Tây Vực Liệt Vương Ký

Lượt đọc: 2305 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
con quỷ sống trong chiếc bình

Huyền Trang, A Thuật, Khúc Đức Dũng, vương phi, Khúc Văn Thái tất cả đều ngây dại, trong lòng mọi người đều trào lên nỗi sợ hãi sâu sắc - trong Chiếc bình của vua Đại Vệ, thực sự có một con quỷ không gì không làm được sao?

“Ác quỷ A-tạp Mã-nạp kia, nghe lệnh của ta!” Khúc Trí Thịnh nhấn tay vào ngôi sao sáu cánh của vua Đại vệ, hét to một tiếng.

Làn khói đen nơi thân bình càng lúc càng đậm hơn, theo những hoa văn chạm khắc dần dần bừng lên, ngưng tụ thành một đám khói, bay lên thẳng tắp, bay đến nóc nhà mới bị cản lại. Làn khói đen càng ngày càng đậm, bỗng nhiên rung động một cách dữ dội, giống như có thứ gì đó đang giãy dụa bên trong đám khói, một lúc lâu sau, khói đen ngưng tụ thành một đám, chỉ còn một chút đuôi khói nối liền với miệng bình.

Lúc này, chuyện kinh người cũng xảy ra rồi, giữa đại điện đột nhiên vang lên tiếng cười lớn, hình dạng đám khói đen không ngừng biến hóa, rung động không thôi, giống như đang hưng phấn mà cười to: “Hoàng tử tôn quý, đây là lần thứ hai ngài gọi ta!”.

Giọng nói của con ác quỷ kia có phần hỗn loạn không rõ ràng, vốn mang âm điệu của nước khác. Tất cả mọi người hoảng sợ không thôi, Huyền Trang trợn mắt há hốc miệng, nhìn chăm chú vào làn khói đen giống hệt như một sinh vật sống kia, ngài tuy rằng tin vào Phật, nhưng thật không thể tưởng tượng được, rõ ràng giữa ban ngày, ngay trong vương cung này, từ trong Chiếc bình của vua Đại Vệ lại thật sự có thể thả ma quỷ ra ngoài.

“Lần thứ hai, ta biết rất rõ”, Khúc Trí Thịnh mất kiên nhẫn nói, “Ta sẽ thực hiện lời hứa, cả đời này đưa ra đủ ba nguyện vọng, sau đó giải phóng hoàn toàn cho ngươi”.

“Tên hoàng đế Tát San Ba Tư đáng ghét, lừa gạt ta bốn trăm năm, ta chỉ hy vọng ngài có thể hết lòng tuân thủ theo lời hứa”, ác quỷ A-tạp Mã-nạp trầm giọng nói, “Nếu như ngài chỉ hoàn thành hai tâm nguyện sau đó lại để cho ta ngủ say, một khi con cháu hậu thế của ngài đánh thức ta lần nữa, ta nhất định trả thù hắn! Ta sẽ không bao giờ tha thứ dễ dàng như vậy nữa!”.

“Ta biết, không cần phải nói lời vô nghĩa nữa!” Khúc Trí Thịnh hừ một tiếng, “Giờ hãy nghe tâm nguyện thứ hai của ta!”.

Ác quỷ A-tạp Mã-nạp cũng không nói thêm nữa, Khúc Trí Thịnh lạnh lùng quét mắt nhìn tất cả mọi người trong đại điện, lúc này, trừ Khúc Đức Dũng, vương phi và Tiết tiên sinh, Khúc Văn Thái, Huyền Trang, A Thuật, Chu Quý là những người đang bị giam cầm, còn có Long Đột Kỵ Chi và mười sáu tên long kỵ sĩ thủ hạ của hắn, và hơn một trăm tên trung binh khác. Bị ánh mắt lạnh lẽo không mang theo chút tình người nào của Khúc Trí Thịnh nhìn chằm chằm, cho dù quốc vương hay là bậc dũng tướng, các binh sĩ hay là người thường, tất cả mọi người đều cảm thấy sởn gai ốc, ai ai cũng không dám nhìn thẳng vào hắn.

“Phụ vương, công công, đại sư, A Thuật, các người lại đây!” Khúc Trí Thịnh quay về phía bọn họ vẫy tay, bốn người liền đi qua đó như lời hắn nói.

“Nhị ca, ta không giết huynh đâu”, Khúc Trí Thịnh nói, Khúc Đức Dũng há miệng thở dốc, không biết nên nói điều gì, “vương phi là mẫu hậu của ta, ta cũng không muốn giết người”.

“Quốc vương Yên Kỳ… Ngài là phụ thân của Sương Nguyệt Chi, ta không muốn làm nàng đau lòng, ta cũng sẽ không giết ngài.” Khúc Trí Thịnh cười lạnh một tiếng, chỉ vào những người khác, điên cuồng cười vang mà nói, “Các ngươi âm mưu phản loạn, các ngươi chia rẽ ta và Sương Nguyệt Chi, chỉ dựa vào thanh đao trong tay các ngươi thôi sao? Như vậy, ta sẽ lấy đi sức mạnh của các ngươi! A-tạp Mã-nạp, những kẻ phản loạn và cưỡng đoạt Sương Nguyệt Chi này, hãy giết chết hết tất cả đi!”.

“Ha ha ha ha!” Ác quỷ A-tạp Mã-nạp từ trong làn khói cất tiếng cười sang sảng, “Hoàng tử tôn quý, tâm nguyện thứ hai của ngài chỉ đơn giản như vậy sao?”.

“Đúng vậy!”, Khúc Trí Thịnh hung hăng đáp.

“Ngài không cần ngai vàng của vương quốc này?”

“Không cần!”

“Không cần làm vua của vạn vua Tây Vực?”

“Không cần!”

“Không cần có được đội quân mạnh nhất trên thế gian này, kho báu giàu có nhất hay nữ tử xinh đẹp nhất?”

“Không cần!” Khúc Trí Thịnh dịu dàng nắm lấy tay của Long Sương Nguyệt Chi, mất kiên nhẫn nói, “Ngươi phí lời làm gì? Ngoài Sương Nguyệt Chi ra, ta không cần cái gì cả!”.

“Được!” Ác quỷ A-tạp Mã-nạp trầm giọng nói một tiếng, đột nhiên ngay lúc đó, đám khói liền biến mất không thấy đâu nữa, giống như chưa bao giờ xuất hiện.

“Cứu ta!” khi mọi người còn đang kinh ngạc, đột nhiên Tiết tiên sinh dùng một bàn tay túm lấy yết hầu của chính mình, con ngươi lồi ra, ánh mắt thất thần nhìn vương phi, hắn chìa cánh tay kia ra, dường như muốn tóm lấy cái gì đó, rồi đột nhiên từ khóe miệng chảy ra một dòng máu tươi, gục xuống đất mà chết.

“Tiết tiên sinh!” Vương phi hét tơ một tiếng, xông tới ôm lấy hắn.

Tiết tiên sinh giãy dụa, dường như muốn nói với vương phi điều gì đó. Vương phi ghé sát tai vào miệng hắn, Tiết tiên sinh thì thào nói một câu, sau đó tắt thở mà chết, sắc mặt vương phi lập tức thay đổi, kinh ngạc nhìn về phía Huyền Trang. Huyền Trang buồn bực không thôi, liếc mắt nhìn A Thuật, cả hai người đều có chút kinh ngạc.

Huyền Trang còn không kịp suy nghĩ sâu xa, mười sáu tên Long kỵ sĩ, hơn một trăm tên trung binh, hơn ba mươi tên lư dân liền đồng loạt thổ huyết, không kịp rên lấy một tiếng, một đám người ngã sấp xuống, không còn nhúc nhích. Hơn một trăm người bỏ mạng, giống như một rừng cây um tùm bị thứ sức mạnh vô hình nào đó chặt bỏ hàng loạt, chỉ trong chớp mắt đã nằm la liệt khắp nơi trong đại điện rộng lớn, trở thành một đài hành quyết khổng lồ!

“Không!!!” Khúc Đức Dũng hoàn toàn sợ đến ngây người, thanh loan đao của hắn vẫn còn kề trên cổ của Khúc Văn Thái, nhưng cả người hắn dường như ngây dại, sức sống của cơ thể đều bị cướp sạch, chỉ còn lại cái xác.

Những người khác cũng không biết phải làm gì, một đám người đứng như tượng gỗ, từ trong đáy lòng trào dâng nỗi sợ hãi sâu sắc, sự ớn lạnh chạy dọc sống lưng, tóc cũng gần như muốn dựng thẳng đứng lên. Lúc này vừa đúng là hoàng hôn, ánh nắng xuyên qua đỉnh vòm chiếu rọi lên khuôn mặt của mọi người, trên các thi thể nằm la liệt dưới đất, trong mắt của tất cả bọn họ đều ánh lên màu máu nồng đậm.

Khúc Đức Dũng hét to một tiếng, điên cuồng chạy ra bên ngoài đại điện, liếc mắt nhìn lại một cái, nhất thời loạng choạng, trong miệng phun ra một ngụm máu tươi, quỳ rạp xuống đất. Lúc này đám người Huyền Trang, A Thuật, Long Đột Kỵ Chi, Khúc Văn Thái, vương phi, Chu Quý cũng bổ nhào tới đó, ai nấy đều mềm nhũn cả người, hoảng sợ đến mức không nói nên lời.

Trong đình viện vốn có khoảng tám chín trăm trung binh, Khúc Đức Dũng phái ba trăm tên đi giết Khúc Nhân Thư, còn lại năm trăm tên, trừ đi đám đang vây quanh cung điện này, còn lại thì áp giải Trương Hùng và đám túc vệ. Nhưng lúc này, hiện ra ở trước mắt bọn họ, là những thi thể nằm la liệt trên mặt đất, ngổn ngang, hỗn độn vô cùng. Hơn năm trăm người đều lẳng lặng đi về cõi chết! Chỉ còn Trương Hùng và đám túc vệ ngơ ngác đứng giữa đống thi thể, dường như còn chưa hiểu được chuyện gì xảy ra. Trong đình viện còn có một ít thủ hạ của Tiết tiên sinh, trước đó bị Khúc Đức Dũng đuổi ra ngoài, không bị rơi vào vòng xoáy chết chóc đến từ Chiếc bình của vua Đại Vệ, cả đám sợ tới mức ngẩn người, cầm đao kiếm mà không biết phải làm sao.

Huyền Trang kinh hãi nhìn Long Sương Nguyệt Chi, thấy sắc mặt nàng ta tuy tái nhợt, nhưng cũng không thể che giấu được sự hưng phấn trong ánh mắt, không thể nhịn được liền rùng mình một cái. Nữ nhân kia, chẳng lẽ ngay cả chuyện này cũng nằm trong sự khống chế của nàng ta hay sao?

Khi Huyền Trang đang suy nghĩ, Trương Hùng lao nhanh như tia chớp vọt tới bên Khúc Văn Thái: “Bệ hạ, ngài không sao chứ?”

Khúc Văn Thái lúc này mới tỉnh ra, nhưng cả người vẫn run rẩy như cũ, gần như không thể đứng thẳng được. Trương Hùng không thể bỏ qua liền lộ ra tài chỉ huy của mình, lệnh cho đám túc vệ nhanh chóng khống chế tình hình, Khúc Đức Dũng, Vũ Văn vương phi và đám lưu dân đều bị chế ngự.

Khúc Đức Dũng hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi, một cuộc đảo chính được sắp đặt chu đáo chặt chẽ, không hề sơ hở, sắp đến lúc thành công lại bị Chiếc bình của vua Đại Vệ phá hủy hết tất cả. Hắn vừa ở thời khắc kề cận với chiến thắng, chỉ trong nháy mắt liền ngã xuống đáy vực sâu.

Lúc này, Khúc Trí Thịnh kéo tay Long Sương Nguyệt Chi đi ra, lạnh lùng nhìn thi thể chất đầy trên mặt đất, thở dài: “Thật là, tội gì phải khổ như vậy chứ? Phụ vương, phiền người sai người chuyển đám thi thể trong cung của con ra ngoài đi, Sương Nguyệt Chi không thích nhìn thấy mấy thứ này. Còn nữa, ta mặc kệ các người ai làm quốc vương, cũng đừng đến quấy rầy ta, cho ta và Sương Nguyệt Chi hưởng thụ vài ngày yên tĩnh đi!”.

Nói xong hắn kéo Long Sương Nguyệt Chi trở về cung. Long Sương Nguyệt Chi quay đầu lại kêu lên: “Phụ vương, Sương Nguyệt Chi thực sự xin lỗi người!”.

Long Đột Kỵ Chi vừa sợ đến mất mật, dường như không nghe thấy lời nói của nữ nhi nhà mình, chỉ nhìn chằm chằm vào Khúc Trí Thịnh, giống như thấy quỷ vậy.

Khúc Văn Thái cũng dần dần khôi phục dũng khí, ông ta biết lúc này mình phải nắm cục diện trong tay, xử lý công việc, khắc phục hậu quả. Ông ta nhìn Khúc Đức Dũng bằng ánh mắt lạnh lùng: “Ngươi còn muốn nói gì không?”.

Khúc Đức Dũng cười thảm: “Thiên mệnh đứng về phía người, không đứng về phía con, cũng đến thế mà thôi. Mười tám năm trước, huynh đệ chúng con hòa thuận, phụ tử thân thiết, là ai đã làm cho sự tình đi tới bước đường như ngày hôm nay?”.

Khúc Văn Thái cuối cùng cũng nổi giận, xông lên đạp mạnh khiến Khúc Đức Dũng ngã nhào, hét lạc cả giọng: “Kẻ âm mưu phản nghịch là ngươi, chẳng lẽ người sai lại là ta hay sao?”.

“Người không sai ư?” Khúc Đức Dũng chậm rãi đứng lên, trên mặt lộ ra một nụ cười đầy mỉa mai, “Vì sao mỗi người con của người đều nóng lòng muốn người chết đi? Vì sao các vương hậu của người đều nguyền rủa người?”.

Sắc mặt Khúc Văn Thái đột nhiên trắng bệch, thất tha thất thểu lui lại vài bước, gần như không đứng thẳng được. Khúc Đức Dũng nước mắt rơi như mưa: “Từ khi con còn nhỏ, con luôn cho rằng người là bậc anh hào. Khi đó, người phụ tá tổ phụ, bảo vệ Con đường Tơ lụa, tiêu diệt lũ đạo phỉ, chống lại ngoại quốc, trong lòng con, người là một anh hùng bách chiến bách thắng, chiến công hiển hách! Từ đấy con đã hạ quyết tâm, tương lai cũng muốn làm một đại tướng quân, phụ tá đại ca, vì Cao Xương lập nên danh tiếng hiển hách! Thế nhưng, là ai đã kích động dã tâm của con, cám dỗ con đi đến bước đường cùng, âm mưu phản nghịch đoạt quyền, giết huynh giết cha?”.

Miệng Khúc Văn Thái ấp úng, không nhịn được nhìn Huyền Trang khóc rống lên: “Đại sư à, chẳng lẽ đây là sự trừng phạt của trời cao đối với ta sao?”.

“Bệ hạ”, Huyền Trang than nhẹ một tiếng, “nhân duyên đã gieo xuống đất, khi là mầm non mới nhú còn có thể dùng cuốc xẻng loại bỏ, khi thành cây non có thể chặt đứt, khi ra hoa có thể ngắt hái, nhưng khi đã tự thành nghiệp quả, quả độc chín cây ắt phải rơi rụng xuống đất đen”.

“Đúng vậy, khi quả chín rồi, cho dù hương vị thơm ngọt cũng được, có độc cũng được, chung quy đều phải rụng xuống đất.” Vũ Văn vương phi yên lặng đi đến bên Khúc Đức Dũng, khoác lên cánh tay hắn, khẽ thở dài, “Nhị lang, việc đi đến nước này, nhiều lời có ích lợi gì? Chúng ta sắp thành lại bại, chỉ có thể oán hận trời xanh bất công thôi!”.

Khúc Đức Dũng si ngốc nhìn nàng, một thân hình nhỏ xinh, một hùng tráng như núi, hai người đứng nắm tay nhau, giống như nỗi bi thương của Bá Vương biệt Cơ.

Khúc Đức Dũng khẽ nâng gương mặt của Vũ Văn vương phi lên, dùng tay áo nhẹ nhàng lau đi vết máu trên gò má nàng, mỉm cười: “Nếu phải ra đi, ta muốn nàng cũng phải thật xinh đẹp. Từ khi ta mười lăm tuổi đã ở bên cạnh nàng, trải qua bao nhiêu năm rồi! Ôi, vì sao nữ nhân trên khắp thế gian này, không ai có thể vượt qua được nàng?”.

Vũ Văn vương phi khóc thất thanh, Khúc Đức Dũng cũng rơi lệ đầy mặt: “Chớ khóc, chớ khóc, kiếp này không thế cưới nàng, tới địa ngục có thể ở cạnh nhau cũng được. Khi tới đó, chúng ta cũng không luân hồi nữa, ta sẽ để nàng mãi mãi hạnh phúc!”.

“Phụ vương!” Hắn nhìn Khúc Văn Thái cười, “con chỉ là muốn noi theo binh biến Huyền Vũ môn mà thôi, chưa bao giờ muốn giết người, cũng không muốn để cho người phải chịu nghiệp chướng giết con của chính mình”. Lời còn chưa dứt, từ khóe miệng hắn bỗng nhiên phun ra một dòng máu tươi, Vũ Văn vương phi cúi đầu nhìn xuống, nhìn thấy một thanh đoản đao cắm xuyên ngực hắn!

Thanh đoản đao này dài sáu tấc, cắm sâu vào trong ngực Khúc Đức Dũng, chỉ còn chừa lại chuôi dao.

Vương phi không giật mình chút nào, chỉ ngây người ra nhìn. Khúc Đức Dũng cố gắng mỉm cười: “Ta thật sự không dành lòng giết nàng, Ngọc Ba, ta đi trước đây”.

Nói xong, hắn không còn chút sức lực buông thõng tay nàng ra, thân thể cao lớn đổ ầm xuống đất. Vương phi cười thê lương “Đồ ngốc, sao lại tàn nhẫn như thế, làm ta phải trơ mắt nhìn chàng chết đi?”. Nàng nhào đến muốn rút đoản đao trong ngực Khúc Đức Dũng ra.

Khúc Văn Thái thản nhiên đứng nhìn, Chu Quý mau tay nhanh mắt, ngay khi ngón tay vương phi chạm đến thanh đao, liền nắm lấy cổ tay nàng: “Vương phi, không được làm như vậy!”. Rồi lập tức kéo vương phi ra xa khỏi thi thể của Khúc Đức Dũng. Hắn quỳ rạp xuống trước mặt Khúc Văn Thái khóc lớn: “Bệ hạ, nàng ta là vương phi!”.

Khúc Văn Thái có chút phẫn nộ vì Chu Quý tự mình làm vậy, nhưng vương phi nếu không thể tự sát, chung quy cũng không thể ở trước mắt bao người mà giết chết nàng ta. Thần sắc ông ta trở nên phức tạp nhìn chằm chằm vào nữ nhân này, rồi đành phải phất tay ra lệnh cho Trương Hùng: “Mang đi đi, ta không muốn nhìn thấy nàng ta nữa! Ngoài ra, ngươi lập tức khống chế bộ binh và binh doanh, bắt tất cả những kẻ có liên can lại!”.

Trương Hùng biết không thể trì hoãn thêm được, vội vàng áp giải Vũ Văn vương phi đi. Vương phi bị giải đi còn cười to: “Ngươi để cho ta sống, tựa như đem thứ quả có độc nắm trong lòng bàn tay! Ta sẽ ngày ngày nguyền rủa ngươi!”.

Khúc Văn Thái cười thảm: “Vương tộc Khúc thị ta đã trúng lời nguyền của ma quỷ rồi…”. Đột nhiên như nhớ ra điều gì đó, ông ta liền ra lệnh: “Chu Quý, mau dẫn người đi cứu Nhân Thư!”.

sắc mặt Chu Quý đại biến, vừa rồi Khúc Đức Dũng đã phái người đi giết Khúc Nhân Thư! Từ nơi này đến Đông cung, khoảng cách cũng không xa, lúc này chỉ sợ Khúc Nhân Thư lành ít dữ nhiều. Hắn vội vàng đáp lại một tiếng, rồi nhanh chóng gọi mấy chục tên túc vệ, chạy như điên về hướng Đông cung.

°°°

Tại Đông cung, thi thể sớm đã nằm ngổn ngang trên mặt đất, máu chảy thành sông. Khúc Đức Dũng phái trung binh tới giết Khúc Nhân Thư, Khúc Nhân Thư tuy rằng không biết tình hình cụ thể như nào, nhưng sao có thể khoanh tay chịu trói. Trương Hùng vì sự an toàn của hắn đã phái một trăm đô binh đến bảo vệ hắn, nếu là ám sát, chừng đó binh lực cũng đủ để ngăn chặn bất cứ tên thích khách nào, nhưng đối mặt với trung binh tinh nhuệ thì không đủ sức.

Đám trung binh tuyên đọc chiếu lệnh, nếu thấy Khúc Nhân Thư không tự sát, lập tức tiến công, dùng gỗ tròn thúc sập tường thành, tiến vào đông cung. Khúc Nhân Thư liều mạng chống cự, nhưng kẻ ít không địch lại đám đông, chỉ khoảng nửa khắc, đông cung xác chết ngổn ngang, một trăm đô binh gần như bị giết sạch. Khúc Nhân Thư thấy tình thế không ổn, dưới sự bảo vệ của vài tên tàn binh, bắc thang trèo qua tường, bỏ trốn mất dạng.

Chỗ dựa lớn nhất của hắn ở Cao Xương là Trương Hùng, hắn lúc này còn chưa biết Trương Hùng đã dẫn quân vào vương cung bình loạn, hoảng hốt lo sợ lẩn trốn khắp nơi trong dân chúng vương thành, tháo chạy về hướng phủ của Trương Hùng. Sau khi chạy qua bảy tám cái sân, bên cạnh hắn đã không còn một bóng người, nhưng may mắn đám trung binh cũng không còn đuổi theo nữa.

Khúc Nhân Thư nhẹ nhàng thở ra, lặng lẽ tìm đến phủ của Trương Hùng. Không ngờ mới vừa đi qua một cái sân, từ bên trong cánh cửa có một cánh tay túm mạnh lấy hắn lôi vào trong, Khúc Nhân Thư hết hồn hết vía, xoay người bỏ chạy.

“Thế tử, xin đừng hoảng sợ!” Người nọ trầm giọng gọi, âm thanh dường như rất quen thuộc.

Khúc Nhân Thư run rẩy quay người lại, lúc này mới nhẹ nhàng thở ra, hóa ra là Chu Quý. Chu Quý trên người mặc thường phục, vẻ mặt lạnh lùng kéo hắn đến bên dưới giàn nho: “Thế tử, bên ngoài nơi nơi đều là người của nhị hoàng tử, đại tướng quân đang dẹp yên trong cung, không có ở trong phủ”.

“Công công, cứu ta!” Khúc Nhân Thư suýt nữa thì khóc nấc lên, như bắt được ngọn cỏ cứu mạng, nắm lấy cánh tay của Chu Quý ra sức lay.

Chu Quý cực kỳ bình tĩnh, an ủi Khúc Nhân Thư: “Thế tử xin yên tâm, là bệ hạ lệnh cho lão nô tới cứu người. Nhị hoàng tử đã chết rồi, bây giờ bên ngoài còn có loạn đảng vẫn chưa diệt sạch, người chỉ cần trú trong biệt viện này thêm một thời gian ngắn nữa thì sẽ bình yên vô sự”.

Lúc này Khúc Nhân Thư mới thở phào nhẹ nhõm, rưng rưng nước mắt nói: “Huynh đệ hòa ái, tôn kính lẫn nhau, sao phải làm loạn tới nước này!”.

“Chỉ vì thế tử lỡ sinh ra trong gia đình đế vương thôi”, Chu Quý cười nói.

Khúc Nhân Thư kinh ngạc, đột nhiên cảm thấy ngực mình đau nhói. Hắn run sợ cúi xuống nhìn thì thấy một thanh đoản đao cắm sâu vào trái tim mình. Khúc Nhân Thư ngơ ngác ngẩng đầu, máu tươi từ trong miệng trào ra, hắn lẩm bẩm: “Công công, sao công công lại giết ta…?”.

Chu Quý trầm ngâm một lát, rồi thở dài mà nói: “Hết thảy ác nghiệp báo ứng xin cứ dồn hết lên người ta. Mong thế tử sớm ngày luân hồi, sớm được giải thoát!”.

Từ cổ họng Khúc Nhân Thư phát ra âm thanh ú ớ, định hỏi cho rõ ràng nhưng không sao nói nên lời, hai tay hắn níu chặt lấy vạt áo của Chu Quý, rồi từ từ gục xuống nền đất.

Chu Quý bình tĩnh ngồi xổm xuống, dùng quần áo của Khúc Nhân Thư đè chặt vết thương rồi nhẹ nhàng rút đoản đao ra. Máu tươi lập tức trào ra, nhưng lượng máu lại cực kỳ ít. Đoản đao sau khi được rút ra thì trắng sáng như tuyết. Đây là thanh đao được làm bằng thép Ô Tư thượng hạng, cả cuộc đời ông ta chỉ rèn ra được hai thanh đao như vậy.

Sau khi Chu Quý rời đi, phải một lúc rất lâu sau mới có một công tử tuổi còn trẻ bước vào đình viện. Hình như hắn biết trước trong đình viện nhất định có một cái xác nằm đó, hắn đi thẳng tới dưới giàn nho, ngồi xổm xuống chăm chú nhìn một lượt thi hài lạnh ngắt. Hắn quan sát rất tỉ mỉ, không khác gì một ngỗ tác[94], thậm chí còn chọc một cây kim bằng thép vào miệng vết thương để đo lường độ sâu.

“Đâm sâu tới một tấc rưỡi, vừa vặn xuyên trúng tim!” Vị công tử trẻ tuổi kia lẩm nhẩm, “thật không nhìn ra, lão thái giám già này lại là một cao thủ! Tình hình rối loạn ở Cao Xương càng lúc càng thú vị rồi. Lão công công này rốt cuộc muốn làm gì đây?”.

Lúc này, trong hẻm vang lên tiếng bước chân dồn dập, xen lẫn tiếng binh khí và áo giáp va chạm vào nhau. Vị công tử trẻ tuổi hơi nhíu mày, lặng lẽ nhảy qua bên kia đình viện. Hắn vừa mới đi thì đã nghe thấy có người hoảng sợ kêu lên: “Thế tử…!”.

Nhà cửa trong vương thành đa số đều thông nhau, công tử trẻ tuổi đó chạy xuyên qua mấy cái sân là ra đến đường lớn. Thành thị phồn hoa, thương nhân mua bán náo nhiệt ngất trời, hoàng hôn buông xuống rồi nhưng sự nhộn nhịp ở nơi đây vẫn chẳng hề giảm đi. Vị công tử kia chắp tay sau lưng, ung dung đi lại trên phố, tỉ mỉ quan sát các loại cửa hiệu, hạn mức giao dịch, danh mục hàng hóa, rồi giá cả ra sao. Trông hắn giống như một lái buôn lần đầu tiên bán hàng rong mà lại tham lam muốn tìm hiểu hết tất cả mọi điều mới lạ.

Bỗng nhiên sau lưng truyền đến một loạt tiếng ồn, một đám hộ vệ khiêng thi thể của Khúc Nhân Thư chạy như điên tới. Mặt tên nào tên nấy hoảng sợ, tuyệt vọng, nhễ nhại mồ hôi, chạy như bay về phía vương thành.

Vị công tử trẻ tuổi chỉ lắc đầu tiếc nuối nhưng cũng không quan tâm thêm nữa. Hắn tránh sang bên đường, đợi đám hộ vệ khiêng thi thể rời khỏi đó rồi mới bắt đầu thong thả đi tiếp. Hắn dường như chẳng hề gấp gáp, tới giờ ăn tối, hắn còn đặc biệt lựa chọn một quán ăn tên là “Bạch Thị Danh” do người Quy Từ mở ra, hắn tới để ăn một bữa bánh Tất La chính hiệu Tây Vực.

Ăn rồi hắn lại tấm tắc khen ngợi: “Tay nghề quả không hề kém cạnh Hàn Ước ở chợ phía tây Trường An ngày trước!”.

Đúng lúc này đám người trên phố bỗng trở nên náo loạn, nhao nhao đổ về hướng vương cung. Vị công tử kia cũng tỏ ra kinh ngạc, bỏ lại mấy đồng tiền đồng Cao Xương Cát Lợi trên bàn rồi chạy ra khỏi cửa hiệu, kéo một người lại hỏi thăm: “Xảy ra chuyện gì thế?”.

“Giết người rồi!” người đó còn không buồn quay đầu lại.

Vị công tử trẻ tuổi hòa theo dòng người tới bên ngoài vương cung, nhất thời vô cùng kinh ngạc, quả thực là sắp giết người rồi, hơn nữa không phải chỉ có một người. Tường thành phía tây của vương cung có một đám phạm nhân lố nhố đang chờ xử trảm, đếm qua loa cũng phái chừng sáu bảy mươi người! Sau lưng mỗi người đều có một lính túc vệ nắm trường đao trong tay, đứng sừng sững. Kỳ lạ hơn nữa là có một tăng nhân trẻ tuổi đang quỳ đối diện với những phạm nhân kia, quỳ bên cạnh tăng nhân là một đứa trẻ khoảng tám chín tuổi! Còn Tả vệ đại tướng quân Trương Hùng thì mang vẻ mặt phiền não, đang khom lưng khuyên giải tăng nhân. Tăng nhân một mực nhắm mắt tụng kinh, không hề để ý tới hắn.

Hắn càng nhìn càng hiểu kỳ bèn hỏi một ông lão đứng bên cạnh: “Lão trượng à, chuyện này là sao vậy?”.

Ông lão thấy quần áo trên người của vị công tử này có vẻ là người quyền quý nên không dám nhì nhằng, bèn nói: “Công tử, theo lời đại tướng quân nói, đây là đám người lưu vong Tùy Tần, chạy tới Cao Xương mưu đồ muốn tạo phản. Lão còn nghe nói vừa rồi ở trong vương cung vọng tới tiếng hô giết rung trời, đoán chừng là do đám người lưu vong này làm loạn”.

“Vậy còn vị tăng nhân này thì sao?” công tử kia hỏi tiếp.

Ông lão chắp tay niệm: “A Di Đà Phật! Công tử, vị tăng nhân này chính là cao tăng tới từ Đại Đường, là đại sư Huyền Trang, cũng là vị khách tôn quý nhất mà quốc vương Cao Xương mời tới. Danh tiếng của ngài ấy đã truyền khắp cả Tây Vực, giống như tuyết đọng quanh năm trên đỉnh Thiên Sơn, ai cũng nhìn thấy rõ mồn một. Quốc vương Cao Xương muốn xử quyết những lưu nhân này, Đại sư sau khi hay tin liền tới pháp trường, quỳ trước mặt bọn họ, chỉ niệm kinh mà không nói câu nào. Đại tướng quân có khuyên thế nào cũng không chịu đi. Có lẽ đại sư xót thương cho nỗi khổ của đám dân lưu vong đó nên muốn siêu độ cho họ!”.

Vị công tử trẻ tuổi sửng sốt, sắc mặt liền trở nên nghiêm nghị, lẳng lặng quan sát diễn biến tiếp theo của sự việc.

Lúc này Trương Hùng khuyên nhủ hết nước hết cái hồi lâu mà Huyền Trang vẫn chẳng mảy may đếm xỉa đến, chỉ lặng lẽ tụng kinh. Trương Hùng bất đắc dĩ nói: “Đại sư, không phải ta không hiểu tâm tư của ngài, nhưng ta thực sự không thể làm trái ý chỉ của bệ hạ được! Chi bằng ngài vào cung gặp bệ hạ, nếu người chịu đặc xá thì ta đương nhiên có thể thả người ra”.

Huyền Trang mở mắt, lãnh đạm nói: “Bệ hạ mất hai vị hoàng tử, đau đớn khôn cùng, sớm đã nghiêm lệnh cho ngài nhất định phải trảm hết những người dân lưu vong này. Chỉ cần bần tăng rời khỏi đây một bước, sáu bảy mươi cái đầu ắt rơi xuống đất ngay”.

Trương Hùng á khẩu không nói được gì, cung kính hành lễ với Huyền Trang: “Đại sư, ta là thần tử của bệ hạ, không có mệnh lệnh của bệ hạ, sao dám phóng thích những kẻ lưu vong này? Đại sư chỉ cần xin được một lời của bệ hạ, ta tất sẽ thả người. Ta đảm bảo, sau khi đại sư rời đi, ta tuyệt đối không tự ý xử trí”.

Huyền Trang còn chưa lên tiếng, vị công tử kia liền cười tủm tỉm hướng pháp trường đi tới, nói: “Nếu đã là dân lưu vong Tùy Tần thì xử trí như thế nào sao lại để quốc vương Cao Xương phán quyết được chứ?”.

Trương Hùng và Huyền Trang đồng loạt quay đầu lại nhìn hắn ta, thấy người này chỉ khoảng ngoài hai chục tuổi, chân tay thẳng dài, tướng mạo tuy nho nhã nhưng vẫn phảng phất chút dung tục đời thời, phục sức trên người theo phong cách người Đại Đường, có phần không giống những người Hán ở Cao Xương.

Trương Hùng nhíu mày: “Ngươi là ai? Sao dám tự tiện xông vào pháp trường?”.

Công tử trẻ tuổi bật cười, lấy từ trong ngực ra một miếng ngư phù[95] bằng đồng dài hai tấc đưa cho Trương Hùng. Trương Hùng buồn bực nhận lấy lật qua lật lại xem xét. Ngư phù bằng đồng này chỉ có nửa bên, tựa như một con cá được mổ ra, chỉ là trên mặt đồng bên trong có khắc nổi một chữ “Đồng”, mà ở giữa sống chiếc ngư phù hình như còn khắc hai chữ nữa, nhìn kỹ một chút thì nhận ra chính là hai chữ “Hợp đồng” bị tách ra làm hai mỗi nửa một chữ. Chắc hẳn phải lấy một nửa mảnh ngư phù còn lại rồi khớp chúng với nhau thì mới hình thành hai chữ “Hợp đồng” hoàn chỉnh. Phía dưới chữ “đồng” trên mặt đồng, còn khắc một hàng chữ nhỏ: “Vương Huyền Sách, trưởng sử phủ soái hữu vệ khâm mệnh đi sứ.”

Sắc mặt Trương Hùng lập tức sa sầm: “Ngài là…”.

Công tử kia chỉ trầm giọng nói: “Vương Huyền Sách, sứ giả Đại Đường xin cầu kiến quốc vương Cao Xương”.

°°°

Khúc Văn Thái lúc này vì lao lực quá độ mà đổ bệnh nằm liệt giường nhưng nghe được tin sứ giả Đại Đường đến vương thành thì vẫn ôm bệnh đến tiếp kiến. Trương Hùng hộ tống Vương Huyền Sách và Huyền Trang vào cung. A Thuật theo thường lệ giống như một tiểu tùy tùng, theo sát Huyền Trang một tấc cũng không rời.

Khúc Văn Thái quấn mình trong một chiếc chăn lông thật dày, sắc mặt vàng vọt, nửa ngồi nửa nằm trên ngai quốc vương. Thấy họ tiến vào, trước tiên ông ta cười gượng cáo lỗi với Huyền Trang, sau đó mới nói với Vương Huyền Sách: “Quý sứ từ Đại Đường xa xôi tới, bổn vương đáng lẽ phải ra ngoài thành nghênh đón, chỉ là tấm thân tàn này không ổn, cả người không còn sức lực, quả thực đã thất lễ rồi”.

Vương Huyền Sách chắp tay cười nói: “Đâu có, đâu có, hạ quan vốn dĩ phụng mệnh đi sứ đến vương đình Tây Đột Quyết, chỉ là tiện đường ghé qua quý quốc nên chưa đệ trình quốc thư, vẫn mong bệ hạ lượng thứ cho”.

Đối diện với một nhân vật tầm cỡ của Đại Đường, Khúc Văn Thái có gì mà không lượng thứ được? Ông ta chỉ có thể gượng cười, nói: “Không dám, không dám. Phải rồi, sao quý sứ lại tới vương thành một mình, sứ đoàn đâu?”.

Vương Huyền Sách cười nói: “Tây Vực vạn dặm xa xôi một mình ta là đủ rồi!”.

Khúc Văn Thái ca tụng: “Chung quy vẫn là sứ giả thượng quốc, khí phách thật bất phàm! Hôm nay quý sứ tới tiếp kiến bổn vương chẳng hay có điều gì chỉ giáo? Nếu như cần tiếp tế rượu và lương khô, cứ việc dặn dò là được”.

Vương Huyền Sách đáp: “Rượu và lương khô ta sẽ tự mua lấy, không dám phiền tới bệ hạ. Hôm nay ta đến gặp người là vì thấy bên ngoài vương cung đang muốn xử trảm bách tính Đại Đường ta, nên trong lòng có chút khó hiểu, mới đặc biệt tới đây muốn hỏi bệ hạ”.

Sắc mặt Khúc Văn Thái trầm xuống, ông ta đáp: “Quý sứ, đám loạn dân này không thể xét là bách tính Đại Đường chứ? Từ cuối đời nhà Tùy, đám người này đã lưu vong đến Tây Vực, đến Cao Xương của ta thì đương nhiên chính là người Cao Xương rồi. Bọn chúng nổi loạn ở Cao Xương của ta, bổn vương xử trảm chúng thì có gì không được?”.

Vương Huyền Sách mặt không đổi sắc, thản nhiên nói: “Kể từ khi Đại Đường chúng ta thay thế Tiền Tùy, thì tất cả những gì của nhà Tùy đều thuộc về sở hữu của Đại Đường chúng ta. Bọn họ nếu trước đây đã từng là bách tính Tiền Tùy thì đương nhiên cũng là con dân của Đại Đường ta. Dẫu cho bọn họ có lưu vong tới Tây Vực nhưng tên của họ vẫn còn lưu trong hộ tịch tại quê nhà. Bệ hạ tự ý giết con dân Đại Đường ta, hạ quan nếu không nhìn thấy thì thôi, nhưng bây giờ lại tận mắt thấy được, người bảo sau này về đến Trường An ta biết ăn nói thế nào với hoàng đế Đại Đường đây?”.

Trong lòng Huyền Trang không nén nổi xúc động, từ khi ngài tới Tây Vực, mặc dù được quốc vương các nước nhiệt tình tiếp đón nhưng với tư cách là một tăng nhân, ngài cũng không hề cảm nhận được danh tiếng của Đại Đường quá nhiều. Lúc này thấy Vương Huyền Sách một thân một mình mà lại dám vừa đấm vừa xoa trước mặt quốc vương Cao Xương, thậm chí còn lên tiếng uy hiếp, thì ngài mới nhận ra Đại Đường có uy thế như thế nào đối với các quốc gia Tây Vực.

Khúc Văn Thái suy cho cùng cũng là quốc vương một nước, nghe những lời này thì trên mặt có tỏ ra hơi giận: “Quý sứ phải biết rằng đám người này phạm tội trên đất Cao Xương của ta, chúng có ý đồ mưu phản! Tội mưu phản tày đình này dù ở nước nào cũng không được đặc xá, phải không?”.

Vương Huyền Sách bỗng nhiên tỉnh ngộ: “Thì ra là vậy! Nếu là vậy thì đám người này nhất định phải bị trừng phạt nghiêm khắc. Hay là như vậy, bệ hạ, người trước hết cứ giam họ lại đã, đợi ta từ vương đình Tây Đột Quyết trở về sẽ áp tải họ về Đại Đường, trừng trị nghiêm minh theo luật pháp Đại Đường, ngài thấy thế nào?”.

Khúc Văn Thái lập tức cứng họng, ông ta trầm mặc nhìn chằm chằm vào Vương Huyền Sách, mặt hơi đỏ lên, cảm nhận sâu sắc được mình đang bị áp bức và lăng nhục. Vương Huyền Sách mỉm cười nhìn thẳng vào Khúc Văn Thái.

“Bệ hạ!” Huyền Trang vội vàng nói: “Có thể nghe bần tăng kể một câu chuyện không?”.

Khúc Văn Thái đáp: “Có thể nghe đại sư giảng pháp chính là niềm vinh hạnh không gì sánh bằng của đệ tử”.

“Xưa có một người mẹ nuôi dạy bảy người con”, Huyền Trang nói tiếp: “Một đứa chẳng may qua đời, người mẹ thấy con đã chết bèn muốn giữ thi thể đứa con ở trong nhà, một mình dắt theo sáu người con còn lại bỏ đi. Một người hàng xóm thấy vậy bèn hỏi: ‘Sống chết không cùng đường, bà nên chôn cất thi thể con mình ở xa một chút, cớ sao lại để người chết trong nhà, còn người sống lại phải rời đi?’ Người mẹ nghe xong thì thầm nghĩ trong lòng: ‘Người chết đúng là nên chôn xa nơi mình sống, nhưng mình đem con đi chôn bằng cách nào đây? Xem ra nhất thiết phải giết thêm một đứa nữa, như vậy là có thể gộp thành một gánh khiêng đi. Thế là bà ấy liền giết thêm một đứa con, để hai con vào hai đầu quang gánh, vừa vặn cân bằng, gánh đi chôn cất.”

Câu chuyện vừa dứt, Khúc Văn Thái liền bật cười gượng gạo: “Đại sư, trên đời sao có người nào ngu xuẩn như vậy được!”.

Trương Hùng cũng kinh ngạc: “Đúng vậy, thực sự khó mà tin nổi, người kia cũng ngu xuẩn quá mức rồi đó”.

Huyền Trang đáp: “Kẻ ngu xuẩn kia không phải ai khác mà chính là bệ hạ đó!”.

Trương Hùng để làm dịu bầu không khí đã lên tiếng góp vui nhưng nghe vậy lập tức không dám nói thêm gì nữa. Khúc Văn Thái bàng hoàng, không nén được cười gượng: “Đại sư cớ sao lại nói ra những lời này?”.

“Hai vị hoàng tử nối tiếp nhau ra đi, nguyên nhân bên trong khó tránh khỏi liên quan tới bệ hạ.” Huyền Trang điềm nhiên nói: “Nhưng mà người thì cũng chết rồi, với bệ hạ mà nói, việc nên làm đó là mai táng hai hoàng tử ở lăng mộ, triệu tập chúng tăng làm phép siêu độ cho vong linh họ sớm được về trời. Thứ nhất là để linh hồn người đã mất được yên nghỉ, thứ hai có thể rửa sạch tội nghiệt của bệ hạ. Nhưng bệ hạ lại làm gì? Người trút cơn thịnh nộ lên những người lưu vong Tùy Tần, muốn chém đầu sáu bảy chục mạng người. Ngài làm vậy chẳng phải giống y như kẻ ngu xuẩn kia, để hai vai cân bằng liền không ngại tội chồng thêm tội, giết con để dễ gánh sao?”.

“Nói hay lắm!” Vương Huyền Sách không ngớt lời thán phục: “Đại sư, lúc còn ở Đại Đường ta sớm đã nghe tới danh tiếng của ngài, đệ tử học theo Nho giáo, có phần không cho đó là đúng, hôm nay được mở rộng tầm mắt, thực sự vô cùng thán phục”.

Khúc Văn Thái cũng sớm ngây ra như phỗng, nhìn vô định ra bên ngoài đại điện, chợt gượng cười đau khổ: “Đại sư, đệ tử xin thụ giáo! Giết con để dễ gánh! Ha ha, giết con để dễ gánh! Hai đứa con của ta quả thật đã chết trong tay ta!”.

Khúc Văn Thái lệ tuôn đầy mặt, vậy mà lại gào khóc nức nở trong đại điện thật.

Chu Quý hầu hạ bên cạnh, chứng kiến bộ dạng khóc lóc thảm thương của Khúc Văn Thái cũng đau lòng khôn xiết, bước lên nói: “Bệ hạ, thân thế người suy nhược, nên trở về hậu cung nghỉ ngơi thôi!”. Dứt lời liền sai mấy cung nữ dìu Khúc Văn Thái dậy.

Khúc Văn Thái lau nước mắt, thở dài một tiếng: “Thái Hoan, thả những người kia ra đi”.

Giọng nói thê lương không sao tả xiết, chỉ trong thời gian nửa ngày mà Khúc Văn Thái dường như già thêm mười tuổi. Huyền Trang lặng lẽ quan sát, nhìn thấy trên đầu ông ta lại có thêm vài sợi tóc bạc.

Khúc Văn Thái đang định đi thì Hoan Tín đột nhiên hấp tấp chạy vào điện: “Bệ hạ! Bệ hạ! Yên Kỳ gửi quốc thư đến”.

Khúc Văn Thái ngây ngẩn, lại lảo đảo ngồi xuống ngai vàng, lệnh cho Hoan Tín trình quốc thư lên. Ông ta mở cuộn da dê ra xem, sắc mặt lập tức xám xịt, cả người ngây ra như phỗng!

Trương Hùng vội vàng nói: “Bệ hạ!”.

Khúc Văn Thái ngây người ngẫm nghĩ một hồi, giao quốc thư lại cho Hoan Tín: “Mang xuống cho đại tướng quân và sứ giả Đại Đường cùng xem.”

Mọi người đều sững sờ, thậm chí ngay cả Vương Huyền Sách cũng có chút không hiểu, quốc thư mà Yên Kỳ gửi cho Cao Xương, sao lại cho sứ giả ngoại quốc như hắn xem?

Hoan Tín đưa quốc thư cho Trương Hùng, Trương Hùng vừa xem, mặt liền biến sắc, lại đưa cho Vương Huyền Sách với vẻ mặt vô cùng phức tạp.

Vương Huyền Sách mở ra xem, Yên Kỳ sử dụng tiếng Thổ Hỏa La, Cao Xương sử dụng tiếng Hán, do đó quốc thư được viết bằng hai thứ tiếng. Trên thực tế, Vương Huyền Sách làm quan văn lại được cử đi sứ Tây Vực chính là bởi vì hắn rất thông thạo ngôn ngữ các nước Tây Vực.

Vương Huyền Sách xem xong, nét mặt thế nhưng lại tỏ ra vô cùng bình tĩnh.

Khúc Văn Thái gượng cười với Huyền Trang: “Đại sư chắc hẳn vẫn chưa biết quốc thư mà người Yên Kỳ gửi tới có nội dung gì? Long Đột Kỵ Chi tuyên chiến với bổn vương, ba nước chính thức tuyên chiến với Cao Xương, Con đường Tơ lụa tạm thời bị đóng băng”.

Trương Hùng đột nhiên lên tiếng: “Bệ hạ, thần tới thành Giao Hà, nhất định phải chặn người Yên Kỳ bên ngoài cổng thành!”.

Khúc Văn Thái lệ tuôn như mưa: “Thái Hoan, Đức Dũng đã đi rồi, nếu ngươi không ở đây thì lấy ai trấn giữ vương thành? Hơn nữa, liên quân ba nước ước chừng phải tới tám nghìn người, điều động cả Cao Xương ta cũng chỉ được chừng năm nghìn quân. Nếu như Long Đột Kỵ Chi lôi kéo địa quân của ta tới Giao Hà sau đó xuất kỵ binh vượt qua sa mạc tấn công vương thành thì ta biết phải làm sao?”.

Trương Hùng không cam lòng nhưng rốt cuộc cũng đành bó tay. Hết cách rồi, chênh lệch lực lượng quá lớn. Nếu so với từng nước riêng lẻ thì chênh lệch lực lượng không hề lớn, thậm chí phần thắng còn hơi nghiêng về Cao Xương, nhưng bây giờ ba nước này liên thủ với nhau thì Cao Xương sao có thể địch lại được chứ. Ở các nước Tây Vực, đại quân tám nghìn người là một binh lực không thể địch nổi.

Khúc Văn Thái tha thiết nhìn về phía Vương Huyền Sách: “Quý sứ, Đại Đường và Cao Xương chúng ta giống nhau, đều là quốc gia của người Hán. Nhiều năm trở lại đây, Trung Nguyên suy yếu, người Hán ở Tây Vực bị bọn người Di Địch chèn ép, lấn át. Bây giờ Đại Đường hùng mạnh danh chấn thiên hạ, xin quý sứ niệm tình cùng là huyết mạch nhà Hán mà ra tay giúp đỡ Cao Xương chúng ta!”.

Vương Huyền Sách trầm mặc trong giây lát, chắp tay nói: “Bệ hạ, Đại Đường ta dĩ nhiên mong muốn Tây Vực được yên ổn, nhưng lần này ta phụng chỉ đi sứ Tây Đột Quyết, Hoàng đế không cho phép ta xen vào xung đột giữa các nước Tây Vực. Cho dù ta có ý muốn giúp ngài, danh bất chính, ngôn bất thuận, phải làm như thế nào mới được đây?”.

Khúc Văn Thái nhìn Huyền Trang bằng ánh mắt cầu cứu, Huyền Trang rơi vào tình thế khó xử nhưng cũng hiểu mình không nên xen vào việc quốc gia đại sự, nên đành im lặng nhắm mắt, lần tràng châu niệm Phật. Khúc Văn Thái đành chịu, chỉ còn nước hỏi Vương Huyền Sách: “Quý sứ, vậy ta phải làm sao mới có thể xin được Đại Đường cứu giúp?”.

“Bệ hạ!” Vương Huyền Sách nói, “Dẹp tan mối họa tam quốc này với Đại Đường ta mà nói chẳng qua chỉ cần một cái phất tay là xong. Nhưng quan hệ giữa bệ hạ và Tây Đột Quyết không phải là nhỏ, hiện nay mỗi thành trì thuộc Cao Xương của ngài đều có Thổ đồn của Tây Đột Quyết, hàng năm đều thu thuế buôn bán từ chỗ các ngài, đồng thời còn giám sát động tĩnh trong nước, nếu Đại Đường ta nhúng tay vào, để Khả hãn Thống Diệp Hộ biết được thì hẳn là không hay cho lắm”.

Khúc Văn Thái trầm mặc. Trong lòng ông ta rất rõ, trên thực tế Cao Xương có thể coi là nước phụ thuộc vào Tây Đột Quyết, nếu cầu cứu Đại Đường thì cũng đồng nghĩa với việc phản bội lại Tây Đột Quyết. Vương Huyền Sách cố ý đề cập đến Thổ đồn cũng chính là đang nói, các người nộp thuế cho Tây Đột Quyết, đến lúc gặp chuyện thì lại cầu cứu Đại Đường, đây là đạo lý gì? Hắn thậm chí còn đang khéo léo gợi ý ông ta trục xuất Thổ đồn, thể hiện thành tâm thành ý cống hiến cho Đại Đường. Nhưng quốc sách quan trọng thế này, ngay cả Khúc Văn Thái cũng không dám tự ý quyết định.

Bầu không khí trầm mặc bao trùm đại điện, Khúc Văn Thái chợt cười gượng không dứt: “Nhớ khi còn trẻ, Khúc Văn Thái ta nắm đại quân trong tay tung hoành Tây Vực, ba mươi sáu nước đều phải phục tùng ta. Dẫu có bị nghịch tặc soán quyền, nước mất nhà tan thì vẫn có thể dẹp tan phản nghịch, chấn hưng Cao Xương lại từ đầu. Nhưng tại sao… tới khi về già lại trong một ngày mất đi hai người con, trong ngoài đều khốn đốn? Tại sao vậy? Rốt cuộc là tại sao?”.

Khúc Văn Thái bỗng nhiên gào to một tiếng, rồi bất ngờ thổ ra máu tươi, ngã khỏi ngai vàng.

Mọi người kinh ngạc, đồng loạt xúm lại kêu gào. Chẳng mấy chốc thái y trong cung liền gấp gáp chạy đến, chữa trị ngay tại chỗ. Một hồi lâu Khúc Văn Thái mới từ từ tỉnh lại, đưa mắt nhìn xung quanh, nước mắt tuôn như mưa. Ông ta nắm chặt tay Huyền Trang nói: “Đại sư, trên đời có tám nỗi khổ, sao lại bắt ta phải… nếm trọn hết thảy?”.

Huyền Trang lại không biết phải trả lời thế nào.

Chú Thích

[94] Chức quan chuyên phụ trách khám nghiệm tử thi thời xưa.

[95] Một loại phục sức khẳng định địa vị của quan lại thời Đường. Thông thường ngư phù để trong một chiếc túi nhỏ, đeo bên mình. Thời Đường ngư phù tùy thân có hai chiếc, một đeo bên phải, một đeo bên trái. Bên trái xuất trình khi vào, bên phải xuất trình khi ra. Quan từ tam phẩm trở lên mặc áo tím đeo túi trang sức bằng vàng, quan từ ngũ phẩm trở lên mặc áo đỏ, đeo túi trang sức bằng bạc.

« Lùi
Tiến »