Tấn Bi Kịch Z

Lượt đọc: 640 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
lá thư thứ sáu

Phát hiện này bị chậm lại một lúc.

Từ hành lang vẳng đến tiếng lao xao và tiếng bàn chân lê bước. Sau đó, một trong các thanh tra của Kenyon đứng trước cửa ra vào thì thầm gì đó như thể hối tiếc rồi bước sang bên, quỳ một gối xuống, giống như đang chào đón sự hiện diện của hoàng gia. Tất cả các cuộc nói chuyện chấm dứt. Tôi tự hỏi con người mạnh mẽ này là ai, mà có thể khiến một nhân vật lãnh đạm trong bộ áo quyền lực phải nhượng bộ.

Nhưng người đàn ông xuất hiện ngay sau đó có diện mạo chẳng ghê gớm gì. Đó là một ông già có sắc mặt hồng hào, đầu hói nhẵn thín với gò má cao, đặc điểm thường thấy ở những người ông hiền từ. Cái bụng phệ nhỏ rung rinh như một phúc lành. Quần áo của ông ta không vừa vặn, chiếc áo khoác ngoài còn tệ hơn nhiều.

Và rồi khi để ý đôi mắt, ngay lập tức tôi phải sửa lại ấn tượng đầu tiên của mình về ông ta. Người này là một thế lực được xem trọng tại bất kỳ công ty nào. Những đường gân xanh dưới đôi lông mày ông ta viền quanh hai tảng băng; cứng rắn, tàn bạo, đôi mắt của nhà hiền triết với mớ kiến thức đầy những điều xấu xa. Đôi mắt ấy không chỉ mang nét xảo quyệt đơn thuần, mà còn ác độc tuyệt đối. Và chúng càng trở nên khủng khiếp hơn khi kèm theo nụ cười hân hoan trên đôi má hiền từ, cái sọ hồng hào của ông ta thận trọng đu đưa sang hai bên.

Tôi sững sờ quan sát John Hume - nhà cải cách đi ngang phòng xiết chặt đôi tay nhỏ bé mập mạp của ông già, vẻ tôn trọng và sung sướng hiện rõ mồn một. Phải anh ta đang diễn không? Dường như không có khả năng anh ta không chú ý đến ánh nhìn lạnh giá, tàn bạo trong đôi mắt ông già. Nhưng có lẽ tuổi trẻ, năng lượng và tính ngay thẳng của chính anh ta cũng chỉ là lớp ngụy trang như nụ cười của kẻ mới đến… Tôi liếc nhìn bố, nhưng chẳng phát hiện được gì trên gương mặt chân thành, xấu xí như người chết của ông.

“Vừa nghe tin xong,” ông già bé nhỏ cất tiếng lanh lảnh với giọng kim như trẻ con. “Khủng khiếp, John, thật khủng khiếp. Tôi vội vã đến đây nhanh hết sức. Có tiến triển nào không?”

“Một chút thôi,” Hume đáp, bối rối. Anh ta dẫn kẻ mới đến đi quanh phòng. “Cô Thumm, cho phép tôi giới thiệu với cô người đang nắm giữ vận mệnh chính trị của tôi chứ? - Rufus Cotton. Và đây, Rufe, là thanh tra Thumm của New York.”

Rufus Cotton cúi đầu và mỉm cười, xiết chặt tay tôi rồi nói, “Đúng là một vinh hạnh bất ngờ, thưa cô,” đôi má mũm mĩm võng xuống, ông ta nói thêm. “Chuyện này thật khủng khiếp,” vẫn đang nắm tay tôi, ông ta quay sang bố tôi. Tôi giằng tay ra cố gắng tỏ vẻ bình thường, nhưng dường như ông ta không để ý. “Vậy ra đây là thanh tra Thumm vĩ đại! Đã từng nghe nói đến ngài rồi, từng nghe nói rồi. Bạn cũ của tôi trong thành phố, ủy viên Burhage - vào thời của ngài, đúng không? - đã từng kể rất nhiều chuyện hay về ngài.”

“Hừm,” bố tôi nói, vui vẻ giống nhân vật Punch. “Ông là người đứng sau Hume à? Tôi cũng đã nghe nói về ông, Cotton.”

“Vâng,” Rufus Cotton kêu ré lên, “John sẽ trở thành thượng nghị sĩ tiếp theo từ hạt Tilden. Tôi đang cố gắng tí chút giúp cậu ấy tạo ấn tượng. Giờ thì có chuyện này - người chết, trời ạ!” Ông ta kêu cục cục như một con gà trống già, suốt thời gian đó đôi mắt mang nọc độc lấp lánh của ông ta không hề chớp. “Giờ xin ngài thanh tra và quý cô đây lượng thứ,” ông ta nói tiếp, quay sang tôi tươi cười, “John và tôi sẽ bàn về chuyện này. Chuyện khủng khiếp, như tôi nói. Có thể có quan hệ trọng đại đến vị thế chính trị…” vẫn đang nói lắp bắp, ông ta kéo tay công tố viên trẻ sang bên, trong vài phút họ đứng đó chụm đầu lại trao đổi bằng tông giọng thấp nôn nóng. Tôi nhận thấy Hume là người nói hầu hết, mái đầu tay chính trị gia lớn tuổi thi thoảng lắc mạnh, đôi mắt khác thường của ông ta nhìn chằm chằm khuôn mặt chàng thanh niên được đỡ đầu… Cái nhìn của tôi về chàng hiệp sĩ chính trị trẻ tuổi trong bộ giáp sáng này trải qua một sự thay đổi. Trước đó cũng như bây giờ, tôi ngày càng kinh ngạc hơn nhiều khi hiểu rằng cái chết của thượng nghị sĩ Fawcett là một vận may tuyệt vời không thể đong đếm đối với Hume, Cotton và phe phái mà họ đại diện. Với sự liên quan đến những tiết lộ về nhân cách thật của nạn nhân, chắc chắn bảo đảm cho việc ứng cử của ứng cử viên cải cách. Không một ai phe của Fawcett được tiến cử làm thượng nghị sĩ trong cơn rối loạn vì thảm kịch.

Bắt gặp một tín hiệu của bố, tôi bước nhanh đến bên ông. Khám phá…

• • •

Lẽ ra tôi nên biết và tôi cay đắng tự nhủ với mình. “Patience Thumm, mày là một con ngốc số dách!” khi thấy điều gì đang làm phiền bố tôi.

Ông đang quỳ xuống trước lò sưởi sau bàn làm việc, tìm hiểu điều gì đó với sự quan tâm đáng kể. Một viên thanh tra đang nói gì đó bằng giọng thấp, và tay thợ ảnh đang bận rộn đứng một bên chụp ảnh phía trong lò sưởi. Một ánh đèn xanh chớp lên, và có một tiếng nổ bị bóp nghẹt; căn phòng tràn ngập khói. Tay thợ ảnh ra hiệu bố tôi đứng sang bên, rồi chụp lần nữa cái gì đó nằm trên mép thảm chùi chân liền kề lò sưởi, đối diện ngay vỉ lò. Tôi thấy đó là hình dáng mũi giày chân trái của ai đó hằn sâu. Tro tàn từ trong lò sưởi vương vãi bừa bãi chút ít trong phòng: ai đó đã vô tình dẫm phải chúng… Tay thợ ảnh càu nhàu bắt đầu gói ghém lại đồ đạc. Tôi đồ rằng đây là công việc cuối cùng của ông ta. Ai đấy đã nói rằng các tấm ảnh người chết và những nơi khác trong căn phòng được chụp trước khi chúng tôi đến.

Tuy nhiên, đối tượng khiến bố tôi quan tâm không phải là vết mũi giày trên thảm, mà là thứ trong chính lò sưởi. Trông có vẻ vô hại - một dấu chân đã mờ đáng kể nhưng không thể nhầm lẫn in sâu vào lớp tro mỏng sáng màu nằm trên cùng đống tro cũ hơn và tối màu hơn, hoàn toàn tách biệt đến ngạc nhiên, rõ ràng là phần còn lại của đống lửa buổi tối.

“Con nghĩ sao về thứ này, Patty?” Bố tôi thốt lên khi tôi vươn cổ qua vai ông. “Theo con nó trông giống cái gì?”

“Dấu giày chân phải của đàn ông.”

“Chính xác,” bố tôi nói, rồi đứng dậy. “Còn một điều nữa. Thấy sự khác biệt về độ đậm giữa lớp tro trên cùng dấu giày in lên đó, với lớp tro bên dưới không? Một thứ khác đã bị đốt cháy, nhóc ạ. Bị đốt mới đây thôi, và bị dập tắt bằng giày. Giờ thì tên ác quỷ nào đã đốt nó, và thứ bị hắn đốt là cái quái quỷ gì?”

Tôi biết nhưng không nói gì.

“Còn giờ là dấu vết nữa, dấu mũi giày này,” bố tôi lẩm bẩm, nhìn xuống tấm thảm. “Đường nét còn khá rõ. Có vẻ hắn đứng ngay trước lò sưởi, bàn chân trái dẫm lên lớp tro trên thảm rồi hắn đốt cái gì đó trong lò sưởi, dùng chân phải dập tắt… Đúng chưa nào?” bố tôi càu nhàu điều gì đó với tay thợ ảnh, ông ta gật đầu. Bố tôi lại quỳ xuống và bắt đầu thận trọng đào bới giữa lớp tro sáng màu. “Ha!” ông kêu lên, đứng thẳng dậy đắc thắng, trong tay ông là một mẩu giấy nhỏ xíu.

Đó là một tờ giấy mịn dày, không nghi ngờ gì nữa nó là một phần của tờ giấy mới bị đốt cháy. Bố tôi xé ra một phần rất nhỏ từ mẩu giấy rồi châm lửa đốt. Đám tro này đồng màu với phần tro sáng màu trong lò sưởi.

“Chà,” ông nói, đưa tay gãi đầu, “ra thế. Mẩu giấy này xuất phát từ chỗ mẹ nào nhỉ? - Bố xin lỗi Patty. Bố tự hỏi…”

“Từ tập giấy trên bàn làm việc,” tôi bình tĩnh đáp, “Con thấy nó ngay lập tức, bố ạ. Đó là loại đồ dùng văn phòng chất lượng cực tốt thượng nghị sĩ đã dùng, dù ông ta nói dối rằng đó chỉ là tập giấy thấm.”

“Chúa ơi, Patty, con đã đúng về chuyện này!” Ông lao đến bàn làm việc. Chúng tôi biết ngay khi ông so sánh phần còn lại của tờ giấy bị đốt với tờ ghi chú còn nguyên, rằng nó chính là một tờ trong tập giấy này đúng như tôi đã dự đoán. Bố tôi lẩm bẩm: “Đúng, nhưng điều này chẳng cho chúng ta biết được nhiều. Làm sao chúng ta biết nó được đốt khi nào? Có thể là đã nhiều giờ trước khi tội ác diễn ra ở đây. Có thể đích thân Fawcett… Chờ một chút.” Ông chạy lại phía lò sưởi, lại lục tìm trong đám tro. Và một lần nữa ông lại tìm thấy một thứ - lần này từ trong đám tro tàn mong manh đẹp mắt ấy, ông lôi ra một miếng vải lanh dài dán băng keo nhớp nháp. “Đúng, cái này ghim vào nó. Một phần miếng băng keo của tờ giấy ghi chú. Dính chặt vào tờ giấy, và khi tờ giấy bị đốt, mảnh băng keo này đã không bị cháy. Nhưng bố vẫn…”

Ông quay lại cho Hume và ông Rufus Cotton xem những gì mình tìm được. Lợi dụng lúc họ đang nói chuyện với nhau, tôi làm một vòng thám thính riêng. Dòm xuống dưới gầm bàn, tôi thấy thứ mình đang tìm - một thùng giấy rác. Nó hoàn toàn trống trơn. Rồi tôi lục qua các ngăn kéo của bàn làm việc nhưng không tìm được thứ mình muốn - một tập giấy ghi chú khác đã dùng rồi hoặc chưa dùng. Nên tôi lẻn ra khỏi phòng làm việc và thầm lặng bám theo Carmichael. Tôi thấy anh ta trong phòng vẽ đang thanh thản đọc một tờ báo - dưới con mắt theo dõi của một thám tử cố gắng tỏ ra ngây thơ, như quả trứng mới nở của W.S.Gilbert.

“Ngài Carmichael,” tôi hỏi gặng, “tập giấy ghi chú trên bàn của thượng nghị sĩ có phải là tập giấy duy nhất trong nhà không?”

Anh ta nhảy dựng lên, vò nát tờ báo. “Tôi… cô nói gì. Tập giấy à? À đúng, đúng. Tập duy nhất. Có những tập giấy khác nhưng dùng hết rồi.”

“Lần cuối cùng sử dụng nó là khi nào, ngài Carmichael?”

“Hai ngày trước. Chính tay tôi đổ thùng carton đi mà.”

Tôi quay về phòng làm việc suy nghĩ rất lung. Có quá nhiều khả năng khiến bộ não của tôi quay mòng mòng; nhưng cũng có quá nhiều manh mối đang thiếu. Rốt cuộc có manh mối nào khác không? Liệu mình có khả năng chứng minh điều giờ đây mình nghi ngờ… ?

Những suy đoán của tôi đột ngột khựng lại.

• • •

Ngay tại đây mà cả buổi tối nay lần lượt kẻ sát nhân, cảnh sát, chúng tôi rồi Rufus Cotton bước vào, bất ngờ xuất hiện một nhân vật nổi bật. Dù hữu hình hay không, tay thanh tra đi cùng người này chẳng hề tận dụng cơ hội, bàn tay to bè của anh ta xiết chặt cánh tay trên của người phụ nữ, nét mặt rất cau có.

Bà ta có vóc người quá cao, quá thô và vạm vỡ như một phụ nữ Amazon. Ngay lập tức tôi cho rằng bà ta khoảng bốn mươi bảy tuổi, không ủng hộ sự nhạy bén của tôi - bà ta chẳng hề cố gắng giấu giếm đi tuổi tác của mình. Trên khuôn mặt nam tính và cục mịch, bà ta không hề thoa phấn hoặc tô son, cũng như không tẩy đi hàng ria mép nổi bật trên bờ môi dày. Mái tóc màu nâu đỏ gớm ghiếc của bà ta được che phủ bằng chiếc mũ phớt, tôi chắc chắn nó được mua tại một cửa hàng bán quần áo của đàn ông hơn là của phụ nữ. Phục trang của bà ta không phân biệt giới tính: vì bà ta ăn mặc quần áo nam tính đến kinh ngạc. Một chiếc áo veston có ve áo cài chéo; một cà vạt của nam giới thắt lỏng trên cổ họng… ấn tượng chung về người phụ nữ này đó là đáng sợ. Tôi kinh ngạc nhận ra ngay cả eo lưng của bà ta cũng hồ cứng ngắc, thời trang theo kiểu đàn ông, hai cổ tay áo thòi ra từ hai ống tay áo vest cài khuy măng sét, chạm khắc rất đẹp có thiết kế bằng kim loại lạ lùng.

Còn một điều nữa ngoài vẻ kỳ quái tạo sự cuốn hút ở người phụ nữ phi thường này. Đôi mắt bà ta như hai viên kim cương, sắc sảo và long lanh. Giọng nói của bà ta khi cất tiếng rất trầm và mềm mại, lại vừa khàn khàn lãnh đạm nghe không hề khó chịu. Và bất chấp vẻ ngoài kỳ dị, bà ta là người phụ nữ cơ trí - mặc dù thuộc kiểu người thô lỗ, hoang dã. Tôi không nghi ngờ rằng đây là Fanny Kaiser.

Kenyon bừng tỉnh khỏi trạng thái ngủ mê, kêu rú lên: “Xin chào, Fanny!” với tông giọng như mấy cha chiến hữu gặp nhau khiến tôi thất kinh. Người đàn bà này là ai?

“Xin chào Kenyon,” giọng bà ta ồm ồm. “Chết tiệt mắt mũi của anh, muốn véo anh một cái quá? Chuyện gì đang diễn ra ở đây thế?”

Chỉ một cái liếc mắt bà ta thấy hết mọi người - Hume, bà ta gật đầu lãnh đạm, Jeremy, bà nhìn lướt qua nét mặt không thể hiện gì; bố tôi, khiến bà ta trầm tư; và đến tôi, bà ta nhìn khá lâu với ánh mắt như kiểu ngạc nhiên. Đảo hết một vòng, bà ta nhìn chằm chằm vào đôi mắt công tố viên, hỏi gặng: “Tất cả câm hết rồi à? Sự náo động này là gì đây? Joe Fawcett đâu? Ai đó nói xem nào!”

“Mừng vì bà đã ghé qua, bà Fanny,” Hume nói nhanh. “Chúng tôi muốn nói chuyện với bà. Hãy đến với chúng tôi. À… mời vào, mời vào!”

Bà ta nghe theo với những bước dài chậm rãi, dậm thình thịch, to bè như trong vần thơ của bài Il Penseroso * ; những ngón tay của bà ta thọc vào túi áo ngực rộng khi bước vào, rút ra một điếu xì gà to, mập mạp trầm tư ngậm giữa đôi môi dày. Kenyon nặng nề tiến lên phía trước tay cầm một que diêm. Bà ta rít một hơi thuốc, liếc mắt một cái về phía bàn làm việc, cắn chặt điếu xì gà giữa hàm răng trắng bóng.

“Thế nào?” bà ta càu nhàu, tựa người vào bàn. “Đã xảy ra chuyện gì với Quý ngài thượng nghị sĩ thế?”

“Bà không biết?” Hume lặng lẽ hỏi.

Đầu điếu xì gà hếch lên thành hình vòng cung chậm rãi. “Tôi ư?” Điếu xì gà hạ xuống. “Làm thế quái nào tôi biết được?”

Hume quay sang viên thanh tra dẫn người phụ nữ này vào. “Có chuyện gì vậy Pike?”

Anh ta cười toét. “Bà ấy mặt dày mày dạn tiến đến - đi thẳng vào nhà, và khi đến cửa trước nhìn thấy mấy người đang đứng dưới những ánh đèn thì bà ấy có vẻ ngạc nhiên. Nên bà ấy nói: “Chuyện quái gì đang diễn ra ở đây thế?” Và tôi nói: “Tốt hơn bà nên vào xem, bà Fanny. Công tố viên đang tìm bà.”

“Bà ấy có cố gắng vùng thoát, chạy trốn không?”

“Bình tĩnh đi, Hume,” Fanny Kaiser đột ngột ngắt lời. “Để làm cái khỉ gì chứ? Và tôi vẫn đang đợi một lời giải thích đây.”

“Được rồi,” Hume thì thầm với cậu thanh tra, anh ta bước ra ngoài. “Giờ bà Fanny, tôi cho rằng bà nên cho tôi biết tại sao tối nay bà đến đây.”

“Điều đó liên quan gì đến cậu?”

“Bà đến đây để gặp thượng nghị sĩ, đúng không?”

Bà ta vỗ vỗ điếu xì gà. “Chắc không mong tôi đến đây để gặp Tổng thống đấy chứ? Thế nào, đến đây chơi thôi cũng trái luật à?”

“Không,” Hume mỉm cười. “Cho dù tôi có những nghi ngờ, bà Fanny. Vậy là bà không biết chuyện gì đã xảy ra với ông bạn thượng nghị sĩ của bà?”

Đôi mắt bà ta lóe lên giận dữ, bỏ điếu xì gà xuống. “Này, chuyện gì thế? Chắc chắn là không? Biết rồi còn hỏi làm gì đúng không? Trò khôi hài gì thế?”

“Trò khôi hài, bà Fanny,” Hume nói bằng giọng thân thiện, “đó là tối nay thượng nghị sĩ đã từ bỏ thế gian này.”

“Nghe này, Hume,” Kenyon nghiến răng kèn kẹt, “Cậu đang nghĩ cái quái gì thế hả? Bà Fanny không…”

“Vậy là ông ta đã chết,” Fanny Kaiser chậm rãi nói. “Chết rồi, đúng không? Chà. Hôm nay còn đây, ngày mai đã chết… Chỉ là bị vứt bỏ như thế, đúng không nhỉ?”

Bà ta không hề tỏ ra ngạc nhiên chút xíu nào. Nhưng tôi có nhận thấy các cơ xương hàm của bà ta nghiến chặt, đôi mắt bà ta nheo lại cảnh giác đề phòng.

“Không đâu, Fanny. Ông ta không bị vứt bỏ như thế.”

Bà ta rít từng hơi đều đặn. “Ôi! Thế là tự sát à?”

“Không, Fanny. Mà là bị giết.”

Bà ta lại nói “Ôi!”, và tôi biết rằng bất chấp vẻ điềm tĩnh, bản thân bà ta đã được tôi luyện trước biến cố này, bà ta chờ đợi nó và có lẽ đồng thời khiếp sợ nó.

“Vậy là bà Fanny,” công tố viên vui vẻ tiếp tục, “bà biết lý do tại sao chúng tôi hỏi những câu hỏi. Bà có hẹn với ngài Fawcett tối nay à?”

“Chắc chắn điều này cho cậu một đầu mối tốt, Hume… Cuộc hẹn à?” Bà ta lơ đãng nói ồm ồm. “Không. Không, tôi chỉ ghé qua thôi, ông ta không biết là tôi sẽ đến…” Bà ta nhún đôi vai rộng, bất ngờ quyết định lẳng điếu xì gà vào lò sưởi - qua vai mình. Tôi nhận thấy, bà ta làm được điều đó mà không cần nhìn. Vậy thì quý bà này phải quen thuộc phòng làm việc của thượng nghị sĩ như lòng bàn tay. Khuôn mặt bố tôi càng vô cảm hơn nữa; cả ông cũng đã thấy được ý nghĩa trong hành động của bà ta. “Giờ thì nghe đây nhóc,” bà ta nói xấc xược với Hume. “Tôi biết trong óc mọi người đang nghĩ điều gì. Cậu là một chàng trai tốt nhưng đừng đổ hết mọi thứ lên đầu Fanny Kaiser bé nhỏ này. Chẳng lẽ tôi còn gan bước chân vào đây nếu có liên quan gì đến vụ giết người chết tiệt này à? Đừng làm phiền tôi nữa, tôi về đây.”

Bà ta bước thình thịch ra cửa.

“Đợi một chút, bà Fanny,” Hume nói nhưng vẫn bất động. Bà ta dừng bước. “Tại sao lại đưa ra những kết luận thế? Tôi còn chưa buộc tội bà cơ mà. Nhưng tôi rất tò mò một chuyện. Đêm nay bà đến gặp ngài Fawcett có việc gì?”

Bà ta đáp bằng một giọng đáng sợ. “Tôi nói rồi, đừng làm phiền tôi nữa.”

“Bà đang rất ngốc nghếch đấy, Fanny.”

“Nghe này, nhóc.” Bà ta dừng lại, rồi cười toét như bức tượng thú đá, ném cái nhìn hài hước kỳ quặc sang Rufus Cotton, người đang lạnh lùng đứng ở phía sau, nụ cười khủng khiếp vẫn nở trên môi ông ta.

“Tôi là một phụ nữ với rất nhiều quan hệ làm ăn, thấy không? Cậu sẽ ngạc nhiên khi thấy tôi có bao nhiêu bạn trong đám tai to mặt lớn ở cái thị trấn này. Nếu cậu đang nghĩ đến chuyện buộc tôi bất cứ tội gì, Hume, cậu hãy nhớ điều đó. Chẳng hạn, những khách hàng của tôi có thể không thích nếu được nêu tên đâu; và họ sẽ dẫm nát cậu đấy, Hume, đúng như vậy đấy.” Bà ta dậm một cách hằn học lên tấm thảm bằng chân phải. “Nếu cậu bất ngờ muốn gây khó dễ.”

Hume quay lưng lại, đổi sắc mặt bất ngờ chặn đường bà ta, dúi vào tận mặt bà ta lá thư thượng nghị sĩ Fawcett viết cho bà ta: lá thư thứ năm từ chồng phong bì trên bàn.

Bà ta lạnh lùng đọc lá thư mà không chớp mắt. Nhưng tôi cảm nhận được sự hốt hoảng phía sau mặt nạ ấy. Lá thư này với nét chữ được chứng thực là của thượng nghị sĩ gửi cho bà ta, tuy bề ngoài là bí ẩn nhưng rõ ràng là thân mật, không gây cười cũng như không gây ra mối đe dọa nào.

“Thế này là sao?” Hume lạnh lùng hỏi. “Maizie là ai? Những tin nhắn điện thoại bí ẩn mà thượng nghị sĩ sợ rằng bị nghe trộm có nội dung là gì? Ông ấy nói đến ‘người bạn H’ ở đây là ai?”

“Ngài nói thử tôi nghe xem.” Đôi mắt bà ta đanh lại. “Ngài biết đọc mà.”

Khi Kenyon lê bước lên phía trước với nét mặt khôi hài nôn nóng kéo Hume ra một chỗ nói chuyện bằng giọng thấp gấp gáp, tôi biết ngay công tố viên đã phạm sai lầm chiến thuật khi cho Fanny Kaiser xem lá thư thượng nghị sĩ viết. Biết được chuyện này làm vốn, bà ta có thừa sự quyết đoán ghê gớm lẫn khao khát lạ lùng, không bao giờ biến thành nỗi sợ hãi nhưng có thể trở thành mối đe dọa… Và trong khi Hume lắng nghe những phản đối gay gắt của Kenyon, bà ta nghiêng đầu hít một hơi sâu, nhìn chằm chằm Rufus Cotton với ánh mắt băng giá, hai lông mày nhíu lại kỳ dị hiên ngang bước ra khỏi phòng làm việc. Hume để bà ta rời khỏi đây mà không cản trở. Tôi thấy anh ta giận dữ nhưng không hiểu sao lại thấy anh ta vô dụng. Gật đầu cụt lủn với Kenyon, anh ta quay sang bố tôi.

“Không thể giữ bà ấy lại,” anh ta lẩm bẩm. “Nhưng bà ta sẽ được theo dõi.”

“Người đàn bà thú vị đấy” bố tôi kéo dài giọng. “Bà ta làm nghề gì?”

Công tố viên hạ giọng xuống, đôi lông mày rậm của bố tôi nhướng lên. “Thế cơ à!” Tôi nghe ông nói. “Lẽ ra tôi phải biết. Tôi đã từng gặp loại người như bà ta. Khó xử lý lắm.”

“Cứ cho rằng,” tôi ngoa ngoắt nói với Hume, “ngài nói nhỏ với tôi đi. Bà ta không phải là nữ thần Juno, đúng không?”

Hume lắc đầu, bố tôi trả lời dứt khoát. “Những chuyện này không dành cho con, Patty. Con không nghĩ rằng tốt hơn nên quay về nhà Clay rồi à? Cậu Clay sẽ đưa con…”

“Không!” Tôi cáu kỉnh đáp. “Con chẳng hiểu lý do gì… Con hơn hai mươi mốt tuổi rồi, bố biết đấy, ngài thanh tra yêu dấu. Sức mạnh bí mật của người đàn bà này là gì? Không thể là sự quyến rũ về tình dục…”

“Thôi đi, Patty!”

Tôi bước về phía Jeremy, và tôi chắc chắn rằng anh biết rõ về nhận dạng và thẩm quyền bất hợp lý của bà ta tại Leeds; anh chàng tội nghiệp tỏ ra khó chịu, với những nỗ lực yếu ớt hòng đổi chủ đề.

“Chà,” cuối cùng anh nói, lảng tránh ánh mắt tôi, “bà ấy thuộc dạng như người ta vẫn gọi là ‘nữ hoàng suy đồi.’”

“Ra thế!” Tôi ngắt lời. “Vì tất cả những quan niệm cũ kỹ, ngu ngốc! Bố đối xử với em như một bông huệ tây non nớt vừa mới ra khỏi tu viện. Bà Kaiser à? Chúa ơi! Tại sao tất cả những người đàn ông này đều sợ bà ta?”

“Chà… Kenyon,” anh nhún vai. “Ông ta chỉ là một mắt xích trong cỗ máy. Anh cho rằng ông ta có tên trên bảng lương của bà ta. Ông ta được trả lương để bảo vệ các cơ sở của bà ta.”

“Và bà ta cũng nắm thóp của Rufus Cotton nữa, đúng không?”

Mặt anh đỏ rần vì ngượng. “Thôi nào, Pat. Làm thế quái nào em biết được?”

“Ồ, anh đúng là quá quắt.” Tôi cắn môi tức giận. “Người đàn bà đó! Thật đáng ghét. Giờ thì em hiểu hết rồi. Bà ta và ngài thượng nghị sĩ Fawcett cao quý này. Em cho rằng con người khủng khiếp này đã cố gắng bắt tay cả với ông ta nữa?”

“À, đồn thổi đấy thôi,” Jeremy dè dặt nói. “Thôi nào, Pat; cũng ra khỏi đây thôi. Đây không phải là chỗ của em.”

“Không phải chỗ của anh ý!” Tôi kêu lên. “Và anh tự gọi mình là đàn ông. Tất cả những kẻ - những kẻ mặc quần dài này. Niềm tự hào công dân. Mẹ kiếp, trời đánh thánh vật - là thế đấy! Không đâu, Jeremy. Em dính chặt với nơi này - và cầu chúa phù hộ mụ già cay nghiệt đó nếu em lao vào mụ ta với móng vuốt!”

Và rồi, không hề báo trước, một điều hệ trọng bỗng xảy ra. Cho đến lúc này, sau hàng giờ điều tra, vẫn chẳng có lấy một nghi ngờ nào hướng về nhân vật tội nghiệp, người giờ đây trở thành tâm điểm trong vụ giết Fawcett. Giờ đây, tôi tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu lá thư đó không được tìm thấy. Tôi cho rằng trong phân tích cuối cùng, việc lá thư đó không xuất hiện hẳn sẽ không tạo ra được một khác biệt đáng kể. Mối liên kết của ông ta với thượng nghị sĩ Fawcett chắc hẳn sẽ được tìm ra, và điều gì theo sau đó có khả năng sẽ diễn ra chậm lại. Có điều ông ta có thời gian để bỏ trốn…

Một viên thanh tra lao vào phòng, tay vẫy vẫy một tờ giấy nhàu nát, đã dùng nhiều rồi. “Thưa ngài Hume!” anh ta hét lên. “Nóng hổi đây! Tôi tìm thấy lá thư này cùng với mảnh rương gỗ trên gác trong tủ sắt, tại phòng ngủ của thượng nghị sĩ!”

Hume nhận lấy tờ giấy như người chết đuối vớ được cọc. Chúng tôi tụ lại xung quanh. Ngay cả Kenyon với bản năng chậm chạp - người là bằng chứng sống của thuyết tiến hóa; Tôi có thể thấy tổ tiên thuộc Kỷ Cambri của ông ta đang lê chân dưới đáy đại dương nhớp nháp! - Dường như cũng bị khuấy động trước phát hiện này, đôi má ông ta rung bần bật khi hít vào một hơi sâu..

Căn phòng im phăng phắc.

Hume chậm rãi đọc:

GỬI THƯỢNG NGHỊ SĨ FAWCETT

Món đồ chơi bé nhỏ được cưa của tôi có gợi ngài nhớ điều gì không? Ngày hôm đó trong xưởng mộc ở nhà tù ngài đã không nhận ra tôi, nhưng tôi nhận ra ngài, cái linh hồn chết tiệt của ngài. Đúng là một dịp may đối với Aaron bé bỏng.

Nghe này, lão khờ. Tôi mong đợi được phóng thích sớm. Cái ngày tôi ra tù tôi sẽ gọi cho ngài. Và đêm đó, ngài… chính ngài sẽ trả tôi năm mươi tờ một nghìn đô la tiền lời ngay từ những khoản ngài kiếm được, thượng nghị sĩ. Ngài đã đến gần thế giới này như thế nào, ngài… Nếu không tôi sẽ kể hết cho người dân thành phố này câu chuyện rằng…

Nhưng ngài biết đấy. Hoặc nôn tiền ra, hoặc Aaron bé bỏng này sẽ quàng quạc lên. Không đùa đâu đấy!

AARON DOW

Khi nhìn chằm chặp thông điệp viết bằng bút chì thô lỗ, từng chữ viết hoa khó nhọc - lá thư của một kẻ tuyệt vọng, đáng khinh, với câu chữ bẩn thỉu, đánh vần sai, độc địa và điểm chỉ bằng ngón cái - tôi run rẩy, và bất chợt một cái bóng đen ngòm, lạnh lẽo phủ xuống căn phòng, tôi biết đó là bóng đen của nhà tù trên đồi.

Miệng Hume mím chặt thành một đường thẳng liền, một nụ cười băng giá khiến hai lỗ mũi anh ta phồng lên.

“Giờ thì,” anh ta chậm rãi nói khi nhét tờ giấy vào ví của mình, “đây là thứ tôi gọi là đạt được bước tiến. Tất cả những chuyện này… chuyện này…” Anh ta dừng lại vì không tìm ra từ. Tôi bắt đầu cảm thấy sợ. Nếu có chuyện gì xảy ra…

“Bình tĩnh nào, Hume,” bố tôi nói bằng giọng trầm tĩnh.

“Tin tôi đi, thanh tra.”

Công tố viên bước đến gần chiếc điện thoại.

“Điều hành đấy à. Nối máy cho tôi với cai ngục Magnus tại nhà tù Algonquin… Cai ngục à? Công tố viên Hume đây. Xin lỗi đã quấy rầy giấc ngủ của ông đêm muộn thế này. Tôi cho rằng ông đã nghe tin tức rồi chứ?… Thượng nghị sĩ Fawcett bị giết tối muộn hôm nay… Vâng, vâng. Không… Giờ thì nghe này, cai ngục. Cái tên Aaron Dow có ý nghĩa gì với ông không?”

Chúng tôi đợi chờ trong câm lặng đặc sệt, Hume xiết chặt ống nghe vào ngực mình, lặng lẽ nhìn trừng trừng lò sưởi mà như không nhìn. Không ai trong chúng tôi cử động suốt năm phút.

Thế rồi đôi mắt công tố viên nhanh chóng lấy lại vẻ sắc sảo. Anh ta lắng nghe, gật đầu rồi nói: “Chúng tôi sẽ qua đó, cai ngục Magnus,” rồi đặt điện thoại xuống bàn.

“Thế nào?” Kenyon hỏi, giọng khàn khàn.

Hume mỉm cười. “Magnus đã đến thăm hắn. Một tù nhân có tên là Aaron Dow, hắn ta được tuyển dụng vào làm ở xưởng mộc, mới được ra tù vào chiều nay!”

« Lùi
Tiến »