Dưới đây là những gợi ý về một số tài liệu tham khảo có chọn lựa dành cho những người muốn đọc thêm. Thay vì dành một phần cho các thư mục khai triển, tôi muốn liệt kê một số ấn phẩm gần đây nhằm cung cấp danh mục đầy đủ những tài liệu được xuất bản trước cuốn sách này. Ngoài ra, tôi cũng trích dẫn một số cuốn sách hoặc bài viết quan trọng. Đầu tiên là tên tạp chí (phần in nghiêng) sau đó là số tập, sau dấu phẩy là số trang đầu và trang cuối, và số năm xuất bản đặt trong ngoặc đơn.
Mở đầu
Những nghiên cứu so sánh thuyết phục về sự sụp đổ của các xã hội tiên tiến cổ xưa trên toàn thế giới bao gồm Joseph Tainter, Sự sụp đổ của các xã hội tiên tiến (Cambridge: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1988), và Norman Yoffee và George Cowgill với cuốn Sự sụp đổ của các nhà nước và nền văn minh cổ xưa (Tucson: Nhà xuất bản Đại học Arizona, 1988). Những cuốn sách đặc biệt chú trọng vào những tác động môi trường của các xã hội cổ xưa, hay về vai trò của những tác động này tới sự sụp đổ xã hội, bao gồm Clive Ponting, Lịch sử thế giới xanh: Môi trường và sự sụp đổ của những nền văn minh vĩ đại (New York: Penguin, 1991); Charles Redman, Tác động của con người tới môi trường cổ xưa (Tucson: Nhà xuất bản đại học Arizona, 1999); D. M. Kammen, K. R. Smith, K. T. Rambo, và M. A. K. Khalil với cuốn Tác động môi trường của con người thời kì tiền công nghiệp: Những bài học cho chính sách và khoa học thay đổi toàn cầu? (một số của tạp chí Chemosphere, tập 29, số 5, tháng Chín năm 1994); và Charles Redman, Steven James, Paul Fish và J. Daniel Rogers với cuốn Khảo cổ học về sự thay đổi toàn cầu: Tác động của con người tới môi trường (Washington, D.C: Smithsonian Books, 2004). Trong số những cuốn sách đề cập vai trò của biến đổi khí hậu với những nghiên cứu so sánh giữa các xã hội cổ đại là ba cuốn của Brian Fagan: Lụt lội, đói kém và các Hoàng đế: El Nino và số phận của các nền văn minh (New York: Basic Books, 1999); Thời kỳ Tiểu Băng hà (New York: Basic Books, 2001); và Mùa hè dài: Khí hậu làm nền văn minh thay đổi như thế nào (New York: Basic Books, 2004).
Những nghiên cứu so sánh về mối quan hệ giữa sự hưng thịng và suy vong của các nhà nước bao gồm Peter Turchin, Động lực học lịch sử: Tại sao những nhà nước hưng thịnh và suy vong (Princeton, N. J.: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2003), và Jack Goldstone, Cách mạng và sự nổi loạn trong thời kì đầu của thế giới hiện đại (Berkeley: Nhà xuất bản Đại học California, 1991).
Chương 1
Các giai đoạn lịch sử của bang Montana, bao gồm Joseph Howard, Montana: Cao rộng và tươi đẹp (New Haven: Nhà xuất bản Đại học Yale, 1943); K. Ross Toole, Montana: Vùng đất kỳ lạ (Norman: Nhà xuất bản Đại học Oklahoma, 1959); K. Ross Toole, Montana thế kỷ XX: Bang của nhiều thái cực (Norman: Nhà xuất bản Đại học Oklahoma, 1972); và Micheal Malone, Richard Roeder, và William Lang, Montana: Lịch sử hai thế kỷ, tái bản (Seattle: Nhà xuất bản đại học Washington, 1991). Russ Lawrence, tác giả cuốn sách viết về thung lũng Bitterroot, Thung lũng Bitterroot của Montana (Stevensville, Montana: Nhà xuất bản Stoneydale, 1991). Bertha Francis, Mảnh đất của núi tuyết (Butte, Montana: Nhà xuất bản Caxton, 1955) viết về lịch sử của lưu vực Big Hole. Thomas Power, Những phong cảnh bị mất và nền kinh tế suy thoái: Cuộc kiếm tìm giá trị của địa phương (Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 1996), và Thomas Power và Richard Barrett, Kinh tế học hậu cao bồi: Cái giá và sự thịnh vượng của miền Tây mới (Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 2001), thảo luận về những vấn đề kinh tế của Montana và vùng núi phía Tây nước Mỹ. Hai cuốn sách về lịch sử và tác động của ngành mỏ tại Montana là David Stiller, Vết thương miền Tây: Montana, ngành mỏ và môi trường (Lincoln: Nhà xuất bản đại học Nebraska, 2000) và Michael Malone, Cuộc chiến tranh đất đai: Khai thác mỏ và chính trị ở biên giới phía bắc, 1864-1906 (Helena, Montana: Nhà xuất bản Lịch sử xã hội Montana, 1981). Những cuốn sách của Stephen Pyne về cháy rừng bao gồm Hỏa hoạn ở nước Mỹ: Một lịch sử văn hóa của những vụ cháy ở những vùng đất hoang dã và ở nông thôn (Princeton, New Jersey: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 1982) và Năm hỏa hoạn: Câu chuyện về những vụ cháy nổi tiếng năm 1910 (New York: Viking Penguin, 2001). Những thông tin về những vụ cháy ở miền Tây nước Mỹ của hai tác giả, trong đó có một người là công dân của thung lũng Bitterroot, là Stephen Arno và Steven Allison-Bunnell, Những ngọn lửa trong khu rừng của chúng ta: Thảm họa hay sự hồi sinh? (Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 2002). Harsh Bais và những người khác, “Sự cảm nhiễm qua lại và sự lấn át của những thực vật có hại: từ các phân tử và gen tới sự tương tác giữa các loài” (Tạp chí Khoa học 301: 1377-1380 (2003)) viết về những tác hại cây xạ cúc đốm lấn át những loài thực vật bản địa, trong đó có hiện tượng rễ cây tiết ra một độc chất mà bản thân loài cỏ đó cũng không tiếp thu được. Những tác động của hoạt động trang trại tới miền Tây nước Mỹ nói chung, kể cả Montana, của tác giả Lynn Jacobs, Rác thải miền Tây: Hoạt động trang trại trên đất công (Tucson: Lynn Jacobs, 1991).
Thông tin hiện tại về một số vấn đề của Montana được thảo luận trong chương này có thể tham khảo từ các trang web và các địa chỉ email của các tổ chức liên quan về các vấn đề này. Các tổ chức này có địa chỉ Internet như sau: Bitterroot Land Trust: www.BitterrootLandTrust.org. Phòng Thương mại Bitterroot Valley: www.bvchamber.com. Diễn đàn Nước Bitterroot: brwaterforum@bitterroot.mt. Những người bạn của Bitterroot: www.friendsofthebitterroot.org. Hiệp hội Kiểm soát cỏ dại Montana: www.mtweed.org. Gỗ Plum Creek: www.plumcreek.com. Văn phòng Missoula của tổ chức bảo vệ cá hồi Trout Unlimited: montrout@montana.com. Hiệp hội Bệnh Quay cuồng: www.whirling-dis-ease.org. Viện Sonoran: www.sonoran.org/programs/si_se. Trung tâm Rocky Mountain West: www.crmw.org/read. Sở Lao động và Công nghiệp Montana: http://rad.dli.state.mt.us/pubs/profile.asp. Dự án Những chỉ số thu nhập Tây Bắc: http://niip.wsu.edu/.
Chương 2
Những độc giả quan tâm tới nhiều vấn đề muốn có sự hiểu biết tổng quát về đảo Phục Sinh nên bắt đầu với ba cuốn sách: Jonh Flenley và Paul Bahn, Những bí ẩn của đảo Phục Sinh (New York: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2003), tái bản Paul Bahn và John Flenley, Đảo Phục Sinh, Hòn đảo Trái đất (London: Thames và Hudson, 1992); Jo Anne Van Tilburg, Đảo Phục Sinh: Khảo cổ học, Sinh thái học và Văn hóa (Washington, D.C: Nhà xuất bản Viện Smithsonian, 1994); và Jo Anne Van Tilnurg, Giữa những tượng đá khổng lồ (New York: Scribner, 2003). Cuốn sách cuối cùng mà tôi muốn đề cập là cuốn tiểu sử của Katherine Routledge, một nữ khảo cổ học lỗi lạc người Anh, năm 1914-1915 bà từng tới đảo Phục Sinh và phỏng vấn những cư dân trên đảo, ký ức về những nghi lễ Orongo cuối cùng và cuộc đời bà sinh động như một cuốn tiểu thuyết lạ thường.
Hai cuốn sách khác gần đây là Catherine và Michel Orliac, Những vị thần thầm lặng: Những bí ẩn của đảo Phục Sinh (London: Thames và Hudson, 1995), một bài viết tổng quát ngắn; và John Loret và John Tancredi với cuốn: Đảo Phục Sinh: Thám hiểm khoa học vào các vấn đề môi trường của thế giới trong thế giới vi mô (New York: Kluwer/Plenum, 2003), 13 chương về kết quả những cuộc thám hiểm gần đây. Bất cứ ai thực sự quan tâm tới đảo Phục Sinh sẽ muốn đọc hai tác phẩm kinh điển: Tự thuật của Katherine Routledge, Bí ẩn của đảo Phục Sinh (London: Sifton Praed, 1919, Nhà xuất bản Adventure Unlimited, Kemptom, 111, 1988), và Alfred Metraux, Dân tộc học về đảo Phục Sinh (Honolulu: Bản tin Bảo tàng Bishop 160, 1940, tái bản 1971). Erik Kjellgren với cuốn Sự biệt lập huy hoàng: Nghệ thuật của đảo Phục Sinh (New York: Bảo tàng nghệ thuật thủ đô, 2001) sưu tập hàng chục bức ảnh, trong đó có nhiều ảnh màu, về thuật khắc đá, những bảng rongo-rongo, những tượng đá moia kavakava, những hình trang phục bằng vỏ cây và một vòng lông chim đỏ cảm hứng để cư dân Phục Sinh tạc những chiếc pukao bằng đá đỏ.
Những bài viết của Jo Anne Van Tilburg bao gồm: “Hoạt động khảo cổ của đảo Phục Sinh (Rapa Nui) từ năm 1955: một số ý kiến về sự phát triển, các vấn đề và tiềm năng”, các trang từ 555-577 trong J. M. Davidson và những người khác với cuốn Lịch sử văn hóa đại dương: Những bài viết tỏ lòng kính trọng Roger Green (Số đặc biệt của tạp chí Khảo cổ New Zealand, 1996); Jo Anne Van Tilburg và Cristian Arevalo Pakarati, “Quan điểm của những thợ điêu khắc Rapanui: những quan sát và ghi chép về thử nghiệm tái tạo tượng đá nguyên khối (moai)”, các trang từ 280-290 trong A. Herle và những người khác với cuốn Nghệ thuật Thái Bình Dương: Sự kiên trì, thay đổi và ý nghĩa (Bathurst, Australia: Nhà xuất bản Crawford, 2002) và Jo Anne Van Tilburg và Ted Ralston, “Cự thạch và thủy thủ: Khảo cổ thực nghiệm trên đảo Phục Sinh (Rapa Nui)”, in trong K. L. Johnson với cuốn Tiến lên và tiến lên! Những bài viết tỏ lòng kính trọng Clement W. Meighan (Nhà xuất bản Đại học Mỹ). Hai cuốn sau viết về những nghiên cứu thực nghiệm nhằm tìm hiểu xem có bao nhiêu người tham gia tạc và vận chuyển các bức tượng, và sẽ phải mất bao lâu.
Có nhiều cuốn sách hay mà độc giả thích đọc đủ các loại sách có thể tiếp cận về sự định cư của con người ở Polynesia cũng như toàn Thái Bình Dương. Đó là: Patrick Kirch, Trên những con đường đầy gió: Lịch sử khảo cổ học của các đảo Thái Bình Dương trước khi người Châu Âu xuất hiện (Berkeley: Nhà xuất bản Đại hcọ Califorlia, 2000), Những người Lapita: Tổ tiên của Thế giới đại dương (Oxford: Blackwell,1997), và Cuộc cách mạng của các tù trưởng Polynesia (Cambridge: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1984); Peter Bellwood, Người Polynesia: Tiền sử học của đảo quốc, tái bản có sửa chữa (London: Thames và Hudson, 1987); Geoffey Irwin, Những cuộc thám hiểm và thuộc địa hóa thời tiền sử của Thái Bình Dương (Cambridge: Nhà xuất bản Đại học Cambridge 1992). David Lewis, Chúng ta, những nhà hàng hải (Honolulu nhà xuất bản Hawaii, 1972) là cuốn sách viết về những kỹ thuật hàng hải truyền thống độc đáo của cư dân Thái Bình Dương, theo lời kể của một thủy thủ hiện đại từng nghiên cứu những kỹ thuật này bằng cách tự mình thực hiện những chuyến đi biển dài ngày với những thổ dân từng là các thủy thủ hiện vẫn còn sống. Patrick Kirch và Terry Hunt với cuốn: Lịch sử sinh thái học của các đảo Thái Bình Dương: Môi trường thời tiền sử và những thay đổi phong cảnh (New Haven, Conn.,: Nhà xuất bản Đại học Yale, 1997) bao gồm các bài viết về những tác động của con người tới môi trường các đảo Thái Bình Dương, ngoài đảo Phục sinh.
Hai cuốn sách của Thor Heyerdahl truyền cảm hứng cho tôi và nhiều người khác về đảo Phục Sinh là Cuộc thám hiểm Kon-Tiki (London: Allen&Unwin, 1950) và Aku-Aku: Bí mật của đảo Phục Sinh (London: Allen&Unwin, 1958). Một lý giải khác biệt xuất hiện từ những cuộc khai quật của các nhà khảo cổ mà Heyerdahl đưa tới đảo Phục Sinh, như đã mô tả trong Thor Heyerdahl và E. Ferdon, Jr., với cuốn: Báo cáo về chuyến thám hiểm khảo cổ của đoàn Na Uy tới đảo Phục Sinh và Đông Thái Bình Dương, tập 1: Khảo cổ tại Đảo Phục sinh (London: Allen&Unwin, 1961). Steven Fischer, Khám phá những nét chạm trổ (New York: Copernicus, 1997) và Rongorongo: Mật mã của đảo Phục Sinh (Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1997), viết về những nỗ lực của Fischer nhằm cố gắng giải mã những ký tự Rongorongo. Andrew Sharp với cuốn Nhật ký của Jacob Roggeveen (London: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1970), tái bản, các trang từ 89-106, là những mô tả của nhân chứng châu Âu đầu tiên về đảo Phục sinh.
Một bản đồ khảo cổ sơ lược của đảo Phục sinh được Claudio Cristino, Patricia Vargas, và R.Izaurieta tóm lược trong cuốn Atlas Arqueologico de Isla de Pascua (Santiago: Đại học Chile, 1981). Các bài viết chi tiết về đảo Phục sinh được xuất bản thường xuyên trong tạp chí Rapa Nui của Hiệp hội đảo Phục Sinh, tạp chí cũng thi thoảng đăng tải tham luận trong các hội nghị về đảo này. Sưu tập những bài viết quan trọng là Claudio Cristino, Patricia Vargas với cuốn Hội nghị quốc tế đầu tiên, đảo Phục sinh và Đông Polynesia, tập 1 Khảo cổ (Santiago: Đại học Chile, 1988); Patricia Vargas Casanova với cuốn Đảo Phục Sinh và Đông Polynesia thời tiền sử (Santiago: Đại học Chile, 1998); và Christopher Stevenson và William Ayres với cuốn Khảo cổ đảo Phục Sinh: Nghiên cứu về văn hóa Rapa Nui thời kỳ đầu (Los Osos, Calif, :Hiệp hội đảo Phục Sinh, 2000). Một tóm lược lịch sử các mối quan hệ văn hóa được tìm thấy trong cuốn Isla de Pascua: Procesos, Alcanses y Efectos de la Aculturacion (Easter Island: Đại học Chile, 1984);
David Steadman viết về việc nhận dạng các xương chim và các loại xương khác được khai quật tại bãi biển Anakena trong ba bài viết: “Sự tuyệt chủng của những loài chim ở Đông Polynesia: Một đánh giá về di tích, và so sánh với những nhóm khác của các đảo Thái Bình Dương” (Tạp chí Khoa học khảo cổ 16: 177-205 (1989), và “Địa tầng học, niên đại và nội dung văn hóa của một bộ sưu tập hệ động vật nguyên thủy từ đảo Phục Sinh” (Các quan điểm của Châu Á 33: 79-96 (1994), cùng với Patricia Vargas và Claudio Cristino; và “Sự diệt chủng thời tiền sử của các loài chim đảo Phục Sinh: đa dạng sinh học gặp gỡ khảo cổ học động vật” (Tạp chí Khoa học 267: 1123-1131(1995)), William Ayres, “Sự tồn tại của đảo Phục Sinh” (Journal de la societe des Oceanistes 80:103-124 (1985)) cung cấp nhiều bằng chứng khảo cổ hơn về các loại thực phẩm mà cư dân Đảo Phục Sinh đã tiêu thụ. Đối với những bí ẩn của cọ Phục Sinh và kiến thức khác từ phấn hoa có trong những lõi trầm tích, xem J. R. Flenley và Sarah King, “Hồ sơ phấn hoa kỷ thứ tư muộn từ đảo Phục Sinh” (Tạp chí Tự nhiên 307: 47-50 (1984), J. Dransfield và những người khác, “Loài cọ tuyệt chủng gần đây ở đảo Phục Sinh” (Tạp chí Tự nhiên 312: 750-752 (1984)), và J. R. Flenley và những người khác, “Thực vật kỷ thứ tư muộn và lịch sử khí hậu của Đảo Phục Sinh” (Tạp chí Khoa học Kỷ thứ tư 6: 85-115 (1991)). Những phát hiện của Catherine Orliac được công bố trong một bài viết trong cuốn sách trích dẫn bên trên do Steven và Ayres biên tập, và trong cuốn “Donnees nouvelles sur la composition de la flore de Pile de Paques” (Tạp chí Xã hội đại dương 2: 23-31 (1998)). Trong số những tài liệu về những cuộc khảo cổ của Claudio Cristino và các đồng nghiệp có cuốn “ Lịch sử định cư tại đồng bằng bờ biển Rapa Nui (Tạp chí Khảo cổ Tân Thế giới 7: 29-38 (1986) của Christopher Stevenson và Claudio Cristino; Daris Swindler, Andrea Drusini và Claudio Cristino, “Ba loại thực vật làm thức ăn của cư dân đảo Phục Sinh thời kỳ tiền sử: tầm quan trọng về nhân loại học” (Tạp chí Xã hội Polynesia 106: 175-183 (1997)); và Claudio Cristino và Patricia Vargas, “Bệ đá Tongariki đảo Phục Sinh: Tầm quan trọng của niên đại và chính trị xã hội” (Tạp chí Rapa Nui 13: 67-69 (1999)).
Các bài viết của Christopher Stevenson về hoạt động nông nghiệp và việc sử dụng đá để bảo vệ cây mới trồng bao gồm Điều tra khảo cổ về Đảo Phục Sinh; Maunga Tari: Một tổ hợp nông nghiệp trên cao (Los Osos, Calif.: Hiệp hội đảo Phục Sinh, 1995), (với Joan Wozniak và Sonia Haoa) “Sản xuất nông nghiệp thời tiền sử ở đảo Phục Sinh (Rapa Nui), Chile” (Tạp chí Cổ xưa 73: 801-812 (1999), và (với Thegn Lade foged và Sonia Haoa) “Chiến lược sản xuất trong những môi trường không ổn định: hoạt động nông nghiệp thời cổ xưa trên đảo Phục Sinh” (Tạp chí Rapa Nui 16: 17-22 (2002)). Christopher Stevenson, “Phân vùng trên đảo Phục Sinh trong thế kỷ XVI : Bằng chứng từ sự phân bố trên những kiến trúc nhà mồ”, các trang từ 213-229 trong T. Ladeforged và M. Graves với cuốn Phong cảnh Thái Bình Dương (Los Osos, Calif.: Hiệp hội đảo Phục Sinh, 2002), tái tạo lãnh thổ của 11 bộ tộc xa xưa trên đảo Phục Sinh.
Dale Lightfoot, “Hình thái học và sinh thái học của nền nông nghiệp dùng đá bảo vệ cây mới trồng” (Tạp chí Đại lý 84: 172-185 (1994)) và Carleton White và những người khác, “Bảo vệ nước qua một kỹ thuật làm vườn của người Anasazi (Tạp chí Khoa học New Mexico 38: 251-278 (1998)) cung cấp bằng chứng về hiệu quả của việc dùng đá bảo vệ cây mới trồng ở những nơi khác trên thế giới. Andreas Mieth và Hans-Rudolf Bork “Sự suy thoái của các nguồn tài nguyên môi trường trong sử dụng đất thời kỳ tiền sử trên bán đảo Poike, đảo Phục Sinh (Rapa Nui)” (Tạp chí Rapa Nui 17: 34-41 (2003) thảo luận về tình trạng phá rừng và xói mòn trên bán đảo Poike. Karsten Haase và những người khác, “Tiến trình hình thành đá dung nham trên đảo Phục Sinh và những ngọn núi dưới đáy biển, những ngọn núi lửa trên biển Đông Nam Thái Bình Dương” (Tạp chí Thạch học 38: 785-813 (1997)) phân tích niên đại và thành phần hóa học của các núi lửa của Phục Sinh. Erika Hagelberg và những người khác, “DNA của các cư dân Phục Sinh thời xưa” (Tạp chí Tự nhiên 369: 25-26 (1994)) phân tích DNA trong 12 hài cốt của cư dân đảo Phục Sinh. James Brander và M. Scott Taylor, “Kinh tế đơn giản của đảo Phục Sinh: Một hình thái Ricardo-Malthus trong việc sử dụng những nguồn tài nguyên có thể tái sinh” (Tạp chí Kinh tế Mỹ 38: 119-138 (1998)) đưa ra quan điểm của một nhà kinh tế về tình trạng khai thác quá mức trên đảo Phục Sinh.
Chương 3
Sự định cư của con người ở Đông Nam Polynesia được đề cập trong hành loạt tài liệu về sự định cư của con người ở Polynesia mà tôi đã cung cấp trong phần Đọc thêm của Chương 2. Quần đảo Pitcairn: Địa lý sinh vật, Sinh thái học và Tiền sử (London: Nhà xuất bản Học thuật, 1995), do Tim Benton và Tom Spencer biên tập, là sản phẩm của một cuộc thám hiểm tới Pitcairn, Henderson và những đảo san hô Oeno và Ducie năm 1991-1992. Cuốn sách gồm 27 chương viết về địa lý, thực vật, các loài chim (kể cả những loài đã tuyệt chủng trên đảo Henderson), cá, các loài động vật không xương sống trên cạn và dưới biển và những tác động của con người tới những hòn đảo này.
Phần lớn thông tin của chúng ta về sự định cư và từ bỏ Pitcairn và Henderson của người Polynesia đều xuất phát từ những nghiên cứu của Marshall Weisler và những đồng nghiệp của ông. Weisler có một bài viết tổng quát về nghiên cứu của ông trong chương “Đảo Henderson thời tiền sử: Thuộc địa hóa và sự tuyệt chủng trên một đảo Polynesia xa xôi”, các trang 436-466 của cuốn sách đã trích dẫn bên trên của hai tác giả Benton và Spencer. Hai bài viết tổng quát khác của Weisler là “Sự định cư trong môi trường khó trồng trọt của người Polynesia: Bằng chứng mới từ đảo Henderson” (Tạp chí Khảo cổ Nông nghiệp 21: 83-102 (1994)) và “Một khảo sát khảo cổ về Mangareva: ý nghĩa của những hình thái định cư trong vùng và những nghiên cứu liên quan” (Loài người và Văn hóa và châu Đại Dương 12: 61-85 (1996)). Bốn bài viết của Weisler lý giải các phân tích hóa học trên những lưỡi rìu bằng đá bazan giúp xác định đá bazan có nguồn gốc từ đảo nào, từ đó xác định những tuyến đường thương mại: “Những nghiên cứu về nguồn gốc vật liệu làm rìu bằng đá bazan của người Polynesia: Những xem xét và đề xuất nhằm nâng cấp cơ sở dữ liệu vùng” (Tạp chí Quan điểm châu Á 32: 61-83 (1993)); “Những phân tích đồng vị pb của đá bazan và sự định cư thời tiền sử của người Polynesia”, đồng tác gải với Jon D.Whitehead (Những thành tựu của Viện khoa học Quốc Gia, Mỹ 92: 1881-1885 (1995)); “Sự di chuyển các công cụ bằng đá giữa các đảo và quần đảo ở Polynesia thời tiền sử”, đồng tác giả với Patrick V. Kirch (Những thành tựu của Viện Khoa học Quốc gia, Mỹ 92: 1881-1885 (1996)) và “Bằng chứng rõ ràng về sự liên hệ lẫn nhau tại Polynesia” (Nhân chủng học đương đại 39:521-532 (1998). Ba bài viết về mạng lưới thương mại Đông và Đông Nam Polynesia: Marshall Weisler và R.C.Green, “Các phương pháp chính thể luận nghiên cứu những mối quan hệ của Polynesia”, các trang từ 413-453 trong Martin Jones và Peter Sheppard với cuốn Những mối liên hệ và phương hướng mới của Austrailia (Auckland, N.Z.: Khoa Nhân chủng học, Đại học Auckland, 2001); R. C. Green và Marshall Weisler, “Trình tự và thời điểm mở rộng địa lý của người Mangareva về hướng Đông Nam Polynesia” (Các quan điểm châu Á 41: 213-241 (2002)): và Marshall Weisler, “Trung tâm và thất bại của chuyến di dài ngày ở Đông Polynesia”, các trang từ 257-273 trong Michael D. Glascock với cuốn Bằng chứng địa hóa học của những trao đổi ở khoảng cách xa xôi (London: Bergin và Garvey, 2002). Ba bài viết về các loại hoa màu và những hài cốt trên đảo Henderson là Jon G. Hather và Marshall Weisler, “Cây khoai nước đầm lầy khổng lồ thời tiền sử (Cyrtosperma chamissionis) từ đảo Henderson, Đông Nam Polynesia” (Tạp chí Khoa học Thái Bình Dương 54: 149-156 (2000); Sara Collins và Marshall Weisler, “Tàn tích răng và xương của con người trên đảo Henderson, Đông Nam Polynesia” (Tạp chí Con người và Văn hóa châu Đại Dương 16: 67-85 (2000)); và Vincent Stefan, Sara Collins và Marshall Weisler, “Những chiếc sọ trên đảo Henderson và ý nghĩa của chúng với tiền sử học Đông Nam Polynesia” (Tạp chí Xã hội Polynesia 111: 371-383 (2002)).
Không ai quan tâm tới Pitcairn và Henderson và yêu thích những câu chuyện vĩ đại lại có thể bỏ qua tiểu thuyết Đảo Pitcairn của Charles Nordhoff và James Norman Hall (Boston: Little, Brown, 1934) - tái hiện cuộc sống và những kẻ giết người trên chuyến tàu nổi loạn H.M.S Bounty và những người bạn Polynesia của họ trên đảo Pitcairn sau khi cướp tàu Bounty và ném thuyền trưởng Bligh và những người ủng hộ ông ta xuống biển. Caroline Alexander, The Bounty (New York: Viking, 2003) đã rất nỗ lực tìm hiểu điều gì đã xảy ra trên thực tế.
Chương 4
Tiền sử vùng Tây Nam nước Mỹ được mô tả trong nhiều cuốn sách dành cho những người ham đọc nhiều thể loại và có nhiều ảnh minh họa, thường là ảnh màu. Những cuốn sách đó bao gồm: Robert Lister và Florence Lister, Hẻm núi Chaco (Albuquerque: Nhà xuất bản Đại học New Mexico, 1981); Stephen Lekson, Nghệ thuật kiến trúc của người da đỏ tại Hẻm núi Chaco, New Mexico (Albuquerque: Nhà xuất bản Đại học New Mexico. 1986); William Ferguson và Arthur Rohn, Những di tích Anasazi ở Tây Nam qua màu sắc (Albuquerque: Nhà xuất bản Đại học New Mexico, 1987) Linda Cordell, Những người Anh Điêng cổ xưa (Montreal: Nhà xuất bản St.Remy, 1994); Linda Cordell, Khảo cổ vùng Tây Nam, tái bản lần thứ hai. (Sandiego: Nhà xuất bản Học thuật, 1997); và David Stuart, Người Anasazi của nước Mỹ (Albuquerque: Nhà xuất bản Đại học New Mexico, 2000).
Không nên bỏ qua ba cuốn sách minh họa về những đồ gốm được trang trí sặc sỡ của người Mimbres: J. J. Bordy, Đồ gốm trang trí của người Mimbres (Santa Fe: Trường Nghiên cứu Mỹ, 1997); Steven LeBlanc, Người Mimbres: Những họa sĩ Anh Điêng cổ đại và Tây Nam nước Mỹ (London: Thames và Hudson, 1983); và Tony Berlant, Steven LeBlanc, Catherine Scott, và J. J. Brody, Đồ gốm Mimbres: Nghệ thuật cổ xưa Tây Nam nước Mỹ (New York: Nhà xuất bản Hudson Hill, 1983).
Ba công trình nghiên cứu chi tiết về chiến tranh và bạo lực của người Anasazi với các bộ tộc láng giềng là Christy Turner II và Jacqueline Turner, Thức ăn của con người: Tục ăn thịt người và Bạo lực ở Tây Nam nước Mỹ thời tiền sử (Salt Lake City: Nhà xuất bản Đại học Utal, 1999); Steven LeBlanc, Chiến tranh thời tiền sử ở Tây Nam nước Mỹ (Salt Lake City: Nhà xuất bản Đại học Utah, 1999); và Jonathan Haas và Winifred Creamer, Áp lực và chiến tranh giữa những Kayenta Anasazi trong thế kỷ XIII (Chicago: Bảo tàng Lịch sử tự nhiên, 1993).
Những cuốn sách chuyên khảo hay học thuật về những vấn đề hay những dân tộc cụ thể ở Tây Nam bao gồm Paul Minnis, Sự thích nghi của xã hội đối với những áp lực lương thực: Một ví dụ ở Tây Nam thời tiền sử (Chicago: Nhà xuất bản Đại học Chicago, 1985); W. H. Wills, Nông nghiệp thời kỳ tiền sử ở Tây Nam nước Mỹ (Santa Fe: Trường Nghiên cứu Mỹ, 1988); R. Gwinn Vivian, Người Chaco thời tiền sử ở lưu vực San Juan (San Diego: Nhà xuất bản Học thuật, 1990); Lynne Sebastian, The Chaco Anasazi: Sự phát triển xã hội chính trị và Tây Nam thời tiền sử (Cambridge; Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1992); và Charles Redman, Người dân vòng cung Tonto: Một phát hiện khảo cổ về Arizona thời tiền sử (Washington, D.C: Nhà xuất bản Viện Smithsonian, 1993). Eric Force, R. Gwinn Vivian, Thomas Windes và Jeffrey Dean đánh giá lại những kênh lạch làm giảm thấp mực nước của Hẻm núi Chaco trong chuyên khảo của họ Mối quan hệ của kênh “Bonito” Paleo và những tác động cơ bản tới sự định cư của người Arizona Hẻm núi Chaco, New Mexico (Tucson: Nhà xuất bản Đại học Arizona, 2002). Tất cả những gì có thể bạn muốn biết về Rác chuột đàn được mô tả trong cuốn sách cùng tên của Julio Betancourt, Thomas Van Devender và Paul Martin (Tucson: Nhà xuất bản Đại học Arizona, 1990).
Tây Nam cũng được viết đến nhiều trong những cuốn sách tập hợp những bài viết của một số tác giả. Trong số đó có David Grant Nobel, Phát hiện mới về Hẻm núi Chaco (Santa Fe: Trường nghiên cứu Mỹ, 1984); George Gumerman, Người Anasazi trong một môi trường thay đổi (Cambridge; Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1988); Patricia Crown và W. James Judge, Chaco và Hohokam: Các hệ thống liên vùng thời tiền sử ở Tây Nam nước Mỹ (Santa Fe: Trường Nghiên cứu Mỹ, 1991); David Doyel, Tổ chức vùng của người Anasazi và hệ thống Chaco (Albuquerque: Bảo tàng nhân chủng học Maxwell, 1992); Michael Adler, Tiền sử học thế giới người da đỏ năm 1150-1350 (Tucson: Nhà xuất bản Đại học Arizona 1996); Jill Neitzel, Khảo cổ học những mối liên hệ vùng: Tín ngưỡng, chiến tranh và những trao đổi trong và ngoài vùng Tây Nam nước Mỹ (Boulder: Nhà xuất bản Đại học Colorado, 2000); và Michael Diehl và Steven LeBlanc, Những ngôi làng trên vách đá trong và ngoài thung lũng Mimbres thời kỳ sơ khai (Cambridge, Mass.,: Bảo tàng Khảo cổ và Dân tộc học Peabody, Đại học Harvard, 2001).
Thư mục những cuốn sách mà tôi đã giới thiệu sẽ giúp các bạn tìm kiếm những bài viết nghiên cứu về văn hóa Tây Nam dễ dàng hơn. Một số bài viết có liên quan trực tiếp tới chương này giờ sẽ được đề cập riêng. Các bài viết của Julio Betancourt và các đồng nghiệp của ông về những kinh nghiệm thu thập được từ việc tái tạo thảm thực vật tại Hẻm núi Chaco bao gồm Julio Betancourt và Thomas Van Devender “Thực vật thể holoxel tại Hẻm núi Chaco, New Mexico” (Tạp chí Khoa học 214: 656-658 (1981)); Michael Samuels và Julio Betancourt, “Mô hình hóa những tác động lâu dài của việc thu hoạch củi trên những rừng thông-bách xù” (Quản lý Môi trường 6: 505-515 (1982)); và Julio Betancourt, Jeffrey Dean và Herbert Hull, “Vận chuyển những xà gỗ xây dựng trên những chặng đường dài thời tiền sử, Hẻm núi Chaco, New Mexico”,(Tạp chí Di sản Mỹ 51: 370-375 (1986)). Hai bài viết về những thay đổi trong việc sử dụng gỗ của người Anasazi qua các thời đại là Timothy Kohler và Meredith Matthews, “Sử dụng đất và trồng rừng lâu dài của người Anasazi: một ví dụ điển hình ở Tây Nam Colorado” (Tạp chí Di sản Mỹ 53: 537-564 (1988)), và Thomas Windes và Dabney Ford, “Dự án rừng Chaco: Đánh giá thường kỳ về Bonito Anh Điêng” (Tạp chí Di sản Mỹ 61: 295-310 (1996)). William Bull đưa ra những nghiên cứu về những nguồn gốc phức tạp của việc đào kênh rạch trong bài viết “Những dòng suối sớm cạn” (Tạp chí Địa mạo học 19: 227-276 (1997)). Các đồng vị Stronti đã được sử dụng để xác định nguồn gốc bản địa của gỗ và ngô tại Chaco được mô tả trong hai bài viết của các tác giả : Với gỗ là Nathan English, Julio Betancourt, Jeffrey Dean và Jay Quade. “Các đồng vị Stronti tiết lộ nguồn gốc xa xôi của những cây gỗ điêu khắc tại Hẻm núi Chaco, New Mexico” (Các thành tựu của Viện Khoa học Quốc gia , Mỹ 98: 11891-11896 (2001)); và với ngô là Larry Benson và những người khác “Ngô thời cổ từ những căn nhà lớn của người Chaco: Chúng được trồng ở đâu?” (Các thành tựu của Viện Khoa học Quốc gia, Mỹ 100: 13111-13115 (2003). R. L. Axtell và những người khác tái tạo chi tiết về quy mô dân số và tiền năng nông nghiệp của người Anasazi ở Kayenta, thung lũng Long House trong cuốn sách “Tăng dân số và sụp đổ trong một hình thái có nhiều tác nhân của người Anasazi ở Kayenta, thung lũng Long House” (Các thành tựu của Viện Khoa học Quốc gia, Mỹ 99: 7275-7279 (2002)).
Chương 5
Ba cuốn sách gần đây giới thiệu những quan điểm khác nhau về sự sụp đổ của Maya và David Webster, Sự sụp đổ của Maya cổ (New York: Thames và Hudson, 2002); Richardson Gill, Những đợt hạn hán khắc nghiệt của Maya (Albuquerque: Nhà xuất bản Đại học New Mexico, 2000); và Arthur Demerest, Prudence Rice và Don Rice, Giai đoạn cuối thời kỳ tiền cổ của các vùng đất thấp Maya (Boulder: Nhà xuất bản Đại học Colorado, 2004). Webster đưa ra một cái nhìn tổng quát về xã hội và lịch sử Maya và diễn giải sự sụp đổ là do sự mất cân đối giữa dân số và các nguồn tài nguyên, trong khi Gill tập trung vào khí hậu và lý giải sự sụp đổ là do hạn hán, và Demerest cùng những người khác nhấn mạnh sự đa dạng phức tạp giữa các khu vực và không đánh giá cao những diễn giải về mặt sinh thái thống nhất. Trước đó, những cuốn sách của nhiều tác giả đặt ra hàng loạt giải thuyết là T. Patrick Culbert, Sự sụp đổ của Maya cổ điển (Albuquerque: Nhà xuất bản Đại học New Mexico, 1973), và T. Patrick Culbert và D. S. Rice, Lịch sử dân số thời kỳ tiền Columbia ở những vùng đất thấp Maya (Albuquerque: Nhà xuất bản Đại học New Mexico, 1990). David Lentz, Sự cân bằng không hoàn hảo: Sự dịch chuyển phong cảnh ở châu Mỹ thời kỳ tiền Columbia (New York: Nhà xuất bản Đại học Columbia, 2000) trong đó có một số chương liên quan tới Maya, cùng các chương liên quan đến các xã hội khác trong cuốn sách này, bao gồm các xã hội khác trong cuốn sách này, bao gồm các xã hội Hohokam, Andean và Mississippi.
Các cuốn sách tóm tắt sự hưng thịnh và suy vong của các thành phố cụ thể bao gồm David Webster, AnnCorinne Freter, và Nancy Golin, Copan: Sự hưng thịnh và suy vong của một vương quốc Maya cổ (Fort Worth: Harcourt Brace, 2000); Peter Harrison, Những chúa tể Tikal (New York: Thames và Hudson, 1999); Stephen Houston, Những chữ viết tượng hình và lịch sử tại Dos Pilas (Austin: Nhà xuất bản Đại học Texas, 1993); và M. P. Dunning, Những chúa tể của Hill: Khu dân cư Maya cổ trong vùng Puuc, Yucatan, Mexico (Madison, Wis.: Nhà xuất bản Prehistory, 1992). Về những cuốn sách về lịch sử và xã hội Maya không chú trọng cụ thể vào sự sụp đổ của xã hội này, hãy xem Michael Coe, Người Maya, tái bản lần thứ 6. (New York: Thames và Hudson, 1999); Robert Sharer, Maya cổ (Stanford, Calif. Nhà xuất bản Đại học Stanford, 1994); Linda Scheie và David Freidel, Khu rừng của các vị vua (New York: William Morrow, 1990); và Linda Scheie và Mary Miller, Máu của các vị vua (New York: Braziller, 1986).
Hai cuốn sách cổ điển của John Stephens mô tả những khám phá của ông là Những khó khăn khi đi lại ở Trung Mỹ, Chiapas và Yucatan (New York: Harper, 1841) và Những khó khăn đi lại ở Yucatan (New York: Harper, 1843); cả hai đều được nhà xuất bản Dover tái bản. Victor Wolfgang von Hagen, Nhà thám hiểm Maya (Norman: Nhà xuất bản Đại học Oklahoma, 1948) bao gồm tiểu sử của John Stephens với lời kể về những phát hiện của ông.
Một số bài viết và cuốn sách của B. L. Turner II thảo luận về các khía cạnh nâng cao năng suất của nền nông nghiệp và tăng dân số của Maya. Bao gồm B.L.Turner II, “Tăng cường hoạt động nông nghiệp ở các vùng đất thấp Maya” (Tạp chí Khoa học 213: 399-405 (1981); B. L. Turner II và Peter Harrison, Đầm lầy Pulltrouser: Môi trường sống, nền nông nghiệp và sự định cư của người Maya cổ ở miền Bắc Belize (Austin: Nhà xuất bản Đại học Texas, 1983); Thomas Whitmore và B. L. Turner II, “Phong cảnh trồng trọt ở Trung Mỹ trước khi bị chinh phục” (Biên niên sử của Hiệp Hội các nhà địa lý Mỹ: 402-425 (1992)); và B. L. Turner II và K. W. Butzer “ Những khó khăn và sự thay đổi trong sử dụng đất của người Colombia” (Tạp chí Môi trường 43: 16-20 và 37-44 (1992)).
Những bài viết gần đây mô tả chi tiết những nghiên cứu các lõi trầm tích dưới đáy các hồ cung cấp bằng chứng về những liên hệ giữa hạn hán và sự sụp đổ của Maya bao gồm Mark Brenner và những người khác, “Cổ di tích học của những vùng đất thấp Maya: Quan điểm lâu dài về sự liên hệ giữa khí hậu, môi trường và con người” (Tạp chí Trung Mỹ cổ 13: 141-157 (2002)) (cũng nên xem thêm những bài khác trên các trang từ 79-170 và 256-345 của cuốn sách này); David Hodell và những người khác “Ánh nắng gây hạn hán thường xuyên ở những vùng đất thấp Maya” (Tạp chí Khoa học 292: 1367-1370 (2001)); Jason Curtis và những người khác, “Tính biến thiên của khí hậu bán đảo Yucatan (Mexico) trong 3.500 năm qua, và ý nghĩa của nó với sự phát triển văn hóa Maya” (Tạp chí Khoa học Kỷ thứ tư 46: 37-47 (1996)); David Hodell và những người khác “Khả năng vai trò của khí hậu trong sự sụp đổ của nền văn minh Maya cổ điển (Tạp chí Tự nhiên 375: 391-394 (1995)). Hai bài khác của cùng nhóm các nhà khoa học này thảo luận về những giả thuyết về hạn hán rút ra từ các lõi trầm tích đáy hồ, nhất là vùng Peten là : Michael Rosenmeier, “Hồ sơ 4.000 năm từ các hồ nước về thay đổi môi trường ở các vùng đất thấp miền Nam Maya, Peten, Guatemala” (Tạp chí Khoa học Kỷ thứ tư 57: 183-190 (2002); và Jason Curtis và những người khác, “Nghiên cứu nhiều mặt về sự thay đổi môi trường Holocene tại các vùng đất thấp Maya của Peten, Guatemala” (Tạp chí Cổ di tích học 19: 139-159 (1998)). Bổ sung vào những nghiên cứu trầm tích ở hồ này là Gerald Haug và những người khác, “Khí hậu và sự sụp đổ của nền văn minh Maya” (Tạp chí Khoa học 299: 1731-1735 (2003)); nghiên cứu sự thay đổi của lượng mưa hằng năm bằng cách phân tích những trầm tích bị cuốn từ sông ra biển.
Không ai quan tâm tới Maya lại có thể bỏ qua Mary Ellen Miller, Bức tranh Bonampark (Princeton, N.J: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 1986), với những bức họa màu sắc rực rỡ và những bức đen trắng, mô tả những cảnh tra tấn rùng rợn; hay hàng loạt sách của Justin Kerr tái hiện những đồ gốm của Maya cổ, Sách giới thiệu đồ gốm Maya (New York: Hiệp hội Kerr, nhiều thời điểm). Câu chuyện lý thú về việc chữ viết của Maya được giải mã như thế nào là Michael Coe, Giải mã chữ viết Maya, tái bản lần thứ hai (New York: Thames và Hudson, 1999); và Stephen Houston, Oswaldo Chinchilla Mazareigos và David Stuart, Giải mã ký tự Maya cổ (Norman: Đại học Oklahoma, 2001). Những bể nước của Tikal được Vernon Scarborough và Gari Gallopin mô tả trong “Mô phỏng bể chứa nước tại các vùng đất thấp Maya” (Tạp chí Khoa học 251: 658-662 (1991). Bài viết của Lisa Lucero “Sự sụp đổ của Maya cổ điển: Một minh chứng về vai trò kiểm soát nước” (Tạp chí Nhà nhân chủng học Mỹ 104: 814-826 (2002)) lý giải tại sao có sự khác biệt của những vấn đề nước ở mỗi vùng có thể góp phần gây ra sự sụp đổ khác nhau trong thời kỳ Cổ điển, với những thành phố khác nhau, có những số phận khác nhau, tại những thời điểm khác nhau. Arturo Gomez-Pompa, Jose Salvador Flores và Victoria Sosa, “’Pet-kot”: Khu rừng nhiệt đới nhân tạo của Maya” (Interciencia 12: 10-15 (1987) mô tả người Maya trồng những vạt rừng với những loài cây hữu ích. Timothy Beach. “Các chủng loại đất, phá rừng nhiệt đới và xói mòn đất cổ xưa và hiện đại tại Peten, Guatemala” (Tạp chí Địa Vật Lý 19: 378-405 (1998)) cho thấy một số khu vực của Maya có thể làm giảm hiện tượng xói mòn đất bằng phương pháp làm ruộng bậc thang, nhưng không thể áp dụng ở những nơi khác. Richard Hansen và những người khác, “Tính biến thiên của khí hậu và môi trường trong sự hưng thịnh của nền văn minh Mayza: một quan điểm sơ bộ từ miền Bắc Peten” (Tạp chí Trung Mỹ cổ 13: 273-295 (2002)) giới thiệu một nghiên cứu về nhiều lĩnh vực của một vùng dân cư đông đúc trong thời kỳ tiền Cổ điển, và những bằng chứng về tác động tới sản xuất như một động lực dẫn tới tình trạng phá rừng ở nơi đây.
Chương 6-8
Vikings: Huyền thoại Bắc Atlanta, do William Fitzhugh và Elisabeth Ward biên tập (Washington, D.C: Nhà xuất bản Viện Smithsonia, 2000), là một cuốn sách của nhiều tác giả, được minh họa bằng những bức hình màu đẹp đẽ, có 31 chương viết chi tiết về xã hội Viking sự mở rộng của họ ở châu Âu, và những thuộc địa Bắc Đại Tây Dương. Những bài viết tổng quát, ngắn hơn của một tác giả về người Viking - bao gồm Eric Chritiansen, Người Na Uy trong thời đại Viking (Oxford: Blackwell, 2002), F. Donald Logan, Người Viking trong lịch sử, tái bản lần hai (New York: Routledge, 1991), và Else Roestahl, Người Viking (New York:Penguin, 1987). Gwyn Jones, Vikings: Truyền thuyết Bắc Đại Tây Dương, tái bản lần hai (Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1986) và G. J. Marcus, Cuộc chinh phục Bắc Đại Tây Dương (New York: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1981) nghiên cứu cụ thể ba thuộc địa Bắc Đại Tây Dương xa xôi của người Viking là Iceland, Greenland và Vinland. Một điểm nổi bật rất hữu ích trong cuốn sách của Jone là trong phần phụ lục có những bản dịch các tài liệu nguồn liên quan tới các truyền thuyết, trong đó có Cuốn sách của người Iceland, cả các truyền thuyết Vinland và Những câu chuyện của Einar Sokkason.
Hai cuốn sách mới đây tóm tắt lịch sử của Iceland và Jesse Byock, Iceland thời đại Viking (New York: Penguin Putnam, 2001), viết về thời kỳ suy thoái của Khối thịnh vượng Iceland giai đoạn 1262-1264, được xây dựng dựa trên tác phẩm trước đó của cùng tác giả Iceland thời Trung cổ: Xã hội, Truyền thuyết và Hiện tại (Berkeley: Nhà xuất bản Đại học Califorlia, 1988); và Gunnar Karlsson, 1100 năm của Iceland: Lịch sử của một xã hội đầy khó khăn (London: Hurst, 2000), không chỉ viết về thời Trung cổ mà còn cả thời hiện đại. Thay đổi môi trường của Iceland: Quá khứ và hiện tại (Dordrecht: Kluwer, 1991) của hai tác giả Judith Maizels và Chris Caseldine, đó là cuốn sách mang tính chất kỹ thuật nhiều hơn về lịch sử môi trường của Iceland. Kristen Hastrup, Nhân chủng học của Iceland: Những nghiên cứu về quá khứ và hiện tại của Iceland (Viborg: Nhà xuất bản Đại học Odense, 1990) tập hợp những bài viết về nhân chủng học của tác giả Iceland. Tuyển tập những truyền thuyết của người Iceland (New York: Penguin, 1997) đăng tải những bản dịch của 17 truyền thuyết (trong đó có hai truyền thuyết của Vinland), rút ra từ năm tập Tuyển tập truyền thuyết của Iceland (Reykjavik: Leifur Eiriksson, 1997).
Hai bài viết khác liên quan tới những thay đổi của thiên nhiên Iceland là Andrew Dugmore và những người khác, “Địa thời học, thay đổi môi trường và sự định cư của người Norse ở Iceland” (Khảo cổ Môi trường 5: 21-34 (2000)), và Ian Simpson cùng những người khác “Vượt qua ngưỡng cửa: Sinh thái học loài người và những hình thái suy thái môi trường trong lịch sử (Catena 42: 175-192 (2001)). Bởi mỗi loài côn trùng đều có môi trường sống riêng và thích ứng với các điều kiện khí hậu riêng, nên Paul Buckland và các đồng nghiệp của ông có thể sử dụng những loài côn trùng được bảo quản tại các khu vực khảo cổ như những dấu hiệu môi trường của từng thời kỳ. Các bài viết của họ bao gồm Gudrún Sveinbjarnardóttir và những người khác. “Thay đổi phong cách tại Eyjafjallasveit, miền Nam Iceland” (Norsk Geog. Tidsskr 36: 75-88 (1982)); Paul Buckland và những người khác “Cổ sinh thái học thể holocene muộn tại Ketilsstadir tại Myrdalur, Nam Iceland” (Jokull 36: 41-55 (1986)); Paul Buckland và những người khác “Đồi cây ở Eyjafjallasveit, miền Nam Iceland: Những nghiên cứu cổ sinh thái học về tác động của Landnam” (Acta Archaeologica 61: 252-271 (1991)); Gudrun Sveinbjarnardottir và những người khác, “Những đồng cỏ tại Iceland: Một khảo sát lịch sử và khảo cổ học” (Acta Archaeologica 61: 74-96 (1991)); Paul Buckland và những người khác “Những điều tra cổ sinh thái học tại Reykholt, Tây Iceland”, các trang từ 149-168 trong C. D. Morriss và D. J. Rackhan, Sự tồn tại và định cư của người Norse và sau này tại Bắc Đại Tây Dương (Glasgow: Nhà xuất bản Đại học Glasgow, 1992); và Paul Buckland và những người khác,. “Cái nhìn của côn trùng trong trang trại của người Norse”, các trang từ 518-528 trong Colleen Batey và những người khác, Thời đại Viking tại Caithness, Orkney và Bắc Đại Tây Dương (Edinburg: Nhà xuất bản Đại học Edinburg, 1993). Cũng là một phương pháp dựa trên côn trùng để tìm hiểu những thay đổi môi trường tại quần đảo Faeroe được Kevin Edward, và những người khác sử dụng trong cuốn “Phong cảnh tại landnám: Bằng chứng phấn hoa và cổ phấn hoa từ Toftanes, quần đảo Faro” (Frodskaparrit 46: 177-192 (1998)).
Hai cuốn sách tập hợp chi tiết những thông tin hiện có về xã hội người Norse ở Greenland: Kirsten Seaver, Tiếng dội băng giá: Greenland và sự thám hiểm Bắc Mỹ năm 1000-1500 (Stanford, Calif. Nhà xuất bản Đại học Stanford, 1996), và Finn Gad, Lịch sử của Greenland, tập một: Những thời kỳ đầu tới năm 1700 (Montreal: Nhà xuất bản Đại học McGill-Queen, 1971). Một cuốn sách tiếp nối của Finn Gad, Lịch sử Greenland, tập hai: 1700-1782 (Montreal: Nhà xuất bản Đại học McGill-Queen, 1973), tiếp tục câu chuyện qua thời kỳ “sắp đặt lại” và thuộc địa hóa của người Đan Mạch. Niels Lynnerup viết về những phân tích của ông từ những bộ hài cốt hiện có của người Norse ở Greenland trong chuyên khảo Người Norse ở Greenland: Một nghiên cứu nhân chủng học và sinh học (Copenhagen: Ủy ban Nghiên cứu khoa học tại Greenland, 1998). Hai chuyên khảo nhiều tác giả với nhiều bài viết về người Inuit và những tổ tiên người Mỹ thổ dân ở Greenland là Martin Appelt và Hans Christian Gullov với cuốn Late Dorset in High Arctic Greenland (Copenhagen: Trung tâm Địa cực Đan Mạch, 1999) và Martin Appelt và những người khác trong cuốn Những đặc tính và mối liên hệ văn hóa tại Bắc Cực (Copenhagen: Trung tâm Địa cực Đan Mạch, 2000). Một cái nhìn cá nhân sâu sắc về đời sống của người Inuit ở Greenland được dựng lên sau khi phát hiện hài cốt của sáu phụ nữ, một trẻ em và một trẻ sơ sinh được chôn vào khoảng năm 1475, toàn bộ cơ thể và quần áo vẫn còn được bảo quản tốt nhờ khí hậu khô lạnh. Những xác ướp này được mô tả và minh họa bởi Jens Peder Hart Hansen và những người khác với cuốn Những xác ướp ở Greenland (London: Nhà xuất bản Bảo tàng Anh, 1991); nội dung cuốn sách có ảnh gương mặt của đứa trẻ sơ sinh mới 6 tháng tuổi rất ấn tượng và khó quên.
Hai bộ nghiên cứu khảo cổ quan trọng nhất về xã hội Norse Greenland trong vòng 20 năm qua là của Thomas McGovern và Jette Arneborg và các đồng nghiệp của họ. Trong những bài viết của McGovern có Thomas McGovern “Thám hiểm Vinland: Một quan điểm từ Bắc Đại Tây Dương” (Tạp chí Nhà khảo cổ Bắc Mỹ 2: 285-308 (1981); Thomas McGovern, “Những đóng góp vào nền kinh tế cổ của xã hội Norse của Greenland” (Acta Archaeologica 54: 73-122 (1985)); Thomas McGovern và những người khác, “Các đảo miền Bắc, thời đại của con người và suy thoái môi trường: Một cái nhìn về thay đổi sinh học và xã hội ở Bắc Đại Tây Dương thời Trung cổ” (Sinh thái học con người 16: 225-270 (1998)); Thomas McGovern, “Khí hậu, sự tương quan và kết quả trong xã hội Norse của Greenland” (Nhân chủng học Bắc Cực 28: 77-100 (1991)); Thomas McGovern và những người khác, “Khảo cổ học động vật có xương sống tại khu vực Sandnes V51: Thay đổi kinh tế tại một trang trại của tù trưởng ở phía Tây Greenland” (Nhân chủng học Bắc cực 33: 94-121 (1996)); Thomas Amorosi và những người khác, “Cướp bóc thiên nhiên: Tác động của con người tới vùng Bắc Đại Tây Dương của người Scandinavi” (Sinh thái học con người 25: 491-518 (1997)); và Tom Amorosi và những người khác, “Họ đã không chỉ sống bằng cỏ: Chính trị và cổ sinh thái học cỏ khô của gia súc trong khu vực Bắc Đại Tây Dương (Khảo cổ môi trường 1: 41-54 (1998)). Các bài viết của Arneborg bao gồm Jette Arneborg, “Nhà thờ La Mã trong xã hội Norse của Greenland” (Acta Archaeologica 61: 142-150 (1991)); Jette Arneborg, “Mối liên hệ giữa người Eskimoss và người Norse tại Greenland: Tổng quan về các bằng chứng”, các trang từ 23-35 trong Tvaerfaglige Vikingesymposium (Aarhus, Đan Mạch: Đại học Aarhus, 1993); Jette Arneborg, “Những đỉnh núi Burgundian Basques và những người Norse chết tại Herjolfsnaes, Greenland”, các trang từ 75-83 trong Nationalmuseets Arbejdsmark (Copenhagen: Nationalmuseets, 1996); và Jette Arneborg và những người khác, “Sự thay đổi trong khẩu phần ăn của người Viking ở Greenland được xác định từ các phân tích chất đồng vị carbon ổn định và phương pháp xác định niên đại bằng carbon 14 trên xương họ” (Carbon phóng xạ 41: 157-168 (1999). Trong số những khu vực ở Greenland mà Arneborg và các đồng nghiệp của bà khai quật, đáng chú ý là “Trang trại dưới cát”, một trang trại lớn của người Norse được bao phủ một lớp cát dày ở Khu định cư phía Tây; khu vực đó và một số vùng khác của Greenland được mô tả trong một chuyên khảo của Jette Arneborg và Hans Christian Gullov, Con người, Văn hóa và Môi trường trong xã hội Greenland cổ đại (Copenhagen: Trung tâm Địa cực Đan Mạch, 1998).C. L. Vebaek mô tả những cuộc khai quật của ông trong giai đoạn từ 1945-1962 trong ba chuyên khảo tương ứng với các số 14, 17 và 18 (1991, 1992 và 1993), trong hàng loạt Meddlelser om Gronland, Con người và Xã hội, Copenhagen: Địa hình Nhà thờ của Khu Đông và Cuộc khai quật tu viện Benecdictine tại Narsarsuaq tại vịnh Uunartoq; Vatnahverfi: Một vùng nội địa của Khu Đông tại Greenland; và Narsaq: Một trang trại của người Norse ở Landnama.
Trong số những bài viết độc lập quan trọng về xã hội Norse ở Greenland là Robert Mc Ghee, “Mối liên hệ giữa thổ dân Bắc Mỹ và người Norse thời Trung cổ: Tổng quan về các bằng chứng”, (Tạp chí Nước Mỹ cổ xưa 49: 4-26 (1984); Joel Berglund, “Sự suy thoái của những khu định cư của người Norse tại Greenland (Nhân chủng học Địa cực 23: 109-135 (1986)); Svend Albrethsen và Christian Keller, “Sử dụng saeter trong hoạt động nông nghiệp của người Norse tại Greenland” (Nhân chủng học Địa cực 23: 91-107 (1986)); Christian Keller “Người Viking ở Tây Đại Tây Dương: Một hình thái xã hội của người Norse Greenland thời Trung cổ (Acta Archaeologica 61: 126-141 (1990)); Bent Fredskild, “Nông nghiệp trong một khu vực khó khăn: Miền Nam Greenland từ vùng đất Landnam của người Norse (1985) tới năm 1985”, các trang từ 381-393 trong Hilary Birks và những người khác với cuốn Phong cảnh văn hóa: Quá khứ, hiện tại và tương lai (Cambridge; Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1988); Bent Fredskild, “Xói mòn và những thay đổi thực vật tại miền Nam Greenland do nông nghiệp gây ra” (Geografisk Tidsskrift 92: 14-21 (1992); và Bjarne Jakobsen “Tài nguyên đất và xói mòn đất tại khu định cư của người Norse Osterbygden ở Miền Nam Greenland” (Acta Borealia 1: 56-68 (1991)).
Chương 9
Ba cuốn sách, với những điểm nổi bật khác nhau, mô tả các xã hội cao nguyên New Guinea là : Một đánh giá lịch sử của Gavin Souter, New Guinea: Sự bí ẩn cuối cùng (Sydney: Angus và Robertson, 1964); Bob Connolly và Robin Anderson, Những mối quan hệ đầu tiên (New York: Viking, 1987), một lời kể cảm động về những cuộc gặp gỡ đầu tiên của cư dân New Guinea cao nguyên với người châu Âu; và Tim Flannery, Throwim Way Leg (New York: Nhà xuất bản Atlantic Monthly, 1998), là những kinh nghiệm của một nhà động vật học với những cư dân cao nguyên. Hai bài viết của R. Michale Bourke đề cập tới các hoạt động trồng rừng phi lao và các hoạt động nông nghiệp khác duy trì độ màu của đất ở các cao nguyên New Guinea: “Các hoạt động nông nghiệp bảo tồn bản địa”, Báo cáo của Hội thảo chung ASOCON/Khối Thịnh Vượng, các trang từ 67-71 (Jakarta: Hệ thống bảo tồn đất châu Á, 1991), và “Quản lý các loài cây hoang dã với hoạt động trồng cây ở Papua New Guinea”, Tài liệu kỹ thuật Quản lý tài nguyên tại châu Á/Thái Bình Dương 1997/5 (Canberra, Trường Nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương, Đại học Quốc gia Australia, 1997). Ba bài viết của Simon Haberle tóm lược bằng chứng phấn hoa để tái hiện lịch sử trồng cây phi lao: “Những thay đổi trong môi trường cổ ở các cao nguyên phía đông của Papua New Guinea”, (Khảo cổ học châu Đại Dương 31:1-11 (1996)); “Xác định niên đại các bằng chứng về thay đổi trong nông nghiệp ở các cao nguyên New Guinea: 2.000 năm cuối” (Khảo cổ Australia số 47: 1-19 (1998)); và S. G. Haberle, G. S. Hope, và Y. de Fretes, “Thay đổi môi trường tại thung lũng Baliem, núi Irian-Jaya, Cộng hòa Indonesia” (Tạp chí Địa lý sinh vật 18: 25-40 (1991)).
Patrick Kirch và Douglas Yen mô tả công tác thực địa của họ tại Tikopia trong chuyên khảo Tikopia: Tiền sử học và sinh thái của một phần nằm ngoài Polynesia (Honolulu: Bản tin Bảo tàng Bishop 238, 1982). Những bài viết sau đó về Tikopia của Kirch bao gồm “Những hệ thống trao đổi và mối liên hệ giữa các đảo trong sự chuyển đổi của một xã hội đảo: Trường hợp Tikopia”, các trang từ 33-41 trong Patrick Kirch với các cuốn Các xã hội đảo: Các phương pháp khảo cổ nghiên cứu sự tiến hóa và chuyển đổi (Cambridge; Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1986), Chương 12 của cuốn sách ẩm ướt và Khô ráo (Chicago: Nhà xuất bản Đại học Chicago, 1994); “Thăm lại không gian xã hội Tokipia”, các trang từ 257-274 trong J. M. Davidson và những người khác với cuốn Lịch sử văn hóa châu Đại Dương: Những bài luận tỏ lòng kính trọng Roger Green (New Zealand: Số đặc biệt của tạp chí Khảo cổ New Zealand, 1996); và “Các lịch sử vi mô: Quan điểm của các đảo về thay đổi ‘toàn cầu’” (Tạp chí Nhà nhân chủng học Mỹ 99: 30-42 (1997)). Hàng loạt sách của Raymond Fith về Tikopia bắt đầu với Chúng tôi, người Tikopia (London: George Allen và Unwin, 1936) và Nền kinh tế hoang sơ của người Polynesia (London: George Allen và Unwin, 1939). Sự tuyệt chủng các loài chim trong giai đoạn định cư đầu tiên của người Tikopia được David Steadman, Dominique Pahlavin và Patrick Kirch mô tả trong cuốn “Sự tuyệt chủng, địa sinh vật và sự khai thác của loài người với những loài chim tại Tikopia và Anuta, những vùng nằm ngoài Polynesia trên quần đảo Solomon” (Tài liệu không thường xuyên của Bảo tàng Bishop 30: 118-153 (1990)). Về những lý giải thay đổi dân số và kiểm soát dân số ở Tikopia, xin xem W. D. Borrie, Raymond Firth và James Spillius, “Dân số của Tikopia, 1929 và 1952” (Những nghiên cứu dân số 10: 229-252 (1957)).
Những gì mà tôi đề cập về chính sách quản lý rừng tại Tokugawa Nhật Bản dựa trên ba cuốn sách của Conrad Totman: Quần đảo xanh: Trồng rừng ở Nhật Bản thời kỳ tiền công nghiệp (Berkeley: Nhà xuất bản Đại học Califorlia, 1989); Nhật Bản hiện đại thời kỳ đầu (Berkeley: Nhà xuất bản Đại học California, 1993); và Ngành công nghiệp gỗ tại Nhật Bản hiện đại thời kỳ đầu (Honolulu, Nhà xuất bản Hawaii, 1995). Chương 5 của ranh giới vô tận: Lịch sử môi trường của thế giới hiện đại thời kỳ đầu (Berkeley: Nhà xuất bản Đại học Califorlia, 2003) John Richard đề cập tới những cuốn sách của Totman và những nguồn tài liệu khác thảo luận về ngành lâm nghiệp của Nhật Bản qua so sánh với những trường hợp nghiên cứu môi trường hiện đại khác. Luke Roberts, Chủ nghĩa trọng thương trong một lãnh địa của Nhật Bản: Những nguồn gốc thương nghiệp của chủ nghĩa dân tộc trong nền kinh tế tại Tosa thế kỷ XVIII (Cambridge: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1998) đề cập tới nền kinh tế trong vùng lãnh địa của một tướng quân phụ thuộc lớn vào lâm nghiệp. Sự hình thành và lịch sử thời kỳ đầu của Tokugawa Nhật Bản được đề cập trong tập 4 của Cambridge về lịch sử của Nhật Bản, John Whitney Hall, cuốn Nhật Bản hiện đại thời kỳ đầu (Cambridge; Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1991).
Sự di chuyển từ phá rừng sang trồng rừng tại Đan Mạch, Thụy Sĩ và Pháp được Alexander Mather trình bày trong cuốn “Sự chuyển dịch từ phá rừng sang trồng rừng tại châu Âu” các trang từ 35-52 và trong A. Angelsen và D. Kaimowitz trong Các công nghệ nông nghiệp và phá rừng nhiệt đới (New York: Nhà xuất bản CABI, 2001). Về tình trạng phá rừng tại Andes dưới thời Inca, xin đọc Alex Chepstow-Lusty và Mark Winfield, “Ngành lâm nghiệp Inca: những bài học từ quá khứ” (Ambio 29: 322-328 (1998)).
Những bài viết về các xã hội nông nghiệp hiện đại quy mô nhỏ, tự cung tự cấp: với Alps-Thụy Sĩ, tác giả Robert Netting với cuốn “Con người và đồng cỏ: Các chiến lược sử dụng đất thuộc dãy Alps” (Nhân loại học kỷ thứ tư 45: 132-144 (1972)); “Những điểm chung của nông dân Alps: những quan sát đất canh tác chung trong một ngôi làng Thụy Sĩ” (Sinh thái học con người 4: 135-146 (1976)), và Sự cân bằng trên dãy Alps (Cambridge: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1981); với các hệ thống thủy lợi Tây Ban Nha, tác giả T. F. Glick với cuốn Thủy lợi và Xã hội tại Valencia thời trung cổ (Cambridge, Mass.: Nhà xuất bản Đại học Harvard, 1970) và A. Maass và R. L. Anderson, Và hoang mạc sẽ phát triển: Xung đột, Tăng trưởng và Công bằng trong các môi trường Arid (Malabar, Fla.: Krieger, 1986); và với các hệ thống thủy lợi Philippine, R. Y. Siy, Jr., Quản lý các tài nguyên công cộng: Những bài học từ Zanjera (Thành phố Quezon: Nhà xuất bản Đại học Philippine, 1982). Những nghiên cứu điển hình từ Thụy Sĩ, Tây Ban Nha và Philippine được so sánh trong chương 3 của cuốn Quản lý các nguồn lợi chung của Elinor Ostrom (Cambridge; Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1990).
Những bài viết về sự chuyên biệt hóa của sinh thái học trong hệ thống đẳng cấp xã hội Ấn Độ bao gồm Madhav Gadgil và Ramachandra Guha, Mảnh đất nứt nẻ: Một lịch sử sinh thái học của Ấn Độ (Delhi, Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1992). Hai bài viết có thể coi là điển hình bàn về vấn đề quản lý thận trọng các nguồn tài nguyên của các tầng lớp xã hội ở Ấn Độ về mặt sinh học, gồm Madhav Gadhi và K. C. Malhotra, “Vai trò thích ứng của hệ thống đẳng cấp xã hội Ấn Độ: Quan điểm về mặt sinh thái học” (Biên niên sử sinh học con người 10: 465-478 (1983)), và Madhav Gadgil và Prema Iyer, “Về sự đa dạng trong việc sử dụng các nguồn tài sản chung của xã hội Ấn Độ” các trang 240-255 cuốn Các nguồn tài nguyên chung: Sinh học và sự phát triển bền vững dựa trên cộng đồng (London: Belhaven, 1989) - F. Berkes.
Trước khi dừng lại những ví dụ điển hình về thành công hay thất bại của các xã hội trước đây, chúng ta hãy xem xét thêm một số ví dụ khác về các xã hội thất bại. Tôi đã thảo luận chi tiết năm ví dụ về các xã hội thất bại, bởi dường như đó là những xã hội mà tôi hiểu rõ nhất. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều xã hội trước đây khác, trong đó có một số khá nổi tiếng, có thể cũng đã khai thác kiệt quệ các nguồn tài nguyên của mình, đôi khi tới mức suy thoái hoặc sụp đổ. Tôi không thảo luận nhiều về chúng trong cuốn sách này, bởi chúng không chắc chắn và gây tranh cãi nhiều hơn những trường hợp mà tôi đã thảo luận chi tiết. Tuy nhiên, để cuốn sách đầy đủ hơn nữa, tôi sẽ giới thiệu ngắn gọn thêm chín xã hội nữa, theo tiến trình địa lý từ Tân thế giới tới Cựu thế giới:
Người Mỹ thổ dân và quần đảo Channel của California ngoài khơi Los Angeles đã lần lượt khai thác kiệt quệ những loài giáp xác khác nhau, điều này biểu hiện qua những chiếc vỏ của chúng trong những đống rác. Những bãi rác cổ nhất chứa phần lớn vỏ của những loài giáp xác lớn sống gần bờ biển nhất và dễ dàng đánh bắt bằng phương pháp lặn. Với niên đại của các di tích khảo cổ, những bãi rác cho chúng ta thấy những loài giáp xác bị khai thác dần từng loài một, chúng ngày càng nhỏ đi, cho tới khi hoàn toàn cạn kiệt thì con người chuyển sang đánh bắt những loài khác nhỏ hơn, sống trong những vùng nước sâu hơn, xa bờ biển hơn. Một lần nữa, những loài này lại bị khai thác dần dần và kích cỡ của chúng cũng ngày càng nhỏ đi. Cứ như vậy, các loài giáp xác lần lượt bị khai thác kiệt quệ cho tới khi chúng không còn giá trị kinh tế , và rồi con người lại chuyển sang loài khác, ít giá trị hơn và khó đánh bắt hơn. Xem Terry Jones, Những bài luận về Hàng hải California thời tiền sử (David, California: Trung tâm nghiên cứu khảo cổ, 1992); và L. Mark Raab, “Những phân tích thức ăn tốt nhất từ những loài giáp xác thu thập từ đảo San Clemente, California” (Tạp chí Sinh học dân tộc 12: 63-80 (1992)). Một nguồn thực phẩm khác trên những hòn đảo này có lẽ cũng bị thổ dân Mỹ khai thác cạn kiệt là những loài vịt biển không biết bay có tên gọi là Chendytes lawesi, rất dễ bị bắt, và rõ ràng đã bị tuyệt chủng sau khi con người định cư trên quần đảo Channel. Ngành khia thác bào ngư tại Nam California hiện đại cũng có số phận tương tự: Khi tôi mới chuyển tới Los Angeles năm 1966 mọi người vẫn có thể mua được bào ngư trong siêu thị và nhặt chúng trên bờ biển, nhưng giờ đây, khi tôi vẫn còn sống, bào ngư đã hoàn toàn biến khỏi thực đơn của Los Angeles do bị khai thác cạn kiệt.
Thành phố thổ dân Mỹ lớn nhất Bắc Mỹ là Cahokia, nằm bên ngoài St. Louis và một vài ngọn núi lớn của nó từng là những điểm du lịch rất thu hút du khách. Khi thung lũng Mississippi xuất hiện ở đây và ở Đông Nam nước Mỹ. Thành phố Cahokia phát triển tới tột đỉnh vào những năm 1200 rồi sụp đổ trước khi người châu Âu tới đây từ rất lâu. Nguyên nhân khiến Cahokia sụp đổ hiện vẫn còn nhiều tranh cãi, nhưng phá rừng dẫn tới xói mòn và trầm tích làm lòng hồ dâng cao cũng có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng. Xin đọc Neal Lopinot và William Woods, “Khai thác gỗ và sự sụp đổ của Cahokia” các trang từ 206-231 trong C. Magaret Scarry với cuốn Thực phẩm và Nông nghiệp ở các khu rừng phía Đông (Gainesville: Nhà xuất bản Đại học Florida, 1993); Timothy Pauketat và Thomas Emerson với cuốn Cahokia: Sự thống trị và Lý tưởng trong thế giới Mississippi (Lincoln: Nhà xuất bản Đại học Nebraska, 1997); và George Milner, Thủ lĩnh Cahokia: Khảo cổ học về một xã hội của Mississippi (Washington, D.C: Nhà xuất bản Viện Smithsonian, 1998). Trong phần lãnh thổ còn lại phía Đông Nam nước Mỹ, các thủ lĩnh của xã hội Mound Builder xuất hiện và sụp đổ; đất đai bạc màu có thể có một vai trò lớn ở đây.
Xã hội xuất hiện Nhà nước đầu tiên trên bờ biển Peru là Moche, nổi tiếng với những đồ gốm tinh xảo, nhất là những chiếc lọ, bình sinh động. Xã hội Moche sụp đổ vào khoảng năm 800, rõ ràng có bị ảnh hưởng bởi một số hiện tượng El Nino, lũ lụt tàn phá hệ thống thủy lợi và hạn hán (xem cuốn sách xuất bản năm 1999 của Brian Fagan đã trích dẫn trong phần Đọc thêm của Mở đầu, để thảo luận và tham khảo).
Một trong những đế chế hay những chân trời văn hóa của các cao nguyên Andes tồn tại trước đế chế Inca là đế chế Tiwanaku, có thể đã bị sụp đổ do hạn hán. Xin xem Alan Kolata, Tiwanaku (Oxford: Blackwell 1993); Alan Kolata với cuốn Tiwanaku và nội địa của nó: Khảo cổ và cổ sinh thái học của nền văn minh Andes (Washington, D.C: Nhà xuất bản Viện Smithsonian, 1996); và Michael Binford và những người khác “Sự biến thiên của khí hậu và sự thịnh suy của một nền văn minh Andes” (Tạp chí Nghiên cứu Kỷ thứ tư 47: 235-248 (1997)).
Hy Lạp cổ đại trải qua nhiều chu kỳ về các vấn đề môi trường và phục hồi với chu kỳ khoảng 400 năm. Trong mỗi chu kỳ đề xuất hiện các vấn đề như dân số tăng lên, rừng bị tàn phá, những sườn đồi được tạo thành bậc nhằm ngăn chặn xói mòn, và những chiếc đập được xây dựng để giảm thiểu bùn lắng ở dưới đáy thung lũng. Thậm chí trong mỗi chu kỳ, những sườn đồi bậc thang và những chiếc đập ngày vẫn bị ngập, vùng đất Hy Lạp cổ đại đã bị bỏ hoang hoặc xảy ra thảm họa dân số và sự tiên tiến của xã hội đã suy giảm nghiêm trọng, cho tới khi thiên nhiên được phục hồi, cho phép nuôi sống một dân số lớn hơn. Một trong những vụ sụp đổ này xảy ra đồng thời với sự sụp đổ của người Mycenea Hy Lạp, xã hội Hy Lạp này từng được Homer ca tụng và là nơi diễn ra cuộc chiến thành Troy. Xã hội Mycenea Hy Lạp có chữ viết cổ Linear B, nhưng khi xã hội này sụp đổ thì loại chữ viết này cũng biến mất, và Hy Lạp trở thành xã hội không có chữ viết cho tới khi chữ viết xuất hiện trở lại (hiện dựa trên bảng chữ cái) vào khoảng năm 800 TCN (xin xem cuốn sách xuất bản năm 1999 của Brian Fagan, đã trích dẫn trong phần Đọc thêm của Mở đầu, để thảo luận và tham khảo).
Nơi mà chúng ta nghĩ là nền văn minh bắt đầu vào khoảng 10.000 năm trước trong vùng đất Tây Nam Á có tên gọi Vùng đất hình lưỡi liềm - Fertile Crescent và bao quanh lãnh thổ của Iran, Iraq, Syria, Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ, Lebanon, Jordan và Israel/Palestine hiện nay. Vùng đất hình lưỡi liềm là nơi có nền nông nghiệp phát triển lâu đời nhất thế giới, nơi bắt nguồn của kim loại, chữ viết và các xã hội Nhà nước đầu tiên. Bởi vậy, các dân tộc của Vùng đất hình lưỡi liềm được hưởng những lợi thế đầu tiên từ hàng ngàn năm trước. Tại sao từng là những vùng đất hàng đầu thế giới trong thời gian lâu như vậy, vùng đất hình lưỡi liềm lại suy thoái tới mức ngày nay nó trở nên nghèo nàn, ngoại trừ những giếng dầu, và cái tên “Vùng đất lưỡi liềm màu mỡ” trở thành một trò đùa tàn nhẫn? Iraq hiện không còn ảnh hưởng lớn trên thế giới nhưng vẫn là nước hàng đầu trong nền nông nghiệp thế giới. Phần lớn những lý giải về sự suy thoái của vùng đất này chính là tình trạng phá rừng trong điều kiện môi trường ít mưa, và tình trạng muối hóa đã tàn phá vĩnh viễn một số vùng đất canh tác lâu đời nhất thế giới (xin xem hai cuốn sách do Charles Redman viết và biên tập, đã trích dẫn trong Phần đọc thêm của Lời mở đầu, để thảo luận và tham khảo).
Những di tích bất hủ, nổi tiếng nhất ở châu Phi, phía nam xích đạo, là những di tích của đất nước Great Zimbabwe. Great Zimbabwe phát triển thịnh vượng từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV, kiểm soát các tuyến giao thương giữa các vùng đất nội địa của châu Phi và bờ biển phía Đông của nó. Xin xem David Phillipson, Khảo cổ học châu Phi, tái bản lần 2 (Cambridge: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1993); Christopher Ehret, Những nền văn minh của châu Phi: Lịch sử tới năm 1800 (Charlottesville: Nhà xuất bản Đại học Virginia, 2002).
Những thành phố xuất hiện sớm nhất và những nhà nước lớn nhất của tiểu lục địa Ấn Độ xuất hiện trong thiên niên kỷ thứ ba TCN, trong thung lũng sống Ấn hiện là Pakistan. Những thành phố trong thung lũng sông Ấn này thuộc về xã hội gọi là nền văn minh Harappan, với nhữung di tích chữ viết cổ hiện vẫn chưa giải mã được. Từng có giả thiết cho rằng nền văn minh Harappan bị hủy diệt bởi những cuộc xâm lăng của người Arian nói tiếng Ấn-Âu từ phía Tây Bắc, nhưng giờ đã rõ rằng các thành phố này suy thoái trước khi diễn ra những cuộc xâm lược (Ảnh 41). Những đợt hạn hán và chuyển dịch dòng chảy của sông Ấn có thể góp phần khiến các thành phố này sụp đổ. Xin xem Gregory Possehl, Nền văn minh Harappan (Warminster, Anh: Aris và Phillipps, 1982); Michael Jansen, Maire Mulloy và Gunter Urban, các cuốn Những thành phố bị lãng quên của sông Ấn (Mainz, Đức: Philipp von Zabern, 1991); và Jonathan Kenoyer, Các thành phố cổ của nền văn minh thung lũng sông Ấn (Karachi, Pakistan: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1998).
Cuối cùng, những tổ hợp đền đài và hồ chứa nước vĩ đại củaAngkor Wat, cố đô của đế chế Khmer, tạo nên những di tích và “bí ẩn” khảo cổ nổi tiếng nhất Đông Nam Á, thuộc đất nước Campuchia hiện nay (Ảnh 42). Khmer suy thoái có thể do bùn lắng đọng trong các bể chứa cung cấp nước cho nền nông nghiệp lúa nước. Khi Đế chế Khmer càng trở nên suy yếu, nó mất đi khả năng ngăn chặn những kẻ thù truyền kiếp người Thái, những kẻ thù mà đế chế Khmer đủ sức chống lại khi còn hùng mạnh. Xin xem Michael Coe, Angkor Wat và nền văn minh Khmer (London: Thames và Hudson, 2003), cuối cùng những bài viết và cuốn sách của Bernard-Philippe Groslier mà Coe trích dẫn.
Chương 10
Nếu bạn quyết định tham khảo những nguồn tài liệu cơ bản về nạn diệt chủng tại Rwanda và lịch sử của nó, hãy cố gắng đọc một số tác phẩm kì công sau.
Catharine Newbury, Sự liên quan của áp bức: Các điều kiện sinh sống và Sắc tộc tại Rwanda, 1860-1960 (New York: Nhà xuất bản Đại học Columbia, 1988) mô tả xã hội Rwanda đã thay đổi như thế nào, và vai trò của người Hutu và Tutsi bị phân cực như thế nào từ thời kỳ tiền thuộc địa cho tới khi độc lập.
Tổ chức theo dõi Nhân quyền, Không còn ai để kể chuyện: Thảm sát tại Rwanda (New York: Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, 1999) đề cập tới những chi tiết cụ thể về tình hình căng thẳng trước khi xảy ra những sự kiện năm 1994, và tiếp theo là 414 trang kể về những vụ thảm sát lẫn nhau của người Rwanda, và hậu quả cuối cùng của nó.
Philip Gourevitch, Chúng tôi muốn báo với bạn rằng ngày mai chúng tôi và gia đình sẽ bị giết (New York: Farrar, Straus và Giroux, 1998) là một lời kể về vụ thảm sát của một phóng viên, người đã phỏng vấn nhiều người sống sót và mô tả sự bất lực của Liên Hiệp Quốc và các nước khác trong việc ngăn chặn những cuộc thảm sát.
Trong chương 10 của cuốn sách có trích dẫn một số đoạn trích từ cuốn Cuộc khủng hoảng tại Rwanda: Lịch sử của sự thảm sát, của tác giả Gerard Prunier (New York: Nhà xuất bản Đại học Columbia, 1995), cuốn sách của một chuyên gia người Pháp về Đông Phi, viết về hậu quả tức thời của cuộc thảm sát và tái hiện sống động động cơ của những kẻ tham gia cuộc thảm sát và của sự can thiệp của Chính phủ Pháp. Những chi tiết mà tôi đề cập tới những vụ người Hutu thảm sát lẫn nhau tại xã Kanama dựa trên những phân tích trong bài viết “Những quan hệ đất đai dưới những áp lực không thể chịu đựng được: Rwanda rơi vào cái bẫy theo học thuyết Malthus” của hai tác giả Catherine Andre và Jean-Philippe Platteau (Tạp chí Hành vi và Tổ chức Kinh tế 34: 1-47 (1998)).
Chương 11
Hai cuốn sách so sánh lịch sử của hai nước có chung hòn đảo Hispaniola là một lời kể sống động bằng tiếng Anh của tác giả Michele Wecker, Tại sao gà đá nhau: Người Dominica, người Haiti và cuộc tranh giành Hispaniola (New York: Hill và Wang 1999), và sự so sánh địa lý và xã hội bằng tiếng Tây Ban Nha của tác giả Rafael Emilio Yunen Z., La Isla Como Es (Santiago, Cộng hòa Dominica: Universidad Catolica Madre y Maestra, 1985).
Đọc ba cuốn sách của Mats Lundahl sẽ như bước đầu làm quen với văn hóa Haiti: Nông dân và sự cùng khổ: Ví dụ về Haiti (London: Croom Helm, 1979); Nền kinh tế Haiti: Con người, đất đai và thị trường (London: Croom Helm, 1983); và Chính trị hay Thị trường? Những bài luận về sự kém phát triển của Haiti (London: Routledge, 1992). Nghiên cứu cổ điển về cuộc cách mạng của người Haiti năm 1781-1803 là C. L. R. James, Những người Jacobins đen, tái bản lần hai. (London: Vintage, 1963).
Lịch sử của Cộng hòa Dominica bằng tiếng Anh là cuốn Cộng hòa Dominica: Lịch sử một quốc gia, Frank Moya Pons (Princeton, N.J.: Markus Wiener, 1998), và bản tiếng Tây Ban Nha Manual de Historia Dominicana, tái bản lần 9, (Santiago, Cộng hòa Dominica, 1999). Cũng bản tiếng Tây ban Nha là cuốn sách lịch sử hai tập của Roberto Cassa, Lịch sử xã hội và kinh tế Cộng hòa Dominica (Santo Domingo: Editora Alfa y Omega, 1998 và 2001). Cuốn sách lịch sử của Marlin Clausner chú trọng vào vùng nông thôn: Nông thôn Santo Domingo: Định cư, Di cư và tái định cư (Philadenphia: Nhà xuất bản Đại học Temple, 1973). Harry Hoetink, Dân tộc Dominica, 1850-1990: Những ghi chép xã hội học lịch sử (Baltimore: Nhà xuất bản Đại học Johns Hopkins, 1982) viết về cuối thế kỷ XIX. Claudio Vedovato, Chính trị, Ngoại thương và Phát triển kinh tế: Nghiên cứu về Cộng hòa Dominica (London: Croom Helm, 1986) chú trọng vào thời kỳ Trujillo cầm quyền và hậu Trujillo. Hai cuốn sách giới thiệu về Dominica thời kỳ lãnh đạo của Trujillo là cuốn Chế độ độc tài và Sự phát triển: Những phương pháp kiểm soát Cộng hòa Dominica dưới thời Trujillo - Howard Wiarda (Gainesville: Nhà xuất bản Đại học Florida, 1968) và một cuốn mới hơn là Những nền tảng của chế độ chuyên quyền: Nông dân, Chế độ Trujillo và Tính chất hiện đại trong lịch sử Dominica - Richard Lee Turist (Palo Alto, Calif.: Nhà xuất bản Đại học Stanford, 2002).
Một bản thảo về lịch sử các chính sách môi trường tại Cộng hòa Dominica, liên quan rất nhiều tới chương này, là “Introducction: bibli-ografia sobre medioambiente y recursos naturales en la Republica Dominicana” - Walter Cordero (2003).
Chương 12
Phần lớn các tài liệu mới nhất về các vấn đề dân số và môi trường của Trung Quốc là bằng tiếng Trung, hoặc lấy từ các trang web, hoặc cả hai. Trong những bài viết tham chiếu của tôi và Jianguo, “Môi trường Trung Quốc trong một thế giới toàn cầu” (đang chuẩn bị). Về các nguồn tài liệu bằng sách báo hay tạp chí tiếng Anh, trung tâm Woodrow Wilson tại Washington D.C (địa chỉ email: chinaenv@erols.com), xuất bản hàng loạt các tập sách thường niên mang tên Các vấn đề môi trường Trung Quốc, các ấn phẩm của Ngân hàng Thế giới bao gồm Trung Quốc: Không khí, Đất và Nước (Washington D.C: Ngân hàng thế giới, 2001), có thể dưới dạng sách hay đĩa CD-ROM. Một số cuốn sách khác bao gồm Ai sẽ nuôi sống Trung Quốc? (New York: Norton, 1995) L. R. Brown; M. B. McElroy, C. P. Nielson, và P. Lydon, các cuốn: Trung Quốc mạnh mẽ: Sự hòa hợp giữa bảo vệ môi trường và Tăng dân số (Cambridge, Mass.: Nhà xuất bản Đại học Havard, 1998); J. Shapiro, Cuộc chiến chống thiên nhiên của Mao (Cambridge; Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 2001); D. Zweig, Quốc tế hóa Trung Quốc: Những lợi ích trong nước và những liên hệ toàn cầu (Ithaca, N.Y.: Nhà xuất bản Đại học Cornell, 2002); và Mark Elvin, Sự suy thoái của đàn voi: Lịch sử môi trường Trung Quốc (New Haven: Nhà xuất bản Đại học Yale, 2004). Bản dịch tiếng Anh của một cuốn sách được xuất bản tại Trung Quốc, xem Qu Geping và Li Jinchang, Dân số và Môi trường tại Trung Quốc (Boulder, Colo.: Lynne Rienner, 1994).
Chương 13
Một số bài viết có giá trị về lịch sử thời kỳ đầu của những thuộc địa Anh tại Australia từ những năm đầu thành lập 1788 tới thế kỷ XIX là Bờ biển định mệnh: Sử thi về sự sáng lập Australia - Robert Hughes (New York: Knopf, 1987). Tim Flannery, Những người ăn tương lai: Lịch sử sinh thái học của con người và đất đai (Chatsworth, New South Wales: Reed, 1994) bắt đầu với sự định cư của những thổ dân cách đây hơn 40.000 năm và lần theo những tác động của họ, sau đó là của người châu Âu tới môi trường Australia. David Horton, Thiên nhiên trong lành: Những người hoàn hảo, những huyền thoại tàn phá và môi trường (St. Leonard, New South Wales: Allen & Unwin, 2000) đưa ra một quan điểm khác với quan điểm của Flannery.
Ba nguồn tài liệu khác từ chính phủ cung cấp thông tin tổng quan về môi trường, kinh tế và xã hội Australia: Ủy ban môi trường nhà nước Australia 2001, Australia: Hiện trạng môi trường 2001 (Caberra: Cục Môi trường và Di sản, 2001), được bổ sung với các báo cáo trên trang web: http://www.ea.gov.au/soe/; và cơ quan tiền thân của nó là Ủy ban Cố vấn Môi trường Nhà nước 1996, Australia: Hiện trạng môi trường 1996 (Melbourne: Nhà xuất bản CSIRO, 1996); và Dennis Trewin, Niên giám Australia 2001 (Canberra: Ủy ban Thống kê Australia 2001), một cuốn sách xuất bản hằng năm của Liên bang Australia.
Hai cuốn sách có minh họa sống động của Mary E.White cung cấp những thông tin tổng quát về các vấn đề môi trường Australia: Hãy lắng nghe... Đất đai của chúng ta đang khóc (Đông Roseville, New South Wales: Nhà xuất bản Kangaroo 1997) và Thất thoát nước tại một vùng đất đang thay đổi (Đông Roseville, New South Wales: Nhà xuất bản Kangaroo 2000). Cuốn “Những lời man trá tốt đẹp: dân số và môi trường tại Australia” (Tham luận hằng quý số 9, 2003) là một tổng quát ngắn và gay gắt hơn. Lịch sử và những tác động của tình trạng muối hóa tại Australia được đề cập trong các cuốn sách của tác giả Quentin Beresford, Hugo Bekle, Harry Phillipps và Jane Mulcock, Cuộc khủng hoảng muối hóa: Phong cảnh, Cộng đồng và Chính trị (Crawley, Tây Australia: Nhà xuất bản Đại học Tây Australia, 2001). Andrew Campbell, Chăm sóc đất đai: Các cộng đồng quyết định đất đai và tương lai (St. Leonards, New South Wales: Allen & Unwin, 1994) viết về một phong trào trồng cỏ lớn nhằm nâng cao hoạt động quản lý đất đai tại nông thôn Australia.
Chương 14
Cùng với những câu hỏi mà các sinh viên ở Đại học UCLA của tôi đặt ra, cuốn Sự sụp đổ của những xã hội tiên tiến của tác giả Joseph Tainter (Cambridge; Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1988) là điểm xuất phát cho chương này, qua việc tuyên bố rõ ràng rằng tại sao việc một xã hội không giải quyết được các vấn đề môi trường của nó lại trở thành một vấn đề cần giải thích rõ ràng. Thomas McGovern và những người khác. “Những hòn đá phía Bắc, sai lầm của con người và suy thoái môi trường: một cái nhìn về thay đổi sinh thái và xã hội tại Bắc Đại Tây Dương thời Trung cổ” (Sinh thái học con người 16: 225-270 (1988)) đưa ra hàng loạt lý do vì sao xã hội Norse ở Greenland không nhận ra và không giải quyết được các vấn đề môi trường của nó. Các lý do mà tôi đưa ra trong chương này có một phần trùng với những lý do của Thomas McGovern và những người khác, nên được tham khảo với những ai quan tâm theo đuổi vấn đề nan giải này.
Elinor Ostrom và các đồng nghiệp của bà đã nghiên cứu thảm họa của những vấn đề chung (gọi là các tài nguyên chung), sử dụng cả các nghiên cứu so sánh và những hoạt động thực nghiệm để xác định các điều kiện mà trong đó người tiêu dùng như nhận biết rõ ràng nhất lợi ích chung của họ và tự mình thực hiện một hệ thống hạn ngạch hiệu quả. Các cuốn sách của Ostrom bao gồm Elinor Ostrom với cuốn Quản lý những tài nguyên chung: Sự phát triển của các viện nghiên cứu về hành động tập thể (Cambridge; Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1990) và Elinor Ostrom, Roy Gardner và James Walker với cuốn Các nguyên tắc, trò chơi và tài nguyên chung (Ann Arbor: Nhà xuất bản Đại học Michigan). Những bài viết gần đây của bà bao gồm Elinor Ostrom “Đối phó với những thảm họa chung”, Tổng quan hằng năm về khoa học chính trị 2: 493-535 (1999); Elinor Ostrom và những người khác, “Nhìn lại những vấn đề chung: Những bài học trong nước và những thách thức toàn cầu” Tạp chí Khoa học 284: 278-282 (1999); và Thomas Dietz, Elinor Ostrom và Paul Stern, “Cuộc chiến quản lý các tài nguyên chung” Tạp chí Khoa học 302: 1907-1912 (2003).
Barbara Tuchman, Hành trình điên rồ: Từ thành Troy tới Việt Nam (New York: Nhà xuất bản Ballantine, 1984) viết về những quyết định sai lầm trong suốt quãng thời gian mà bà đã phản ánh trong tên cuốn sách, đồng thời phản ánh trên hành trình từ thành Troy tới Việt Nam với những quyết định điên rồ của quốc vương Aztec Montezuma, việc người Thiên Chúa giáo để mất Tây Ban Nha vào tay những người Hồi giáo, những kích động của nước Anh trong cuộc cách mạng Mỹ và những hành động tự gây hại khác. Charles Mackay với cuốn Những ảo tưởng bất thường và sự điên rồ của đám đông (New York: Barnes và Noble, 1993, tái bản từ bản gốc năm 1852) viết về hàng loạt các quyết định sai lầm còn rộng hơn cả cuốn sách của Tuchman, bao gồm (tôi chỉ liệt kê một số sự kiện) ảo tưởng tại vùng biển phía Nam của nước Anh trong thế kỷ XVIII, hội chứng hoa tulip tại Hà Lan thế kỷ XVII, những dự đoán về ngày tận thế những cuộc thập tự chinh, hội chứng săn phù thủy, tin tưởng có ma và thánh thần, đấu súng, và sắc lệnh của các vị vua về độ dài của tóc, râu và ria. Irving Janis, Tư tưởng tập thể (Boston: Houghton Mifflin, 1983, tái bản lần 2) viết về những động cơ tinh vi của một nhóm người có thể dẫn tới thành công hay thất bại như trong quyết định của các tổng thống và cố vấn Mỹ gần đây. Những trường hợp nghiên cứu điển hình của Janis là sự kiện Vịnh Con Lợn năm 1961, sự kiện quân đội Mỹ vượt vĩ tuyến 38 tại Hàn Quốc năm 1950, quân đội Mỹ mất cảnh giác trong cuộc tập kích Trân Châu cảng của Nhật Bản năm 1941, cuộc leo thang chiến tranh tại Việt Nam giai đoạn 1964-1967, Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba 1962 và việc Mỹ chọn áp dụng kế hoạch Marshall năm 1947.
Bài viết cổ điển của Garrett Hardin giờ vẫn thường xuyên được trích dẫn “Thảm họa tài nguyên chung” xuất hiện trên Tạp chí Khoa học 162: 1243-1248 (1968). Mancur Olson dùng phép ẩn dụ để ví những kẻ cướp tại chỗ và kẻ cướp di động với những lãnh chúa Trung Quốc và những công ty khai thác khoáng sản trong “Chế độ độc tài, dân chủ và phát triển” (Tạp chí Khoa học chính trị Mỹ 87: 567-576 (1993)). Ảnh hưởng của những chi phí ẩn được Hal Arkes và Peter Ayton giải thích trong bài “Chi phí ẩn và những tác động Concorde: Có phải con người kém lý trí hơn những loài vật cấp tháp khác? “ (Bản tin tâm lý 125: 591-600 (1999)), và Marco Janssen và những người khác với bài “Những ảnh hưởng của chi phí ẩn và tình trạng dễ sụp đổ trong xã hội cổ xưa” (Nhân chủng học hiện đại 44: 772-728 (2003)).
Chương 15
Hai cuốn sách về lịch sử của ngành dầu lửa và những kịch bản trong tương lai của nó là : Kenneth Deffeyes, Tột đỉnh của Hubbert: Nguy cơ thiếu dầu lửa của thế giới (Princeton, N.J: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 2001); và Paul Robert, i (Boston: Houghton, 2004). Về triển vọng của ngành dầu lửa, nơi bắt đầu sẽ là từ các trang web của các công ty dầu lửa quốc tế như Chevron Texaco: www.chevrontexaco.com
Những ấn phẩm đầy số liệu về hiện trạng của ngành khai mỏ được xuất bản bởi một sáng kiến mang tên “Khai thác, Khoáng sản và Phát triển bền vững) của một hiệp hội được các công ty khai mỏ lớn ủng hộ. Hai trong số các ấn phẩm nay là: Động thổ mới: Khai thác mỏ, Khoáng sản và Phát triển bền vững (London: Earthscan, 2002); và Alistair MacDonald, Khai thác mỏ trong giai đoạn chuyển đổi: Tư liệu về ngành khai mỏ của Bắc Mỹ (Winnipeg: Viện Nghiên cứu quốc tế về phát triển bền vững, 2002). Những nguồn số liệu khác là những ấn phẩm của Trung tâm Chính sách Khoáng sản tại Washington D.C., gần đây đổi tên thành Earthworks (trang web: www.mineralpolicy.org). Một số cuốn sách về các vấn đề môi trường do hoạt động khai thác mỏ gây ra bao gồm: Duane Smith, Ngành khai thác mỏ ở Mỹ: Khai thác và Môi trường, 1800-1980 (Boulder: Nhà xuất bản Đại học Colorado, 1993); Thomas Power, Thiên nhiên biến mất, Kinh tế suy tàn: Đi tìm giá trị thích hợp (Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 1996); Jerrold Marcus với cuốn Sổ tay môi trường khai thác mỏ: Những ảnh hưởng của khai thác mỏ đối với môi trường và Kiểm soát của môi trường Mỹ đối với ngành mỏ (London: Nhà xuất bản Đại học Hoàng Gia, 1997); và Al Gedicks, Những kẻ nổi loạn vì tài nguyên: Những thách thức mới từ cư dân bản địa với các tập đoàn khai thác mỏ và dầu lửa (Cambridge, Mass.: Nhà xuất bản South End, 2001). Hai cuốn sách mô tả về sự sụp đổ của ngành khai thác đồng trên đảo Bougainville, một phần bởi những tác động môi trường, là: M.O’Callaghan, Kẻ thù nội bộ: Những cuộc khủng hoảng tại Papua New Guine, Australia và Sandline: Câu chuyện của người trong cuộc (Sydney: Doubleday, 1999); và Donald Denoon, Bên dưới vỏ bọc: Thỏa thuận khai thác đồng Bougainville và Sự hình thành mỏ Panguna (Melbourne: Nhà xuất bản Đại học Melbourne, 2000).
Những thông tin về chứng chỉ rừng có thể tham khảo từ trang web của Hội đồng Quản trị Rừng: www.fscus.org. Để so sánh chứng chỉ rừng của FSC với những tổ chức cấp chứng chỉ khác, xin xem Saskia Ozinga, Đằng sau những khúc gỗ: Một đánh giá về môi trường và Xã hội cúa các loại chứng chỉ rừng (Moreton-in-Marsh, Anh: Fern, 2001). Hai cuốn sách về lịch sử phá rừng là John Perlin, Hành trình của rừng: Vai trò của gỗ trong sự phát triển của nền văn minh (New York: Norton, 1989); và Michael William, Phá rừng trên Trái đất: Từ thời tiền sử tới những cuộc khủng hoảng toàn cầu (Chicago: Nhà xuất bản Đại học Chicago, 2003).
Những thông tin về chứng chỉ thủy sản có thể tham khảo từ trang web của Hội đồng Quản trị Biển: www.msc.org. Howard M. Johnson (website: www.hmj.com) đưa ra hàng loạt Báo cáo hàng năm về hoạt động của ngành thủy sản của Mỹ (Jacksonville, Ore.: Howard Johnson). Hoạt động nuôi tôm và cá hồi được đề cập trong hai chương của cuốn sách Nông nghiệp và Môi trường thế giới: Tác động và hoạt động thực tế của từng loại hàng hóa của tác giả Jason Clay (Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 2004). Bốn cuốn sách về tình trạng đánh bắt cá quá mức nói chung và các loài cá cụ thể nói riêng là: Mark Kurlansky, Cá tuyết: Nguồn gốc của loài cá làm thay đổi thế giới (New York: Walker, 1997); Suzanne Ludicello, Michael Weber và Robert Wreland, Cá, Thị trường và Ngư dân: Các yếu tố kinh tế từ đánh bắt cá quá mức (Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 1999), David Montgomery, Vua cá: Lịch sử hàng ngàn năm của cá hồi (New York: Westview, 2003); và Daniel Pauly và Jay Maclean, Trong một đại dương hoàn hảo (Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 2003). Một bài viết điển hình về tình trạng bắt cá quá mức là: Jeremy Jackson và những người khác, “Lịch sử đánh bắt cá quá mức và những sụp đổ gần đây của các hệ thống sinh thái bờ biển” (Tạp chí Khoa học 293: 629-638 (2001)). Phát hiện cá hồi nuôi trồng có chứa hàm lượng các chất ô nhiễm độc hại lớn hơn so với cá hồi tự nhiên được đề cập trong bài “Đánh giá toàn cầu về các chất ô nhiễm hữu cơ trong cá hồi nuôi trồng” của tác giả Ronald Hits và những người khác (Tạp chí Khoa học 303: 226-229:2004).
Sẽ không thể hiểu được những thực tiễn môi trường của các tập đoàn kinh tế lớn nếu không bắt đầu tìm hiểu về những hoạt động thực tế mà các công ty này cần thực hiện để tồn tại trong giới kinh doanh cạnh tranh khốc liệt như ngày nay. Ba cuốn sách phổ biến về đề tài này là: Thomas Peter và Robert Waterman, Jr., Tìm kiếm sự hoàn hảo: Những bài học từ những công ty hàng đầu nước Mỹ (New York: Harper Collins, 1982 tái bản năm 2004); Robert Waterman, Jr., Yếu tố đổi mới: Những công ty hàng đầu tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh như thế nào (Toronto: Nhà xuất bản Bantam, 1987); và Robert Waterman, Jr., Adhocracy: Quyền năng thay đổi (New York: Norton, 1990).
Những cuốn sách thảo luận về những trường hợp điển hình mà trong đó các công ty kinh doanh có những đóng góp, bảo vệ môi trường nhiều hơn là tàn phá môi trường bao gồm Tedd Saunders và Loretta McGovern, Dưới đáy màu xanh là màu đen: Các chiến lược tạo ra các ngành kinh doanh thân thiện với môi trường và mang lại lợi nhuận (San Francisco HarperSanFrancisco, 1993); và Jem Bendell với cuốn Những điều kiện để được yêu mến: Hoạt động của các Tổ chức Phi chính Phủ và Phát triển bền vững (Sheffield, Anh: Greenleaf, 2000).
Chương 16
Một số cuốn sách, xuất bản từ năm 2001, đưa ra một cái nhìn tổng thể về các vấn đề môi trường hiện tại và dẫn dắt tới những tác phẩm nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này bao gồm: Stuart Pimm, Thế giới dưới cái nhìn của Pimm: Một nhà khoa học kiểm tra Trái đất (New York: McGraw-Hill, 2001); Ba cuốn sách của Lester Brown gồm Kinh tế sinh thái: Xây dựng một nền kinh tế vì Trái đất (New York: norton, 2001), Kế hoạch B: Cứu lấy một hành tinh đang bị nhiều sức ép và một nền văn minh đang lộn xộn (New York: Norton, 2003) và Tình trạng của thế giới (New York: Norton, xuất bản hằng năm từ 1984); Edward Wilson, Tương lai của cuộc sống (New York: Knopf, 2002); Gretchen Daily và Katherine Ellison, Nền kinh tế mới của thiên nhiên: Cuộc chinh phục để hoạt động bảo tồn mang lại nhiều lợi ích (Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 2002), David Lorey, cuốn Những thách thức môi trường toàn cầu của thế kỷ XXI: Tài nguyên, Tiêu thụ và Những giải pháp bền vững (Wilmington, Del.,Nghiên cứu tài nguyên, 2003); Paul Ehrlich và Anne Ehrlich, Một lần với thủ đô cổ Nineveh của Assyria: Chính trị, Tiêu thụ và Tương lai loài người (Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 2004); và James Speth, Bầu trời đỏ lúc bình minh: Nước Mỹ và cuộc khủng hoảng môi trường toàn cầu (New Haven: Nhà xuất bản Đại học Yale, 2004).
Phần Đọc thêm của Chương 15 đưa ra một số sách tham khảo về các vấn đề phá rừng, đánh bắt cá quá mức và đất đai.Vaclav Smil, Năng lượng tại ngã ba đường: Những quan điểm và những điều không chắc chắn trên toàn cầu (Cambridge, Mass.: Nhà xuất bản MIT, 2003) đề cập không chỉ về dầu lửa, than và khí mà còn cả những hình thái sản xuất năng lượng khác. Cuộc khủng hoảng đa dạng sinh học và tàn phá môi trường sống được thảo luận trong cuốn Những chú chim đã biến đi đâu? của tác giả John Terborgh (Princeton, N. J: Nhà xuất bản Đại học Princeton, 1989); cuốn Bản nguyện cầu cho thiên nhiên (Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 1999); David Quammem, Bài hát cho Dodo (New York: Scibner, 1997); và Marjorie Reaka-Kdla và những người khác với cuốn: Đa dạng sinh học 2: Tìm hiểu và Bảo vệ các nguồn tài nguyên sinh học của chúng ta (Washington, D.C: Nhà xuất bản Joseph Henry, 1997).
Một số bài viết gần đây về sự tàn phá san hô là : T. P. Hughes, “Biến đổi khí hậu, những tác động của con người và khả năng phục hồi của các dải san hô” (Tạp chí Khoa học 301: 929-933 (2003)); J. M. Padolfi và những người khác, “Những quỹ đạo toàn cầu của sự suy thoái lâu dài của các hệ thống sinh thái san hô” (Tạp chí Khoa học 301: 955-958 (2003)); và D. R. Bellwood và những người khác. “Đương đầu với cuộc khủng hoảng san hô” (Tạp chí Tự nhiên 429: 827-833 (2004)).
Những cuốn sách về các vấn đề đất đai bao gồm Vernon Gill Carter và Tom Dale, Đất mặt và Nền văn minh, bản sửa đổi (Norman: Nhà xuất bản Đại học Okalahoma, 1974), và Keith Wiebe, cuốn Chất lượng đất, sản lượng nông nghiệp và an ninh lương thực: Những quy trình lý sinh và những lựa chọn kinh tế ở các cấp địa phương, vùng và toàn cầu (Cheltenham, UK: Edward Elgar, 2003). Những bài viết đưa ra những quan điểm khác nhau về các vấn đề đất đai là của David Pimentel và những người khác “Các chi phí kinh tế và môi trường của xói mòn đất và những lợi ích của bảo tồn” (Tạp chí Khoa học 267: 1117-1123 (1995)); Stanley Trimble và Piere Crosson, “Tỷ lệ xói mòn đất tại Mỹ -Huyền thoại và Thực tế” (Tạp chí Khoa học 289: 248-250 (2000)); và một loạt tám bài khác của nhiều tác giả xuất bản trong Tạp chí Khoa học 304: 1613-1637 (2004).
Với những vấn đề liên quan tới nguồn cung cấp nước của thế giới, xin xem những báo cáo của tác giả Peter Gleick và cuốn Nước của Thế giới và cuốn Báo cáo các nguồn nước ngọt thế giới xuất bản hai năm một lần của Peter Gleick (Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 2000). Vernon Scarborough, Các dòng chảy quyền lực: Các hệ thống và phong cảnh cổ xưa (Santa Fe: Trường nghiên cứu Mỹ, 2003) so sánh những giải pháp đối với những vấn đề về nước trong các xã hội cổ xưa trên toàn thế giới.
Một mô tả toàn cầu về việc tận dụng năng lượng mặt trời của quang hợp thực vật (gọi là “những sản xuất nguyên sinh thực”) được đề cập trong bài viết của Peter Vitousek và những người khác, “Sự thống trị của con người với các hệ thống sinh thái của Trái Đất (Tạp chí Khoa học 277:494-499 (1997)), và được tác giả Mark Imhoff cập nhật và phân chia theo vùng trong bài “Những hình thái toàn cầu trong sự tiêu thụ “những sản xuất nguyên sinh thực” của con người (Tạp chí Tự nhiên 429: 870-873 (2004)).
Những tác động của các loại hóa chất độc hại với các sinh vật sống, kể cả con người, được tác giả Theo Colborn, Dianne Dumanoski và John Peterson Myers tóm lược trong cuốn sách, Tương lai bị đánh cắp của chúng ta (New York: Plume, 1997). Một số ví dụ cụ thể về những thiệt hại kinh tế lớn do các loại hóa chất độc hại và những tác động khác đối với toàn bộ hệ thống sinh thái gây ra được thể hiện rõ ràng đối với trường hợp của Vịnh Chesapeake: Tom Horton và William Eichbaum với cuốn Sự đổi hướng của thủy triều: Hãy cứu lấy vịnh Chesapeake ( Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 1991).
Trong số những cuốn sách viết về hiện tượng biến đổi khí hậu và khí hậu toàn cầu nóng lên là Steven Schneider, Phòng thí nghiệm trái đất: Canh bạc hành tinh chúng ta không thể thua (New York: Những cuốn sách cơ bản 1997); Michael Glantz, Thay đổi của những dòng hải lưu: Những tác động của El Nino và La Nina tới Khí hậu và Xã hội, tái bản lần thứ hai (Cambridge; Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 2001); và Spencer Weart, Phát hiện khí hậu toàn cầu nóng lên (Cambridge, Mass.: Nhà xuất bản đại học Harvard, 2003).
Ba cuốn sách kinh điển lớn về dân số thế giới là Paul Ehrlich, Trái bom dân số (New York: Nhà xuất bản Ballantine, 1968); Paul Ehrlich và Anne Ehrlich, Sự bùng nổ dân số (New York: Simon và Schuster, 1990); và Joel Cohen, Trái đất có thể nuôi dưỡng bao nhiêu người? (New York: Norton, 1995).
Để đặt những đánh giá của tôi về các vấn đề môi trường và dân số của thành phố Los Angeles, nơi tôi sống trong một khung cảnh lớn hơn, xin xem một cuốn sách dài có cùng ảnh hưởng với toàn nước Mỹ: Trung tâm Heinz, Tình trạng của các hệ thống sinh thái của đất nước: Đánh giá đất đai, nước và các nguồn tài nguyên sinh sống của nước Mỹ (New York: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 2002).
Những độc giả quan tâm tới những báo cáo chi tiết hơn về những luận điểm bác bỏ sự lo lắng của các nhà môi trường mà tôi đã liệt kê như những ý kiến ngắn có thể tham khảo Bjorn Lomborg, Những nhà môi trường đa nghi (Cambridge; Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 2001). Với những phản ứng mạnh mẽ hơn, xin xem Paul Ehrlich và Anne Ehrlich, Sự phản bội của Khoa học và Lý trí (Washington, D.C: Nhà xuất bản Island, 1996). Nghiên cứu của Câu Lạc Bộ Rome được thảo luận trong chương đó là Donella Meadows và những người khác, Những giới hạn của sự tăng trưởng (New York, Nhà xuất bản Universe, 1972), được cập nhật bởi Donella Meadows, Jorgen Rander và Dennis Meadows, Những giới hạn của sự tăng trưởng: Thông tin trong vòng 30 năm qua (White River Junction, Vt.: Chelsea Green, 2004). Về vấn đề quyết định liệu những cảnh báo giả là quá nhiều hay quá ít, xin xem S. W. Pacala và những người khác, “Cảnh báo giả về những cảnh báo giả của môi trường” (Tạp chí Khoa học 301: 1187-1188 (2003)).
Một số tài liệu không chỉ về những mối liên hệ giữa các vấn đề dân số và môi trường mà còn cả sự bất ổn chính trị, bao gồm : Trang web của tổ chức Hành động Dân số Quốc tế, www.populationaction.org; Richard Cincotta Robert Engelman và Daniele Anastasion, An ninh nhân khẩu học: Dân số và nội chiến sau thời kỳ Chiến tranh lạnh (Washington, D.C: Tổ chức Hành động Dân số Quốc tế, 2004); tạp chí thường niên Báo cáo dự án an ninh và thay đổi môi trường do Trung tâm Woodrow Wilson (địa chỉ www.wilson.org/ecsp) xuất bản; và Thomas Hormer-Dixon, “Những khan hiếm môi trường và xung đột vũ trang: bằng chứng từ những vụ việc” (An ninh quốc tế 19: 5-40 (1994)).
Cuối cùng, những độc giả ham tìm hiểu về những loại rác khác ngoài hàng chục vỏ chai rượu Suntory trôi nổi trên các bãi biển của các đảo san hô Oeno và Ducie xa xôi ở Đông Nam Thái Bình Dương nên tham khảo ba bảng liệt kê trong T. G. Benton, “Từ những vật do đắm tàu cho tới những thứ bị vất bỏ: các loại rác trên đại dương tại quần đảo Pitcairn” (Tạp chí Sinh vật học của Xã hội Linnean).
Với tất cả 12 loại vấn đề môi trường mà tôi tóm tắt từ phần đầu của Chương 16, luôn có rất nhiều cuốn sách hay đề cập tới việc các chính phủ và các tổ chức có thể xác định những vấn đề đó như thế nào. Nhưng vẫn còn nhiều người tự hỏi: Tôi có thể làm được gì, với tư cách là một cá nhân, để tạo ra một sự khác biệt? Nếu bạn giàu có, hiển nhiên bạn có thể làm được rất nhiều: ví dụ, Bill và Melinda Gates đã quyết định biếu tặng hàng tỷ đô la để hỗ trợ giải quyết những vấn đề y tế khẩn cấp trên toàn thế giới. Nếu bạn là người có quyền lực, bạn có thể sử dụng quyền lực đó để thúc đầy chương trình nghị sự của bạn: ví dụ, Tổng thống George W. Bush của Mỹ và Tổng thống Joaquin Balaguer của Cộng hòa Dominica đã đưa ra những quyết định quan trọng, cho dù tiến hành bằng những hình thức khác nhau, có ảnh hưởng tích cực tới các vấn đề môi trường ở đất nước họ. Tuy nhiên, phần lớn chúng ta không có tiền bạc và quyền lực nên cảm thấy bất lực và thất vọng khi phải đối mặt với những chính phủ và những tập đoàn kinh tế hùng mạnh. Có điều gì mà một cá nhân nghèo khổ, không phải giám đốc điều hành của một công ty cũng chẳng phải một lãnh đạo chính trị, có thể làm để tạo ra sự khác biệt không?
Có, có khoảng nửa tá các loại hành động đã được chứng minh là rất hiệu quả. Nhưng cần phải nói rằng ban đầu, mỗi cá nhân không nên hy vọng sẽ tạo ra sự khác biệt bằng hoạt động đơn lẻ của mình, hay thậm chí qua hàng loạt hoạt động sẽ hoàn tất trong ba tuần tới. Thay vào đó, nếu bạn muốn tạo ra một sự khác biệt, hãy quyết tâm thực hiện một chính sách hành động kiên định trong suốt cuộc đời.
Trong xã hội dân chủ, hành động đơn giản nhất và ít tốn kém nhất là bỏ phiếu. Kết quả một số cuộc bầu cử, các ứng viên tranh cử có những chương trình hành động về môi trường rất khác nhau, được quyết định bởi một số ít những lá phiếu lố lăng. Ví dụ điển hình là cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2000 được quyết định chỉ bởi vài trăm phiếu bầu của bang Floria. Ngoài bầu cử, hãy tìm địa chỉ của những đại diện dân cử mà bạn lựa chọn, hằng tháng dành thời gian để cho họ biết quan điểm của bạn về những vấn đề môi trường cụ thể hiện nay. Nếu đại diện đó không thấy cử tri phản ánh quan điểm của mình, họ sẽ cho rằng cử tri không quan tâm đến vấn đề môi trường.
Tiếp theo, bạn có thể cân nhắc mua hay không mua những mặt hàng nào, với tư cách là một người tiêu dùng. Những tập đoàn lớn hoạt động vì mục đích lợi nhuận. Họ sẽ ngừng sản xuất các sản phẩm mà công chúng không mua, và chuyển sang sản xuất và tăng cường các sản phẩm mà công chúng mua. Lý do ngày càng nhiều công ty khai thác gỗ áp dụng các hoạt động khai thác gỗ bền vững chính là do nhu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm gỗ được cấp chứng nhận của Hội đồng Quản trị Rừng đã vượt quá khả năng cung cấp. Tất nhiên, đó là cách dễ nhất để tác động đến các công ty hoạt động trên đất nước bạn, nhưng trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, người tiêu dùng ngày càng có nhiều khả năng tác động mạnh đến những công ty cũng như những nhà lập pháp ở nước ngoài. Một ví dụ nổi bật là sự sụp đổ của chính quyền do người da trắng thiểu số kiểm soát và các chính sách phân biệt chủng tộc ở Nam Phi trong giai đoạn 1989-1994, do Nam Phi bị cá nhân người tiêu dùng và các nhà đầu tư nước ngoài tẩy chay kinh tế, các tập đoàn, các quỹ tiền tệ và các chính phủ nước ngoài đã khiến Nam Phi bất ngờ rơi vào sự bất ổn kinh tế. Trong mấy lần tới thăm Nam Phi vào những năm 1980, tôi thấy nhà nước Nam Phi dường như gắn bó chặt chẽ với chính sách phân biệt chủng tộc và tôi không bao giờ hình dung rằng chế độ đó sẽ sụp đổ, nhưng giờ đây nó đã sụp đổ.
Một cách khác mà người tiêu dùng có thể tác động tới chính sách của những công ty lớn, ngoài việc mua hay không mua những sản phẩm của họ, là kêu gọi công chúng chú ý tới các chính sách hoạt động và các sản phẩm của công ty. Điển hình là một loạt phong trào chống đối xử tàn bạo với động vật đã buộc các nhà tạo mẫu lớn trên thế giới như Bill Blass, Calvin Klein và Oleg Cassini, công khai thông báo ngừng sử dụng lông thú. Một ví dụ khác nữa là việc các nhà hoạt động vì người tiêu dùng đã thuyết phục được tập đoàn sản xuất đồ gỗ lớn nhất thế giới, Home Depot, cam kết chấm dứt mua gỗ có nguồn gốc từ những vùng có rừng đang trong nguy cơ bị hủy diệt và ưu tiên cho các sản phẩm được cấp chứng nhận rừng. Sự thay đổi chính sách của Home Depot khiến tôi cực kỳ sửng sốt. Tôi từng nghĩ rằng các nhà hoạt động vì người tiêu dùng không thể tác động tới một tập đoàn hùng mạnh như vậy.
Đa phần những ví dụ về chủ nghĩa tích cực của người tiêu dùng đều liên quan tới việc cố gắng gây khó khăn cho một công ty có những hoạt động tiêu cực, sự phiếm diện đó là điều đáng tiếc, bởi nó khiến các chuyên gia môi trường bị mang tiếng là những kẻ tiêu cực, tẻ nhạt, thất vọng và lắm điều. Các nhà hoạt động vì người tiêu dùng cũng có thể gây ảnh hưởng bằng cách đưa ra những sáng kiến biểu dương những công ty có những chính sách tích cực. Trong Chương 15, tôi đã nói rằng những tập đoàn lớn thực tế đang làm những điều mà những người tiêu dùng theo chủ nghĩa môi trường mong muốn, nhưng họ lại ít nhận được những lời tuyên dương cho những hành động tốt so với những lời chỉ trích, lên án trước những hành động xấu của họ. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đều biết truyện ngụ ngôn của Aesop về cuộc thi giữa Gió và Mặt trời để buộc con người phải cởi áo khoác: Sau khi Gió thổi rất mạnh mà không khiến con người cởi áo, Mặt trời liền chiếu ánh nắng chói chang và chiến thắng. Người tiêu dùng cũng có thể học được nhiều điều từ truyện ngụ ngôn đó, bởi những tập đoàn lớn áp dụng những chính sách môi trường biết rõ rằng sẽ chẳng ai tin nếu họ tự ca ngợi những chính sách của mình trước một công chúng đa nghi; các tập đoàn này cần được giúp đỡ từ bên ngoài để những nỗ lực của họ được công nhận. Trong số nhiều tập đoàn lớn gần đây được lợi từ những đánh giá tốt của công chúng có Chevron Texaco và Boise Cascade, vì các hoạt động quản lý môi trường tại mỏ dầu Kutubu và vì những quyết định loại bỏ sản phẩm từ những khu rừng quản lý không bền vững. Ngoài việc trừng phạt “12 tập đoàn bẩn thỉu”, công chúng còn tuyên dương “10 tập đoàn xuất sắc nhất”.
Những người tiêu dùng muốn tác động tới những tập đoàn lớn hoặc bằng cách mua hoặc không mua sản phẩm của họ, hay bằng cách gây khó khăn hay tuyên dương họ, cần phải học cách nhận biết mắt xích nào trong dây chuyền sản xuất là nhạy cảm nhất trước những tác động của công chúng, và mắt xích nào là khó khăn nhất so với những mắt xích khác. Các tập đoàn bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, hay có những nhãn hiệu hàng hóa đang tiêu thụ trên thị trường, thường nhạy cảm hơn nhiều so với những tập đoàn khác mà sản phẩm đưa ra công chúng hoàn toàn không có nhãn hiệu xuất xứ nguồn gốc. Những tập đoàn bán lẻ bản chất là một nhóm hoặc là một phần trong nhóm người mua lớn, mua rất nhiều hoặc tất cả sản phẩm của một ngành sản xuất cụ thể, điều này tác động tới nhà sản xuất chắc chắn mạnh hơn một thành viên đơn lẻ của công chúng. Tôi đã đưa ra một số ví dụ trong Chương 15, và giờ sẽ bổ sung nhiều ví dụ khác.
Ví dụ, nếu bạn tán thành hoặc không tán thành cách một công ty dầu lửa quốc tế lớn quản lý các giếng dầu thì bạn sẽ ưu tiên mua hoặc tẩy chay, khen ngợi hoặc gây khó khăn cho những trạm xăng của công ty đó. Nếu bạn ủng hộ hoạt động khai thác titan của Australia và không thích hoạt động khai thác vàng trên đảo Lihir, thì đừng phí thời gian mơ màng viển vông rằng bạn có thể tự mình tác động tới những công ty trực tiếp khai thác mỏ ở đó; thay vào đó hãy chuyển sự chú ý của bạn sang những công ty như DuPont, Tiffany và Wal-Mart, những tập đoàn bán lẻ chuyên bán sơn sản xuất từ titan và đồ trang sức bằng vàng. Đừng khen ngợi hay lên án những công ty khai thác gỗ không có những sản phẩm bán lẻ có nguồn gốc rõ ràng; thay vào đó hãy chú ý tới các tập đoàn Home Depot, Lowe’s, B&Q và những nhà bán lẻ khổng lồ khác để họ gây ảnh hưởng tới các nhà khai thác gỗ. Tương tự, những nhà bán lẻ hải sản như Unilever (thông qua hàng loạt nhãn hiệu khác nhau) và Whole Foods là những tập đoàn rất quan tâm tới việc bạn có mua sản phẩm của họ hay không; chính họ, chứ không phải là bạn, mới có thể gây ảnh hưởng tới ngành đánh bắt cá. Wal-Mart là nhà bán lẻ thực phẩm lớn nhất thế giới; họ và những nhà bán lẻ khác tương tự có thể điều khuyển các hoạt động nông nghiệp của nông dân; bạn không thể điều khiển nông dân, nhưng bạn có ảnh hưởng tới Wal-Mart. Nếu bạn muốn biết, liệu trong dây chuyền kinh doanh nào bạn, với tư cách là người tiêu dùng, có thể gây ảnh hưởng, hiện có những tổ chức như Trung tâm Chính sách Khoáng sản/Earthworks, Hội đồng Quản trị rừng và Hội đồng Quản trị Biển có thể cho bạn câu trả lời đối với nhiều lĩnh vực kinh doanh. (Về những địa chỉ trang web của họ, xem phần Đọc thêm của Chương 15).
Tất nhiên, nếu bạn là một cử tri hay một người tiêu dùng đơn lẻ, bạn không thể lái kết quả cuộc bầu cử hay bắt buộc tập đoàn Wal-Mart phải theo ý mình. Nhưng bất kỳ cá nhân nào cũng có thể nhân sức mạnh của bản thân lên nhiều lần bằng cách vận động những người khác cũng là cử tri và người tiêu dùng. Bạn có thể bắt đầu với cha mẹ, con cái và bạn bè của bạn. Đó là một yếu tố quan trọng bởi giờ đây các công ty dầu lửa quốc tế đã bắt đầu chuyển hướng từ thái độ thờ ơ đối với các vấn đề môi trường sang áp dụng những biện pháp nghiêm ngặt để bảo vệ môi trường. Quá nhiều nhân viên tài giỏi phàn nàn hay chuyển sang làm việc khác bởi bạn bè, người quen, gia đình họ làm cho họ cảm thấy xấu hổ với những hoạt động của công ty mình. Phần lớn các giám đốc điều hành, kể cả Bill Gates, đều có con cái và vợ chồng, và tôi biết nhiều giám đốc điều hành đã thay đổi chính sách môi trường của công ty do chịu ảnh hưởng từ bạn bè. Trong khi chỉ vài người trong số chúng ta quen biết Bill Gates hay George Bush, nhưng rất nhiều người trong chúng ta phát hiện ra rằng trong số bạn học của con cái chúng ta hay bạn bè của chúng ta có những người là con cái, bạn bè, họ hàng của những người có ảnh hưởng, những người rất nhạy cảm với việc con cái, bạn bè và họ hàng đánh giá họ như thế nào. Một trường hợp điển hình là áp lực từ các chị em gái trong gia đình đã khiến Tổng thống Joaquin Balaguer càng thêm quyết tâm thực hiện các chính sách môi trường của Cộng hòa Dominica. Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2000 thực tế bị quyết định bởi một lá phiếu đơn lẻ trong quyết định 5-4 của Tòa án Tối cao Mỹ đối với rắc rối bầu cử tại Florida, nhưng tất cả chín thẩm phán của Tòa án tối cao đều có con cái, vợ chồng, họ hàng hay bạn bè có thể gây ảnh hưởng đến quan điểm của họ.
Những người sùng đạo trong chúng ta có thể nhân thêm sức mạnh lên nhiều lần bằng cách tranh thủ sự ủng hộ của các nhà thờ, giáo đường Do Thái hay các đền thờ của chúng ta. Chính các nhà thờ đã phát động phong trào nhân quyền, và một số lãnh tụ tôn giáo cũng lên tiếng về vấn đề môi trường, mặc dù lúc này cũng chưa nhiều. Nhưng vẫn còn rất nhiều khả năng để tranh thủ sự ủng hộ của tôn giáo, bởi con người sẵn sàng tuân theo lời dạy từ người đứng đầu tôn giáo hơn là những đề xuất của các xử gia hay các nhà khoa học, và bởi có những lý do tôn giáo mạnh mẽ để xem xét nghiêm túc những vấn đề môi trường. Các thành viên trong các giáo đoàn có thể nhắc nhở những thành viên khác và người đứng đầu tôn giáo của mình (các cha sứ, các mục sư, các giáo sĩ Do Thái v.v.) về những nguyên tắc thiêng liêng, về những lời kinh răn dạy phải giữ cho Thiên nhiên màu mỡ và hữu ích, và về ý nghĩa của phương pháp quản lý thiên nhiên mà tất cả các tôn giáo thừa nhận.
Một cá nhân muốn hưởng lợi trực tiếp từ các hành động của mình có thể cân nhắc việc đầu tư thời gian và công sức để nâng cao chất lượng môi trường tại địa phương mình. Ví dụ quen thuộc nhất với tôi chính là kinh nghiệm trực tiếp của tôi ở khu nghỉ hè của gia đình tại thung lũng Bitterroot của Montana là Khu Bảo tồn Động vật Hoang dã Teller một Tổ chức Phi Chính phủ nhỏ của tư nhân đã mua lại một vùng đất dọc bờ sông Bitterroot để làm khu bảo tồn động, thực vật hoang dã. Trong khi nhà sáng lập tổ chức, Ottter Teller, rất giàu, thì những người bạn khiến ông cảm động về các vấn đề môi trường lại là những người bình thường, giống như đa phần những người tự nguyện hiện đang giúp đỡ Quỹ Teller. Do bản thân cư dân trong vùng được hưởng những lợi ích trực tiếp từ khu bảo tồn (nhất là những người đang sinh sống hay thường xuyên tới thăm thung lũng Bitterroot), nên họ tiếp tục nỗ lực duy trì những phong cảnh đẹp đẽ, huy hoàng và những nguồn lợi thủy sản, nếu không bảo vệ thiên nhiên, chắc hẳn giờ đây khu vực này đã được bán đề làm đất xây dựng. Những ví dụ đó có thể nhân lên tới vô tận: hầu như tất cả mọi nơi đều có nhóm láng giềng, hiệp hội chủ đất hay những tổ chức khác.
Nỗ lực để giải quyết các vấn đề môi trường tại địa phương bạn, không chỉ làm cho cuộc sống của bạn thoải mái hơn, mà còn là một tấm gương cho người khác học tập, cả ngay trong đất nước bạn và ở nước ngoài. Các tổ chức môi trường địa phương luôn có quan hệ thường xuyên với nhau, trao đổi thông tin, động viên và giúp đỡ lẫn nhau. Khi tôi lập kế hoạch phỏng vấn những cư dân Montana về Khu Bảo tồn Hoang dã Teller và Sáng kiến Blackfoot, một trong những khó khăn chính là việc họ thường xuyên phải đi lại trong bang Montana và sang những ban khác để giới thiệu về những sáng kiến bảo vệ môi trường của họ. Ngoài ra, khi người dân Mỹ nói với người dân Trung Quốc hoặc người dân các nước khác về những gì người Trung Quốc (theo quan điểm của người Mỹ) nên làm để cuộc sống của họ và của người dân ở những nước khác trên thế giới tốt đẹp hơn, thì những thông điệp của chúng ta dường như khó được tiếp nhận bởi chúng ta đã có quá nhiều hành vi gây hại môi trường. Chúng ta sẽ thuyết phục người dân các nước khác thực hiện những chính sách môi trường tốt cho toàn thể loài người (kể cả chúng ta) hiệu quả hơn nếu bản thân chúng ta theo đuổi chính sách của đó.
Cuối cùng, bất kỳ ai trong số các bạn có một số tiền thì có thể nhân sức mạnh của mình lên nhiều lần khi quyên góp cho một tổ chức chuyên phát triển các chính sách môi trường mà bạn ủng hộ. Có rất nhiều tổ chức phù hợp với bất cứ quan tâm của bất cứ ai: Ducks Unlimited cho những ai quan tâm tới loài vịt, Trout Unlimited cho những ai yêu thích câu cá, Tăng dân số Bằng không cho những ai quan tâm đến các vấn đề dân số, Sinh thái biển cho những ai quan tâm tới những hòn đảo v.v. Tất cả những tổ chức môi trường kiểu này đều hoạt động với một nguồn ngân sách eo hẹp, và các chi phí hoạt động của họ rất hiệu quả, vì vậy thêm những khoản tiền nhỏ sẽ tạo ra những khác biệt lớn. Điều đó cũng đúng với những tổ chức môi trường giàu nhất và lớn nhất. Ví dụ Tổ chức động vật hoang dã thế giới (WWF) là một trong ba tổ chức môi trường lớn nhất và có kinh phí hoạt động lớn nhất đang hoạt động trên toàn thế giới, và tổ chức này xuất hiện trên thế giới nhiều hơn bất kỳ một tổ chức nào. Ngân sách hằng năm tại chi nhánh lớn nhất của WWF, chi nhánh tại Mỹ, trung bình vào khoảng 100 triệu đô la, nghe có vẻ rất nhiều nhưng thực tế số tiền này được dùng để tài trợ cho tất cả các chương trình của WWF trên hơn 100 nước, cho tất cả những loài động vật, thực vật và tất cả các môi trường sống trên cạn và dưới biển cần được bảo tồn. Ngân sách đó cũng tài trợ không chỉ cho những dự án quy mô lớn (như một chương trình kéo dài 10 năm, với tổng kinh phí 400 triệu đô la để mở rộng gấp ba diện tích môi trường sống được bảo vệ tại lưu vực Amazon), mà còn tài trợ cho vô số những dự án quy mô nhỏ khác cho từng loài sinh vật cụ thể. Để bạn không cho rằng khoản quyên góp của mình là vô nghĩa đối với một tổ chức lớn như vậy, hãy cân nhắc rằng khoản đóng góp của bạn chỉ vài trăm đô la cũng đủ để hỗ trợ trang bị phần mềm định vị toàn cầu cho hoạt động của những người bảo vệ rừng, hoặc để tiến hành khảo sát số lượng loài linh trưởng ở lưu vực sông Congo, nếu không chúng ta sẽ không biết tình trạng bảo tồn chúng ra sao. Cũng nên cân nhắc rằng một số tổ chức môi trường có động lực cao và sử dụng những khoản đóng góp của cá nhân để thu hút những nguồn tài trợ lớn hơn từ Ngân hàng Thế giới, các chính phủ và các cơ quan viện trợ trên cơ sở một đô la sẽ có thêm một đô la. Ví dụ, dự án lưu vực Amazon của WWF được thúc đẩy bởi hệ số hơn 6-1, như vậy khoản đóng góp 300 đô la của bạn thực tế có thể mang lại 2.000 đô la cho dự án.
Tất nhiên, tôi đề cập các con số tài chính của WWF đơn thuần chỉ vì tôi biết rõ ngân sách của tổ chức này, chứ không phải vì đánh giá nó cao hơn những tổ chức môi trường uy tín khác, hoạt động vì mục tiêu khác. Những ví dụ về những nỗ lực của các cá nhân để tạo sự khác biệt có thể được nhân lên tới vô hạn.