Tập Truyện Ngắn Bình Nguyên Lộc <br> Ký Thác

Tập Truyện Ngắn Bình Nguyên Lộc
Ký Thác

Lượt đọc: 9737 | 6 Đánh giá: 9,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời đầu sách

Bình Nguyên Lộc (bút danh của tác giả Tô Văn  Tuấn) là một nhà văn lớn của Việt Nam, thuộc vào ba nhà văn đã sáng tác nhiều nhất của cả nước. Nguiễn Ngu Í (trong Sống và viết với..., Nxb Ngèi Xanh, 1966) gọi ông là một trong tam kiệt bên cạnh Hồ Biểu Chánh và Lê Văn  Trương. Với một sự nghiệp sáng tác đồ sộ mà theo tác giả tiết lộ chỉ riêng  thể loại  truyện  ngắn đã hơn 1000 tác phẩm, hầu hết đều mang đậm phong vị Nam bộ với bối cảnh và nhân vật là những tiền nhân trên đường mở nước vào Nam.

.

Bình Nguyên Lộc (7 tháng 3 năm 1914 - 7 tháng 3 năm 1987), tên thật là Tô Văn Tuấn, là một nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945-1975. Ngoài bút danh Bình Nguyên Lộc, ông còn có các bút danh Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn, Tôn Dzật Huân, Phóng Ngang, Phóng Dọc, Diên Quỳnh.

Có người cho rằng, nhà văn đã lấy tên của quê hương mình làm bút danh: Bình nguyên là   đồng bằng, cái bằng phẳng phì nhiêu hiền hòa của  quê hương. Lộc là Nai, tên một loại thú  hiền lành đẹp đẽ. Và  hình ảnh  của  ông  trong  kí  ức  bao  người  thân  quen  là  người  có mái  tóc  với đường  ngôi  rẽ giữa  muôn  thuở  và  nhất  là  cặp  mắt  rất hiền mà tinh nghịch sau cặp kính gọng vàng biểu tỏ một vẻ trí thức mà giản dị. Văn Bình Nguyên Lộc cũng mang một nét riêng rất gần gũi và an nhiên như vậy.    Ông làm Nai hiền trong cuộc rong chơi chữ nghĩa. Ông sáng tác nhiều thể loại và có một văn phong vừa sâu sắc, vừa giản dị; giản dị  đối với những ai chỉ  đọc để gi ải khuây, nhưng sẽ rất sâu sắc nếu độc giả bỏ công suy nghĩ.

Theo  Sơn  Nam,  đọc  sách  Bình  Nguyên  Lộc  không  phải  đọc  một hơi, một giờ, một ngày...  mà   đọc lai rai tháng này qua năm nọ mới thấy được cái hồn sâu lắng  mang  hương  vị quen thân  ngỡ   đã lãng quên. Sơn Nam từng thú nhận ông đã mua một cuốn sách của Bình Nguyên Lộc với giá   đắt gấp 33 lần không chỉ vì mến mộ tác giả mà còn  để  tìm  vài  phút  lâng  lâng  sảng  khoái  khi  đọc được  những  câu “ca dao” bằng văn xuôi kết tinh từ nỗi thiết tha đối với quê hương, đất đai mà   ông ôm ấp trọn cả cuộc đời.

 Sức hấp dẫn với Sơn Nam  ấy  theo  lý  giải  của  Thụy  Khê  là  do  tác  giả   đã  lắng  nghe  và  ghi  lại tiếng động những thực thể xung quanh bằng đôi tai trẻ thơ lần đầu chạm vào âm thanh và cái nhìn khôi nguyên của một nhà thơ vừa khám phá ra vũ trụ. Cho nên ông để ý   đến hành động cỏn con của một thằng bé năm tuổi muốn “nhốt gió”, đến tiếng “trở mình của lá chết”, tiếng "đất hả họng khát nước”, tiếng phổ ky hát “Vách bên trái cà phê không đậm, nhớ lược bằng vợt mới nghe không?”, “Người nầy ba muỗng đường, người kia một muỗng rưỡi thôi” v.v.

Ấy  theo  lý  giải  của  Thụy  Khê  là do tác  giả  đã  lắng  nghe  và  ghi  lại tiếng động những thực thể xung quanh bằng đôi tai trẻ thơ lần đầu chạm vào âm thanh và cái nhìn khôi nguyên của một nhà thơ vừa khám phá ra vũ trụ. Cho nên ông để ý   đến hành động cỏn con của một thằng bé năm tuổi muốn “nhốt gió”, đến tiếng “trở mình của lá chết”, tiếng "đất hả họng khát nước”, tiếng phổ ky hát “Vách bên trái cà phê không đậm, nhớ lược bằng vợt mới nghe không?”, “Người nầy ba muỗng đường, người kia một muỗng rưỡi thôi” v.v... Ông  thường  nói  “văn  tôi  bắt  nguồn  từ  những  cảnh đẹp  với  quê hương  và  xuất  phát  từ  lòng  nhớ  nhung  tha  thiết  của  tôi  với  nó”. Những  cái  nắm  níu  không  dứt  lìa  được  nơi  tâm  khảm  người  thôn dã   đầy ứ mùi, vị, sắc hương khiến người đọc có thể ngửi, thấy, nếm, nghe  tràn  ngập  trên  trang  sách  Bình  Nguyên  Lộc. Đó  là  mùi  đất xông lên sau đám mưa đầu mùa, mùi nước mắm của một trách cá kho, mùi khói đống un lá chết, mùi thơm thảo thụ của lửa, mùi bông bưởi bông sao, mùi củi cây rù rì... Đó là hình ảnh  những  sợi  khói trắng mỏng, ngọn lửa màu xanh của củi bắp phơi khô, là ruộng, là rơm, là rạ, là  trâu bò, là  phân  chuồng,  là cấy gặt để rồi sẽ lại  thấy cây, thấy cỏ, thấy mùa.... mùa ve kêu, mùa lá rụng, mùa cá hội, mùa đuổi chim... Nhắc đến quê l   à vui rạo rực, là quí vô cùng, là thương không biết để đâu cho hết, là nhớ da diết không nguôi được. Lửa reo trong bếp thì vui, nước mưa tràn đồng thì vui; xa đất thấy thèm mùi đất; xa xứ bắt được mùi nước mắm, mùi hương hành kho cá thì xao xuyến cả tâm tình v.v... Những con người ấy đã buộc kết hồn nhiên vào những thói quen, nếp sống hằng ngày nơi làng mạc như cuống rún không thể rời lòng mẹ. Chỉ thương những kẻ dân quê ra chợ mà không “tự nhuộm được màu chợ” nên thương nhớ khôn nguôi chơn trời cũ. Nhưng càng nếm trải nỗi mất mát bao nhiêu càng thúc đẩy con người ta ý thức giữ gìn - giữ làng, giữ   đất, giữ nếp nhà bấy nhiêu.

Và  phải  chăng  việc  lưu  giữ  hình ảnh  con  người  và  những  giá trị  văn  hoá  vùng đồng  bằng  miền  Nam  chính  là  nguồn  mạch  văn chương đó. Nhà văn tìm lại bản lai diện mục của Sài Gòn, thành phố sinh ra từ một dòng sông, chưa kịp có dĩ vãng qua Những bước lang thang  trên  hè  phố  của  gã  Bình  Nguyên  Lộc.  “Con  sông  con  thân mật, đứng bờ bên này hú một tiếng là bên kia nghe liền...

Con sông gợi tình, thỉnh thoảng màu nước trong xanh biến ra vàng sậm vì từ lòng  cạn  vẩn  lên  phù  sa  gợi  nhớ  Thuỷ  Chân  Lạp  hoang  vu...  Con  sông đặc  biệt Á đông  với  những  chiếc ghe dùng  làm  nhà,  trên mui chưng vài ba cây cảnh, trước mui một con heo đứng ngơ ngác nhìn bờ, một con gà  muốn cất cánh bay mà ngại chết đuối .” (Sông Ông Lãnh). Sài Gòn của Bình Nguyên Lộc là Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi. Sài Gòn cà phê bít  tất.  Sài  Gòn  “thổ  ngơi  thơm  phức  hồn  ma  cũ”. Thân thiết đến độ “những đêm mưa dầm, ma ở đây chắc không lạnh bao nhiêu, vì  quanh  họ   đông đúc  những  khuôn mặt  thân yêu, tha hồ mà trò  chuyện cho ấm lòng”. Đó là vùng mộ  huyệt chôn người. Chôn  diều  là  nghĩa  địa  treo  chằng  chịt  dây  điện.  Chôn  những  bầy chim  dại dột là lưới giăng trên bãi rác. Sài Gòn qua lăng kính của Bình Nguyên Lộc, âm thanh sự sống vang lên không chỉ giữa phố xá đô h ội nhộn nhịp mà còn len lỏi mãnh liệt ở những lãnh địa ngỡ như không dành cho sự sống. Xin trích lại lời nói đầu in trong bản Thịnh Ký (1966) mà có lẽ do chính Bình Nguyên Lộc viết rất ngắn, nhưng đầy đủ thông tin về văn bản:

Nhà   văn Bình Nguyên Lộc có viết một thiên điều tra phóng sự dài, nhan là "Thám hiểm đô thành", gồm nhiều bài ngắn và  chia ra làm hai phần.

Phần thứ  nhứt, cho đăng báo hằng ngày, kể những chuyện lạ của Sài Gòn mà chưa báo nào nói đến, chẳng hạn như những bài "Ma máy đá", tả cái viện cơ thể học  đầy dẫy xác chết ngâm thuốc của trường Y khoa Ðại học, chẳng hạn bài "Người chuột cống" theo dõi những người phu của ty vệ sinh đô thành họ chun xuống hệ thống cống tối thui và chằng chịt như mạng nhện để vét bùn đất cho thông cống.

Phần thứ nhứt ấy, tác giả   không muốn in thành sách.

Ðây là phần thứ hai mà tác giả đã cho đăng riêng ở các tạp chí (Nhân Loại, Thời Trân, Sáng Tạo, v.v..) không có tính cách xã hội, hoặc "giựt gân" như các bài của phần thứ nhứt mà chỉ nên thơ hoặc  đượm một tý triết lý vụn vặt nào đó thôi.

 Và một Bình Nguyên Lộc nếu còn lưu lại được trong lòng người đọc phải chăng là ở  phong cách lục tỉnh  bình dị và cởi mở, không làm dáng, ráng làm vui, xuề xòa, không lý thuyết như có lần ông đã tâm sự với nhà văn Nguiễn Ngu Í.

Nhà xuất bản Trẻ

02.2012

« Lùi
Tiến »