Tâm Lý Học Tội Phạm Tập 1

Lượt đọc: 926 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
áp lực từ bạn bè

Không có lời bào chữa nào cho tội phạm

“Bạn bè của tôi bắt tôi ăn cắp vặt. Bạn bè khiến tôi nghiện ma túy. Mọi người tôi biết đều làm vậy. Tôi cũng giống như bất kỳ thiếu niên nào khác”. Đây là những câu nói điển hình mà tôi được nghe khi phỏng vấn các phạm nhân trẻ tuổi. Họ cho rằng họ bị gây sức ép, bị bắt nạt, bị lừa dối, hoặc thậm chí bị buộc phải phạm tội. Đây là những gì họ nói với người khác chỉ sau khi họ bị bắt, khi họ đang cố gắng tránh khỏi những hình phạt. Nhiều phụ huynh cũng có cùng quan điểm khi cho rằng về cơ bản con cái họ là một đứa trẻ ngoan nhưng bị lừa dối và hư hỏng do “giao du với nhầm đám đông”. Tuy nhiên thực tế lại hoàn toàn khác.

Nhiều nhà quan sát chuyên môn cho rằng việc kết giao với những người đồng trang lứa phạm pháp là một “yếu tố nguy cơ mạnh mẽ” để trở thành tội phạm. Nhưng điều này cũng giống như việc lặn xuống nước sẽ khiến bạn bị ướt. Điều này không biểu lộ gì về quan hệ nhân quả nhưng thể hiện rất rõ về quyết định lựa chọn. Một phạm nhân trẻ tuổi nhận xét: “Những người như chúng tôi sẽ tìm thấy nhau”. Tội phạm tìm kiếm nhau vì mục đích riêng của chúng. Theo kiểu giống như radar, họ thu hút những người khác có cùng mối quan tâm. Họ không bị lôi kéo vào hoạt động phạm tội trái với ý muốn. Nếu một thanh niên có trách nhiệm đưa ra lựa chọn thiếu khôn ngoan và đánh giá sai một thanh niên khác mà anh ta phát hiện ra là không tốt, cuối cùng anh ta sẽ tự giải thoát khỏi tình huống đó và rất có thể là khỏi toàn bộ mối quan hệ đó.

Không thể phủ nhận rằng áp lực từ bạn bè thực sự tồn tại từ khi lọt lòng đến lúc chết. Từ những nhóm vui chơi ở cấp mầm non đến cuộc sống khi trưởng thành, chúng ta trải qua nhiều áp lực từ những người xung quanh, đặc biệt là các bạn cùng trang lứa. Mỗi trường trung học đều có các bè phái và nhóm xã hội riêng - những kẻ mọt sách, những kẻ kỳ quặc, những gã khờ khạo, hội con nhà giàu,… Câu hỏi quan trọng là đứa trẻ chọn lựa chơi với những người bạn nào.

Ở các khu vực thành thị và ngoại ô, trẻ em sẽ tụ tập tham gia các hoạt động có tổ chức. Khi gặp gỡ những người mới và khám phá ra những sở thích mới, chúng tham gia vào các hoạt động thể thao, các nhóm tôn giáo, các câu lạc bộ hướng đạo sinh, phục vụ cộng đồng và các câu lạc bộ ở trường. Quá trình hòa nhập xã hội diễn ra khi những đứa trẻ này học hỏi về sự hợp tác, cạnh tranh, chia sẻ và tự chủ. Trong khi những đứa trẻ có trách nhiệm khám phá ra những cơ hội để có được niềm vui và phát triển cá nhân thì đứa trẻ phạm pháp lại trải qua cảm giác bồn chồn và ngày càng chán chường. Một số kẻ phạm pháp không tham gia bất kỳ hoạt động có tổ chức nào. Một số khác tham gia nhưng lại bỏ giữa chừng. Họ bực bội khi phải thực hiện các yêu cầu mà người khác áp đặt. Một cậu bé nói rằng cậu ấy bỏ hội Nam Hướng đạo vì: “Tôi không thích nghe theo người lớn và những gì họ bảo tôi phải làm”. Anh ta tố cáo các thành viên trong hội của mình là “tọc mạch và phiền phức”. Anh ta khẳng định, “Tôi không cảm thấy mình là một phần của hội. Tôi bỏ tham gia chỉ vì tôi không thích nó”. Những thanh niên như vậy dừng tham gia các hoạt động có tổ chức vì họ không nhận được sự khen thưởng mà họ nghĩ rằng họ xứng đáng có được. Họ lúc nào cũng lựa chọn đối đầu với huấn luyện viên, trưởng nhóm hướng đạo, hoặc những người đứng đầu khác. Một đứa trẻ có trách nhiệm có thể bỏ một hoạt động nào đó vì nó chán nản và không nghĩ rằng mình có thể đáp ứng những gì được yêu cầu, hoặc có lẽ vì nó phát hiện ra một hoạt động khác hứng thú hơn. Người phạm tội đổ lỗi cho tổ chức, người lãnh đạo hoặc những thành viên khác. Anh ta muốn sự công nhận ngay tức thì nhưng lại không muốn làm những gì cần thiết để xứng đáng với nó.

Trẻ nhỏ không phân chia thế giới thành những đứa trẻ ngoan và hư. Nhưng từ khá sớm, chúng hình thành ý thức về những đứa trẻ biết nghe lời và những đứa trẻ gây rắc rối. Đứa trẻ trở thành kẻ phạm pháp giống như một thỏi nam châm thu hút những đứa trẻ liều lĩnh và không vâng lời. Nó bị thu hút bởi những đứa trẻ thích mạo hiểm, làm những việc mà chúng không được phép làm. Để có được sự chấp nhận, nó phải chứng tỏ bản thân bằng cách thể hiện sự phù hợp với nhóm đó, rằng nó cứng rắn và đáng tin cậy. Nó cần ăn mặc như những người khác, bắt chước ngôn ngữ của chúng, đi theo chúng đến bất cứ đâu và làm những gì chúng yêu cầu. Theo thời gian, nó không còn bị coi là một kẻ bám đuôi mà là một thành viên trong số đó. Đứa trẻ có khuynh hướng phạm tội cực kỳ khinh thường những đứa trẻ có trách nhiệm. Tôi nhớ lại một cậu bé mười lăm tuổi từng khinh bỉ nói rằng, “Những đứa con nhà giàu, chúng nghĩ chúng thật gọn gàng với chiếc áo sơ mi cá sấu nhỏ của chúng. Tôi sẽ không trở thành một kẻ chết tiệt như chúng”. Không có gì sai với tuyên bố này về mặt câu từ cả. Nhưng vấn đề thực sự là việc đứa trẻ đó quyết định kết giao với ai? Những đứa trẻ trốn học, sử dụng ma túy và ăn trộm ở các cửa hàng. Một thiếu niên khác nói một cách đầy khinh thường về anh trai mình, “Đi học, về nhà, làm bài tập về nhà và ở với cha mẹ; điều đó giống như một con chó bị xích vậy”. Đứa trẻ đó không chơi với những người bạn cùng lớp phù hợp hơn với mình và bị thu hút theo những đứa lớn tuổi hơn mà chủ yếu hay “đi chơi”.

“Đi chơi” là một cách diễn đạt thông thường không nhất thiết mang hàm ý tiêu cực. Nhưng khi những thanh niên phạm pháp nói rằng họ đang đi chơi và đưa ra rất ít thông tin cụ thể về những gì họ thực sự đang làm, thì rất có thể là họ không có ý định tốt. “Đi chơi” có nghĩa là đi đến nơi nào đó và ở cùng với những người bạn mà cha mẹ có thể không biết và chắc chắn không đồng ý.

Alan và cha mẹ cậu ta được một luật sư giới thiệu tới tôi. Cậu thiếu niên này dành phần lớn thời gian rảnh rỗi để đi chơi với vài người bạn. Khi bố mẹ cậu ta đi làm, những cậu thiếu niên này sẽ lén đưa các cô gái tuổi vị thành niên đến nhà, quan hệ tình dục với họ và quay phim lại. Khi bạn trai của một trong những cô gái biết được chuyện này, anh ta đã tìm cách trả thù và thông báo cho một tư vấn viên học đường. Kết quả là, những thanh niên này cuối cùng phải đối mặt với các cáo buộc hình sự. Alan không thấy gì sai trái với những gì đã làm và giải thích rằng “cậu ta chỉ mới là một thiếu niên”. Còn rất nhiều điều mà Alan đã làm khi đi chơi. Việc bỏ lớp, bỏ trường khiến điểm số tụt dốc. Bởi vì cậu ta thuyết phục mẹ mình rằng bản thân bị ốm và nghỉ học được xem là có lý do. Mẹ cậu ta hầu như không hề biết được các lần trốn học của cậu ta. Được để mặc cho tự xoay xở, Alan gần như chẳng làm việc gì mang tính xây dựng mà chỉ dành hàng giờ đồng hồ để uống rượu với bạn bè và chơi trò chơi điện tử.

Những người trẻ tuổi có trách nhiệm cũng “đi chơi”. Nhưng nếu theo dõi cuộc trò chuyện và các hoạt động của hai nhóm, có thể nhận thấy những khác biệt đáng kể. Vấn đề không chỉ là nơi thanh thiếu niên tụ tập mà là chúng làm gì khi đến đó. Tại một trung tâm mua sắm, thông thường những đứa trẻ có thể sử dụng tiền tiêu vặt hoặc tiền kiếm được từ công việc, đi dạo xem hàng hoặc đứng xung quanh trò chuyện về việc ai đang hẹn hò với ai hay những gì đã diễn ra ở trường. Những kẻ phạm pháp sẽ lang thang khắp các cửa hàng, xem xét hàng hóa, suy tính cách đánh cắp bất cứ thứ gì có vẻ hấp dẫn. Hoặc chúng có thể thu hút sự chú ý bằng cách đánh nhau, đưa ra những nhận xét thừa thãi và khiêu khích đối với các cô gái, phân biệt và chế nhạo những đứa trẻ khác và có những hành vi gây rối nói chung.

Khi những người phụ huynh đều phải đi làm, đôi khi họ khó có thể biết được bạn bè của con cái. Tuy nhiên, hầu hết các bậc cha mẹ đều cố gắng trò chuyện với con cái về những gì chúng đang làm, chúng sẽ đi đâu và đi cùng ai. Họ yêu cầu được gặp những người bạn này và hiểu về những con người đó. Thanh niên phạm pháp luôn tránh xa bạn bè chính vì anh ta biết cha mẹ sẽ không chấp nhận chúng. Nhiều bậc cha mẹ nói với tôi rằng họ mong muốn con cái dẫn bạn bè về nhà. “Tôi đã rất cố gắng để biến ngôi nhà trở thành một nơi thú vị để con trai tôi có thể gặp gỡ bạn bè”, một bà mẹ chia sẻ. “Nhưng nó luôn ra ngoài. Chúng không bao giờ chịu đến đây”.

Tội phạm vị thành niên ngày càng nhiều hơn, táo bạo và nghiêm trọng hơn. Anh ta không trở nên hư hỏng do người khác và cũng không phụ thuộc vào họ để đưa ra những ý tưởng. Một loạt các kế hoạch tràn ngập trong tâm trí và anh ta thực hiện những kế hoạch thú vị và khả thi nhất. Anh ta có rất nhiều ý tưởng của riêng mình và dễ dàng tiếp thu bất cứ điều gì người khác đề xuất. Các hành vi phạm tội dường như ở mức nhẹ và bắt đầu khi anh ta còn rất trẻ. Khi bà của Sandy lái xe về nhà, bà nhìn thấy trong gương chiếu hậu cậu bé đang nghịch một chiếc ô tô đồ chơi mà cậu không có trước khi họ đi mua sắm. Bà quay xe trở lại cửa hàng và dẫn cậu bé đến gặp người quản lý để trả lại món đồ chơi đã ăn cắp. Việc trẻ nhỏ rời đi với một món đồ chưa được mua chắc chắn không phải là chuyện chưa từng có. Tuy nhiên, một khi hành vi vi phạm bị phát hiện và trừng phạt, họ sẽ hiếm khi tái phạm. Sandy không bị ngăn chặn. Bài học mà anh ta rút ra là anh ta cần phải cẩn thận hơn để không bị bắt. Ăn trộm đồ chơi rẻ tiền chỉ là khởi đầu của mô hình mở rộng sang việc ăn cắp tiền của cha mẹ, và sau đó, khi là một thiếu niên, anh ta sẽ tham gia cùng những đứa trẻ khác trộm đồ, chuyên ăn trộm đĩa DVD để đem bán. Chúng lao vào một cuộc chiến rạch lốp ô tô và đột nhập hàng trăm phương tiện. Chúng thích thực hiện các cuộc gọi nặc danh, thích thú việc gây “hoảng loạn” những người già cả. Tôi biết về những hành vi phạm tội này từ Sandy khi đang đánh giá về anh ta theo yêu cầu của cán bộ tại một cơ sở cải huấn dành cho trẻ vị thành niên. Ai biết được còn bao nhiêu sai phạm khác mà anh ta không tiết lộ?

Cha mẹ, giáo viên và những người khác nghĩ rằng họ biết rõ những chàng trai và cô gái này nhưng thực ra lại không hề biết về cuộc sống bí mật của chúng. Nếu theo dõi sinh hoạt hàng ngày của những đứa trẻ đó, họ sẽ ngạc nhiên về số lượng và sự đa dạng của hành vi phạm tội cũng như mức độ nghiêm trọng của chúng. Jonas, khi ấy 10 tuổi, mải mê nghịch lửa và đốt cháy những con kiến trên đường lái xe vào nhà. Anh ta nhúng mũi tên vào chất tẩy sơn, châm lửa và bắn chúng vào thùng rác đựng nước. Anh ta đã học cách chế tạo bom aerosol và kích nổ. Anh ta thừa nhận sở hữu hàng tá chiếc bật lửa và dùng một trong số đó để đốt tổ ong chỉ để xem chuyện gì sẽ xảy ra. Jonas ăn cắp tiền của bố mẹ, gọi điện chơi khăm người khác và thường xuyên trốn học. Anh ta và một người bạn phát hiện ra một cuốn sổ séc nằm trên mặt đất. Mặc dù không biết cách viết séc nhưng Jonas đã nhanh chóng học được khi bạn của anh ta bắt đầu lải nhải về “tất cả những thứ tuyệt vời mà chúng ta có thể có được”. Vì vậy anh ta đã giả mạo một tấm séc để mua pháo hoa trái phép với số tiền một trăm đô la.

Giống như nhiều đứa trẻ phạm pháp khác, bạn bè của Jonas lớn tuổi hơn anh ta. Anh ta thừa nhận, “Một số người làm rất nhiều việc xấu. Một số trông có vẻ xấu tính và côn đồ, nhưng thực tế thì không như vậy”. Jonas không chỉ cùng những người bạn này gây thiệt hại về tài sản, trộm cắp, giả mạo và hành hung người khác mà còn tự mình phạm các tội về tình dục. Jonas khỏa thân trước một phụ nữ trên đường đi xe đạp và liên tục khỏa thân trước cửa sổ ngôi nhà mình. Anh ta lén lút bước vào một gian nhỏ trong phòng tắm nữ ở trường để có thể nhìn trộm dưới vách ngăn. Tại một bể bơi, anh ta thực hiện hành vi vi phạm khi sờ soạng một bé gái. Anh ta bị bắt vì dụ dỗ một bé gái khác cởi quần áo, sau đó âu yếm cô bé. Jonas nói với tôi, “Mọi thứ khủng khiếp xảy ra với tôi. Tôi đã không may mắn!” Anh ta đổ lỗi cho bạn bè đã dẫn anh ta vào Con đường sai trái.

Những kẻ phạm pháp muốn thể hiện một hình ảnh bất khả chiến bại về bản thân trước những người cùng hội. Khi mỗi người thanh niên cố gắng chứng tỏ mình, cậu ta cũng đang đấu tranh để sự vượt qua những nỗi sợ hãi dữ dội mà anh ta muốn giấu kín. Nỗi sợ hãi về bóng tối, độ cao, nước và sấm chớp vẫn kéo dài đến tuổi thanh niên, thậm chí đôi khi đến tuổi trưởng thành. Những đứa trẻ này cũng lo sợ về cơ thể của chúng. Chúng phóng đại tầm quan trọng của mỗi cơn đau, thường là để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nào đó. Tuy nhiên, đau đớn về thể chất không thúc đẩy họ đến gặp bác sỹ vì lo sợ cơn đau thậm chí sẽ nghiêm trọng hơn. Do đó, một bệnh nhẹ nếu không được chú ý có thể phát triển thành vết nhiễm trùng hoặc căn bệnh thực sự. Những thanh niên này lo lắng về chiều cao, cân nặng, sức khỏe và sự hấp dẫn về thể chất. Một số tự ý thức về kích thước dương vật của mình đến mức từ chối tham gia các lớp giáo dục thể chất để tránh việc cởi quần áo. Một số người bị ám ảnh về phát triển vóc dáng và sức khỏe đã dành hàng giờ mỗi ngày để tập luyện-một kỷ luật tự giác mà họ không bao giờ có được khi ở trường học hoặc nơi làm việc.

Tiếng tăm là điều hết sức quan trọng. Những thanh niên này tạo dựng và duy trì “hình ảnh đại diện” cho bản thân thông qua cách nói chuyện, phong cách ăn mặc và các loại hoạt động. Không thể phân biệt những lời tục tĩu và tiếng lóng ngoài đường phố kèm theo ngôn ngữ của kẻ phạm pháp tầng lớp trung lưu với ngôn ngữ của những kẻ tương tự hắn trong thành phố. Ngay cả khi còn là một đứa trẻ nhỏ, kẻ phạm pháp chấp nhận những thách thức từ người khác để thuyết phục họ rằng hắn không phải là “gà tơ”. Những người chưa thành niên này chứng tỏ dũng khí bằng cách nhảy từ trên cao xuống, băng qua những ngọn đồi dốc trên ván trượt, đi tàu lượn siêu tốc đáng sợ nhất, đua xe đạp qua luống hoa của ai đó, cạnh tranh xem ai có thể ăn cắp được nhiều kẹo nhất từ cửa hàng. Chúng chơi thô bạo và tận dụng lợi thế không công bằng cả trong các môn thể thao có tổ chức và trong các trò chơi của riêng chúng. Chúng chứng minh cho nhau thấy bản thân sở hữu một cơ thể rắn rỏi bằng cách cố tình cắm những chiếc đinh ghim vào cánh tay hoặc đốt mình bằng thuốc lá. Không hề có giọt nước mắt rơi xuống, chúng thể hiện bản thân có thể chấp nhận mọi đau đớn.

Những đứa trẻ có suy nghĩ phá hoại có thể biến nhiều món đồ thành vũ khí. Xe ô tô mở rộng cơ hội cho tất cả những người chưa thành niên trong độ tuổi lái xe thực hiện điều đó, và có thể xuất hiện những áp lực mới từ những người cùng trang lứa. Những thanh niên có trách nhiệm coi việc “sở hữu bánh lái” giúp giảm bớt phụ thuộc vào cha mẹ khi phải đưa họ đến đâu đó. Họ có thể lái xe một cách liều lĩnh để gây ấn tượng với bạn bè. Một số tận dụng sự tự do mới có được và lạm dụng ô tô để đi đến những nơi cha mẹ luôn luôn phản đối. Mối quan tâm đến ô tô là điều bình thường với nhiều thanh thiếu niên, nhưng những gì kẻ phạm tội làm với chiếc ô tô lại vượt xa quy chuẩn thông thường và không liên quan gì đến áp lực từ bạn bè đồng trang lứa. Nhiều kẻ phạm tội không đủ kiên nhẫn và lái xe trước khi được cấp bằng. Bạn bè cho phép anh ta lái xe, hoặc anh ta “mượn” xe trong gia đình. Chiếc ô tô được tung ra như một thứ vũ khí, và chàng thanh niên lái xe như thể đó là con đường của riêng anh ta. Với một chiếc ô tô, hoạt động phạm tội có thể tiếp cận nhiều nơi hơn. Đứa trẻ trong thành phố có thể tìm đến những khu vực giàu có hơn, và đứa trẻ ở vùng ngoại ô có thể tiếp cận các mối quan hệ trong nội thành.

Đi chơi với những đứa trẻ phạm pháp khác và hoạt động phạm tội luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro bị bắt giữ, bị kết án và giam giữ. Thậm chí có thể gây ra những hậu quả không mong muốn và nghiêm trọng hơn. Đối với Mark, thật bi thảm khi đó chính là cái chết của người bạn thân nhất. Cậu ta tuyên bố rằng đó là một tai nạn, nhưng vì chỉ có cậu ta sống sót nên chỉ cậu ta mới biết được những gì đã thực sự xảy ra. Mark coi thường trường học và không chịu làm bài tập về nhà. Bố cậu ta thường xuyên khuyên cậu ta nên tập trung học hành. Bố cậu ta không thể cấm đoán một số hành động vì hiếm khi ở nhà nên Mark sẽ ra khỏi nhà hoặc mời bạn bè đến - một việc cậu ta bị nghiêm cấm. Đối với nhận xét của bố cậu ta về “tác động xấu” từ bạn bè, Mark chia sẻ trong một cuộc đánh giá tôi đang tiến hành rằng, “Ông ấy không thể ngăn tôi đi chơi với họ. Những đứa trẻ tôi chơi cùng sẽ khiến ông ấy ngạc nhiên. Ông ấy sẽ không nghĩ tôi đi chơi với những đứa trẻ gặp nhiều rắc rối ở trường”. Mark khoe khoang, “Một vài người trong số họ đã có kinh nghiệm khi gặp phải cảnh sát”. Cậu ta nói như thể bản thân coi cuộc chạm trán với cảnh sát như một huy hiệu danh dự.

Mark muốn trở thành một trong những “người ngầu lòi”. Thay vì bị áp lực phải tham gia cùng họ, cậu ta đã tìm đến với họ. Đối với sự lựa chọn bạn bè của mình, Mark nhận xét, “Họ khác nhau. Tôi không coi mình là con nhà giàu và sẽ không bao giờ như vậy. Những kẻ gây rối là những người ngầu hơn. Họ giống như tôi. Họ không vâng lời cha mẹ và đi chơi khuya”. Mark đã “đi chơi” rất nhiều với những người bạn có “những trò đùa thực tế”, theo cách gọi của cậu ta. Chúng sẽ bắt nạt những đứa trẻ khác, gọi điện thoại quấy rối và ném pháo hoa vào sân của các ngôi nhà. Chúng bấm chuông và biến mất. Cậu ta nhớ lại việc ném bóng nước vào những đứa trẻ mà cậu ta không thích. Cậu ta đã tìm đến một ngôi nhà trên cây mà một cậu bé phải bỏ ra nhiều giờ để xây dựng và phá hủy nó nhằm trả đũa một kẻ xúc phạm. Mark thừa nhận đã đánh nhau nhưng hợp pháp hóa hành vi đó nói rằng tất cả họ đều đang tự vệ.

Tôi nên lưu ý rằng, về mặt tính cách, những đứa trẻ như Mark nói với người lớn rằng chúng không phải là kẻ bắt đầu cuộc chiến nhưng chính những người bạn xung quanh đã gây áp lực khiến chúng phải đánh nhau với người khác bằng “một thái độ tồi tệ”. Hoặc chúng tự gây chiến, sau đó tuyên bố một cách có đạo đức rằng chúng đang bảo vệ bạn bè. Sự nhấn mạnh luôn nhắm vào những gì người khác đã làm để kích động một cuộc chiến. Một cậu bé nói với tôi, “Cháu không thấy mình là người có tính cách gây hấn”. Tuy nhiên, khi lên chín tuổi, cậu bé đó bị đình chỉ học vì đánh một học sinh khác vào tường bằng một lực quá mạnh khiến cậu bé đó bị rách hở lưng. Sau khi thừa nhận, cậu ta khoe khoang mình đánh nhau nhằm “có một khoảng thời gian vui vẻ”. Sau khi tuyên bố, “Tôi không đánh nhau với mọi người”, một thanh niên thừa nhận đã từng đánh nhau nhiều lần. Cậu ta giải thích, “Tôi không đứng yên một chỗ và để người khác muốn làm gì với tôi thì làm. Tôi cần bảo vệ quyền lợi và chính bản thân mình. Tôi sẽ không ẻo lả; nếu không tất cả bạn bè sẽ gọi tôi là kẻ nhát gan”.

Mặc dù luôn khẳng định bản thân không phải là một kẻ gây sự trừ khi bị ép buộc, Mark cuối cùng đã thú nhận cậu ta thích đánh đấm và cho biết, trong khi thành thạo các kỹ năng võ thuật, cậu ta cũng khám phá ra một cách để “ngăn chặn cơn đau”. Niềm đam mê với súng của Mark đã thôi thúc cậu ta nghiên cứu về chúng qua các cuốn sách và tạp chí. Cậu ta thu thập binh lính đồ chơi và vũ khí, thường xuyên đến các cửa hàng đồ quân đội để mua đồng phục, phù hiệu, mặt nạ phòng độc, mũ bảo hiểm và các thiết bị chiến đấu khác. Khi mới chín tuổi, cậu ta đã sở hữu một khẩu súng BB, và lên mười hai tuổi, cậu ta có một khẩu súng trường cỡ nòng 22 được phép sử dụng để thực hành mục tiêu khi đến thăm chú của mình. Cha của Mark cất giữ khẩu súng trường này và một khẩu súng lục trong tủ quần áo và cấm con trai chạm vào bất kỳ thứ vũ khí nào trừ khi ông có mặt ở đó. Mark phớt lờ những lời cảnh báo và cấm đoán đó. Một động lực khiến những người bạn đến nhà cậu ta đó, để đổi lại lời cam kết giữ bí mật về việc anh ta đến nhà người chú, là họ có thể cầm những vũ khí mà Mark lấy ở trong tủ ra. Trong một lần, Mark nhắm khẩu súng lục vào những cậu bé đến chơi. Khi mô tả với tôi việc chúng quậy phá nhà cửa và đá vào con chó của mình, cậu ta giải thích, “Tôi gặp nhiều khó khăn khi muốn kiểm soát họ. Tôi đặt ra những giới hạn nhưng họ không hề tuân theo. Tôi nghĩ họ là bạn của tôi. Họ đã từng như vậy và không có gì tồi tệ xảy ra cả”. Cậu ta lý giải hành động chộp lấy khẩu súng lục vì “đó là cách duy nhất tôi có thể kiểm soát họ”.

Vào ngày xảy ra thảm kịch, người bạn thân nhất của cậu ta, người nhiều lần nhìn thấy những khẩu súng, đã xuất hiện. Mark nói người bạn đó “thao túng tôi” vì cứ đòi anh ta lấy khẩu súng lục ra để có thể cầm nó. Anh ta đảm bảo khẩu súng không được nạp đạn rồi đưa nó cho người bạn, và sau đó muốn chơi trò “tránh xa”. Mark kể, “Tôi đã nắm lấy khẩu súng và vô tình bóp cò chỉ để cố gắng đuổi anh ta đi”. Sau khi mô tả những gì xảy ra, anh ta nói với tôi bằng vẻ lạnh lùng, “Cái chết của anh ta một phần do anh ta tự gây ra”.

Các bậc cha mẹ và chuyên gia tư vấn của những đứa trẻ như Mark cho rằng sự lựa chọn bạn bè của trẻ là do lòng tự trọng thấp, điều này khiến chúng không hòa nhập được với những người khác có lòng tự trọng cao hơn trong cuộc sống thường nhật. Sự thật đúng là nhiều thanh niên cảm thấy không thể “hòa nhập” vì họ cảm thấy lúng túng khi ra ngoài xã hội hoặc thành tích yếu kém khi ở trường. Khi so sánh bản thân với những bạn bè cùng trang lứa thành công hơn, một số tự coi mình là kẻ bị ruồng bỏ. Họ không muốn gì hơn là trở thành một phần của những điều bình thường. Nhiều người tìm cách để bù đắp cho những khác biệt về xã hội hay học thuật, bao gồm phát triển các sở thích đơn lẻ hoặc tham gia các hoạt động mà họ có lợi thế. Tuy nhiên, nhận thức của Mark rằng cậu ta không phù hợp với bất cứ nơi nào không phải do cậu ta cảm thấy kém cỏi. Lý do lại hoàn toàn ngược lại. Cậu ta khinh thường hầu hết các bạn cùng lứa, chế giễu những “con mọt sách mắt híp”, và những kẻ chỉ biết vâng lời. Khi tôi phỏng vấn Mark sau khi bị bắt, cậu ta thừa nhận mình không có bạn thân.

Chúng ta hãy cùng xem xét một mối quan hệ trong đó một đứa trẻ dường như đã lầm đường lạc lối vì là một kẻ yếu đuối và chỉ biết đi theo. Khi Ronald gặp Larry ở trường, cậu ta ngay lập tức bị Larry thu hút, mặc dù cậu ta khó có thể giải thích chính xác lý do tại sao. “Tôi không biết điều gì khiến người này thích người khác. Chỉ là chúng tôi có cách nghĩ giống nhau”, cậu ta chia sẻ trong cuộc phỏng vấn với tôi. Cậu ta giải thích rằng bản thân không chỉ có thể tâm sự với Larry mà Larry còn “có vẻ như khiến tôi trở thành một người tốt hơn”. Larry đang hướng dẫn cậu ta cách “cư xử thật ngầu” và “cách ăn mặc quần áo xịn sò hơn”. Ronald miễn cưỡng kể chi tiết, “Tôi cảm thấy không thoải mái khi nói về việc đó; Tôi không muốn phản bội lại sự tin cậy”. Ronald dần mất cảnh giác và úp mở về mối quan hệ của mình với Larry. Larry đã tâng bốc Ronald và đôi khi trả tiền để cậu ta làm một số việc cho mình. Ví dụ, Larry trả tiền cho Ronald để làm bài tiểu luận. Khi tôi chỉ ra việc Larry trả tiền cho cậu ta để gian lận, Ronald phớt lờ quan điểm đó và phản bác bằng cách khoe khoang, “Không ai khác có thể viết tiểu luận tốt như tôi được”. Ronald làm bất cứ điều gì Larry yêu cầu. Để đổi lấy việc chở anh ta đi khắp nơi, Larry đòi Ronald phải trả tiền. Các yêu cầu về tiền bạc vẫn tiếp tục, trong đó Ronald trả tiền cho các phụ tùng ô tô, thức ăn, xăng và đĩa DVD. Vào một lần, khi Ronald từ chối đưa anh ta tiền xăng, Larry đe dọa sẽ không cho anh ta đi cùng. Ronald qua đêm nhà Larry nhưng lại nói với bố mẹ rằng đang ngủ tại nhà một cậu bé khác. Cả hai không chịu sự giám sát của ai, cùng nghe nhạc, uống rượu hoa quả lạnh, bia, và hút cần sa vào sáng sớm và mọi chi phí đều lấy từ tiền tiêu vặt và tiền kiếm được từ công việc bán thời gian của Ronald. Chẳng bao lâu sau, anh ta đưa cho Larry một chiếc chìa khóa của nhà mình, căn nhà thường vắng người vào các ngày trong tuần vì cả bố và mẹ cậu ta đều đi làm. Larry tự uống rượu, thử nghiệm các thiết bị chụp ảnh đắt tiền và quan hệ tình dục với bạn gái trong phòng ngủ.

Mẹ của Ronald không đồng ý cho Ronald kết bạn với cậu bé này bởi bà coi anh ta như một kẻ thao túng và hư hỏng. Bà thấy con trai mình quá phụ thuộc vào Larry và mối quan hệ của họ không hề xứng đáng với nhau. Khi được hỏi về quan điểm của mẹ mình, Ronald cáu kỉnh, “Bà ấy giả định quá nhiều”, và chỉ ra bà chưa bao giờ để mắt đến Larry. Tất nhiên, điều này đúng vì Ronald không cho phép Larry ở gần bố mẹ mình.

Trong các buổi tư vấn, Ronald thừa nhận đang để cho bạn mình kiểm soát nhưng không cảm thấy lo lắng, và cho biết dù sao thì anh ta cũng rất vui. “Anh ấy thật ngầu”, Ronald nói như thể điều này đã giải thích hết mọi thứ.

Ronald có phải chỉ đơn giản là một đứa trẻ không tự tin, ý chí yếu ớt, dễ bị tác động và dẫn đến lạc lối? Giữa hàng trăm bạn học cùng trường và vô số trẻ em hàng xóm, Ronald bị thu hút chỉ bởi một cậu bé này. Larry không ép buộc cậu ta trở thành bạn. Larry đã mở ra một thế giới mà Ronald sẵn sàng đón nhận, một cuộc sống thú vị hơn nhiều so với đời sống thông thường của hầu hết những người cùng thời với cậu ta. Ronald thấy người bạn này ngày càng cuốn hút khi cậu ta biết nhiều hơn về hoạt động phạm tội của Larry - bán bia cho trẻ vị thành niên, mạng lưới phân phối ma túy và hành vi trộm cắp tràn lan của cậu ta.

Tội phạm tự nhận mình là người chịu trách nhiệm rất lớn chứ không phải là những người ít chịu tác động nhất. Việc thừa nhận có thể dễ dàng bị người khác tác động là điều hoàn toàn trái ngược với hình ảnh của một tên tội phạm về bản thân. Anh ta dễ dàng tham gia vào các hoạt động thú vị và điều đó sẽ thổi phồng tầm quan trọng của bản thân. Khi sẵn sàng hành động, anh ta chỉ cần một lời thúc giục từ người khác để làm động lực thực hiện một hành vi phạm tội mà bản thân đã suy tính trong đầu. Khả năng gợi ý của một người phụ thuộc vào yếu tố đóng vai trò quan trọng đối với anh ta. Điều này phù hợp với cả những người có trách nhiệm cũng như những kẻ phạm tội. Một lái buôn có trách nhiệm không được phép tham gia vào các hành vi gian lận cho dù chúng có thể sinh lợi đến mức nào. Một doanh nhân không trung thực sẵn sàng gian lận nếu ai đó đưa ra đề xuất có thể khiến anh ta giàu có. Tóm lại, tội phạm sẵn sàng đón nhận những đề xuất nếu những gì đưa ra là thứ mà anh ta mong muốn.

Bất kỳ thanh niên nào cũng có đủ loại cám dỗ - một chiếc áo khoác da đắt tiền, một chiếc điện thoại di động, một chiếc iPad, chìa khóa treo lủng lẳng trong ổ khóa của một chiếc xe thể thao không khóa, hay đồ uống có cồn trong tủ rượu của bố mẹ. Áp lực từ bạn bè đồng trang lứa không buộc một thanh niên phải phạm tội. Những thanh niên có trách nhiệm sẽ không động đến những gì không thuộc về họ. Nếu bị gây áp lực phải làm điều gì đó trái quan niệm đúng sai của bản thân, họ sẽ chọn cách không tham gia. Nếu tình cờ, một thanh niên có trách nhiệm mắc sai lầm khi phán xét và không chịu nổi sự cám dỗ, anh ta sẽ cảm thấy hối hận khi bị bắt - ngay cả khi hành vi phạm tội của anh ta không bị phát hiện - và sẽ không lặp lại hành vi đó. Trái lại, những kẻ đang có khuynh hướng tội phạm không hề hối hận về hành vi phạm tội của mình. Điều hối tiếc duy nhất là anh ta đã bị bắt và quyết tâm tránh bị bắt trong tương lai.

Khi phỏng vấn Ronald, tôi nhận ra Larry hoàn toàn không phải là một người bạn. Ronald nhận xét: “Tôi đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc duy trì quan hệ bạn bè. Tôi không biết những người nào thực sự thích tôi”. Cậu ta tóm tắt lại tất cả, “Tôi không biết làm thế nào để giải quyết các mối quan hệ. Tôi làm tổn hại chúng. Tôi là một người cô độc”.

Đặc điểm “kẻ cô độc” bị quy kết là thủ phạm gây ra các vụ xả súng hàng loạt. Những người trẻ tuổi này được cho là đã tìm cách trả thù sau khi bị những người cùng trang lứa tẩy chay vì khác biệt. Những lý do thực sự khiến họ thường bị xa lánh là vì họ đe dọa và khiến những người xung quanh sợ hãi. Vào tháng 3 năm 2005, Jeff Weise, 16 tuổi, tham gia một vụ xả súng tại một trường học ở một thị trấn nhỏ thuộc Minnesota và giết chết năm học sinh, một nhân viên bảo vệ, một giáo viên rồi sau đó tự sát. Một bài báo trên tờ New York Times dẫn sổ lời Weise cho biết: “Tôi có bạn bè, nhưng về cơ bản tôi là một kẻ cô độc trong một nhóm những người cô độc. Tôi bị đuổi ra khỏi mọi hoạt động họ thực hiện” [43] . Cách cư xử của Weise không thể giúp anh ta có được bạn bè. Anh ta “tự mình đi lang thang”, mặc quần áo “theo phong cách của người Goth”, trang điểm mắt và mặc một chiếc áo khoác choàng dài màu đen. Anh ta cho các học viên xem những bức vẽ tỉ mỉ gây nhiễu loạn mà anh ta vẽ trong tay của mình, một số mô tả những người có lỗ đạn xuyên qua trên đầu [và] những người chỉ còn sống nửa người với “cái nhìn trống rỗng”. Anh ta cũng đăng một câu chuyện trên internet, trong đó một nhân viên bảo vệ của trường học bị “xé toạc cổ họng, và nhìn vào đó là một khối mô rách đẫm máu”. Quan điểm của tôi là một số thủ phạm thực hiện những tội ác khủng khiếp là những kẻ cô độc không phải vì họ là nạn nhân của người khác mà vì họ đã xua đuổi người khác bằng hành vi của chính bản thân mình. Eric Harris và Dylan Klebold, thủ phạm của vụ thảm sát khét tiếng tại Trường Trung học Columbine năm 1999 ở Colorado, đã không cư xử như thể họ muốn trở thành một phần của những điều bình thường. Giống như Jeff Weise, họ được biết đến là những kẻ ăn mặc kỳ lạ và cư xử kỳ quặc. Họ tỏ ra không thích mọi nhóm học sinh. Một tạp chí quốc gia đã mô tả họ là hội tụ đủ lòng căm thù trên toàn thế giới: tất cả người da đen, người đến từ nước nói tiếng Tây Ban Nha, người Do Thái, người đồng tính đến người da trắng [44] . Những cá nhân như vậy cảm thấy tự hào khi khác biệt với những học sinh cùng lứa - những người mà chúng chẳng thấy gì ngoài sự khinh thường.

Năm 2012, James Holmes giết chết 12 người và làm bị thương 59 người khác khi xả súng vào một rạp chiếu phim ở Aurora, Colorado. Các bản tin báo chí mô tả, giống như những kẻ giết người hàng loạt khác, thanh niên 24 tuổi này là một kẻ khiến mọi người thay đổi sự chú ý vì anh ta không tương tác với họ. Tờ New York Times mô tả Holmes đã “đi trên con đường đơn độc… không gắn bó với những người xung quanh anh ta… [và] ít nói đến mức đôi khi anh ta gần như câm”. [45]

Sau khi bị đuổi học vì nhiều lần có hành vi sai trái và dọa đâm một học sinh khác, Toby, 15 tuổi, đã đăng ký vào một chương trình trị liệu toàn thời gian dạy các kỹ năng xã hội nhằm giúp cậu ta có thể xây dựng những mối quan hệ tốt hơn. Cố vấn của cậu ta nói rằng, khi tham gia chương trình, Toby “hoàn toàn hoang mang và lúng túng về cách tạo dựng quan hệ với những người cùng trang lứa”. Vị bác sĩ cho biết, dù những đứa trẻ khác hoàn toàn ủng hộ nhưng cậu ta đã “ném những lời xúc phạm và trút giận không đáng có” về phía họ. Cô ấy quan sát thấy cậu ta “dường như muốn bỏ công sức để cố gắng khiến các bạn cùng lứa từ chối mình”. Toby cũng tự cô lập bản thân khỏi những người hướng dẫn. Khi họ yêu cầu cậu ta hoàn thành tất cả các yêu cầu của chương trình hoặc thực hiện các công việc, Toby sẽ phản ứng bằng cách bùng nổ, ném những lời lăng mạ và đe dọa chết chóc về phía họ. Cuối cùng, các nhân viên tin rằng Tony đã “có những bước tiến tích cực” trong các mối quan hệ bạn bè. Chưa đầy một năm sau khi tốt nghiệp chương trình, cha mẹ Toby hỏi ý kiến tôi về con trai họ vì cậu ta đang có những biểu hiện đáng báo động và họ không biết phải đối phó thế nào với cậu ta. Họ nghĩ rằng cậu ta không có bất kỳ tiến bộ nào trong việc hòa hợp với họ hoặc bất kỳ ai khác. Toby vẫn là một kẻ cô độc. Cậu ta nói một cách khinh thường về các học sinh trung học khác, “Không có một người nào có vẻ bình thường trong trường của tôi. Mọi người đều có vấn đề về tình cảm”. Cậu ta thảo luận về niềm đam mê của mình với những kẻ giết người hàng loạt, chỉ trích những tay súng bắn tỉa ở Washington, D.C. chỉ vì “chúng không cho mọi người cơ hội để bảo vệ bản thân hoặc bỏ chạy”. Cậu ta tâm sự rằng mình “từng thích Đức Quốc xã vì họ đã giết rất nhiều người”. Cậu ta đắm mình trong những cuốn sách đầy chi tiết về các vụ ám sát và thảm sát, và chia sẻ với tôi, “Thật thú vị khi thấy được cách một người có thể giết người khác”. Cha mẹ của Toby đã ký giấy biên nhận cho phép tôi cung cấp thông tin này tới bác sĩ trị liệu mới của con trai họ, và tôi đã làm điều này.

Trái ngược với những cá nhân xa lánh mọi người và khiến họ sợ hãi, một số tội phạm có tính cách hòa đồng và có sức thu hút. Với tính cách hấp dẫn, họ có thể lôi kéo người khác vào mạng lưới của mình và lợi dụng họ, hoặc trong một số trường hợp, sẽ thủ tiêu họ. Trong một bài báo trên tạp chí Vanity Fair có tiêu đề “The Roots of Evil”, (tạm dịch: Nguồn gốc của cái ác) kẻ giết người hàng loạt Ted Bundy được cho là duy trì hình ảnh “một thanh niên vui vẻ dễ thương” đã trở thành phó chủ tịch của Hội Thanh niên Giám lý và sau đó là “ngôi sao đang lên trong chính trường của đảng Cộng hòa”. [46] Anh ta che giấu những mặt đen tối trong tính cách của mình, có thể “tước bỏ vũ khí” những người xung quanh và thành công trong việc “dụ dỗ những nữ sinh viên thông minh nhất, xinh đẹp nhất đến cái chết của họ”.

Cho dù kẻ phạm tội ở trong lứa tuổi thanh thiếu niên hay trưởng thành và đáng sợ như Weise hay thu hút như Bundy thì họ vẫn là những kẻ cô độc. Họ không cho phép người khác đến quá gần vì muốn che giấu nhiều thứ. Họ tập trung vào bản thân và không có khái niệm về sự có đi có lại cũng như sự đồng cảm cần thiết để thúc đẩy các mối quan hệ. Tình yêu, sự tin tưởng, lòng trung thành và tình bạn không tồn tại trong cuộc sống của họ.

Grant trở về nhà sau khi ra tù. Trước sự thất vọng của vợ, thay vì tìm việc, anh ta lao ra những con phố và giải thích rằng anh ta cần quay lại với những người bạn đã lâu không gặp. Vợ anh ta hỏi những người được gọi là bạn bè này đã ở đâu khi anh ta ở trong tù. Họ có đến thăm anh ta không? Họ có đề nghị giúp đỡ vợ hoặc con cái của anh khi anh vắng mặt không? Họ thực sự không phải là bạn.

Bắt nạt được coi là một yếu tố điển hình trong hành vi phạm tội. Câu chuyện đằng sau vấn đề này là, một số thanh niên bị hủy hoại về mặt tâm lý do liên tục bị những kẻ bắt nạt nhắm đến khiến họ không thể chịu đựng được nữa và muốn đáp trả lại. Nói cách khác, nạn nhân lại trở thành thủ phạm.

Bắt nạt gần như không phải là một hiện tượng mới. Có lẽ hầu hết độc giả của cuốn sách này có thể nhớ lại những giai đoạn thời thơ ấu và thiếu niên từng bị những đứa trẻ khác chế nhạo và xô đẩy một cách thô bạo. Những kẻ bắt nạt có thể sử dụng loại “nọc độc” cụ thể của chúng bằng cách tập trung vào các đặc điểm ngoại hình, sự bối rối khi ra ngoài xã hội, chủng tộc, dân tộc, khuynh hướng tình dục hoặc bất kỳ đặc điểm khác biệt nào. Một thanh niên tôi phỏng vấn đã nhẫn tâm trêu chọc một cậu bé bị mắc chứng run tay chân khi cậu bé đang cố gắng đưa một cây kem ốc quế lên miệng. Một người khác nói với tôi rằng anh ta ghét những người đồng tính. Anh ta cho biết, “Tôi muốn trừng phạt họ, khiến họ cảm thấy như sống dở chết dở. Nếu họ chạm vào tôi và tôi nghĩ họ là một kẻ đồng tính nam, tôi sẽ đẩy họ vào tủ khóa hoặc đẩy họ ra xa”. Hành vi bắt nạt là dấu hiệu báo trước của hành vi phạm tội trong tương lai. Những kẻ bắt nạt theo dõi những người khác nhằm xác định những điểm dễ bị tổn thương và tấn công vào đó. Họ cảm giác có được quyền lực to lớn khi đe dọa người khác và nhìn họ đau khổ. Với internet và các hình thức công nghệ khác, những kẻ bắt nạt có thể gây ra sự đau khổ chỉ với một cú nhấp chuột trên phạm vi rộng lớn mà không cần gặp mặt trực tiếp. Elizabeth Englander, một nhà tâm lý học, cảnh báo rằng hành vi bắt nạt và bắt nạt trên mạng bắt đầu xảy ra khi trẻ còn rất nhỏ [47] . Bà cho biết, “Ở Massachusetts, hơn 90% học sinh lớp ba đã tương tác trực tuyến”. Nhà tâm lý học Michael Nuccitelli, một chuyên gia trong lĩnh vực những kẻ săn mồi trực tuyến, chỉ ra rằng, “Bắt nạt thường chỉ giới hạn trong trường học, khu vực lân cận hoặc một vị trí địa lý nhỏ nào đó mà đứa trẻ bị bắt nạt có thể rời đi và tạm thời thoát khỏi tình trạng đó. Đối với hành vi bắt nạt trực tuyến, những đứa trẻ bị nhắm đến không thể thoát khỏi sự chế nhạo và quấy rối”. [48]

Bất cứ ai từng là nạn nhân khi nhớ lại đều hiểu rằng bắt nạt gây ra tổn thương ghê gớm về mặt tinh thần. Giống như trẻ em phản ứng lại sự ngược đãi của cha mẹ theo những cách khác nhau, điều này cũng đúng khi chúng đối phó với sự ngược đãi do những kẻ bắt nạt gây ra. Một số đứa trẻ cảm thấy bất lực và thu mình lại với xã hội đến mức tránh đến bất cứ nơi nào có thể gặp phải kẻ hành hạ mình, thậm chí không đi học. Một số chấp nhận những bình luận ác ý nhắm vào họ và cảm thấy mất tự tin. Một số trở nên trầm cảm. Một số giải quyết tình huống bằng cách đối mặt với kẻ bắt nạt hoặc tìm kiếm sự giúp đỡ của người lớn. Theo báo cáo của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ về kết quả nghiên cứu kéo dài trong hai mươi năm trên 1.300 trẻ em của Đại học Duke [49] các nhà nghiên cứu nhận thấy, trái với những đứa trẻ không bao giờ bị bắt nạt, những đứa trẻ bị bắt nạt “có nguy cơ mắc các chứng rối loạn tâm thần cao hơn, bao gồm trầm cảm, lo lắng, rối loạn hoảng sợ và chứng sợ không gian rộng”. Theo tôi, mặc dù họ có thể tưởng tượng về cái chết của kẻ hành hạ mình nhưng hầu hết các nạn nhân bị bắt nạt sẽ không chộp lấy khẩu súng và tàn sát những người vô tội.

Vậy những áp lực mà những người trẻ tuổi phải trải qua khi tham gia các băng đảng thì sao? Từ lâu, nhiều người cho rằng là thành viên của một băng đảng mang lại cho những thanh niên trải nghiệm về cảm giác gia đình mà họ bị tước đoạt. Từ góc độ bên ngoài, một băng nhóm mang đến hỗ trợ, chấp nhận và một cấu trúc cũng như hệ thống cấp bậc lãnh đạo, một con đường để được sự chấp thuận và thành công. Trong một băng nhóm có tính tổ chức chặt chẽ, một thành viên có thể cảm nhận được sự gần gũi, địa vị và quyền lực. Một số nhà khoa học xã hội cho rằng tư cách thành viên băng đảng tạo ra một phương thức dễ hiểu, thậm chí bình thường, để thích ứng với những hoàn cảnh dường như vô vọng. Nếu điều này là đúng thì tất cả những ai sống trong môi trường nghèo khó, điều kiện sống đang suy giảm hoặc bạo lực sẽ tham gia một băng đảng nào đó.

Trái ngược với những gì các thành viên băng đảng nói khi phải chịu trách nhiệm, hầu hết đều không bị ép buộc tham gia. Ở những khu vực lân cận không có băng nhóm nào hoạt động, những thanh niên phạm pháp muốn hành động sẽ phải di chuyển những khoảng cách xa để tìm được một băng nhóm. Tham gia một tổ chức không giống như tham gia các câu lạc bộ. Thành viên tiềm năng phải chứng tỏ dũng khí thông qua một quá trình bắt đầu như “nhảy vào” và tham gia chiến đấu với các thành viên băng đảng khác. Hoặc anh ta có thể được yêu cầu chứng minh mình xứng đáng là thành viên bằng cách tấn công ai đó.

Tôi đã phỏng vấn hai người đàn ông trẻ, José và Pedro, những người anh em lớn lên trong một khu phố nghèo có nhiều băng đảng ở động Los Angeles. José tham gia các băng đảng và ngồi tù trong phần lớn thời niên thiếu của mình. Anh ta nói với tôi về áp lực khi tham gia, sự hỗn loạn trong ngôi nhà của anh ta với người cha nghiện heroin và niềm tin rằng anh ta sẽ không bao giờ làm được gì. Dù bị bắt bao nhiêu lần đi nữa, anh ta vẫn sẽ quay lại “băng nhóm giang hồ” và ma túy. Khi được hỏi tại sao, José châm biếm, “Có lẽ họ đã không trừng phạt tôi thích đáng khi còn ở trong tù”. Thực tế là chẳng gì có thể sánh được với cuộc sống thú vị khi anh ta còn là một thành viên trong băng đảng. José từ chối những đề nghị của các cố vấn mong muốn giúp đỡ trong thời gian bị giam giữ và thử thách.

Pedro quyết tâm trở thành người đối lập với anh trai và cha mình, làm mọi thứ có thể để giúp mẹ có đủ tiền chuyển ra khỏi khu phố và sống một cuộc sống tốt hơn. Pedro đã báo cáo việc nhiều lần bị quấy rầy và lôi kéo tham gia một băng đảng. Anh ấy nói với tôi, “Người ta kỳ vọng bạn sẽ là một chiến binh. Họ sẽ bắt tôi trên đường về nhà.” Tôi muốn nói, “Nó không dành cho tôi, tôi không phải là người theo thể loại băng đảng. Họ sẽ cười nhạo và tấn công tôi. Họ sẽ thấy tôi không nhượng bộ.”

“Tôi bị gọi là tên khốn và họ phỉ nhổ vào tôi”. Như anh ta thấy được, các băng đảng mang đến một tương lai lụi tàn, ngục tù và chết chóc. Pedro nói, “Băng đảng chỉ là một vấn đề nhỏ trong thế giới rộng lớn này. Tôi muốn giống như Bill Gates chứ không phải là một gã bị bắn hạ. Các giáo viên và huấn luyện viên đã chỉ cho tôi thấy một lối thoát khác. Họ nói đến các trường đại học”. Pedro vẫn giữ viễn cảnh về một thế giới mang đến cơ hội vô hạn nếu không dính dáng đến những rắc rối. Bất chấp nhà cửa hỗn loạn và áp lực từ các bạn cùng trang lứa, anh ấy vẫn đi theo triển vọng đó và kiên trì đến trường, học hành chăm chỉ, chơi thể thao và bỏ qua những cám dỗ xung quanh - đối với anh, đó hoàn toàn không phải là những cám dỗ. Về phần anh trai mình, Pedro nhận xét, “Anh trai tôi đã sống theo cách của mình, và tôi thấy được điều đó, Tôi thấy được những sai lầm của anh ấy”.

Ngoài sự phấn khích, các băng nhóm còn mang đến cơ hội để nâng cao ý thức về tầm quan trọng của một người và củng cố hình ảnh bản thân như một người cứng rắn. Mục đích của băng nhóm không phải là tạo ra một môi trường gia đình ổn định, giúp nuôi dưỡng và quan tâm đến các thành viên. Theo quan sát của Pedro, đó là một nhóm các chiến binh theo đuổi mục tiêu của họ một cách tàn nhẫn, và sẵn sàng loại bỏ bất kỳ ai phản bội họ. Trong một băng đảng, bất cứ ai cũng đều có thể trở nên vô tác dụng và bị loại bỏ. Lòng trung thành được thể hiện thông qua mật mã đường phố “đừng chỉ điểm”. Các nghi thức gia nhập ban đầu, bạo lực và ma túy gần như không thể ngang hàng với sự nuôi dưỡng và hỗ trợ mà một gia đình thực sự mang lại. Nhiều người không có một cuộc sống gia đình ổn định thời thơ ấu đã phải vật lộn để tự giáo dục bản thân, đạt được những kỹ năng và làm việc chăm chỉ với mong muốn một ngày nào đó sẽ có được một gia đình mà họ chưa có được.

Trong cuốn sách Wise Guy: Life in a Mafia Family (tạm dịch: Wiseguy: Cuộc sống trong một gia đình Mafia) của Nicholas Pileggi, cựu thành viên xã hội đen Henry Hill đã xác nhận vai trò cốt lõi của sự lựa chọn trong việc xác định con đường đi của mình [50] . “Ở tuổi 12, tham vọng của tôi là trở thành một thành viên của xã hội đen. Trở thành một người khôn ngoan. Đối với tôi, trở thành một người khôn ngoan còn tốt hơn là trở thành tổng thống Hoa Kỳ… Trở thành một người khôn ngoan là nhằm làm chủ thế giới. Tôi mơ ước trở thành một người khôn ngoan như cách những đứa trẻ khác mơ ước trở thành bác sĩ, ngôi sao điện ảnh, lính cứu hỏa hoặc vận động viên bóng chày”.

Nếu trở thành thành viên của một tổ chức tội phạm có vẻ cực đoan thì hãy xem xét một thiếu niên thuộc tầng lớp trung lưu mà tôi có dịp nói chuyện cùng và nêu rõ quan điểm về cuộc sống cô ấy mong muốn. Cô ấy khoe khoang về sự tách biệt tự mình đặt ra giữa bản thân với những người có trách nhiệm cùng trang lứa mà cô hết sức coi thường. Cô ấy cho biết, “Những người thẳng thắn làm gì để giải trí, tôi chẳng bao giờ biết được điều đó. Họ làm gì? Nếu họ bắt đầu tổ chức tiệc tùng, họ sẽ trở nên lập dị”. Cô ấy cho biết bản thân không có gì để nói chuyện với “những người thẳng thắn,” và khẳng định những đứa trẻ cô muốn chơi cùng cũng giống như cô. Cô ấy nói rõ: áp lực từ bạn bè không liên quan đến việc sống theo những gì cô ấy thể hiện và tôn vinh như là “lối sống năng động và bận rộn”.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của stanton e. samenow