Tội phạm thường lợi dụng quyền hạn và sự tin tưởng trong công việc mà chúng nắm giữ. Một cảnh sát dừng xe một phụ nữ vì vi phạm giao thông nhưng đề nghị sẽ để cô ấy đi nếu cô ấy quan hệ tình dục với anh ta. Một nhân viên cải tạo lợi dụng quyền hạn mà anh ta có được đối với các tù nhân, hứa sẽ cho thêm thức ăn từ nhà bếp để đổi lấy tình dục. Một mục sư tận dụng mối quan hệ với một giáo dân góa bụa cô đơn để có được quan hệ tình dục.
Trong số các vi phạm đạo đức thường xuyên được báo cáo tới các nhà tâm lý học là những vi phạm liên quan đến quan hệ tình dục giữa nhà trị liệu và bệnh nhân. Carolyn Bates và Annette Brodsky, tác giả của cuốn sách Sex in the Therapy Hour (tạm dịch: Tình dục trong thời gian trị liệu) [74] , đề cập đến các nhà trị liệu trẻ, thiếu kinh nghiệm, những người sử dụng khả năng phán đoán kém cỏi và vượt quá ranh giới khi yêu một bệnh nhân. Khi nhận ra tác hại tiềm ẩn, họ mong muốn khắc phục tình hình. Tuy nhiên, ngược lại, là “các nhà trị liệu mắc chứng rối loạn nhân cách, có thể được xếp vào loại nhân cách phản xã hội”. Bates và Brodsky chỉ ra, “Họ là những người cuối cùng trên thế giới mà bệnh nhân nên tin tưởng, họ chỉ có nhu cầu của riêng họ trong đầu”.
Những mối quan hệ bóc lột này nảy sinh từ những quá trình tinh thần tương tự như quá trình liên quan đến âm mưu biển thủ công quỹ trong khi thực hiện công việc của một tên tội phạm. Anh ta tập trung vào một mục tiêu. Sau đó, anh ta chỉ ra sự yếu kém và dễ bị tổn thương trong một cá nhân hoặc tổ chức. Bằng những câu nói xuyên tạc và dối trá, anh ta che giấu động cơ của mình. Tuy nhiên, phải mất một thời gian dài anh ta mới lấy được thiện cảm, thiết lập mối quan hệ tin cậy và có được danh tiếng tốt. Anh ta xây dựng một âm mưu hoạt động để đạt được những gì mong muốn, khai thác quyền hạn và quyền lực hợp pháp được giao cho bản thân. Sau đó, anh ta tấn công. Nếu bị vạch mặt, anh ta khai ra ý định tốt đẹp của bản thân, phủ nhận hành vi sai trái và đổ lỗi cho nạn nhân.