Hiếm khi tội phạm nghĩ về tác động của những hành vi mà họ đã thực hiện. Larry không biết gì về người đàn ông vô tội đang bước ra khỏi cửa hàng. Điều đó không quan trọng đối với anh ta. Hành động một cần mục tiêu và tìm kiếm sự phấn khích, Larry đã bị hấp dẫn bởi viễn cảnh “gây rối với người hoàn toàn xa lạ” này. Biến người đàn ông xa lạ thành một đốm lửa nhỏ run rẩy, cầu xin sự nhân tính trước khi giết chết ông ấy là một niềm phấn khích tột độ. Larry có lẽ đã từng giẫm chết một con kiến và việc giết chết người đàn ông này có lẽ cũng chỉ giống với việc đó. Chưa một lần nào trong các cuộc gặp với tôi Larry tỏ ra hối hận về những gì mình đã làm. Anh ta ước mình có thể quay ngược kim đồng hồ, không phải vì hối hận về vụ án mạng mà để không phải suy nghĩ về việc phải ngồi tù trong phần đời còn lại. Đó là mối quan tâm duy nhất của anh ta.
Giết cha mình, Trevor có thể tự giải thoát khỏi người mà anh ta coi là kẻ thù truyền kiếp của bản thân. Tội ác của Trevor không hề thực hiện với một người xa lạ. Nhưng nó cũng có thể đã xảy ra. Trevor chỉ coi người bố kia là kẻ áp bức mình. Anh ta thực sự không coi ông ấy là một con người.
Nhiều lần xuất hiện trong trí tưởng tượng của bản thân, Trevor muốn ông Winter biến mất khỏi Trái đất để anh ta có thể hoàn toàn tự do làm bất cứ điều gì mình muốn. Trong tù, Trevor ít khi nghĩ đến những tác động khôn nguôi mà tội ác của anh ta đã gây ra cho mẹ, anh em, đại gia đình, đồng nghiệp làm việc của bố, bạn bè của gia đình hay những người trong khu vực họ sinh sống. Giống như Larry, mối quan tâm duy nhất của Trevor chỉ tập trung vào bản thân anh ta và cuộc sống trong tù của anh ta sẽ như thế nào? Anh ta từ chối gặp tất cả những người thăm nuôi vì không muốn bất kỳ ai trong quá khứ đến quấy rầy, hỏi han hay tìm kiếm lời giải thích.
Khi một tên tội phạm phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình, một số kẻ tỏ ra ăn năn hối lỗi vì đã làm hại ai đó. Một tên trộm từng nói: “Tôi biết người đó rất nhớ những món đồ của mình, nhưng tôi mới là người phải ở trong tù cơ mà”. Suy nghĩ của tội phạm về những tổn thương chỉ giới hạn ở việc khiến ai đó nằm trên vũng máu. Nhìn dòng máu rỉ ra từ vết thương của nạn nhân, Larry biết anh ta đã làm người đàn ông kia bị thương, nhưng điều đó không ngăn được anh ta tiếp tục hành vi tấn công cho đến khi người đàn ông kia hoàn toàn tắt thở. Những tên tội phạm thường đổ lỗi cho nạn nhân do họ bất cẩn hoặc khiêu khích. “Nếu anh ta khóa cửa cẩn thận thì tôi đã không thể đột nhập vào nhà anh ta”. “Cô ta để quên chìa khóa trong xe. Đó là một lời mời gọi người khác lấy cắp nó”. “Cô ta bước ra ngoài vào ban đêm như thể đang chuẩn bị đi dự một bữa tiệc, chính cô ta đã khiến vụ việc đó xảy ra”.
Những tên tội phạm săn mồi khi người khác dễ bị tổn thương. Larry xem người đàn ông lớn tuổi đi bộ một mình là mục tiêu thuận lợi, là cách để giải tỏa sự buồn chán. Sau khi một hành vi tội ác như vậy bị tố giác, các cơ quan thực thi pháp luật và sức khỏe tâm thần sẽ tiến hành tìm kiếm động cơ thực hiện. Động cơ đó là tham lam, thèm khát, trả thù, hay đam mê? Một số tên tội phạm sẽ trốn tránh những câu hỏi phân tích như vậy, tỏ ra đó là thứ vô nghĩa và vô lý. Trong cuốn sách bán chạy nhất The Devil in the White City (tạm dịch: Ác quỷ trong thành phố trắng) của tác giả Erik Larson, thám tử Geyer cố gắng tìm hiểu lý do tại sao một người đàn ông không chỉ tàn sát những phụ nữ trẻ vô tội mà còn cả trẻ nhỏ. [70] “Mỗi tội ác đều có động cơ của nó. Tuy nhiên động lực thúc đẩy Holmes dường như tồn tại bên ngoài thế giới mà Geyer từng trải qua. [Geyer] tiếp tục đi đến cùng một kết luận: Holmes đang rất thích thú”. Nếu nắm bắt được tâm lý tội phạm, bạn sẽ hiểu được rằng một tên tội phạm thực hiện hành vi có vẻ không có chủ đích thực ra đều có chủ đích - đạt được cảm giác quyền lực, kiểm soát và sự phấn khích tuyệt đối. Nạn nhân của Larry là một người lạ. “Hãy bắt lấy ông ta” là thứ được gọi là động cơ - để từ đó thực hiện một đòn đánh gục ông ấy, khuất phục, đánh ông ấy thừa sống thiếu chết và sau đó cướp đi sinh mạng của ông ấy.
Bạn có thể phỏng đoán rằng những người như Larry và Trevor là kẻ hoàn toàn không có lương tâm. Sự thật là họ sở hữu một lương tâm rách nát, xác xơ. Nói một cách khác là họ vẫn sở hữu một yếu tố nào đó của lương tâm. Giống như Larry và Trevor, những tên tội phạm không bao giờ suy xét đến lương tâm khi làm bất cứ điều gì chúng muốn và không cảm thấy hối hận về sau. Tất cả chúng ta đều đã từng làm tổn thương người khác, dù vô tình hay cố ý. Sau đó, chúng ta có thể sẽ phải chịu đựng cắn rứt của lương tâm và sẽ cố gắng sửa đổi lỗi lầm khi có thể. Chúng ta sẽ rút kinh nghiệm và trở nên nhạy bén hơn trong những lần sau. Thông thường, lương tâm sẽ kiềm chế hành vi của chúng ta ngay từ những giây phút đầu tiên. Đoán trước tác hại mình có thể gây ra, chúng ta cố gắng ngậm chặt môi và kiềm chế sự bốc đồng của bản thân. Những tên tội phạm có thể sẽ trải qua những cảm giác hối tiếc một cách thoáng qua, nhưng những điều này không ngăn cản anh ta thực hiện những hành vi phạm tội trong tương lai. Khi biết ngôi nhà mà anh ta lục soát thuộc về một phụ nữ mắc bệnh nan y, một tên tội phạm đã rất hối hận và đã thu xếp để trả lại tất cả những đồ đạc bị trộm. Tuy nhiên, hành vi này sẽ không ngăn cản anh ta tiếp tục thực hiện các vụ trộm khác. Larry nhận ra rằng người khác có lương tâm, nhưng dường như tự hào rằng đây là điều anh ta không cần phải để tâm. Có vẻ như anh ta có thể hoàn toàn loại bỏ nhận thức về tất cả những lương tâm mà bản thân sở hữu, đủ lâu để theo đuổi mục tiêu trong mỗi thời điểm.
Mặc dù xuất thân trong hoàn cảnh gia đình rất khác nhau, Larry và Trevor lại sở hữu những tính cách giống nhau. Cả hai đều từng phạm phải những tội danh liên quan đến tài sản, sử dụng ma túy trái phép và có hành vi bạo lực. Họ đã từng thực hiện nhiều hành vi phạm pháp hơn những gì mà cơ quan chức năng thấy được. Những sai lầm trong tư duy như vậy được ghi lại một cách sinh động trong tuyên bố của một người mà tôi từng nói chuyện khi anh ta nhớ lại suy nghĩ của bản thân lúc thực hiện hành vi ăn trộm: “Khi tôi bước vào căn phòng đó, mọi thứ trong căn phòng đó đều thuộc về tôi”. Đó không phải là dấu hiệu của bệnh tâm thần. Anh ta biết rõ rằng đầu đĩa DVD, máy vi tính, đồ trang sức và ti vi màn hình phẳng thuộc về người chủ nhân của ngôi nhà anh ta đang đột nhập. Tuy nhiên, trong tâm trí anh ta, những món đồ này đã là của anh ta. Tất cả những gì anh ta phải làm là chiếm hữu chúng, tìm ra cách tốt nhất để bán chúng và sau đó xử lý số tiền thu được. Larry cho biết bản thân cũng nghĩ như vậy khi nói, “Nếu tôi thấy thứ gì đó tôi muốn, tôi chỉ cần lấy nó mà thôi”. Trevor cũng có quan điểm tương tự khi anh ta tự ý lấy tiền của cha mẹ mình. Anh ta không cần phải biện minh cho việc lấy tiền của bản thân. Trong tâm trí của anh ta, số tiền đó đã là của anh ta và anh ta chỉ việc lên kế hoạch chi tiêu.
Tội phạm không biện minh cho tội ác của họ trước khi thực hiện hành vi nào đó. Chúng hình thành mục tiêu, quyết định cách thức thực hiện, xem xét khả năng bị bắt và sau đó tấn công. Luôn tồn tại cảm giác phấn khích trong mọi giai đoạn của tội phạm - suy tính kết quả cuối cùng, lập kế hoạch phạm tội, thực hiện, trốn thoát, hân hoan với thành công, trốn tránh cảnh sát và thích thú trước sự chú ý của công chúng với tội ác đó. Ngay cả khi những tên tội phạm này đã bị bắt giữ thì cảm giác phấn khích của chúng vẫn chưa hề chấm dứt. Sẽ có thêm rất nhiều người để anh ta có thể giở trò mưu mẹo, trong số đó có cảnh sát, thám tử, chuyên gia sức khỏe tâm thần, nhân viên tòa án và luật sư riêng của anh ta. Những lời biện minh cho những gì anh ta đã thực hiện có tác dụng sau khi anh ta bị bắt giữ và phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình. Một người đàn ông nói với tôi, “Tôi không ăn cắp của mọi người. Tôi chỉ ăn cắp từ các cửa hàng. Họ có đủ khả năng bù đắp những món đồ đó. Họ cũng đã từng lừa dối tiền bạc của mọi người. Họ sẽ không bao giờ bỏ qua điều đó”. Đây là tất cả suy nghĩ không thể thay đổi. Khi anh ta bước vào cửa hàng với ý định ăn trộm có sẵn trong đầu, anh ta phát hiện ra món đồ trang sức, tìm cách lấy nó và trốn thoát. Anh ta thừa nhận rằng, trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, anh ta không hề suy nghĩ về việc liệu cửa hàng có thể vượt qua được mất mát về mặt tài chính đó hay liệu có ai đó đã bị cửa hàng này lừa dối để chiến đoạt tiền hay chưa. Trong nhiều năm, anh ta đã ăn cắp từ nhiều cửa hàng và các cá nhân khác nhau, bao gồm cả mẹ ruột của mình.
Tất cả chúng ta đều muốn có được thứ bản thân mong muốn trong thời điểm thèm khát. Câu hỏi đặt ra là: Chúng ta muốn thứ gì? Làm thế nào để chúng ta đạt được nó? Và điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta bị cản trở? Hai người đàn ông bước vào một cửa hàng bán DVD. Một người là tội phạm, người kia thì không. Người đầu tiên chọn một bộ DVD. Việc phải trả tiền để mua thứ đó không xuất hiện trong tâm trí anh ta. Anh ta quan sát thấy nhân viên thu ngân đang bận bịu với một hàng dài khách hàng, tìm thấy một lối ra gần đó và không phát hiện có dấu hiệu bảo vệ của nhân viên hay thiết bị an ninh. “Tôi có thể đánh cắp toàn bộ nơi này”, anh ta nghĩ và lấy những gì anh ta muốn, nhanh chóng nhét các đĩa DVD vào một cái túi mà anh ta đã mang theo để chuẩn bị cho vụ trộm. Người không thực hiện hành vi tội phạm chọn một bộ DVD mà anh ta vô cùng yêu thích nhưng phát hiện ra nó có mức giá cao hơn hơn anh ta nghĩ. Anh ta để lại món đồ vào giá để hàng một cách miễn cưỡng và nghĩ: “Mình sẽ tiết kiệm và mua nó vào tháng sau”, rồi bỏ đi. Hành vi trộm cắp không xuất hiện trong tâm trí anh ta. Một tên trộm có thể ăn cắp một món đồ ngay cả khi anh ta có đủ số tiền trong túi để mua nó. “Tại sao phải mua nếu bạn có thể ăn cắp nó?” - một người đàn ông chuyên hành nghề trộm cắp nói. Một số kẻ trộm cho đi hoặc vứt bỏ những gì họ đã trộm. Hành động ăn cắp có ý nghĩa quan trọng hơn số tiền thu được. Thứ mà những kẻ phạm tội thực sự khao khát là sự phấn khích mà hắn nhận được khi qua mặt thành công những người bán hàng.
Mong muốn tạo ra cảm giác độc nhất của tên tội phạm là động lực thúc đẩy nhân cách của hắn. Mỗi con người đều sở hữu sự độc nhất trong thể chất, tâm lý và kinh nghiệm. Một tên tội phạm có thể trả tiền cho những gì anh ta sử dụng chung với những người khác, nhưng bên trong anh ta tin rằng anh ta giống như một dấu vân tay, hoàn toàn độc nhất vô nhị. Anh ta không chịu phải nhún nhường trước bất kỳ ai khác, ít nhất là trong một khoảng thời gian khá lâu, cũng như không để ý đến lời khuyên của mọi người. Theo quan điểm của anh ta, nếu anh ta phục tùng người khác thì điều đó giống như anh ta đang đánh mất thể diện của chính mình. Nếu chín tên tội phạm cùng ở trong một đội bóng chày thì tất cả chúng sẽ đều nghĩ mình là đội trưởng hoặc chỉ huy phụ trách. Anh ta mong muốn người khác đáp ứng yêu cầu của mình chứ không phải là điều ngược lại. Nếu không, anh ta sẽ lạm dụng hoặc cố gắng phá hoại họ. Khi không nhận được sự công nhận mà anh ta tin rằng bản thân có quyền được hưởng, anh ta sẽ trở nên thất vọng và tức giận. Bỏ học trở thành một lẽ sống. Những tên tội phạm không còn tham gia vào bất kỳ hoạt động hay tổ chức nào, và sau đó là bỏ việc. Trevor và Larry không hòa nhập được với những người khác một phần là do cảm giác độc nhất vô nhị, niềm tin rằng chúng tốt hơn những người khác và những gì áp dụng cho người khác không phù hợp với họ.
Những tên tội phạm không có khái niệm nghĩa vụ. Trong quan điểm của chúng, ép buộc là một việc làm vô dụng. Những tên tội phạm hầu như chỉ tập trung vào những gì mà chúng coi là nghĩa vụ của người khác đối với chúng. Chúng có vẻ sẽ tỏ ra hoàn thành nghĩa vụ, tuy nhiên nhìn chung chúng làm như vậy để mọi người không quá chú ý vào chúng, hoặc đó là một phần trong kế hoạch lợi dụng những người mà chúng có vẻ như đang giúp đỡ. Trevor không đánh giá cao tình yêu của cha mẹ và liên tục phàn nàn về cuộc sống của bản thân. Mặc dù đang tận hưởng những tiện nghi và cơ hội mà cha mẹ mang đến, tuy nhiên anh ta vẫn cảm thấy không có nghĩa vụ gì đối với họ cũng như khao khát tống khứ họ đi. Suy nghĩ này đã đi rất xa so với những cuộc nổi loạn ở tuổi vị thành niên. Anh ta muốn họ tránh xa khỏi cuộc đời anh ta. Giống như tất cả các bậc cha mẹ, ông bà Winter đều có những sai sót của riêng họ. Nhưng những đứa trẻ khác đã cố gắng để chung sống với những thiếu sót đó. Khi giết cha mình, Trevor không bao giờ coi anh ta có bất kỳ nghĩa vụ nào đối với gia đình của mình. Ở trong tù, anh ta tin rằng mẹ anh ta có nghĩa vụ phải thuê một luật sư bào chữa hạng nhất để đại diện cho anh ta tại phiên tòa. Mẹ, cha, anh chị em và nhiều người thân từ lâu đã cầu nguyện để anh ta thay đổi con đường của mình. Trong lần đầu tiên họ biết về việc anh ta bị bắt vì tội giết người, ngay cả khi đã rất hiểu con người của Larry, họ vẫn bị sốc và suy sụp. Cả trước và sau khi gây án, Larry đều cho thấy rằng anh ta không cảm thấy có bất kỳ nghĩa vụ nào đối với những người quan tâm đến mình, thậm chí là cả cậu bé mà anh ta kết bạn hay mẹ của đứa trẻ đó - người đã trở thành bạn gái của anh ta.
Giống như Larry và Trevor, những kẻ phạm tội thường nói rằng họ không có gì để làm và phàn nàn về sự buồn chán. Những cá nhân có tinh thần trách nhiệm cao cũng thể hiện những điều tương tự. Chúng ta có thể cảm thấy một bài giảng nhàm chán hoặc một bài đọc thuộc lòng tẻ nhạt. Đôi khi, chúng ta khao khát được thoát khỏi những thói quen hàng ngày này. Khi những kẻ phạm tội nói rằng cảm thấy buồn chán, chúng cũng có thể đang trong một hành tinh khác với chủ ý của riêng chúng. Trevor ngày càng chán chường - hay giống như anh ta nói là anh ta cảm thấy bị vỡ mộng. Anh ta Có vẻ trầm cảm về mặt lâm sàng. (Trong một thời điểm, Trevor định nghĩa trầm cảm là “sự thiếu vắng của niềm vui”.) Tuy nhiên, chứng trầm cảm của anh ta phát triển do những nỗ lực bền bỉ của cha mẹ nhằm giúp anh ta có động lực và đi đúng hướng vào con đường đại học. Trevor nói rằng anh ta không thấy lý do để làm việc, rằng quan điểm của cuộc sống là để giải trí, từ đó kéo theo một cuộc sống xã hội xoay quanh ma túy và dành hàng giờ để chơi các trò chơi điện tử bạo lực. (Trò chơi điện tử không biến anh ta thành một kẻ bạo lực. Anh ta đã trở nên bạo lực trước khi chơi trò chơi đầu tiên của mình). Trevor cũng có cảm giác chán nản giống như Larry. Cả hai người thanh niên trẻ này không có tình bạn thân thiết. Họ chối bỏ gia đình của mình. Họ không có khát vọng sự nghiệp. Hoàn toàn tự cho mình là trung tâm, họ thiếu các mối quan hệ thân mật và không thân thiết với bất kỳ ai. Ngày này qua ngày khác, hai người thanh niên này sống mà không có ý thức về mục đích. Không có nguyên tắc nào truyền cảm hứng cho cuộc sống của họ. “Không có gì xảy ra cả” có nghĩa là không có cảm giác phấn khích trong thời điểm đó. Tương tự với “không có gì để làm”. Trạng thái tâm lý bực bội này có thể thuyên giảm khi tội phạm nghĩ về hoặc tham gia vào một hoạt động thú vị và tự kích động, bao gồm cả việc lập kế hoạch và phạm tội. Vì môi trường của Larry hỗn loạn và anh ta không bị ai quản lý trong thời gian dài nên anh ta có một đấu trường lớn hơn nhiều để hoạt động. So với Trevor khi anh ta sống chung với cha mẹ của mình. Trong thời gian đi học đại học, Trevor có thể đắm chìm vào bất cứ thứ gì anh ta muốn, trở ngại duy nhất xuất phát từ những người cha mẹ đang cảm thấy lo lắng và liên tục liên lạc với các nhân viên quản lý đại học của anh ta. Larry đã giết một người hoàn toàn xa lạ khi đang tìm kiếm việc gì đó để làm. Trevor giết cha mình không phải vì thiếu việc gì đó để làm, mà vì anh ta lo sợ bị giam giữ trong một tình huống mà anh ta gần như không được tự mình kiểm soát được những gì bản thân có thể hoặc không thể làm - một cơ sở điều trị tâm thần ở khu dân cư - một nơi đối với anh ta cũng hoàn toàn giống với nhà tù.
Những tên tội phạm biết rõ những hậu quả tiềm tàng mà chúng có thể gây ra. Những “nguy hiểm nghề nghiệp” đó là bị bắt, bị kết án và bị giam giữ - thậm chí bị tử hình vì những tội danh nghiêm trọng. Mối nguy hiểm nghề nghiệp đó cũng có thể là khả năng bị thương hoặc bị giết khi thực hiện những hành vi phạm tội có mức độ nguy hiểm cao. Những kẻ phạm tội có khả năng trở nên lạnh lùng để loại bỏ tất cả những rủi ro này ra khỏi suy nghĩ của họ một khi chúng đã sẵn sàng hành động. Khả năng loại bỏ nỗi sợ hãi của họ rất chính xác, nó giống như việc tắt một công tắc. Ngược lại, hầu hết những người có trách nhiệm không cần phải dập tắt những nỗi sợ hãi như vậy bởi họ không suy nghĩ về việc thực hiện hành vi phạm tội. Trong thực tế, điều ngược lại hoàn toàn đúng đắn. Chúng ta trải qua nỗi sợ hãi và cho phép nó trở thành kim chỉ nam để chúng ta không thực hiện những hành động mạo hiểm khinh suất và gây nguy hại cho sức khỏe cũng như sự an toàn của chúng ta. Nỗi sợ hãi có thể là đồng minh hoặc kẻ thù của chúng ta. Đôi khi, chúng ta không đủ thận trọng. Đôi khi, chúng ta thận trọng quá mức. Đối với tội phạm, “sợ hãi” là một từ bẩn thỉu. Thừa nhận nỗi sợ hãi là điều không phù hợp với hình ảnh bản thân của anh ta.
Khi đã đặt tâm trí vào một định hướng hành động, tên tội phạm sẽ không bị thuyết phục. Anh ta muốn thực hiện những gì bản thân mong muốn và không có gì có thể cản trở điều đó. Không ai biết anh ta sẽ tấn công như thế nào, khi nào và đâu. Khi thực hiện tội ác của mình, anh ta đã loại bỏ tất cả những suy nghĩ gây nản trí có thể cản trở việc đạt được mục tiêu của bản thân. Nỗi sợ hãi vẫn tồn tại để những tên tội phạm này phải dè chừng cảnh sát. Tuy nhiên, trong suy nghĩ, anh ta chắc chắn rằng mình sẽ thành công với việc làm bản thân đang thực hiện.
Nếu được hỏi, Larry và Trevor có thể thấy được trước hậu quả có thể xảy ra với bất kỳ ai giết một người lạ trên đường phố hoặc một thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, những điều này không áp dụng cho bất kỳ ai trong số hai người này tại thời điểm mỗi người trong số họ thực hiện hành vi giết người.