Tây Vực Liệt Vương Ký

Lượt đọc: 2296 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
hoàng tử cao xương, công chúa yên kỳ

Lời vừa nói ra, ngay cả đám thị nữ của công chúa cũng phải run sợ, thương nhân và bách tính Y Ngô vây quanh cổng thành đứng xem cũng lặng người.

Cái gọi là “quỳ xuống làm giá đỡ”, vốn được xem là một dạng lễ nghi vô cùng cao quý, người hành lễ này phải quỳ trên mặt đất, giơ cao sống lưng cho người ta đạp lên. Ở các vương quốc theo thờ Phật giáo Thiên Trúc thì dạng lễ nghi này rất thịnh hành, thậm chí còn có một vài vị quốc vương khi lễ Phật cũng sẽ tự mình quỳ xuống làm giá đỡ để thỉnh các vị cao tăng đại đức giẫm lên mình mà bước lên pháp đàn. Nhưng trong các gia đình quý tộc Tây Vực nói chung, thì đây lại là động tác mà chúng nô bộc hầu hạ chủ nhân khi xuống ngựa.

Tất cả mọi người đều hiểu rõ, công chúa Long Sương mượn cớ này để làm nhục hoàng tử Cao Xương. Ngay cả đám thị nữ của công chúa cùng đám Long kỵ sĩ đều cảm thấy yêu cầu không ổn, Khúc Trí Thịnh tốt xấu gì cũng đường đường là hoàng tử của một nước lớn ở Tây Vực, quan hệ giữa Yên Kỳ và Cao Xương vốn đã không hòa thuận, nay công chúa lại đưa ra yêu sách hạ nhục thế này, rất dễ khiến quốc vương Cao Xương nổi giận, việc này có thể dẫn tới chiến tranh giữa hai nước.

Mọi người nhìn thấy Khúc Trí Thịnh đứng ngây người mới dám len lén thở phào một hơi, ai cũng đợi hắn lên tiếng từ chối. Không ngờ hắn đứng ngây đó một lúc lâu, rồi đột nhiên khoa chân múa tay, nhảy phắt xuống khỏi lưng ngựa, chạy đến trước ngựa của công chúa Long Sương, nghiêm sắc mặt nói: “Công chúa, từ lần đầu gặp nàng tại vương cung Yên Kỳ cách đây ba năm, dung nhan tuyệt thế của nàng liền in sâu vào tâm trí của tiểu nhân. Ba năm qua, tiểu nhân hằng đêm khó ngủ, không ngày nào không trằn trọc thương nhớ. Tiểu nhân không dám cầu được công chúa ưu ái, nhưng cầu có thể ngày ngày được nghe tiếng nói, được trông thấy dung nhan tuyệt mỹ của nàng, thì dẫu sau khi chết có phải xuống mười tám tầng địa ngục Nê Lê, cũng cam tâm tình nguyện!”. Sau đó hắn dứt khoát quỳ gối, hai tay chống lên mặt đất, giơ cao lưng, lớn tiếng nói: “Mời công chúa xuống ngựa!”.

Đám đông nhất thời chết lặng, ngây người nhìn hoàng tử Cao Xương đang quỳ rạp dưới đất.

Huyền Trang cảm thấy không ổn, vội vàng nhảy xuống ngựa, bước tới bên Khúc Trí Thịnh, chắp tay hành lễ: “A Di Đà Phật! Tam hoàng tử, Phật ban giảng giáo pháp, vì chúng sinh mà tiêu trừ bệnh tật. Căn nguyên bệnh trạng của chúng sinh trong tam giới, hết thảy đều xuất phát từ chấp ngã[43] của chúng sinh. Từ bỏ được chấp ngã, mới trừ được ba độc tham sân si. Xin hoàng tử suy nghĩ lại!”.

Khúc Trí Thịnh quay đầu nhìn Huyền Trang chăm chăm, không biết từ khi nào đôi mắt hắn đã ngấn lệ, nghẹn ngào đáp: “Đội ơn đại sư chỉ bảo. Chỉ là… vì cớ gì mà kể từ lần đầu trông thấy nàng ấy vào ba năm trước, cả đời này ta cứ nhớ nhung mãi chẳng thể nào quên? Lẽ nào đó không phải là số mệnh mà Phật Tổ an bài cho ta sao? Thân là hoàng tử Cao Xương, cuộc đời tiêu dao tự tại, xem nhẹ tiền tài vật chất, chẳng ham quyền thế, cũng chằng màng ngó tới ngàn vạn mỹ nữ trong vương cung. Ngôi báu là thứ khiến đại ca và nhị ca tranh giành, đối nghịch với nhau như nước với lửa, nhưng với ta nó chẳng khác nào một đôi giày rách. Ta cứ đinh ninh rằng đời này chẳng có gì có thể trói buộc được mình, Đại Đường các ngài không phải có đại sư Phạn Chí[44] từng viết lời Phật kệ sao: “Thành ngoại thổ man đầu, hãm thảo tại thành lí. Nhất nhân cật nhất cá, mạc hiềm một tư vị[45]. Ta có thể nhìn thấu chuyện sinh tử, cũng có thể lường trước chuyện thế tục, đại sư thử nói xem, vì cớ gì mà chỉ nhìn thấy một lần vào ba năm trước, nhưng nàng lại có thể chiếm trọn linh hồn ta như thế?”.

Huyền Trang cười khổ, Phạn Chí khi chưa xuất gia mang họ Vương, vốn là tăng hữu của ngài, lớn hơn Huyền Trang mười tuổi, lấy Phật lý giáo nghĩa để dung nhập vào trong thơ thiền, tự dưỡng thành một trường phái riêng, có phần tôn sùng Huyền Trang. Không ngờ Phật kệ của Phạn Chí lại truyền đến tận Tây Vực rồi.

Khúc Trí Thịnh dụi mắt, cười nói: “Đại sư, ta tình nguyện làm nô bộc, cũng tốt hơn là làm hoàng tử Cao Xương. Bởi vì, ta không ngăn được trái tim mình”. Sau đó cung kính nói: “Mời công chúa xuống ngựa!”.

Huyền Trang thở dài, tránh sang một bên. Công chúa Long Sương nghe hết lời của Khúc Trí Thịnh vẫn chẳng chút động lòng, thản nhiên nhấc chân, chân xỏ ủng da hươu lạnh lùng giẫm lên lưng hắn, chuẩn bị xuống ngựa.

Đúng lúc này, đột nhiên trong thành vang lên tiếng quát lớn: “Không được…”.

Kèm theo đó là tiếng vó ngựa rầm rập, mấy chục kỵ binh cưỡi chiến mã chạy tới, tiếng vó ngựa nện ầm ầm như sấm rung chớp giật. Đến cổng thành, kỵ sĩ dẫn đầu vừa vung tay, ba mươi kỵ binh cưỡi chiến mã phía sau đồng thời ghìm dây cương, nhất loạt đứng lại trong tiếng hò hét. Động tác của mọi người đồng đều ngay ngắn, khí thế mạnh mẽ, vừa nhìn liền có thể nhận ra là các chiến sĩ tinh nhuệ đã quen chinh chiến nơi sa trường.

Dẫn đầu là một nam nhân tráng kiện hùng dũng, cằm để râu, tay chân vạm vỡ, sức lực dồi dào. Hắn mặc áo giáp da, thắt lưng dắt trường đao. Vừa nhìn thấy Khúc Trí Thịnh quỳ dưới đất, công chúa Long Sương đang muốn giẫm chân lên lưng hắn thì nổi trận lôi đình, nhảy xuống ngựa, sải bước đi tới, túm cổ Khúc Trí Thịnh kéo lên.

“Tam đệ, đệ đang làm cái gì vậy?” Nam nhân đó trừng mắt hét lớn: “Đừng có làm nhục phụ vương và tôn nghiêm của Cao Xương!”.

Khúc Trí Thịnh vừa nhìn thấy hắn thì thoáng chột dạ, thấp giọng gọi: “Nhị ca….”

Huyền Trang lúc này mới bừng tỉnh ngộ, thì ra người này là nhị hoàng tử của Cao Xương, Khúc Đức Dũng.

Khúc Đức Dũng giận dữ nhìn công chúa Long Sương, thấy trên mặt Khúc Trí Thịnh có vết thương, toàn thân lại đầy bụi bẩn, vừa giận vừa thương: “Tam đệ à, sao đệ lại mắc chứng cuồng mê này? Tâm tư của đệ sao ta không nhìn thấu, nhưng… ả đàn bà này mà đệ cũng cưới được sao? Không bàn chuyện hai nước bất hòa, ngay đến việc kết giao hảo cũng đã nảy sinh mâu thuẫn, lão Long kia muốn dùng ả đổi lấy trăm năm yên bình cho Yên Kỳ, liệu có thể gả ả ta cho đệ không?”.

Khúc Trí Thịnh đẩy Khúc Đức Dũng ra, bình thản đáp: “Nhị ca, huynh nghĩ sai rồi, đời này cho dù ta không có khả năng cưới được nàng, vậy thì ở bên nàng, làm chân dắt ngựa, làm giá đỡ, làm một kẻ nô bộc cũng đã là tốt lắm rồi”.

“Nhưng đệ là hoàng tử của Cao Xương!” Khúc Đức Dũng không nén nổi cơn giận dữ.

“Hoàng tử thì sao chứ?” Khúc Trí Thịnh thở dài, “Nếu làm nô bộc mà được ở bên nàng, còn hoàng tử thì không, vậy thì địa vị hoàng tử cũng chẳng bằng làm nô bộc!”.

Khúc Đức Dũng nhất thời uất nghẹn, lại không biết nên nói gì. Khúc Trí Thịnh một lần nữa quỳ xuống, lớn tiếng nói: “Mời công chúa xuống ngựa!”.

“Đừng có ức hiếp người quá đáng!” Khúc Đức Dũng nhìn thẳng vào công chúa Long Sương, điềm nhiên nói “Nếu chân của ngươi dám giẫm lên lưng của tam đệ ta, lão tử sẽ cho đội quân hùng mạnh nhất đến đập nát vương thành Yên Kỳ của ngươi!”.

Công chúa Long Sương cười nhạt, rồi đột nhiên nhấc chân đá vào lưng Khúc Trí Thịnh một cái, làm hắn ngã lăn ra đất, con ngươi màu lam bừng bừng lửa giận: “Khúc Đức Dũng, rốt cuộc là ngươi ức hiếp người quá đáng hay ta ức hiếp người quá đáng? Ta hỏi ngươi, những thương lữ Yên Kỳ ở sa mạc Mạc Hạ Diên, rốt cuộc là do ai giết chết?”.

Nghe những lời này, mặt Huyền Trang liền biến sắc, nhẹ nhàng cầm lấy tay A Thuật, lại phát hiện cả người cậu bé không ngừng run rẩy, tràn đầy sợ hãi nhìn chằm chằm vào dáng vẻ mạnh mẽ to lớn của Khúc Đức Dũng.

Khúc Đức Dũng ngẩn ra một lúc, thấy Khúc Trí Thịnh muốn nói chuyện, lập tức ấn vai hắn xuống, cười lạnh: “Ta cũng nghe nói có một đội thương lữ bị giết trong sa mạc Mạc Hạ Diên, lại không biết những người đó là người Yên Kỳ. Công chúa hỏi câu này thật kỳ quặc”.

“Kỳ quặc?” Công chúa Long Sương nhìn chằm chằm vào hắn “Đoàn thương lữ đó có tổng cộng sáu mươi ba người, trừ hơn hai mươi người Túc Đặc, còn lại đều là người Yên Kỳ, có hai mươi bộ cung nỏ, mỗi người đều có loan đao, oai võ thiện chiến. Những thành lân cận quanh Y Ngô này, còn có thế lực nào có thể giết tất cả bọn họ?”.

Khúc Đức Dũng bật cười lớn: “Ngươi hỏi ta, ta biết hỏi ai đây? Bọn thổ phỉ? Người Đại Đường? Người Đột Quyết? Người Sa Đà? Hay là người Cát La Lộc[46] (Karluk)? Ai ai cũng có thể, tại sao lại đổ hết tội lỗi lên đầu bọn ta chứ?”.

Sắc mặt công chúa Long Sương trầm lại: “Được, ta hỏi ngươi. Lấy thân phận của ngươi, tại sao lại phải âm thầm lặng lẽ đi sứ Y Ngô?”.

Khúc Đức Dũng bình thản nói: “Đã là đi sứ nước khác, ắt phải gánh theo sứ mệnh riêng, sao có thể nói với ngươi được? Nhưng công chúa nhà ngươi cũng thực kỳ quái, bỗng dưng xuất hiện ở Y Ngô, chớ bảo với ta là ngươi cũng đi sứ nhé. Hơn nữa…” Hắn quan sát công chúa Long Sương từ trên xuống dưới, “Một đội thương lữ, rõ ràng có hai mươi bộ cung nỏ, lại còn được trang bị vũ lực mạnh như vậy, không phải là chuyện nực cười sao? Ai cũng biết, một khi đã tiến vào Qua Châu của Đại Đường, cung nỏ đều bị thu giữ. Từ Yên Kỳ đi tới Y Ngô, việc gì phải trang bị một đội bảo hộ với thực lực kinh người như thế chứ? Thương đoàn mà ngươi nói là dạng gì vậy?”.

“Được lắm!” Công chúa Long Sương gật đầu “Ta cũng vốn không mong ngươi sẽ chính miệng thừa nhận, nhưng món nợ ngày hôm nay, người Yên Kỳ ta nhất định ghi nhớ suốt đời. Đợi ta tra ra chân tướng, hy vọng có thể gặp lại ngươi trên sa trường.”

“Công chúa, không phải như vậy đâu!” Khúc Trí Thịnh đột nhiên kêu lên.

“Câm miệng!” Khúc Đức Dũng cùng công chúa Long Sương đồng thời quát lớn.

Khúc Trí Thịnh cũng không lui, đứng giữa hai người, nghiêng đầu nhìn công chúa Long Sương, cầu xin: “Công chúa, hai nước phân tranh không ngừng, giết người vô số, dân chúng oán thán. Chúng ta đứng trong vạch nối sinh tồn giữa hai nước, vốn đã không dễ dàng, tội gì phải khiến hai quân đội tàn sát lẫn nhau thêm? Nếu công chúa không chê, ta nguyện thuyết phục phụ vương, cùng Yên Kỳ kết tình giao hảo, hai nước chúng ta cùng chung tay cai quản Con đường Tơ lụa, chẳng phải là tốt hơn sao?”

Công chúa Long Sương lộ ra vẻ trào phúng: “Sau đó ngươi có thể cầu thân với Yên Kỳ ta, khiến ta phải theo cách hòa thân mà gả đến Cao Xương đúng không?”

Khúc Trí Thịnh đỏ mặt, những lời nói này như nhát dao đâm thẳng vào khát vọng sâu kín nhất trong lòng, hắn liền nghiêng đầu nhìn công chúa, chờ nàng trả lời.

“Được! Được lắm!” Công chúa Long Sương nở nụ cười: “Nhưng ta nói cho ngươi biết, Khúc Trí Thịnh, ngươi sớm đã không có phúc đó rồi. Long Sương Nguyệt Chi ta đời này kiếp này, dù có phải gả cho kẻ ăn xin đầu đường xó chợ, toàn thân chảy mủ, cũng tuyệt đối không gả cho Khúc Trí Thịnh ngươi!”

Những lời này vừa thốt ra còn hàm chứa ý cười nhàn nhạt, cũng mang đậm ý chí, lộ rõ vẻ khinh thường và oán hận tột cùng. Công chúa Long Sương không thèm liếc hắn một cái, giơ roi giật cương, con ngựa Yên Kỳ cao lớn hí dài một tiếng, lao vụt ra ngoài thành. Đám thị nữ cùng Long kỵ sĩ vội vàng đi theo, cuốn lên một đám bụi phủ kín cả người Khúc Trí Thịnh.

Khúc Trí Thịnh ngơ ngác ngóng nhìn bóng lưng yểu điệu khuất dần trong đám bụi, khóe miệng nhếch lên, bật ra tràng cười thê lương, rồi đột nhiên phun ra một ngụm máu tươi, quỳ rạp xuống đất. Huyền Trang kinh ngạc, vội ôm lấy hắn, hắn mới không nằm ngã lăn ra đất.

Khúc Trí Thịnh đẩy Huyền Trang ra, lảo đảo đứng lên, gương mặt thanh tú thoáng hiện một nụ cười ái ngại, đau lòng mà thề rằng: “Long Sương Nguyệt Chi… ta, Khúc Trí Thịnh, xin thề trước ngàn vị Phật hiện thế ở Hiền Kiếp[47]: Đời này nếu không thể cưới nàng làm vợ, ta sẽ sinh bệnh lở loét, hôi thối như quỷ; chết không có đất chôn, phơi thây ra đường, làm thức ăn cho chó; hồn nhập vào mười tám tầng địa ngục Nê Lê, chịu vạn kiếp nỗi khổ, vĩnh viễn không siêu sinh; tất cả con cháu về sau, ngàn đời vạn kiếp, nam thành hoạn nô, nữ làm kỹ nữ… Các vị Thần Phật trên trời dưới đất đi qua, xin hãy chứng kiến lời thề của ta!”

Lời thề độc này khiến mọi người thất kinh, ngay cả Khúc Đức Dũng cũng ngây người.

Lúc này tại cổng thành, thương nhân đi đường tụ tập ngày càng nhiều, nhưng hoàng tử cùng công chúa của hai nước lớn ở Tây Vực nảy sinh xung đột, chỉ sợ đến quốc vương Y Ngô cũng chẳng dám can thiệp, nên mọi người chỉ đành bấm bụng nán lại chờ, không nghĩ đến việc bản thân lại trở thành nhân chứng cho lời thề độc địa, quyết liệt nhất từ trước tới giờ như thế này!

Lòng Huyền Trang chấn động, ngài biết lúc này Khúc Trí Thịnh đã không giữ được tinh thần, bị tà ma xâm lấn, vội vàng vươn cánh tay phủ lên trán của hắn, thì thầm: “Phàm những thứ mà ta tưởng thấy, kỳ thực vốn là không. Như người vớt trăng nơi đáy nước, kẻ muốn buộc gió ở ngọn cây. Vớt lên, trăng nào thấy, gió nắm làm sao được. Chúng sinh luân hồi tùy nghiệp quả, đời chỉ như giấc mộng mà thôi! Ôi…!”.

Theo lời tụng của ngài, Khúc Trí Thịnh trợn ngược mắt, ngã vật xuống đất. Huyền Trang lúc này mới thở phào một hơi, nói với Khúc Đức Dũng: “Nhị hoàng tử, tinh thần của ngài ấy bị tổn thương nghiêm trọng, xin hãy để ngài ấy được nghỉ ngơi, tỉnh dậy sẽ thấy đỡ hơn!”.

Khúc Đức Dũng vô cùng cảm kích, đưa tay ra đỡ tam đệ của mình, rồi sai người tìm một cỗ xe cao đưa Khúc Trí Thịnh vào thành Y Ngô, sau đó hỏi thăm Huyền Trang: “Xin hỏi đại sư xưng hô như thế nào? Làm sao lại quen biết với tam đệ của ta vậy?”

“A Di Đà Phật, bần tăng tên gọi Huyền Trang, tới từ Trường An, khi đi ngang qua sa mạc Mạc Hạ Diên thì ngẫu nhiên gặp được tam hoàng tử”, Huyền Trang nói.

Khúc Đức Dũng lắp bắp kinh hãi, vội vàng thăm hỏi: “Thì ra ngài chính là đại sư Huyền Trang! Khoảng một tháng trước, danh tiếng của ngài đã truyền khắp Tây Vực, khi ta và tam đệ đi sứ Y Ngô, phụ vương còn lệnh cho chúng ta nghe ngóng hành tung của ngài. Đại sư, xin ngài theo ta tới Cao Xương đi!”

Huyền Trang khéo léo từ chối, mặc dù mục đích của ngài là đến Thiên Trúc, nhưng ngài không cần ngựa phi không ngừng nghỉ, một mạch chạy đến Thiên Trúc. Mục đích Tây du là để tìm hiểu Phật pháp của các vương quốc ở dọc đường, từ đó bổ sung những thiếu sót của mình, để tìm hiểu và nghiên cứu thêm về nguồn gốc cũng như sự phát triển của Phật pháp..

Khúc Đức Dũng cũng không nài ép ngài, chuyện của đệ đệ đã đủ khiến hắn đau đầu nhức óc rồi, đành phải tạm biệt Huyền Trang. Trước khi đi hắn nói với Huyền Trang: “Trong thành Y Ngô có chùa Đại Giác, trong chùa có tăng nhân người Hán, đại sư nghỉ lại ở đó hẳn sẽ thuận tiện hơn. Tại hạ có chút việc gấp phải đi trước xử lý, xong việc lại đến bái kiến đại sư.”

Huyền Trang liên tục nói không dám, hai người liền chào từ biệt, lúc này xem ra cổng thành đã thông thoáng rồi. Huyền Trang và A Thuật dắt ngựa tiến vào thành. Ở Tây Vực, muốn vào thành cần giao nộp thuế, số lượng tiền thuế phải nộp không giống nhau, thương lữ phải giao nộp nhiều hơn một chút, nhưng tăng lữ thì được miễn thuế.

Đường phố trong thành Y Ngô chật chội, hai bên đều là những căn nhà xây bằng gạch mộc[48], gạch mộc phải dày đến vài thước, vô cùng chắc chắn kiên cố. Không giống như Trung Nguyên, khí hậu Tây Vực khô hạn, không cần lo lắng vấn đề thoát nước mùa mưa, bởi vậy mái nhà đều là mái bằng. Phòng ốc sát đường đều bị sung công làm cửa hiệu, mái nhà bền chắc còn có thể xây lên thêm một, hai tầng làm chỗ ở cho gia đình.

Đường xá đi lại khá phức tạp, lúc này đã vào tháng Mười một, nhưng ánh mặt trời vẫn nóng rực, cửa tiệm hai bên đường đều dựng lều ở bên ngoài, kệ sạp chiếm giữ hơn nửa con phố. Trên quầy hàng bày đầy các loại hàng hóa của phương đông lẫn phương tây, như tơ lụa, giấy, gang, cá biển khô, ngọc trai, quạt của Trung Nguyên; lông cừu, da thuộc, bảo thạch, chế phẩm từ vàng bạc, loan đao của phương tây, cần gì có đó. Ngôn ngữ lại càng đa dạng hơn. Mặc dù Huyền Trang từng học qua tiếng Phạn, nhưng đến đây thì vẫn còn xa mới đủ dùng, nhờ sự giảng giải của A Thuật ngài mới phân biệt được rõ ràng tiếng Ba Tư, tiếng Hồi Hột, tiếng Thổ Hỏa La, tiếng Đột Quyết và các loại phương ngữ Tây Á phát triển ra từ tiếng Phạn. A Thuật nói cho ngài biết người Túc Đặc làm nghề buôn bán, từ khi còn nhỏ đã phải học tập nhiều loại ngôn ngữ, phải nắm vững tiếng Ba Tư, tiếng Hán, tiếng Phạn, bởi vì ngôn ngữ các quốc gia trên Con đường Tơ lụa phần lớn dựa theo những biến thể của các ngôn ngữ này mà ra. Huyền Trang không khỏi cảm khái, nếu nói rằng Con đường Tơ lụa là đường huyết mạch từ Ba Tư di chuyển tới Đại Đường, như vậy người Túc Đặc chính là máu chảy trong đường huyết mạch này.

Trong các nước Tây Vực, chùa Phật rất dễ tìm, chỉ cần tìm được nơi họp chợ, bên cạnh nhất định là chùa Phật.

Quan hệ của Phật giáo và thương nhân có từ xa xưa, từ thời Thích Ca Mâu Ni, tăng lữ truyền giáo đi theo lộ tuyến của thương lữ tới, tăng lữ dựa vào sự bố thí và bảo vệ của thương lữ suốt dọc đường đi, thương lữ thì dựa vào đặc quyền miễn thuế của tăng lữ mà kiếm nhiều tiền hơn một chút. Sau khi Phật môn hưng thịnh, Phật giáo vẫn thường dành cho thương lữ sự bảo hộ lớn nhất, cung cấp cho họ nơi dừng chân và lương thực. Bởi vậy mà chợ thường hay vây quanh chùa Phật.

Huyền Trang và A Thuật che mũi chạy từ trong một khu chợ bán la ngựa ra liền nhìn thấy chùa Đại Giác ở ngay trước mặt.

Chùa Phật tại Tây Vực không giống như ở Trung Nguyên, mà nổi bật với nét văn hóa dị vực, không có gạch xanh ngói biếc vây quanh hiên nhà nóc đình của Trung Nguyên, mà thường dựa theo địa thế đặc thù của khu vực đó mà xây nên. Chùa Đại Giác này rộng khoảng hai, ba mươi mẫu, chia thành hai khoảng. Phía trước là kiến trúc gạch mộc vách đất vừa dày vừa nặng, cửa sổ hẹp, từ cửa chính hình vòm đi vào, chính giữa là một sảnh chính rất dài, hai bên đều là các loại tăng phòng. Hậu viện thì có một tòa Phật tháp to lớn hùng vĩ, kết cấu gạch mộc cao hơn mười trượng, mang đậm nét văn hóa Thiên Trúc.

Huyền Trang và A Thuật đến chùa Đại Giác, vừa tới cửa liền thấy ba lão tăng tay nhấc vạt tăng bào từ trong chùa chạy ra, đến cả giày cũng chưa kịp mang. Ba lão tăng này tướng mạo tựa như người Trung Nguyên, vừa nhìn thấy Huyền Trang thì bật khóc nức nở: “Không ngờ đời này kiếp này còn có thể gặp được người đến từ cố hương!”.

Một câu nói này khiến Huyền Trang cũng phải rơi lệ.

Một lão tăng khóc lóc hồi lâu, xấu hổ nói: “Đại sư chớ cười, Tây Vực đã thoát ly khỏi Trung Nguyên quá lâu, dù Đại Tùy từng khống chế Tây Vực một thời gian ngắn ngủi, nhưng cũng cấm bách tính xuất quan, trên Con đường Tơ lụa vạn dặm chỉ thấy thương lữ người Hồ qua lại, sao có thể nhìn thấy bóng dáng người Hán đây?”

Mọi người cùng trò chuyện trong chốc lát, rồi họ mời Huyền Trang rửa mặt, dùng đồ chay.

Một đường đi qua sa mạc Mạc Hạ Diên, dù nguy hiểm nhưng vẫn còn sống sót, thể lực sớm đã hao hết, lúc này Huyền Trang mới cảm thấy mệt mỏi. A Thuật xem ra cũng mệt muốn chết rồi, hai người nghỉ ngơi đến đêm mới tạm hồi phục thể lực. Lão tăng sắp xếp người đưa cơm chay tới, là một chút trái cây và thức ăn làm từ bột mì, còn có một bình nước ép nho.

Huyền Trang nhìn A Thuật ăn như hổ đói, thấp giọng hỏi: “A Thuật, cuộc chặn giết xảy ra trong sa mạc kia rốt cuộc là như thế nào? Những lời tố cáo của công chúa Long Sương là thật sao? Thúc thúc của con quả thực đã bị người Cao Xương giết chết?”

A Thuật bất ngờ bị ngài hỏi tới, liền bị nghẹn, ho khan một lúc lâu, uống ực một hớp nước nho mới bình thường lại đôi chút. Cậu lặng nhìn chằm chằm vào ngọn đèn trên bàn, trên gương mặt lộ ra vẻ sợ hãi: “Sư phụ, đám thổ phỉ kia chính là người Cao Xương! Đêm đó con đã nhìn thấy mặt của Khúc Đức Dũng!”

Thì ra đêm hôm đó đoàn thương lữ trú đóng ở cồn cát bên cạnh hồ nước, A Thuật lén chạy tới hồ nước để bơi, mấy canh giờ sau mới trở về doanh trại ngủ, vừa bò lên trên cồn cát liền nhìn thấy ở nơi xa trong đống cát lờ mờ xuất hiện vô số bóng người. Trong miệng bọn họ ngậm loan đao, trên tay kéo cung tiễn, dáng vẻ như ma như quỷ, lặng lẽ tiến tới gần doanh trại.

Mấy người gác đêm bị bắn chết, một người trong số đó khi gần chết thổi kèn lệnh sừng trâu trong tay lên, đám thương lữ đều choàng tỉnh, hăng hái phản kháng. Nhưng đúng lúc này, đại đội kỵ binh chạy băng băng tới, mũi tên bắn ra như mưa, bọn họ thúc ngựa chạy vòng quanh doanh trại, tùy ý bắn giết, vô số người bị mũi tên nhọn bắn xuyên qua thân, kêu la thảm thiết rồi dần gục ngã.

A Thuật vội vàng vùi mình trong đống cát, chỉ ló đầu ra quan sát, đây là kinh nghiệm từ trong máu và lửa mà thúc thúc của cậu khi đi qua Con đường Tơ lụa đã tích lũy ra để bảo vệ cháu mình cho thật tốt, nhưng bản thân thúc thúc của cậu lại bị kỵ binh bổ một đao. Đoàn thương lữ dù có mang cung nỏ, nhưng trước sự tập kích bất ngờ của đội kỵ binh thì về căn bản vẫn không cách nào chống cự được, dù là người Túc Đặc hay người Yên Kỳ đều nhanh chóng bị giết hết.

Lúc này, Khúc Đức Dũng mới đi vào doanh trại, thân hình hắn cao lớn mạnh mẽ như một vị thần khiến A Thuật ấn tượng đến mức khắc cốt ghi tâm. Khúc Trí Thịnh đi theo sau hắn, dường như bị dọa sợ tới mức chân tay nhũn cả ra, bị Khúc Đức Dũng mắng liên tục: “Tam đệ, phụ vương lệnh cho đệ theo ta tới đây vốn là muốn cho đệ mở mang kiến thức về chiến trường máu và lửa. Đệ lại kinh hoàng khiếp sợ như vậy, trở về sao ăn nói với phụ vương được đây? Qua bên kia, xem xem còn ai chưa chết không, chém cho hắn thêm một nhát.”

Dưới ánh lửa, khuôn mặt Khúc Trí Thịnh đỏ bừng, xách kiếm lật tìm người còn sống sót.

Khúc Đức Dũng cũng lần lượt tìm kiếm, hắn hạ nghiêm lệnh, chém tận giết tuyệt, không thể để lại một người sống sót. Nhưng đúng lúc này, một người Yên Kỳ bỗng nhiên bật dậy từ trong đống thi thể, nâng đao nhắm thẳng tới Khúc Đức Dũng mà chém. Khúc Đức Dũng lách mình tránh thoát, loan đao trong tay thuận thế chém tới, một cánh tay của người nọ bị chém rơi, trong tiếng kêu gào thảm thiết, bị hắn đạp ngã xuống mặt đất.

A Thuận nhận ra hắn, là thủ lĩnh người Yên Kỳ. Không ngờ Khúc Đức Dũng cũng nhận ra hắn, giẫm lên ngực của người kia cười ha ha: “Hóa ra là đại nhân Long Chiêm Bà. Hừ hừ, đường đường là Lễ bộ trưởng Sử của Yên Kỳ mà lại đi làm một thương nhân”.

“Khúc Đức Dũng”, Long Chiêm Bà kia khàn giọng nói, “Ngươi tập kích giết hại sứ giả Yên Kỳ, chẳng lẽ muốn khơi dậy chiến tranh hai nước sao?”.

“Sứ giả Yên Kỳ?” Khúc Đức Dũng cười lạnh, “Ở đâu? Lão tử chỉ thấy một đám người Túc Đặc và người Yên Kỳ họp lại thành một đoàn thương lữ mà thôi!” Hắn ngồi xổm xuống, dùng sống đao vỗ lên mặt Long Chiêm Bà, “Nói như vậy, Long đại nhân ngươi hóa ra là sứ giả sao? Nói một chút coi, đi sứ ở đâu? Có sứ mệnh gì?”.

Long Chiêm Bà hừ một tiếng, cố nén cơn đau kịch liệt, không nói lời nào. Khúc Đức Dũng lục lọi trong ngực áo hắn một lát, móc ra một quyển sách lụa, Long Chiêm Bà quát ầm lên: “Trả cho ta…”.

Khúc Đức Dũng cười lạnh một tiếng, nặng nề giẫm lên mặt hắn, mở cuốn sách lụa ra, chống trên mũi đao, sai người cầm đuốc soi cho mình quan sát. Hắn xem một lúc lâu, rồi hít sâu một hơi, nghiến răng nghiến lợi: “Quả nhiên là như thế! Người Yên Kỳ lại âm thầm xin Đại Đường giúp đỡ, mở lại Con đường Tơ lụa cũ! Tâm địa thật ác độc, đây là muốn ép Cao Xương ta vào chỗ chết mà! Hừ, khó trách ngươi đường đường Lễ bộ trưởng Sử lại lén lút giả bộ làm thương lữ đi sứ Đại Đường! Ngươi còn lời gì để nói không?”.

Long Chiêm Bà cười gượng một tiếng: “Muốn chém giết, muốn róc thịt thì ngươi cứ ra tay, nhưng Long tộc Yên Kỳ ta tuyệt đối không từ bỏ ý định, nhất định phải đoạt được Con đường Tơ lụa, mở lại con đường cũ này!”.

“Nằm mơ!” Khúc Đức Dũng một đao giết chết Long Chiêm Bà, đoạt thư và cống phẩm của sứ giả Yên Kỳ, nhân lúc trời tối dẫn đầu đội kỵ sĩ bỏ đi.

°°°

A Thuật vùi người trong cát, nhìn kẻ giết người rời đi. Suy cho cùng thì cậu cũng chỉ là một đứa trẻ chín tuổi, đã sớm bị dọa đến sợ ngây người, mãi không dám thò đầu ra.

Nghe tới đây, Huyền Trang cảm thấy khá khó hiểu: “Con đường Tơ lụa cũ là sao?”.

“Cái đó con lại hiểu rất rõ”, A Thuật bèn giải thích, “Con đường Tơ lụa cũng không phải luôn luôn bất di bất dịch, nhiều khi do địa lý thay đổi, hoặc chiến tranh nổ ra, đoàn thương lữ có thể thay đổi lộ tuyến. Vốn dĩ những đoàn thương lữ sẽ đi một lộ tuyến sát rìa phía bắc của đại sa mạc Tháp Khắc Lạp Mã Can[49] (Taklamakan), đi qua Cô Mặc[50], Quy Từ[51], và bờ nam hồ Bác Tư Đằng[52] (Bosten) của Yên Kỳ, Lâu Lan[53], lại qua hồ La Bố[54] đến Ngọc Môn quan[55]. Sau này khi nhà Hán ở Trung Nguyên khống chế Y Ngô đã thay đổi đường đi, sau khi qua Cô Mặc, Quy Từ, từ bờ bắc hồ Bác Tư Đằng tiến vào Cao Xương, rồi lại đến Y Ngô, đi qua sa mạc Mạc Hạ Diên đến Qua Châu. Con đường này chính là đường mà sư phụ vừa đi qua, được gọi là đường mới”.

“Ồ!” Huyền Trang gật đầu, “Vậy thì đường mới và đường cũ đối với Yên Kỳ và Cao Xương sao lại quan trọng đến như vậy, thậm chí còn nguy hiểm tới mức vong quốc?”.

A Thuật nhếch môi: “Sư phụ, đối với các nước lớn nằm tại hai đầu đông tây của Con đường Tơ lụa như vương triều nhà Hán ở Trung Nguyên cùng với Ba Tư và Bái Chiêm Đình mà nói, chỉ cần không đóng cửa, thì đi con đường nào cũng được cả. Nhưng đối với những nước nhỏ trên Con đường Tơ lụa mà nói, nếu đổi đường thì quốc gia của bọn họ lập tức sẽ biến mất trong tro bụi lịch sử. Bởi vì bọn họ bám víu vào những thương lữ trên Con đường Tơ lụa để sinh tồn, có thương lữ thì có của cải, có người ở, nếu không quốc gia của bọn họ cũng sẽ bị lãng quên, dân chúng không thể sinh tồn được, quốc gia cũng không thể duy trì”.

Huyền Trang sợ hãi cảm thán không thôi, những khó khăn trong việc sinh tồn của những tiểu quốc này quả là điều mà người Trung Nguyên chưa từng để tâm đến.

“Đối với Yên Kỳ mà nói, mặc dù hai con đường đều đi qua quốc gia của bọn họ, nhưng bản chất không giống nhau. Bởi vì nếu đi đường cũ, qua bờ phía nam của hồ Bác Tư Đằng cũng đồng nghĩa với việc đi sát cạnh vương thành Yên Kỳ, lãnh thổ của họ. Họ có toàn quyền khống chế. Nhưng nếu đi đường mới, thứ nhất khoảng cách với vương thành khá xa, quan trọng hơn chính là khu vực đó thực tế thuộc phạm vi khống chế của Cao Xương. Hơn trăm năm qua, của cải trên Con đường Tơ lụa liên tục cuồn cuộn chảy vào Cao Xương, biến Cao Xương trở thành quốc gia giàu có thu được nhiều lợi ích nhất trên Con đường Tơ lụa, còn người Yên Kỳ lại dần bị lạnh nhạt. Bởi vậy, đoạt được quyền khống chế Con đường Tơ lụa đối với Yên Kỳ mà nói là vô cùng quan trọng.”

Đến giờ Huyền Trang mới hiểu rõ, thở dài nói: “Như vậy một khi Con đường Tơ lụa đổi thành đường cũ thì Cao Xương sẽ bị cách xa nó, tan biến trong bão cát đại mạc”.

A Thuật gật đầu, Huyền Trang cuối cùng cũng hiểu được vì sao người Cao Xương phải bí mật chặn giết sứ giả Yên Kỳ rồi. Yên Kỳ phái sứ giả triều cống Đại Đường, thỉnh cầu thay đổi lộ tuyến của Con đường Tơ lụa. Một khi Đại Đường chấp thuận, đây chính là tai họa diệt quốc với người Cao Xương. Nhưng Huyền Trang lại thấy kỳ quái: “Con đường Tơ lụa mới tồn tại cũng được hơn trăm năm, người Yên Kỳ thỉnh cầu thay đổi lộ tuyến, triều đình Đại Đường chắc gì đã chấp thuận chứ? Sao người Cao Xương phải vội đoán chắc rằng Đại Đường sẽ chấp thuận thỉnh cầu của Yên Kỳ mà sinh lo sợ, không tiếc chặn giết sứ giả”.

A Thuật thở dài: “Sư phụ quả nhiên mắt sáng như đuốc, liếc mắt liền có thể thấy được điểm mấu chốt. Đúng vậy, bình thường Đại Đường có thuận ý Yên Kỳ hay không thì chẳng ai chắc được, nhưng lúc này nếu người Yên Kỳ khẩn cầu thì triều đình Đại Đường đến tám, chín phần là chấp thuận!”.

“Vì sao?” Huyền Trang giật mình nói.

“Sư phụ thử nghĩ xem” A Thuật nháy mắt, cười hì hì nói.

Huyền Trang cười khổ không thôi, đứa trẻ trước mắt này nói là chín tuổi, nhưng nếu chỉ nghe lời nói, có bảo cậu ba mươi, bốn mươi tuổi cũng sẽ có người tin. Đứa trẻ này quá trải đời, tư duy nhanh nhẹn, học rộng nghe nhiều, nhất là cách nói chuyện và nhìn nhận vấn đề không khác gì người trưởng thành. Xem ra người Túc Đặc có thể khống chế Con đường Tơ lụa mấy trăm năm đương nhiên có đạo lý của họ. Đọc vạn quyển sách không bằng đi vạn dặm đường, một đứa trẻ được bồi dưỡng từ nhỏ, dù là cải cách chính trị hay cơ hội làm ăn buôn bán cũng đều quan tâm, còn tự suy nghĩ vấn đề, cách thức đối người đãi vật đều có thể khiến tâm trí của cậu nhanh chóng trưởng thành.

Huyền Trang suy nghĩ hồi lâu, chợt nhớ tới một đại sự của Đại Đường, không khỏi sợ hãi: “Chẳng lẽ có liên quan tới việc Đại Đường xuất binh đánh Đông Đột Quyết?”.

Lúc này A Thuật thật sự giật mình: “Sư phụ, người thật sự là thần nhân đây!”.

Huyền Trang xấu hổ vô cùng. Ngài chỉ đoán mà thôi. Qua lời giải thích của A Thuật, ngài mới hiểu được nút thắt trong đó. Mùa thu năm Trinh Quán thứ ba, cũng chính là trước khi ngài rời khỏi Trường An, Lý Thế Dân phái Lý Tĩnh, Lý Tích, Sài Thiệu thống lĩnh mười vạn đại quân tiến lên phương bắc, định đánh một trận tấn công diệt Đông Đột Quyết. Lúc này chắc hẳn hai bên vẫn còn đang chém giết trên thảo nguyên rộng lớn.

Các nước Tây Vực lúc này đều bị khống chế trong tay Tây Đột Quyết, mặc dù Đông - Tây Đột Quyết trước giờ không vừa mắt nhau, nhưng con đường mới đi theo hướng bắc, cách Đông Đột Quyết quá gần, Đông Đột Quyết có thể cắt đứt Con đường Tơ lụa bất cứ lúc nào. Nếu như đổi thành đường cũ, chẳng những Đông Đột Quyết ở ngoài tầm với, đến cả tầm ảnh hưởng với Tây Đột Quyết cũng dần kém đi, đây chính là điều khiến triều đình Đại Đường thấy vui nhất.

“Quan trọng hơn là quốc vương của Cao Xương là thông gia với Khả hãn Thống Diệp Hộ[56] của Tây Đột Quyết!” A Thuật nói, “Trưởng nữ của Khúc Văn Thái gả cho trưởng tử của Khả hãn Thống Diệp Hộ là Đát Độ Thiết, bởi vậy trong trận chiến phân tranh giữa các nước Tây Vực, Tây Đột Quyết thường nghiêng về Cao Xương, làm những nước Tây Vực khác rất bất mãn. Mặc dù quan hệ trước mắt giữa Đại Đường và Tây Đột Quyết tốt đẹp, nhưng nếu có thể khiến Tây Đột Quyết suy yếu thì tội gì không làm?”.

“Thì ra là thế!” Đến giờ Huyền Trang mới bừng hiểu, “Khó trách Cao Xương lại sợ hãi như vậy, là sợ sứ giả Yên Kỳ đến được Trường An”.

A Thuật bỗng trầm hẳn xuống, hẳn cậu đang nghĩ tới thảm kịch mà người trong tộc phải hứng chịu vì bị kéo vào vòng tranh đấu của hai nước. Hai người ngồi đối diện ngọn đèn rất lâu không nói gì, thật lâu sau Huyền Trang mới thở dài: “Xem ra kế hoạch đoàn sứ Yên Kỳ đi sứ Đại Đường lần này do chính công chúa Long Sương đề ra. Giỏi nắm bắt thời cơ và cục diện chính trị như vậy, vị ‘Phượng Hoàng Tây Vực’ này quả nhiên không phải hư danh, Khúc Trí Thịnh đã yêu nàng ấy, thật là oan nghiệt!”.

“Bọn họ đều đáng chết!” A Thuật bực tức nói.

Huyền Trang cười cay đắng, lúc này tăng nhân chùa Đại Giác tới gặp Huyền Trang: “Đại sư, quốc vương Y Ngô và nhị hoàng tử của Cao Xương đến đây bái kiến đại sư, đang đợi trong tăng phòng.”

Huyền Trang khẽ gật đầu, A Thuật lại nói: “Con không đi!”.

Huyền Trang mỉm cười xoa đầu cậu, dặn dò tăng nhân dẫn A Thuật đi dùng cơm, rồi lấy từ trong bọc hành lý ra một bộ tăng bào sạch để thay, cũng thay luôn cả đôi hài đã bị mài nát mũi của mình. Ngài là một người ưa sạch sẽ, sau khi chuẩn bị tươm tất mới ra ngoài gặp quốc vương Y Ngô.

Quốc vương Y Ngô là Thạch Vạn Niên có một nửa huyết thống Túc Đặc, tổ tiên đến từ Thạch Quốc thuộc Túc Đặc, chính là cố hương của Thạch Bàn Đà mà Huyền Trang đã gặp khi ở Qua Châu. Sau đó gia tộc này định cư ở Y Ngô, thông hôn với người Hán địa phương, thành một gia tộc lớn ở đây. Thời Tiền Tùy, thành Y Ngô là quận Y Ngô của triều Tùy, sau đó cuối thời Tùy đại loạn, ngăn cách với Trung Nguyên, Thạch Vạn Niên nhân cơ hội đứng dậy, thống lĩnh bảy thành độc lập, dựng nên nước Y Ngô, nói ra cũng là một nhân vật kiêu hùng của Tây Vực.

Đến tăng phòng, Huyền Trang không khỏi kinh hãi, chẳng những quốc vương Y Ngô và Khúc Đức Dũng cùng đến đây, còn có hơn mười trụ trì của các chùa trong Y Ngô. Mọi người vừa nhìn thấy Huyền Trang liền cùng nhau cúi chào. Quốc vương Y Ngô mời ngài ngày mai tới vương cung của mình mở đàn giảng pháp, Huyền Trang vui vẻ đáp ứng.

Hàn huyên vài câu, Khúc Đức Dũng nói: “Đại sư, đệ tử tới là để chào từ biệt đại sư, thứ nhất là đã hoàn thành sứ mệnh, phải quay về phụng mệnh phụ vương, thứ hai là tình hình của tam đệ không thấy khá hơn, vẫn là nên đưa đệ ấy về nước chẩn trị. Ngày mai đệ tử phải đi, xin đại sư hãy bảo trọng. Qua mấy ngày tới, đại sư nhất định phải tới Cao Xương đấy.”

Mặc dù Khúc Đức Dũng giết người không ghê tay, võ dũng hung ác, nhưng lại hết sức cung kính với Huyền Trang. Hắn không chỉ sùng kính thân phận cao tăng của ngài, mà càng cảm phục vì ngài là hòa thượng mà lại dám đơn độc vượt sa mạc Mạc Hạ Diên. Người Tây Vực hiểu quá rõ sa mạc Mạc Hạ Diên đáng sợ đến thế nào, vị hòa thượng này trong mắt họ chẳng những thần bí, mà còn đáng được kính nể.

Biết sứ mạng thật sự khiến Khúc Đức Dũng đi sứ Y Ngô, trên mặt Huyền Trang vẫn biểu hiện vẻ thản nhiên bình thường, chắp tay nói: “Vậy thì chúc nhị hoàng tử đi đường thuận lợi. Bần tăng nán lại Y Ngô một thời gian, có thể lên tây bắc chọn đường đi thành Khả Hãn Phù Đồ[57], chỉ sợ không thể đến Cao Xương được rồi!”.

“Đại sư tới thành Khả Hãn Phù Đồ làm gì?” Quốc vương Y Ngô ngạc nhiên hỏi.

Huyền Trang cười: “Thành Khả Hãn Phù Đồ chính là vương đình của Tây Đột Quyết, các nước Tây Vực đều thuộc quản lý của Tây Đột Quyết, nếu bần tăng không lấy con dấu của Tây Đột Quyết thì sao có thể tự do đi lại trong Tây Vực được?”.

Mọi người khẽ bật cười, Khúc Đức Dũng suy nghĩ một chút, rồi cũng cười nói: “Đây quả thực là một vấn đề, đợi sau khi đệ tử về nước sẽ thương nghị với phụ vương xem sao”.

Đúng lúc này, hai binh sĩ Cao Xương vội vã xông vào: “Khởi bẩm nhị hoàng tử, có thích khách xâm nhập dịch quán ám sát tam hoàng tử!”.

Khúc Đức Dũng và quốc vương Y Ngô giật mình kinh hãi, Khúc Đức Dũng phẫn nộ quát: “Tam đệ có sao không?”.

“Tam hoàng tử bình an vô sự, nhưng hộ vệ có ba người mất mạng, cũng không biết thích khách kia sử dụng yêu pháp gì mà toàn thân họ không bị thương, chỉ ngã gục xuống đất mà chết”, binh sĩ Cao Xương nói.

Quốc vương Y Ngô cũng ngồi không yên, dám ám sát hoàng tử một nước ngay trong vương thành của mình, đám giặc này cũng quá liều lĩnh rồi. Hai người vội vàng cáo từ Huyền Trang. Vừa ra khỏi chùa Đại Giác, quốc vương Y Ngô liền hạ lệnh phong tỏa cổng thành, lùng bắt hung thủ, sau đó đi theo Khúc Đức Dũng tới dịch quán xem xét hiện trường. Ngoại giao không phải chuyện nhỏ, các nước nhỏ tập trung ở Tây Vực lại càng phải như vậy, có đôi khi thậm chí vì tranh giành nước uống mà bùng nổ chiến tranh, huống chi là sự tình nghiêm trọng tới mức này.

Chuyện như vậy đương nhiên Huyền Trang không tham dự, sau khi quốc vương Y Ngô và Khúc Đức Dũng rời đi, ngài lại cùng tất cả các trụ trì nói chuyện thêm một lát rồi mới trở về tăng phòng của mình nghỉ ngơi. Không ngờ sau khi trở lại tăng phòng lại không thấy A Thuật đâu. Huyền Trang không để ý nhiều, ngồi xếp bằng trên giường, qua một lúc lâu vẫn không thấy A Thuật trở về, trong lòng mới chợt cảm thấy lo lắng.

Đứa bé này mặc dù người nhỏ suy nghĩ già dặn, nhưng dù sao cũng mới chỉ tám, chín tuổi, lúc này đã là giờ Tuất, trời tối đen như mực, cậu bé có thể đi đâu đây? Huyền Trang trong lòng bồn chồn không yên, liền ra ngoài đi tìm, hỏi không ít người nhưng đều không nhìn thấy. Huyền Trang đang muốn xin trụ trì tìm kiếm giúp thì lại thấy A Thuật với sắc mặt u ám đi trên hành lang, cả người nhếch nhác, bẩn thỉu.

“A Thuật, muộn như vậy sao không về phòng nghỉ ngơi?” Huyền Trang lúc này mới yên tâm, hỏi.

A Thuật lắc đầu: “Đi tìm một người Túc Đặc mà thúc thúc con quen biết, không ngờ người nọ đi hành thương xa rồi. Trên đường về đúng lúc trông thấy đội kỵ binh của Khúc Đức Dũng chạy qua đường cái, phủ lên người con một đống bụi bặm. Hừ!”.

Huyền Trang cười, hòa nhã nói: “Con vẫn còn là trẻ con, buổi tối không được chạy lung tung.”

A Thuật cúi đầu đi theo Huyền Trang trở về tăng phòng ngủ.

Ngày hôm sau, sau khi quốc vương Y Ngô đưa tiễn hai huynh đệ Khúc Đức Dũng và Khúc Trí Thịnh đi liền phái người đến chùa Đại Giác cho mời Huyền Trang, ngài dẫn theo A Thuật vào vương cung của ông ta để thuyết pháp. Tây Vực sùng Phật, người đương thời xưng là “Tây Vực ba mươi sáu Phật quốc”, đương nhiên Tây Vực không phải chỉ có ba mươi sáu nước, nhưng có thể thấy Phật giáo nơi đây rất hưng thịnh, có một số nước tuy diện tích không lớn, nhưng số lượng chùa chiền còn nhiều hơn so với Trường An.

Quốc vương Y Ngô không những mời tất cả tăng nhân từ các chùa chiền Y Ngô tới, thậm chí còn mở quảng trường trước vương cung để cho người dân đến nghe giảng pháp. Một thời gian trước, kỳ tích danh tăng Đại Đường tới Thiên Trúc cầu pháp, một mình xuyên qua sa mạc Mạc Hạ Diên được truyền ra khắp Y Ngô, các tín đồ đều nhao nhao tràn vào, hơn một vạn dân chúng nước Y Ngô trong nửa ngày đã tụ tập trên quảng trường, số lượng lên tới hơn ba nghìn người. Có thể nói từ cuối thời nhà Tùy tới nay, đây là sự kiện Phật giáo rầm rộ nhất ở Y Ngô.

Huyền Trang bắt đầu bài giảng “Nhiếp Đại Thừa Luận” và “Câu Xá Luận”, tổng cộng giảng trong ba ngày, bầu không khí ngày ngày đều rầm rộ, sôi nổi. Sau đó, các chùa khác của Y Ngô đều tranh nhau mời Huyền Trang tới, vì vậy Huyền Trang liền tiến hành một loạt buổi tọa đàm lưu động, đồng thời cũng nghiên cứu những bản sao kinh Phật trong chùa Phật của Y Ngô, liên tiếp hơn nửa tháng đều ở trong mấy ngôi chùa.

Một ngày kia, Huyền Trang đang thưởng thức bích họa thời kỳ Bắc triều trong một hang động tại chùa Ngọc Phật, bỗng nghe thấy bên ngoài động có tiếng người hô ngựa hí, ồn ào bất thường. Trong động vô cùng tối tăm, Huyền Trang cầm đèn cùng A Thuật đi ra, thấy trụ trì chùa Ngọc Phật dẫn một người mặc Hán phục nhưng đầu đội mũ Hồ vội vã đi tới.

Người Hồ này tuổi chừng bốn mươi, gầy gò lão luyện, ria mép hai bên khóe miệng, vừa nhìn thấy Huyền Trang liền vội khấu đầu bái lạy: “Đệ tử Hoan Tín, sứ giả Cao Xương tham kiến đại sư!”.

Huyền Trang đưa ngọn đèn cho A Thuật, vội vàng nâng hắn dậy: “Đại nhân xin đứng lên, bần tăng nào dám. Không biết quý sứ tới đây có chuyện gì quan trọng?”.

Trụ trì chùa Ngọc Phật nở nụ cười: “Đại sư, đại nhân Hoan Tín đặc biệt vì ngài mà tới đây đó!”.

Huyền Trang kinh ngạc không thôi, Hoan Tín cười nói: “Đại sư, nhị hoàng tử và tam hoàng tử sau khi trở lại Cao Xương có bẩm báo với quốc vương của ta rằng đại sư đi xuyên qua sa mạc Mạc Hạ Diên tới Y Ngô. Quốc vương vô cùng mừng rỡ, lập tức phái đệ tử tới đây cung nghênh đại sư đi tới Cao Xương. Đệ tử vốn nên tới sớm hơn, chẳng qua trên đường hoang vắng, quốc vương lo lắng đại sư nghỉ ngơi không tốt, lệnh cho đệ tử cách mỗi trăm dặm đặt một trạm dịch chuyên để đại sư nghỉ ngơi, bởi vậy mới trễ nải một chút thời gian”.

Huyền Trang lập tức lâm vào cảnh khó xử: “Bần tăng vô cùng cảm kích thịnh tình của quốc vương Cao Xương, nhưng bần tăng trước đã quyết định đi tới thành Khả Hãn Phù Đồ, cầu lấy dấu của Tây Đột Quyết, đường này lại ngược hướng với Cao Xương…”.

“Ha ha, việc này nhị hoàng tử cũng có đề cập qua với quốc vương rồi!” Hoan Tín cười híp mắt nói, “Toàn bộ những sự việc này đại sư không cần quan tâm, tất cả công việc đều do Cao Xương ta giải quyết. Đại sư chắc chắn không biết, Cao Xương ta có quan hệ thông gia với vương triều Tây Đột Quyết, trưởng công chúa của chúng ta gả cho trưởng tử của Khả hãn Thống Diệp Hộ, một chút chuyện nhỏ này đương nhiên có thể giải quyết. Hơn nữa, đại sư cho dù đến thành Khả Hãn Phù Đồ cũng chưa chắc gặp được Khả hãn Thống Diệp Hộ, hiện giờ vương đình của Khả hãn Thống Diệp Hộ đã dời đến thành Toái Diệp[58] ở bờ tây hồ Đại Thanh rồi. Quốc vương của chúng ta nói, sẽ phái người hộ tống đại sư tới Toái Diệp bái kiến Khả hãn Thống Diệp Hộ”.

“À…” Huyền Trang hoàn toàn không biết nên nói gì, vị quốc vương Cao Xương chưa từng gặp mặt bao giờ này đã dẹp bỏ mọi lý do của ngài rồi, “Vậy… bần tăng xin phép đi chào từ biệt quốc vương Y Ngô trước đã!”.

“Không cần!” Hoan Tín luôn cười tủm tỉm, “Quốc vương của ta cũng viết xong quốc thư trình lên cho quốc vương Y Ngô, ngài ấy cũng đã đáp ứng rồi, hiện giờ đang đứng chờ ngoài thành, tiễn đưa đại sư”.

“Điều này…” Huyền Trang không nói thêm được lời nào nữa.

Xem ra quốc vương Cao Xương phái Hoan Tín tới tất có đạo lý. Người này cẩn thận, tỉ mỉ, sắp xếp mọi thứ chu đáo, thỏa đáng, trước thuyết phục Huyền Trang, sau đó đi thu xếp ngựa, người hầu, lương thực, kể cả bọc hành lý của Huyền Trang cũng đều được sắp xếp thỏa đáng, không bỏ sót chi tiết nào. Nhân lúc hắn bận rộn, trụ trì chùa Ngọc Phật mới nói với Huyền Trang: “Đại sư chớ thấy kỳ quái, tại Tây Vực này, mỗi một vị cao tăng đại đức đi qua đều khiến cho các nước tranh đoạt, có đôi khi chỉ vì vậy mà không ngại động binh giao tranh đâu”.

“Hả?” Huyền Trang thật sự kinh ngạc, “Vì sao?”.

“Đại sư có điều không biết” trụ trì giải thích, “phong trào sùng Phật ở Tây Vực hưng thịnh, diện tích, nhân khẩu, tài phú của các nước cũng không cách biệt nhau lắm, vì vậy thứ có thể so đấu chính là tầm ảnh hưởng. Nước nào có thể cung dưỡng ra cao tăng đại đức, chớ nói uy tín quốc vương nước đó có thể tăng vọt, chính dân chúng nước đó cũng sẽ được vinh quang. Nếu như cao tăng đại đức có thể thường xuyên cư trú trong nước, thậm chí còn có dân chúng nước khác không tiếc tách khỏi hộ tịch nơi mình đang sống để di cư qua nước đó. Đến cả thương lữ cũng không tiếc vượt ngàn dặm đặc biệt đến cúng bái Thần Phật. Trên Con đường Tơ lụa cũng từng có không ít cao tăng quyết định đi xa tới Thiên Trúc cầu pháp, nhưng tới giữa đường lại bị một vài nước kiên quyết giữ lại. Cao tăng bình thường còn như thế, huống chi là cao tăng đại đức được Thần Phật, Bồ Tát phù hộ như ngài?”.

Huyền Trang không ngờ còn có loại sự tình này, trái tim ngài bỗng đập nhanh hơn. Nhìn điệu bộ của quốc vương Cao Xương thì chưa chắc đã có tâm tư này. Nhìn Hoan Tín vui vẻ bận rộn, nội tâm của ngài cũng phiền não hơn.

Chú Thích

.[43] Chấp ngã theo đạo Phật giảng giải là cứ bám miết lấy cái tôi của bản thân. Cái gì ta cũng đúng, cái gì ta cũng nhất, cái gì cũng thuộc về ta. Người muốn an nhiên tự tại phải từ bỏ được chấp ngã của bản thân mới có thể thong dong tiến vào Tịnh độ Niết Bàn.

[44] Vương Phạn Chí (có sổ sách ghi chép là Vương Phạm Chí), không rõ năm sinh năm mất, chỉ biết ông là một nhà thơ - Phật tử đời Đường Sơ. Có nguồn cho hay quê ông ở Lê Dương thuộc Vệ Châu (hiện tại là huyện Tuấn tỉnh Hà Nam). Không rõ hành trạng của ông, chỉ biết là đến thời Tống người ta hãy còn đọc thơ Vương và có lẽ đến cuối đời Tống, thơ ấy mới biến mất. Trong Thái Bình Quảng Ký - mục “Dị nhân” - có ghi chép sơ lược về ông và kết luận rằng: “Người đó hay làm thơ và sống có nghĩa khí”.

[45] Tạm giải nghĩa: Trước thành đầy rẫy mộ đắp cao, người nằm trong mộ cũng là bách tính sống trong thành. Mỗi người ấy là một nấm mồ, chết rồi thì cũng chẳng có gì khác biệt nữa.

[46] Người Cát La Lộc là một dân tộc du mục đến từ phía tây dãy núi Altai, sau bộ tộc này di chuyển đến Semirechye.

[47] Hiền (tiếng Phạn: Bhadra), nghĩa là thiện; Kiếp (tiếng Phạn: Kalpa), nghĩa là thời phần. Trong kiếp này có một ngàn bậc Hiền thánh ra đời giáo hóa, nên gọi là Hiền kiếp.

[48] Là loại gạch làm bằng đất nén phơi khô ngoài nắng chứ không nung qua lửa.

[49] Sa mạc Taklamakan cũng gọi là Taklimakan, là một sa mạc tại Trung Á, trong khu vực thuộc khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Taklamakan được biết đến như là một trong các sa mạc lớn nhất trên thế giới. Ở rìa phía bắc và phía nam của sa mạc này là hai nhánh của Con đường Tơ lụa do các thương lữ đã tìm kiếm ra để tránh vùng đất hoang khô cằn.

[50] Cô Mặc (Gumo) là tên cổ thời nhà Hán, đời Đường còn có tên khác là Bạc Lộc Già (Bharuka), tên hiện hành là A Khắc Tô (Aksu) là một địa khu thuộc khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Sau này Cô Mặc bị sát nhập vào thành thuộc địa của Quy Từ.

[51] Khố Xa hay Khuất Chi, Khuất Tì hay Quy Từ/Khâu Từ là một vương quốc Phật giáo nằm trên tuyến nhánh của Con đường Tơ lụa chạy dọc theo rìa phía bắc của sa mạc Taklamakan tại lòng chảo Tarim và phía nam sông Muzat. Khu vực này nay thuộc địa khu Aksu, Tân Cương, Trung Quốc.

[52] Hồ Bosten là một hồ nước ngọt thuộc địa phận địa Châu tự trị dân tộc Mông Cổ Bayingholin. Đây là hồ lớn nhất tại Tân Cương và là một trong những hồ nước ngọt nội địa lớn nhất tại Trung Quốc.

[53] Lâu Lan là một quốc gia cổ, tồn tại từ thế kỷ II TCN ở vùng đông bắc sa mạc La Bố, Tân Cương (nay thuộc Trung Quốc). Lâu Lan nằm trên Con đường Tơ lụa và lãnh thổ phần lớn bao quanh bởi sa mạc.

[54] Hồ Lop Nur (La Bố Bạc) là một khu vực đầm lầy lõm xuống chứa nước mặn ở phần rìa phía đông của lòng chảo Tarim, là nguồn cung cấp nước cho Lâu Lan khi xưa, khi hồ cạn Lâu Lan cũng suy tàn.

[55] Ngọc Môn quan hay đèo Ngọc Môn là tên của một con đèo nằm ở phía tây Đôn Hoàng, thuộc tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. Trong thời cổ đại, đây là nơi con đường tơ lụa đi qua, và là một trong những con đường quan trọng kết nối khu vực Trung Á với Trung Quốc, trước đây được gọi là Tây Vực.

[56] Thống Điệp Hộ (Tong Yabghu) là Khả hãn trị vì Tây Đột Quyết từ năm 618-628 SCN. Triều đại của ông được coi là thời kỳ huy hoàng nhất của Tây Đột Quyết, cũng trong thời đại này gia tộc của ông đã dung hòa được bản sắc tôn giáo của Phật giáo cùng với bản sắc tôn giáo dân gian bản địa.

[57] Thành Khả Hãn Phù Đồ nằm ở biên giới Đột Quyết và Cao Xương, cũng là tòa thành lớn duy nhất của Tây Đột Quyết, là cửa ngõ thủ hộ quan trọng nhất để tiến vào thảo nguyên Tây Đột Quyết.

[58] Toái Diệp nay là Tokmok, Tokmok là thành phố phía Bắc Kyrgyzstan, nằm ở phía đông thủ đô Bishkek.

« Lùi
Tiến »