công nghiệp thuộc Thế giới thứ ba với nền kinh tế lạc hậu. Các nước Thế giới thứ ba luôn khờ khạo trước một nước khôn ngoan thuộc Thế giới thứ nhất khi đàm phán về vấn đề khai thác tài nguyên của các nước Thế giới thứ ba, để họ mua rẻ những nguyên liệu thô, mang về nước gia tăng giá trị cho sản phẩm và lại xuất khẩu những thành phẩm đắt đỏ ngược lại nước xuất khẩu. (Nhật Bản là nhà xuất khẩu lớn vào thị trường Australia các mặt hàng giá trị cao như xe hơi, thiết bị viễn thông, linh kiện máy tính trong khi than và khoáng sản là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Australia sang Nhật Bản). Rõ ràng Australia đang phung phí nguồn tài nguyên giá trị của mình để đổi lấy một số tiền ít ỏi.

Việc tiếp tục khai thác gỗ của những cánh rừng già đang làm bùng lên một trong những cuộc tranh luận về vấn đề môi trường sôi nổi nhất Australia hiện nay. Phần lớn hoạt động khai thác gỗ diễn ra ở bang Tasmania và đây cũng là nơi có cuộc tranh luận sôi sục nhất. Tasmania có những cây tần bì núi cao tới 92,6 mét, một trong những loại cây cao nhất thế giới ngoài California, và hiện Tasmania đang khai thác gỗ với tốc độ nhanh nhất từ trước tới nay. Cả các đảng phái chính trị lớn của Australia, cả ở cấp bang và liên bang, đều ủng hộ việc tiếp tục khai thác gỗ từ những cánh rừng già ở Tasmania. Có lẽ bởi thực tế rằng sau khi đảng Quốc gia tuyên bố ủng hộ mạnh mẽ hoạt động khai thác rừng Tasmania vào năm 1995, thì đảng này đã nhận được những khoản tiền tài trợ lớn từ ba công ty khai thác gỗ.

Ngoài việc khai thác những cánh rừng già, Australia còn trồng rừng, cả những loài cây bản địa và ngoại lai. Với tất cả những lý do đã đề cập bên trên như độ màu của đất thấp, lượng mưa thấp và không ổn định khiến tốc độ tăng trưởng của cây thấp, nên trồng rừng ở Australia có chi phí cao hơn nhưng lợi nhuận lại thấp hơn rất nhiều so với 12 trong số 13 nước cạnh tranh gay gắt với Australia. Thậm chí ngay cả loại cây gỗ có giá trị thương mại lớn nhất của Australia là cây bạch đàn xanh Tasmania, khi trồng ở nước ngoài cũng lớn nhanh hơn và mang lại lợi nhuận cao hơn cả khi trồng ngay ở Tasmania (như ở các nước Brazil, Chile, Bồ Đào nha, Nam Phi, Tây Ban Nha và Việt Nam).

Việc khai thác các nguồn hải sản của Australia cũng tương tự như khai thác rừng. Về cơ bản, những cây gỗ cao và đồng cỏ tươi tốt của Australia khiến những người châu Âu đầu tiên di cư tới đây nhầm tưởng rằng đây là vùng đất có tiềm năng sản xuất lương thực cao. Theo thuật ngữ chuyên môn của các nhà sinh thái học, đất đai nuôi dưỡng được toàn bộ sinh vật ở thời điểm đó, nhưng với năng suất thấp. Thực tế này cũng diễn ra với các đại dương kém năng suất của Australia, bởi phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng thoát ra từ chính vùng đất kém năng suất đó, và bởi ven bờ của Australia không có những vùng nước lạnh giàu chất dinh dưỡng như dòng hải lưu Humboldt ngoài khơi Nam Mỹ. Các loài hải sản của Australia cũng có xu hướng tăng trưởng chậm, nên rất dễ bị khai thác quá mức. Ví dụ, chỉ trong vòng hai thập kỷ qua, nhu cầu tiêu thụ cá nhám vàng (Orange Roughy) của thế giới tăng đột biến, loại cá này chỉ có ở vùng biển của Australia và New Zealand, tạo điều kiện cho ngành đánh bắt cá thu lợi trong một thời gian ngắn. Đáng tiếc là, một nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy cá nhám vàng tăng trưởng rất chậm, phải tới 40 tuổi mới bắt đầu sinh sản và những con bị đánh bắt và tiêu thụ thường là loại đã 100 tuổi. Bởi vậy tốc độ sinh sản của cá nhám vàng không thể đủ nhanh để bù đắp cho số cá trưởng thành đã bị ngư dân đánh bắt, đó là lý do khiến ngành đánh bắt loại cá này hiện đã ngừng hoạt động.

Người Australia có truyền thống đánh bắt hải sản quá mức: Họ chỉ chú trọng khai thác một loại hải sản cho tới khi cạn kiệt tới mức không còn giá trị kinh tế, sau đó đi tìm loại hải sản mới và lại chuyển sang đánh bắt loại hải sản này cho tới khi cạn kiệt trong thời gian ngắn, giống như một cơn sốt đào vàng. Sau khi phát hiện một nguồn hải sản mới, lẽ ra các nhà sinh học biển phải tiến hành một nghiên cứu khoa học nhằm xác định tỷ lệ khai thác tối đa hợp lý, nhưng trước khi nghiên cứu được hoàn tất thì loài hải sản này đã bị rơi vào tình trạng cạn kiệt. Những loài hải sản là nạn nhân của tình trạng đánh bắt cá quá mức của Australia ngoài cá nhám vàng còn bao gồm cá hồi san hô, cá ngọc miền đông (Eastern Gemfish), tôm hổ vịnh Exmouth, cá mập đàn, cá ngừ vây xanh miền nam và cá chai hổ. Chỉ có loài tôm hùm đá Tây Australia là hải sản duy nhất được khai thác ở mức hợp lý, hiện đây là loài hải sản xuất khẩu giá trị nhất của Australia và được Hội đồng Quản lý Hải dương đánh giá độc lập rằng đang phát triển tốt (sẽ được thảo luận trong Chương 15).

Cũng như các loài hải sản, thủy sản nước ngọt của Australia cũng bị hạn chế bởi năng suất thấp do ít chất dinh dưỡng thoát ra từ vùng đất kém năng suất. Cũng như ngành hải sản, ngành thủy sản nước ngọt cũng nhầm lẫn khi thấy số lượng thủy sản ban đầu rất dồi dào nhưng thực tế tốc độ tăng trưởng rất chậm. Cá tuyết Murray, loài cá nước ngọt lớn nhất của Australia dài tới gần một mét và chỉ có trong hệ thống sông Murray - Darling, là một ví dụ điển hình. Đây là loại cá rất tốt cho sức khỏe con người, có giá trị cao và trước đây có rất nhiều tới mức được đánh bắt và vận chuyển bằng xe tải tới các khu chợ. Nhưng giờ đây hoạt động đánh bắt cá tuyết Murray đã phải ngừng lại do sản lượng cá giảm sút và trở nên hiếm hoi. Một trong những nguyên nhân khiến số lượng loài cá này bị giảm sút bởi các lý do như tốc độ đánh bắt cao hơn tốc độ sinh sản của chúng, giống như trường hợp cá nhám vàng; do tác động của giống cá chép du nhập khiến nước sông đục hơn và một số con đập được xây dựng trên sông Murray vào những năm 1930 tác động tiêu cực tới khả năng sinh sản của cá, làm giảm nhiệt độ nước (bởi những nhà quản lý đập thường xả nước lạnh ở đáy đập, quá lạnh để cá có thể sinh sản như trong điều kiện nước ấm ở bề mặt, chứ không phải là nước mặt ấm áp), và một dòng sông trước đây thường xuyên nhận được các loại chất dinh dưỡng từ những trận lụt mang lại, giờ bị nắn dòng thành những khúc sông ít được bổ sung các chất dinh dưỡng mới.

Ngày nay, thu nhập tài chính từ các loài cá nước ngọt của Australia là không đáng kể. Như tất cả các loài cá nước ngọt của bang Nam Australia mới mang lại doanh thu chỉ 450.000 đô-la mỗi năm, chia cho 30 người làm nghề đánh cá như một nghề phụ. Việc quản lý hợp lý cá tuyết và cá vược vàng, một loài cá cũng rất giá trị trên sông Murray - Darling, chắc chắn mang lại lợi nhuận lớn hơn nhiều lần, nhưng không rõ liệu Australia có khắc phục được những điều kiện gây hại cho các loài cá trên sông Murray - Darling hay không.

Còn về nguồn nước ngọt, Australia là lục địa hiếm nước ngọt nhất thế giới. Đa phần những nguồn nước ngọt ít ỏi có thể tiếp cận ở các khu dân cư đã được sử dụng để sinh hoạt hay tưới tiêu. Thậm chí hàng năm, con người khai thác tới hai phần ba lượng nước của hai dòng sông lớn nhất nước là sông Murray - Darling, thậm chí một số năm còn khai thác cạn nguồn nước của hai sông này. Các nguồn nước ngọt chưa được khai thác chủ yếu là những dòng sông ở miền bắc xa xôi, xa những khu dân cư và những vùng đất nông nghiệp tới mức không thể khai thác được chúng. Khi dân số Australia tăng lên và những nguồn nước ngọt chưa được sử dụng bị thoái hóa, thì một số khu vực dân cư sẽ buộc phải chuyển sang sử dụng biện pháp khử muối rất tốn kém cho các nguồn nước ngọt của mình. Hiện đã có một nhà máy khử muối được xây dựng tại đảo Kangaroo, và sẽ sớm có thêm một nhà máy mới được xây dựng trên bán đảo Eyre.

Trước đây Australia thực hiện một số dự án rất tốn kém nhằm thay đổi những dòng sông chưa được sử dụng, nhưng đều bị thất bại. Ví dụ, những năm 1930 đã có dự án xây dựng hàng chục chiếc đập dọc theo sông Murray để tăng cường vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy, và khoảng một nửa số đập dự kiến này đã được Tập đoàn Cơ khí Quân đội Mỹ xây dựng trước khi dự án bị hủy bỏ. Hiện trên sông Murray không có hoạt động vận chuyển hàng hóa thương mại nào, nhưng sự tồn tại của những chiếc đập đã góp phần khiến ngành đánh bắt cá tuyết Murray sụp đổ, như đã trình bày ở trên. Một trong những thất bại tốn kém nhất là Kế hoạch sông Ord, dự kiến ngăn một con sông ở một vùng dân cư thưa thớt và xa xôi ở Tây Bắc Australia để lấy nước tưới cho vùng canh tác lúa mạch, ngô, bông, cây rum, đỗ tương và lúa mì. Hậu quả là chỉ có bông phát triển trên quy mô nhỏ và sau 10 năm, dự án đã thất bại hoàn toàn. Hiện nơi đây đang sản xuất đường và dưa, nhưng lợi nhuận ít ỏi của nó thì không thể bù đắp nổi khoản chi phí khổng lồ cho dự án.

Ngoài những vấn đề về lượng nước, khả năng tiếp cận và sử dụng các nguồn nước thì chất lượng nước cũng là vấn đề rất đáng chú ý. Những dòng sông đang được sử dụng có chứa chất độc, thuốc trừ sâu hay muối thoát từ thượng lưu xuống tới tận những nguồn nước sinh hoạt của đô thị và tưới tiêu cho nông nghiệp ở hạ lưu. Những ví dụ mà tôi đã đề cập là muối và các hóa chất sử dụng trong nông nghiệp từ sông Murray, nguồn cung cấp phần lớn nước sinh hoạt cho Adelaide, và thuốc trừ sâu từ những cánh đồng bông của bang New South Wales và Queensland đã hủy hoại những nỗ lực trồng lúa mì và nuôi bò sạch ở các vùng bên dưới.

Một phần bởi môi trường Australia có ít loài động vật bản địa hơn so với những lục địa khác, nên nó rất nhạy cảm trước những sinh vật xâm hại từ nước ngoài du nhập cố ý hay vô tình, khiến các loài động, thực vật bản địa bị suy yếu hay hủy diệt do không có khả năng miễn dịch trước những sinh vật ngoại lai này. Những minh chứng nổi tiếng mà tôi đã từng đề cập đó là thỏ, chúng ngốn tới một nửa số cỏ lẽ ra dành để chăn nuôi cừu và gia súc; cáo chuyên săn bắt và tiêu diệt nhiều loài thú bản địa có vú; và vài ngàn loài cỏ dại làm biến đổi môi trường sống, lấn át những loài thực vật bản địa, làm giảm sút chất lượng các đồng cỏ và đôi khi đầu độc cả những loài gia súc; cùng với cá chép làm hỏng chất lượng nước sông Murray - Darling.

Thêm một vài câu chuyện rùng rợn khác liên quan tới những loài sinh vật hại ngoại lai đáng được đề cập ngắn gọn. Các loài vật bản địa như trâu, lạc đà, lừa, dê và ngựa đã giẫm nát các loài thực vật, gặm những chồi non của cây cối và phá hoại phần lớn các môi trường sống. Hàng trăm loài côn trùng xâm hại dễ dàng thích nghi trong điều kiện khí hậu của Australia so với những nước ôn đới có mùa đông lạnh giá. Trong số đó nhặng, ve và tíc đặc biệt gây hại cho gia súc và đồng cỏ, trong khi sâu bướm, ruồi giấm và nhiều loài khác đang tàn phá hoa màu. Loài cóc mía được du nhập năm 1935 để khống chế hai loại côn trùng gây hại cho mía, không những không khống chế được mà giống cóc này còn trở thành địch hại lan tràn trên diện tích tới 259.000 kilômét vuông, ngoài ra chúng có tuổi thọ tới 20 năm và mỗi con cái có thể đẻ 30.000 trứng mỗi năm. Giống cóc này mang trong mình độc tố khiến không loài động vật bản địa nào của Australia có thể ăn chúng và việc nhập khẩu loài cóc này bị đánh giá là một trong những sai lầm nghiêm trọng nhất trong việc du nhập những loài kiểm soát sinh vật gây hại.

Cuối cùng, vị trí của Australia biệt lập do bị các đại dương bao quanh, bởi vậy chủ yếu phải dựa vào vận tải đường biển từ nước ngoài, dẫn tới nhiều loài sinh vật hại từ biển du nhập vào Australia qua nước và các vật liệu dằn tàu, hay bám trên thân tàu hoặc lẫn trong những nguyên liệu nhập khẩu cho nuôi trồng thủy sản. Trong số những sinh vật biển xâm hại đó có sứa lược, cua, trùng roi, loài giáp xác, giun và một loài sao biển Nhật Bản đã tiêu diệt loài cá đốm vây chân bản địa, chỉ có ở đông nam Australia. Nhiều loài sinh vật hại không chỉ gây thiệt hại lớn mà còn khiến chính quyền Australia hằng năm phải chi một khoản tiền không nhỏ để kiểm soát chúng: Hằng năm Australia phải tốn tới vài trăm triệu đô-la để kiểm soát lũ thỏ, khoảng 600 triệu đô-la để kiểm soát lũ ruồi và tíc tấn công gia súc, 200 triệu đô-la để kiểm soát ve trên các đồng cỏ, 2,5 tỷ đô-la để kiểm soát các loại côn trùng khác, hơn 3 tỷ đô-la để kiểm soát cỏ dại và còn nhiều loài khác.

Môi trường Australia cực kỳ dễ tổn hại theo nhiều cách, nên phải gánh chịu những tổn thất kinh tế lớn. Một số tổn thất đó xuất phát từ những tổn hại môi trường trước đây mà giờ vẫn không thể khắc phục được, như một số hình thái suy thoái đất đai và sự tuyệt chủng của một số loài sinh vật bản địa (gần đây tốc độ tuyệt chủng của sinh vật của Australia khá cao so với các lục địa khác). Hầu hết những hình thức gây tổn hại môi trường hiện vẫn còn tiếp diễn, hay thậm chí còn phát triển mạnh như tình trạng khai thác gỗ từ những cánh rừng già ở Tasmania. Một số quá trình gây hại giờ không thể ngăn chặn được do đã diễn ra quá lâu, như tác động từ các dòng nước ngầm nhiễm muối chảy chầm chậm xuống dưới hạ lưu và sẽ còn tiếp tục lan tràn trong hàng thế kỷ. Nhiều quan điểm văn hóa của Australia, cũng như những chính sách của chính phủ, trước đây đã từng gây ra những thiệt hại và hiện vẫn tiếp tục gây thiệt hại. Ví dụ, trong số những trở ngại về mặt chính trị để thay đổi các chính sách quản lý nước có những trở ngại xuất phát từ thị trường “giấy phép sử dụng nước” (các quyền khai thác nước cho tưới tiêu). Người mua được các loại giấy phép này có thể thấy rằng họ thực tế sở hữu lượng nước mà họ đã phải trả một khoản tiền đắt đỏ để được phép khai thác, mặc dù không phải tất cả số giấy phép này đều được sử dụng hết, bởi tổng lượng nước cấp cho tất cả số giấy phép này có thể vượt quá trữ lượng nước sẵn có trong một năm bình thường.

Với những người trong chúng ta nghiêng về chủ nghĩa bi quan hay thậm chí có những ý nghĩ thực tế, thì tất cả những sự việc kể trên cho phép chúng ta đặt câu hỏi liệu trong tương lai, tiêu chuẩn sống của người dân Australia có bị suy giảm do môi trường đang suy thoái nhanh chóng như vậy không. Đó là một kịch bản hoàn toàn thực tế đối với tương lai của Australia - có nhiều khả năng xảy ra đối với Australia hơn so với hai kịch bản. Hoặc sẽ phải chịu chung số phận như đảo Phục Sinh - nghĩa là Australia sẽ rơi vào tình trạng bùng nổ dân số và hệ thống chính trị sụp đổ như phe ủng hộ thuyết Ngày tận thế đã dự báo; hoặc tốc độ tăng tiêu dùng và tăng trưởng dân số hiện tại vẫn không ngừng tăng lên một cách vô tư như nhiều thương gia và chính trị gia hàng đầu của Australia đã dự đoán. Hai kịch bản sau có vẻ không hợp lý và kịch bản đầu tiên nghe có vẻ thực tế hơn, nó cũng có thể xảy ra đối với bất kỳ nước nào khác trong Thế giới thứ nhất, chỉ có một điều khác là Australia sẽ rơi vào kịch bản đầu tiên nhanh hơn.

May mắn là vẫn còn những tín hiệu của hy vọng. Đó là những thay đổi quan điểm, lối tư duy của nông dân Australia, những sáng kiến cá nhân và chính phủ bắt đầu áp dụng những chính sách triệt để. Tất cả những thay đổi tư tưởng này minh họa cho một chủ đề mà chúng ta đã gặp trong Chương 8 về người Norse ở Greenland, và chúng ta sẽ còn trở lại ở Chương 14 và 16, đó là: những thách thức trong việc quyết định những giá trị cốt yếu nào gắn bó chặt chẽ và cần thiết cho sự tồn tại của xã hội ngày nay cần được giữ lại, và những giá trị nào cần phải từ bỏ.

Cách đây 40 năm, lần đầu tiên tới thăm Australia, tôi thấy nhiều chủ đất ở đây phản ứng mãnh liệt trước những lời chỉ trích rằng họ đang tàn phá đất đai dành cho các thế hệ tương lai hay gây thiệt hại cho những người khác, bằng câu trả lời: “Đó là đất đai của tôi và tôi muốn làm gì thì làm”. Giờ đây vẫn có thể nghe thấy những câu trả lời thiếu trách nhiệm như vậy nhưng đã ít đi nhiều và ít được người khác hưởng ứng. Mặc dù cách đây vài thập kỷ, chính phủ chỉ vấp phải một vài phản ứng nho nhỏ khi thực thi những quy định có hại tới môi trường (như yêu cầu phát quang đất đai chẳng hạn) và thông qua những kế hoạch gây tổn hại tới môi trường (như xây dựng những chiếc đập trên sông Murray và Kế hoạch khai thác sông Ord), thì công luận Australia hiện nay, cũng giống như công luận châu Âu, Bắc Mỹ và những khu vực khác, đang ngày càng lên tiếng tham gia nhiều ý kiến về các vấn đề môi trường. Công luận đặc biệt phản đối việc phát quang đất đai, khai thác các dòng sông và khai thác gỗ từ rừng già. Khi tôi viết những dòng này, ý kiến của công luận đã buộc chính quyền bang Nam Australia phải ban hành một loại thuế mới (dù phải vi phạm lời hứa khi bầu cử) nhằm tìm kiếm một khoản kinh phí 300 triệu đô-la để khắc phục những tổn hại của sông Murray; chính quyền bang Tây Australia cũng thúc đẩy việc nghiêm cấm khai thác gỗ từ những cánh rừng già; chính quyền bang New South Wales và các nông dân đạt được thỏa thuận về việc thực hiện một kế hoạch trị giá 406 triệu đô-la để tổ chức quản lý nguồn tài nguyên tốt hơn và ngừng hoạt động phát quang đất đai trên quy mô lớn; và chính quyền bang Queensland, từng được coi là bang bảo thủ nhất Australia, thông báo về một đề án chung giữa chính quyền bang và chính quyền liên bang nhằm chấm dứt việc phát quang những khu đất hoang trên quy mô lớn vào năm 2006. Cách đây 40 năm, khó có thể tưởng tượng ra một ngày nào đó những biện pháp này lại được thực thi trên lãnh thổ Australia.

Những tín hiệu mang lại hy vọng còn bao gồm những thay đổi về quan điểm bầu cử của công chúng, từ đó làm thay đổi những chính sách của Chính phủ. Một tín hiệu đáng hy vọng khác là nhận thức của nông dân cũng đã thay đổi, họ ngày càng nhận ra rằng những phương pháp canh tác trước đây không bền vững và không cho phép họ chuyển giao đất canh tác trong điều kiện tốt cho các thế hệ tương lai. Viễn cảnh đó làm đau lòng những nông dân Australia, bởi (cũng giống như những nông dân Montana mà tôi từng phỏng vấn trong Chương 1), họ yêu lối sống dân dã hơn là đánh đổi những lợi nhuận tài chính, điều đó khiến họ tiếp tục làm việc vất vả trên những cánh đồng. Điển hình của những thay đổi tư tưởng đó là cuộc trò chuyện giữa tôi và ông Bil McIntosh, một nông dân chăn cừu mà tôi đã kể rằng ông lập bản đồ, san ủi và dùng thuốc nổ đánh sập những hang thỏ trong trang trại của gia đình được xây dựng từ năm 1879. Ông cho tôi xem những tấm hình của cùng một ngọn đồi được chụp năm 1937 và 1999 cho thấy những thay đổi mạnh mẽ từ một thảm thực vật lơ thơ năm 1937 do chăn thả cừu quá mức và thảm thực vật đã được khôi phục sau này. Trong số những biện pháp để ông duy trì sự tồn tại của trang trại là việc chăn nuôi cừu với số lượng thấp hơn mức tối đa chính phủ cho phép, và chuyển số cừu có năng suất len thấp sang làm cừu thịt (bởi chúng không đòi hỏi nhiều công chăm sóc và tốn ít đất hơn). Để đối phó với vấn đề cỏ dại và ngăn chặn những loài thực vật gia súc khó ăn xâm lấn các đồng cỏ, ông sử dụng một phương pháp gọi là “chăn thả theo từng ô”, có nghĩa là không để cừu chỉ ăn những loài thực vật chúng ưa thích rồi sau đó di chuyển tới các đồng cỏ tiếp theo, mà chúng chỉ được thả trên cùng một đồng cỏ và buộc phải ăn cả những loài thực vật dễ ăn và khó ăn. Một điều khiến tôi ngạc nhiên là ông đã giảm tối đa chi phí hoạt động và quản lý toàn bộ trang trại mà không cần phải thuê một lao động toàn thời gian nào, ngoài bản thân ông. Ông cưỡi môtô chăn đàn cừu vài ngàn con, mang theo ống nhòm, radio và đàn chó chăn cừu. Đồng thời, bằng cách này hay cách khác, ông còn cố kiếm thêm những nguồn thu nhập khác, như cho du khách ngủ trọ và phục vụ bữa sáng cho họ, bởi ông thấy rằng về lâu dài, chỉ làm nông nghiệp không sẽ khó thu đủ lợi nhuận cần thiết để duy trì hoạt động của trang trại.

Những áp lực khác đối với nông dân, cùng với những thay đổi chính sách quản lý gần đây, đang làm giảm số lượng gia súc và cải thiện điều kiện của đồng cỏ. Trong vùng đất nội địa của bang Nam Australia, nơi những vùng đất thích hợp cho nông nghiệp thuộc quyền sở hữu của chính quyền và nông dân được thuê lại trong thời hạn 42 năm, một cơ quan mang tên Ủy ban Đồng cỏ cứ mỗi 14 năm lại tiến hành đánh giá lại điều kiện của đất đai, cắt giảm số lượng gia súc được phép chăn thả nếu điều kiện thực vật không được cải thiện, và thu hồi đất đai nếu thấy rằng nông dân hay tá điền không quản lý đất đai một cách hợp lý. Với những khu đất gần bờ biển thì nông dân được toàn quyền sử dụng hay cho thuê vĩnh viễn, nên chính quyền không kiểm soát trực tiếp nhưng vẫn kiểm soát gián tiếp bằng hai cách. Thứ nhất, theo quy định của pháp luật, chủ đất hay người thuê đất vẫn phải có “nghĩa vụ chăm sóc” nhằm ngăn chặn tình trạng suy thoái đất. Giai đoạn đầu tiên thực hiện nghĩa vụ này có sự giám sát của các hội đồng nông dân đối với tình trạng suy thoái của đất và gây áp lực buộc chủ đất phải tuân thủ những quy định cần thiết bảo vệ đất. Giai đoạn thứ hai phụ thuộc vào người giám sát đất đai, viên chức này có quyền can thiệp nếu các hội đồng địa phương hoạt động không hiệu quả. Bill McIntosh cho tôi biết đã có bốn trường hợp mà hội đồng địa phương và người giám sát đất đai trong khu vực ông ở đã ra lệnh cho nông dân giảm số lượng cừu chăn thả, mà thực tế là tịch thu tài sản khi những nông dân đó không tuân thủ yêu cầu của chính quyền.

Trong số nhiều sáng kiến cá nhân của Australia để đối phó với những vấn đề môi trường, tôi đã tận mắt chứng kiến một vài sáng kiến khi đi thăm một trang trại trước đây chăn nuôi cừu với diện tích khoảng 2.590 kilômét vuông gần sông Murray, đó là trại Calperum. Trại này được cho thuê để chăn thả gia súc lần đầu tiên vào năm 1851, và lập tức trở thành nạn nhân của toàn bộ những vấn đề môi trường của Australia: phá rừng, cáo, phát quang đất đai bằng dây xích và lửa, tưới tiêu quá mức, chăn thả gia súc quá mức, thỏ hoang, muối hóa, cỏ dại, xói mòn đất do gió và v.v. Năm 1993, trang trại này được chính quyền liên bang Australia và Hiệp hội Động vật học Chicago mua lại, hiệp hội này mặc dù có trụ sở ở Mỹ nhưng lại bị thu hút bởi những nỗ lực tiên phong của Australia trong việc phát triển các vùng đất có hệ sinh thái bền vững. Nhiều năm sau khi mua lại trang trại này, chính quyền đã cố gắng áp dụng phương pháp kiểm soát từ trên xuống dưới, và ban hành các mệnh lệnh quản lý tới những người tình nguyện ở địa phương, nên càng khiến họ không hài lòng. Mãi tới năm 1998, quyền kiểm soát trang trại này mới được trao cho Quỹ Thiên nhiên Australia, một quỹ tư nhân, để họ huy động 400 người tình nguyện địa phương và áp dụng phương pháp quản lý cộng đồng từ dưới lên trên. Quỹ này được tổ chức từ thiện tư nhân lớn nhất Australia là Potter Foundation tài trợ, một tổ chức rất quan tâm tới việc khôi phục chất lượng những vùng đất canh tác của Australia đã bị suy thoái.

Dưới sự quản lý của quỹ này, những người tình nguyện địa phương tại Calperum xả thân thực hiện tất cả những dự án mang lại những lợi ích rõ ràng cho mỗi người tình nguyện. Qua việc tuyển dụng những người tình nguyện, sáng kiến cá nhân này đã đạt được những mục tiêu lớn hơn rất nhiều so với nguồn ngân sách hạn hẹp của chính phủ. Những người tình nguyện được huấn luyện tại Calperum, sau đó sử dụng những kỹ năng đó để tiếp tục thực hiện những dự án bảo tồn ở những nơi khác. Trong số những dự án mà tôi đã chứng kiến, có người tình nguyện dành cả cuộc đời để hồi phục một loài chuột túi nhỏ bé đang gặp nguy hiểm; người khác lại đam mê bẫy cáo, một trong những loài vật du nhập gây thiệt hại nghiêm trọng nhất; và còn những người khác tình nguyện săn đuổi loài thỏ đang phá hoại ở khắp nơi, tìm cách kiểm soát loài cá chép du nhập trên sông Murray, hoàn thiện chiến lược kiểm soát côn trùng độc hại trên cam quít mà không phải dùng tới hóa chất, phục hồi các hồ đã bị khô cằn, phủ xanh những vùng đất trơ trụi, phát triển các thị trường để trồng trọt và bán những loài hoa dại bản địa cùng những loài thực vật có tác dụng kiểm soát xói mòn đất. Những nỗ lực này đáng được thưởng bởi tính sáng tạo và sự nhiệt tình. Thật vậy, hàng chục ngàn những sáng kiến cá nhân như vậy đang được áp dụng trên khắp Australia: như một tổ chức khác cũng đang phát triển tiểu phần Landcare (Chăm sóc đất đai) nằm trong Kế hoạch Đất canh tác Potter cũng của tổ chức từ thiện Potter, nhằm hỗ trợ 15.000 nông dân trang bị những kiến thức để nâng cao chất lượng đất dành cho đời con cháu sau này.

Bên cạnh những sáng kiến cá nhân đầy sáng tạo này là những sáng kiến của chính phủ, bao gồm cả việc thay đổi triệt để tư duy về nông nghiệp Australia, do nhận thức ngày càng cao về mức độ nghiêm trọng của các vấn đề mà Australia đang phải đối mặt. Vẫn còn quá sớm để phỏng đoán rằng liệu những kế hoạch triệt để này có được chấp nhận hay không, nhưng thực tế những nhân viên ăn lương của chính phủ đang được phép và thậm chí còn được trả tiền để phát triển các kế hoạch này cũng là một điều rất đáng chú ý. Những đề xuất bảo vệ và cải tạo môi trường này không phải xuất phát từ những nhà môi trường yêu quý các loài chim mà do chính những nhà kinh tế cứng rắn nêu ra, những người luôn tự hỏi mình: liệu Australia có thể phát triển kinh tế tốt hơn mà không cần nhiều doanh nghiệp nông nghiệp như hiện nay không?

Cơ sở để thay đổi lối tư duy này chính là sự nhận thức rằng chỉ một phần nhỏ diện tích đất của Australia hiện đang được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp là có năng suất và thích hợp để duy trì hoạt động sản xuất nông nghiệp lâu dài. Trong khi 60% diện tích đất của Australia và 80% lượng nước con người sử dụng là dành cho nông nghiệp, giá trị của hoạt động nông nghiệp so với với các lĩnh vực kinh tế khác của Australia đang dần thu hẹp lại tới mức hiện chỉ đóng góp chưa tới 3% tổng sản phẩm quốc gia (GNP). Trong khi Australia phải dành một diện tích lớn đất đai và những nguồn nước quý hiếm cho một hoạt động sản xuất chỉ mang lại những giá trị kinh tế thấp như vậy. Hơn nữa, rất đáng ngạc nhiên khi nhận ra một điều rằng hơn 99% diện tích đất nông nghiệp đó chỉ đóng góp rất ít hoặc dường như không có đóng góp gì tích cực cho nền kinh tế Australia. Hóa ra chỉ chưa tới 0,8% diện tích đất nông nghiệp đã mang lại gần 80% lợi tức của toàn bộ nền nông nghiệp Australia, hầu như tất cả đều ở góc phía đông nam và phía đông Queensland. Đó là vài khu vực có điều kiện thuận lợi bởi núi lửa hay hiện tượng mặt đất dâng cao gần đây, lượng mưa ổn định vào mùa đông hay có cả hai hiện tượng này. Đa phần hoạt động nông nghiệp còn lại của Australia có tác dụng như một hoạt động khai thác không làm cho Australia giàu thêm mà chỉ đơn giản là chuyển nguồn vốn môi trường là đất và thảm thực vật bản địa thành tiền mặt mà không còn cách nào khác, với sự hỗ trợ từ những hình thức trợ cấp gián tiếp của Chính phủ dưới dạng như chi phí sử dụng nước thấp hơn so với giá trị thực tế, giảm thuế, kết nối điện thoại miễn phí và những hỗ trợ khác về cơ sở hạ tầng. Liệu sử dụng tiền thuế của người dân Australia để trợ cấp cho việc sử dụng đất kém hiệu quả và tiêu cực nhiều như vậy có phải là một biện pháp tốt?

Thậm chí từ quan điểm hẹp hòi nhất, thì một số ngành nông nghiệp của Australia cũng không mang lại lợi ích kinh tế cho cá nhân người tiêu dùng, bởi họ có thể mua các sản phẩm nông nghiệp (như nước cam cô đặc và thịt lợn) nhập khẩu với giá rẻ hơn nhiều so với sản phẩm nội địa. Đa phần hoạt động nông nghiệp không mang lại lợi nhuận cho mỗi nông dân, như đã được tính toán bằng thuật ngữ “hòa vốn”. Có nghĩa là nếu tính toán tất cả các chi phí của một trang trại, không chỉ chi phí tiền mặt mà còn cả giá trị công lao động của nông dân, thì 2/3 diện tích đất nông nghiệp của Australia (chủ yếu là đất dùng để chăn nuôi cừu và bò) đang rơi vào tình trạng thua lỗ.

Ví dụ, hãy xem xét hoạt động nông nghiệp chăn nuôi cừu để lấy len của Australia. Trung bình, doanh thu của một trang trại chăn nuôi thấp hơn mức lương tối thiểu của nhà nước và họ ngày càng nợ chồng chất. Thực vật được coi như nguồn vốn của trang trại để xây dựng và làm hàng rào đang mất dần bởi nguồn thu nhập của trang trại không đủ để duy trì thảm thực vật trong điều kiện tốt. Lợi nhuận từ lông cừu cũng không đủ để trả chi phí tiền lãi cho phần tài sản thế chấp của trang trại. Như vậy những người làm nghề chăn nuôi cừu lấy len tồn tại được là nhờ những khoản thu nhập ngoài nông nghiệp, do làm thêm nghề phụ như y tá hay bán hàng, cho ngủ trọ và phục vụ bữa sáng cho du khách hay bằng những cách khác. Về bản chất, những nghề phụ này cùng với việc các nông dân tự nguyện làm việc trên các cánh đồng với mức thu nhập thấp hoặc không hề được trả công, chính là một hình thức trợ cấp cho các hoạt động nông nghiệp thua lỗ của họ. Nhiều nông dân hiện đang theo đuổi nghề nông bởi họ yêu thích lối sống dân dã, mặc dù có thể có thu nhập cao hơn nếu làm nghề khác. Tại Australia cũng như ở Montana, con cái của thế hệ nông dân hiện nay dường như không có cùng chí hướng với cha mẹ khi phải đối mặt với quyết định liệu có tiếp quản trang trại từ cha mẹ hay không? Chỉ khoảng 29% nông dân Australia hiện nay hy vọng con cái sẽ nối nghiệp cha mẹ.

Đó là giá trị kinh tế của phần lớn hoạt động nông nghiệp của Australia với cá nhân người tiêu dùng và những người nông dân. Thế còn giá trị của nó với đất nước Australia thì sao? Với bất kỳ hoạt động nông nghiệp nào cũng cần xem xét chi phí tổng thể của nó với toàn bộ nền kinh tế, cũng như những lợi ích của nó. Một phần lớn của chi phí tổng thể này chính là sự hỗ trợ của chính phủ cho nông dân thông qua các hình thức như ưu đãi thuế, hỗ trợ chi phí cho chống hạn, nghiên cứu, tư vấn và các dịch vụ nông nghiệp rộng rãi khác. Những chi phí này của chính phủ chiếm tới 1/3 khoản lãi tịnh không đáng kể của nền nông nghiệp Australia. Một phần chi phí lớn khác trong chi phí tổng thể chính là những thiệt hại mà ngành nông nghiệp gây ra cho những ngành kinh tế khác của Australia. Thực vậy, một vùng đất được sử dụng vào mục đích nông nghiệp cũng có thể được sử dụng vào các mục đích tiềm năng khác, và việc sử dụng một mảnh đất vào hoạt động nông nghiệp có thể phá hỏng giá trị của mảnh đất khác dành cho du lịch, trồng rừng, thủy sản, sinh thái hay thậm chí cho chính hoạt động nông nghiệp. Ví dụ, xói mòn đất do phát quang đất đai để làm nông nghiệp hiện đang tàn phá và hủy diệt cục bộ Dải đá ngầm Great Barrier, một trong những thắng cảnh du lịch hấp dẫn của Australia, trong khi du lịch là ngành kinh tế quan trọng hơn so với nông nghiệp bởi nó mang về nhiều ngoại tệ cho Australia. Hay giả sử một nông dân trồng lúa mì trên một mảnh đất trên cao có thể thu lợi nhuận trong vài năm bằng cách chăm chỉ tưới cho lúa mì, nhưng tưới tiêu lại gây ra tình trạng muối hóa trên diện rộng đối với những trang trại bên dưới, phá hủy những tài sản này vĩnh viễn. Trong những trường hợp đó, nông dân phá rừng trên vùng đầu nguồn của dải đá ngầm, hay hoạt động nông nghiệp của trang trại phía bên trên có thể mang lại lợi nhuận cho bản thân người nông dân như một sự đền đáp cho công sức lao động mà anh ta đã bỏ ra, nhưng xét trên tổng thể nền kinh tế Australia thì nó lại là một sự thất bại.

Một trường hợp khác đang gây nhiều tranh cãi trong thời gian gần đây về việc phát triển trồng trọt bông trên quy mô công nghiệp ở miền nam Queensland và ở miền bắc New South Wales, trên phần thượng lưu của nhánh sông Darling (chảy qua địa hạt của các huyện thuần nông ở miền nam New South Wales và Nam Australia) và thượng nguồn sông Diamantina (chảy xuống lưu vực sông Eyre). Xét về nghĩa hẹp, bông là sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu mang lại lợi nhuận lớn thứ hai của Australia, sau lúa mì. Nhưng trồng bông phụ thuộc vào lượng nước tưới tiêu được chính phủ cung cấp với chi phí thấp hay hoàn toàn miễn phí. Ngoài ra, tất cả những khu vực trồng bông lớn đều gây ô nhiễm nguồn nước bởi sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, chất làm rụng lá và phân bón có hàm lượng photpho và nito cao (để kích thích bông ra hoa). Thậm chí trong những chất gây ô nhiễm này còn có cả DDT và các chất chuyển hóa của nó, mặc dù lần cuối cùng được sử dụng cách đây 25 năm nhưng tới nay vẫn còn tồn tại trong môi trường bởi chúng không bị phân hủy. Bên dưới những dòng sông ô nhiễm này là những người nông dân trồng trọt lúa mì và chăn nuôi gia súc hy vọng bán được những sản phẩm nông nghiệp sạch, không có hóa chất với giá cao. Những nông dân này phản đối quyết liệt việc trồng bông bởi kế hoạch tiêu thụ sản phẩm sạch, không hóa chất của họ đang bị những tác động tiêu cực từ ngành này phá vỡ. Bởi vậy, mặc dù rõ ràng ngành trồng bông mang lại những lợi ích kinh tế rõ rệt cho chủ các trang trại bông, nhưng cũng cần tính toán cả các chi phí gián tiếp như nước tưới cho bông được trợ cấp và những thiệt hại gây ra cho những ngành nông nghiệp khác, nếu muốn đánh giá liệu ngành trồng bông mang lại lợi nhuận hay khiến nền kinh tế Australia thua lỗ.

Ví dụ còn lại sẽ xem xét về lượng khí thải nhà kính là carbon dioxide và metan thoát ra từ các hoạt động nông nghiệp của Australia. Đây là một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng đối với Australia, bởi hiện tượng khí hậu toàn cầu nóng lên (phần lớn do các loại khí gây hiệu ứng nhà kính) đang phá vỡ sự ổn định của lượng mưa mùa đông, một trong những điều kiện cần thiết để vành đai lúa mì ở tây nam Australia trở thành một trong những mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu giá trị nhất của Australia. Lượng khí carbon dioxide thải ra từ các hoạt động nông nghiệp của Australia còn cao hơn cả tổng lượng khí thải của xe hơi và tất cả ngành công nghiệp vận tải. Thậm chí bò còn thải ra nhiều khí thải hơn bởi phân của chúng tạo ra khí metan, tác động tới hiện tượng khí hậu toàn cầu nóng dần lên gấp 20 lần khí thải carbon dioxide. Cách đơn giản nhất để Australia thực hiện cam kết giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính chính là loại bỏ toàn bộ đàn gia súc của mình!

Mặc dù những đề xuất triệt để này đã được đưa ra, nhưng hiện không có dấu hiệu nào chứng tỏ chúng sẽ sớm được thông qua. Australia sẽ là nước đầu tiên trong thế giới hiện đại nếu chính phủ tự nguyện quyết định loại bỏ phần lớn hoạt động nông nghiệp của mình nhằm ngăn chặn những vấn đề phát sinh trong tương lai, trước khi bị dồn vào tình thế tuyệt vọng buộc phải làm như vậy. Tuy nhiên, thậm chí việc đưa ra những đề xuất này cũng đã là một tiến bộ lớn. Australia hiện được ví như đang trong một cuộc đua ngựa cực nhanh, mà trong đó thế giới cũng nhìn thấy bản thân mình. (“nhanh” ở đây có nghĩa là nhanh hơn và nhanh hơn nữa; “cực nhanh” có nghĩa là nhanh như một chuỗi phản ứng nguyên tử, nhanh gấp đôi và sau đó tăng 4, 8, 16, 32…lần sau khoảng thời gian tương đương). Một mặt, những vấn đề môi trường của Australia cũng như trên toàn thế giới cũng đang phát triển với tốc độ nguyên tử. Mặt khác, nhận thức của công chúng về vấn đề môi trường, cùng các giải pháp xử lý của cá nhân và chính quyền cũng đang phát triển theo tốc độ nguyên tử. Con ngựa nào sẽ thắng trong cuộc đua này? Nhiều độc giả của cuốn sách này vẫn còn trẻ và sẽ sống lâu đủ để biết câu trả lời.

« Lùi
Tiến »