.
☆
[*] Cuối những năm 1600 và đầu những năm 1700 là đỉnh điểm của nạn cướp biển vì một số cuộc chiến tranh kéo dài liên miên ở châu Âu vừa kết thúc, đồng nghĩa với việc rất nhiều thủy thủ lành nghề ở đó không có việc làm. Dù có thể chọn gia nhập hải quân, song nhiều người đã phản đối những quy định hà khắc khi đó. Ngoài ra còn có quá nhiều của cải tích lũy được vận chuyển qua các đại dương, cũng như cảnh sát không thể bao quát được hết vùng biển rộng lớn, vì thế sẽ thật lạ nếu hải tặc không phát triển mạnh mẽ.
☆
[*] Ngày nay chúng ta coi viết lách là điều hiển nhiên, thế nhưng thời ấy, Dampier không thể cứ đặt bút xuống là có thể viết ra mọi thứ. Mỗi khi tìm thấy thứ gì đó đáng để ghi chép lại, ông ta phải lấy cây bút lông được bảo quản trong một chiếc hộp giấu dưới boong tàu, dùng dao gọt bút, mài mực và tìm một nơi không quá tối, quá ẩm ướt hay quá đông các thuyền viên ồn ào – tất cả chỉ để ghi lại vài dòng. Công việc cũng không dừng lại ở đó. Sau khi viết xong, ông ta phải chà nhám giấy để loại bớt phần nước mực, tránh bị nhòe chữ và xếp chúng lại và cầu Chúa đừng để thứ gì ăn mòn nó trong tương lai. Thời đó, viết lách không bao giờ là một công việc dễ dàng, mà là một công trình thực sự.
☆
[*] Cướp biển nhận được 600 đồng Tây Ban Nha khi mất cánh tay phải, 500 đồng khi mất cánh tay trái hoặc chân phải, 400 đồng khi mất chân trái và 100 đồng khi mất một mắt hoặc ngón tay. Những thông tin này xuất hiện trong các tài liệu chính thức vì tỷ lệ cướp biển có khả năng đọc hiểu cao một cách đáng ngạc nhiên (khoảng 3/4), phần lớn là do họ cần đọc hiểu các bản đồ. Cướp biển cũng tổ chức các cuộc bỏ phiếu về vùng đất tiếp theo mà bọn chúng định cướp bóc (thiểu số phục tùng đa số), và giờ ăn cũng dân chủ một cách đáng ngạc nhiên. Họ chia sẻ thức ăn đồng đều bất chấp việc họ là thuyền viên hay thủy thủ đoàn.
☆
[*] Chắc chắn Dampier sẽ không thể vượt qua bất kì bài kiểm tra hiện đại nào về sự giác ngộ; giống như tất cả mọi người khi đó, ông ta có những thiên kiến riêng. Nhưng người viết tiểu sử đã gọi ông ta là một “người nhân đạo trong một thời kỳ không nhân đạo cho lắm” – một tóm tắt mô tả khá đầy đủ về điều này. Trên thực tế, nếu bạn dành thời gian đọc các tác phẩm của ông ta, bạn sẽ thấy điểm nổi bật nhất ở ông ta là khả năng chịu đựng các nền văn hóa xa lạ. Bất cứ khi nào bắt gặp một phong tục hoặc nghi thức kỳ lạ, ông ta luôn hạn chế phán xét và cố tìm hiểu nó. Ông ta cũng khắt khe hơn nhiều khi đánh giá đồng hương của mình. Chẳng hạn, ông ta đảo mắt khi các sĩ quan khác từ chối tin tưởng một nữ tù nhân đa chủng tộc làm hướng dẫn viên, đơn thuần vì con người của cô ta. Vì vậy, dẫu hầu như không bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn hiện đại, song nhà sinh học cướp biển này lại tỏ ra khoan dung với thời đại của mình, và nhận thấy người châu Âu thường nhận bạo lực về phần mình: “Theo tôi, không có người nào trên thế giới này dã man đến mức giết một người vô tình rơi vào tay họ, hoặc đến sống cùng họ, trừ trường hợp trước đó họ đã bị tổn thương do phẫn nộ hoặc bạo lực nào đó mà ra.”
☆
[*] Nếu thích những câu chuyện về Đức Quốc xã – và thành thật mà nói, mọi câu chuyện đều hay hơn khi có một số nhân vật phản diện của Đức Quốc xã – tôi khuyên bạn hãy xem podcast của tôi, The Disappearing Spoon (tên tiếng Việt: Chiếc thìa biến mất), để tìm hiểu đủ loại câu chuyện khác nhau. Nó giải thích cách vài tên Đức Quốc xã lừa đảo đã cứu được nhiều người Mỹ hơn bất kỳ ai khác trong suốt Thế chiến II khi cung cấp quinin cho chúng ta vào đỉnh điểm tuyệt vọng. Nhìn chung, podcast gồm rất nhiều câu chuyện mới, những câu chuyện không xuất hiện trong các cuốn sách của tôi. Bạn có thể đăng ký theo dõi qua iTunes, Stitcher hoặc bất kỳ nền tảng nào khác hoặc truy cập trang web của tôi tại samkean.com/podcast.
☆
[*] Dù có thể đã được đào tạo về khoa học, nhưng các bác sĩ phẫu thuật trên tàu không phải lúc nào cũng biết chi tiết và có kinh nghiệm thu thập mẫu vật. Vì vậy, một nhà sưu tập ở London đã hỗ trợ bằng cách cung cấp bộ dụng cụ dành cho người mới bắt đầu với lọ đựng côn trùng và loại giấy đặc biệt để ép một số loại thực vật. Ông ta cũng đưa ra những lời khuyên độc đáo trong các lá thư gửi cho các phụ tá của mình, như tầm quan trọng của việc xem xét hệ tiêu hóa của các loài động vật ăn thịt để tìm những loài mới bị tiêu hóa một nửa: “Bất cứ khi nào các anh bắt được bất kỳ con nào trong số này”, ông ta nhấn mạnh, “hãy quan sát ruột và dạ dày của chúng và lấy ra những con vật các anh tìm thấy ở đó”. Trên thực tế, đây là lời khuyên vẫn còn ứng nghiệm ngay cá trong thời đại hiện nay: vào năm 2018, các nhà khoa học ở Mexico đã phát hiện ra một loài rắn mới bên trong ruột của một loài rắn khác.
☆
[*] Một số nhà sử học cho rằng, công việc của Wallace ở Malaysia thậm chí có thể đã thúc đẩy ông tiến tới việc đồng khám phá quá trình tiến hóa bằng chọn lọc tự nhiên. Sau này, ông trở thành một nhà sưu tập tham gia nghiên cứu hàng ngàn loài côn trùng để tìm các biến thể về màu sắc, kích thước và các đặc điểm khác cũng như những đột biến là nguyên liệu thô vận hành chọn lọc tự nhiên.
☆
[*] William, cha của James Cleveland, xuất thân từ một gia đình danh giá ở Anh; Anh trai của William là Bộ trưởng Bộ Hải quân. Nhưng tính tình William rất tồi tệ, và sau khi bị đắm tàu gần Banana vào những năm 1750, ông ta loạng choạng lên bờ và tuyên bố mình là vua. Ông ta kết hôn với một số phụ nữ địa phương và cuối cùng chọn James, người đã gầy dựng một doanh nghiệp buôn bán nô lệ rộng khắp dù bản thân là người lai châu Phi. Để làm Cleveland vui, những người châu Âu trên hòn đảo của ông ta đã phải cống nạp cho ông ta nào súng, rượu rum, vải và đồ sắt, chưa kể đến chiếc thắt lưng vàng kỳ quặc hoặc chiếc sừng đầy họa tiết trang trí để uống rượu. Có lúc, Henry Smeathman đã đặt hàng cho Cleveland một “máy điện” cực kỳ đắt tiền từ Anh, thứ đã tạo ra các điện tích (có lẽ là do ma sát) và sử dụng một quả cầu thủy tinh để làm sốc mọi người nhằm mua vui.
☆
[*] Những cách dùng từ ví von đôi khi có thể giúp chúng ta hiểu các hệ thống khoa học, nhưng việc sử dụng tên “chúa” đối với mối, kiến và ong là sai lầm. Những con chúa này không phải là “kẻ cai trị” theo bất kỳ nghĩa nào. Trên thực tế, cuộc sống của một con mối chúa có vẻ khá đau khổ. Khi thành lập một chốn ở mới, các con mối thợ về cơ bản nhốt “chúa” vào một “căn phòng hoàng gia” nhỏ bé, nơi nó sống phần đời còn lại trong bóng tối, không thể làm gì khác ngoài ăn và đẻ. Hãy tưởng tượng, bạn phải sinh đẻ trong suốt phần đời còn lại, và bị đầy hơi đến mức không thể nhúc nhích. Thay vì nghĩ chúng là “chúa”, ta nên gọi chúng là “máy đe” hoàng gia.
☆
[*] Trái ngược với Kwasi, một số nô lệ đã sử dụng kiến thức thực vật siêu việt của mình để trả thù những kẻ bắt giữ mình bằng cách đầu độc họ. Sắn là một chất độc đặc biệt phổ biến vì nó là một món ăn ngon nếu được nấu chín đúng cách, nếu không sẽ rất độc hại. Các nô lệ thường phơi khô và tán bột những con giun đã được cho ăn nhựa sắn, sau đó giấu một chút bột dưới móng tay và lén lút thả vào đĩa thức ăn của chủ nhân khi phục vụ họ.
☆
[*] Thật kỳ lạ, Hans Sloane cũng phát minh ra sô-cô-la sữa ở Jamaica; ông coi đây là một cách dễ dàng hơn để tiêu thụ ca cao, thứ mà lúc đó được coi là một loại thuốc. Khi trở về London, Sloane bán công thức này cho một tiệm thuốc tây, người này sau đó bán nó cho một hãng đồ ăn nhỏ tên là Cadbury. Mỗi khi bạn nhấm nháp một thanh sô-cô-la ngày nay, bạn có thể truy ngay ra nguồn gốc của nó là sự kết hợp của khoa học – chế độ nô lệ – công nghiệp.
☆
[*] Trong khám phá có lẽ là thông minh nhất của mình, Hunter đã giải quyết được một cuộc tranh cãi lâu dài về tiêu hóa. Nhiều nhà khoa học hồi đó lập luận rằng, dạ dày tiêu hóa thức ăn bằng cách tác động nhiệt để phá vỡ hoặc khuấy trộn một cách cơ học. Nhưng sau khi phát hiện ra những lỗ thủng trên dạ dày tử thi, Hunter khẳng định về hệ thống tiêu hóa hóa học. Ông giải thích, sau khi chết, cơ thể ngừng sản xuất chất nhầy bảo vệ dạ dày, và axit ở đó bắt đầu tiêu hóa chính cơ quan này. Điều này giải thích cho các lỗ thủng, điều mà cả lý thuyết nhiệt và cơ học đều không làm được. Giờ đây, chúng ta biết rằng sự khuấy trộn cơ học đóng một vai trò trong quá trình tiêu hóa, nhưng các tác nhân hóa học mới đóng vai trò chính.
☆
[*] Những người chết trong mùa hè may mắn hơn ở chỗ cơ thể họ bị phân hủy nhanh hơn do thời tiết nắng nóng. Và cũng do các nhà giải phẫu học thường nghỉ hè nên nhu cầu thấp. Trộm xác diễn ra sôi nổi hơn vào mùa đông. Vào những ngày đặc biệt lạnh giá, khi cơ thể vẫn còn cứng, những kẻ trộm mộ thậm chí không cần phải che đậy chúng. Chỉ cần nâng xác lên cáng và đưa xác đến ngay cửa sau của nhà giải phẫu. Trong những trường hợp khác, thi thể được giấu trong vải liệm hoặc bao tải, hoặc thậm chí được vận chuyển trong các thùng có nhãn “thịt lợn” hoặc “thịt bò”. Điều này lý giải về “thịt bò” trong bài đồng dao ở phần sau của chương này.
☆
[*] Chúng ta cần làm rõ một số vấn đề pháp lý ở đây: Sở hữu xác chết không phải là một hành vi phạm tội; nhưng không ai có thể giữ xác trong nhà vì xác không được coi là tài sản. Điều đó cho thấy, những kẻ trộm mộ vẫn có thể bị bắt vì xâm phạm một ngôi mộ, hành vi được cho là bất hợp pháp. Thêm nữa, ăn cắp quần áo, trang sức từ cái xác là hành vi phạm tội, thường bị tuyên án tử.
☆
[*] Dù là một hành động nghĩa hiệp, nhưng câu chuyện của Ann Grey không kết thúc có hậu. Chồng của cô, James, đã chết trong vòng vài tháng sau cuộc đụng độ của họ với Burke và Hare, và như nhiều hóa phụ thời ấy, cô phải sống trong khổ hạnh suốt phần đời còn lại.
☆
[*] Ngay cả Abraham Lincoln cũng là mục tiêu của một âm mưu đánh cắp thi thể dù không vì lý do giải phẫu. Vào đêm bầu cử năm 1876, một đêm được định sẵn vì hầu hết mọi người sẽ bị phân tâm với tin tức về bầu cử, một số tội phạm đột nhập vào hầm mộ của Lincoln để đánh cắp xương cốt và giữ chúng để đòi tiền chuộc. Ngoài tiền, chúng cũng muốn sử dụng bộ xương để làm “con tin” giúp bạn thân của chúng, kẻ từng giả mạo chuyên gia, được ra khỏi tù. Thật không may với bọn chúng, cơ quan mật vụ đã cử một điệp viên xâm nhập vào băng nhóm, và âm mưu đã thất bại.
☆
[*] Một trong những công việc kỳ lạ hơn của Littlefield, nhiệm vụ khiến ông ta mất cả buổi sáng sau Lễ Tạ ơn, là di chuyển các tượng bán thân giúp vị giáo sư nổi tiếng tại Trường Y Harvard, John Warren. Những người từng đọc cuốn Caesar’s Last Breath (tạm dịch: Hơi thở cuối cùng của Caesar) của tôi sẽ nhận ra Warren là bác sĩ phẫu thuật đầu tiên gây mê thành công trong y học. Đó là một ví dụ tuyệt vời về việc các nhà khoa học quá hiện đại ở một số khía cạnh, trong khi lại vô cùng cổ hủ ở những khía cạnh khác.
Đó cũng không phải là một manh mối duy nhất liên quan đến hành vi gây mê. William Morton (một bác sĩ nha khoa tự tin rằng mình đã phát hiện ra chất gây mê) và Charles T. Jackson (người tuyên bố Morton đã đánh cắp ý tưởng từ ông) sau đó đều ra làm chứng tại phiên tòa xét xử vụ án giết người của Webster. Jackson làm chứng cho việc truy tố những vết hóa chất kỳ lạ mà ông ta đã thấy tại Trường Y Harvard. Khó tin hơn là, Webster và Jackson được phép trò chuyện với nhau trong thời gian nghỉ của phiên tòa và Webster đã trách Jackson vì chống lại ông ta. Jackson ngay lập tức đề nghị làm chứng lại – với vai trò là một nhân chứng ủng hộ bị cáo.
☆
[*] Sự ồn ào của vụ án này không dừng lại ở cái chết của Webster. Công chúng vẫn muốn nhiều hơn nữa sau vụ bê bối và để nhượng bộ, Harvard đã biến hiện trường vụ án thành một điểm thu hút khách du lịch. Littlefield cũng trở thành một huyền thoại tại địa phương; những thợ săn đồ lưu niệm đôi khi tìm đến và cắt một nhúm tóc của ông ta làm vật kỷ niệm.
Vụ án này vẫn mãi hằn sâu trong ký ức của mọi người. Khi Mark Twain đến thăm Azores vào năm 1861, ông tò mò muốn gặp hai cô con gái của Webster, những người chắc chắn đã chuyển đi nơi khác để thoát khỏi cái bóng của người cha. Khi Charles Dickens đến thăm Mỹ vào năm 1869, ông cũng muốn ghé qua hiện trường thảm án Parkman – nỗi xấu hổ đối với người dân địa phương, nên họ đã đảm bảo với ông rằng thành phố vẫn còn nhiều địa điểm đáng tới thăm hơn thế. Thậm chí đến tận đầu những năm 1900, một nhà thiên văn học Cambridge lỗi lạc có tên là Harlow Shapley vẫn không thể nhịn nổi cười khi nghe người ta bông đùa về vụ án – rằng điều đáng kinh ngạc nhất đối với ông là chỉ có một giáo sư Harvard sát hại một thành viên Harvard khác trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của nơi này.
☆
[*] Các vụ giết voi phổ biến một cách đáng ngạc nhiên. Là loài hoang dã, voi lại bị nhốt trong những chiếc lồng nhỏ ở vườn thú hoặc bị ép làm trò tại các rạp xiếc. Một số huấn luyện viên cũng vô cùng tàn nhẫn: một người say rượu đã cho voi của mình ăn một điếu thuốc cháy dở. Không có gì đáng ngạc nhiên khi những con voi bị ngược đãi này đôi khi tấn công và giết người, và khi đó chúng sẽ bị giết. Một học giả đã khui ra thông tin về 36 trường hợp giết voi riêng biệt, trong đó bao gồm cả voi Topsy, bị giết vào năm 1903 bằng giật điện. Có thể hiểu rằng, Edison muốn tự mình giết một con voi và thực tế cho rằng ông đã giết chết nhiều con vật khác nhau bằng biện pháp giật điện khiến nhiều người ngày nay tin chính Edison đã nhúng tay vào cái chết của Topsy. Điều đó không đúng – cuộc chiến của các dòng điện đã kết thúc từ lâu trước năm 1903. Nhưng công ty điện ảnh của Edison đã ghi lại cảnh giết động vật, tạo ra một số cảnh phim tàn bạo.
☆
[*] Như các nhà sử học đã ghi chép, Kemmler có lẽ đã tự đày đọa bản thân khi quá bình tĩnh và thờ ơ trước cái chết. Nếu anh ta chỉ hoảng sợ một chút – giống như các lính canh và nhân chứng trực tiếp – thì mồ hôi trên da anh ta có thể đã dẫn điện vào cơ thể hiệu quả hơn và giúp anh ta ra đi nhẹ nhàng hơn.
☆
[*] Ở một số thủ thuật khác, bạch tuộc có thể tung hứng các đồ vật và mở nắp bình mà không cần được chỉ dạy. Hoặc hãy lấy Otto, một con bạch tuộc tại một thủy cung ở Đức làm ví dụ. Rõ ràng Otto khó chịu với những ngọn đèn chiếu vào chiếc bể của mình vào ban đêm. Vì vậy, nó đã học cách bò lên thành bể và phun nước vào đèn, làm tắt chúng. Nó lặp lại quá trình này ba đêm liên tiếp, khiến các nhân viên hồ cá bối rối không hiểu tại sao mạch điện cứ bị chập. Cuối cùng họ đã ngủ trên sàn và chứng kiến được hành động của con vật này.
☆
[*] Dù cộng đồng mạng thích khắc họa Edison là nhân vật phản diện trong cuộc đời của Tesla, song George Westinghouse mới là người thực sự khiến cuộc chiến trở nên căng thẳng. Westinghouse đã ký cho Tesla một hợp đồng tiền bản quyền hào phóng vào cuối những năm 1880; trả cho Tesla 2,5 đô la cho mỗi mã lực do thiết bị của ông tạo ra. Với tốc độ mở rộng đáng kinh ngạc của Westinghouse, con số đó sẽ lên tới 12 triệu đô la vào năm 1893 (323 triệu đô la ngày nay), một khoản tiền có thể khiến công ty bị phá sản. Vì vậy, Westinghouse đã cầu xin Tesla hủy bỏ hợp đồng của họ. Ông nói: “Quyết định của anh quyết định số phận của công ty Westinghouse”. Thật đáng kinh ngạc, Tesla đã làm như những gì được yêu cầu. Không giống như Edison, Westinghouse tin tưởng vào Tesla và Tesla cảm thấy có trách nhiệm phải giúp đỡ. Vì vậy, họ đã vô hiệu hợp đồng.
Đáng buồn thay, Westinghouse đã không hào phóng với Tesla. Nhiều năm sau, khi Công ty Westinghouse sinh lời một cách khó hiểu, Tesla đã quay trở lại, cầm mũ trong tay và yêu cầu trả lại một số tiền. Westinghouse từ chối, và Tesla đã kết thúc cuộc đời của mình ít nhiều trong sự phẫn nộ, thậm chí không thể chi trả ngay cả tiền thuê khách sạn ở New York nơi ông sống. Để biết thêm về kết thúc đáng buồn của cuộc đời Tesla, hãy xem tập 18 của podcast Disappearing Spoon tại samkean.com/podcast – một câu chuyện có liên quan đến Donald Trump, dù bạn có tin hay không.
☆
[*] Dù bộ xương do Leidy và Cope dựng là bộ xương hoàn chỉnh đầu tiên từng được tạo dựng nhưng nó không phải là mô hình được tái tạo đầu tiên về một con khủng long trong lịch sử. Dựa trên một số mảnh xương không đáng kể, các nhà cổ sinh vật học ở Anh đã thực hiện một số tác phẩm điêu khắc mang tính phỏng đoán về một số loài khủng long cho một công viên ở London vào những năm 1850. Chúng giống như một cú đánh mạnh đến mức các quan chức ở New York đã lên kế hoạch dựng lên một dàn các con vật khổng lồ tương tự ở Công viên Trung tâm – và ngoại trừ việc không ai khác ngoài Boss Tweed đã đến và phá hủy chúng, sau đó đuổi nhà điêu khắc ra khỏi thị trấn. Để biết thêm về câu chuyện phức tạp này, hãy xem tập 6 tại samkean.com/podcast.
Marsh vô tình từng tạo dựng một bộ xương của một sinh vật (một loài động vật có vú giống tê giác được gọi là “uintathere”) bằng việc sử dụng giấy bồi để làm khuôn cho xương của nó. Về phần giấy, ông ấy tìm được vật liệu dày nhất và chắc chắn nhất có thể: tờ tiền giấy của Hoa Kỳ được cắt nhỏ. Kết quả là, con vật này, có lẽ theo nghĩa đen, là một bộ xương trị giá hàng triệu đô la.
☆
[*] Vâng, tôi biết – hãy giữ lại những câu từ bực tức trước đã. Về mặt kỹ thuật, chúng ta nên đề cập đến Brontosaurus (một cái tên đáng yêu) thay cho Apatosaurus (một cái tên vụng về). Theo một số nhà khoa học, cái tên Brontosaurus có thể sẽ được sử dụng lại.
Sự lộn xộn về tên gọi này bắt nguồn từ năm 1877, khi Marsh dựng nên Apatosaurus dựa trên một số đốt sống và các mảnh xương chậu. Hai năm sau, ông đặt tên là Brontosaurus cũng dựa vào một cơ sở sơ sài tương tự khi kết hợp đầu của một loài động vật có chân thằn lằn từ khu vực này với bộ xương của một động vật có chân thằn lằn từ khu vực khác. Dù một số đồng nghiệp đặt câu hỏi về sự kết hợp này, nhưng danh tiếng của Marsh đã giúp duy trì cái tên Brontosaurus cho đến năm 1975, khi các nhà cổ sinh vật học đánh giá lại một số mẫu vật và quyết định rằng Brontosaurus và Apatosaurus là cùng một con thú. Và dựa trên các quy tắc của danh pháp khoa học, vì tên gọi Apatosaurus xuất hiện trước nên tên gọi Brontosaurus không còn giá trị nữa. (Tên gọi Brontosaurus vẫn còn được giữ lại một phần do các viện bảo tàng chậm cập nhật thông tin trưng bày, vì vậy cái tên này vẫn tồn tại trong nhận thức của công chúng.) Tuy nhiên, theo một số nhà khoa học, Brontosaurus có thể là một cái tên có căn cứ! Họ đã so sánh các bộ xương cũ khác nhau và cho rằng các mảnh xương ban đầu của Marsh đủ khác biệt với Apatosaurus để được coi là một loài riêng biệt. Vì vậy, tên gọi Brontosaurus được yêu quý có thể sẽ trở lại. Thời gian sẽ giải đáp vấn đề này…
☆
[*] Để chắc chắn, không phải tất cả các loài khủng long của Cope và Marsh đều được công nhận trong thời điểm hiện nay, đặc biệt là không phải dưới tên ban đầu của chúng. Có lẽ hơn bất kỳ ngành khoa học nào khác, cổ sinh vật học đòi hỏi phải liên tục tập hợp, chia tách và phân loại lại các bằng chứng, và các loài mới luôn thay đổi giữa trạng thái tồn tại và không tồn tại. Ví dụ, trong số 26 chi do Cope tìm ra, chỉ có 3 chi còn tồn tại ngày nay. Nhưng bất kể việc phân tích nó như thế nào, những tài liệu phân loại của Cope và Marsh đều đáng kinh ngạc.
☆
[*] Một ví dụ kinh hoàng về sự độc ác của Đức Quốc xã liên quan đến những chiếc bàn đặc biệt được trang bị ống tia X bên dưới ghế. Phụ nữ thuộc các tầng lớp “không ai ưa” sẽ phải ngồi vào chiếc ghế trong khi họ điền vào một số mẫu đơn vô thưởng vô phạt. Họ sẽ bị tấn công bằng tia X một cách bí mật, một phần của âm mưu khiến họ vô sinh.
☆
[*] Trên thực tế, trong tất cả các phương pháp làm ấm được thử nghiệm, đắp chăn cho ai đó và dựa vào thân nhiệt của bản thân tỏ ra kém hiệu quả nhất. Chiếc nồi ánh sáng với 16 bóng đèn cường độ cao hầu như không tốt hơn. Chà xát mạnh tay chân có giúp ích được phần nào, nhưng chỉ khi kết hợp với tắm nước nóng. Rượu thực chất là một chất dự phòng khủng khiếp đối với sự mất nhiệt. Nó tạo ra cảm giác ấm áp tạm thời bằng cách đưa máu dồn về các chi, nhưng nó thực sự làm giảm khả năng giữ nhiệt của cơ thể về lâu dài. Điều đó cho thấy rượu giúp phục hồi nhiệt cơ thể khi mọi người đang tắm vì xu hướng đẩy máu đến các chi giúp giảm bớt áp lực cho tim. Vì vậy, nếu bạn phát hiện ai đó bị hạ thân nhiệt trong tự nhiên, bằng mọi cách, hãy gọi bác sĩ trước. Nhưng trong trường hợp không thể làm điều đó, hãy cho họ vào bồn nước nóng và lấy cho họ thứ gì đó để uống. Một cách ngẫu nhiên, hầu hết mọi người không nhận ra Đức Quốc xã đã tìm cách che đậy hầu hết những hành động tàn bạo này đến mức như thế nào. Trên thực tế, Đế chế này có thể đã ra đi cùng với mọi thứ nếu không nhờ những nỗ lực cố gắng của một bác sĩ Do Thái, Tiến sĩ Leo Alexander. Để biết thêm về công việc đáng kinh ngạc của Tiến sĩ Alexander, hãy xem tập 5 tại samkean.com/podcast.
☆
[*] Công bằng mà nói, có bằng chứng cho thấy Rivers đã bảo vệ ít nhất một người đàn ông tham gia nghiên cứu, một người bạn thân của bà. Bà từng tuyên bố ông đã qua đời và không thể theo dõi trong khi thực tế ông sống chỉ cách trung tâm y tế quận bốn dãy nhà. Người đàn ông này cũng nhận được một liều đầy đủ penicillin để chữa trị giang mai vào năm 1944, một thời điểm khá sớm. Hơn nữa, Rivers không hề đơn độc ở đây. Đến năm 1969, chính phủ Hoa Kỳ đã cân nhắc việc dừng nghiên cứu Tuskegee. Nhưng Hiệp hội Y học Hạt Macon – bao gồm gần như toàn bộ các bác sĩ da đen – đã bỏ phiếu để có thể tiếp tục nghiên cứu. Trên thực tế, các bác sĩ nói rằng nếu họ được cung cấp danh sách bệnh nhân, họ sẽ giấu bệnh nhân về tin thuốc kháng sinh và chuyển họ tới y tá Rivers.
Dù chủ đề này mang lại cảm xúc nào đi nữa, tôi phải khẳng định lại rằng đây không phải là một nỗ lực đổ hết lỗi lầm của Tuskegee sang Rivers (hay các bác sĩ của Hạt Macon). Những người đàn ông và phụ nữ tại Cơ quan Y tế Cộng đồng, những người xây dựng nghiên cứu này, mới là người đáng phải xấu hổ ở đây. Nhưng Rivers đã tham gia và đáng trách theo khía cạnh của bà. Tôi đưa ra ví dụ về bà đơn giản bởi cuộc đời của bà tạo ra một tình huống khó xử hấp dẫn nhất, khi bà bị kẹt giữa hai thế giới, cộng đồng da đen cội nguồn nơi bà sinh ra và cộng đồng khoa học da trắng, những người kiểm soát vận may nghề nghiệp của bà.
☆
[*] Hunter đã bơm mủ hoa liễu vào dương vật của mình để xác định xem bệnh lậu và bệnh giang mai là cùng một bệnh hay là hai bệnh riêng biệt – một điều mà không ai biết vào thời điểm đó. Than ôi, thí nghiệm của ông đã kết thúc ngay từ thời điểm bắt đầu, vì người đàn ông mà ông thu thập mủ – một người Hunter không hề biết đến – hóa ra mắc cả hai bệnh. Kết quả là, Hunter nhận thấy các triệu chứng của cả hai bệnh trên cơ thể và kết luận nhầm rằng bệnh giang mai và bệnh lậu trên thực tế là cùng một bệnh. Sự kết hợp này đã gây ra đủ loại nhầm lẫn cho đến khi một bác sĩ khác giải quyết vấn đề này vào năm 1838. Và dù Hunter có vẻ là người anh hùng khi tự thử nghiệm bản thân, tuy nhiên ông chắc chắn không bỏ qua tất cả các vấn đề đạo đức ở đây. Có điều, không rõ vợ tương lai của ông nghĩ gì về tất cả những điều này – hay liệu Hunter có nói với người đó những gì ông đang làm không.
☆
[*] Tôi không thể đưa toàn bộ câu chuyện vào cuốn sách này, nhưng chuyện Susan Reverby khám phá ra công việc bị chấm dứt từ lâu của Cutler trong một kho lưu trữ – một vụ án mà sau này đã được trình lên Nhà Trắng – rất đáng để bạn đọc tìm hiểu toàn bộ. Hãy xem samkean.com/books/the-icepicksurgeon/extras/notes để biết thêm về câu chuyện này.
☆
[*] Ngay cả Susan Reverby, người đầu tiên tiếp xúc với tội ác của Cutler, đã phản đối ý muốn gọi John Cutler là một con quái vật. Dù bà chắc chắn cho rằng ông phải là người chịu trách nhiệm về những nỗi kinh hoàng tại Guatemala, song với tư cách là một nhà sử học nữ quyền, bà cũng thừa nhận những điều tốt đẹp mà ông đã làm sau này ở các nước đang phát triển.
☆
[*] Ngoài liệu pháp gây hôn mê bằng insulin và sốc điện, một số bác sĩ đã thử liệu pháp trò chuyện Freud với các bệnh nhân ở bệnh viện tâm thần. Nhưng họ sớm nhận ra việc hỗ trợ bệnh nhân và trò chuyện về các vấn đề thể trạng không hiệu quả với những người mắc chứng mất trí thực sự, thường là do chứng rối loạn não hữu cơ gây ra. Vì lý do này, Moniz và Freeman không cho rằng liệu pháp trò chuyện có nhiều tác dụng đối với những người thực sự bị rối loạn tâm thần. Freeman từng châm biếm rằng, bất kỳ người pha chế rượu ở mức trung bình nào cũng có thể thực hiện chức năng thiết yếu tương tự một nhà phân tích tâm lý – lắng nghe một cách đồng cảm.
☆
[*] Sức ảnh hưởng của hội nghị tại London đến Moniz là một điều gây tranh cãi. Moniz sau đó tuyên bố ông ta đã bí mật nghiên cứu về phẫu thuật tâm lý trong nhiều năm trước khi nghe nói về Becky, và một số nhà sử học tin điều đó. Tuy nhiên, câu chuyện này có vẻ hơi mang tính tư lợi, và các nhà sử học khác vẫn còn tranh cãi về thông tin này. Có điều, Moniz cũng tuyên bố đã trò chuyện với các đồng nghiệp về phẫu thuật tâm lý từ rất lâu trước khi tham dự hội nghị London; nhưng khi được hỏi về điều này, các đồng nghiệp của ông ta đều không nhớ về bất kỳ cuộc thảo luận nào. Nhiều bài viết của Moniz về thần kinh học cũng không có bằng chứng nào cho thấy ông ta nghiên cứu về phương pháp phẫu thuật như vậy trước năm 1935. Và một lần nữa, sự thật vẫn còn để ngỏ.
☆
[*] Vấn đề của Rosemary xuất hiện từ lúc mới sinh. Vào một ngày tháng 9 năm 1918, mẹ cô bất ngờ bị vỡ ối và không có bác sĩ nào có mặt để giám sát việc sinh nở. Thật đáng kinh ngạc khi một y tá có mặt ở đó đã bảo bà Kennedy vắt chân vào nhau để giữ đứa bé bên trong. Khi đầu Rosemary thò ra khỏi cửa mình, y tá này đã đẩy cô bé vào trong. Kết quả là, não của Rosemary bị thiếu oxy trong vài phút và không bao giờ bình thường được nữa; khi còn là một đứa trẻ, cô bé gặp phải rất nhiều khó khăn khi học cách cầm thìa và đi xe đạp. Nhưng Rosemary vẫn là một cô gái hoạt bát và được nhiều người coi là cô con gái xinh đẹp nhất của nhà Kennedy. Nhưng đối với một gia tộc đầy tham vọng, cô là một nỗi xấu hổ, và họ đã giam cầm cô trong một tu viện khi cô còn là một thiếu niên. Tất nhiên, Rosemary phản đối điều này, la hét với các nữ tu và lẻn trốn ra ngoài vào ban đêm — mà theo họ, có thể là để tìm đàn ông. Thời đó, một đứa con gái mang thai sẽ làm ảnh hưởng đến vận mệnh chính trị của gia tộc, vì vậy, cha của Rosemary, Joseph bắt đầu tìm hiểu về phẫu thuật thùy não. Kathleen, chị gái của Rosemary, cũng đã xem xét về phương pháp này và thực sự khuyên cha không nên thực hiện, nhưng Joseph đã gạt bỏ ý kiến đó và tiến hành phẫu thuật thùy não cho Rosemary khi vợ ông đi vắng.
John Kennedy luôn đau đáu về việc gia đình mình đã bỏ rơi Rosemary như vậy, và ông đã thúc đẩy thông qua một dự luật cải cách sức khỏe tâm thần trên diện rộng với tư cách là tổng thống. Mục tiêu của dự luật là đóng cửa các bệnh viện tâm thần lớn của tiểu bang để ủng hộ các trung tâm nhỏ hơn đặt tại cộng đồng nhằm cung cấp dịch vụ chăm sóc gần gũi hơn. Thật đáng tiếc, các tiểu bang đã đóng cửa các bệnh viện tâm thần nhưng bỏ qua việc thay thế chúng bằng các trung tâm tại cộng đồng, có lẽ để tiết kiệm chi phí. Sự phổ biến của các loại thuốc tâm thần chỉ khiến các bệnh viện tâm thần sớm trở nên vắng vẻ, và biến mất hoàn toàn kể từ đó.
☆
[*] Ngoài cái tên “lobotomobile xe phẫu thuật”, những tin đồn sai lệch khác về Freeman bao gồm: ông ta đã mất chứng chỉ hành nghề y vào thời điểm nào đó; ông ta sử dụng những chiếc dùi mạ vàng để phẫu thuật; và sau này ông ta đã phát điên. Không có điều nào trong số đó là sự thật.
☆
[*] Một trong những câu chuyện thú vị được yêu thích trong bài giảng của Freeman liên quan đến cuộc trò chuyện của ông ta với một bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật não. Vì não không có các mút cuối thần kinh nên các bác sĩ có thể phẫu thuật nó mà bệnh nhân không cảm thấy đau. Trên thực tế, các bác sĩ thường muốn bệnh nhân tỉnh táo và nói chuyện trong khi phẫu thuật để họ có thể theo dõi và đảm bảo rằng họ không cắt vào bất cứ thứ gì quan trọng. Một ngày nọ, khi đang phẫu thuật, Freeman hỏi bệnh nhân rằng ông này đang nghĩ gì trong đầu. “Một con dao”, người đàn ông trả lời. Freeman thấy chuyện này thật buồn cười.
☆
[*] Ngoài các phương pháp của Moniz (tiêm cồn, cắt mô não bằng vòng dây) và phương pháp của Freeman (cắt mô bằng lưỡi dao cùn, dùng dùi đâm xuyên), một số bác sĩ phẫu thuật khác đã phát triển các phương pháp phẫu thuật thùy não của riêng họ, bao gồm đóng băng mô não, đốt cháy, kích nổ bằng điện hoặc bức xạ, và sử dụng ống hút để hút – Freeman mô tả những phương pháp này một cách đáng nhớ: giống như là sử dụng “máy hút bụi trên một hộp mì Ý”.
☆
[*] Gold có thể viện lý do rằng, việc đánh cắp bí mật khoa học thương mại về cơ bản không phải là hành vi phạm pháp trong thập niên 1930 để biện minh cho hành động đánh cắp thông tin từ Penn Sugar. Đúng hơn, đó là một hành vi phạm tội dân sự. Vì vậy, về lý thuyết, nếu Penn Sugar phát hiện ra hành vi trộm cắp của Gold, họ có thể kiện các công ty Liên Xô. Nhưng thiệt hại thì bạn biết rồi đấy.
☆
[*] Trong khi Gold chỉ cảm thấy hơi căng thẳng sau khi bị bắt, gia đình của ông ta thì ngược lại. Cha và anh trai của ông ta đã nhận được rất nhiều cuộc điện thoại quấy rối, châm biếm với những lời nói bài xích người Do Thái đến mức họ đã xóa số điện thoại của mình. Gold có ý định chống lại chủ nghĩa bài Do Thái bằng cách làm gián điệp, nhưng việc bại lộ thân phận của ông ta thực sự khiến điều đó trở nên tồi tệ hơn.
☆
[*] Như một nhà vật lý người Mỹ sau này đã nói, “Fuchs đã làm việc rất chăm chỉ cho chúng tôi, cho đất nước này. Rắc rối của ông ấy là ông ấy cũng đã làm việc rất chăm chỉ để phục vụ người Nga”. Và thực tế thậm chí còn tồi tệ hơn những gì nhà vật lý này quan sát được. Tuyệt vọng bám trụ những di sản thuộc địa của mình như một cường quốc thế giới, Vương quốc Anh thời hậu chiến mong muốn trở thành một trong những cường quốc hạt nhân đầu tiên trên thế giới. Vì vậy, Klaus Fuchs thực sự đã đánh cắp tài liệu từ Los Alamos cho người Anh. Nhìn chung, Fuchs đóng vai trò chủ chốt trong việc sản xuất bom nguyên tử cho ba quốc gia khác nhau. Nhà vật lý Hans Bethe đã từng nói về Fuchs, “Ông ấy là nhà vật lý duy nhất mà tôi biết đã thực sự thay đổi lịch sử”.
☆
[*] Ngày nay, các phương pháp thẩm vấn hiệu quả nhất ít tập trung vào việc tìm kiếm những lời thú tội mà tập trung nhiều hơn vào việc khiến kẻ xấu tự buộc tội chính mình khi nói quá nhiều. Người ta cho rằng khi một người càng nói nhiều, họ càng có xu hướng mâu thuẫn với chính mình hoặc có thể tiết lộ thông tin chi tiết về hoạt động của họ cũng như các thông tin giả mạo mà cảnh sát có thể điều tra. Cảnh sát cũng có thể sử dụng các thủ thuật như yêu cầu mọi người kể một câu chuyện hoặc yêu cầu họ phác thảo một bức tranh không liên quan trong khi xem lại câu chuyện của họ vì làm vậy sẽ làm tăng “gánh nặng nhận thức” đối với họ và khiến họ khó có thể duy trì lời nói dối trong thời gian dài.
Phải thừa nhận rằng, những phương pháp “nhẹ nhàng” này không đáp ứng mong muốn trả thù của chúng ta – muốn khiến kẻ xấu đáng bị đối xử thô bạo. Nhưng những người vô tội luôn bị bắt vì những cáo buộc sai sự thật. Và nếu mục tiêu của bạn không phải là để trả thù mà chỉ là mong muốn nhìn thấy những kẻ xấu thực sự bị kết án và bị tống giam, thì việc giúp họ thư giãn và để họ nói ba hoa cho đến khi họ tự tấn công chính bản thân sẽ hiệu quả hơn rất nhiều.
☆
[*] Joan xứ Arc là một nữ anh hùng người Pháp, sinh sống trong khoảng năm 1412 – 30 tháng 5 năm 1431. Bà nổi tiếng vì là một lãnh chúa, người chỉ huy quân sự và anh hùng trong các cuộc chiến đấu ở Chiến tranh Trăm Năm giữa Pháp và Anh, và đã được Giáo hội Công giáo La Mã phong thánh.
☆
[*] Hệ thống mã hóa của Kaczynski thể hiện sự thông minh tuyệt đỉnh của anh ta. Nó bắt đầu với một danh sách các ký hiệu bằng số: 4 = THE, 18 = BUT, 1 các dạng thì hiện tại của TO BE, 2 = các dạng quá khứ của TO BE... Danh sách này cũng bao gồm các chữ cái riêng lẻ, với 39 = A, 40 = = B... Nhưng anh ta cũng sử dụng một số ký hiệu hại não. Ví dụ, cả 62 và 63 đều là S, và 45, 46 và 47 đều là E, để loại bỏ mọi nỗ lực sử dụng số lượng tần suất chữ cái để giải mã văn bản. Anh ta thậm chí còn sử dụng các chữ cái khác nhau để thể hiện âm “TH” hữu thanh và vô thanh, và gộp tất cả các dạng của I, MY và MINE lại với nhau dưới một chữ số. Tệ hơn nữa, anh ta cố tình viết sai chính tả các từ, đôi khi bao gồm các chuỗi từ vô nghĩa, và hoán đổi bằng các từ tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha (anh ta có khả năng nói cả hai ngôn ngữ) bất cứ khi nào cảm thấy phù hợp. Tất cả các mánh khóe này – và việc bổ sung các kỹ thuật mã hóa khác – sẽ khiến các mật mã gần như không thể giải mã được nếu không có siêu máy tính và nỗ lực chuyên môn.
☆
[*] Năm 2012, Kaczynski đã gửi một bản cập nhật táo bạo cho tạp chí cựu sinh viên Harvard nhân kỷ niệm 50 năm ngày tốt nghiệp của mình. Thật đáng kinh ngạc, tạp chí đã xuất bản nó. Anh ta liệt kê nghề nghiệp của mình là “tù nhân”, địa chỉ của anh ta là một nhà tù cao cấp nhất ở Colorado, và “giải thưởng” của anh ta là 8 bản án chung thân từ tòa án quận ở California.
☆
[*] John Money cũng không thực sự nổi tiếng vì những kiến thức nghiên cứu cẩn trọng. Một ví dụ cho điều đó liên quan đến một bộ tộc ở Úc tên là Yolngu mà ông ta đến thăm vào năm 1969. Dù chỉ dành hai tuần tại đây song ông ta đã nổi tiếng với một số tuyên bố sâu sắc về đời sống tình dục của họ. Đáng chú ý nhất, ông ta tuyên bố rằng, những người nguyên thủy nhỏ bé, đáng yêu này chỉ thích ở truồng và quan hệ tình dục; theo ông ta, kết quả là những người trưởng thành Yolngu không có biểu hiện cảm xúc hoặc rối loạn thần kinh tình dục, bao gồm cả việc hoàn toàn không mắc chứng ấu dâm và đồng tính luyến ái – vì theo ông ta, cả hai đều là sản phẩm của vấn để hạn chế tình dục của phương Tây. Ngoài việc ngụ ý rằng đồng tính luyến ái là một chứng loạn thần kinh, những kết luận này cũng hoàn toàn là một câu chuyện hoang đường. Các nhà nhân chủng học thực sự sống và nghiên cứu tộc người Yolngu cho biết tất nhiên giữa họ vẫn có đặc điểm đồng tính luyến ái cũng như các vấn đề cảm xúc tình dục. Mọi bộ tộc trên mọi lục địa trong lịch sử loài người đều có những đặc điểm đó. Tuy nhiên, Money vẫn tiếp tục rao giảng về hạnh phúc tình dục của người Yolngu trong nhiều năm liền, phớt lờ mọi chỉ trích mâu thuẫn với lý thuyết của ông ta.
☆
[*] Ngày nay, các nhà tâm lý học sử dụng từ “transgender” (chuyển giới) để mô tả những người có bản dạng giới tính và giới tính sinh lý không đồng nhất. “Transsexual” (Chuyển đổi giới tính) là một thuật ngữ có lịch sử lâu dài hơn, đặc biệt là đối với những người đã trải qua điều trị y tế (bao gồm cả phẫu thuật) để thay đổi giải phẫu hoặc nội tiết tố. Dù thuật ngữ Transsexual ngày nay nghe có vẻ đã lỗi thời, nhưng nó là thuật ngữ phổ biến nhất được sử dụng trong những năm 1960 và 1970. Vì qua sự chính xác trong lịch sử – và vì John Money thực sự đã thúc đẩy mọi người thực hiện các cuộc phẫu thuật – quá trình thể hiện một phần của định nghĩa “transsexual” – do đó tôi sử dụng thuật ngữ này ở đây. Để biết thêm về vấn đề này, hãy tìm hiểu thêm tại www.healthline.com/health/transgender/ difference-between -transgender -and-transsexual.
☆
[*] Đối với khuynh hướng từ nguyên học, Money yêu thích những từ kỳ quặc và tạo ra hàng chục từ trong số đó, bao gồm ycleptanc – hành động đặt tên cho một thứ gì đó; foredoomance – tỷ lệ tử vong; eonist – một người chuyển đổi giới tính; và apotemnophilia – rối loạn cắt cụt chi. Ông cũng phổ biến nhiều cụm từ tối nghĩa khác: limerent – tình trạng ái kỷ; paraphilia – một chứng lãnh cảm tình dục; ephebic – một người vị thành niên; pedeiktophilia – phố dâm; palodigm – một phong tục cổ xưa, man rợ được bảo tồn trong quá khứ với mục đích hữu ích; quim và suive , các thuật ngữ chỉ những gì một người phụ nữ làm với một người đàn ông trong khi quan hệ tình dục khác giới, trái ngược với những gì một người đàn ông làm với một người phụ nữ; autoagonistophilia – khoái cảm tình dục khi được người khác theo dõi hoặc ngắm nhìn, và tất nhiên có phucktolog y – nghiên cứu về tình dục.
☆
[*] Không giống như một số môn đồ sau này của ông ta, Money không tin rằng giới là một thứ vô cùng linh hoạt. Thay vào đó, ông ta lập luận về một giai đoạn quan trọng – “cổng bản dạng giới tính” – trong vài năm đầu đời của một đứa trẻ. Ông ta so sánh giai đoạn này với việc học một ngôn ngữ. Bộ não của trẻ có cơ sở để tiếp thu ngôn ngữ, nhưng rõ ràng ngôn ngữ đó là tiếng Tagalog hay tiếng Nhật hay tiếng Pháp phụ thuộc vào môi trường mà chúng lớn lên. Ngay từ đầu, ông ta khẳng định, não bộ của trẻ em có khả năng tiếp nhận bản dạng giới. Và trái ngược với sự đồng thuận hiện đại, Money tin rằng bằng cách nuôi dạy con cái trong những môi trường khác nhau, ít nhiều bạn có thể lựa chọn giới tính của chúng theo ý muốn. 2 Thật khó để biết chính xác quan điểm của Money là gì – ông ta là một tác giả yếu kém, gần như không ai biết đến. Trong một số khía cạnh, ông ta cho thấy sự hiểu biết tinh vi về tác động qua lại của di truyền và môi trường trong việc tạo nên con người của chúng ta. Và không giống như những môn đồ cấp tiến nhất của mình, ông ta không bao giờ bác bỏ hoàn toàn yếu tố sinh học khi cho rằng nó đã định hình chúng ta. Tuy nhiên, tại những thời điểm khác, ông ta lại bác bỏ sinh học và coi các yếu tố xã hội là quan trọng nhất. Tôi luôn thầm hoài nghi (có lẽ là không công bằng), rằng sự thừa nhận của ông ta về di truyền và các yếu tố sinh học khác chỉ là lời nói đãi môi, và sâu thẳm bên trong ông ta là một nhà kiến tạo xã hội cứng rắn.
☆
[*] Không rõ tại sao Money và cha mẹ của Brenda cảm thấy cần phải tiếp tục gặp nhau khi họ cứ mãi che giấu sự thật đang diễn ra. Có thời điểm, họ giải thích rằng một bác sĩ đã mắc sai lầm “ở dưới đó” từ lâu về trước và kết quả là cô bé cần được chăm sóc y tế; có lẽ điều đó đã làm an lòng một đứa trẻ.
☆
[*] Vì đã bị cắt bỏ tinh hoàn nên Brenda không trải qua tuổi dậy thì thực sự như nam giới, nhưng cơ thể của cô bé cũng trải qua một số thay đổi tương tự. Chúng ta có thể thấy một điều tương tự ở castrati các ca sĩ hợp xướng người Ý từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX bị thiến khi còn nhỏ để duy trì giọng hát của họ. Ngược lại, castrati thường cao hơn mức trung bình dù thiếu testosterone và các hormone liên quan. Testosterone có thể thúc đẩy tăng trưởng trong thời gian ngắn, nhưng nó cũng gây ra một số thay đổi sinh lý, trong đó chấm dứt quá trình phát triển của các sụn tiếp hợp tăng trưởng ở phần cuối xương dài – vị trí giúp chúng ta phát triển chiều cao. Vì castrati thiếu testosterone nên phần sụn tăng trưởng của họ vẫn phát triển trong thời gian dài hơn và giúp họ cao hơn so với trung bình. Castrati cũng trải qua những thay đổi cơ thể khác. Tương như tay chân, ngực của họ thường lớn hơn bình thường. Việc thiếu testosterone khiến dây thanh quản cũng không bao giờ dài ra và dày lên như ở hầu hết nam giới. Và các tuyến giáp trong cổ họng không bao giờ phình to ra cùng với phần sụn, điều đó có nghĩa là họ thiếu trái táo Adam ở vùng cổ. Tóm lại, những thay đổi này để lại cho castrati chất giọng cao, thuần khiết, có thể leo tốt vào quãng giọng nữ cao, và kích thước ngực nở ra đồng nghĩa với việc họ có thể hát với sức mạnh khác thường.
☆
[*] Thật vậy, trong một bài đánh giá về cuốn sách liên quan đến David Reimer, tờ Washington Post khẳng định cách Money “xử lý trường hợp sinh đôi được cho là một sơ suất”. Công bằng mà nói, một số bệnh nhân đã bảo vệ John Money với lòng biết ơn vì những hành động mà ông ta đã thực hiện để hỗ trợ những người chuyển đổi giới tính và các nhóm yếu thế khác trong những năm 1960 và 1970, thời điểm mà những nhóm này bị xã hội chính thống coi là quái đản. Tuy nhiên, bất chấp những người bảo vệ này, nhiều trường hợp như David Reimer đã xảy ra trong hai thập kỷ qua – những người có ký ức đau đớn về chấn thương tâm lý và thể chất mà họ phải chịu đựng sau khi bị Money và những người khác buộc họ phẫu thuật chuyển đổi giới tính.
☆
[*] Ngày nay, nhiều nhà tâm lý học tin rằng sự tương tác giữa giới tính và giới diễn ra như sau: Ở cấp độ cơ bản, gen và các yếu tố sinh học khác xác định phạm vi của chúng ta. Có nghĩa là, nếu bạn vẽ biểu đồ một đặc điểm như nam tính hoặc nữ tính trên thang điểm 10, thì sinh học và gen có thể định vị bạn ở khoảng giữa, chẳng hạn như mức 4 hoặc 6. Môi trường và trải nghiệm sẽ xác định con số chính xác mà bạn đạt được, hoặc có thể thay đổi bạn theo thời gian. Những người khác nhau với các gen khác nhau có thể nằm trong khoảng từ 1 đến 2, hoặc 6 đến 10, và tất nhiên trải nghiệm độc đáo sẽ ảnh hưởng đến mức điểm họ đạt được. Nhưng cả hai khía cạnh, sinh học và văn hóa, đều đóng một vai trò nhất định.
☆
[*] Các nhà tâm lý học hiện nay tin rằng não bộ, không phải bộ phận sinh dục hoặc các yếu tố giải phẫu khác, là yếu tố quyết định chính đến bản sắc tình dục và khả năng sinh sản của chúng ta như trong câu nói bất hủ của Jackie Treehorn, “Mọi người quên rằng não bộ là vùng kích thích tình dục lớn nhất mà chúng ta có.”
☆
[*] Các luật sư tại phòng xử án đã quen thuộc với Hiệu ứng CSI – những kỳ vọng vô lý mà người không có chuyên môn dành cho khoa học pháp y do một thứ văn hóa đại chúng gây ra. Nhưng họ tập trung vào việc liệu Hiệu ứng CSI sẽ giúp ích cho bên bào chữa hay bên công tố không. Một số người không có kiến thức chuyên môn tin rằng khoa học pháp y là không thể sai lầm: Họ rất ngưỡng mộ nó và coi bất cứ điều gì các chuyên gia nói đều là sự thật. Điều này sẽ mang lại lợi ích cho cơ quan công tố. Sau đó, một lần nữa, bởi các kỹ thuật viên của CSI luôn đạt được kết quả hoàn hảo, do đó một số bồi thẩm viên đã thất vọng khi các nhà khoa học ngoài đời thực không thể khớp với độ chính xác đó và coi kết quả là vô giá trị. Thái độ này sẽ có lợi cho quá trình bào chữa.
☆
[*] Một lãnh thổ băng giá không có chủ quyền khác, Nam Cực, đã chứng kiến một số lượng tội phạm đáng kinh ngạc. Năm 1959, hai nhân viên Liên Xô tại một cơ sở nghiên cứu ở đó cãi nhau về một trận cờ vua và nó kết thúc khi một người dùng rìu giết người kia. (Các căn cứ của Liên Xô được cho là đã cấm cờ vua kể từ thời điểm đó.) Năm 1983, một bác sĩ điên cuồng người Argentina đã đốt cháy trạm nghiên cứu của mình để buộc mọi người phải sơ tán và trở về nhà trước thời hạn. Vào năm 1996, một đầu bếp người Mỹ dùng phần đầu nhọn của một chiếc búa để giết một đầu bếp khác sau một cuộc tranh cãi. Gần đây nhất, tại một căn cứ ở Nga vào năm 2018, một kỹ sư đã dùng dao đâm vào ngực một thợ hàn – bởi theo báo – cáo – người thợ hàn đã xúc phạm nhân cách của người kỹ sư khi dùng tiền để yêu cầu người kỹ sư nhảy múa trên bàn, hoặc người thợ hàn liên tục kể lể phần kết của những cuốn sách mà anh kỹ sư đang đọc. (Nếu là tình huống sau, tôi phải nói rằng tôi đứng về phía người kỹ sư.)
liên Tuy nhiên, theo một số khía cạnh, Nam Cực không hoàn toàn giống một đảo băng. Tất cả các tội ác cho đến nay chỉ quan đến công dân của một quốc gia (ví dụ, một người Nga tấn công một người Nga khác) và các căn cứ ở đó về cơ bản được coi là lãnh thổ có chủ quyền. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, những kẻ vi phạm có thể đã thách thức việc bắt giữ và tống giam vì Nam Cực hoàn toàn không có luật.
☆
[*] Đầu năm 2020, các phi hành gia trên Trạm Vũ trụ Quốc tế đã đạt được một cột mốc quan trọng khi nướng được thực phẩm đầu tiên trong không gian vũ trụ, bánh quy sô-cô-la. (Các phi hành gia thường hâm nóng thức ăn, nhưng họ chưa bao giờ thực sự nướng thứ gì đó trước đây.) Đã có một suy đoán trước khi thực hiện thử nghiệm rằng, do đặc điểm khác thường của đối lưu và trao đổi nhiệt trong môi trường không trọng lực, những chiếc bánh quy sẽ có hình cầu. Đáng buồn thay, điều đó đã không xảy ra; chúng vẫn có hình dẹt. Nhưng có một điều ngạc nhiên. Ở mức nhiệt 150°C, lò nướng trên Trái đất sẽ nướng bánh quy trong vòng 20 phút. Nhưng trong không gian, quá trình này mất 2 giờ. Và thật đáng thất vọng, với sự thận trọng của NASA ngày nay, cơ quan này sẽ không để các phi hành gia của mình ăn những chiếc bánh đó. Thay vào đó, những chiếc bánh được niêm phong và đưa trở về Trái đất để nghiên cứu thêm, nhằm xác định xem chúng có an toàn để sử dụng hay không. Hãy tưởng tượng bạn bị giới hạn thực phẩm ngoài không gian trong nhiều tháng, và cuối cùng ngửi thấy một thứ gì đó đậm đà và tươi mới — chỉ để nó bị giật đi mất! Thật là vô nhân đạo.
☆
[*] Điều đáng kinh ngạc là 40 triệu người trên thế giới hiện đang bị bắt làm nô lệ, hầu hết trong các ngành đánh cá, khai thác mỏ và sản xuất gạch ở các nước đang phát triển. Mặc dù các trại nô lệ có thể dễ dàng lẩn tránh sự phát hiện trên mặt đất, nhưng họ không thể trốn tránh các vệ tinh. Các thuật toán AI có thể tìm hiểu các đặc điểm phân biệt của các trại nô lệ và nhanh chóng sắp xếp thông qua các hình ảnh vệ tinh để xác định vị trí của chúng.
