Thông thường, chúng ta nghĩ về những kẻ khủng bố là những kẻ kích nổ các thiết bị nổ ở những khu vực công cộng, cho nổ máy bay, đe dọa những người có đức tin trái ngược với đức tin của chúng hoặc tham gia vào cuộc diệt chủng chống lại một nhóm dân tộc. Không giống như nhiều kẻ phạm tội bạo lực khác, những kẻ khủng bố biện minh cho hành vi tàn phá của chúng bằng những tuyên bố rằng chúng đang ủng hộ một mục đích hoặc niềm tin tôn giáo.
Trải qua nhiều thập kỷ phỏng vấn và tư vấn cho những người thực hiện nhiều hành vi tội phạm khác nhau, tôi bắt đầu ghi nhận những điểm tương đồng giữa những cá nhân như vậy và những nguyên thủ quốc gia từng thực hiện hành vi tàn bạo đối với công dân của họ. Vốn quen thuộc với lối suy nghĩ và hành vi của những người có tính cách tội phạm, tôi quan sát thấy những đặc điểm dường như là những hình mẫu song song bên trong những kẻ tham gia chủ nghĩa khủng bố chính trị và quốc tế. Không ai biết được thời điểm, vị trí hay cách thức mà những kẻ vẫn luôn xuất hiện trước công chúng này thực hiện một vụ tấn công. Chúng thể hiện tư duy tội phạm mà tôi đã mô tả trong cuốn sách này. Mặc dù không tiếp xúc trực tiếp với những người này, tuy nhiên tôi có lý do để phỏng đoán rằng các đặc điểm tính cách tội phạm có thể áp dụng cho rất nhiều kẻ phạm tội trong số này.
Bộ luật Hoa Kỳ xác định khủng bố trong nước và quốc tế đều thực hiện các hành vi “nhằm đe dọa hoặc cưỡng bức dân thường”. 1 Tội phạm hoạt động như những kẻ “khủng bố” cho dù chúng nhắm vào một người, một gia đình, một cộng đồng hay cả một quốc gia. Một kẻ hiếp dâm, một kẻ cướp ô tô, một kẻ đột phá và một tay súng bắn tỉa đều thực hiện hành vi khủng bố.
Thủ phạm thực hiện các hành vi bạo lực gia đình là những kẻ khủng bố. Cuộc hôn nhân của Colin và Judy minh họa cho các hành vi bạo lực của một người bạn đời khiến người kia luôn phải nghe theo và cảm thấy bất ổn với những nỗi sợ hãi, đe dọa, lạm dụng tâm lý và bạo lực thể chất. Judy và Colin từng bị sở dịch vụ xã hội của quần chú ý vì một trong những đứa con của họ nói với giáo viên rằng nó cảm thấy sợ hãi khi cha mẹ đánh nhau. Mối quan hệ hôn nhân nảy sinh mâu thuẫn đến mức tòa án đã tạm thời đưa con trai của cặp vợ chồng ra khỏi nhà và giao cho ông bà nội nuôi dưỡng.
Colin từng có tiền án bao gồm giả mạo séc, trộm cắp tài sản, trộm xe và nhiều lần lái xe bằng giấy phép bị đình chỉ. Anh ta buộc Judy ký séc khi biết tài khoản ngân hàng của họ không còn đủ tiền để chi tiêu.
Judy nói với người tư vấn rằng cô đã đánh mất một phần bản thân, rằng cô không còn tự tin và là người thất bại trong hôn nhân. Bất cứ khi nào Judy cố gắng thảo luận bất cứ điều gì với Colin, anh ta đều đáp lại theo cách khiến cô ấy cảm thấy “như thể tôi không biết gì cả”. Cho rằng việc chống lại anh ta là vô ích, cô nhượng bộ bất cứ điều gì anh ta yêu cầu. Tình dục trở thành một vấn đề trọng tâm, trong đó người chồng của cô luôn muốn thực hiện việc đó theo yêu cầu, đánh dấu vào lịch những ngày họ quan hệ tình dục, sau đó ghi lại đánh giá về khả năng tình dục của cô. Colin còn làm nhục vợ khi đề nghị trả tiền cho cô ấy sau mỗi lần quan hệ. Một đêm, Colin bước ra ngoài và hét lên, “Tôi sẽ chỉ phải mua dâm thôi”.
Ngày qua ngày, Colin khiến Judy dần suy sụp. Khi họ đi bộ trên phố, anh ta đánh đập cô vì đi quá chậm. Colin chỉ trích những gì Judy mặc, trở nên tức giận khi cô cắt tóc và chỉ trích cay độc nếu cô không xức nước hoa. Ngay cả khi Judy mải mê đọc sách, Colin vẫn phì phèo: “Cô thích cuốn sách hơn cả thích tôi à”, và đòi hỏi cô ấy phải luôn chú ý đến anh ta. Nếu bữa tối chưa sẵn sàng chính xác theo những gì Colin mong muốn, anh ta sẽ thông báo cho cô chính xác số phút cô phải dọn bữa ăn lên bàn. Judy nhớ lại một lần anh ta la hét và ném đồ đạc về phía cô: “Tôi đã khóc trong phòng ngủ. Anh ta nói với tôi, “Nếu cô còn nói một từ nào nữa thì tôi sẽ đập vào mặt cô đấy”.
Judy quản lý tài chính của gia đình, nhưng điều đó không ngăn được Colin xâm phạm tài khoản chung của họ để tiêu xài vào bất cứ thứ gì anh ta nghĩ đến. Cô và Colin không có bạn bè thân thiết và cô không được phép giao du với ai ngoài công việc. Công việc của Judy là một khía cạnh trong sự tồn tại của cô mà không nằm trong sự kiểm soát của người chồng. Colin phàn nàn rằng Judy coi trọng công việc hơn tất cả mọi thứ và cư xử quá quan trọng hóa bản thân. Đối với Judy, công việc là một cứu cánh vì cô có người để trò chuyện và được đánh giá cao và năng lực của cô.
Những cuộc cãi cọ của cặp đôi này ngày càng liên quan nhiều hơn về mặt thể xác. Trong một cuộc cãi vã, Colin đã ném một chùm chìa khóa và đánh vào cổ cô. Khi Judy thông báo sẽ bỏ đi và đi về phía xe rồi lái đi, Colin đã đuổi theo bằng xe của anh ta và đâm vào đuôi xe của cô. Sau đó, anh ta tháo các sợi dây dưới mui xe và cảnh báo nếu cô ấy cố gắng rời đi lần nữa, anh ta sẽ lấy một khẩu súng và “cho cô nằm dưới 2m đất”. Trong một lần khác, khi cô ấy sợ hãi chạy vào phòng tắm, anh ta đã phá cửa. “Anh ta tóm lấy tôi và dùng móng tay cào cấu tôi, rồi khiến tôi bị thâm đen một bên mắt”. Judy vô cùng sợ hãi khi khai báo những vết thương cô đã phải gánh chịu.
Judy bày tỏ với người tư vấn của mình, “Có một điều tôi muốn làm là đứng lên chống lại anh ta và cho anh ta biết cảm giác của tôi”. Nhưng cô ấy vẫn tiếp tục sống cùng Colin vì một số lý do. Dù Judy có thu nhập riêng, tuy nhiên hai người đã phát sinh nợ chung và cô ấy không thể tưởng tượng được làm thế nào để tồn tại độc lập về mặt tài chính. Cô chắc chắn Colin sẽ đeo bám nếu cô rời đi. Tuy nhiên, yếu tố cốt lõi giữ Judy trong cuộc hôn nhân này là sự bất an của chính cô. Cô ấy nói với cố vấn của mình, “Tôi mong đợi quá nhiều từ anh ta”, và chỉ trích bản thân là một quản gia yếu kém và không ham muốn tình dục. Thực hiện lời thề trong hôn nhân một cách cực kỳ nghiêm túc, Judy hy vọng rằng cô và Colin sẽ hàn gắn những khác biệt và giành lại quyền nuôi con. Một điều nữa cũng khiến cô tiếp tục là những khoảng thời gian họ hòa thuận với nhau, khi đó Colin âu yếm, tặng quà và đưa cô ấy đi ăn tối.
Judy đã tham gia một nhóm do tòa án bảo trợ dành cho các nạn nhân bạo lực gia đình. Tình cảm suy sụp, cô ấy liên tục mệt mỏi, đau đầu và lo lắng. Cuối cùng, cô quyết định rời đi và xây dựng một kế hoạch. Điều kiện dần trở nên thuận lợi. Cô ấy được tăng lương. Các con được bình an vô sự, cô có xe hơi, được mục sự hỗ trợ và có nơi để đi. Cô đóng gói đồ đạc, lái xe đến nhà của một người bạn và thu xếp sẵn sàng để di chuyển gần một nghìn dặm, nơi cô đã có gia đình và triển vọng công việc tốt hơn. Các dịch vụ xã hội đã khôi phục quyền giám hộ những đứa trẻ cho cô ấy vì chúng sẽ được sống trong một môi trường an toàn hơn.
Judy đã kết hôn với một kẻ khủng bố trong gia đình. Những kẻ khủng bố hoạt động trên các đấu trường khác nhau. Dưới vỏ bọc vì một sự nghiệp nào đó, một người có thể che giấu tính cách tội phạm tiềm ẩn của bản thân. Tôi nhớ vào những năm 1960, khi phỏng vấn một sinh viên đại học bỏ học tham gia các cuộc tuần hành vì quyền công dân ở Alabama. Khi anh ta trở về, chúng tôi đã nói về những sự kiện trong chuyến đi của anh ta. Với sự phấn khích tột độ, anh ta mô tả các chiến thuật tàn bạo của cảnh sát, những con chó lao vào người biểu tình, vòi rồng phun vào người biểu tình. Tôi không hề nghe được một lời nào về công bằng xã hội và bình đẳng chủng tộc và chính những nguyên nhân bề ngoài đã thúc đẩy anh ta thực hiện chuyến đi về phía nam. Anh ta không phải là một kẻ khủng bố, nhưng anh ta là một kẻ dối trá, một tên trộm và một kẻ sử dụng ma túy. Các sinh viên trong cộng đồng đại học phải chú ý bảo vệ chiếc xe đạp của mình vì anh ta có thể lấy trộm chúng nếu không được khóa an toàn. Mặc dù anh ta tán thành những lời hùng biện về quyền công dân, nhưng điều quan tâm đối với anh ta là được tham gia vào một khung cảnh phấn khích, sau đó trở lại như một nhân vật quan trọng để gây ấn tượng với người khác bằng những câu chuyện của bản thân.
Khả năng cao là hầu hết những kẻ khủng bố đều có tâm trí tội phạm. Có lẽ một số người có động cơ trong sáng và chân thành để theo đuổi sự nghiệpcủa họ. Nó không phải là một bước nhảy vọt lớn đối với một người hiểu được cấu tạo tinh thần của bọn tội phạm để ngoại suy tính cách của những kẻ để tiện và bạo ngược. Khi chúng hành động nhân danh chính nghĩa, những cá nhân tàn nhẫn này sẽ khủng bố và tàn sát kẻ thù.
Hầu hết những người đàn ông trở thành kẻ độc tài tàn nhẫn đều là tội phạm từ rất lâu trước khi đạt được vị trí quyền lực tuyệt đối. Trong cuốn sách kinh điển The Psychopathic God (tạm dịch: Thánh tâm thần), Robert G. L. Waite đã dành ra hơn 500 trang phân tích về Adolf Hitler. 2 Những quan sát của ông cung cấp bằng chứng cho thấy, từ thời thơ ấu, Adolf Hitler đã thể hiện những kiểu suy nghĩ và hành vi phổ biến đối với tội phạm. Waite lưu ý rằng những cơn giận dữ là “phương tiện được Adolf bé nhỏ sử dụng để khiến người mẹ già cả của mình phải tuân theo các yêu cầu của ông ta”. Đến năm 11 tuổi, Hitler “không còn là cậu học trò ngoan ngoãn của những năm trước nữa”. Thay vào đó, cậu ta là người “thích tranh luận, tự cho mình là chính kiến, cố ý, kiêu ngạo và nóng tính”. Hitler khi trẻ tuổi “yêu cầu các học sinh phải phục tùng, tự cho mình là người lãnh đạo”. Theo tác giả Waite, năm thứ 12 của Hitler “đóng vai trò quan trọng một cách bất thường trong sự phát triển cá nhân của ông ta”. Cậu bé từng là học sinh ngôi sao của các ngôi trường bắt đầu thất bại, đứa trẻ bề ngoài tự mãn, hiếu động với những trò chơi mạnh mẽ trong khu phố đã trở thành một đứa trẻ tuổi vị thành niên đầy ngang ngược, thu mình, nói chuyện với cây cối trên những ngọn đồi hiu quạnh, ca ngợi gió, đánh nhau với cha mẹ, biếm họa giáo viên và căm ghét thế giới”. Thành tích học tập của Hitler sa sút đến mức ông ta phải rời khỏi ngôi trường này và nhập học ở trường khác, sau đó bỏ học trước khi tốt nghiệp. Ở tuổi 16, Hitler mua một tờ vé số, bản thân điều đó không có gì là lạ, tuy nhiên Waite viết, “Điều gây ấn tượng ở Hitler khi trẻ tuổi là niềm tin tuyệt đối rằng mình sẽ trúng số”. Ông ta lên kế hoạch chi tiêu số tiền đó. Khi không trúng số, ông ta rơi vào “cơn thịnh nộ mù quáng”. Hitler vừa đa cảm vừa tàn bạo đối với động vật. Một nghị định năm 1936 cho thấy “sự quan tâm đặc biệt đối với nỗi đau của tôm hùm và cua” và quy định cách thức giúp chúng có cái chết nhân đạo” nhất. Tuy nhiên, Hitler đã “[hành hạ] một cách dã man với con chó của mình”, đánh con chó “như một kẻ điên”. Vào thời điểm quan tâm đến tôm hùm, Hitler được cho là đã nhận xét với một cộng sự, “Liệu tôi có ý định tiêu diệt toàn bộ loài này không nhỉ? Tất nhiên tôi có ý định đó… Tính tàn nhẫn và bạo lực… Mọi người muốn điều đó. Họ cần trải qua cảm giác kinh hoàng để phải rùng mình phục tùng”. Phần còn lại của câu chuyện khét tiếng về Adolf Hitler là về một tên tội phạm đã tích lũy sức mạnh để khủng bố, tra tấn và tàn sát hàng triệu người.
Những kẻ khủng bố hiện đại cho thấy mô hình tương tự ở chỗ, giống như Hitler, chúng là tội phạm trước khi nắm được những động cơ mà chúng lợi dụng để nắm giữ quyền lực. Mỹ treo thưởng 25 triệu đô la để đổi lấy mạng sống của Abu Musab al-Zarqawi, chiến binh thánh chiến khét tiếng. Viết trên tờ The Atlantic về “cuộc đời ngắn ngủi, đầy bạo lực” của mình, Mary Anne Weaver mô tả al-Zarqawi là tội phạm trước khi hắn thực hiện bất kỳ mục đích nào. 3 “Khi còn là thiếu niên, al-Zarqawi đã từng là một kẻ luôn đi bắt nạt và côn đồ, một kẻ buôn lậu và nghiện rượu nặng… Hắn quậy phá, thường xuyên tham gia vào các cuộc ẩu đả… Mười lăm tuổi, hắn đã tham gia vào một vụ cướp tại nhà của một người họ hàng và giết chết người họ hàng đó”. Năm 1994, ở tuổi 28, al-Zarqawi bị kết án 15 năm tù vì sở hữu vũ khí trái phép và tham gia một tổ chức bị cấm ở Jordan. Theo lời kể của bà Weaver, al-Zarqawi “phát triển mạnh mẽ” trong thời gian bị giam giữ. “Hắn nghiêm khắc, cứng rắn và không ngừng làm bất cứ điều gì được coi là vi phạm các quy tắc của bản thân, nhưng hắn thường được bắt gặp đang khóc trong sân nhà tù khi đọc kinh Koran”. Al-Zargawi được cho là đã “đi qua khu nhà tù như một con công” và “cuộc sống trong tù có tổ chức như một thủ lĩnh băng đảng”. Sau khi được trả tự do, hắn thành lập các trại để huấn luyện các chiến binh và bị Hoa Kỳ truy lùng vì chủ mưu các vụ đánh bom, phi vụ liều chết và các vụ hành quyết. Dường như al-Zarqawi muốn tạo ra tình trạng lộn xộn và tàn sát hơn là thúc đẩy một tôn giáo hoặc hệ tư tưởng cụ thể. Gọi anh ta là “chiến binh siêu sao”, tạp chí Time chỉ ra,“Theo quan điểm của hắn ta, việc tàn sát những người Ả Rập theo các hình thức khác nhau của Hồi giáo cũng quan trọng như giết người phương Tây”. 4 Vào ngày 7 tháng 6 năm 2006, al-Zarqawi cuối cùng đã bị các lực lượng của Hoa Kỳ tiêu diệt.
Nhiều nhà quan sát tuyên bố rằng, những thủ phạm khủng bố hành động nhân danh một cuộc thánh chiến được tôn giáo của họ chấp nhận đã làm sai lệch chính những giáo lý của tôn giáo đó.
Các nhà bình luận như Stanley Bedlington viết trên tờ Washington Post rằng trùm khủng bố Osama bin Laden đã “làm ô uế tôn giáo của chính mình” và sẵn sàng vi phạm “các điều cấm nghiêm ngặt của kinh Koran”. 5 Và, nhiều năm trước, một cây bút của tạp chí Time đã chỉ ra, “Trong mắt hầu hết các học giả tôn giáo, cuộc thánh chiến [của bin Laden] tuyên bố chống lại Hoa Kỳ chưa bao giờ là một cuộc thánh chiến; đó là một sự lừa đảo trắng trợn”. 6
Trong đánh giá về Osama bin Laden, giáo sư tâm lý học Aubrey Immelman nhận thấy, thủ lĩnh của al-Qaeda không phù hợp với hồ sơ của một người chính thống tôn giáo có lương tâm, có tư tưởng khép kín, cũng như không phải của một người tử đạo tôn giáo”. Trích dẫn “sự pha trộn giữa các mẫu tính cách tự ái và chống đối xã hội” của bin Laden, bà mô tả hắn là “người thành thạo trong việc khai thác chủ nghĩa chính thống Hội giáo để phục vụ cho tham vọng và ước mơ vinh quang của bản thân”. 7
Cuối năm 2013, Cộng hòa Trung Phi đứng trước bờ vực diệt chủng. Các nhóm vũ trang Hồi giáo từ phía Bắc, được gọi là Séléka (“liên minh”) đã giết hại, cưỡng hiếp và cướp bóc tại các cộng đồng người Thiên Chúa giáo sinh sống. Tờ Washington Post đưa tin, “một cuộc xung đột liên quan đến mục đích diệt chủng và quyền lực hơn là tôn giáo” diễn biến theo chiều hướng tồi tệ hơn khi lực lượng dân quân Thiên Chúa giáo bắt đầu tấn công các cộng đồng người Hồi giáo, “cắt cổ phụ nữ và trẻ em và có thời điểm thông báo rằng họ muốn tiêu diệt tất cả người Hồi giáo”. 8 Theo Aljazeera, có 400 người đã bị giết trong ba ngày xảy ra các hoạt động bạo lực? 9
Những kẻ khủng bố có thể tham gia vào mọi hoạt động, bao gồm bảo vệ môi trường, quyền động vật, bảo tồn lịch sử hoặc bất kỳ phong trào chính trị nào. Sau đó, chúng biện minh cho hành vi phạm tội bằng cách viện dẫn mục đích cao cả của hành vi đó.
Hãy xem xét trường hợp của Paul Jennings Hill, người gốc Florida, một nhà hoạt động chống phá thai, đã tốt nghiệp chủng viện và được phong chức mục sư. Vào ngày 30 tháng 7 năm 1994, Hill tiếp cận The Ladies Center ở Pensacola, Florida, một phòng khám phá thai mà anh ta biết rất rõ. Ở đó, anh ta nhắm đến Tiến sĩ John Britton, một bác sĩ phòng khám; và cận vệ của ông, một trung tá Không quân Hoa Kỳ đã nghỉ hưu. Hill bắn chết cả hai người và nhanh chóng bị bắt. Anh ta bị kết án tội giết người và bị hành quyết bằng cách tiêm thuốc độc tại nhà tù bang Florida vào ngày 3 tháng 9 năm 2003. Có hàng nghìn công dân phản đối việc phá thai và một số người phản đối kịch liệt. Tuy nhiên, phải cần đến một kiểu người nhất định quá khích đến mức anh ta có thể giết người nhân danh chính nghĩa.
Theo các báo cáo, ở tuổi vị thành niên, Paul Hill “có xu hướng nổi loạn và thậm chí bạo lực”. Anh ta bị bắt vì hành hung cha mình, người đã cố gắng bắt anh ta điều trị vì lạm dụng cần sa và LSD. Một người hàng xóm cách anh ta hai nhà chia sẻ trên tờ Washington Post, “Tôi luôn cảm thấy anh ta không quan tâm đến hậu quả của những việc mình đã làm”. 10 Người này nhớ lại, khi 13 tuổi, Hill đã cạy miệng con chó của mình và khạc nhổ vào cổ họng nó. Paul Hill là một người theo chính thể chuyên chế “không khoan nhượng với màu xám”. Anh ta được miêu tả là đang chuyển mình từ một đứa trẻ ngỗ nghịch đang nỗ lực trở thành “một tín đồ Thiên Chúa gương mẫu”. Tuy nhiên, trích lời một mục sư trên Pensacola Neos Journal, Paul Hill “đã gặp vấn đề với tất cả giới mục sư bởi vì anh ta dễ có những cảm xúc thái quá và không thể sống với những người bất đồng quan điểm”. 11 Kẻ giết người này, được báo chí gọi là “kẻ khủng bố trong nước”, đã không hề ăn năn cho đến giây phút cuối cùng.
Mọi sự chú ý đều dồn vào trọng tâm vào cách thức khiến mọi người trở nên “cực đoan hóa” hoặc bị thuyết phục tham gia vào một hoạt động cụ thể, đặc biệt sau khi “chủ nghĩa khủng bố nội tại” diễn ra. Những tội phạm đang tìm kiếm cảm giác phấn khích đã sẵn sàng gia nhập. Gần như không cần phải thuyết phục hay đào tạo đối với những đối tượng này. Tờ Washington Jeavish Week gọi Internet là “thư viện ảo dành cho chủ nghĩa khủng bố, ở đó chúng kích động sự bất mãn của kẻ khác. 12 Internet là nơi cung cấp hệ tư tưởng và thực hiện công tác tuyên truyền. Nó là một công cụ rẻ tiền được các nhóm khủng bố sử dụng để tuyển mộ thành viên, gây quỹ và đặt mua các trang thiết bị. Nghị sĩ Ed Royce, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, nhận xét, “các trang web thù địch trên mạng” đem đến “sự cuồng dại đến phấn khích” cũng như “những hướng dẫn chi tiết”. 13
Tội phạm không cần phải tham gia trại huấn luyện ở Afghanistan để có thể học cách chế tạo bom. Trên thực tế, những kẻ đánh bom cuộc thi Marathon ở Boston đã chế tạo bom dựa trên một bài báo của al Qaeda có tựa đề “Cách chế tạo bom từ trong căn bếp của mẹ bạn”. Giáo sư về thông tin quản lý Marie Wright lưu ý, cả Internet và môi trường mở của các trường cao đẳng và đại học ở Hoa Kỳ đều “cung cấp các diễn đàn để trình bày các thông điệp cấp tiến” thu hút một số người trẻ tuổi nhất định. Theo quan sát của bà, “Các cá nhân có xu hướng tìm kiếm những người có cùng tư tưởng”. 14 Quan điểm này càng được củng cố thêm trong một báo cáo của Cơ quan Tình báo Trung ương, “Nhiều nhóm khủng bố dựa vào hoạt động tuyển mộ tù nhân để nâng cấp hàng ngũ của chúng. Các tù nhân chiêu mộ trực tiếp những bạn tù đồng thời phát hiện và đánh giá những người khác để tuyển mộ sau khi họ được thả”. 15
Al-Shabaab, nhóm khủng bố nhận trách nhiệm về vụ thảm sát vào tháng 9 năm 2013 tại trung tâm mua sắm ở Kenya, đang cố gắng thu hút những người đàn ông Mỹ gia nhập hàng ngũ của chúng. Sau đó, Al-Shabaab nhấn mạnh ba trong số các chiến binh thánh chiến đến từ Minnesota.
Theo nguồn tin của CBS News tại khu vực Washington, DC., thủ lĩnh của một tổ chức đã cố gắng kêu gọi trên một video chiêu mộ: “Giá như các bạn có thể biết được chúng tôi vui vẻ nhiều thế nào khi ở đây, nơi đây là một Disneyland thực sự” 16
Ngôn ngữ như vậy dường như thôi thúc cảm giác phấn khích ở tội phạm hơn là mong muốn phục vụ một mục đích xứng đáng.
Tin tặc giúp duy trì thế lực của kẻ khủng bố khi chúng xâm nhập vào các hệ thống cửa hàng có chứa dữ liệu về các giao dịch trị giá hàng tỷ đô la mỗi ngày. Trong mùa mua sắm Giáng sinh 2013, tin tặc đã đánh cắp thông tin cá nhân của gần 70 triệu khách hàng của tập đoàn Target, một trong những chuỗi cửa hàng bán lẻ lớn nhất nước Mỹ. Việc đánh cắp thông tin thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ có khả năng cho phép tội phạm thực hiện các giao dịch gian lận trên khắp thế giới. Theo ước tính, công ty có thể phải bỏ ra 100 triệu đô la để khắc phục thiệt hại và thanh toán các chi phí pháp lý. Trích lời Beth Givens, người sáng lập tổ chức phi lợi nhuận Privacy Rights Clearinghouse, trên tờ Washington Post cho biết, “Đó là một cuộc chạy đua vũ trang. Và những kẻ lừa đảo gần như luôn dẫn đầu cuộc chơi”. 17
Tướng Michael Hayden, cựu giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương, từng cảnh báo về “các lớp đe dọa” khi ông chia sẻ với tờ Washington Post, “Các tác nhân ở cấp độ tiểu bang-nhà nước đang tiến đến chúng ta. Họ muốn sở hữu trí tuệ của bạn. 18
Họ muốn những bí mật thương mại và vị thế đàm phán của bạn. Có một số tội phạm muốn mã PIN, số thẻ tín dụng của bạn,…” Tướng Hayden tiếp tục, những cá nhân này là những kẻ tham lam vô độ và “sẽ bắt đầu đạt được những khả năng mà chúng ta hiện cho là của các băng nhóm tội phạm”.
Hành động khủng bố trong nước nguy hiểm nhất cho đến nay xảy ra vào năm 1995 khi Timothy McVeigh đánh bom Tòa nhà Liên bang Alfred P. Murrah ở thành phố Oklahoma, khiến 168 người thiệt mạng, trong đó có 19 trẻ em. Từ những mô tả trên rất nhiều tờ báo, McVeigh dường như sở hữu nhiều đặc điểm của tính cách tội phạm. Từ năm 13 tuổi, anh ta không chỉ là một người đam mê súng mà còn “bị ám ảnh” với súng đến mức vẽ chúng ở trường khi buồn chán và mang theo súng đến trường để gây ấn tượng với các học sinh khác, theo một báo cáo đăng tải trên tờ Washington Post. 19 Khi còn là một thiếu niên, McVeigh đã lái xe lên tới 112km/h, la ó những người lái xe đi chậm hơn và chộp lấy khẩu súng săn của mình “giống như anh ta sẽ bắn hết họ vậy”. McVeigh bỏ học chương trình đại học cộng đồng, nhảy hết việc này sang việc khác và tích lũy nên những khoản nợ khổng lồ không thể trả nổi khi đánh bạc. Năm 20 tuổi, anh ta chế tạo và kích nổ bom. Khi đang phục vụ trong quân đội, anh gặp Terry Nichols, người sau này trở thành đồng phạm của anh ta trong vụ tấn công thành phố Oklahoma. Sau khi xin xuất ngũ một phần vì không thể đủ tiêu chuẩn tham gia lực lượng đặc nhiệm Mũ nồi xanh, McVeigh lang thang khắp bốn mươi tiểu bang và tham gia mua bán vũ khí tại tám mươi cuộc triển lãm súng. Về tính khí, anh ta được mô tả là “chuyển từ trạng thái thụ động sang bùng phát cơn giận dữ”. Sau khi bị thuyết phục bằng những tệ nạn của chính quyền, anh ta chỉ trích chính quyền là kẻ thù của Công dân vì đang tìm cách hạn chế quyền của công dân, đặc biệt là quyền sở hữu súng. Trước khi thực hiện vụ đánh bom thành phố Oklahoma, McVeigh đã coi nhiều quan chức chính phủ là “những ứng cử viên” cho vụ ám sát.
Vào ngày 15 tháng 4 năm 2013, một hành động khủng bố khác ở trong nước đã xảy ra khi hai quả bom phát nổ gần vạch đích của cuộc thi Marathon tại Boston khiến ba người chết và hơn 260 người bị thương. Hai anh em nhập cư từ Nga năm 2002 cùng với cha mẹ của họ bị cáo buộc là kẻ đánh bom. Tamerlan Tsarnaev đã chết trong một cuộc đọ súng với cảnh sát nhưng người em trai 19 tuổi của anh ta là Dzhokhar vẫn sống sót và bị bắt vào tù. Có rất nhiều thông tin thu thập được về người anh trai, nhưng lại ít thông tin hơn về Dzhokhar, người không nhận các cáo buộc phạm tội trong khi chờ xét xử.
Trong một bài báo trên tờ New York Times có tiêu đề “Một giấc mơ tan nát, theo sau là một con đường bạo lực”, Tamerlan Tsarnaev được mô tả là một học sinh bỏ học đại học, một người bị cô lập trong xã hội và là một thanh niên bạo lực. 20 Dù say mê quyền Anh và được biết đến là một tay đấm lớn” nhưng Tamerlan không tuân thủ chế độ tập luyện và hoàn toàn ngừng tham gia. Trong một lần, anh ta vi phạm nghi thức quyền anh khi bước vào phòng thay đồ “để chế nhạo không chỉ võ sĩ anh ta sắp đối đầu mà còn cả huấn luyện viên của võ sĩ đó”. Anh ta ngày càng cô lập bản thân và hiếm khi làm việc, để mặc vợ – người đang nhận trợ cấp của chính phủ và phiếu mua thực phẩm – nuôi anh ta và đứa con nhỏ. Trước khi anh ta kết hôn, một người bạn gái đã gọi 911 để báo cáo việc anh ta đang hành hung cô ấy. Một phụ nữ trẻ yêu Tamerlan khi mới 17 tuổi chia sẻ với tờ New York Post về việc Tamerlan đã cố gắng kiểm soát cô ấy bằng cách đe dọa và bạo lực như thế nào (các động thái tương tự như trong mối quan hệ giữa Colin và Judy được đề cập trước đó trong chương này). 21 “Tamerlan yêu cầu tối chỉ được phép nói chuyện với những cô gái Hồi giáo”, cô cho biết. Người phụ nữ trẻ này nhớ lại Tamerlan đã xé toạc một chiếc quần jean của cô và dùng nó đánh thẳng vào mặt cô. “Tôi yêu và sợ anh ta sẽ bỏ tôi nếu tôi không làm theo lời anh ta. Khi nhìn lại, tôi đã may mắn thoát chết”, cô chia sẻ. Đầu năm 2012, Tamerlan đến Nga khoảng 6 tháng và bỏ lại vợ con. Các mục từ trong “danh sách mong muốn” trong tài khoản Amazon của Tamerlan được công khai, trong đó có Cách chế tạo Giấy phép lái xe và Thẻ căn cước (ID) khác bằng máy tính gia đình của bạn và Trình giả mạo ID. Các cuộc điều tra tiếp theo cho thấy Tamerlan có liên quan đến buôn bán ma túy và tham gia vào ba vụ giết người trước thời điểm thực hiện vụ tấn công Boston Marathon 16 tháng.
Đối với Dzhokhar, người em trai, mọi người tự hỏi làm thế nào một sinh viên thông minh, hòa đồng và giải thể thao tại Đại học Massachusetts, được biết đến là có “trái tim vàng”, lại tham gia vào một tội ác kinh khủng như vậy. Trong một bài báo trên tờ New York Times với tiêu đề “Mặt tối được ngụy trang cẩn thận”, Dzhokhar được cho là đã giữ bí mật về cuộc sống cá nhân của mình.” 22 Anh ta tự mô tả bản thân là một người ngủ say và là một kẻ nói dối tuyệt vời”. Anh ta uống rượu và “hút cần sa nhiều hơn hầu hết các học sinh trung học hoặc đại học. Khi khoe khoang về việc trốn học, điểm của Dzhokhar đã giảm xuống. Mặc dù anh trai của anh ta thường xuyên cầu nguyện nhưng anh ta không bao giờ đặc biệt sùng đạo.
Theo báo cáo, FBI và các quan chức địa phương tiếp tục cố gắng tìm hiểu làm thế nào những người anh em này trở nên “cực đoan hóa” cho dù có một sự phát triển hay điểm mấu chốt riêng lẻ nào trong “sự chuyển hướng” của họ sang bạo lực hay không. Mức độ ảnh hưởng của hệ tư tưởng hoặc niềm tin tôn giáo trong cuộc sống của họ hiện vẫn chưa được làm rõ. Theo một người bạn, “Tamerlan sẽ ném ra những từ nước ngoài như ‘jihad’ và ‘inshallah’ mà không thực sự hiểu ý nghĩa của chúng”. Hơn nữa, anh ta cưới một người vợ theo đạo Thiên Chúa. Những gì được ghi lại là Tamerlan là một tên tội phạm trước khi anh ta đánh bom cuộc thi Marathon Boston. Sau thảm kịch đó, lời giải thích cho hành vi của Dzhokhar được đưa ra tương tự như lời giải thích về hành vi của Lee Boyd Malvo, người ít tuổi hơn trong hai tay súng bắn tỉa tại Washington, DC. - khi cho rằng Dzhokhar đã bị tẩy não và trong trường hợp này là bởi anh trai của anh ta. Tuy nhiên, những người biết Dzhokhar cho biết đó vốn là con người của anh ta.
Những người được tối mô tả trong chương này là những tên khủng bố. Chắc chắn tất cả chúng đều có những đặc điểm của tính cách tội phạm. Nếu muốn biết liệu có nên quy kết hành vi phạm tội hoàn toàn do niềm tin vào một hoạt động nào đó hay không, hãy xem xét những cá nhân này là ai trước khi chấp nhận một nguyên nhân nào đó.