Sự kháng cự của Hoàng Mạc Như dường như vô dụng trước Đỗ Xuân Hiểu, hắn chỉ có thể ngồi xuống rửa tai lắng nghe, lòng bàn chân dính đầy hạt dưa hấu.
"Cậu Cả, thực ra mọi chuyện không phức tạp như chúng ta tưởng tượng, có phải không?"
Đỗ Xuân Hiểu ngồi trên chiếc ghế nhỏ bên ngoài phòng giam, đặt xấp bài tarot lên đầu gối, chia làm hai phần bằng nhau, không khí vẫn nồng nực như cũ, ánh trăng tàn hắt vào qua cửa thông hơi tựa hồ đang rình mò bí mật trong bộ bài của cô.
Cô giơ lá bài thứ nhất lên - Tình nhân.
"Tuy đều ngậm khóa vàng ra đời, nhưng người với người rốt cuộc vẫn không giống nhau, một số người là giống si tình bẩm sinh, ví dụ em trai cậu; một số khác lại chỉ dạo một vòng giữa đám đàn bà rồi thôi, nặng tình nhất mà lại vô tình nhất, cậu Cả hiện nay đang bị đội cảnh sát nghi là người như thế đấy." Đỗ Xuân Hiểu dường như có chút khoái trá, khiến Hạ Băng toàn thân bứt rứt.
Lá bài thứ hai - Pháp sư.
Cô vui đến nỗi vỗ tay đôm đốp, khiến Cố A Thân phải vội vàng chạy lại, trên tay vẫn cầm một ly rượu mơ.
"Bài hay, bài hay lắm!"
Cô ngửa mặt nhìn trời, đầy cảm kích, rồi nhanh chóng quay sang Hoàng Mạc Như, cười nói:
"Lá bài này, có thể rửa oan giúp em gái cậu rồi. Có người hầu nói em cậu từng loanh quanh tại nơi phát hiện thi thể lúc đêm muộn, là hiểu nhầm thôi. Thực ra là cậu Cả mặc đồ con gái, xuất hiện ở đó phải không? Cậu Cả muốn làm chuyện gì?"
Cô cuối cùng đã điểm trúng yếu huyệt của hắn, hai ngón tay kẹp lấy lá bài Pháp sư, phe phẩy như bướm bay trong không khí. Hạ Băng kích động đến nỗi không ngừng chỉnh lại gọng kính, chỉ lo bỏ sót một trong số những động tác giả thần giả quỷ của cô. Ánh trăng không biết từ lúc nào đã lẳng lặng rút lui, giấu cả người Hoàng Mạc Như vào bóng đêm, biến hắn thành một bóng đen đặc trên tường. Không nhìn rõ vẻ mặt hắn, nhưng từ bờ vai hơi nhô lên có thể đoán chừng hắn đang bình tĩnh, thậm chí còn có thể ngửi ra từ sự tĩnh lặng ấy một chút thương cảm. Đỗ Xuân Hiểu lại làm ra vẻ không hay không biết, như đang lột da trên mình dã thú, tuyệt đối không thể kêu đau thay vật săn trong tay:
"Còn nữa, kẻ chủ mưu hãm hại bà Bà và bếp trưởng Trần, thực ra chính là cậu phải không? Tuy nói móng tay là do bà Hai đem đưa cho lão gia, nhưng a hoàn phát hiện ra nó cũng là người ngoài phòng bà Hai... Ồ, không đúng. Chắc không phải dùng các này đi đường vòng hãm hại bà Cả đấy chứ, không bức cung Hồng Châu thì thôi, hễ bức thì kẻ giật dây tố cáo bà Cả không cần đoán cũng biết, cậu nhất định đã hứa hẹn với cô ta chuyện chung thân đại sự gì đí. Cậu Cả, âm mưu của cậu cũng kỳ lạ thật đấy, nhưng tôi biết hai vị Lý, Kiều giày vò cậu mấy ngày nay vẫn không cạy được mồm cậu ra nên tôi không phí sức thế đâu, chẳng qua chỉ đem bộ bài này ra nói với cậu, thông báo một tiếng, kẻo đến khi cậu ra pháp trường vẫn còn kêu oan."
"Kỳ thực, việc cậu đóng giả con gái có lẽ xuất phát từ đam mê tội lỗi gì đấy, việc này tôi cũng không truy cứu nữa. Nhưng Điền Tuyết Nhi và cậu có tư thông thì chắc là thật nhỉ? Bà Ba không biết từ đâu hay được chuyện giữa hai người nên đem Tuyết Nhi ra uy hiếp, để mẹ cậu không dám động đến bà ta. Đáng tiếc cô nương ấy chết rồi, vì sợ mũi dùi sớm muộn gì cũng hướng về cậu, nên cậu mới nghĩ cách hãm hai vu vạ cho bà Ba, vốn là để mẹ cậu ton hót trước mặt cha, đuổi bà Ba đi, không ngờ sự tình lại phát triển vượt ngoài dự liệu. Án mạng trong lầu sách xảy ra, đội cảnh sát trái lại càng siêng năng, dọa cậu một phen khiếp vía phải không? Sau chuyện này thậm chí mẹ cậu cũng sợ rằng đã đổ oan cho bà Ba, còn cậu lại âm thầm mua chuộc Hồng Châu, cắn càn bà Cả. Còn về nguyên nhân cậu muốn hại bà Cả, đương nhiên là vì Điền Tuyết Nhi mang thai con cậu, bị Bạch Tử Phong phát hiện ra, nhất định cô ta đã thông báo cho bà Cả đầu tiên, vì vậy cả nhà họ Hoàng trên dưới chỉ có bà Cả và cậu biết chuyện ả a hoàn đó mang thai, bởi thế cậu bèn lợi dụng mẹ mình đi kết thù với bà Cả. Có phải thế không?"
"Nhưng cậu ta sao có thể lừa bà Cả ăn phải đinh chứ?"
Hạ Băng như đang biện giải thay cho Hoàng Mạc Như, đồng thời gạt bỏ hoài nghi của mình.
"Đó là bà Cả tự hồ đồ, vốn tôi cũng cho rằng bà ấy tự biên tự diễn, nhưng về sau nghĩ ra một chuyện, trong trứng hấp đích thực không thể giấu đinh, song trong cơm thì có."
Cô giở lá bài thứ ba: Phán quyết.
"Hôm đó cũng lại là Hồng Châu phụ trách xới cơm bưng thức ăn, cô ta có thể chọn cho ai nhai phải đinh. Bà Cả ăn trứng hấp có thói quen phải trộn cùng cơm ăn, nên khi cắn phải đinh mới nhầm là từ bát trứng hấp, vô ý còn bị nghi vừa ăn cướp vừa la làng. Cậu hại bà Cả như thế, bởi sợ bà ta nói ra chuyện Điền Tuyết Nhi có thai, bà Cả trước kia là con gái một chủ tiệm nhỏ, đi học chẳng được bao lâu, không biết mặt chữ nên không thể viết ra những việc mình biết, chỉ dễ sơ sẩy nói lộ. Vì thế muốn bịt miệng bà ta thì cách này là hiệu quả nhất, tiện thể còn ly gián được tình cảm giữa ba vị phu nhân. Ha ha, thực ra bọn họ vốn đã chẳng phải chị em tốt gì, ngay ngoài mặt cũng chỉ hời hợt chiếu lệ, thêm chuyện này, mâu thuẫn lại càng sâu, cậu tọa sơn quan hổ đấu, càng có thể mau chóng giải quyết chướng ngại. Có đúng không?"
Nghe câu chất vấn này, Hoàng Mạc Như cuối cùng cũng ngẩng mặt lên, dù đã gầy mòn khô héo, hai con mắt vẫn sắc bén như thường:
"Đỗ Xuân Hiểu, chớ cho rằng chỉ dựa vào mấy lời suy đoán bừa bãi của chị mà có thể phá vụ án này, chuyện có tầng chị nghĩ tới. cũng có tầng chị không nghĩ tới đấy!"
"Vậy thị phiền cậu Cả thử nói ra tầng tôi không nghĩ tới xem?"
Đỗ Xuân Hiểu thừa cơ truy hỏi, song đối phương không hề mắc bẫy, chỉ cười khẩy nói:
"Chẳng phải bảo tôi chỉ cần nghe chị nói, có thể không trả lời câu hỏi sao?"
Dứt lời, hắn trở lại đệm cỏ, nằm co ro một đống mà ngủ, chẳng khác nào u linh tạm thời yên nghỉ. Ngày Hoàng Mạc Như được đưa về nhà, Tô Xảo Mai khóc đến chết đi sống lại, siết chặt chuỗi tràng hạt ngọc trong tay, vừa gạt nước mặt vừa niệm Kim Cương kinh, cơm cũng không ăn.
Quả thật, trông bộ dạng chịu khổ chịu nạn ấy của con trai cưng, ai mà không xót. Hoàng Mộng Thanh cũng không khỏi nghẹn ngào, đích thân xách tới hai quả dưa gang, còn trách:
"Cha cũng thật là, lại đi bịt miệng giếng, bằng không đã có thể thả xuống giếng ướp cho mát rồi!"
Tắm rửa, thay quần áo, ngồi cạnh thùng đá lạnh uống hai bát canh hạt sen, Hoàng Mạc Như mới lấy lại tinh thần, ít nhiều ép được cơn ác mộng trải qua trong đội cảnh sát ra ngoài đôi chút. Chỉ cần về đến nhà, nghe tiếng ve kêu cũng không thấy bực bội nữa. Tô Xảo Mai sai Đường Huy chuyển đồ của mình sang phòng con trai, nói phải chăm sóc cho cậu mấy ngày, nhưng thực ra chỉ ở phòng ngoài bày một pho tượng Quán Âm, miệng không ngừng niệm "A Di Đà Phật". Gần sẩm tối, Hoàng Mạc Như đột nhiên trở dậy, đi qua vô số những "A Di Đà Phật" ấy ra ngoài, Tiểu Nguyệt vội chạy theo hỏi cậu Cả định đi đâu. Hắn chẳng buồn ngoảnh đầu, chỉ gằn giọng nói:
"Lải nhải gì?" giọng điệu hung hăng khiến Tiểu Nguyệt không dám ho he thêm nửa tiếng.
Hắn men theo tường sân mọc đầy rêu xanh tới trước phòng Hoàng Mộng Thanh. Ngọc Liên đang cọ chiếu, bưng nước tới trước cửa phòng, trông thấy hắn, hành lễ chào xong định quay vào báo với cô Cả, nhưng bị hắn ngăn lại:
"Người cứ làm việc của mình, ta đi ngay đây."
Hoàng Mộng Thanh thấy hắn bước vào, nụ cười càng xinh đẹp rạng rỡ, cặp mắt ti hí cũng trở nên dễ thương, tuy là chị em cùng cha khác mẹ, nhưng có một số tình cảm vẫn không thể kiềm chế nổi, sẽ bộc lộ ra vài nét cực kỳ vi diệu khi nhăn mặt hay tươi cười.
"Vẫn còn mặt mũi đến đây cơ à? Bị người ta nghi thành ra thế này, quay về cũng không kể khổ, bảo đám người hầu làm sao xem trọng em?"
Cô ngoài miệng nói cứng, trong lòng lại đã nhũn như bún. Hắn không trả lời, tự ý ngồi xuống, vì cổ áo phanh ra, để lộ làn da đã tróc từng mảng từ cần cổ đến khuỷu tay, bày ra màu hồng óng ánh. Cô xót xa ngồi không yên, bèn bưng ra chiếc hộp gỗ hoa lê nọ, lấy thuốc mỡ đưa cho hắn. Hắn không hề từ chối, nhận lấy đặt lên bàn, chỉ nói cầm trong tay không tiện, đợi sáng mai bảo Ngọc Liên mang tói thì hơn.
Cô lấy làm lạ trước phản ứng của hắn, nhưng không nói ra, chỉ cười giễu, hỏi hắn đại loại sức khỏe thế nào, mấy quả dưa gang ăn có được không, thấy hắn không để tâm trả lời, bèn thôi không hỏi nữa, đợi hắn tiết lộ mục đích thật sự đến đây. Nào ngờ cứ im lặng như vậy, thời gian còn dài hơn hai người dự liệu, cô mơ hồ cảm giác hắn muốn cô mở lời trước, nhưng lại không biết hắn cần gì, nên đành nhẫn nại đợi. Nhất thời, bầu không khí lơ lửng vô số dấu hỏi trong suốt, một bên đoán, một bên giấu, tuy bề ngoài có phần tĩnh lặng, nhưng bên trong lại sục sôi.
"Em muốn mượn chị một món đồ."
Vẫn là hắn không kiên nhẫn nổi, như đã hạ quyết tâm phải phá giải điều thần bí. "Đồ gì?" "Chính là món đồ chúng ta thường hay lấy chơi hồi nhỏ ấy." Cô lập tức thấy bối rối không hiểu nổi tình hình, thậm chí còn hơi nhớ mấy lá bài của Đỗ Xuân Hiểu, cô ả cổ quái ấy nhất định có thể dùng chúng để đưa ra một lý giải hợp lý. Nhưng đáng tiếc ở đây bây giờ, cô lại mờ tịt, thậm chí sự mù mờ này còn được phản chiếu trong đồng tử nâu sẫm của hắn. Thế nên cô không hỏi, cũng không dám hỏi, chỉ lẳng lặng lấy từ đáy hộp gỗ ra thứ hắn cần, nắm trong lòng bàn tay, ấn vào tay hắn. Bàn tay hắn mỏng mà rộng, không giống người có phúc. Cô mơ hồ suy đoán bàn tay Hoàng Mộ Vân sẽ như thế nào, trước kia cô chưa từng chú ý, vì vốn không tin mấy trò mò cốt đoán mệnh này, nhưng giờ đây, cô lại nôn nóng muốn biết họa phúc của các em mình, chỉ hận không biết bắt tay từ đâu, đành ngồi đợi tình thế phát triển, phát triển đến khi cô có thể nhìn rõ. Tô Xảo Mai đã lâu không ngủ say đến thế, suốt cả canh giờ không hề trở mình, chuỗi tràng hạt trên cổ tay bà ta phát ra ánh sáng lạnh lẽo trong bóng tối. Hoàng Mạc Như ngồi xổm bên giường, tỉ mỉ quan sát nét mặt bà ta, tiếp đó nhấc một tay bà ta lên rồi thả rơi, cánh tay đập mạnh xuống giường, hạt châu đập vào mặt gỗ qua lớp chiếu, phát ra một tiếng "cách" đơn điệu, song bà ta vẫn thở đều, mê mải dạo chơi trong mộng. Tiếp đó hắn di chuyển tới cuối giường, lại túm lất mắt cá chân phải của mẹ rồi thả rơi, làm xương gót chân bà ta đập vào mép giường, hẳn phải rất đau, nhưng bà ta không hề phản ứng, mắt vẫn nhắm nghiền, giữ nguyên nét mặt thư thái trong giấc ngủ. Bấy giờ hắn mới yên tâm ra khỏi phòng. Vì sợ đụng phải đám người hầu đi tuần đêm, ngay đèn da trâu hắn cũng không mang theo, chỉ dựa vào sự thông thuộc đường lối trong nhà, mượn ánh trăng soi đường mà lần mò đi về phía trước. Lần này, hắn đặt cược vận may và dũng khí. Lần này, hắn có thể coi như "nhẹ nhàng ra trận", không cần đóng giả em gái, cũng không mặc áo lụa đen thùng thình nữa. Để tiện bề hành động, hắn còn giắt vạt áo dưới vào eo, như muốn mình hòa vào với bóng đêm. Trong thông đạo vẫn có mùi tanh hôi không ngửi nổi, hắn biết mùi này từ đâu ra, bèn cố sức không nghĩ đến, chỉ giơ một nắm bùi nhùi lần mò đi vào trong. Tuy cái nóng nực đã bị chặn lại bên ngoài, nhưng lần đầu tiên tới đây sục sạo hắn chỉ mong chong chóng được nhảy ra chịu đựng mặt trời thiêu đốt còn hơn. Tường vách bên trong khô ráo, lạnh lẽo, khoảnh khắc ánh lửa lướt qua có thể trông thấy vệt bẩn lớn màu nâu xám, dưới chân thỉnh thoảng lại đạp phải mấy hạt cỡ bằng viên cuội nhỏ, phát ra tiếng lách cách chói tai, vì vậy mỗi một bước chân, các dây thần kinh trong cơ thể hắn đều căng ra, tiếng vang của bước chân cùng tiếng nứt vỡ rào rạo của các hạt dưới chân khiến hắn chỉ muốn hét lên. Ngọn lửa vẫn bạt về phía sau, chực liếm lấy ngón tay, hắn bất đắc dĩ phải buông lỏng ra. Sức gió dần mạnh lên, chứng tỏ sắp tìm được lối ra. Tay hắn không còn dám ròi nóc và vách thông đạo, lần mò từng tấc một, mỗi mẩu gạch lồi lên đều khiến hắn lưỡng lự hồi lâu, đến khi hoàn toàn xác nhận không có dị trạng mới tiếp tục bước tới. Rất mau, ngón chân hắn đã đá phải vật cứng, đốm lửa trên bùi nhùi càng lúc càng yếu, đã sắp lụi tàn, hắn bèn thổi tắt luôn, lại lấy ra nắm mới. Thuốc pháo và không khí sau khi ma sát tỏa ra thứ mùi nhức mũi, một khi dính phải thì có tắm mấy ngày cũng không hết, chỉ có thể lấy bột tường vi để che đậy. Hắn căng thẳng đến nỗi buồn nôn, cảm giác còn kinh khủng hơn lúc bị cơn khát hành hạ ở đội cảnh sát, quả tim trong lồng ngực đập inh cả tai. Ánh sáng nóng đỏ từ nắm bùi nhùi chiếu lên một vật cứng, ra là một bậc thềm, bên trên còn có rất nhiều bậc nữa, tầng tầng dẫn lên, như nối thẳng với thiên giới. Hắn bước bước đầu tiên, bậc thềm đáp lại bằng tiếng cọt kẹt nặng nề, là gỗ, hắn nhón chân đi lên, đã chẳng màng đến lửa trên bùi nhùi liếm vào đầu ngón tay đau rát, cũng không nghĩ tới mình làm sao quay về, chỉ chăm chăm hướng tới ánh sáng trước mắt...
Xem thêm:
28.
Lão Giản tên đầy đủ là Giản Chính Lương, gọi "lão" vì ông ta đã lớn tuổi, kinh nghiệm dày dặn, là một trong những hộ nuôi tằm đầu tiên làm ăn với Hoàng Thiên Minh ở trấn Thanh Vân. Lão ta trước giờ không bán kén ướt, tất cả đều tự mình sấy khô rồi mới xuất ra, chất lượng tơ đầy đặn óng ả, chỉ nhìn là biết các cục cưng tằm nhất định được chăm sóc rất công phu. Vì người trong trấn đều hiểu, tiền lão Giản kiếm là "tiền lương tâm", lão ta sống dư dả, không ai nói nổi nửa lời đàm tiếu, dù cho số tiền ấy quá nửa đều đem đốt vào Phong Nguyệt lâu, song đốt rất đường hoàng. Đến già lão ta vẫn ở vậy, thỉnh thoảng ra ngoài tìm hoa thơm cỏ lạ cũng là chính đáng.
Mỗi bận đầu tháng cuối tháng lão Giản đều qua lại hẻm Sát Trư sau lưng tiệm sách Hoang Đường. Tuy tuổi đời đã gần thất thập, tóc tai lão vẫn đen nhánh, nhanh nhẹn minh mẫn, cơ thể tráng kiện, có thể quẩy một gánh nước đi cả mười dặm mà không đỏ mặt không thở dốc. Chính vì thế, nhu cầu cơ bản nhất của đàn ông cũng không lặn đi đâu mất, lão ta thường khệnh khạng thênh thang bước tới những ô cửa nhỏ thần bí trong ngõ, gõ mấy cái lên tấm gỗ nọ, thông thường sẽ có một mụ già chống cửa lên, nhăn mặt cười nói:
"Lão Giản, hôm nay có hàng mới, qua xem thử đi?"
Với đám gái giang hồ lão cũng rất kén chọn, bỏ ra năm đồng thì phải chơi cho đáng năm mươi đồng. Nhưng ghé thăm ngõ Sát Trư chỉ là kế tạm thời, lão đương nhiên vẫn nhung nhớ không nguôi "động tiêu tiền" Phong Nguyệt lâu kia, các cô nương ở đó dù cho nhan sắc bình bình nhưng biết cách khép nép rụt rè, kỹ thuật trên giường cũng cao minh hơn nhiều, nhanh chậm hài hòa, rất giỏi gợi hứng cho người ta; không như đám hàng phế phẩm ở ngó Sát Trư, cầm tiền rồi là chỉ muốn tốc chiến tốc thắng, hơi kéo dài thời gian một tẹo là trở mặt.
Tuy háo sắc, nhưng lão Giản vẫn là người biết kế hoạch biết tiết chế, tiền tiêu hàng tháng đều tính toán chi li từng xu từng hào, không hề ăn tiêu bừa bãi, đây là sự chuẩn bị tất yếu của một người đàn ông đã được an bài cả đời cô độc. Đỗ Xuân Hiểu từng xem bói cho lão Giản, nói lão già nhưng cứng cáp, có hậu phúc hưởng không hết. Lão ta từ đó nhìn thấu màn kịch bịp bợm của cô nương này, không đếm xỉa đến nữa.
Quá khứ của một số người giống như hạt sen vậy, đều giấu cái nhân đắng vào lòng, hậu bối ngây thơ non nớt làm sao nhìn ra nổi? Chẳng qua là nói dựa mà thôi. Vì vậy lão Giản không tin vào số mệnh, chỉ tin mình. Nhưng sự tự tin này, lại bị một kỹ nữ tên Đào Chi phá vỡ.
Vốn dĩ, lão Giản tới Phong Nguyệt lâu vui vẻ, má mì đều vừa kính vừa hiềm, kính là vì lão ta "đức cao vọng trọng", hiềm bởi lẽ lão ta bủn xỉn keo kiệt. Bởi vậy cơm rượu đều không dám chuẩn bị nhiều, chỉ thu tiền nghề, tuy thấy không ưa nhưng dù sao lão chưa bao giờ nợ tiền, nên cũng thoải mái.
Một hôm viên trân châu lão Giản vốn yêu thích ở Phong Nguyệt lâu đột nhiên đánh nhau với khách hàng, cầm chung rượu vỡ đâm vào mặt người ta, bị má mì nhốt vào phòng củi sám hối, nên lão đành đổi người. Má mì kêu mấy cô nương vào, lão ta nhìn một vòng đều không vừa mắt, nói muốn chọn tiếp. Má mì không bằng lòng, phun ra mấy câu khó dễ, ý là chút tiền ấy chỉ có thể chọn hàng này thôi, lẽ nào còn đòi gái trinh hay kỹ nữ hạng sang. Lão Giản bị chạm tự ái, lập tức rút ra một xấp giấy bạc vứt xoạch lên bàn, quát:
"Kêu cô nương sang nhất chỗ các người ra đây!"
Nói cho cùng, lão vẫn là kẻ ngoại đạo, đến phí qua đêm là bao nhiêu cũng không nói đúng, xấp tiền ấy vứt ra chỉ tổ làm trò cười, cũng may má mì coi như còn chút nể nang, bèn sai người gọi Đào Chi tới. Ai ngờ Đào Chi từ lâu đã bị Hoàng Mộ Vân chiều hư rồi, đời nào chịu đi, má mì đành phải lén lút khuyên nhủ cô ta, nói chẳng qua chỉ là một lão già,cái món kia không biết có còn dùng được hay không, thôi thì thuận theo ý lão làm vờ một phen cho qua thôi. Đào Chi bấy giờ mới miễn cưỡng đồng ý, chẳng buồn tô lại son phấn, cứ thế xuống chào hỏi luôn. Lão Giản nhìn qua Đào Chi, vặn hỏi má mì:
"Loại hàng này mà cũng dám đưa ta?"
Đào Chi dày mặt ngồi xuống, chỉ cười, e để lộ ra chút bất mãn lại ăn thêm trận đòn. Má mì bèn cất giọng the thé:
"Lão Giản, mới nhìn bề ngoài người ta, còn chưa thử bên trong sao đã biết là hàng loại nào?"
Lão ta nhăn mày đánh giá lại Đào Chi một lượt, vẫn bán tín bán nghi. Má mì vội ghé miệng vào tai lão ta, thầm thì:
"Biết đây là ai không? Người thương của cậu Hai nhà họ Hoàng đấy! Nhân đang rảnh rỗi để cho lão miếng ngon, lão còn bày đặt không ăn?"
Ba từ "nhà họ Hoàng" rót vào tai, lão ta lập tức rối loạn tâm tư, hứng cũng đến ngay, toàn thân bất giác run lên, mắt xanh lè cả ra. Má mì coi như lão đã ưng ý, bèn để Đào Chi dìu lão vào phòng. Giản Chính Lương ngồi trên giường Đào Chi, bắt ả lần lượt cởi sạch ttừng món đồ, vừa ngắm vừa không thôi cười gằn:
"Hứ! Khà Khà! Không ngờ ta đến ngần này tuổi đầu còn có thể chơi người đàn bà của con trai Hoàng Thiên Minh!"
Khi Đào Chi mở rộng thân thể, tiếp nhận lão ta dộng vào mới biết mình đã mắc mưu má mì, lão đàn ông nằm đè bên trên ả tuy gò má đã lốm đốm vết đồi mồi, còn tỏa ra mùi già nua điển hình, nhưng chuyện ấy lại dũng mãnh như trai tráng, còn làm ả sướng hơn cả Hoàng Mộ Vân.
Tuy nói "gái điếm vô tình", nhưng ít nhiều vẫn có chút khát khao khoái cảm, vì vậy Đào Chi đêm đó bèn chủ động mời lão Giản ở lại qua đêm, không đòi thêm đồng nào, song lão Giản thấy áy này trong lòng, trưa hôm sau vẫn nhét thêm cho ả ba mươi đồng. Một lần hai lần như thế, Đào Chi lại có thêm khách quen, làm cái nghề này, chân giẫm mấy thuyền không những không có gì phải hổ thẹn mà còn đáng tuyên dương. Rất mau sau đó, chị em trong Phong Nguyệt lâu đều trêu cô ta "già trẻ ăn cả", vô cùng linh động.
Từ sau khi Bạch Tử Phong chết, số lần Hoàng Mộ Vân tới tìm Đào Chi cũng tăng lên, nay lại thêm một lão Giản, trước tình hình người ra vào phòng tới tấp, ả lại càng phải dốc hết sức chu toàn,để không đắc tội với bên nào. Chỉ là lão già kia hình như hơi gian giảo, có khi tựa hồ cố ý chọn đúng lúc cậu Hai Hoàng đến với ả, má mì nói thiếu đôi lời xoa dịu liền tỏ vẻ hằn học, còn đập bàn lật ghế.
Một hôm, lão ta mặt đỏ gay đi vào, rõ ràng đang tây tây, chưa ngồi nóng chỗ đã ngoạc giọng gọi "cục cưng", má mì đành lúng túng kéo lão sang một phòng riêng uống hòa tửu(1) bên trong, kêu lão ngồi nghỉ một lát.
Lão đương nhiên biết chuyện gì đang diễn ra, bèn hậm hực nghiến răng, sải bước hùng hổ quay lại sảnh lớn chờ, cũng không cô nương nào hầu rượu, tự chuốc tự uống. Khoảng chừng một giờ đồng hồ sau, Đào Chi mặt mũi đỏ hồng tiễn Hoàng Mộ Vân xuống lầu, đi được nửa đường bèn bị lão Giản xồng xộc chạy lên cầu thang kéo lại, lôi thẳng lên lầu. Hoàng Mộ Vân nhất thời không kịp phản ứng, chủ sững ra một thoáng song cũng không nói gì, định đi tiếp xuống dưới. Lão Giản được đằng chân lân đằng đầu, quay lại cười nói:
"Cậu Hai chơi đủ rồi ư? Lần sau phiền cậu nhanh nhanh một chút, bên dưới còn có người đợi. Cậu chớ ức hiếp người già!"
Dứt lời, còn ngang nhiên véo mông Đào Chi trước mặt gã. Nào ngờ đối phương chẳng lấy gì làm giận, giương mắt dửng dưng nhìn lão, nhưng lời nói ra lại là với má mì:
"Lý ma ma, thế này không hay lắm, Đào Chi có khách quen mới cũng không nói một tiếng. Bà biết tôi thường ngày kỵ nhất chơi mấy thứ không sạch sẽ. Được rồi, lần sau có hàng mới, nhớ thông báo một tiếng, tôi chọn đầu tiên, giá cả không thành vấn đề."
Lời nói ra khiến mặt Đào Chi thoắt trắng thoắt đỏ, ả không ngờ Hoàng Mộ Vân có thể dễ dàng vứt bỏ ả như thế, trong lòng đương nhiên đau khổ, nhưng không dám thể hiện ra ngoài, sợ nhỡ lại thêm sơ suất gì thì đến lão già bên cạnh cũng không giữ nổi nữa, đành cắn răng câm như hến. Vậy mà người ấm ức nhất lại là lão Giản, lão cao giọng hùng hổ dặn má mì:
"Lý ma ma nghe rõ đây! Lần sau có hàng mới, cử người tới báo tôi, tiền nong không thành vấn đề!"
Không khí bỗng chốc đóng băng, các cô nương cùng khách làng chơi đều im thin thít đứng quanh xem kịch hay, xem cậu Hai nhà họ Hoàng với lão Giản đến cuối cùng ai chiếm thượng phong. Đây là vẫn đề khí thế, nói rõ hơn một chút, thì chính là vấn đề tiền bạc. Vì vậy đũa so đến cuối cùng, người thiệt thòi đương nhiên là lão Giản, để đấu thế với Hoàng Mộ Vân, kế hoạch lẫn tiết chế lão khổ sở tuân thủ bốn mươi năm nay bỗng đều hóa thành mây khói, lại còn học theo đám công tử nhà giàu chơi trò quăng tiền qua cửa sổ.
Hoàng Mộ Vân đương nhiên cũng năng tới Phong Nguyệt lâu hơn, có điều không mảy may gọi Đào Chi, gã không them, lão Giản chắc chắn cũng không them, hai bên đều gạt đi mấy nàng thẻ đỏ, chỉ chăm chăm chọn hàng sạch sẽ hạ thủ, giá mở hàng kỹ nữ mười lăm tuổi nâng lên đến một nghìn đồng, vẫn còn giằng co không dứt. Cuối cùng lão Giản đầu mượt mồ hôi hét ra cái giá "nghìn hai", sau đó căng thằng chờ xem phản ứng của Hoàng Mộ Vân, nào ngờ đối phương ung dung nhấp một ngụm trà, cười nói: "Vậy đêm nay tôi lại gọi Đào Chi." Thế là hôm đó, lão Giản lần đầu tiên trong đời "chơi chịu". Mọi người đều trông ra, biết là Hoàng Mộ Vân giở trò chơi xỏ lão, nhưng không dám vạch trần, nhịn cười chuẩn bị mở hàng cho tiểu cô nương kia. Hoàng Mộ Vân lại hiên ngang ôm Đào Chi vào phòng, tiện còn bao khách dưới lầu một chầu rượu, đổi lại được mọi người rầm rầm khen hay.
Không lâu sau, chuyện lão Giản quỵt tiền đồn thổi khắp trấn Thanh Vân, má mì sai người đi thu mấy lần đều không được, bèn đích thân tới tận cửa đòi. Lão hầm hầm ngồi ở bậu cửa, và nữa bát cơm đậu bo thịt muối, không thèm nhìn người đến đòi nợ lấy nửa con mắt. Má mì sốt ruột, bèn trở mặt, phao tin nội trong ba ngày không trả đủ tiền thì đừng mong yên ổn sống hết năm nay. Lão Giản cười khẩy nói:
"Dù gì ta ngần này tuổi đầu, cũng đã chán sống từ lâu rồi, các người muốn thế nào thì thế ấy, lẽ nào ta lại sợ?"
Má mì không cam yếu thế , độp lại:
"Lão Giản nặng lời rồi, nào phải muốn lấy cáu mạng lão, chỉ là tôi mở kỹ viện này, các cô nương qua tay không ít, cũng không phải không có đứa muốn trốn, hễ đứa nào định trốn lại đòn đem đánh chết thì chẳng phải hụt vốn ư? Tôi đương nhiên có cách khiến người ta sống không bằng chết!"
Câu nói cuối cùng đã khơi lên dục vọng thoát thân của lão Giản, ba ngày sau đó lão quả nhiên bặt vô âm tín, trong nhà có gì đáng tiền đều đã chuyển đi từ lâu, cũng không biết là đi đâu. Má mì tức điên quay về túm lấy Đào Chi xả giận, quát mắng:
"Con tiểu tiện nhân! Đã phóng túng còn lắm thủ đoạn! Ngủ với lão già ấy bao ngày thế mà không dò ra nội tình lão, hại tao mất toi một đứa gái trinh, mày có đền nổi tao không?"
Lạ thay đến ngày thứ năm, Giản Chính Lương lại cao đầu ưỡn ngực bước vào Phong Nguyệt lâi, vứt xoạch một nghìn hai trăm đồng bạc giấy ra, má mì vội vàng đón lấy, đon đả trách lão sao mất tích lâu như vậy, hại người ta nhớ quá là nhớ.
"Lý ma ma, từ nay về sau không cần nhớ nữa, ta ngày nào cũng tới."
Lão Giản lại không phục phong thái "lão" trước kia.
"Ui chao! Lão lại phát tài ở đâu thế?"
"Nào chỉ phát tài? Ta còn tìm được hẳn một cây rung ra tiền kia!"
Trong giọng nói hưng phấn của lão thấp thoáng một nỗi thê lương, tiếp đó lão lầm bầm:
"Thực ra nên đi tìm hắn ta từ sớm mới phải..."
Chuyện lão Giản đột nhiên phát tài lại trở thành chủ đề bàn tán trong trấn Thanh Vân, đại để lúc đó, duy có một đại nhân vật nhà họ Hoàng mới biết chân tương sự thật. Nhân vật ấy đưa cho lão Giản hai nghìn đồng bạc, lòng chỉ hận không thể giết người.
(1) Uống rượu có kỹ nữ hầu
29.
Vì không phân nổi ngày trắng đêm đen, Hoàng Mạc Như không biết đã nằm đó bao lâu, chỉ thấy xương cốt khắp mình mẩy đều gãy lìa, động một ngón tay cũng phải vận hết sức lực mà vẫn đau như khoan vào tim. Nhất là phần ót, luôn ở trong trạng thái tê dại, chỉ hơi cử động cằm là có thể tỉnh táo nhận ra ngay cơn đau nhói do tóc bị giật khỏi sàn gỗ, hắn hiểu đó là do máu chảy trên tóc đã khô bết, dính da đầu xuống mặt sàn, nhờ thế hắn lại hơi an tâm, ít nhất máu cũng đã tự cầm.
Mới đầu, hắn còn định bò dậy nhưng vừa ngồi thẳng người đã thấy trờ đất quay cuồng, lại đổ vật xuống, trán hết lần này tới lần khác đập vào bậc thang gỗ rồi hôn mê lịm đi. Vậy nên hắn không dám thử nữa, chỉ giữ nguyên tư thế bất động, lưng ép chặt xuống cầu thang, vì thời gian quá lâu, mép thang đã cắm sâu vào da thịt nên mỗi lần muốn trở mình đều phải tổn gân thương cốt, lực dùng không đúng, vết thương sau đầu mãi mới đóng vảy sẽ lại bục ra, làm hắn mất thêm một phần sinh lực.
Hắn từng nghĩ đến cái chết. Sau khi đã vật lộn trăm cách, cuối cùng hắn cũng sẽ mất mạng, dần dần rữa nát ở nơi giơ tay không nhìn thấy năm ngón này, để đến tận ngày tế tổ lập thu, phải quét dọn cả căn nhà mới được phát hiện, khi đó chắc hắn đã biến thành cái xác khô, nhãn cầu bị chuột gặm sạch... Chuột... Hắn đột nhiên nghĩ ra mình không hề nghe thấy tiếng chuột kêu "chít chít", điều này chứng tỏ cái gì? Lẽ nào nơi hắn gặp nạn đã hoang vu tới nỗi không nuôi sống nổi một con chuột nhỏ nhoi? Nỗi tuyệt vọng lúc này mới từ từ trỗi dậy.
Hắn như đứa trẻ sơ sinh, muốn cuộn tròn mình lại, tìm lấy một ống dinh dưỡng ngậm vào miệng, hòng hút chất dịch duy trì sự sống. Nhưng nào có gì, ngoài vảy máu khô rồi lại rụng, rụng rồi lại khô sau đầu. Hắn đành cố nhấc tay lên, vừa sờ ra sau gáy, gân cốt trên lưng lập tức căng cứng, may mà tay đã chạm được một cục máu khô, hắn bỏ nó vào mồm, nhắm mắt, khoang miệng bỗng chốc đầy vị sắt gỉ, nhưng hắn vẫn cố ép mình không được nôn ra, hy vọng có thể chọi đựng thêm một thời gian. Lại không biết đã ngủ bao lâu, hắn ngỡ mình đã phục hồi chút sinh lực, bèn lẩy bẩy dịch người xuống dưới cầu thang, sau khi mắt đã thích ứng với bóng đêm, hắn có thể miễn cưỡng nhìn thấy hình hài vài đồ vật, ví dụ như cách chân cầu thang chừng mười thước, có một cánh cửa, đầu sư tử đồng nhả khoen đập cửa đang giận giữ nhìn hắn.
Hắn cố hết sức để rơi xuống khỏi cầu thang ấy, cơ thịt trên người đều đã không còn là của hắn nữa, chúng đập xuống mặt đất. Hắn ho sù sụ, lồng ngực và bụng đau đớn vô cùng, hẳn là xương sườn đã gãy, còn gãy mấy rẻ thì không sao đoán được, giờ đây cần kíp nhất là làm sao để rờ được tay lên hai cái khoen đồng kia, nó là cọng rơm cứu mạng duy nhất của hắn. Bò giữa đám bụi bẩn hướng về phía trước, phiền phức nhất chính là da dẻ dính đầy mấy thứ bẩn thỉu dạng sợi bông, dù mềm nhưng những hạt li ti ấy còn có thể chiu vào lỗ chân lông, khiến người ta toàn thân bứt rứt. Hắn không sợ bẩn, thực tế, trong ký ức hắn luôn là người có thể chịu bẩn.
Hít thở đã trở nên khó khăn, bụi bẳm nhảy nhót trong lỗ mũi, bịt kín thêm không gian đã tắc nghẽn, hắn sợ mình bò sai hướng, đầu lưỡi căng thẳng đến tê đi, duy có cảm giác mười đầu ngón tay bám vào nền đất nứt nẻ là chân thực, vịn vào sự chân thực mong manh ấy, hắn không ngừng nhích về phía trước, tới khi chạm được vào cánh cửa nặng nề. Hắn vui sướng phát điên, nhoài cả cơ thể lên cửa, cánh tay phải giơ ra, chạm vào một vật cứng lồi trơn nhẵn, ngay sau đó giữa các kẽ ngón tay phát ra tiếng "ken két".
"Cứu... cứu với!"
Hắn gào rách họng, nhưng chỉ nghe lùng bùng trong tai thứ âm thanh khàn đặc kỳ quặc, căn bản không truyền nổi ra bên ngoài. Lòng hắn nguội ngắt, chán chường cho cổ họng đã vỡ âm của mình. Hắn đành đập cửa, cũng không biết lực nặng nhẹ ra sao, chỉ thấy cửa rung liên tiếp, nhưng rất yếu ớt. Khoen đồng và vách cửa bị húc không tới, vai hắn hết lần này đến lần khác kè vào cửa, đây đã là tư thế đột phá tích cực nhất, tuyệt đối không thể làm hơn được nữa.
"Cứu với..."
Hắn hơi cuống, vết thương sau ót lại bục ra, chất dịch ấm nóng ngấm qua da, chảy xuống gáy, thẳng tới giữa lưng... như thể sinh mệnh cũng theo đó mà mất đi. Hắn đành ra sức húc cửa, đập cửa, phó thác mình cho nhưng người qua đường không biết là ai ở bên ngoài. Đột nhiên, toàn thân hắn bổ nhào về trước, lúc ngẩng đầu lên chỉ thấy một quầng sáng trắng lóa rọi thẳng vào mắt, hắn kêu lên một tiếng thảm thiết, phủ phục xuống đất. Một mực hướng về ánh sáng như vậy, nhưng lúc nó thực sự đến, hắn lại cơ hồ bị nó xói mù mắt, đành trốn tránh thế này.
"Mạc Như! Mạc Như! Em sao thế?"
Một giọng nữ dập dềnh trên đỉnh đầu, song hắn không dám ngẩng mặt lên nữa, nắng gắt thiêu đốt hộp sọ chảy máu cùng sống lưng bụi bẩn của hắn.
"Mau kêu người tới khiêng cậu ta về, đầu cậu ta bị thương đấy."
Một giọng nữ khác oang oang. Hắn từ từ mở mắt, giơ hai tay che, quay đầu lại. Qua kẽ ngón tay, hắn thấy hai khuôn mặt hoảng hốt, đều là con gái, một người tóc xoăn ngắn óng ả, trang điểm rất cẩn thận, nhưng không hề xinh đẹp; một người tết rối hai bím tóc thô, để buông trước ngực, trên bộ kỳ bào màu lam đất còn đượm mùi thuốc nồng nồng.
"Mạc Như! Em làm sao thế?"
Cô gái trẻ uốn tóc xoăn mắt rưng rưng lên, định nâng đầu hắn lên nhưng lại sợ chạm vào vết thương, đành ở bên cạnh bó tay bất lực. Người tết tóc bím dài lại rất bình tĩnh, đặt một tay lên gáy hắn, dùng khăn tay quấn lấy phần gáy bị thương, còn tiện lục lọi quần áo hắn, lấy ra một nắm bùi nhùi.
"Các người là ai?"
Hoàng Mạc Như đờ đẫn nhìn hai cô gái.
Người tóc xoăn thì mở to mắt, thút thít:
"Chị là chị của em, Mộng Thanh đây mà! Em không nhớ gì sao?"
Hắn đáp lại câu nói này bằng một vẻ nghi hoặc. Cô gái tết tóc nhíu mày nói:
"Chắc là ngã dập đầu, tổn thương bên trong, nhất thời đầu óc trống rỗng, đưa về trước rồi hẵng tính."
Hắn lúc này mới hơi hoảng sợ, bắt đầu cố nhớ lại một số thứ ngoài chuyện thoát thân. Ví dụ như hắn là ai? Đây là đâu? Hai cô nương trước mặt này có quan hệ gì với hắn? Đầu óc bỗng chốc đau như muốn nứt toác, hắn không khỏi bịt tai la hét, nhưng âm thanh lại kèn kẹt như lưỡi cưa mài vào thân cây, vị sắt gỉ trong miệng thậm chí còn không ngừng nhắc nhở hắn về hành trình địa ngục vừa mới trải qua. Cậu Cả nhà họ Hoàng được tìm thấy trong lầu sách khóa trái bên ngoài có thể coi là "kỳ tích", thầy lang chuẩn đoán cậu bị ngã từ trên cao xuống, không cẩn thận gáy bị va đập, thương thế khá nặng mới dẫn đến mất trí nhớ.
Đỗ Xuân Hiểu dửng dưng đứng bên quan sát, không nói gì, chỉ cầm lá bài Đại tư giáo quết qua lại trên mặt. Tô Xảo Mai khóc sưng húp mắt, không sao hiểu nổi mình đã thờ phụng Phật tổ như thế, cớ sao Phật tổ không phù hộ con trai mình, để nó năm lần bảy lượt gặp phải tai ương.
"Đỗ tiểu thư, nghe nói bài của cô rất chuẩn, có thể xem cho Mạc Như được không?"
Đây là câu đầu tiên của bà Hai sau khi niệm xong kinh.
"Ý bà Hai là, cháu ở nhà này ăn không ngồi rồi mấy ngày nay, vẫn chưa tìm được hung thủ hại bà Cả ăn đinh nên lần này phải trả lại công đạo cho con trai bà?"
Đỗ Xuân Hiểu không hề nhân nhượng, khẩu khí hùng hổ như ăn phải mấy cân thuốc súng. Tô Xảo Mai không ngờ lại vấp phải cái đinh cứng như vậy, lập tức cứng họng không nói nổi câu gì nữa. Hoàng Mộng Thanh vội lên tiếng khuyên can:
"Vất vả cả ngày trời mọi người cũng mệt rồi, hẵng về phòng nghỉ ngơi cái đã, ở đây đã có Tiểu Nguyệt và Hồng Châu thay phiên trực đêm, tất cả giải tán thôi."
Ai nấy bấy giờ mới lục tục tản đi, duy có Tô Xảo Mai vẫn nắm lấy tay con trai không chịu buông, Hoàng Mộng Thanh bèn kéo Đường Huy sang một bên, bảo cô ta đợi lát nữa kêu nhà bếp đưa lên ít điểm tâm cho mấy người hầu ăn đỡ đói, nhất định phải trông nom cho tốt, có gì cần giúp cứ qua báo. Căn dặn xong mới cùng Đỗ Xuân Hiểu về phòng. Đỗ Xuân Hiểu dường như vẫn còn bốc hỏa, đợi Ngọc Liên hầu hạ hai người tắm rửa xong xuôi, cô bèn đem bài ném lên giường, hậm hực nói:
"Chuyện lớn như thế vì sao không nói với tôi?"
Hoàng Mộng Thanh làm bộ ngạc nhiên, miễn cưỡng cười nói:
"Có chuyện gì tôi không nói cho cậu? Sao lại tức tối với tôi?"
"Cậu còn giấu!"
Đỗ Xuân Hiểu cuối cùng cũng không nhịn nổi nữa, bước tới trước mặt Hoàng Mộng Thanh đang quay lưng về phía cô tháo hoa tai, bóp chặt một bên vai đối phương, đập món đồ trong tay xuống bàn trang điểm, chất vấn:
"Đây là gì?"
Là nắm bùi nhùi lục được trong túi Hoàng Mạc Như. Hoàng Mộng Thanh sững người, bấy giờ mới thở dài, nói:
"Lẽ nào em trai xảy ra chuyện, tôi là chị gái lại không lo lắng? Cậu dựa vào đâu mà tức tôi?"
"Loại bùi nhùi này trong trấn không có, nếu có cũng đều làm từ giấy vàng thôi. Không như cái này, dùng thuốc pháo, chính là thứ hồi tôi với cậu cùng học ở Anh chuyên dùng để vào rừng chơi trò thám hiểm, cậu cho rằng lâu rồi thì tôi không nhận ra sao? Mạc Như mượn vật này của cậu, nhất định là dùng vào việc mạo hiểm, cậu giỏi lắm, cứ để cậu ta đi như thế!"
Cô nổi giận đùng đùng, nhưng vẫn cố hết sức hạ thấp giọng.
"Cậu nghĩ tôi muốn để nó đi chắc? Cậu cho rằng tôi không muốn hỏi sao?"
Hoàng Mộng Thanh ngẩng đầu lên, hai vành mắt đã đỏ ửng:
"Tính khí nó thế nào cậu không rõ chứ tôi thì rõ như lòng bàn tay, càng ép nó, nó càng không chịu nổi, nhưng làm chuyện gì cũng đều có cái lý của nó. Nếu lần này cậu vì nó không nói ra nguyên nhân mà không chịu giúp, lần sau nó sẽ đi theo hướng càng cực đoan hơn nữa, tới khi đó thôi sẽ hối hận không kịp!"
Mới rồi cô không kìm được khóc nức nở.
"Vậy cậu ta có kết cục hiện tại thì là hối kịp ư? Là coi như cậu cứu cậu ta một mạng ư?"
Đỗ Xuân Hiểu đã dần nguôi dận, giọng cũng dịu hẳn đi, muốn nói thêm mấy câu nhưng nhìn Hoàng Mộng Thanh khóc lụt cả người đi, rốt cuộc vẫn không nhẫn tâm, bèn đổi giọng dỗ dành cô.
Đêm đó, Đỗ Xuân Hiểu lại mất ngủ, nghìn vạn lời muốn bộc bạch cho thoải mái, song đành nén vào trong lòng. Đồng thời, cô thầm ra quyết định, vẫn cần nghĩ cách ở lại nhà họ Hoàng lâu hơn nữa.
30.
Hạ Băng dùng bút chì viết vào sổ ghi chép mấy dòng:
Hoàng Mạc Như ngã bị thương trong lầu sách - bùi nhùi - cửa lầu sách khóa ngoài - mất trí nhớ.
Những điểm không rõ chen chúc chật cứng như muốn nổ tung trong đầu anh, anh đành ngẩng đầu hít thật sâu, dán người vào chiếc ghế mây sau quầy tính tiền trong tiệm sách.
Đỗ Xuân Hiểu không có ở đây, tư duy của anh hình như cũng không thông, nhưng rõ ràng "tai nạn" lần này của cậu Cả nhà họ Hoàng quá đỗi kỳ lạ, khi phát hiện ra hắn, cửa đang được khóa ngoài, vậy hắn làm sao vào được trong lầu? Cả hình dạng vểt thương sau gáy căn bản không hề giống như bị đập vào cầu thang gỗ, mà rõ ràng là bị vật cứng đánh vào. Nói vậy, Hoàng Mạc Như nhất định đã thông qua phương thức nào đó lẻn vào trong lầu, tiếp đó thì bị tấn công, lăn từ trên lầu xuống, sau khi tỉnh lại bèn mò ra cửa, ra sức đập cửa thu hút chú ý. Hắn ta vô cớ mất tích hai ngày, cả nhà họ Hoàng thi nhau lật tìm mọi ngóc ngách, may mà Hoàng Mộng Thanh và Đỗ Xuân Hiểu tốt số, vừa hay loanh quanh gần lầu sách, nghe thấy tiếng đập cửa yếu ớt mới cứu được hắn ra.
Nhưng... anh vẫn thấy điểm gì đó kỳ quặc, tuy không thể nói rõ nhưng chắc chắn là có. Anh tin Đỗ Xuân Hiểu cũng cảm thấy như anh, có gì đó thần bí ẩn sâu trong nội thể, khiến hai người trở nên mẫn cảm, nhạy bén, thông minh mà không cách nào làm rõ. Trời chiều oi bức, người dễ buồn ngủ, anh cầm trong tay quyển "Truyền thuyết Lý Tự Thành", nhưng không sao đọc vào, chẳng được bao lâu cuốn sách đã tuột khỏi tay. Có lẽ vì cuốn sách, trong mơ anh thấy toàn sa trường huyết chiến, bản thân anh mặc bộ áo giáp, cưỡi ngựa báu Hãn Huyết, bên tai là tiếng chém giết rầm trời, chỉ cảm thấy đám binh lính dưới chân bé nhỏ như con sâu cái kiến, nhưng giẫm thế nào cũng không chết.
Đánh được một lúc, lại nghe tiếng trống trận tự dưng biến thành tiếng la mắng của phụ nữ, anh hơi nghi hoặc, định thần lại nghe cho kỹ thì tỉnh dậy. Tiếng quát mắng sa sả vẫn không ngớt, ra là vọng tới từ ngõ Sát Trư phía sau. Anh ngáp dài, chẳng còn lạ lẫm trước chuyện gái giang hồ cùng khách làng chơi vì mấy đồng bạc mà làm um sùm, vùi đầu định ngủ tiếp. Nào ngờ trong ngõ lại vang lên tiếng hét thất thanh:
"Giết người!"
Anh do dự giât lát, rồi vẫn chạy ra ngay, nhờ hàng bán nhang đèn coi giùm cửa tiệm, còn mình qua ngõ Sát Trư xem náo nhiệt. Rẽ vào một khúc ngoặt, từ xa đã thấy Tề Thu Bảo đầu tóc rối bù, mình mặc áo ngắn đỏ tươi nằm bò trên đất, ôm riết lấy chân trái Giản Chính Lương. Mụ già dẫn mối bên cạnh đã bó tay hết cách, đứng một bên nhìn không biết nên can ai, thấy Hạ Băng đi tới vội cầu cứu:
"Ôi chao, người anh em, mau vào can hộ cái, sắp xảy chuyện mất thôi!"
"Xảy chuyện gì?"
Hạ Băng miễn cưỡng lại giải quyết, trừng mắt nhìn lão Giản, quát:
"Hai người giằng co gì thế hả? Giữa ban ngày ban mặt mà làm cái gì đây?"
Lão Giản thừa cơ đạp Thu Bảo ra, chỉnh lại tấm áo dài mới coóng, liên tục phe phẩy cây quạt trên tay. Thấy người đến là Hạ Băng mình đã biết từ nhỏ đến lớn, lão lập tức lên mặt đáp:
"Chuyện gì, cậu hỏi con đĩ này xem! Đâu ra cái lý cưỡng ép khách?"
"Phì!"
Tề Thu Bảo đột nhiên bò dậy, chỉ thẳng vào mũi lão Giản:
"Lão Giản ông tự nói xem, mình qua lại chỗ tôi đã bao năm rồi? Thu Bào tôi có phải loại ép mua ép bán móc tiền khách hay không? Rõ ràng là ông có mới nới cũ, đem vứt hết mấy nhân ngãi ở đây sau lưng. Vứt thì vứt, cũng chẳng sao, còn cất công ghé tới, tôi đương nhiên tưởng là khách phải hầu hạ. Hóa ra chỉ tới giễu cợt tôi vài câu, kêu tôi đừng làm nữa, còn đem cái bệnh lậu chẳng biết trước kia rước ở đâu về đổ lên đầu tôi. Tôi còn phải làm ăn, sao chịu nổi khách quen phỉ báng như thế? Giờ ông không nói cho ra nhẽ thì đừng hòng đi được!"
Hạ Băng quả không hề ghét bỏ Tề Thu Bảo, thị ta năm nay bốn mươi ba tuổi, thời trẻ từng là "Tây thi phường thêu" nổi tiếng, phong thái rất mực dịu dàng. Chồng thị cũng là người nuôi tằm có của ăn của để, chẳng ngờ một ngày đột nhiên mất tích, chị ta đau buồn quá độ, dẫn đến sảy thai. Từ đó chị ta trở nên sa ngã, phường thêu cũng không mở nữa, chuyển đến ngõ Sát Trư hành nghề bán thân, chưa đầy vài năm, người đã già đi hai ba chục tuổi, trên trán bờ ruộng chạy ngay chạy dọc, khóe mắt đuôi mày trông đến thê lương. Tuy làm cái nghề hạ đẳng này nhưng thị là người tính khí bộc trực, ra chợ mua rau lúc nào cũng hiên ngang mặc cả với đám con buôn, có lần Trương đồ tể cợt nhả nói:
"Bảo tôi bán rể cho cô, vậy sao cô chưa bao giờ lấy rẻ cho tôi?"
Dứt lời liền ăn của thị một cái bạt tai nổ đom đóm mắt. Vì vậy Tề Thu Bảo cũng nổi tiếng chua ngoa hung hãn, ấy vậy mà cánh đàn ông lại hèn, cứ thích nửa đêm vắng người mang bạc mò vào ngõ hiếu kính con "hổ son phấn" này.
Một phụ nữ như thế bị lão Giản trêu ghẹo nói có bệnh lậu thì làm sao dằn nổi cơn tức, đương nhiên phải xông lên liều mạng với lão. Lão Giản giờ lắm tiền ỷ thế, nghĩ mình tùy tiện giễu cợt đám đĩ điếm mổ tí thì có sao, nên càng không chịu thua, vả lại bảo thị bệnh dâm phát tác, khắp người từ lâu đã mọc đầy mụn giang mai, không tin cứ việc lột sạch ra cho mọi người kiểm chứng. Vì gây ồn ào quá mức nên trong ngõ lúc này đã chen kín những người, đến Vương Nhị Cẩu cũng bỏ lại sạp bánh nướng qua đây góp vui.
"Được rồi được rồi! Chuyện này có gì đáng cãi lộn đâu, đường đường đàn ông đàn ang, ai lại đi chấp đàn bà? Tốt nhất là quay về uống hớp rượu, đợi đêm tới quán trà nghe kịch."
Hạ Băng tuy đồng tình với Thu Bảo, nhưng lời nói ra lại dỗ ngọt lão Giản. Có điều đám đông vây quanh không chịu thôi, chẳng biết kẻ hiếu sự nào lại quăng một câu:
"Có bệnh hay không có bệnh, cứ cởi ra xem nào, nếu không từ này bảo người ta yên tâm sao được?"
Dứt lời, đám đồng bèn ồ lên cười vang, rào rào hừa theo kêu "cởi". Tề Thu Bảo cười khẩu, giạng chân chống nạnh với mấy người ấy:
"Được! Hôm nay bà đây cho các người mở mắt, nếu trên người ta không có bệnh, lão Giản phải quỳ xuống dập đầu trước ta ba cái!"
Hạ Băng định ngăn lại thì đã quá muộn, thị ta thoăn thoắt cởi cúc cổ áo, lột thẳng qua đầu, đồng thời luồn một tay tháo dải áo yếm, động tác nhanh nhẹn không gì sánh bằng. Đám đông nhất thời không kịp phản ứng tiếng ồn ào thoắt chốc im bặt, ai nấy đều đổ dồn mắt vào người đàn bà không mảnh vải che thân trước mặt, ngay những kẻ vốn định khua môi múa mép cũng quên cả mở miệng. Thị ta cứ trần truồng như thế đứng xoay ba vòng dưới ánh mặt trời, vì thường xuyên ở trong nhà, da dẻ xanh bủng như giấy, nếp nhăn trên bụng cũng nổi bật đến giật mình, những khiếm khuyết này bình thường không thể trông rõ trong phòng tối đèn đóm tù mù. Lão Giản bấy giờ mới kinh ngạc trước sự già nua của Tề Thu Bảo, thầm cảm khái "Tây Thi phường thêu" năm xưa đã thành bà già không hơn không kém, nhưng thị ta lại không hề xấu hổ trước sự giày vò của tuổi tác trên cơ thể mình, vẫn ngạo mạn, vẫn tự tôn.
"Thế nào? Nhìn rõ rồi chứ? Còn chưa dập đầu cho ta?"
Tề Thu Bảo khom lưng nhặt lại quần áo, không vội mặc lên, chỉ vắt trên vai phải, liếc xéo lão Giản.
"Dập đầu! Mau dập đầu!"
Đám đông lại ào lên, mọi người như mới kịp định thần, lũ lượt trở giáo, bắt lão Giản dập đầu. Lão Giản đỏ gay cổ mắng:
"Réo cái gì mà réo! Ta nói sẽ dập đầu bao giờ? Là mấy ả này tự nói, ta đã đồng ý đâu!"
Một lời chuốc lấy vô số những tiếng xùy xùy. Hạ Băng vẫn muốn hòa giải, nhưng lại không sao mở nổi miệng. Tề Thu Bảo thấy lão giở trò cùn, lông màu dựng ngược, xông lên định túm lấy cổ áo lão Giản, nhưng lão phản ứng cũng nhanh, đẩy luôn thị ngã ra đất, thị không hề núng thế, chẳng buồn ôm chân đối phương gào khóc như trước nữa, trái lại ngồi bệt dưới đất cười rũ:
"Uổng cho người trong trấn này gọi ông là lãi suốt mười mấy năm, chẳng qua chỉ là tên khốn bắt nạt đàn bà con gái, còn không bằng mấy mụ ba hoa!"
Lão Giản tức thì nín bặt, chỉ đanh mặt xoay người bỏ đi, ra khỏi ngõ rồi sau lưng vẫn vang vọng tràng pháo tay châm biếm.
"Con tiện nhân chết giẫm, sớm muộn sẽ xử lý ả!"
Đây là lời thề độc lão dành cho mình. Lão Giản vừa đi khỏi, kịch hay cũng hạ màn, Tề Thu Bảo phủi bụi đất trên đầu gối, đột nhiên dựa vào người Hạ Băng, nói nhỏ:
"Tối nay hẹn ở chỗ cũ."
Hạ Băng quay đầu nhìn con ngõ thoáng chốc đã vắng tanh, không đáp. Ngõ Sát Trư chính là thế này, bình thường có vẻ ít người qua lại, tựa một khoảnh đất hoang, nhưng gái giang hồ ở đây vẫn sống khỏe, có thể thấy đám khách làng chơi hay qua lại nơi này đều là những u linh không thể thấy mặt trời, tới Phong Nguyệt lâu mới coi là quang minh chính đại. Lão Giản đã "cải tử hoàn sinh", rũ bỏ hiềm nghi kiếp "u linh" như thế. "Chỗ cũ" của Tề Thu Bảo thực ra chính là con hẻm bên cạnh phường thêu thị từng mở trước kia ở đầu Tây con sông trấn, đến giờ phường thêu đã bị một quả phụ tiếp thận mở tiệm phấn son, đồng thời bán lược chải tóc đủ màu, rất được chị em yêu thích. Thị vừa tới trước cửa tiệm, đằng sau đã có người gọi giật, quay lại nhìn, thì ra là Đào Chi.
Tuy cùng phận buôn phấn bán hương, nhưng ít nhiều cũng có khác biệt, Đào Chi trông có phần "tôn quý" hơn Thu Bảo, mấy lời khách khí của ả đều chỉ là đầu môi chót lưỡi, thực chất ả nghe nói ban sáng thị cởi đồ náo loạn một chập nên muốn moi thêm vài chuyện làm quà thừ chỗ nhân vật chính.
Đáng tiếc Thu Bảo rõ ràng lơ đễnh không để tâm, nói chưa được mấy câu đã lấy cớ có việc phải đi. Đào Chi nào chịu bỏ qua, cười nói:
"Chị vội đi gặp tình lang nào thế? Chắc không phải lão Giản chứ?"
Thu Bảo lập tức nhổ toẹt xuống đất, nói:
"Con mắt chó nào của cô trông thấy tôi đi hẹn tình lang hả? Đừng tưởng là người Phong Nguyệt lâu thì ghê gớm nhé, chẳng qua cũng chỉ hầu hạ cùng loại đàn ông với tôi thôi!"
Nói rồi cũng không buồn màng đến thái độ Đào Chi, quay người rẽ luôn vào hẻm. Đào Chi không hề tức tối, chỉ nhìn theo bóng lưng hấp tấp ấy, cười nói:
"Nếu đi gặp tình lang thì nhớ lúc nào đấy giới thiệu cho em nhé, đừng có mà ăn mảnh đấy!"
Thu Bảo nghe thấy thế, quay đầu lại cười khẩy:
"Lạ ghê, ai quy định kỹ nữ ngõ Sát Trư không được ăn mảnh thế? Bà đây cứ ăn đấy!"
Mấy ngày sau đó, Giản Chính Lương đi trên phố, ai gặp lão ta cũng chào "lão Giản" hết sức ẩn ý, như thể cất giấu bên trong ngàn vạn lời châm biếm, khiến lão lòng lo ngay ngáy. Đó là lần cuối cùng Đào Chi nhìn thấy Tề Thu Bảo, về sau thị tự dưng không thấy đâu nữa, ô cửa sổ trong ngõ Sát Trư chỉ thắt một mảnh khăn lụa thị dùng vẫy khách, thêu hình bươm bướm sặc sỡ vờn mẫu đơn, tay nghề tinh xảo, màu sắc tươi đẹp, sống động như thật. Vú già cuống lên mồ hôi đầm đìa, nói Thu Bảo không thể đột nhiên rời khỏi trấn, tìm suốt hai ngày không thấy đâu, đành tới nhờ Hạ Băng giúp đỡ. Hạ Băng mơ hồ biết chuyện này nên ngờ ai đầu tiên, bèn nhận lời ngay.
Trong đội cảnh sát có quy định ngầm là không quản tới đám xướng kỹ trấn Thanh Vân, bất kể chúng kiếm sống ở đâu, có mệnh hệ gì họ đều không đả động, chỉ coi như đáng đời; ai định giúp điều tra là ăn roi ngay nên Hạ Băng phải dặn đi dặn lại vú già không được để người trong đội biết, thậm chí chuyện Thu Bảo biến mất cũng không được để lan rộng, bằng không chẳng ai lo nổi đâu.
Bà vú đương nhiên hiểu chuyện, nhét vội cho anh hai bao thuốc, mười đồng bạc rồi vội vã ra về. Muốn tìm Giản Chính Lương, chỉ cần ngắm đúng ba nơi là được: quán trà phía Tây trấn, Phong Nguyệt lâu, và nhà lão ta. Hạ Băng ước chừng thời gian, đoán giờ này lão đang vui thú trong động, bèn tới đó, nhưng trông thấy bảng hiệu Phong Nguyệt lâu từ xa, anh lại dừng bước, thanh niên trai tráng như anh, dù chỉ đến đây tìm người cũng khó tránh khỏi đàm tiếu, mà chưa chắc đã được việc. Vì vậy anh bèn cắn răng đi tìm Đỗ Xuân Hiểu, đàn bà con gái đi dù sao cũng không thể bị đàm tiếu gì. Ai ngờ Đỗ Xuân Hiểu vừa nghe xong đã đập bốp vào gáy anh, mắng:
"Cậu đúng là ngù ngờ! Lúc này lão Giản làm sao còn tới Phong Nguyệt lâu được nữa? Không lâu trước vừa bị một kỹ nữ làm cho xấu mặt như thế, giờ lại tới kỹ viện thì chẳng phải tự chọc vào nỗi đau của mình sao? Nơi đông người lắm miệng như quán trà lão ta cũng nhất quyết không đến đâu, khác nào để cho người ta chê cười? Mấy hôm nay nếu là người bình thường, đảm bảo sẽ nấp kỹ trong nhà, đợi sóng yên bể lặng mới lại ra ngoài. Uổng cho cậu cũng là cảnh sát, đầu óc chẳng có tí nào sáng sủa!"
Hạ Băng bấy giờ mới được "khai thiên nhãn", kéo luôn Đỗ Xuân Hiểu tới nhà lão Giản, gõ cửa nửa buổi bên trong vẫn không thấy động tĩnh gì, đành hỏi thăm hàng xóm của lão ta. Người hàng xóm nói đã mấy ngày nay không thấy người đâu, hệt như hồi trước trốn nợ kỹ viện, nên cũng chẳng lấy làm lạ. Họ nghĩ rằng lão ta không chừng ngày nào đó đột nhiên xuất hiện, nên không ai để tâm. Song Đỗ Xuân Hiểu vẫn thấy có điều không đúng, bèn xúi quẩy Hạ Băng phá cửa xông vào, nhưng anh không dám, chỉ đứng thần người ra trước cửa. Cô bực bội trừng mắt nhìn anh rồi rút ra một lá bài, nhét qua khe cửa, hí hoáy một hồi, chỉ nghe thấy "cách" một tiếng, then cửa đã rơi xuống đất.
"Cậu vào đi, tôi ở ngoài canh chừng."
Đỗ Xuân Hiểu ra lệnh, Hạ Băng đành ngoan ngoãn làm theo. Không bao lâu sau đã thấy anh căng thẳng đi ra, sắc mặt trắng bệch.
"Làm sao?"
Đỗ Xuân Hiểu không biết từ lúc nào đã mua lấy một đài sẽ ven đường, đang lột hạt sen ăn, dưới chân la liệt vỏ trắng trắng xanh xanh.
"Người thì có, nhưng chết rồi."
31.
Đầu Giản Chính Lương vùi trong nửa quả dưa hấu, trên đỉnh đầu vo ve một bầy nhặng, đã thối đến nỗi người ta phải bịt mũi.
Đỗ Xuân Hiểu vẫn móc hạt sen, miệng không ngừng chóp chép, như đã quá quen với mẫác chết. Hạ Băng ngạc nhiên nhìn cô:
"Cậu vẫn còn ăn được cơ à?"
Cô thân mật nguýt anh một cái, rồi đi lại quanh phòng, tựa hồ tìm kiếm thứ gì đó đặc biệt. Nhà Giản Chính Lương không lớn, chỉ có một gian ngoài và một phòng ngủ phía trong, mé trái làm chỗ nấu nướng. Giản Chính Lương đang ngồi bên bàn ăn gian ngoài, mặt vục vào quả dưa, sau gáy cắm một cây rìu sắc. Phòng ốc thu dọn tương đối ngăn nắp, mở tủ quần áo, bên trong treo mấy bộ áo dài sạch, áo khoác và áo bông mặc mùa đông, trong ngăn kéo xếp hơn chục đôi tất trắng bóc, cùng một số quần áo lót. Trên chiếc giường bên cạnh trải manh chiếu trúc bóng rượt, sờ lên trơn dính, ghê tay hệt như sờ vào miếng khoen đồng gỉ xanh trên tủ quần áo kia.
Đợi Đỗ Xuân Hiểu đi ra, Hạ Băng đã kiểm tra qua loa thi thể, nghiêm mặt nói:
"Cậu nhớ a hoàn tên Ngâm Hương của nhà họ Hoàng không, cô ta ăn trộm đồ của bà Ba rồi chạy đến huyện thành, về sau được phát hiện chết ở bãi sông phía Tây trấn, cũng bị một nhát rìu vào đầu thế này."
"Đúng rồi."
Đỗ Xuân Hiểu gật đầu nói:
"Thủ pháp tương đương, chỉ có một điểm không giống."
"Điểm nào?"
"Hung thủ kia nhất định là người rất thân thiết với Ngâm Hương, vì vậy cô ta mới đêm hôm ở đó đợi người ấy, đồng thời cũng không hề đề phòng, bị bổ trúng giữa mặt. Nhưng hung thủ này có lẽ là người không quen biết Giản Chính Lương, hoặc không được Giản Chính Lương chào đón, nên mới vung rìu đánh lén sau lưng lão ta."
Đài sen trong tay cô đã nhẹ bẫng móp méo, hạt sen ăn sạch mà bụng vẫn chưa thấy no tí nào. Có vài thứ lạ lùng thu hút cô, chỉ là một sớm một chiều chưa thể nói cho Hạ Băng. Cái chết của lão Giản, trong con mắt của Lý Thường Đăng đội cảnh sát, chẳng khác nào "chết già". Bất kể nam nữ, với người trấn Thanh Vân hễ là "người già neo đơn" thì đều thuộc diện thừa thãi, dù gì họ cũng không đủ điều kiện có con cháu nối dõi, hay nói cách khác, chính là "đồ bỏ". Nhất là người như lão Giản, suốt ngày đàn đúm chơi bời, sống có phẩn quá đỗi tiêu dao, hơn nữa ai cũng hiếu kỳ chẳng biết tiền của lão từ đâu mà có, nhưng đều không tiện hỏi. Vì vậy khi Lý Thường Đăng tới nhà Giản Chính Lương tiến hành lục soát vòng hai, nói trắng ra chính là tìm tiền, ông ta và đội phó Kiều lật từng viên gạch, soát từng miếng gỗ vật dụng trong nhà. Cuối cùng giẫm phải một đồng bạc tây dưới chân tường sân sau, theo đó đào xuống tiếp, moi lên được hai hũ sứ màu vàng, một hũ đựng đầy đồng bạc, một hũ lại là từng cuộn từng cuộn giấy bạc cột dây chun, tổng cộng có một trăm cuộn, cũng tức là một vạn đồng chẵn. Gia tài kếch sù này khiến đội trưởng đội cảnh sát trố mắt, cho dù mấy đời nuôi tằm chắc chắn cũng không thể kiếm được nhiều thế này.
Càng kỳ quặc là, Tề Thu Bảo lúc này lại xuất hiện, dập dềnh trên con sông thị trấn, vướng vào bèo tấm củ ấu, lững lờ trôi theo dòng nước, toàn thân lõa lồ hệt như hôm nào còn chứng minh mình sạch sẽ, trên mắt cá chân cột một sợi dây đỏ. Mấy chị gái ngồi bên thềm sông giặt quần áo, từ xa trông thấy một con thủy điểu trắng đậu trên đám lục bình, còn lấy làm thích thù, bèn nhặt đá ném mấy phát, sau khi thủy điểu sợ hãi bay đi, xác chết từ từ trôi lại, da bụng đã bị rỉa banh, lộ ra lớp thịt hồng. Trấn Thanh Vân lập tức nhốn nháo, Lý Thường Đăng đang bận cùng đội phó Kiều chia gia tài tích góp của Giản Chính Lương, đến giám định tử thi cũng lười, nhưng vẫn văng tục đến.
Sau khi xem xét qua loa, từ vết tím bầm quanh cổ, đội phó Kiều phán đoán Tề Thu Bảo bị siết cổ chết, Hạ Băng đứng bên lẩm bẩm:
"Thế chẳng phải giống với mấy a hoàn nhà họ Hoàng kia sao..."
Lý Thường Đăng nghe thấy câu này, liền trừng mắt lên, hầm hầm nói:
"Giống chỗ nào? Bụng thị đâu bị cắt bỏ!"
Chị Quế thổi nguội thuốc, bưng đến bên tay Hoàng Mộ Vân, gã cười nhạt, cầm lên uống. Đã quen với thứ nước đắng nuôi mình từ nhỏ tới lớn, gã chẳng buồn chau mày. Vì gã rất ghét ăn cơm cùng người nhà, chê các món ăn bị như nhai sáp, mười năm nay chị Quế đều lén dặn nhà bếp làm những món đậm đà hơn cho gã vừa miệng, có điều càng ăn như thế lại càng hại thân. Chị vốn muốn khuyên can, nhưng lại nghĩ người có thể thực sự khiến gã nghe lời là Bạch Tử Phong đã chết, bà Ba thì điên khùng, đến nay gã còn chịu nghe lời ai nữa? Chị tự biết mình không có tư cách quản thúc, đành chiều theo hắn. Vừa nghĩ đến đây, Tô Vân phòng cô Hai đã bước vào, tay bưng một làn thức ăn đáy đen sơn vàng.
Chị Quế bưng bát thuốc đã uống hết, chạy ra đón ả, cười nói:
"Sao hôm nay lại nghĩ ra tới đây thế này?"
Tố Vân đưa làn thức ăn cho chị Quế, véo von đáp:
"Cái này là cô Hai lấy từ phòng cậu Cả, vì hôm nay người đến thăm cậu Cả đông quá, đồ biếu sắp không còn chỗ nào để nữa rồi, nên sẻ một ít đem chia cho cô cậu các phòng khác. Cậu Hai hiện giờ gặp phải mấy chuyện này, hẳn là rất buồn phiền, trong phòng cũng chỉ có thể trông cậy vào chị, lấy đâu ra thời gian qua lấy đồ? Chớ thấy cô Hai bình thường qua loa đại khái, dạo này cũng nghĩ chu đáo lắm, bảo em qua phòng cậu Cả chọn mấy đồ tốt đưa tới đây."
Chị Quế nghe vậy thì vô cùng cảm kích, bèn rủ Tố Vân vào trong ngồi một lúc nói chuyện, nhưng đối phương từ chối rằng đã muộn, chỉ vội vàng vào phòng trong thỉnh an Hoàng Mộ Vân, nói rõ lý do đến. Gã liền bảo chị Quế nhét cho ả một đồng bạc, ả cũng không từ chối, bèn cầm tiền rồi cáo từ. Tố Vân vừa về phòng liền nhìn thấy dưới hàng hiên có người đang đứng, bước lại gần mới nhận ra là Hoàng Phi Phi, bộ dạng cô ta rất nôn nóng, thoạt trông thấy ả bèn túm ngay lấy lôi vào phòng trong, khàn giọng hỏi:
"Đã nhìn rõ chưa?"
"Nhìn rõ rồi." Tố Vân gật đầu.
"Có không?"
Tô Vân khẽ lắc đầu, tựa hồ xua tan hy vọng của Hoàng Phi Phi. Cô ta đành thẫn thờ ngồi xuống ghế, lầm bầm:
"Lẽ nào mình đoán sai ư?"
Quan hệ giữa Hoàng Phi Phi và Hoàng Mộng Thanh có chút thâm sâu khó dò, bọn họ thường ngày không hay qua lại, thậm chí còn hạn chế tối đa chạm mặt nhau, nếu một trong hai người xuất hiện ở đâu thì người kia sẽ gắng không ra mặt, trừ khi cả nhà dùng cơm, hay tham gia mấy hoạt động kiểu tế tổ.
Đám người ăn kẻ ở mới đầu lấy làm ngạc nhiên, lâu dần cũng không còn thấy lạ nữa, địa vị thân phận của bọn họ quả thật có chút khác biệt, chỉ là không ai muốn vạch trền, đều vờ như không biết. Vì vậy Hoàng Mộng Thanh chủ động tới tìm Hoàng Phi Phi thực khiến Tố Vân giật nẩy mình, ngỡ rằng mình nhìn nhầm, nên tiếng "cô Cả" gọi cũng rất vang, như để xác nhận với chính mình.
Cô Cả tới đường đột, nhưng cô Hai không hề ngạc nhiên, trái lại còn bước đến nắm tay, thân thiết dẫn vào phòng trong, sai Tố Vân đi bổ dưa bưng vào. Hoàng Mộng Thanh quả nhiên rất lâu không tới chỗ em gái, vừa bước vào phòng ngủ đã nhìn quanh đánh giá một lượt.
Trên tường không có lấy nửa bước tranh chữ, mà treo hai cây súng săn Tây dương báng khảm hoa bọc bạc, giường ngủ sắt kiểu Pháp buông màn sa quây, nhìn mà thấy nóng. Trên bức bình phong bằng sứ dùng để thay quần áo vẽ hình hoa sen to oạch, bên trên vắt bộ kimono kiểu Nhật, hoa anh đào như vệt máu phun. Cô không nhịn được cười nói:
"Chỗ này của em thật bê bối quá, chẳng ra thể thống gì."
"Ra ngoài chỉn chu được rồi, còn bên trong thế nào cũng có ai thấy đâu."
Hoàng Phi Phi tùy tiện ngồi phệt xuống sàn. Hoàng Mộng Thanh bấy giờ mới để ý chiếu trúc được trải dưới đất, thì ra em gái từ lâu đã không ngủ trên giường mà cứ trời nóng là nằm dưới đất cho mát. Cô cũng nổi hứng, bèn ngồi bệt xuống, hai người nhìn nhau bật cười.
"Nghe nói hôm nay em tới thăm Mạc Như?"
Hoàng Mộng Thanh hỏi thẳng vào chuyện. Hoàng Phi Phi gật đầu, bổ sung:
"Còn sai Tố Vân sang chỗ Mộ Vân một chuyến."
"Hiếm khi thấy em chịu khó đi lại thế, nhất định là có duyên cớ gì rồi."
Cô phe phảy cây quạt tròn, gắng vờ như chỉ hỏi vu vơ. Nào ngờ Hoàng Phi Phi nghẹo đầu đáp:
"Thấy anh ấy ngã trong lầu sách thành ra như thế, đương nhiên em muốn biết rõ sự tình. Lại nghe bác sĩ bảo không nhớ gì nữa, sợ anh ấy đến đứa em gái là em cũng không nhận ra nên em đi thăm thôi. Em còn hỏi anh ấy sao lại vào trong lầu sách, chị đoán xem anh ấy trả lời thế nào?"
Hoàng Mộng Thanh không ư không hử, chỉ dùng ánh mắt ra ý cho cô ta nói tiếp.
"Anh ấy nói biết em là em gái, còn nói mình nhớ lý do vào lầu sách."
"Lý do gì?"
"Anh ấy nói..." cô ta ngừng lại giây lát rồi mới tiếp:
"Có người nhờ anh ấy vào trong lầu tìm giúp một quyển sách cổ, nên anh ấy mới đi."
"Là ai bảo nó đi?"
"Nói là Mộ Vân."
"Nên em mới sai Tố Vân tới thăm Mộ Vân sao?"
"Không chỉ có thế."
Hoàng Phi Phi toét miệng cười, lộ ra hàm răng trắng đều tăm tắp. Tim Hoàng Mộng Thanh bất giác thắt lại, từ lâu cô đã biết đứa em gái này có vài "sở trường" bí mật mà đa số người nhà họ Hoàng không hề hay biết.
Năm cô mười tuổi, Hoàng Phi Phi lên tám, hai người cùng nô đùa bên giếng, theo sau là một vú già chân tay đã không còn nhanh nhẹn. Vốn dĩ chỉ là đứng đó chơi ngoắc dây thành nhiều hình, được nửa chừng Hoàng Phi Phi đột nhiên chỉ vú già đang ngồi ngủ gật trên thành giếng nói:
"Chị ơi, bọn mình đẩy bà ấy xuống cho vui?"
Hoàng Mộng Thanh biết làm thế là sai, bèn lắc đầu không chịu. Hoàng Phi Phi lại nói:
"Vậy chị ơi, lần xếp dây này nếu em thắng chị, chị giúp em một chuyện được không?"
Cô lập tức nhận lời, vì em gái chơi trò này chưa bao giờ thắng cô. Kết quả không hiểu làm sao, sợi dây đỏ lần ấy lại bung ra trong tay Hoàng Mộng Thanh, cô đành bất đắc dĩ nhìn em gái, Phi Phi ngước khuôn mặt ngây thơ, hết nhìn sang thành giếng lại nhìn qua chị gái, ý tứ rất rõ ràng. Cô thoáng chút bực bội, đòi chơi lại một ván quyết thắng thua, thế là lại chơi một lần nữa, sơi dây vẫn tuột ra trong tay cô, Phi Phi như đột nhiên trúng phải bùa phép, trình độ sáng dạ khéo tay tự nhiên vượt ngoài tưởng tượng của chị gái. Chơi hết ba bàn, cô đành nhận thua, nhón chân nhón tay rón rén lại gần vú già, vú già không hề phát giác, thậm chí vẫn cứ ngáy đều đều, cơ thể chậm rãi phập phồng theo nhịp thở êm đềm. Hoàng Mộng Thanh càng lúc càng căng thẳng, người tuy đã tới bên giếng mà chân vẫn run run, nhưng trong lòng cũng có đôi chút phấn khích kỳ lạ, tưởng tượng bộ dạng vú già rơi tõm một tiếng xuống giếng, nhất định rất khôi hài nực cười.
Vú già vẫn ngủ như chết, không hay biết vận hạn sắp ập tới, tay Hoàng Mộng Thanh đã chạm vào eo mà bà ta hoàn toàn không phát giác. Cô âm thầm tính toán, phải dùng lực thế nào,đẩy mạnh từ đâu để bà vú có thể chuẩn xác rơi xuống giếng? Đột nhiên phát hiện kế hoạch có vấn đề, động tác bất giác cũng trở nên ngập ngừng. Đúng vào lúc ấy, Hoàng Phi Phi đột nhiên hét lớn:
"Cẩn thận!"
Bà vú tức thì bị đánh thức, nước dãi cũng không kịp lau, cả người đã giật nẩy lên. Vì bờ giếng quá hẹp, biên độ động tác bà ta sực tỉnh lại quá lớn, hai chân cùng lúc giơ lên, người bị mất thăng bằng, không nghiêng không lệch rơi đúng vào miệng giếng. Hoàng Mộng Thanh còn chưa hiểu chuyện gì thì tiếng "tõm" mà cô tha thiết mong muốn đã vang lên bên tai. Tiếp đó là tiếng khóc thét thất thanh như xé tim xé phổi của Hoàng Phi Phi, mãi không dứt, như muốn xé toạc cả bầu không. Mọi người nghe tiếng chạy đến, thấy con bé vừa khóc vừa chỉ tay vào miệng giếng thì lập tức hiểu đã xảy ra chuyện gì, vội vàng ba chân bốn cẳng nhào đến, cũng coi như kéo được bà vú già ướt lướt thướt lên. Khi Hoàng Thiên Minh hỏi vú già làm sao rơi xuống giếng, Hoàng Mộng Thanh trông thấy tay em gái run run chỉ vào mình.
32.
Lý Thường Đăng cứ cảm thấy sự việc có gì đó không đúng, tuy nói điều tra vụ án Giản Chính Lương giúp ông ta và đội phó Kiều phát tài to, nhưng nghĩ ngợi thế nào cũng vẫn thấy mâu thuẫn.
Một là Giản Chính Lương lúc sinh tiền từng không trả nổi cho Phong Nguyệt lâu hơn một nghìn đồng mở hàng mà phải trốn khắp nơi, vậy mà nay lại đào được nhiều tài sản như thế trong sân nhà lão, tuyệt đối không giống dạng người túng quẫn đến nỗi phải quỵt tiền; hai là cảm thấy rất hứng thú với mảnh sân chỉ trồng độc một gốc hòe già trong nhà lão, hôm đi tra soát quá gấp gáp, lại lo bọn Hạ Băng nhìn thấy, nên đào không được triệt để, sau khi đã nếm mùi, lòng vẫn còn ngứa ngáy, muốn tới nhà người chết bới đào thêm lần nữa, chưa biết chừng còn có thể tìm ra vài niềm vui bất ngờ.
Nghĩ đến đây, ông ta đương nhiên không thể không đi tìm đội phó Kiều, hai người phối hợp rất ăn ý, bèn nhân nửa đều không người quay lại nhà lão Giản. Lúc ở dưới gốc câu hòe đào đát, đội phó Kiều nói một câu:
"Em ngờ rằng, ngay đến lão Giản cũng không biết trong sân có số tiền này đâu, nếu biết, lão ta hẳn đã đem ra khoe khoang rồi."
Lý Thường Đăng phụ họa thêm:
"Tôi cũng nghĩ như cậu, nhưng lại càng không hiểu, ai có thể giấu đồ trong sân nhà lão chứ? "
Đội phó Kiều lặng thinh, chỉ cúi đầu đào bới, ông ta không phải người tráng kiện, mỗi nhát xẻng đều phải tốn không ít sức, vì để mình trần, biên độ động tác lại hơi lớn, nên nhưng hạt mồ hôi li ti còn bắn như mưa lên mặt Lý Thường Đăng ở đối diện.
Lúc xẻng húc vào gốc cây dương hòe, hoa trắng trên cây lả tả rơi xuống như tuyết nhẹ đầu mua, cảnh tượng lẽ ra nên đẹp đẽ lý thú này lại bao trùm một tầng dục vọng và hung hiểm nặng nề. Mồ hôi lã chã lăn trên lông mày Lý Thường Đăng nhỏ vào mắt cay cay, ông ta cũng chẳng màng, chỉ cầm mảnh khăn bông vắt trên cổ quệt bừa một cái, lại tiếp tục đào bới. Một tiếng "cách" vang lên, khiến thần kinh hai người thắt lại, như lúc mở bát chơi bải hoa ở sòng bài, thời khắc người vui kẻ buồn dường như sắp đến rồi. Đội phó Kiều phấn khích vứt xẻng sang một bên, quỳ xuống đất dùng hai tay điên cuồng bới đất, vừa bới vừa cười nói:
"Phát tài rồi! Lần này phát tài rồi!"
Lý Thường Đăng cũng chạy lại, cùng ông ta dùng tay đào bới, quả thật là "vàng ở dưới gối" không chệch đi đâu được khiến bọn họ tự nguyện quỳ mãi thế này. Là đội phó Kiều chạm vào vật ấy đầu tiên, nhưng khi ngón tay vừa chạm tới, lòng đã nguội đi một nửa, là vì quá nhẹ, quá cứng, nhất định không phải vàng bạc, càng không phải giấy bạc. Đến khi nhấc lên, soi đèn dầu nhìn mới biết đây là một miếng xương đầu người. Đội phó Kiều lập tức sầm mặt tức giận, quệt mồ hôi, vứt mảnh xương ấy sang một bên, chửi đổng:
"Lão xấu xa Giản Chính Lương này, thì ra còn mưu tài hại mạng!"
Lý Thường Đăng lại khom lưng xuống nhặt miếng xương lên, lật qua trở lại quan sát tỉ mỉ, lầm bầm nói:
"Trông có vẻ đã chết mấy chục năm rồi, nếu thật là do lão già kia làm, thì đây là món nợ cũ."
"Thường Đăng này!"
Đội phó Kiều đột nhiên cười gian, nói:
"Chắc không phải anh sớm biết chỗ Giản Chính Lương có ẩn tình khác nên mới bày trò dụ em tới đây giúp anh tra án đấy chứ?"
"Nói linh tinh!"
Lý Thường Đăng bỏ miếng xương đầu xuống, độp lại:
"Nếu dụ cậu thì số tiền kia chia cho cậu, còn cả đồng bạc đại dương nữa, đều là giả chắc?"
Đội phó Kiều lập tức thấy mình không phải, vội cười xòa nói:
"Đùa anh ấy mà, còn tưởng thật nữa! Em chỉ đang nghĩ, nếu Giản Chính Lương không biết đến số tiền chôn trong dân, vậy thì ở nơi nào đó trong căn nhà này nhất định vẫn còn giấu vốn riêng của lão. Chúng ta có nên tìm tiếp không?"
"Tôi đã nghĩ thế từ lâu, còn đợi cậu nói?"
Lý Thường Đăng cười đáp:
"Nhưng cậu có thấy, lúc bắt đầu lục soát căn nhà này, có gì đó bất thường không?"
"Chỗ nào bất thường?"
"Giản Chính Lương là đàn ông sống một mình, vậy mà phòng ốc lại thu dọn quá đỗi ngăn nắp... nói chính xác thì không phải phòng ốc thu dọn nhăn nắp, mà là có vài chỗ trong phòng quá sạch sẽ, sạch sẽ đến độ khiến người ta lơi lỏng cảnh giác."
Đội phó Kiều gật đầu, nói:
"Đúng vậy, trong bếp bám đầy muội đen, giấy cửa sổ cũng đã ố vàng, như thể mấy năm rồi vẫn chưa hồ mới, chiếu trúc trong phòng ngủ đầy dầu, rõ ràng lâu ngày không lau. Chỉ có... chỉ có trong tủ quần áo, quần áo đều treo rất ngay ngắn, tất trong ngăn kéo cũng được xếp gọn gàng. Vì sao? Vì sao chỉ có chỗ đó ngăn nắp? Những chỗ khác đều như dùng dẻ lau qua quýt lớp bụi bẩn bên trên, có mỗi chỗ đó là sạch sẽ quá đáng..."
Còn chưa phân tích xong, Lý Thường Đăng đã vứt xẻng sắt đi thẳng vào nhà, đội phó Kiều cũng bỏ điếu thuốc hút dở đi theo. Ban đầu vì tiền tài che mờ đầu óc, hai người đã soát một lượt nền gạch và ván gỗ trong phòng, một kẽ hở cũng không bỏ qua, nhưng giờ nhìn lại, vẫn bỏ sót một chỗ - vách tường. Lý Thường Đăng mở tung tủ quần áo, lôi hết áo quần trong đó ra. Chiếc tủ trông giống một kén tằm đỏ sậm, lặng lẽ mở rộng lòng, tựa hồ đang đón chào khách quý, tỏa ra một luồng khí thanh mát đặc trưng của gỗ đàn hương. Lý Thường Đăng gõ mấy cái lên vách trong,chỉ thấy vang lên mấy tiếng "cộc cộc". Ông ta lại lần mò quanh đáy tủ, chợt rờ thấy một khối vuông cứng lồi lên ở mé phải, như cái mấu thừa ra. Là do thợ mộc làm ẩu ư? Ông ta mau chóng gạt đi giả thiết này, ấn bừa mấu vuông ấy một hồi, đến khi ngón tay bất cẩn gạt nó về bên phải, khiến mấu gỗ hơi long ra. Cố dằn niềm vui sướng, ông ta giữ chắc mấu gỗ, vận lực xoay nó sang phải...
Chỉ thấy bức tường vách trong phát ra tiếng "cọt kẹt" chói tai, như gỗ mài vào nhau, nhưng hai người Lý ,Kiều lại nghe thấy vô cùng vui tai, chẳng khác nào mở được núi vàng. Hai tấm vách trong vốn dĩ khép chặt không chừa khe hở giờ như cánh cửa mở rộng, để lộ một động đen thần kỳ, không hề có bụi băm rơi xuống, thậm chí không khí bên trong còn mát mẻ, đủ để tránh nóng.
Đội phó Kiều cố gắng kiềm chế vẻ kinh ngạc, nói:
"Chẳng lẽ là mật thất? Lão Giản cũng lắm trò quá nhỉ!"
Nào ngờ Lý Thường Đăng lại cười rất thư thái, nói:
"Lần này xem như cũng tìm được cái cần tìm rồi!"
Vừa nghe dứt lời, đội phó Kiều chợt cảm thấy không khí bên tai chấn động dữ dội, một trận gió mạnh quét qua mang tai, trước mắt ông tối sầm, rồi đổ ụp người xuống.
Trước khi hôn mê, ông ta biết trán mình đã nhận một cú đánh mạnh, chỉ là không hề thấy đau. Hoàn Mạc Như mở chiếc rương, nhìn những món đồ bên trong, lại cảm thấy không biết làm sao. Đó là một chiếc rương gỗ long não trông rất tầm thường, sơn đỏ loang lổ, như rất lâu rồi không dùng đến. Tử sau khi xảy ra chuyện, hắn phát hiện có rất nhiều bí mật vốn thuộc về mình, đã trở thành "bí mật" hoàn toàn, nếu hắn không tìm ra đáp án, e rằng sẽ vĩnh viễn không có lời giải.
Ví dụ như chiếc rương gỗ trước mặt đấy, có lẽ từng là một món đò quan trọng hắn ta cất giữ trước khi mất trí nhớ, giờ đã chẳng còn manh mối nào về nguồn gốc của nó nữa. Lòng hắn bực bội, chỉ muốn đem thứ gì ra trút giận, thậm chí còn cố ý bới móc, kiếm chuyện với người hầu, đến nỗi mấy a hoàn đều trốn hắn thật xa, thà ở ngoài phòng thêu thùa, gỡ dây chứ quyết không chịu ở lâu trước mặt hắn. Vì thế hắn lại càng nóng nảy như con dã thú, lật tung rương hòm, tìm kiếm ký ức thất lạc, chiếc rương dưới gầm giường bấy giờ mới hiện hình.
Hắn lục ra trong rương một chiếc áo cánh nữ màu đen viền thêu hoa hồng đào, một chiếc váy dài nếp rộng móc viền sa, từ trong chiếc váy rơi ra một vật đen dài, giống như đầu người, lại dèn dẹt, là là đổ ụp xuống giày hắn khiến hắn sợ toát mồ hôi, nhìn kỹ lại mới biết là bộ tóc giả dài. Trong bộ tóc giả còn bọc một thỏi son môi, một hộp phấn sáp, vì rơi xuống đất nên đã lăn ra xa, đụng phải chân ghế mới dừng lại. Đầu hắn bỗng dưng lóe lên một tia chớp, chiếu sáng lóa những món đồ ấy, hắn hoảng hốt trông thấy Hiểu Mãn trong mộng, mình quấn tơ tằm tráng bạc, ngồi đó mỉm cười.
"Hiểu Mãn..."
Đôi môi đỏ như cánh hoa, vết rạn da yêu dị, nốt ruồi nhỏ trên sống lưng trắng ngọc ngà... trong con ngõ sau quán trà phía Tây trấn, nàng quay đầu lại, nói với hắn:
"Hôm nay chúng mình chơi kiểu mới này được không?"
Hắn ngồi trước gương, nhìn khuôn mặt tiều tụy vì mất trí của mình, vẫn khôi ngô, đường viền từ thái dương xuống cằm lại càng thêm sắc sảo, hai con ngươi vùi trong hốc mắt sâu đen, như đang che giấu một đoạn quá khứ.
Trên khuôn mặt thế này, phải làm sao vẽ lên những ký ức vương vấn đầy hồn mộng đây? Hắn đội mái tóc giả, che đi hai gò má hơi thô, làm nổi bật chóp mũi nhỏ và dung mạo đoan trang, vẻ đẹp này thấp thoáng nét nanh ác đáng sợ. Hắn cảm thấy "cô gái" trong gương không đủ dịu dàng, bèn tiện tay nhón ít phấn sáp thoa lên mặt, che đi hốc mắt đen, ánh mắt liền trở lên đa tình, vết thâm ở nhân trung và cằm cũng trở nên trắng bóc, chỉ có điều xanh xao như ma quỷ, khiến ai nhìn đều chột dạ. Son điểm ở môi trên, quả thật tốn của hắn không ít công sức, chấm mạnh quá sẽ nghiêng về lòe loẹt, chấm nhẹ quá lại ảm đạm nhạt nhòa, đặc biệt phải vẽ cho vành môi mỏng của hắn trở nên đầy đặn. Điều kỳ lạ là, hắn làm việc này rất nhanh nhẹn quen tay, chưa đầy mười lăm phút, trước mặt hắn đã là Hoàng Phi Phi thần sắc như mộng du. Có điều Hoàng Phi Phi này gầy hơn một chút, cổ cũng thô hơn một chút, rốt cuộc vẫn có khí chất đàn ông, nhất là hai hàng lông mày lưỡi mác, hẵng còn đợi sửa sang. Cũng may hắn không vội, động tác sửa lông mày rất chậm, rất chắc, thực ra công đoạn này có hơi thừa thãi, vì phần mái bộ tóc giả cũng đủ che đi khiếm khuyết này, nhưng hắn vẫn dốc sức hoàn thiện, điềm đạm thản nhiên chuốt nhổ.
Đến khi người trong gương đã giống Hoàng Phi Phi đến tám chín phần, hắn mới lộ vẻ hài lòng, thu hết son phấn lại. Bên dưới khuôn mặt xõa tóc dài trong gương, là yết hầu nổi gồ, cặp xương quai xanh bắt mắt và lồng ngực phẳng như đồng hoang. Khuôn mặt được chải chuốt cẩn thận kết hợp với phần thân thể lõa lồ chưa che đậy, toát lên một mỹ cảm cổ quái, chạm đến tận linh hồn. Tám áo cánh nữ mài đen mặc lên người cũng rất dễ dàng, hắn đã gầy hơn trước kia đôi chút nên phần ngực và bụng đều rộng thùng thình. Tơ lụa trượt qua da thịt như dòng suối mát, không nắm bắt nổi chút phương hướng, hắn lại quay lại nhìn người trong gương, như con hát đang trút bỏ dở hóa trang, biến nhác, mà tinh tế.
"Cậu Cả ăn vận thế này định đi đâu thế?"
Trong gương xuất hiện một người nữa, tóc tết bím rối, dáng cao gầy, nét mặt thông minh.
"Đi..."
Câu trả lời vốn đã niệm đi niệm lại hàng trăm lượt trong lòng đúng lúc thốt ra miệng lại mắc kẹt, khó khăn lắm mới thốt ra ba từ:
"Tìm Hiểu Mãn."
Đỗ Xuân Hiểu giơ bộ bài tarot trong tay, cười nói:
"Cậu từ từ hẵng đi tìm, để tôi giúp cậu bói xem Hiểu Mãn giờ đang ở đâu."
Bốn lá bài tarot đã trải thành hình thoi, Đỗ Xuân Hiểu cùng Hoàng Mạc Như giả gái ngồi đối diện với nhau, thông thường trong tình cảnh này, cô nhất định sẽ thừa cơ châm chọc, nhưng luồng khí yêu dị tỏa ra từ người Hoàng Mạc Như lại rất mực nghiêm túc lịch sự, khiến người ta vừa bất giác sinh lòng thành kính, vừa mê đắm trong vẻ đẹp này.
Lá quá khứ: Tình nhân xuôi.
Trong lòng cô biết rõ, hắn từng có một mối quan hệ ngọt ngào mà cuồng điên, một người tình khắc cốt ghi tâm, cây trâm rẽ tóc bằng ngà voi quý giá ấy đã trăm lần vạch qua da đầu xanh tái của thị, tựa hồ để định rõ tọa độ cho tình yêu.
Lá hiện tại: Tử thần xuôi, Đại tư tế ngược.
Rõ ràng, tai bay vạ gió khiến tình yêu không sao thành hiện thực, trong cái họa này, có bao gồm giãy giụa, bội phản, thù hận, có thể nói là thoắt hiện hung cơ.
Lá tương lai, Đỗ Xuân Hiểu không lật bài, mà úp tay xuống, nghiêm mặt nói:
" lá bài cuối cùng ai giải cũng không chính xác, nên mời cậu Cả đích thân đi tìm lời giải đúng thì hơn. Có điều không thể không nhắc nhở một câu, lòng người khó lường, việc đời khó liệu, mọi chuyện đều phải đặt thận trọng lên hàng đầu, tiệm dầu muối đã đóng cửa ở phía Tây trấn kia đã mài mòn quãng thời gian tươi đẹp thuần phác của cậu, nhưng nếu cậu không tìm được Tần Hiểu Mãn, chỉ e sẽ nuối tiếc cả đời, có phải vậy không?"
Hắn mơ màng nghe mấy lời nửa khuyến cáo nửa dụ dỗ ấy, trong đầu chỉ khóa chặt hai từ - Tây trấn, tiệm dầu muối.
33.
Trương Diễm Bình gào khan suốt bảy ngày, mắt nhìn trừng trừng lên xà nhà, tóc tai xõa xượi đứng trơ ra đó. A Phụng bị dọa đến phát khóc đành đi tìm chị Quế cầu cứu, nói đã cho uống thuốc theo đơn thầy lang kê nhưng bệnh tình không những không thuyên giảm mà càng nghiêm trong hơn. Mới đầu chỉ là ban ngày la hét mấy tiếng, giờ đã không kể ngày đêm, hệt như loài chim nào đó, rít lên những âm dài khô khan đơn điệu, không có cảm xúc, cũng không cao thấp trầm bổng, chỉ rung thẳng từ cổ họng, nghe lâu dần, đến người bình thường cũng sẽ phát điên.
Hoàng Mộ Vân dẫn theo chị Quế tới phòng Trương Diễm Bình thì thấy mấy a hoàn đều đang bịt tai ngồi chồm hỗm ở cửa, bên trong cứ chốc chốc lại vọng ra tiếng Trương Diễm Bình la hét. Hai người lúc ấy cũng giật mình không dám bước vào, Hoàng Mộ Vân nắm lấy tay A Phụng kéo ả lên, mắng:
"Các người toàn là người chết hay sao? Còn không vào trong hầu hạ!"
A Phụng ấm ức biện bạch:
"Đâu phải người chết ạ? Chính vì không hầu hạ nổi nên mới thưa với chị Quế. Bà Ba thế này, mọi người có ai vui đâu, nô tì đã mấy ngày liền không dám ngủ rồi, chỉ sợ xảy ra rắc rối gì!"
Bước vào phòng trong, Trương Diễm Bình đang ngồi trên giường, không son phấn, miệng ngoác rộng, khóe môi chảy ra một dòng nước dãi, dính xuống ngực. Một phụ nữ vốn yêu kiều thướt tha, giờ nhìn đã già đi mười tuổi.
"Mẹ?"
Hoàng Mộ Vân cất tiếng gọi.
"A... a a..."
"Bà Ba?"
Chị Quế bước lên trước, đặt tay lên lưng bà ta, định ngăn tiếng hét lại, nào ngờ bị bà ta hất phăng tay ra. Chị Quế loạng choạng lùi ra sau, ngã uỵch vào một người nào đấy, chị ta ngỡ là cậu Hai, vội vàng quay lại, liền trông thấy Mạnh Trác Dao đứng đó. Trong phòng thoáng lặng đi, nhưng ngay lập tức sự im lặng lại bị Trương Diễm Bình phá vớ, bà ta như bị móc mất bộ não và trái tim, trở thành một cái máy hát chỉ biết phát một đĩa nhạc.
Không hiểu sao, Mạnh Trác Dao nhìn không có vẻ hung hăng thường ngày, mà từ khí cốt toát ra sự trấn tĩnh, mạnh mẽ. Mẳt bà ta dửng dưng, giọng nói hơi kèn kẹt mọi khi cũng không còn nữa. Bà Cả lột xác ấy bước tới trước mặt Trương Diễm Bình, riêng khí thế đã đủ bức người, nhưng kẻ điên nào hiểu chuyện gì, chỉ biết la hét.
"Bà Ba thế này bao lâu rồi?"
Dù Trương Diễm Bình đang la hét om sòm, nhưng Mạnh Trác Dao vẫn không hề cao giọng khi nói, trái lại còn khiến người ta phải căng tai nghe xem bà ta nói gì. A Phụng cũng đã tới trước bậu cửa phòng trong, thấy bà Cả hỏi thế thì vội bước vào trả lời:
"Bảy ngày ạ."
Mạnh Trác Dao không nói gì nữa, bước tới trước mặt Trương Diễm Bình, giáng cho bà ta một cái tát thật mạnh, tiếng tay đập vào da thịt vừa giòn vừa vang, đủ thấy dùng lực thế nào. Tựa như kỳ tích, Trương Diễm Bình ngưng bắt, chỉ thẫn thờ nhìn về phía trước. Mọi người đều không dám thở mạnh, đợi bà Cả lên tiếng.
Mạnh Trác Dao uy nghiêm nhìn lướt qua những người trong phòng, quát:
"Đám các người là lũ đần sao, ngày thường không dạy các người nhìn ánh mắt mà làm việc hả? Sao suốt bao nhiêu ngày bị chủ nhân bỡn cợt thế mà không ho he một tiếng? Rõ ràng biết bà Ba ở đây giả điên giả ngốc, hai cả nhà lao tâm khổ tứ vì ả ta! Bà Hai cả ngày ăn chay niệm Phất cầu phúc cho ả, ta cũng đau đầu suốt mấy ngày, vì biết trong nhà đã xảy ra quá nhiều chuyện, sợ thêm loạn mới không dám nói ra. Còn cả lão gia nữa, chớ thấy ông ấy ngoài mặt an nhiên bình thản, thực ra người vất vả nhất chính là ông ấy. Các người thì hay rồi, còn đi rêu ra khắp nơi nói bà Ba bệnh nặng thế nào, phải đưa lên bệnh viện lớn trên Thượng Hải chữa trị, sợ nhà chúng ta ở đây còn chưa đủ chuyện mất mặt ư?"
Lời nói ra khiến tất cả mọi người đều chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì, nhưng lại cũng như được vén áng mây mù. Hoàng Mộ Vân rốt cuộc không nhịn nổi nữa, hỏi lại:
"Mẹ Cả nói thế thật lạ lùng, mẹ con vì chuyện trong lầu sách mà hoảng loạn, ai nấy đều biết, giờ lại còn vu vạ cho bà ấy giả điên giả ngốc ư!"
"Hừ!"
Ánh mắt Mạnh Trác Dao nhìn Trương Diễm Bình đã sắc như mắt sói, bà ta cười nói:
"Nào chỉ giả điên giả ngốc! Đây còn là giả thần giả quỷ!"
"Mạnh Trác Dao! Cơm có thể ăn bừa, lời không thể nói bậy! Bà nói mẹ tôi giả điên, chứng cứ đâu?"
Hoàng Mộ Vân đã tức đến nỗi toàn thân lẩy bẩy, tựa hồ không kiềm chế nổi nữa, gọi thẳng cả họ tên bà Cả. Mạnh Trác Dao cũng không sợ gã, quay ngoắt lại chỉ thẳng mũi Hoàng Mộ Vân, thủng thẳng nói:
"Nếu ả ta không giả điên, thì lũ chim chết trước cửa các phòng mấy ngày trước là do ai tạo nghiệt? Nếu muốn người ta không biết trừ phi đừng có làm, làm ra chuyện như thế rồi còn không sợ sấm sét đánh cho?!"
"Bà Cả có phải hiểu nhầm rồi không? Đợt trước cửa các phòng đều bị vứt chim chết, kể cả phòng bà Ba..."
Chị Quế sợ Hoàng Mộ Vân bốc đồng chịu thiệt, vội thay gã biện giải. Nhưng lời còn chưa dứt đã ăn trọn một cái tát của Mạnh Trác Dao. Bà ta như đã tiềm phục lâu năm, dần dần tích đủ sức mạnh dùng để bộc phát hết trong ngày hôm nay:
"Ngươi cũng bị mỡ lợn bịt kín đầu rồi, đến mình thân phận thế nào, làm những việc gì còn không biết! Tiền công nhà họ Hoàng là bà Ba trả người, là cậu Hai trả ngươi chắc? Một mình ở vậy thì cũng thôi, còn dày mặt ở đây chống lưng cho mụ điên này?"
"Mạnh Trác Dao, hôm nay nhất định phải nói cho ra nhẽ, nếu không thì cùng đi tới chỗ cha tôi làm rõ phải trái!"
Hoàng Mộ Vân mặt mũi đỏ bừng, mắt vằn tia máu, đối diện với kịch biến thế này, gã còn kinh ngạc nhiều hơn phẫn nộ, tức đến nội nghẹn cả giọng, chuốc lấy mấy tiếng cười nhạo của Mạnh Trác Dao. Chỉ duy có Trương Diễm Bình đối với mọi việc xảy ra xung quanh đều như không nghe không thấy, trái lại còn điềm tĩnh nhìn con trai, thấy gã nghẹn ngào chực khóc, khóe miệng bà ta lại hơi nhếch lên, bộ dạng vô cùng thích thú.
"Ôi chao, cậu Hai đây cũng nóng quá nhỉ? Muốn tới trước mặt lão gia cũng được thôi, song đến lúc đó đừng trách ta không nể tình vạch mặt mẹ cậu. Cậu Hai, cậu thử nghĩ kỹ xem, chim chết bỏ trên bậc cửa các phòng khác đều là những con quý hiếm nhất treo dọc hàng hiên, duy có trước cửa phòng mẹ cậu là kiều phụng rẻ tiền. Ai nấy đều biết, mẹ cậu ngoài cậu ra, thì coi lũ chim chóc ấy như máu mủ ruột thịt, cho dù ả muốn bày chuyện cũng sẽ không động tới đám con cưng trong phòng mình. Thế nào? Bà Ba, tôi có nói sai cho bà không?"
Mạnh Trác Dao đắc ý ngửa đầu, áp sát Trương Diễm Bình. Trong phòng bỗng chốc lặng ngắt, ai nấy đều như đang đợi Trương Diễm Bình hiện nguyên hình, ngay đến Hoàng Mộ Vân cũng quên bẵng cơn phẫn nộ, đờ đẫn nhìn mẹ. Lúc này, nét cười trên khóe môi Trương Diễm Bình đã rõ thêm, bà ta chợt ngẩng phắt đầu, nhìn thẳng Mạnh Trác Dao, trong mắt bùng lên hai ngọn lửa sáng rực, không biết là buồn hay vui, ngay Mạnh Trác Dao cũng bị đôi mắt ấy làm cho khựng lại, nhất thời không màng "thừa thắng truy kích" nữa, người thần ra không nói được gì. Đến tận khi Trương Diễm Binh gầm lên một tiếng, bổ nhào vào người Mạnh Trác Dao, hai tay dống chết siết chặt bà ta, mọi người mới sực tỉnh, cuống quýt định túm lấy bà Ba không biết điên giả hay điên thật, nhưng đều bị bà ta gạt ra. Sắc mặt Mạnh Trác Dao chuyển từ tái sang tím, gân xanh trên trán lồi lên, mười móng tay dài nhọn không ngừng cào cấu "gọng kìm" của Trương Diễm Bình trên cổ mình, toan khiến đối phương đau đớn mà buông tay. Không ngờ Trương Diễm Bình như mất đi tri giác, không những không nới lỏng mà còn siết chặt thêm, khuôn mặt hung dữ nhe nhởn cơ hồ dính sát mũi bà ta. Mạnh Trác Dao bấy giờ mới hiểu, thì ra căm hận quả thật mang hình dạng ngọn lửa, có thể thiêu đốt mọi thái độ thù địch.
Tiếp đó, bà ta thấy những tiếng la hét kinh hoàng hoặc cao hoặc thấp, hoặc giả tạo hoặc chân thực xung quanh dần trở nên lùng bùng, từ từ trôi xa khỏi màng nhĩ. Thậm chí còn có một hình bóng mơ hồ trùm lên đỉnh đầu, bà ta nghe thấy tiếng máu chảy ầm ầm, cơ thể từ từ tê liệt, cảm giác phổi đã dồn thành một khối, đang ra sức tìm kiếm không khí. Pằng! Một tiếng nổ inh tai vang vọng trong phòng, Mạnh Trác Dao không kịp phòng bị, một ngụm khí lớn đã ùa vào khoang ngực, lập tức ho sặc sụa, đến khi định thần lại mới thấy Trương Diễm Bình cưỡi trên người bà ta hai tay ôm đầu, vai run bần bật. Bà ta cố nhấc chân một chút, ngồi thẳng người dậy, đẩy Trương Diễm Bình sang một bên, dịch người ra sau quan sát. Hoàng Mộng Thanh đang đứng ngay giữa phòng, trong lòng ôm một khẩu súng săn báng dài khảm hoa, nòng súng còn bốc lên một luống khói xanh. Đứng bên cạnh là Đỗ Xuân Hiểu, hai ngón trỏ nhét vào lỗ tai, mắt nhắm nghiền, hồi lâu mới mở ra, nhìn quanh một lượt đoạn cười nói:
"Cô Cả, cái họa lần này cậu chuốc phải không nhẹ đâu."
Màn kịch ồn ào khép lại, không ai chiếm được phần hơn, Mạnh Trác Dao bối rối hận không thể tìm cái lỗ chui xuống, còn Trương Diễm Bình vẫn khóc khóc cười cười như cũ, không biết là tiếp tục giả điên, hay bệnh lâu chẳng khỏi. Khuôn viên nhà họ Hoàng tựa hồ lại khôi phục vẻ yên ả, chuyện lớn là vậy mà ai nấy đều ngấm ngầm giấu giếm Hoàng Thiên Minh, không hề nhắc đến. Duy có Đỗ Xuân Hiểu không ngừng oán thán Hoàng Mộng Thanh, trách cô sao lại đem chuyện mình nghi Trương Diễm Bình giả điên tiết lộ cho bà Cả. Hoàng Mộng Thanh tỏ vẻ oan ức, vặn lại:
"Cậu đã bao giờ thấy tôi lắm lời thế chưa? Đều do mẹ tôi tự đoán ra cả thôi, cậu đừng nghĩ bà ấy không hiểu biết, bà ấy thông minh lắm đấy."
Đang nói thì Hạ Băng bước vào, mặt mày phờ phạc, không nói không rằng ngồi xuống, cầm ly trà của Đỗ Xuân Hiểu lên uống cạn một hơi. Đỗ Xuân Hiểu cười nói:
"Này? Tôi vừa nhổ nước bọt vào đấy mà cậu lại uống rồi."
Hạ Băng không so đo, chỉ phàn nàn:
"Đừng đùa nữa, gần đây đội phó Kiều đột nhiên về quê, hại tôi phải chạy khắp nơi, cũng chẳng thời gian đâu lo cho tiệm của cậu."
"Tiệm của cô ấy cần gì người chăm lo? Anh suy nghĩ quá nhiều rồi đấy."
Hoàng Mộng Thanh cũng tạm thời giấu đi vẻ oán trách, cố tỏ ra nhẹ nhõm.
"Cậu bận tối mắt tối mũi, thế còn đội trưởng của các cậu thì làm gì mà ăn? Chỉ giỏi bắt nạt đàn ông yếu đuối!"
Đỗ Xuân Hiểu cố ý nhân mạnh bốn chữ "đàn ông yếu đuối", ngầm giễu cợt cậu em trai khiến Hoàng Mộng Thanh phải nóng gan nóng ruột.
"Thì chẳng phải đi làm vụ Giản Chính Lương, bảo tôi phụ trách manh mối bên Tề Thu Bảo, mấy ngày nay, tôi đã gõ một lượt các cửa sổ ở ngõ Sát Trư rồi, ai không biết còn nghĩ tôi là khách làng chơi ký cựu ấy."
Lần đầu tiên, Hạ Băng cũng tự trào. Đỗ Xuân Hiểu lập tức nhíu mày, lôi bài ra, loáng cái đã trải xong.
Lá quá khứ là Ngôi sao ngược.
Lá hiện trạng là Gã khờ xuôi và Chiến xa xuôi, cô buột miệng:
"Rõ ràng hai vụ án nên gộp lại điều tra, sao lại tách ra thế?"
"Ý cậu là, cái chết của Tề Thu Bảo quả nhiên có liên quan đến cái chết của Giản Chính Lương?"
"Không liên quan mới lạ đấy, trải qua chuyện trước đó, phải ai cũng sẽ nghĩ có mối liên quan giữa hai người họ."
Đỗ Xuân Hiểu lật nốt lá bài cuối cùng - Hoàng hậu xuôi. Bụng chợt giật thót, thầm ngạc nhiên xen lẫn nghi ngờ:
"Sao lại giống lá tương lai của Hoàng Mạc Như?"
Càng kỳ lạ hơn là đêm hôm ấy, Lý Thường Đăng dẫn theo Cố A Thân tới tìm Hạ Băng, nói muốn anh đến đội cảnh sát để tra hỏi. Hạ Băng đương nhiên không chịu, khăng khăng hỏi rõ nguồn cơn, Lý Thường Đăng cười khẩy một tiếng, xách anh lên như xách gà con, kéo tới trước Cố A Thân trói nghiến lại rồi nói:
"Thằng oắt, có cư dân trong trấn trình báo, đêm trước hôm thi thể Tề Thu Bảo bị phát hiện, cậu và ả ta đã lén lút gặp nhau ở hẻm sau tiệm son phấn phía Tây trấn, có chuyện đó không?"
Hạ Băng cắn răng không đáp, nhưng thái độ đã xịu hẳn xuống, không còn vùng vằng nữa, mặc cho Cố A Thân trói quặt tay ra sau, giải tới phóng thẩm vấn của đội cảnh sát. Trên đường đi, anh đã kịp xác đinh tôn chỉ: Bất kể bị tra hỏi thế nào cũng tuyệt đối không được tiết lộ chân tướng!
34.
Lý Thường Đăng bỏ ra một ngày một đêm, cuối cùng cũng san bằng được mảnh sân của Giản Chính Lương, may mà đất bùn ẩm ướt, dễ tơi, chôn đội phó Kiều xuống không tốn nhiều sức lực. Sau khi giải quyết ổn thỏa mọi chuyện, ông ta ngẩng đầu nhìn cây dương hòe, hoa trắng bên trên đã rụng quá nửa, rơi vào trong đất, từ từ mục nát cùng đám cốt khô và xác tươi.
Lý Thường Đăng trước nay không hề tin chuyện chết chìm, trói xác vào đá tảng rồi vứt xuống sông tuyệt đối là một việc làm mạo hiểm, nhỡ đâu dây thừng bị mấy loài cá răng nhọn như cá chuối cắn đứt, hoặc là quấn vào bèo rong nổi lên, tội ác chẳng phải phơi bày rõ như ban ngày sao, Tề Thu Bảo chính là một minh chứng mạnh mẽ nhất. Vì vậy ông ta chung tình với đất bùn, giống như dạ dày vậy, có thế ngốn lấy mọi thứ, rồi từ từ tiêu hóa sạch sẽ.
Một vạn đồng giấy bạc cùng một hũ ăm ắp đồng đại dương khiến Lý Thường Đăng toàn thân khoan khoái, đây là thứ ông ta chuẩn bí cho tương lai, rồi sẽ có ngày, ông ta rời khỏi trấn Thanh vân, cứu cả người đàn bà ông ta yêu đem theo.
Ông ta đã đợi ngày ấy rất lâu, đến tận khi Trương Diễm Bình trở thành người điên, sắp bị đưa lên bệnh viện tâm thần Thượng Hải, mới bắt đầu sốt ruột. Đối với Lý Thường Đăng, mất ngủ đã là cố tật, rượu mạnh cũng không thể đánh bại, đội khi, trong khoảnh khắc nhắm mắt ông ta sẽ trông thấy đội phó Kiều đầu đầm đìa máu đứng dưới gốc cây dương hòe, vai đầy hoa trắng như những sợi bông.
Hai người cứ thế nhìn nhau cười, vì ông ta không hề tin truyền thuyết oan hồn đòi mạng, đặc biệt ở trấn Thanh vân, "báo ứng" lại càng là chuyện hão huyền, trái lại "oan tình" thì không lúc nào không chỗ nào là không xảy ra.
Dáng người Hạ Băng cao hơn Hoàng Mạc Như đôi chút, nên thể lực hao tốn cũng nhiều hơn, không uống nước, anh chắc chắn không gượng nổi hai ngày. Lý Thường Đăng thẩm vẫn anh lại càng đủng đỉnh, chỉ hỏi anh và Tề Thu Bảo lén lút qua lại đã bao lâu, hai người làm gì trong con hẻm phía Tây trấn, đã có xung đột gì. Hạ băng không có vẻ thanh cao ngạo mạn như Hoàng Mạc Như, chỉ nói hôm đó ở nhà ngủ, không hề tới con hẻm nào, càng không thể tìm mấy ả gái điếm hèn mạt ấy giao dịch gì. Nhưng Lý Thường Đăng nào chịu buông xuôi, không những nghiêm cấm cho nước, đến đồ ăn cũng đổi thành mỗi bữa hai miếng cơm cháy cứng ngắc. Cố A Thân lần nào tới đưa cơm cũng có màn khuyên nhủ anh:
"Người anh em, đàn ông ở bên ngoài phong lưu khoái hoạt là chuyện thường tình, nếu cậu sợ bị Đỗ Xuân Hiểu biết được lại phải ăn kẹp đầu, tôi sẽ đi nói hộ cậu, mau khai đi thì hơn!"
Nghe mấy lời này, Hạ Băng thấy ấm lòng vô cùng, xem ra Cố A Thân hoàn toàn không nghi ngờ anh là hung thủ, chỉ nghĩ anh sợ Đỗ Xuân Hiểu biết được chuyện đi chơi gái sẽ khó sống nên mới cứng mồm như vậy. Anh đành nói:
"Đừng có ngốc, tôi đâu sợ cái bà điên Xuân Hiểu ấy? Chỉ là làm đàn ông nhất ngôn cửu đỉnh, đã nhận lời chuyện không thể nói thì quyết không nói. Thay vì khuyên tôi, chỉ bằng cậu nghĩ cách cho tôi ít nước uống, kẻo đến lúc tôi chết trước mặt cậu thì khó coi đấy."
Cố A Thân vừa cười gian, vừa chìa ra hai quả lê giấu trong ống tay áo, đặt vào tay Hạ Băng:
"Cậu nghĩ bao năm nay làm anh em là công cốc chắc?"
"Phía Tây trấn... tiệm dầu muối..."
Tuy vẫn chưa đến thu phân nhưng con sông trấn đã đổi sang màu lục sẫm lạnh lẽo, ánh mặt trời chiếu xuống tường vàng ngói xanh, soi sáng một bóng dáng ám muội. Hoàng Mạc Như cầm một chiếc ô giấy dầu, trên cán ô chạm bức "Hồ sen ánh trăng", quang cảnh khác ca tiểu trấn đang ngập nắng hoàng hôn trước mặt. Lúc này, vốn nên đi về hướng có làn khói bếp trắng bốc lên, dọc đường ngửi mùi trứng xào hẹ ngào ngạt cùng vị ngọt của cơm mới nóng hổi, lòng cũng mềm đi, nhũn ra, bị chưng trong hơi ẩm bốc lên từ dòng sông. Có điều bước chân hắn giẫm lên phiến đá xanh lại chần chừ đến lạ, quả phụ trong tiệm phấn son bến đò Tây đang ăn một bát hoành thánh nhỏ, trên mặt quầy đặt hai miếng màn thầy cắt sẵn và một đĩa dưa chuột muối, vẻ mặt chị ta thỏa mãn như thể đang ngồi trên núi vàng núi bạc vậy.
Hắn không khỏi thầm ngưỡng mộ, trong khoang mũi đầy mùi phấn son ngọt dính, tình cảnh này, dường như không thể quen thuộc hơn được nữa, nhưng cũng lại không cách nào xâu chuỗi nổi. Một lọn tóc trên trán quả phụ rơi vào bát hoảnh thánh, trông không thấy bẩn, trái lại càng tăng thêm phần thướt tha. Chị ta tự nhiên nhấc tay trai, vén lọn tóc kia ra sau tai, vừa định cúi đầu ăn tiếp thì thấy Hoàng Mạc như đứng trước cửa nhìn mình, hơi ngạc nhiên cất giọng hói:
"Cậu chắc đến mua son phấn cho người trong mộng?"
Hắn như bị thứ gì nện trúng tim, không nói nên lời, chỉ cảm thấy lồng ngực đau đơn. Hình như cũng từng có một câu nói dịu dàng nhường ấy, trốn trong linh hồn hắn mà gặm nhấm, khiến hắn thà chết không quên. Mặt hắn thoáng ửng đỏ, cổ họng ran rát cất tiếng hỏi:
"Gần đây có tiệm dầu muối nào không?"
Vẻ ngạc nhiên trong mắt quả phụ càng rõ hơn, nhưng chị vẫn chỉ đường cho hắn, than thở:
"Đi về đều phải cẩn thận, không là lạc đấy."
Như đùa, nhưng nghe lại vô cùng thành thực. Trên hàng cột gỗ hoàng dương mái hiên khắc kín những ký ức lồi lõm, hắn có chút ngưỡng mộ, bởi ít ra những trải nghiệm của chúng đều là vết tích rõ ràng, không dễ lu mờ vì đả kích. Hắn lại mơ hồ, kìm nén, trong đầu có vài đốm sáng vụn vặt, có thể mang máng trông ra vài cảnh quan trọng, nhưng không nhìn thấy được toàn bộ, vậy nên mới cần tìm kiếm.
"Tiệm dầu muối..."
Hắn dừng lại trước một cửa tiệm có biểu hiệu phủ vải gai, bởi bắt đước thứ mùi mằn mặn từ bên trong tỏa ta. Là đây ư? Bước chân hắn đầy nghi hoặc, tâm thần bất an, vừa đặt bước đầu tiên tim chợt đập thình thịch, đốm sáng nào đó trong đầu bỗng mở rộng. Qua mảnh sáng ấy, có thể thấy một bóng hình nhìn nghiêng xinh đẹp tựa pho Quan Âm bằng ngọc đẽo, ngồi sau quầy tính tiền phủ đầy bụi, nghiêng nghiêng đầu, mi tâm chất chứa buồng thương, như đang ca thán năm tháng như nước chảy mây trôi. Quầy tính tiền đó, giờ nhất định đang ở sau cánh cửa dán giấy niêm phong này. Hắn xé mảnh giấy niêm phong, cửa "kèn kẹt" mở ra, như chỉ đợi hắn "phá kén", có điều bên trong không có bướm nào bay ra, trái lại chỉ có bụi đất ập vào mặt. Ánh sáng lọt qua khe ván gỗ, khiến các hạt bụi đang xoay mình trên không chẳng còn nơi nào lánh mình. Quầy tính tiền kia cách hắn trong gang tấc, trống không, tựa hồ đã bị vét sạch từ lâu, hệt như quá khứ của hắn.
Vòng ra sau quầy, vẫn không có người, mặt đất ẩm ướt dinh dính, trong góc là một chum tương đã vỡ đôi, mùi khắm xộc vào mũi, mấy chục con ruồi vo ve trên vùng nước đặc sệt chảy ra.
Hắn không khỏi bưng mũi, vừa định bỏ ra ngoài thì chợt nghe một tiếng "meo", cánh cửa ngầm sau quầy hé một khe hở, từ trong khe ló ra một con mèo tam thể, lười nhác nhảy lên mặt quầy, liếm lưỡi nhìn hắn, rồi cuộn tròn mình, nhắm mắt không để ý gì nữa.
"Hôm nay sẽ chơi với mình kiểu mới."
Giọng nàng thấm đầy sắc dục. Hắn đẩy cánh cửa ngầm, cùng nàng bước vào, mặt bếp hun đen, bàn ăn dính mỡ, đi sâu hơn nữa là đến phòng ngủ... Hắn vô thức cương lên, như trong giấc mơ hôn lên mắt cá chân quấn trong sợi tơ tằm của nàng.
Đèn dầu được đặt ở góc bàn, trên chiếc giường lớn kiểu rương treo một chùm bưởi phơi khô. Trước mắt hắn hiện lên hình ảnh người đó nằm trên giường, mắt nhắm nghiền, từng thớ thịt trên mặt đang co rút, nhưng vẫn không chịu chứng kiến hiện thực đang xảy ra trước mắt.
Nàng vẫn ngồi trên góc bàn, mười ngón tay bấu chặt lấy lưng hắn, răng cắn ngập vào vai hắn, ban cho hắn cơn co giật xuyên xương thấu cốt đảo điên hồn phách...
"Hừ!"
Tiếng cười khẩy ấy băng lạnh như mũi khoan, làm đông cứng bó đuốc hừng hực trong nội thể hắn. Chiếc giường rương trống không, nhưng vì tấm ván thành giường vẽ rồng khác phượng nên không hề thấy thê lương, trái lại còn toát lên vẻ phồng hoa. Hắn rờ lên mép giường lồi lõm, vì tay nghề cẩu thả, nhìn kỹ còn phát hiện ra không ít chỗ tróc sơn, cả những dầm gỗ chưa được bào phẳng, hắc ín cũng không được quét cho đều, sờ vào rất ráp. Nhưng bức tranh gốm vẽ "Uyên ương giỡn nước" lại rất bắt mắt, nét vẽ đặc biệt tinh tế, từng sợi lông trên đôi cánh ngũ sắc của cặp uyên ương đều được vẽ tỉ mỉ.
Khi ngón tay vuốt qua tròng mắt uyên ương rỗng, miếng gốm liền "lách cách" long ra, tiếp đó vang lên tiếng "kẽo kẹt" kỳ quái, ván giường chầm chậm nứt làm đôi, rơi xuống, để lộ ra một động sâu hun hút. Hắn căng thẳng, lòng bàn tay đổ mồ hôi, sau lưng lại có vật gì trường qua gót chân, ra sức kìm lại tiếng thét thất thanh, hắn quay người lại, bắt gặp đôi mắt như mã não vàng của con mèo tam thế đang nhìn mình. Hắn tức tối đá cho nó một cú, nó bèn "meo" một tiếng oán trách rồi quay ngoắt chạy ra ngoài. Hắn lại quay người, cái động tối om vẫn đang lồ lộ mở ra đó, tựa hồ lời nguyền dụ dỗ, kêu gọi hắn.
"Hiểu Mãn..."
Hắn khe khẽ gọi tên nàng, cầm lấy cây đèn dầu nơi góc bàn... Đỗ Xuân Hiểu nhìn Lý Thường Đăng, cười gian giảo khiến ông ta bất giác thấy chờn chợn, huống hồ hôm nay đi theo cô còn có Đỗ Lượng.
"Đội trưởng Lý, hay để cháu thẩm vấn tên tiểu tử đó cho, còn nhanh gọn hơn ngài nhiều đấy. Cứ không cho cậu ta uống nước mãi sao được, khát khô cả họng, ngày cũng đâu hỏi được gì. Để cháu ra tay, đảm bảo chưa đầy nửa tiếng đồng hồ cậu ta sẽ khai tuốt luốt!"
Đỗ Xuân Hiểu vỗ ngực bồm bộp, còn Đỗ Lượng vẫn đanh mặt, trong tay cầm chắc một bọc bạc đại dương. Lý Thường Đăng thong thả nhấp một ngụm rượu, cười nói:
"Xuân Hiểu à, ta nhìn cháu và Hạ Băng lớn lên, lẽ nào không biết tình cảm giữa hai đứa? Tên tiểu tư này rơi vào bước đường ngày hôm nay, lòng ta cũng không dễ chịu hơn cháu đâu. Ta cũng không tin cái chết của Tề Thu Bảo có liên quan đến nó, nhưng nó rõ ràng đang giấu giếm chuyện gì đấy quan trọng, không nói ra, ta biết làm sao ăn nói với người dân trong trấn."
"Thế mới nói!"
Đỗ Xuân Hiểu vội lấy bọc tiền trên tay Đỗ Lượng, tức tốc ụp vào tay Lý Thường Đăng:
"Chuyện này cháu cũng muốn giúp mà, ngài cứ thế cho cháu cơ hội lập công đi, để cháu đi thẩm vẫn, thế nào ạ?"
"Xuân Hiểu à, trong lòng cháu mưu mô điều gì, cháu cho rằng ta không biết sao? Đàn bà con gái, bát nháo học cái trò này, còn kéo cả chú cháu theo, hồ đồ!"
Dứt lời, Lý Thường Đăng dằn mạnh bọc tiền kia vào lòng bàn tay Đỗ Xuân Hiểu, không đếm xỉa gì nữa. Lúc này Đỗ Lượng ở bên cạnh cũng lên tiếng:
"Xuân Hiểu, hết hy vọng rồi nhé? Ta đã bảo đội trưởng Lý cứng nhắc lắm, lại còn không tin, mau về thôi, đừng gây chuyện nữa."
Nào ngờ Đỗ Xuân Hiểu lại càng cười ngọt hơn, quay đầu nói với Đỗ Lượng:
"Chú ơi, chú nhìn thấy rồi nhé, tiền chúng ta cũng đưa rồi, đội trưởng Lý nếu còn không thả người, cháu sẽ tố cáo lên trấn trưởng!"
Lý Thường Đăng đập ly rượu xuống bàn, quát:
"Nói linh tinh gì thế? Ta đâu nhận tiền của cháu? Lại còn định đi tìm trấn trưởng tố cáo?"
"Vừa rồi chính ngài nhận tiền của cháu, cháu có nhân chứng đây."
Đỗ Xuân Hiểu khảng khái hùng hồn chỉ Đỗ Lượng phía sau, Đỗ Lương vội cúi gằm mặt, vẻ chột dạ.
"Đỗ Xuân Hiểu, cháu ăn gan hùm từ lúc nào thế hả, lại dám giở trò vu cáo hãm hại ấy ép ta? Tưởng cái chức đội trưởng này ta làm chơi chắc? Mau cút về, rằng không đừng trách ta bắt luôn cả cháu!"
Đỗ Xuân Hiểu lập tức xáp khuôn mặt không son phấn, lỗ chân lông to thô của mình lại gần Lý Thường Đăng, hạ giọng nói:
"Vậy đội trưởng Lý dựa vào đâu nói mình không cầm số tiền này? Hiện giờ... đội phó Kiều cũng đã về quê rồi, còn có thật là về quê hay không thì chỉ có trời mới biết. Thế nên ngài cũng đừng vội kêu oan, đâu có chứng cớ đâu. Lý Thường Đăng quả nhiên bị khích nổi cơn điên, cười gằn nói:
"Lý Thường Đăng ta còn cần gì chứng cớ? Ta đây chính là chứng cớ. Năm kia đất trồng dâu bị người ta cắt mất một miếng lớn, chẳng phải ta ra mặt đi đòi bồi thường thì là ai? Trấn trưởng làm được gì? Cô nghĩ người ta đều là lũ đần chắc, tin nổi mấy lời bịa đặt của bà cô già không gả nổi chồng như cô? Đi đi, cứ đi đi, đi mà nói khắp trấn này, chân trước hét xong thì chân sau cũng xác định đi theo Hạ Băng vào ngồi nhà lao, cô có tin không?"
Đỗ Xuân Hiểu không buồn đôi co mà rút từ trong túi ra một lá bài tarot, giơ cao lên, là lá Ác quỷ.
"Không phiền ngài tống giam, nhà lao cháu đây tự vào. Có điều lá bài này là rút riêng cho đội trưởng Lý ngài, có những chuyện đằng sau, ngài và cháu trong lòng đều biết tỏng, nói ra chỉ tổ mọi người mất hứng, giờ còn có chú cháu ở đây, nếu ngài thật sự không sợ hỏng tiền đồ, cháu càng chẳng có gì phải ngại."
Dứt lời, bèn giơ lá bài tới trước mặt Lý Thường Đăng, như rút "Thượng Phương Bảo Kiếm" ra khỏi bao, gặp Phật giết Phật. Lúc này Đỗ Lượng đã siết chặt hai tay đầm đìa mồ hôi lạnh, hận không thể vứt bỏ đứa cháu gái gan to bằng trời này mà co giò bỏ chay, song lại nghĩ lời dặn của Đỗ Xuân Hiểu trước đó:
"Bất luận gặp phải tình huống nào, chỉ cần đứng đó bất động đã coi như giúp đỡ rồi."
Hiện giờ đối với Đỗ Lượng, bất động còn khó hơn cả động, nhưng quân tử nhất ngôn, khoái mã nhất tiên, không thể để sau này lại bị vãn bối cười nhạo là kẻ nuốt lời, ông đành ép mình đứng yên tại chỗ. Không khí xung quanh như đông cứng lại, hít vào một hơ cũng khó khăn, đặc biết ánh hung quang trong mắt Lý Thường Đăng đã chảy khắp người Đỗ Xuân Hiểu, cô như không hề phát giác nguy hiểm, vẫn tiếp tục nhìn chòng chọc ông ta, không ngừng tự ám thị:
"Không được trốn tránh, không được bỏ chạy!"
Chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi, mà như dài hơn cả đất trời. Lý Thường Đăng cuối cùng cũng bật ra mấy tiếng cười khan, đập rầm một cái xuống bàn, gần như đập vụn thần kinh Đỗ Xuân Hiểu, Đỗ Xuân Hiểu vẫn giơ lá bài Ác quỷ, vẻ mặt uy nghiêm, tựa hồ đang thực thi một hành động vĩ đại bằng trời nào đó.
Lúc ra ngoài, Đỗ Lượng mới phát hiện cả bộ áo lụa đã dính nhép vào người, ẩm ướt khó chịu, nhưng cũng không buồn màng đến, chỉ khẽ hỏi Đỗ Xuân Hiểu:
"Lý Thường Đăng rốt cuộc bị cháu nắm chuôi dao nào trong tay? Mới dọa một tí mà đã chịu thả người rồi?"
Đỗ Xuân Hiểu hít sâu một hơi, thều thào:
"Cháu nào nắm được chuôi gì của ông ta? Chẳng qua cháu đoán những kẻ càng ra vẻ đạo mạo uy nghiêm thì càng dễ làm ra những chuyện xấu xa vụng trộm, nên cái cháu đặt cược chính là quả tim đen của ông ta thôi."
35.
Vương Nhị Cẩu cứ trông mong thời tiết lạnh đi, tốt nhất từ giữa hè nhảy ngay sang đầu đông, đó mới là lúc lò bánh nóng hừng hực của hắn được hoan nghênh nhất.
Các bà các chị sáng sớm ra đứng cạnh rãnh nước trước cửa đánh răng và mấy thầy giáo dạy học kẹp túi vải trong lòng ngang qua sạp hàng của hắn đều sẽ quăng lại ánh mắt thèm thuồng, tựa như thứ nhìn thấy, ngửi thấy là sơn hảo hải vị.
Nắng nóng đã đuổi không ít mối làm ăn của hắn, thu nhập hàng ngày giảm hẳn một nửa, duy có cô gái mở tiệm sách vẫn bền lòng vững dạ cứ gần trưa lại mua của hắn hai cái bánh nướng kẹp đậu phụ thối, nhồm nhoàm ăn, miệng ròng ròng tương ngọt. Nhưng kể từ khi nhà họ Hoàng mở xưởng lụa Thiên Vân liên tiếp xảy ra án mạng, tiệm sách của cô gái này cũng thường xuyên đóng cửa, thỉnh thoảng mới có một anh trai trẻ đeo kính mắt tới coi sóc, nếu không ở bên trong nhủ thì cũng quét tước qua loa, hoặc trốn sau quầy tính tiền đọc sách, chỉ coi nơi đó như "thắng cảnh tránh nóng" để nghỉ ngơi.
Chuyện này khiến Vương Nhị Cẩu vô cùng hụt hẫng, mãi về sau có một gái điếm trong ngõ Sát Trư cứ liên tục qua lại mỗi lúc cậu trai trẻ kia trông tiệm sách mới khiến hắn lấy lại tinh thần. Không phải vì thị ta xinh đẹp gì, thị cũng như các gái điếm khác, thường mua bánh chỗ hắn để ăn tối, tiền bọn họ trả hắn đều dùng giấy vàng lau qua một lượt, sợ nhiễm bệnh lậu gì đó, nhưng ở thị luôn có một vẻ dẻo dai quyết liệt mà cũng không kém phần ôn nhu. Hình như anh chàng kia không hề sợ điều này, hai người cứ ở trong tiệm thậm thụt, không biết làm gì, nhưng có một điểm hắn có thể khẳng định, đó là giữa anh chàng đó và ả điếm kia hoàn toàn không phải quan hệ mèo mả gà đồng, bởi những khách làng chơi từ ngõ Sát Trư đi ra, tạt vào chỗ hắn ta lót dạ đều có biểu cảm vừa thỏa mãn vừa bỉ ổi đặc thì mà chàng trai trẻ kia trước sau đều trong sạch, từ thái dương còn tỏa ra thứ ánh sáng ngay thẳng.
Vì vậy trong những ngày tháng Vương Nhị Cẩu an nhàn bần hàn, bà chủ lười biếng của tiệm sách cùng ả gái điếm mặt mày hung tợn trong ngõ Sát Trư chính là toàn bộ "thú vui" của hắn ta.
Mãi đến khi xác ả điếm được khiêng về ngõ, dừng lại một chốc trước sạp bánh nướng của hắn, từ trên tấm ván cửa đắp vải trắng rũ cuống một cánh tay ướt đầm, "thú vui" ấy mới hoàn toàn chấm dứt. Hắn không dám tin người đàn bà hung hăng ngang ngược, sinh tiền tựa hồ có thể nuốt trọn một con hổ này, sao thoắt cái đã biến thánh một xác chết trắng bệch, mềm nhũn.
Hôm ả gái điếm cãi nhau với lão Giản, hắn tận mắt chứng kiến cơ thể da thô thịt dày của thị phơi bày dưới ánh nắng không một chút xấu hổ, chính bầu ngực tím tròn trịa cùng đám lông mao dày ấy khiến hắn trằn trọc trên giường suốt ba đêm. Thế là hắn lôi ra mấy tờ giấy bạc nhàu nát lèn dưới gối, chọn một đêm đẹp có trăng khảm viền vàng, thu hết dũng khí đi tới ngõ Sát Trư.
Hắn gõ cánh cửa sổ thuộc về gái điếm tên Tề Thu Bảo, cửa sổ mở lên, vú già ló khuôn mặt nhăn nhúm chảy sệ ra, vừa thấy là Vương Nhị Cẩu thái độ niềm nở liền giảm đi một nửa, chỉ hỏi có mang tiền không. Hắn giơ đồng giấy bạc trong tay ra, thái độ của vú già liền khá lên nhiều, tiện tay lôi tới một cô nương đang ngáp dài, hỏi có được không. Hắn lắc đầu, bảo muốn Thu Bảo.
"Cô ấy đang bận việc, đợi một lát."
Bà vú đẩy cô nương kia đi, dựa vào cửa sổ châm một điếu thuốc. Qua độ mười lăm phút, bên trong vẫn không thấy động tĩnh gì, bà vú đột nhiên nổi giận, mắng vặc vào tấm rèm cửa bên cạnh mấy câu, còn dọa phải trả thêm tiền, bấy giờ một gã đàn ông mới rụt rè xách quần bước ra, liếc về phía cửa sổ một cái rồi đi thẳng. Tề Thu Bảo phanh áo ngoài, để lộ dây áo yếm màu lục bích bên trong, cầm khăn mùi soa thêu lau đi lau lại cổ. Bà vú vội gọi Vương Nhị Cẩu vào, mới bước vào phòng, hắn đã kích động không đứng yên nổi.
Phòng của Tề Thu Bảo thoang thoảng mùi thuốc cổ quái, hắn hỏi đấy là gì, thị cười lấy ra một chậu rửa chân bằng đồng đựng nước sạch, thả vào đó vài hạt bột trắng, bấy giờ mới biết đó là mùi của bột trắng. Tiếp đó, thị tuột ngay quần trước mặt hắn, ngồi xổm xuống chậu rửa phần hạ thể, vừa rửa vừa cười nói:
"Thế này thì sạch rồi, cũng khỏi lo không cẩn thận dính bầu."
Hắn căng thẳng đến nỗi môi miệng khô khốc, không nói được lời nào, chỉ ngồi bên mé giường. Thị rửa xong, lại mặc quần vào, thắt một dây lụa đỏ ngang eo, nói:
"Giờ tôi có việc phải ra ngoài một lát, cậu có đợi được không?"
"Vậy... đợi lát nữa cô về chối sạch bách thì làm thế nào? Bà vú kia tính thời gian đấy."
Hắn hơi cự nự. Thị mỉm cười, vén rèm bước ra, rất mau sau đã quay lại, kéo hắn tới trước cửa sổ, buộc trên ô cửa mảnh khăn mùi soa thị vừa dùng lau cổ khi nãy. Thị chỉ vào mảnh khăn nói:
"Nhìn thấy chưa? Cái khăn này còn thắt ở đây thì tôi chính là người của cậu, cậu chỉ cần giữ nó là được, có chối cũng không chối được."
Hắn bèn tin như vậy, đứng trước cửa sổ, giữ khăn mùi soa, tựa như giữ một lời thề hẹn quan trọng. Từ cửa sổ nhìn ra, ánh trăng rải rác trùm lên người Tề Thu Bảo, trong mắt hắn thị chính là tiên tử. Nhưng hình bóng ấy dần hóa thành trong suốt, rồi tan biến không thấy đâu nữa.
"Con khốn này sao lại đi hẹn hò lão Giản nữa rồi? Bữa trước còn gây chuyện ầm lên thế! Ai nói gái điếm vô tình? Vẫn có tình mà."
Vú già lắc đầu quầy quậy bước vào trong, không thèm nhìn hắn nửa con mắt. Nếu hắn biết đó là ngày cuối cùng thị hưởng dương thọ, nhất định sẽ không để thị đi như thế, nhất định sẽ đem hết tài sản trong nhà đập vào đây, mua thị một đêm, hắn có thể không động đến thị dù một cọng tóc mà chỉ nhìn, bắt thị chỉ được hoạt động trong phạm vi hai thước quanh hắn, có lẽ bi kịch đã không xảy ra.
Đáng tiếc nỗi bi ai của hắn có cảm động được đất trời cũng không thể chuộc lại tính mạng thị. Thế nên hắn chỉ có thể đêm đêm chìm vào mộng khổ, trong mơ tràn ngập sự dũng mãnh của thị, bầu ngực thô cứng như than hòn và vùng lông mao um tùm, cánh tay trắng bệch không sức sống của thị chìa ra sau lố vải trắng, túm chặt lấy dương vật hắn... Vì vậy nỗi oán hận thầm kín của Vương Nhị Cẩu vừa rõ ràng vừa bí mật, muốn làm gì đó, lại nhận ra mình quá nhỏ bé, có lúc đến tiền mấy cái bánh nướng cũng không tính đúng, sao có thể đi đòi lại công đạo cho Tề Thu Bảo?
Quãng thời gian ấy, ngay bánh làm ra cũng có vị đắng là lạ. Cuộc sống có phần còn ảm đạm, tuyệt vọng hơn cả trước khi biết đến ả gái điếm kia. Nhưng hôm nay, lòng báo thù của hắn lại nhen nhóm, vì cô gái mở tiệm sách cùng anh chàng thư sinh kia lại tới sạp hắn mua hai chiếc bánh nướng kẹp và bánh sợi củ cải, ăn đến nỗi mặt mày bóng nhẫy mỡ, vầng trán lấm tấm mồ hôi ửng đỏ lên. Có thể thấy bọn họ cũng giống Vương Nhị Cẩu, đều không sợ nóng, chỉ chuyên tâm thưởng thức mùi vị bánh.
"Kỳ lạ, sao bánh chỗ anh giờ không những nhỏ đi mà lại còn đắng nữa?"
Đỗ Xuân Hiểu vẫn bới móc hắn như cũ. Vương Nhị Cẩu không có tâm trạng đùa cợt, chỉ đối đáp qua quýt:
"Chắc cô nương mấy hôm nay không biết được nhà nào tốt bụng nuôi, khẩu vị cũng kén chọn lên rồi?"
"Đúng đúng, chính là kén chọn, từ nay về sau bánh của anh mà không kẹp thêm ít sơn hào hải vị thì không bán nổi đâu."
Hạ Băng cũng lắm lời hùa theo. Đỗ Xuân Hiểu liếc xéo anh, mắng:
"Đừng có mà đắc ý, chuyện giữa cậu và Tề Thu Bảo còn chưa nói rõ với tôi đâu đấy, cậu nghĩ thế là xong hả?"
Nghe thấy ba chữ "Tề Thu Bảo", Vương Nhị Cẩu giật thót mình, tay cán bột cũng hơi run run. Hắn vốn định vờ như không nghe, nhưng rốt cuộc vẫn không kìm nổi, bèn quết thêm một muỗng tương ngọt lên cái bánh Hạ Băng đã cắn mấy miếng, cười giả lả hỏi:
"Người anh em làm nghề gì vậy?"
Hạ Băng bị hỏi bất ngờ, miếng bánh trong miệng còn chưa kịp nuốt, đành ấp úng nói mấy chữ, không ai nghe ra gì, may Đỗ Xuân Hiểu sốt ruột đáp thay:
"Cậu ta ấy à, tự xưng là hành hiệp trượng nghĩa trong đội cảnh sát, vừa khéo qua lại ngõ Sát Trư bị người ta trông thấy, Lý Thường Đăng bèn tóm về bắt nếm mùi khổ sở, giờ mới được thả ra đấy."
"Ha ha"
Vương Nhị Cẩu lại cười xòa:
"Vậy tôi to gan hỏi một câu, người anh em qua ngõ Sát Trư, chắc là tìm Tề Thu Bảo phải không?"
"Phải, nhưng người đã chết rồi, có những chuyện nói ra cũng vô ích."
Hạ Băng mặt mày đau khổ, cắn một miếng bánh nướng, vụn bánh lắc rắc rơi trên áo sơ mi xanh đã lâu ngày không giặt.
"Chao, nghe có vẻ anh cũng có chuyện gì cần nói đấy nhỉ? Tôi mua thêm cho anh mười cái bánh nướng, anh kể chúng tôi nghe chuyện Tề Thu Bảo nhé?"
Đỗ Xuân Hiểu mau chóng lấy ra đồng bạc duy nhất trên người, vứt lên bàn cán bột. Thế là Vương Nhị Cẩu tông tốc kể lại chuyện đêm hôm đó Tề Thu Bảo bỏ mặc hắn đi gặp lão Giản. Hạ Băng nghe xong, lập tức chửi:
"Bà vú chết giẫm, mấy ngày trước tôi đến tìm Tề Thu Bảo mà không nói rõ chuyện này!"
Dứt lời bèn kéo Đỗ Xuân Hiểu định tới ngõ Sát Trư, nhưng bị Vương Nhị Cẩu gọi lại:
"Tiền này tôi không lấy, chỉ mong cô nương về sau chiếu cố sạp bánh là được rồi."
Ngôi nhà của Giản Chính Lương được trưởng tộc cùng mấy vị già cả bàn bạc quyết định đem ra rao bán, trưởng tộc vốn cũng định bán luôn nhà Điền Quý, nhưng có người kiến nghị đến nay Điền Quý mới chỉ mất tích, sống chết thế nào còn chưa biết, tùy tiện bán nhà họ đi như thế thực không ổn, nên quyết định chỉ xử lý nhà Giản Chính Lương. Vì phòng ốc đã cũ, lại hơi bé, còn muốn tu sửa cũng rắc rối, còn là hung trạch, nên mọi người đều tính nó sẽ bị gác lại lâu lâu. Nào ngờ biển bán nhà vừa treo một ngày, đã có người đem tiền tới mua, người này không ai khác chính là Lý Thường Đăng.
Đỗ Xuân Hiểu nghe kể chuyện này, bèn thảo luận với Hạ Băng:
"Bà vú ở ngõ Sát Trư bị cậu bức cung cũng khai ra ít tình hình, có thể thấy giữa Tề Thu Bảo và lão Giản hoàn toàn không đơn thuần là quan hệ làm ăn. Song Lý Thường Đăng càng kỳ cục hơn, sao cứ nhất định phải mua ngôi nhà rách ấy?"
"Nói là muốn dỡ đi xây mới, cũng không biết ông ta lấy tiền đâu ra."
Nhắc đến đội trưởng Lý, Hạ Băng không khỏi ấm ức, vì chuyện Tề Thu Bảo mà anh bị gạch tên khỏi đội cảnh sát, giờ đang dầu não không biết làm sao ăn nói với cha mẹ ở ngoại ô phía Đông trấn. Nếu không muốn quay về làm nghề nuôi tằm thì phải tìm được công việc khác, nhưng trấn Thanh Vân bé bằng mắt muỗi thế này, đi đâu tìm được việc phù hợp với anh đây? Vậy nên anh đang tính rời trấn, tới nơi nào đó rộng lớn hơn lang bạt kiêm sống. Chỉ là trước khi đi, còn phải giải quyết một tâm nguyện.
"Nhắc đến tiền của Lý Thường Đăng, quả thật nguồn gốc có chút bất thường, huống hồ ông ta đã có tiền như thế, mua một căn nhà mới có khó gì, lại đi ưng ngôi nhà cũ kia? Vừa bẩn vừa rách, Giản Chính Lương già cả đơn thân, bình thường ngoài uống rượu cũng không biết chui rúc trong đấy làm những chuyện nhơ nhớp gì..."
Đỗ Xuân Hiểu lầm bầm nửa chừng, chợt ngẩng đầu lên, mắt lóe sáng, nói với Hạ Băng:
"Cậu bảo Tề Thu Bảo và Giản Chính Lương lén lút hẹn hò, địa điểm có phải ở nhà lão ta không?"
Hạ Băng lúc này đã bước một chân khỏi tiệm sách, ngoái đầu lại đáp:
"Tôi đang nghĩ thế này, nhân lúc nhà còn chưa giao cho đội trưởng Lý, chúng ta đi một chuyến xem sao."
36.
Từ đường nơi nhà họ Hoàng cử hành tế tổ ở mé trái lầu sách, không gian còn lớn hơn miếu đường họp tộc trong trấn đôi chút, vì hôm đó cần quảng bố thiện duyên, phát gạo cho đám ăn mày trước cổng xưởng lụa Thiên Vận, trẻ con tơi giúp bố thí mỗi đứa còn được nhận một khoanh kẹo mứt lê và một túi bỏng gạo nên vô cùng náo nhiệt. Do lắm quy củ, lại đông khách khứa, nên trước đó khó tránh một dịp bận rối lên.
Mười năm nay, công việc tế tổ đều do một tay Tô Xảo Mai nắm giữ, nhưng lần này Mạnh Trác Dao lại chủ động xin gánh vác, giành lại đại quyền. Tô Xảo Mai đương nhiên không vui, nhưng cũng không thể nói thẳng, đành giương mắt đứng nhìn. Tuyệt hơn nữa là, Mạnh Trác Dao không hề ôm việc một mình, mà yêu cầu Hoàng Mộng Thanh cùng bà ta lo liệu, khoe khoang tình cảm mẹ con khăng khít. Hoàng Mộng Thanh lại tỏ ra chán ghét mấy chuyện vặt này, cô thà ở trong phòng đọc sách luyện đàn, hoặc tìm Hoàng Mạc Như nói chuyện, đâu để tâm làm nổi mấy chuyện thừa thãi ấy? Vì thế cô không khỏi bị Mạnh Trác Dao giáo huấn một bài:
"Con không biết thật hay giả vờ không biết thế? Giờ hai đứa con trai nhà họ Hoàng đã chẳng khác gì đồ bỏ, một đứa thì không nhớ gì hết, đứa còn lại cũng đoản mệnh, ngày ta hằng hi vọng đã ở trước mắt rồi. Chỉ cần cô con gái cả là con siêng năng lên một chút, để cha hài lòng, ai bảo con gái thì không thể gánh vác gia đình? Tới lúc đó có muốn kén người ở rể cũng được!".
Hoàng Mộng Thanh nghe vậy thì sợ chết khiếp, muốn tìm Đỗ Xuân Hiểu tố khổ, nhưng sai người tới hiệu sách mấy lần đều chỉ thấy đóng cửa. Bèn dứt khoát trồn rịt trong phòng không ra ngoài, đem mấy chuyện cô phải giám sát đem hết cho Đỗ Lượng. Đỗ Lượng mấy ngày nay cũng bận đến hoa mày chóng mặt, giờ cô Cả cũng lén vứt lại quang gánh khiến ông ta vừa tức vừa cuống, nhưng cuối cùng vẫn nhẫn nhịn, đèo bòng cả chuyện sắp xếp thực đơn, danh sách khách khứa. Tiếc rằng Mạnh Trác Dao đâu phải dễ bị lừa, bà tam mau chóng phát giác mánh khóe của con gái, lại ban cho một trận giáo huấn, thậm chí còn tức đến phát khóc, dọa Hoàng Mộng Thanh phải cấp tốc chạy sang chỗ Hoàng Phi Phi tạm lánh.
"Thì ra chị cũng có lúc biết sợ."
Hoàng Phi Phi thừa cơ châm chọc, tay vẫn lau dầu cho hai cây súng săn.
"Chỗ em có mùi gì ấy?"
Hoàng Mộng Thanh đánh trống lảng, nhìn khắp phòng nói:
"Mùi này chị thấy quen lắm, nhưng đừng làm quá lên đấy."
Hoàng Phi Phi nghoẹo đầu:
"Chị nói lạ ghê, từ nhỏ tới lớn, em đều là người hay làm quá, đến cả cha còn không quản được, chị lại định quản em?"
"Nào ai dám quản?"
Hoàng Mộng Thanh cười nhạt, cầm cây sung săn vừa lau dầu lên, ngắm về phía trước, nói:
"Thứ này cũng hữu dụng, chỉ có điều con gái con đứa như em, dùng mấy thứ này vẫn không thích hợp."
Hoàng Phi Phi giật súng lại:
"Không thích hợp chỗ nào? Mấy hôm trước chị chẳng phải còn dùng thứ này cứu mạng mẹ đẻ sao?"
Dứt lời, bèn treo súng lên cẩn hận, Hoàng Mộng Thanh đứng nhìn từ phía sau, giữa mi tâm thoáng nét u sầu. Hai người nhất thời im lặng, lại bâng quơ mấy chuyện vu vơ rồi ai về phòng nấy. Chị Quế giúp Đỗ Lượng đối chiếu thực đơn đến tận nửa đêm. Từ sau khi Mạnh Trác Dao ăn phải đinh rồi điều tra ra Trần A Phúc, vị bếp trưởng này hổ thẹn lẫn phẫn nộ, bèn không từ mà biệt, chỉ để lại trên cái thớt nhà bếp một phong thư, bộc bạch oan khuất mình phải chịu đựng, có thể nói là từng từ từng chữ đều đẫm huyết lệ. Có điều sau khi Trương Diễm Bình bị điên, sớm đã không còn ai quan tâm đến trường hợp Trần A Phúc, Hoàng Thiên Minh đọc xong bức thư chỉ để đấy. Nhà họ Hoàng lại mời về một bếp trưởng khác, tên gọi Thi Vinh Sinh, kỹ năng nấu nướng không bằng một nửa Trần A Phúc, lại chỉ khôn vặt, từ khi người này đảm đương nhà bếp, nguyên liệu hảo hạng lúc nào cũng thiếu hụt. Đỗ Lượng từng bóng gió cảnh cáo mấy lần nhưng vẫn chẳng ăn thua, bèn bàn bạc với chị Quế, thực đơn lần tế tổ này phải tận mắt giám sát, cứ theo chủng loại số lượng trên thực đơn mà mua nguyên liệu, kiểm soát từng li từng tí, hòng làm khó Thi Vinh Sinh.
Thực đơn đối chiếu xong, chị Quế theo quy định kê rõ ràng những nguyên liệu cần dùng, đem tới nhà bếp. Vì đêm đã khuya, ai nấy đều đi ngủ, vốn dĩ thực đơn có thể để đến hôm sau giao sớm cho Thi Vinh Sinh cũng được, nhưng lại nghĩ còn cả đống việc đang chờ, sợ không có thời gian đảo qua nhà bếp nữa, mà giao muộn thì trách nhiệm lại đổ lên đầu chị ta, nên dứt khoát đem thực đơn dính luôn lên bảng món ăn của y ngay trong đêm, tránh để sau nói không rõ ràng. Chị Quế bèn giơ lèn đồng, tới cánh nhà bếp chưa đầy ba thước bèn dừng lại, vì thoáng trông thấy một bóng người lướt qua giấy dán cửa sổ.
Mới đầu chị ta nghĩ mình mệt mỏi quá hoa mắt, cũng không đắn đo nhiều, đi thẳng vào trong. Mùi hành tươi cùng dầu mỡ hỗn tạp đặc trưng cho bếp xộc vào mặt, chị Quế bèn giơ đèn lên cao, tìm bảng món ăn của Thi Vinh Sinh trên bếp, vừa mới tìm ra, liền mơ hồ cảm thấy không khí trở nên bức bối, như thể trong không gian rộng rãi này còn một người nữa đang hít thở với chị. Chị thường xuyên mất ngủ, lỗ tai đặc biệt nhạy cảm, biết có gì đó không ổn, bèn đoán ra ngay có người ẩn nấp trong này.
Còn về nguyên nhân, chị cũng đoán được bảy tám phần, nghĩ tên Thi Vinh Sinh kia bị tiền tài làm mờ mắt, đêm tối lần mò vào đây làm việc bất chính. Tiếp đó chị lại nghĩ ngay tới mấy bao vây cá mới chuyển đến ban chiều, nếu không nhầm thì nhất định là cất trong kho dự trữ gian trong, bèn nhón chân tiến lại đấy, thầm tính toán nếu có tóm được thật cũng không vội giao ra ngay, tạm tha cho một thời gian, đợi đến qua ngày tế tổ rồi tính.
Giai đoạn then chốt thế này, bớt một người lại thêm lắm việc, không thể để lỡ dở. Nghĩ vậy chị ta rón rén đến trước kho dự trữ, vừa đẩy cửa, chỉ nghe "phù" một tiếng, không khí bỗng lạnh thấu xương, bên tai sượt qua một vật sắc nhọn, nửa người bên phải lập tức mềm nhĩn, lồng đèn rơi xuống đất, ngọn lửa liếm rách da trâu lan ra ngoài. Nhờ ánh sáng đó, chị Quế nhìn thấy có nước đỏ nhỏ xuống mu bàn tay, bèn ngẩng đầu lên, cố mở to mặt nhìn cho rõ tên trộm, nhưng đối phương đã giáng cho chị cú đánh thứ hai.
Giữa lúc hấp hối, trong đầu bị Quế chợt hiện lên hình ảnh chồng và ả đàn bà bán bánh hấp đang sóng vai đi trên phố Ngư Đường, chị định vượt lên nói cho ra lẽ thì chồng đột nhiên quay lại, mặt bê bết máu, chìa tay ra nói với chị:
"Đi cùng với tôi đi."
Chị nhắm mắt, chìm hẳn vào giấc ngủ ngàn thu. Khi phát hiện ra chị Quế, mấy tay phụ bếp sợ rúm lại, thi nhau hét thất thanh, bước đi cũng không vững, chân mềm nhũn bò tới trước mặt Đỗ Lương, Đỗ Lượng nghe nói người chết là chị Quế, nhất thời còn không tin, một mặt sai người đi gọi bác sĩ, một mặt tức tốc chạy tới nhà bếp. Còn chưa bẩm với lão gia hay cậu Hai là vì trong lòng ông ta vẫn mang chút hy vọng, hy vọng đây chỉ là nhầm lẫn, tuyệt đối không thể nói ra miệng, sợ rằng hễ nói ra chuỵện sẽ thành thật.
Tiếc rằng cảnh tượng máu me trong nhà bếp đã khiến Đỗ Lượng tuyệt vọng hoàn toàn, não trái chị Quế bị nện thủng một lỗ, bên cạnh vứt một cây búa sắt, chiếc đèn lồng da trâu bị đốt rụi không còn ra hình thù gì, rúm lại thành đống than tro. Ông ta bỗng thấy quả tim như trống mất một nữa, không thể hít thở, không thể suy nghĩ, thậm chí còn có phần bất lực.
Chị đi rồi, ông từ giờ sẽ thật sự phải đơn độc chiến đấu, không còn ai tri kỷ trong nhà họ Hoàng này nữa. Hung thủ... Ai là hung thủ?! Trong đầu Đỗ Lương giờ chỉ có một suy nghĩ ấy, phải tìm ra tên ác nhân đã cướp đi chỗ dựa tinh thần của ông, băm vằm y thành trăm mảnh, để y nếm mùi đau khổ gấp mười lần ông! Ý nghĩ này khiến khuôn mặt ông ta rúm ró, ánh mắt cũng trở lên tàn nhẫn, nhất thời không ai dám lên tiếng, chỉ biết hoảng sợ đứng nhìn. Đúng lúc đó Thi Vinh Sinh bước vào, vừa gạt đám đông vây quanh nhàn thấy xác chết bèn bụm miệng, kinh hãi nói:
"Sao lại chết người thế này?"
Câu nói này như thức tỉnh Đỗ Lượng, ông ta quay sang nói với hai phụ bếp bên cạnh:
"Vào kho dự trữ xem có mất gì không?"
Tờ thực đơn chị Quế cầm trong tay bấy giờ mới đập vào mắt, ông ta trừng mắt nhìn Thi Vinh Sinh, bước qua xác chết, theo vào phòng dự trữ. Vây cá gói trong túi giấy dầu đặt ở tầng trên cùng giá đồ, là hàng chiều qua mới nhận, có tất cả mười túi, giờ đếm đi đếm lại vẫn chỉ còn tám.
"Tối qua các người ta làm cùng lúc?"
"Vâng cùng lúc."
Một phụ bếp rụt rè trả lời.
"Ai là người về cuối cùng?"
Vẻ uy nghiêm lúc này của Đỗ Lượng không ai dám nghi ngờ, mọi người đều ra sức hợp tác đi theo hướng tư duy của ông ta.
Một phụ bếp chỉ tay vào một nam bộc bên cạnh, nói:
"Hắn là người về cuối cùng, vì còn phải quét dọn."
Nam bộc đó có vẻ sợ sệt, vội trình bày:
"Tiểu nhân quét nhà, lâu bệ bếp xong là về ngay, tiểu nhân không làm gì cả!"
"Chìa khóa kho dự trữ do ai cầm?"
Đỗ Lượng không đếm xỉa đến tay nam bộc, tiếp tục hỏi. Đỗ Lượng không nói thêm lời thứ hai, đột nhiên nhảy xổ vào Thi Vinh Sinh, đè y xuống đất, vung nắm tay giáng xuống tới tấp, cho đến khi đối phương kêu la oai oái.
"Ăn trộm thì cứ việc ăn trộm, sao còn phải hại mạng người?!"
Đỗ Lượng đã biến thành thú dữ, mắt đỏ ngầu màu máu, hai nắm đấm không ngừng vung tới mắt mũi mồm miệng Thi Vinh Sinh, xương ngón tay đập vào răng đối phương kêu "côm cốp".
Mọi người ai nấy đều đứng lặng một chỗ, không dám tiến lên can ngăn. Mà cơn phẫn nộ của Đỗ Lương có trút thế nào cũng không hết, đến tận khi mắt chị Quế bỗng nhiên mở ra, keó theo một tràng rú hét, ông ta mới dừng tay. Chị ta vẫn chết, nhưng mắt từ nhắm chặt chuyển sang he hé, cái nhìn bi ai hiện lên sau mí mắt như khuyên ông ta dừng tay, lại như thổ lộ nỗi niềm cam chịu đã tích tụ lúc sinh tiền.
Đỗ Lượng bấy giờ mới giơ hai cánh tay đau buốt, gào lên khóc.