Tâm Lý Học Tội Phạm Tập 1

Lượt đọc: 933 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
công việc và tội phạm

Tội phạm sử dụng những quy trình tư duy giống nhau để tiếp cận công việc và vấn đề giáo dục. Về cơ bản, họ không thích công việc vì họ không coi trọng những nhiệm vụ được giao. Một số tội phạm gần như không hề làm việc. Một số kẻ khác đảm nhận những công việc trong thời gian ngắt quãng để được kính trọng trong khi đó lại phạm tội công khai ngay trước mặt ông chủ. Những cá nhân này gắn bó với công việc cho đến khi cảm thấy nhàm chán, hoặc nghi ngờ chính quyền đang theo dõi họ. Những người khác duy trì công việc trong một thời gian dài và làm tốt công việc đó. Việc có được tiếng tăm tốt sẽ giúp chúng có được điều kiện dễ dàng hơn để tham gia vào các hoạt động phạm pháp mà không bị nghi ngờ.

Đối với nhiều tội phạm, làm việc tức là trở thành nô lệ. Tuy nhiên, với rất ít kỹ năng cần thiết, họ lại từ chối đảm nhận những vị trí duy nhất mà họ đủ năng lực, thường liên quan đến công việc thường ngày không cần đến kỹ năng hay trình độ. Công việc như vậy không phù hợp với quan niệm được thổi phồng về địa vị mà họ cho là mình xứng đáng. Thay vì lau sàn, dọn rác, hoặc khuân vác hành lý, họ lựa chọn tiếp tục thất nghiệp. Một phạm nhân trẻ tuổi đã bỏ học và không có kỹ năng việc làm đang sống ở nhà và từ chối cân nhắc làm việc tại một nhà hàng bán đồ ăn nhanh. Anh ta nói với tôi, “Tôi thà chết còn hơn để bạn bè nhìn thấy tôi phục vụ khoai tây chiên”. Một phạm nhân khác phàn nàn ông chủ của anh ta không công bằng và không bao giờ cho anh ta cơ hội. Sau đó, anh ta tiết lộ mình thường xuyên đi làm muộn và say xỉn. Anh ta phớt lờ những lời cảnh báo và khuyến khích của người quản lý nhằm giúp anh ta tìm cách điều trị hành vi lạm dụng chất kích thích. Cuối cùng, anh ta bị sa thải. Một người khác sau khi bị sa thải khỏi công việc thứ mười trong một năm đã thừa nhận, “Nếu công việc có ý nghĩa gì đó, thì tôi có lẽ đã ở đó”.

Tôi đã hỏi nhiều người ngồi tù về công việc họ muốn làm sau khi được trả tự do. Nhiều người trả lời muốn kinh doanh riêng. Người ta khó có thể chê trách họ chỉ vì họ khao khát đạt được những gì được coi là giấc mơ Mỹ đối với nhiều người. Khi được hỏi trở thành một doanh nhân cần đến những yếu tố gì, hầu hết những người trong số họ đều không hề biết. Họ sống trong thế giới giả tưởng của riêng mình, và tưởng tượng mình đang quát tháo, ra lệnh trong khi những người khác vội vàng tuân theo yêu cầu đó. Thay vì lường trước những vấn đề liên tục xảy ra ảnh hưởng đến ngay cả những người cẩn thận nhất trong quá trình xây dựng và vận hành một doanh nghiệp hàng ngày, tội phạm lại tập trung vào khối tài sản khổng lồ mà chúng cho rằng chắc chắn sẽ được sở hữu. Đó là khái niệm “điểm số lớn” - một khoản tiền lớn dễ dàng có được.

Đối với một số tội phạm, phạm tội là công việc của họ. Một người đàn ông làm công việc mà anh ta gọi là “công việc hàng ngày” nói rằng: “Anh làm việc của anh, tôi làm việc của tôi”. Anh ta ăn cắp các cửa hàng và bán ma túy mỗi ngày. Số lần phạm tội của anh ta lên đến con số hàng nghìn vì anh ta cứ thực hiện việc đó hàng ngày, hàng tháng và hàng năm. Anh ta bị bắt không phải vì những tội danh nói trên mà vì quan hệ tình dục với trẻ vị thành niên. Người này cho rằng công việc là dành cho những kẻ khờ khạo. Anh ta có thể sống tốt nhờ số tiền có được từ hành vi phạm tội.

Aaron, 35 tuổi, bị kết án với nhiều cáo buộc liên quan đến tàng trữ và phân phối heroin và cần sa.

Khi còn là một thiếu niên, anh ta bị chuyển đến một trung tâm điều trị nội trú vì không thể cải tạo, hoàn toàn coi thường những ngăn cấm và tắc quy của cha mẹ. Anh ta bỏ nhà ra đi, ăn cắp tại các cửa hàng, không chịu đi học, phạm nhiều tội về giao thông và nhiều lần vi phạm trong thời gian thử thách. Anh ta tự coi mình là luật và phớt lờ các quy tắc khác. Một báo cáo từ trung tâm thanh thiếu niên cho biết, “Anh ta đã liên tục phấn đấu để trở thành một người tự do”. Khi tôi phỏng vấn Aaron, anh ta không hề tự do. Anh ta ngồi tù vì tội buôn bán ma túy.

Aaron nói: “Tôi không tìm thấy bất cứ thứ gì khiến tôi có động lực”. Mặc dù rất thông minh nhưng Aaron cảm thấy buồn chán sau ba học kỳ đại học và đã bỏ học. Anh ta sử dụng ma túy sau khi bắt đầu hút cần sa lúc 13 tuổi. Không lâu sau, anh ta sử dụng Cocaine và heroin. Anh ta tự hào khi trở thành một doanh nhân chứ không phải một con nghiện. Năm 20 tuổi, anh ta “làm ăn” với một người đàn ông bán cần sa với số lượng lớn. Anh ta tìm được một người mua số lượng lớn ngoài tiểu bang và kiếm được hơn 2.500 đô la từ lần mua bán đầu tiên. Hai năm sau, anh ta bắt đầu bán heroin vì nó đem lại lợi nhuận cao hơn. Aaron coi mình là “tự làm chủ” khi kiếm được gần 100.000 đô la “được miễn thuế” mỗi năm. Tuy nhiên, anh ta đang mắc nợ thẻ tín dụng hàng nghìn đô la. Dù kiếm được bao nhiêu, Aaron vẫn tiếp tục chi tiêu nhiều hơn. Anh ta bị ám ảnh bởi vẻ ngoài thành đạt và dành một số tiền nhỏ để tích lũy một tủ quần áo khổng lồ, bao gồm hơn hai tá cặp quần dài và ba tá áo len. Anh ta chia sẻ, “Khi vẻ ngoài của bạn ổn, bạn sẽ cảm thấy ổn”. Phần lớn anh ta tiêu tiền cho cuộc sống thượng lưu - sắm sửa căn nhà trong con phố sang trọng, ăn uống tại các nhà hàng sang trọng, đánh bạc và đi du lịch. Anh ta lý giải rằng mọi người có nhu cầu rất lớn về ma túy, vậy tại sao anh ta lại không đáp ứng nhu cầu đó và kiếm lợi nhuận? Anh ta nhấn mạnh mình là một tay buôn lương thiện chứ không phải là một trong những kẻ gian xảo pha trộn ma túy và lừa đảo khách hàng. Cán bộ quản chế của anh ta chỉ ra rằng anh ta đã nhập khẩu gần nửa tấn cần sa vào khu vực Washington, D.C., cũng như các loại ma túy khác với số lượng nhỏ hơn. Aaron không nghĩ hoạt động kinh doanh của mình làm hại bất cứ ai. Sự hối tiếc duy nhất của anh ta là để bị bắt.

Aaron gần như không có bạn bè và không có mối quan hệ lâu dài thân mật với ai. Trong hồ sơ kiểm tra tâm lý có ghi, “Anh ta khá hướng ngoại và hòa đồng, và rất mong muốn được ở bên người khác… mặc dù các mối quan hệ cá nhân của anh ta có thể hơi hời hợt. Những người được lập hồ sơ này thường có tiền sử với các hành vi liều lĩnh và vấn đề trong các mối quan hệ có khả năng tiếp diễn. Họ thường không có nhiều động lực để thay đổi hành vi”. Aaron hầu như không chấp hành thời gian thử thách khi bị bắt và bị buộc tội lái xe quá tốc độ và không có bằng lái. Anh ta cũng có kết quả dương tính với ma túy trong một số lần xét nghiệm nước tiểu. Anh ta khinh thường các chương trình về ma túy mà anh ta cho là yêu cầu “bạn phải gạt đi cái tôi của mình”. Anh ta từ chối điều trị ma túy và khẳng định: “Tôi sẽ không khổ sở như các người mong muốn”. Sau đó, Aaron phàn nàn thời gian thử thách còn tồi tệ hơn thời gian ở tù. Sau khi kết quả xét nghiệm nước tiểu cho thấy anh ta đã có hành vi vi phạm trong thời gian thử thách, Aaron nói, “Tôi chán ngấy những quan điểm của người khác về việc tôi nên sống như thế nào”. Anh ta nói bản thân đã sẵn sàng hủy bỏ thời gian thử thách và ngồi tù trong thời gian còn lại. Những hậu quả khi không còn là một “tác nhân tự do” không làm thay đổi quan điểm của anh ta về bản thân hoặc về những gì anh ta coi là quan trọng trong cuộc sống. Khi được hỏi liệu có muốn thay đổi điều gì về bản thân không, Aaron trả lời ngắn gọn: “Tôi hài lòng với bản thân mình”.

Tội phạm từ lâu cho rằng nếu hạ mình để làm một công việc chính đáng, anh ta sẽ sải bước qua cánh cửa, qua mặt người phỏng vấn và giành được một công việc lương cao. Anh ta nghĩ mình sẽ thành công vang dội trên bất cứ phương diện nào nếu người khác công nhận tài năng và giao quyền lực cho anh ta. Anh ta dễ dàng hình dung mình là quản lý của một cửa hàng bách hóa nhưng lại chưa bao giờ tính đến việc lau sàn cửa hàng đó. Với một chút kiến thức và kinh nghiệm, anh ta có thể phô diễn bản thân một cách ấn tượng đến mức thuyết phục được giám đốc điều hành công ty đề nghị cho anh ta một vị trí với trách nhiệm lớn lao.

Daniel, một học sinh xuất sắc ở trường trung học, được nhận vào một trường đại học hạng nhất của bang nhưng anh ta bỏ học trước năm ba đại học. Anh ta thừa nhận: “Tôi không phải là một học sinh giỏi; Tôi không chăm học”. Khi còn học đại học, Daniel bắt đầu học đòi tham gia vào bất động sản. Anh ta chán ghét mọi công việc đòi hỏi phải làm việc hàng giờ đều đặn, và tưởng tượng mình trở thành một ông trùm bất động sản kiếm được thật nhiều tiền với tư cách là một doanh nhân tự kinh doanh. Daniel sáng tạo ra một “thế giới trong mơ”, trong đó anh ta thấy mình đang sống trong một tòa lâu đài, mặc quần áo được cắt may riêng theo phong cách Ivy League và được những người khác tư vấn với tư cách là một chuyên gia tư vấn về các triển vọng đầu tư bất động sản hấp dẫn.

Daniel bị bắt vì thực hiện một loạt vụ trộm cướp với số tiền hơn 15.000 USD từ việc bán những món đồ ăn trộm. Trước khi thực hiện những hoạt động phạm tội này, anh ta từng sống xa hoa nhưng thu nhập lại rất thấp. Daniel vay tiền từ một thanh niên giàu có mà anh ta thuyết phục được, sau đó thành lập một công ty phát triển đất đai. Anh ta mở một văn phòng sang trọng và thuê một thư ký, nhưng công ty không thể trang trải chi phí và buộc phải đóng cửa. Daniel được nhận một công việc với vai trò đại lý hàng đầu cho một công ty bất động sản nhờ gây được ấn tượng với một giám đốc điều hành trong cuộc phỏng vấn. Anh ta bị sa thải khi công ty gặp phải những vấn đề nghiêm trọng về tài chính. Thay vì săn tìm công việc khác, Daniel lựa chọn không làm gì cả.

Rosalind, vợ của Daniel, nói rằng kể từ khi cô ấy biết anh ta thì anh ta chưa bao giờ có được “một công việc thực sự”. Rosalind nhận xét, “Anh ấy dường như luôn có một thỏa thuận trong công việc”. Tuy nhiên, không có thỏa thuận nào từng thành công. Tuy vậy, Rosalind vẫn tin Daniel có nhiều điểm đáng giá, và cô tiếp tục tin tưởng vào khả năng thực hiện tham vọng của anh. Tuy nhiên, vào thời điểm tôi nói chuyện với cô ấy thì cô ấy đã hoàn toàn vỡ mộng. Cô đã luôn giao việc quản lý tài chính của gia đình cho chồng mình vì tài chính là lĩnh vực chuyên môn của anh ta. Cô đã sốc khi thấy những tấm séc bị trả lại vì không có tiền trong tài khoản ngân hàng để chi trả. Hơn một trăm chủ nợ đang đuổi theo Daniel. Xe ô tô của anh ta bị thu hồi. Những gì khiến Rosalind cảm thấy khó đương đầu nhất là Daniel đã xâm nhập tài khoản của con họ để thanh toán các hóa đơn. Rosalind quyết định không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân nữa. Cô ấy nói, “Chúng tôi thà bơi riêng còn hơn chết đuối cùng nhau”. Sau khi cô và Daniel ly thân, chồng cô dường như hoàn toàn không quan tâm đến việc trả tiền cấp dưỡng nuôi con. “Tôi ước anh ta sẽ nhảy xuống hồ và để chúng tôi yên”, cô chia sẻ, sau đó nói thêm, “Tôi cảm thấy thương hại cho anh ta”. Rosalind vừa tức giận nhưng cũng vừa buồn vì người đàn ông tài năng, đầy hứa hẹn mà cô từng yêu này đã phung phí quá nhiều cơ hội và hủy hoại cuộc sống của chính mình và gia đình.

Daniel từ chối xin việc. Trong nhiều tháng qua, anh ta sống mà không kiếm được thu nhập gì ngoài việc nhận trợ cấp hàng tháng của bố mẹ. (Daniel nhớ lại đã từng chỉ trích gay gắt bố mình vì “quá eo hẹp” trong khi vẫn đang sống nhờ vào số tiền đó.) Cuối cùng, anh ta kết luận, “Tôi không nên kinh doanh bất động sản”, và thừa nhận “vấn đề cái tôi” đã cản trở anh ta nhận những công việc không đáp ứng tiêu chuẩn của bản thân. Anh gặp khó khăn khi hình dung mình ở trong bối cảnh làm việc không được mặc vest và đeo cà vạt. Suy nghĩ của Daniel nhảy vọt từ nhân viên làm việc tại một trạm xăng đến một giám đốc điều hành. “Cách suy nghĩ của tôi không giống thông thường. Liệu đây có phải là một căn bệnh?”, anh ta đặt câu hỏi. Anh ta tuyên bố sau khi đưa ra câu hỏi tu từ trên, “Tôi muốn làm công việc mà tôi yêu thích”. Anh ta nói những công việc “cấp thấp” không thú vị và anh ta không thể tưởng tượng ra một công việc nếu nó không thú vị.

Hầu hết mọi người đều muốn tận hưởng công việc mà họ dành phần lớn thời gian thức giấc ở đó. Tuy nhiên, nhiều người cảm thấy công việc tẻ nhạt và hết sức khó chịu vì hoàn cảnh vượt quá tầm kiểm soát của bản thân. Họ làm những gì được yêu cầu để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày. Không phải Daniel, người khao khát được hưởng thành quả lao động mà không thực sự phải lao động để có được chúng. Ngay cả trước khi có công việc đầu tiên, anh ta đã hình dung mình là một doanh nhân thành đạt và là ông chủ của chính mình. Anh ta không phải học hết đại học và đăng ký vào một chương trình sau đại học cung cấp những kiến thức và kỹ năng để thực hiện những hoài bão cao cả. Anh ta chưa bao giờ suy nghĩ nghiêm túc về giá trị của việc tích lũy kinh nghiệm khi làm việc cho người khác. Anh ta vẫn thất nghiệp, và hy vọng: “Tôi sẽ bắt đầu một điều gì đó mà tôi thực sự thích. Tôi vẫn tiếp tục chờ đợi điều gì đó sẽ xảy ra”. Khi tôi nói anh ta có thể tự trang trải tạm thời bằng cách làm bồi bàn tại một nhà hàng cao cấp ở trung tâm thành phố, Daniel kinh hoàng nhìn tôi và nói rằng anh ta sẽ liên tục so sánh mình với những thực khách đó. Daniel cho biết cảm thấy xấu hổ vì không còn cách nào khác ngoài việc ăn trộm, và anh ta khinh bỉ gọi đó là “tội phạm cổ cồn xanh”. Nếu tôi tư vấn cho Daniel thì anh ta từ chối làm việc. Giải pháp cuối cùng với anh ta được nhiều người gọi là “phương pháp chữa trị địa lý”: di chuyển ra khỏi khu vực đó.

Tội phạm thường thành lập doanh nghiệp của riêng mình với vai trò cung cấp các dịch vụ hoặc sản phẩm nhưng sau đó không hề thực hiện cả hai vai trò này. Ngành kinh doanh sửa chữa nhà ở là một trong nhiều ngành bị thiệt hại do các hoạt động thiếu tin cậy gây ra. Ví dụ, một nhà thầu lái xe quanh một khu phố, đề nghị một mức giá phù hợp để cải tạo lại bề mặt đường đi vào nhà cho chủ nhà, sau đó bỏ túi một khoản tiền đặt cọc và không bao giờ quay lại.

Một số tội phạm là những người có công việc ổn định vì họ nhận ra việc làm là biểu tượng của sự tôn trọng. Nếu tội phạm làm việc, những người khác sẽ ít nghi vấn hơn về cách sử dụng thời gian của anh ta. (Thường thì bố mẹ, vợ/chồng và người tư vấn sẽ nghĩ tội phạm đang sửa chữa những sai lầm chỉ vì anh ta có một công việc.) Khi chọn cách nỗ lực trong một công việc, anh ta nhanh chóng học hỏi mọi thứ và tràn đầy năng lượng. Anh ta được ông chủ đánh giá cao và thăng tiến trong công việc. Ít nhất là trong một khoảng thời gian, anh ta sẽ được ghi nhận bởi vì điều đó thể hiện công khai những gì trong thâm tâm mà anh ta chắc chắn ngay từ đầu - rằng anh ta vượt trội hơn bình thường. Nhưng đó là tất cả những gì được thể hiện vì anh ta vẫn không nghĩ mình là một người làm việc bình thường như những đồng nghiệp khác, và rất có thể khinh thường công việc và cả những người đã đề bạt anh ta. Tuy nhiên, anh ta biết rằng, giống như việc đạt được điểm số tốt ở trường giúp anh ta hoặc bạn bè giải quyết được những vấn đề bên lề thì một bản sơ yếu lý lịch ấn tượng cũng có thể như vậy.

Địa vị và quyền hạn đối với tội phạm quan trọng hơn nhiều so với chất lượng công việc. Vươn tới đỉnh cao là quyền được hưởng của anh ta chỉ vì bản chất anh ta là như vậy. Trong công việc, anh ta khẳng định con đường của mình là con đường duy nhất. Anh ta đưa ra lời khuyên mà không ai yêu cầu và áp đặt những ý kiến của bản thân. Anh ta nhẫn tâm chỉ trích người khác và sẵn sàng nổi giận với bất cứ ai đưa ra gợi ý dù rất nhỏ cho anh ta. Những đồng nghiệp phẫn nộ với chủ nghĩa giáo điều, sự cứng đầu và tâm hồn hẹp hòi của anh ta. Anh ta thường xuyên tranh cãi về những vấn đề nhỏ nhặt với đồng nghiệp, cấp dưới và người giám sát. Anh ta lạm dụng quyền hạn được nắm giữ một cách chính đáng thay vì thực hiện nó theo những cách có lợi cho công ty. Với tư cách là một nhà điều hành, anh ta tự mình đưa ra các quyết định thay vì tham vấn người khác. Anh ta nêu ý kiến và đưa ra kết luận như những sắc lệnh. Trong ngắn hạn, sự tự tin và chắc chắn của nhân viên có thể được cấp trên đánh giá cao đến mức bỏ qua những thiếu sót của anh ta. Phong cách điều hành của anh ta tạo ra sự thuyết phục cho đến khi người ta thấy rõ rằng anh ta không chỉ chống đối mọi người mà còn không có kiến thức chuyên sâu về doanh nghiệp. Một số tội phạm mang tính chất ôn hòa thay vì gây tranh cãi, được mến mộ thay vì thiếu thân thiện, quanh co thay vì đáng sợ. Chúng giả vờ quan tâm đến những gì người khác nói. Khi đưa ra những đề nghị, trong thâm tâm của những tội phạm gạt đi từng ý tưởng mà không xem xét đến giá trị của nó. Họ dường như bình tĩnh giải quyết trước những lời chỉ trích nhưng thực ra lại phớt lờ nó và cố tình ghi nhớ người chỉ trích là ai. Họ lạm dụng quyền hạn và phản bội lòng tin nhưng không trắng trợn khi làm vậy. Với tội phạm là người đứng đầu, tinh thần nhân viên sẽ sa sút. Phương pháp hoạt động của anh ta sớm muộn cũng khiến người khác mất động lực khi đề xuất các ý tưởng đổi mới và phát triển các giải pháp mang tính sáng tạo.

Về quan điểm, điều quan trọng cần ghi nhớ là những người không phải tội phạm đều có những khuyết điểm tương tự trong tính cách, tuy nhiên vấn đề nằm ở mức độ. Một số giám đốc điều hành sẽ làm việc hiệu quả hơn nhiều nếu họ ít giáo điều hơn, tự phê bình nhiều hơn và nhạy cảm hơn trước những nhu cầu của người khác. Tuy nhiên, họ coi trọng công việc, trung thành cống hiến hết mình cho công ty và không cố ý bóc lột đồng nghiệp. Một tội phạm sẽ coi công việc đa phần giống như một đấu trường để tìm kiếm quyền lực. Anh ta đạt được quyền lực bằng cách hy sinh lợi ích của người khác đôi khi theo cách tàn nhẫn, và thực thi nó nhằm nâng cao hơn nữa những mục tiêu của riêng mình.

Chính những công việc thường ngày khiến nhiều kẻ phạm tội cảm thấy khó chịu vì họ dường như dị ứng với điều đó ở bất kỳ đâu trong cuộc sống. Để vượt qua sự tẻ nhạt, một số người sử dụng ma túy trong khi làm việc. Khi phấn khích, tội phạm có thể chịu đựng suốt cả ngày vì ma túy giúp tâm trí anh ta bay bổng từ những điều hằng ngày đến những điều thú vị. Ngoài ra, tội phạm còn có âm mưu tìm hiểu xem đồng nghiệp nào cũng sử dụng, xác định các nguồn mua ma túy mới, hoặc khám phá các thị trường giao dịch. Bởi vì tội phạm hoàn thành tốt công việc nên việc sử dụng ma túy khó có thể bị người quản lý để ý tới. Nếu anh ta không nỗ lực hoặc bất cẩn, ông chủ sẽ khiển trách và có thể cho rằng có điều gì đó đang tạm thời gây khó khăn cho anh ta. Nếu tình trạng làm việc kém hiệu quả kéo dài, kẻ thực hiện hành vi phạm tội có thể bị sa thải nhưng ông chủ sẽ không bao giờ nghi ngờ anh ta có dính dáng đến ma túy. Trong trường hợp không chắc tội phạm bị bắt quả tang đang sử dụng ma túy, sếp của anh ta có thể khuyên anh ta nên tìm cách điều trị, có thể bằng chi phí của công ty. Một số người chủ thậm chí phải gánh một phần trách nhiệm. Thay vì phạt người sử dụng, họ cho rằng điều kiện tại nơi làm việc không đạt yêu cầu đã khiến anh ta sử dụng ma túy. Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là tội phạm bị mất việc làm nhưng đó có thể không phải là một hình phạt đặc biệt nghiêm khắc đối với anh ta.

Tội phạm thường sử dụng công việc nhằm phục vụ trực tiếp cho hoạt động phạm tội. Các doanh nghiệp phải hứng chịu nhiều hành vi trộm cắp từ chính nội bộ nhiều hơn là từ các khách hàng. Các nhân viên bỏ trốn cùng với số hàng hóa trị giá hàng triệu đô la và biển thủ một số lượng tiền mặt đáng kể. Người ta ước tính rằng có 30%-60% thất bại của doanh nghiệp nhỏ là do hành vi trộm cắp của nhân viên. Ngoài ra, các công ty phải đối mặt với các cuộc tấn công mạng nhằm vào các hệ thống máy tính. Một nghiên cứu năm 2013 dựa trên một mẫu đại diện của 60 tổ chức trong các lĩnh vực công nghiệp khác nhau chỉ ra tổn thất chi phí trung bình do tội phạm mạng gây ra là 11,6 triệu đô la mỗi năm, trải dài trong phạm vi từ 1,3 đến 58 triệu đô la trên mỗi công ty [60] . Các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với vấn đề trộm cắp trên mạng, trong đó tội phạm sử dụng máy tính để lừa đảo và tham ô, cũng như đánh cắp dữ liệu cá nhân hoặc tài chính. Theo báo cáo trên một ấn phẩm của tạp chí Forbes, đánh cắp bí mật thương mại ảnh hưởng đến các công ty đến mức họ “bị thiệt hại về tài chính, buộc phải giảm bớt việc làm và thu hẹp quy mô hoặc thậm chí chấm dứt hoạt động”. [61]

Những tội phạm tỏ ra là những nhân viên vững vàng, đáng tin cậy, biết nắm bắt cơ hội để làm giàu cho bản thân bất chấp tổn hại đến lợi ích chung. Họ được đào tạo, trang bị những kỹ năng và không có bất kỳ tiền án tiền sự nào trước đó, và gần như không gặp khó khăn để đáp ứng đủ các điều kiện cho các công việc trong chính quyền liên bang, tiểu bang hoặc chính quyền địa phương. Wanda làm việc cho một cơ quan cấp hạt có nhiệm vụ quản lý việc đăng ký hàng trăm khóa học giáo dục cho người trưởng thành. Trong khoảng thời gian ba năm, cô đã chuyển số tiền gần một phần tư triệu đô la từ các quỹ trong kho bạc của hạt vào một tài khoản mang tên cô. Lúc đầu, cô dùng tiền để thanh toán các hóa đơn khám chữa bệnh khổng lồ của các thành viên trong gia đình. Sau đó, như cô ấy nói, cô ấy đã “vượt quá khả năng” và chi hàng nghìn đô la cho những kỳ nghỉ xa hoa và đồ trang sức. Về lý do biển thủ tiền, Wanda đã nói, “Tôi đã cố gắng khiến mọi người hạnh phúc” và nhắc đến cha mẹ, chồng và con cái của cô ấy, những người được hưởng lợi từ khoản chi tiêu của cô. Cô ta chia sẻ tiếp, “Tôi cố gắng làm hài lòng mọi người quá nhiều”.

Wanda cho biết cô nhanh chóng nhận ra những nhân viên kế toán khác là đồng nghiệp của cô “không phải là người nhanh nhẹn nhất” và cô cho họ là những người cẩu thả và không lưu tâm đến từng chi tiết. Hơn nữa, việc giám sát lệ phí đăng ký còn lỏng lẻo, và người giám sát phải làm việc quá sức lại hoàn toàn tin tưởng cô. Wanda luôn kiểm soát mọi thứ. Cô ấy hiếm khi thừa nhận không biết điều gì đó hoặc cần giúp đỡ. Cô ấy nói rằng, thời còn đi học cô ấy sẽ cảm thấy xấu hổ khi yêu cầu giáo viên giải thích điều gì đó mà mình không hiểu. Bởi vì Wanda hiếm khi giãi bày bản thân hoặc tâm sự với người khác nên cô ấy có rất ít bạn bè và không có người bạn thân nữ giới nào. Cô chia sẻ, “Tôi là người thích kiểm soát hơn. Tôi không nói chuyện với bất kỳ ai về bất cứ điều gì”, trong đó bao gồm cả chồng cô là Peter.

Peter không thể tin người vợ và người mẹ những đứa con của mình lại có thể ăn trộm một thanh kẹo chứ chưa nói đến tham ô một số tiền lớn như vậy. Vì cô ấy là một kế toán nên anh ấy giao việc quản lý tài chính của gia đình cho cô. Anh ta không hề biết các vấn đề liên quan đến thanh toán các hóa đơn. Anh cho rằng bất cứ điều gì Wanda nói với anh đều là sự thật. Wanda đã lợi dụng bản chất dễ dãi đó của chồng mình. Cô chi tiêu các hóa đơn trên ba thẻ thanh toán đến khi đạt mức cho phép tối đa trên mỗi thẻ và phải trả lãi suất trên 20% cho số tiền chưa thanh toán. Để mua một chiếc ô tô mới tinh, cô đã vay một khoản vay trong năm năm. Khi không thể thanh toán được nữa, đại lý đã thu hồi lại chiếc xe. Wanda nói về chồng mình, “Tôi chưa từng thấy bất kỳ ai ít phản đối như anh ấy”. Wanda chỉ đạo mọi thứ và kiểm soát chặt chẽ mọi hành động của anh. Cô nhận xét, “Chồng tôi thậm chí còn không dọn giường bởi vì anh ấy biết tôi sẽ làm việc đó”. Khi được hỏi liệu sự cầu toàn mang tính kiểm soát của cô ấy có khiến Peter lo lắng hay không, cô ấy trả lời: “Tôi chắc chắn là có. Anh ấy không nói gì cả”. Wanda thừa nhận mình hoàn toàn không cần phải biển thủ tiền từ công việc. “Chúng tôi luôn có mọi thứ chúng tôi thực sự cần hoặc muốn”.

Peter rất đau lòng khi Wanda bị truy tố vì tội tham ô nhưng vẫn chung thủy, “Tôi đã nói với cô ấy rằng chúng tôi sẽ vượt qua chuyện này. Tôi sẽ không bỏ rơi cô ấy. Cô ấy có một trái tim tuyệt vời. Tôi rất yêu cô ấy”. Vợ anh ấy nói rằng họ có thể chi trả cho hai chuyến du lịch trên biển vì cô ấy tìm thấy gói du lịch giá rẻ. Đối với đồ trang sức, anh ấy cho biết không nhìn thấy nhiều trang sức và thực sự không chú ý đến những gì Wanda có. “Tôi không phân biệt được viên đá này với viên đá khác”, anh ấy nói với tôi. Peter khẳng định vợ anh là người cầu toàn. Khi nói đến việc dọn giường, anh ấy chia sẻ, nó “phải hoàn hảo - theo phong cách quân đội”. Nói chung, Wanda “phải làm mọi thứ theo cách riêng của mình”.

Wanda luôn cố gắng kiểm soát mọi thứ ở nhà và không sẵn sàng đón nhận những lời chỉ trích. Cô ấy coi lời đề nghị nhẹ nhàng nhất như một sự xúc phạm. Trong khi chờ tuyên án, Wanda nhận được một công việc văn thư mà ở đó ông chủ của cô dường như có tính cách tương tự như chồng cô. Cô ấy nói người giám sát trực tiếp miễn cưỡng đưa ra đề xuất hoặc chỉ trích nếu anh ta nghĩ rằng những gì cô ấy đang làm có gì đó sai trái. Ở công việc mới này, nếu có thắc mắc, cô sẽ không hỏi để tránh tỏ ra “thiếu hiểu biết”. Cô ấy sẽ tận dụng cơ hội để có thể tự mình giải quyết vấn đề. “Tôi chưa bao giờ nói chuyện với bất kỳ ai về vấn đề của mình”, cô cho biết. Kết quả một bài kiểm tra tâm lý cho thấy: “Khuynh hướng cơ bản chủ đạo của cô ấy là hợp lý hóa sự thù địch, ngầm đổ lỗi cho người khác và thể hiện những vấn đề ra bên ngoài. Cô ấy được cho là nhạy cảm quá mức, dễ bị tổn thương và nổi cáu. Cô ấy rất nhạy cảm với những lời chỉ trích. Cô ấy có thể kiểm soát chặt chẽ quá mức sự thù địch của mình trong thời gian dài với những đợt bùng phát hiếm gặp nhưng đầy nguy hiểm”.

Mẹ của Wanda mô tả con gái mình là đứa độc lập nhất trong số bốn đứa con. Khi được hỏi ý nghĩa của câu nói đó, bà trả lời, “Nó luôn muốn kiểm soát” và đề cập đến việc Wanda cố gắng kiểm soát anh chị em của mình và liên tục mâu thuẫn với họ. Không muốn đổ lỗi cho Wanda về sự chi tiêu quá mức và tội mà đứa con gái đã phạm phải, người phụ nữ này than thở, “Thế hệ bây giờ muốn mọi thứ” và so sánh sự hoang phí của con gái và con rể với sự tiết kiệm của người chồng mình đã làm việc hơn ba thập kỷ để cuối cùng mới mua được một số mặt hàng xa xỉ mà họ đang hưởng thụ. “Wanda có thể làm gì với số tiền đó?”, mẹ cô đặt câu hỏi. Bà thắc mắc tại sao con rể bà không hỏi Wanda về những thứ nó mua. Bà nhận xét, “Cậu ta chỉ ủng hộ nó thôi”.

Tình huống của Wanda phản ánh một khuôn mẫu chung cho những kẻ phạm tội ăn cắp trong công việc. Kiểm soát người khác là nguồn gốc chính của lòng tự trọng trong con người họ. Họ rất giỏi che giấu tội ác đằng sau vẻ ngoài thông minh, có năng lực và tận tâm với công việc. Họ tìm kiếm và khai thác những điểm yếu ở đồng nghiệp hoặc trong cách vận hành hệ thống. Bởi vì họ tỏ ra thực hiện rất tốt nhiệm vụ và cách xử sự của họ thường mang tính hăm dọa nên không ai thách thức họ. Họ thực hiện hành vi lừa đảo trong một thời gian dài cho đến khi bị phát hiện.

Tội phạm trong các tập đoàn không phải là mới và bắt đầu nhận được sự chú ý trên các phương tiện truyền thông trong thời kỳ suy thoái của thị trường chứng khoán giai đoạn 2000-2003. Trong suốt cuộc đại suy thoái bắt đầu vào năm 2009, những gã tài chính khổng lồ đã góp phần vào sự sụp đổ của các ngân hàng và các công ty môi giới. Những đề mục về cho vay nặng lãi và gian lận thế chấp thường xuyên xuất hiện. Nổi tiếng nhất là Bernard Madoff, người quản lý hàng tỷ đô la cho các nhà đầu tư. Madoff thực hiện một kế hoạch có tên Ponzi, núp bóng dưới hình thức một quỹ phòng hộ và lừa đảo hàng nghìn nhà đầu tư. Tháng 3 năm 2009, ông ta phạm phải 11 tội danh liên quan đến lừa đảo, rửa tiền và khai man và bị kết án 150 năm tù. Doanh nghiệp trá hình của Madoff là một trò lừa đảo kinh điển với những người có nét tương đồng. Nhiều tổ chức Do Thái và các nhà đầu tư cá nhân người Do Thái đã đầu tư với Madoff - cũng là người Do Thái - cho rằng một trong những tổ chức của họ hoàn toàn đáng tin cậy và đem lại lợi ích tốt nhất. Tuy nhiên, Joseph Epstein, nhà báo của chuyên mục Neosukeek, chỉ ra rằng, “Có thể nói, Madoff đã lừa đảo chính cả gia đình mình”. [62] . Các cuộc điều tra sau đó cho thấy, ngay từ đầu những năm 1970, Madoff đã cử nhân viên đi mua ma túy để sử dụng, công ty và nơi làm việc của ông “đầy rẫy cocaine [và] tình dục”.

Có những cáo buộc Madoff sử dụng tiền của nhà đầu tư để trả cho những người hộ tống và nhân viên mát-xa. Một bài báo trên tờ New York Times nói rằng Bernard Madoff “có thể đã ăn cắp chỉ nhằm mua vui, khai thác mọi mối quan hệ trong cuộc đời ông ta trong nhiều thập kỷ trong khi cố tình thao túng các cơ quan quản lý tài chính”. [63]

Tâm lý của người điều hành lạm dụng quỹ của công ty hoặc nhà đầu tư cũng giống như tâm lý của kẻ cướp ngân hàng có vũ trang vì cả hai đều không cần tiền. Số tiền có được từ việc phạm tội là chỉ số đánh giá khả năng của người đó. Tên cướp ngân hàng cướp tiền bằng vũ lực. Giám đốc điều hành công ty cũng làm như vậy thông qua các âm mưu tinh vi, xảo quyệt và những thủ đoạn lừa đảo. Cả hai đều biết phân biệt hành vi đúng sai nhưng đều bỏ qua những cân nhắc đó khỏi suy nghĩ của họ. Cả tên cướp ngân hàng và kẻ lừa đảo trong công ty đều tính toán cách tránh bị phát hiện, và tận hưởng niềm vui thành công khi hoàn thành công việc. Và không ai quan tâm đến tác động từ hành vi của mình đối với người khác.

Đối với tội phạm cổ cồn trắng, anh ta không hề bị nghi ngờ vì những thành tích và vị trí đáng nể đang nắm giữ. Những nạn nhân miễn cưỡng ra mặt vì họ biết lời nói của họ sẽ mâu thuẫn với lời nói của một chuyên gia được đánh giá cao. Tội phạm trông chờ nạn nhân vẫn sẽ giữ im lặng. Nếu hành vi sai trái bị phát hiện, anh ta sẽ tìm cách hạ thấp uy tín của người tố cáo.

Về phần các yếu tố môi trường trong tội phạm doanh nghiệp, thông thường nếu cám dỗ xuất hiện trước mặt một cá nhân đầy tham vọng thì lòng tham có thể lấn át sự liêm chính và phán xét đúng đắn. Các nhà phân tích tội phạm tài chính cho rằng các hoạt động bất hợp pháp nhiều khả năng được thực hiện khi thiếu sự giám sát. Tháng 2 năm 1995, ngân hàng Barings có tuổi đời 233 năm tuổi - được biết đến với sự tài trợ cho các cuộc chiến tranh chống lại Napoléon, giao dịch Louisiana (thương vụ giúp tăng gấp đôi diện tích đất Hoa Kỳ) và kênh đào Erie đã chính thức sụp đổ chủ yếu do các hoạt động của một cá nhân gây ra. Sau khi tham gia vào giao dịch hợp đồng tương lai trái phép, Nick Leeson đã làm giả các tài liệu và che giấu khoản lỗ giao dịch trị giá 1,3 tỷ đô la. Leeson phải ngồi tù tại Singapore, nơi anh ta từng là quản lý chi nhánh của Barings tại đây. Trong một cuộc phỏng vấn trên tạp chí Research, Leeson đã đổ lỗi cho “sự thất bại trong hoạt động quản lý rủi ro của Barings khiến hành vi gian lận của anh ta lan rộng”. [64] Leeson cũng coi hoạt động gian lận của bản thân là động lực bên trong hướng tới “thành công”. Nick Leeson chia sẻ trong một hội nghị chuyên đề tổ chức tại Miami vào năm 2005, “Từ tội phạm là một từ xấu xí. Tôi không nghĩ mình là tội phạm. Đó là điều gì đó mà tôi đã trở thành”.

Quy định lỏng lẻo thực sự tạo ra nhiều cơ hội hơn khiến những người không trung thực lợi dụng nhằm phục vụ lợi ích của riêng họ. Những người trung thực sẽ làm điều đúng đắn cho dù có ai đó đang dòm ngó họ hay không. Một lần nữa, chính cá nhân mới là người quyết định cách thức hoạt động bất kể điều kiện môi trường như thế nào. Nick Leeson là một ví dụ điển hình trong việc tội phạm tìm ra điểm yếu của hệ thống và lợi dụng nó. Giáo sư Terry Leap tại trường Cao đẳng Quản trị Kinh doanh thuộc Đại học Tennessee chỉ ra rằng những giám đốc điều hành đang thăng tiến đột ngột biến thành những quái vật với “những khuyết điểm nghiêm trọng trong tính cách bị che giấu hoặc phớt lờ trong nhiều năm” [65] . Những siêu sao này được khen ngợi và thăng chức vì sự cống hiến và làm việc chăm chỉ. Những khuyết điểm cá nhân được dung thứ và bị lu mờ bởi thành tích của họ. Nếu một người vượt trội về những gì đã làm thì anh ta chính là một thành viên có giá trị của tổ chức. Sự thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm và những giới hạn nghiêm ngặt giữa các cá nhân ngày càng lộ rõ khi anh ta đạt đến vị trí điều hành và nắm trong tay nhiều quyền lực. Ngay cả khi đó, tài năng và hiệu quả làm việc của anh ta dường như vẫn vượt trội hơn so với những nét tính cách tiêu cực cho đến khi những hành vi tham ô được đưa ra ánh sáng.

Lester, một luật sư tài giỏi, bị bắt vì biển thủ hàng triệu đô la từ các quỹ tín thác của khách hàng. Là một người được trả lương cao nhưng anh ta không ăn cắp tiền ngoài mục đích về tài chính. Lester chia sẻ, “Phần lớn số tiền đó chỉ để có một cuộc sống tốt đẹp”, khi nói về các khoản chi phí cho rượu vang hảo hạng, nghệ thuật, quần áo đặt may riêng, đồ trang sức và du lịch.

Vợ anh, Joann, nói rằng cô luôn coi chồng mình là “người hoàn hảo”. Tuy nhiên, cô cho biết anh là người cực kỳ hay phán xét người khác. Cô ấy nói trong nước mắt, “Tôi chưa bao giờ làm bất cứ điều gì đáp ứng được tiêu chuẩn hoàn hảo của anh ấy”. Cô luôn cố gắng để không kích động cơn thịnh nộ của anh vì những hậu quả khó lường. Cô nhận xét, “Khi Lester tức giận, điều đó thật tồi tệ - anh ấy như thể ghét tôi vậy”. Joann cho biết một khi chồng cô đã quyết định việc gì đó thì không gì có thể can ngăn. Do đó, cô để anh quyết định hầu hết mọi việc, bao gồm cả việc mua một ngôi nhà “khổng lồ” với một ga ra chứa ba xe hơi và hồ bơi. Cô ấy chia sẻ với tôi, “Tôi sẽ không bao giờ mua nó, nhưng tôi đã làm tất cả những gì bạn sẽ làm khi là một người nội trợ và làm nó tốt nhất có thể”. Lester trả tiền cho thời gian ở một ngôi nhà dùng chung khi đi du lịch, và cô ấy không thắc mắc về điều đó. “Tôi đã ký vào các giấy tờ. Tôi nghĩ rằng Lester kiểm soát được mọi thứ. Anh ấy giải quyết vấn đề đó. Tôi nghĩ, anh ấy là một luật sư, và tôi chưa bao giờ để ý đến chuyện đó”. Mặc dù Lester rất giỏi trong công việc nhưng vẫn khăng khăng rằng Joann cần tiếp tục làm việc ngay cả khi cô ấy bị ốm. Dù sẵn sàng thừa nhận Lester rất hay kiểm soát người khác nhưng Joann cũng chỉ ra anh ấy cũng rất rộng lượng. Trước khi kết hôn, Joann chưa bao giờ chi quá 150 đô la cho một chiếc váy nhưng giờ đã có thể bỏ ra hơn 1.000 đô la để mua một bộ trang phục. Cô cũng nhận được trang sức, thứ mà trước đây cô không bao giờ quan tâm đến. Joann không bao giờ nghi ngờ cuộc sống mà cô và Lester đang tận hưởng là kết quả của những vụ lợi bất chính. “Toàn bộ cuộc hôn nhân của chúng tôi chỉ là một lời nói dối”, cô ấy nói với tôi sau khi chồng bị bắt và cũng là thời điểm cô ấy đang chìm dần từ lối sống xa hoa sang một cuộc sống thắt lưng buộc bụng, trong đó ngân hàng sắp tịch thu ngôi nhà của họ. Bất chấp tất cả những gì đã xảy ra, cô ấy dứt khoát nói với tôi, “Tôi vẫn yêu Lester”, và nhấn mạnh, “Anh ấy về cơ bản vẫn là người rất có đạo đức”.

Lester không đồng tình với nhận xét của vợ về anh ta. “Quan điểm của tôi về Joann là cô ấy là đứa con một hư hỏng điển hình”. Anh ta thừa nhận, trong khi bản thân có thể hay phán xét nhưng một phần nguyên nhân là do vợ anh ta có xu hướng “tin rằng những người cô ấy thực sự yêu là hoàn hảo”. Đối với việc cô ấy sợ làm anh tức giận, Lester bác bỏ điều này và khẳng định, “Cô ấy dường như quá thận trọng”. Khi chúng tôi nói chuyện, Lester đã có thể nói rõ làm thế nào mà anh ta có thể lừa đảo trong một thời gian dài dù biết điều đó là sai trái và có thể kết thúc sự nghiệp cũng như khiến anh ta mất tự do. Về những việc làm sai trái, anh ta nói, “Tôi đã có thể ngăn chặn nó. Tôi có thể mở một cánh cửa nhỏ và bước ra để nhìn thấy những sai trái về nó. Tôi có thể đóng nó lại trong một căn phòng cách âm và sẽ không ai nghe thấy tiếng la hét. Nhìn chung, điều đó có tác dụng”. Anh ta nhận xét, “Nếu mọi người không có khả năng ngăn chặn mọi thứ thì bạn gần như không thể vượt qua những thách thức trong cuộc sống”. Anh ta giải thích, “Tôi đã được che chở trong khoảng thời gian đó. Không có gì tồi tệ xảy ra cả. Không ai bước vào và nói: Tôi cần kiếm những khoản tiền bên ngoài công ty của tôi”. Và anh ta chỉ ra, “Bất kể bạn cố thuyết phục bản thân hoàn trả số tiền bao nhiêu lần đi nữa thì điều đó cũng không bao giờ, không bao giờ xảy ra. Bạn chỉ tự đào cho mình một cái hố ngày càng sâu hơn mà thôi”.

Lester mô tả một trong những động lực của anh ta giống với Nick Leeson khi cho rằng nhiều khoản mua sắm xa hoa của mình “là biểu tượng của những gì tôi đang cố gắng trở thành chứ không phải bản chất của tôi”. Anh ta nhớ lại, kể từ khi học cấp hai, anh ta “luôn cần phải lớn hơn”, ý anh ta là quan trọng hơn. Trở thành một nhân vật quan trọng là cách định nghĩa thành công của anh ta.

Tại sao một người thành công trong nghề nghiệp của mình lại phải chịu rủi ro như vậy? Câu hỏi này quay trở lại quan điểm cơ bản của tội phạm về việc làm dành cho nô lệ và những kẻ ngốc nghếch. Việc đạt đến nấc thang cao nhất của công ty là chưa đủ. Nắm giữ một vị trí đáng tin cậy và được đánh giá cao như bác sĩ, giáo viên, luật sư hay cố vấn tài chính cũng là chưa đủ. Bất kỳ phần thưởng chính đáng nào mà công việc của tội phạm mang lại đều không khiến anh ta hài lòng. Tội phạm không bao giờ có đủ quyền lực, sự kiểm soát và niềm phấn khích, vốn là nguồn oxy nuôi dưỡng cuộc đời anh ta. Càng ngày, anh ta càng phải chứng tỏ mình thông minh hơn, có năng lực hơn và tài trí hơn những người khác. Do đó, anh ta theo đuổi mục tiêu của mình bằng cách vi phạm các chính sách của người sử dụng lao động, phá vỡ các quy tắc và lôi kéo người khác phục vụ mục tiêu của riêng mình.

Trong hơn một thập kỷ, một quan chức của cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) đã nghỉ việc trong thời gian dài, nói với những người giám sát của mình rằng anh ta đang thực hiện một nhiệm vụ bí mật cho cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ. Anh ta đã lừa những người đóng thuế số tiền 900.000 đô la khi nhận lương từ chính quyền liên bang, tiền thưởng và các lợi ích khác cho công việc mà anh ta chưa bao giờ làm. Tờ Washington Post đưa tin, bị cáo khai trước tòa rằng anh ta bị thôi thúc bởi “cảm giác phấn khích và vội vã thoát khỏi một thứ gì đó”? Vị cựu quan chức của EPA này bị kết án 32 tháng tù giam và phải hoàn trả các khoản tiền kiếm được phi pháp. [66] .

Các công chức đáng tin cậy đã lợi dụng chức vụ và sự tin tưởng được giao. Các vụ bê bối gian lận hàng loạt đã được báo cáo, trong đó không chỉ học sinh gian lận mà còn cả giáo viên và quản lý trường học, những người thao túng điểm thi vì sự nhìn nhận từ bên ngoài hoặc vì thành tích. Điều này xảy ra trong vụ bê bối gian lận lớn nhất trong lịch sử. Năm 2013, tại Atlanta, Georgia, 35 cán bộ công chức ngành giáo dục đã bị truy tố, trong đó có một người từng là quản lý trường học. Theo một báo cáo, bản cáo trạng nêu rõ, “Trong ít nhất 4 năm, từ năm 2005 đến năm 2008, các câu trả lời của bài kiểm tra đã bị thay đổi, bịa đặt và chứng nhận sai”. [67] Các lĩnh vực pháp lý khác trên khắp nước Mỹ cũng được báo cáo có xuất hiện gian lận trên toàn hệ thống. Ngoài những hậu quả về mặt pháp lý, một sự tranh cãi trên toàn quốc nổ ra làm tăng thêm áp lực đối với các giáo viên trong việc định hướng chương trình giảng dạy xoay quanh việc kiểm tra. Áp lực ngày càng gay gắt khi hoạt động đánh giá của giáo viên chủ yếu dựa trên điểm kiểm tra như một thước đo thành tích của học sinh. Đây không phải là nơi để thảo luận về sự tranh cãi cụ thể đó. Vấn đề là, mặc dù có thể có áp lực bên ngoài từ các đồng nghiệp hoặc ban giám hiệu trong việc thay đổi điểm thi, nhưng chính các giáo viên mới là người quyết định có tham gia hoạt động gian lận đó hay không. Trong các bản tin, chúng ta biết đến những nhà giáo dục không chịu nổi áp lực đó nhưng lại không biết đến đa số những người chống chọi lại được.

Khi Tiến sĩ Yochelson và tôi thực hiện nghiên cứu ban đầu về tội phạm (1961-1978) tại Bệnh viện St. Elizabeths ở Washington D.C., trong số những câu hỏi được đặt ra, có câu hỏi là, “Khi lớn lên, bạn muốn làm công việc gì?” Một số lượng lớn người tham gia trả lời muốn trở thành cảnh sát. Họ bị những biểu tượng của quyền lực cũng như việc thực thi quyền lực thu hút. Những sức hút đó là đồng phục, huy hiệu, xe ô tô cảnh sát, súng và khả năng truy đuổi và bắt giữ kẻ xấu. Động lực của họ không liên quan đến phục vụ cộng đồng và biến nó thành một nơi an toàn hơn. Về bản chất công việc, các sĩ quan cảnh sát có thẩm quyền hợp pháp để thực thi pháp luật. Họ phần lớn là người trung thực, tận tụy với công việc, hy sinh bản thân và mạo hiểm cả tính mạng để giúp đỡ người khác. Tuy nhiên, một người có tính cách tội phạm khi trở thành cảnh sát có thể sử dụng sai quyền lực được giao phó và bị lôi kéo vào xung đột trong nội bộ cơ quan cũng như trong cộng đồng. Một sĩ quan cảnh sát có tính cách tội phạm có thể nhận hối lộ, sử dụng vũ lực quá mức trong khi bắt giữ và nhìn chung là tìm cách thỏa mãn nhu cầu của bản thân trước khi phục vụ người khác.

Vụ án cựu sĩ quan cảnh sát Drew Peterson bị cáo buộc giết hai người vợ là một vụ án nổi tiếng. Tôi đã không phỏng vấn ông Peterson nhưng ông ta là tâm điểm của dư luận truyền thông trong nhiều năm và là một nhân vật nổi tiếng thu hút đối với công chúng. Năm 1979, ông ta được Sở Cảnh sát Bolingbrook ở Illinois vinh danh là “Sĩ quan Cảnh sát của năm”. Năm 1985, ông ta bị sa thải vì không tuân lệnh cấp trên, tự ý tiến hành một cuộc điều tra, không báo cáo ngay về hành vi hối lộ và lạm dụng chức vụ, quyền hạn. Ông ta bị truy tố về các hành vi lạm dụng chức vụ quyền hạn và không báo cáo việc nhận hối lộ. Các cáo buộc đã bị đình chỉ vì thiếu bằng chứng và năm sau đó, ông ta được khôi phục lại công việc. Tháng 5 năm 2008, ông Peterson bị cáo buộc trọng tội là sử dụng trái phép vũ khí. Khi cảnh sát khám xét nhà, họ tìm thấy 11 khẩu súng. Các cáo buộc một lần nữa lại bị đình chỉ.

Người vợ thứ ba của ông Peterson, Kathleen Savio, đã chết trong một vụ tai nạn bồn tắm đầy khó hiểu vào ngày 1 tháng 3 năm 2004, ngay trước khi diễn ra phiên tòa giải quyết vấn đề tài chính khi ly hôn giữa hai người. Từ năm 2002 đến 2004, cảnh sát đã đến nhà Peterson nhiều lần vì những xáo trộn trong gia đình. Khám nghiệm tử thi cho thấy cái chết của cô Savio là một vụ giết người chứ không phải một vụ tai nạn theo như kết luận trước đó của các nhà điều tra. Trong tháng 10 năm 2007, người vợ thứ tư của ông, Stacy Peterson, đã biến mất. Người thân của cô nói rằng Stacy, mẹ của hai đứa con nhỏ, sẽ không bao giờ bỏ trốn cùng người đàn ông khác như chồng cô nghi ngờ. Đầu năm 2009, Christina Raines, người đã đính hôn để trở thành người vợ thứ năm của ông Peterson, chuyển đến nhà của ông cùng với hai đứa con nhỏ. Ngày 7 tháng 5 năm 2009, Drew Peterson bị truy tố hai tội danh giết người và bị bắt giam. Tháng 2 năm 2013, ông ta bị kết án 38 năm tù vì tội giết Kathleen Savio. Theo các bản tin, ông không hề tỏ ra hối hận và thậm chí còn chê trách các báo cáo sai sự thật của cảnh sát và “những tin đồn, những câu chuyện phiếm, những lời nói dối mang tính xúc phạm và quan trọng hơn cả là những tin đồn không đáng tin cậy”. [68] Hơn nữa, Peterson còn cáo buộc, “chính quyền đã tiếp nhận một vụ tai nạn và dàn dựng nên một vụ giết người”.

Trong nhiều năm, ông Peterson đã có thể trốn tránh hậu quả từ những hành động của mình. Hành vi phạm tội của ông ta hoặc ít nhất là những cáo buộc về hành vi đó dường như không bắt đầu từ vụ giết bà Savio. Ông ta có thể trốn tránh các cáo buộc về hành vi lạm dụng chức vụ và giữ được chức vụ cảnh sát. Hơn nữa, vì đã rất quen thuộc với cách thức làm việc của cảnh sát nên ông ta có thể thoát khỏi tội giết người trong nhiều năm và thiếu tôn trọng cảnh sát. Ông ta trở nên nổi tiếng trên các phương tiện truyền thông, luôn khẳng định sự vô tội của mình trên các chương trình truyền hình quốc gia và xuất hiện trên trang bìa của tạp chí People. Ông ta chế nhạo các điều tra viên và dự đoán mình sẽ được xử trắng án. Theo tin tức của tờ Chicago Tribune, “Drew Peterson đã thận trọng đánh giá từng bồi thẩm đoàn tiềm năng [và] vẫn theo dõi sát sao quá trình lựa chọn các bồi thẩm đoàn cuối cùng”. [69]

Những trường hợp được mô tả ở trên là minh họa cho thấy mức độ lan rộng và phổ biến của tham nhũng trong cuộc sống của những tên tội phạm, những kẻ thường được ngưỡng mộ vì sự thành công trong công việc. Họ ngược đãi người khác ở nơi làm việc và làm điều tương tự với các thành viên trong gia đình. Họ để lại dấu vết của sự hủy hoại gây ảnh hưởng đến đồng nghiệp, gia đình và cộng đồng. Đối với hầu hết tội phạm, hối tiếc lớn nhất là để bị bắt. Ngay cả sau khi bị kết án, nhiều người vẫn phủ nhận tội lỗi và buộc tội những người khác đã đối xử bất công với họ.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của stanton e. samenow