Yang Cheng tướng người cao dong dỏng, rắn chắc, có nước da trắng mịn đặc trưng của người xứ lạnh. Yang có mái tóc nghệ sĩ bồng bềnh phủ dài đến vai và mắt một mí, làn môi mỏng đỏ luôn mím chặt cùng hàm răng trắng muốt đều đặn, nhưng hiếm khi nào ai thấy được anh ta cười. Gương mặt Yang lúc nào cũng lành lạnh, khô cứng ít biểu cảm trước bất kỳ chuyện gì, nhưng chính điều ấy lại tạo nên sự quyến rũ mạnh đối với phái nữ ở người nghệ sĩ đường phố này. Anh ta rất ít nói đến mức gần như lạnh nhạt.
Thành tích của Yang Cheng là từng đạt giải nhì cuộc thi đàn dây mang tên 1st Mozart International String Competition tại Na Uy và giải nhì cuộc thi âm nhạc quốc tế tại Mỹ. Thế nhưng ở cuộc thi Violon quốc tế Hannover diễn ra tại Đức, anh ta lại ra về tay trắng nhưng lại được giải thưởng do khán giả bầu chọn. Lý do, nghe đâu vì các nữ khán giả quá phấn khích trước gương mặt lạnh lùng điển trai của người đàn ông châu Á này.
Yang Cheng cùng nhóm nhạc violin đường phố đã vào Việt Nam tham gia chương trình “Âm nhạc đường phố tháng 12” tại Nhà văn hóa Thanh Niên thành phố tổ chức. Chương trình thu hút rất đông các bạn trẻ đến thưởng thức âm nhạc phong cách đường phố và mọi người rất thích phong cách biểu diễn của Yang Cheng. Chính vì thế sau đợt biểu diễn, riêng nghệ sĩ violon đường phố Yang Cheng đã được mời ở lại tham gia tổ chức một lớp dạy cho các trẻ em lang thang đường phố yêu âm nhạc.
Không cùng mang phong cách lạnh lùng, khô cứng như thường thấy khi biểu diễn, hôm nay Yang Cheng nhẹ nhõm trong chiếc áo sơ mi trắng, tay xắn cao, quần zin bạc thủng vài lỗ, nhìn khá bụi đời. Nhìn xa dễ tưởng lầm Yang là người Việt, nhưng đôi mắt một mí và nước da trắng bóc của anh ta hao hao giống người Hàn Quốc, Nhật Bản.
Trên đám cỏ xanh, lũ trẻ ngồi lố nhố bên dưới cười nói và giương mắt tò mò nhìn Yang Cheng cùng cô gái phiên dịch có cái tên rất thơ, Phố Hoài. Phố Hoài vốn là sinh viên năm cuối nhạc viện, cô có vẻ lúng túng khi làm công việc phiên dịch với Yang Cheng. Vẻ đàn ông lành lạnh ở Yang Cheng làm cho cô gái thấy sợ, ngài ngại. Không phải Yang Cheng không nhận ra điều đó, nhưng vốn là người ít nói nên anh ta cũng không biết phải giúp cô gái như thế nào. Đám trẻ ngày càng cười đùa ầm ĩ, lớp học có vẻ như muốn rơi vào hỗn loạn làm Phố Hoài càng thấy bất lực, lúng túng, mi mắt cô nằng nặng nước.
Tiếng đàn violon bất ngờ khi vang lên réo rắt như ma mị làm cho đám trẻ đang ồn ào bỗng im bặt chìm trong ngây ngất với những cảm xúc mới mẻ mà lần đầu tiên trong đời chúng được nghe. Đến ngay cô sinh viên nhạc viện cũng chìm đắm vào trong đó.
Tiếng đàn ngưng từ hồi nào nhưng tất cả vẫn im lặng ngây ngất. Yang Cheng nhìn lướt mọi người, khóe miệng khẽ nhếch lên thành nụ cười nhẹ. Phố Hoài bỗng giật mình, thẹn đỏ mặt, nhìn đám trẻ, dịu dàng lên tiếng:
- Các em, violon vốn được xem là vua của các nhạc cụ và không chỉ vì sự hấp dẫn, mượt mà của âm sắc nhạc cụ này rất gần với giọng người trong thanh nhạc mà còn vì độ khó của kỹ thuật chơi đàn. Người chơi violon phải kiên nhẫn hơn so với việc học các nhạc cụ khác, phải có sự nhạy cảm và tinh tế… Nhưng hiệu quả mà cây đàn mang lại thì tuyệt vời, nó diễn tả được rất nhiều cung bậc của âm thanh và sắc thái, tình cảm của bản nhạc…
Cầm cây violon lên, cô gái giảng giải tiếp.
Người chơi đàn violin tạo ra âm thanh nhờ kéo hoặc gảy đàn bằng tay phải và bấm nốt bằng tay trái. Violin được sử dụng trong nhiều thể loại nhạc, bao gồm nhạc cổ điển, nhạc Baroque,jazz, âm nhạc dân gian và cả nhạc rock.
Tuy nhiên đám trẻ có vẻ như không thích nghe Phố Hoài nói mà muốn nghe Yang Cheng nói thì phải và anh chậm rãi cất tiếng với sự phiên dịch của cô gái.
Hồi ấy, trước khi chính thức thi vào trường, Yang Cheng đã được cha dạy chơi đàn bằng cây violon ¾ cỡ trung, cũ kỹ, trong căn nhà bụi bặm đầy mùi dầu mỡ của gia đình. Mỗi lần tập, tiếng đàn Cheng phát ra tiếng kêu như mèo hen nghe chỉ muốn bịt lỗ tai. Yang Cheng khổ sở về điều đó… Mấy người anh mỗi khi nghe Yang tập là bỏ chạy thật xa vì không chịu nổi, thậm chí hàng xóm dọa kiện nhà Yang Cheng ra tòa bởi tiếng đàn nghe “ghê hơn quỷ kêu”. Cả gia đình Yang kinh doanh tiệm ăn Phúc Kiến, chả liên quan gì đến đàn cả, tại sao cha lại bắt học cái thứ quỷ quái này. Đau cổ vẹo đầu, tay mỏi, lưng đau, chân đứng rã rời… nhiều lúc Yang Cheng nản bỏ tập. Nhưng những trận roi đòn của cha làm Yang sợ và cứ như vậy miễn cưỡng phải tập một ngày mấy tiếng theo thời khóa biểu do cha đặt ra, kể cả khi mùa đông rét lạnh tê tái cứng hết những ngón tay. Trong khi lũ bạn hò hét chơi đùa bên ngoài thì Yang vừa tập kéo đàn nước mắt vừa chảy giàn giụa, cha vẫn nghiêm khắc cùng cái roi đứng bên cạnh.
Phố Hoài lại rơm rớm nước mắt khi dịch, cô không ngờ dưới vẻ mặt lạnh lùng kia của Yang chứa chất biết bao nhiêu nỗi niềm tâm sự. Xem ra, để trở thành một nghệ sĩ violon nổi tiếng như bây giờ, rõ ràng Yang đã phải trải qua những tháng ngày cực khổ. Khác hẳn cô, ăn no, nằm nệm êm chăn ấm, gia đình khá giả nên cô lớn lên ăn học vô tư, mọi cái đã có cha mẹ lo đầy đủ rồi.
Phố Hoài len lén nhìn Yang, trái tim đập mạnh.
Và dần niềm đam mê cây violon cũng đến với Yang Chen khi anh ta bước chân vào trường âm nhạc hàng đầu ở Mỹ và thế giới là Juilliard School, New York. Yang đã được đích thân Zubin Mehta – nhạc trưởng của New York Philharmonic và Riccardo Muti – nhạc trưởng của Philadelphia Orchestra dành sự quan tâm đặc biệt và sau đó Yang Cheng nhanh chóng trở thành học trò cưng của họ. Với tài năng và những giải thưởng, đáng lẽ Yang Cheng sẽ có một chỗ đứng xứng đáng, sang trọng trong những dàn nhạc giao hưởng uy tín tại Mỹ hay các nước châu Âu. Tuy nhiên không ai biết vì một lý do nào đó, Yang Cheng đã bỏ tất cả những danh vọng đang rộng mở để chuyển sang làm một nghệ sĩ violon đường phố lang thang nơi này nơi kia khắp thế giới trong sự tiếc rẻ của mọi người. Đấy là do nó mang máu “Tiếu ngạo giang hồ”, sau này có ai cật vấn, cha Yang trả lời nửa đùa nửa thật như vậy.
Câu chuyện của Yang Cheng cứ như trong cổ tích vậy làm cho tất cả đám trẻ cứ trố mắt ra nghe say mê, khi anh ta chấm dứt chuyện về đời mình lũ trẻ cứ ngẩn ngơ, kể cả cô sinh viên Phố Hoài kia cũng vậy.
Lạ.
Nhà văn hóa ngỏ ý muốn thuê một phòng tại khách sạn cho Yang Cheng ở, tất nhiên khi đưa ra đề nghị này, vị lãnh đạo nhà văn hóa ngắc ngứ mãi. Lý do, kinh phí có hạn nên họ không thể thuê nổi một phòng tại khách năm sao được, nhưng với một nghệ sĩ tên tuổi như Yang mà để anh ta tại một căn phòng xoàng thì cũng không biết nói thế nào. Nghe Hoài nói lại, Yang nở nụ cười dễ mến làm cho cô gái xao xuyến và cho biết rằng, anh ta tự lo được chỗ ăn ở rồi. Tuy nhiên anh ta lại không cho Phố Hoài biết là anh ta ở đâu, với ai. Dường như Yang có người thân tại thành phố thì phải, Phố Hoài đoán thế nhưng không hỏi. Hàng tuần, theo lịch đặt trước, Yang Cheng xuất hiện, tập luyện, ăn cơm trưa với mọi người rồi về. Theo công văn của nhà văn hóa, Nhạc viện đồng ý cho Phố Hoài làm phiên dịch bán thời gian cho Yang.
*
Nguyên thấy mình như đang đi trong một đám sương mù hỗn độn mù mịt không lối thoát, không biết phải làm gì và bắt đầu từ đâu. Có bao giờ một thám tử như anh lại nhận một hợp đồng kỳ lạ như vậy không? Đi tìm một linh hồn lưu lạc, chuyện nghe cứ như đùa, một trò đùa ngớ ngẩn phi lý đến cùng cực. Tìm cái gì? Linh hồn? Ở đâu? Làm sao tìm và tìm bằng cách nào? Anh đâu phải là thầy đồng cốt để mà lên đồng, đâu phải là đạo sĩ múa kiếm bắt ấn như trong mấy bộ phim Hồng Kông để mà triệu hồn ma về? Nghĩ mà muốn cười rớt răng luôn vậy đó. Nhưng anh cũng không giải thích nổi chính bản thân mình nữa, trong anh vẫn có những ước muốn, nhưng thôi thúc kỳ lạ buộc anh phải nhận lời yêu cầu kỳ quái này từ người đàn bà lạ lùng kia. Nhưng một điều gì đó thôi thúc dịu dàng, ân cần như thì thào với anh rằng, hãy làm việc đó, hãy làm việc đó, hãy tìm người đàn ông kia. Tại sao, anh cũng không biết, không giải thích nổi và anh đã chấp nhận điều mặc nhiên vô lý đó mà cũng không thể giải thích nổi.
Liếc nhìn chiếc máy ảnh anh vẫn đeo tòng teng trên vai, Nguyên bỗng bật cười. Vũ khí của một thám tử khi làm việc là máy ảnh, máy ghi âm, chụp hình, quay phim, là internet, là chương trình GPS tracker, là xe phân khối lớn… là đeo bám theo dõi, đóng giả A, B nào đó… bỗng nhiên tất cả trở thành vô duyên cho công việc anh đang sắp làm đây. Hay ta đã bị điên chăng? Anh sợ hãi.
Hiện nay anh đang được công ty cho phép nghỉ dài hạn ăn lương, tưởng thong thả ít ngày, đâu ngờ lại dính đến vụ việc ma quái này. Mấy ngày hôm nay nhìn vẻ mặt lơ ngơ ngớ ngẩn của anh, Tuyết Lan sợ hãi nghĩ anh bị gì, gặng hỏi hoài nhưng anh không trả lời. Biết nói với nàng điều gì bây giờ, chả lẽ lại nói rằng anh được thuê đi tìm một linh hồn nào đó, đúng là điên thiệt.
Trong trạng thái rối bời, lúng túng, không biết tìm ai, Nguyễn Nguyên đành tìm đến sếp. Không nói ra nhưng giữa ông và Nguyên luôn có một mối quan hệ thân tình vượt ngoài quan hệ trong công việc. Rõ ràng sếp rất quan tâm đến anh, sự quan tâm ấy nhiều lúc làm cho Nguyên ngạc nhiên không hiểu, nhiều lúc muốn hỏi nhưng lại ngại. Xưa nay công ty rất nguyên tắc với chuyện thám tử tự nhận hợp đồng bên ngoài nên việc anh tự ý gặp người đàn bà tại cù lao Mơn là đã vi phạm điều lệ của công ty rồi. Trong trạng thái rối bời không biết tìm ai nên anh đành tìm đến sếp trong mặc cảm tội lỗi. Tuy nhiên trái với suy nghĩ của anh rằng ông sẽ la lối, sếp tỉnh bơ nghe, không những thế ông còn tham gia nhiệt tình vào câu chuyện.
- Cháu có biết trong Kiều, Nguyễn Du nói gì không?
Nhìn cái lắc đầu ngượng ngùng của Nguyên, sếp thản nhiên nói tiếp:
- “Thác là thể phách, còn là tinh anh”. Theo quan niệm xưa, linh hồn là cái vô hình trong mỗi con người chúng ta, chết không có nghĩa là hết. Thể xác tuy mất đi nhưng linh hồn vẫn còn tồn tại, vẫn còn hằng lui tới bên chúng ta. Người Việt mình tin có cuộc sống trần sao âm vậy mà cháu.
Nghe sếp nói, Nguyên tròn mắt:
- Chú… chú cũng tin ngoại cảm sao?
Nhìn Nguyên lúng búng trong miệng, sếp cười khà, đứng dậy, vẩy vẩy cái tẩu thuốc trong tay, thong thả nói.
- Từ ngàn đời xưa loài người luôn đứng trước ngưỡng cửa cái chết với câu hỏi sợ hãi, rồi chúng ta sẽ về đâu? Tôn giáo xuất hiện từ đây, thế giới tâm linh xuất hiện từ đây.
Sếp mồi xong thuốc, ngồi xuống, Nguyên thoáng nhăn mặt khi hình dung ra cái ống tẩu ấy phun khói như ống khói xe lửa.
- Chú không có ý định nghiên cứu về ngoại cảm, nhưng khi hiện tượng này xuất hiện rầm rộ, nhất là liên quan đến chuyện áp vong tìm mồ liệt sĩ nên buộc chú phải chú ý tới, tìm hiểu, thậm chí là từng nhờ vả dăm ba lần, thế nên khi nghe cháu nói, chú không ngạc nhiên. Một thế giới nằm ngoài nhận thức thông thường của chúng ta, đầy màu sắc mê tin dị đoan đến hài hước. Liệu nó có tồn tại không hay chỉ là trò lừa đảo? – Sếp lắc lư đầu như đang muốn phủ nhận những lời nói của mình – Đôi lúc chính chú cũng rơi vào hoang mang bối rối khi chứng kiến những buổi nói chuyện với người chết hay đi tìm mộ người thân bạn bè đồng đội cũ đã hy sinh.
Ông thở dài vẻ mệt mỏi. Sếp vốn là bộ đội xuất ngũ, theo như Nguyên biết, khá nhiều đồng đội của ông hy sinh nằm rải rác tại các chiến trường từ B2 trở vào đây, trước năm 1975.
- Những người mẹ, người vợ và những đứa con luôn đòi hỏi cha chúng hy sinh, giờ đang nằm ở đâu? Điều đó khiến những người sống như chú luôn cảm thấy có lỗi với đồng đội mình.
Sếp thở dài vẻ buồn rầu:
- Do điều kiện trong chiến tranh nên nhiều chiến sĩ hy sinh đều chôn vội, thế nên sau này đa phần là thất lạc, chưa kể có tìm thấy mồ liệt sĩ, dấu vết về con người ấy mất sạch, thế nên cứ phải ghi là vô danh, đau lòng lắm. Chú và các bạn bè khi đi tìm mồ liệt sĩ, nhất là cùng đi với thân nhân gia đình, không còn cách nào khác ngoài việc nhờ các nhà ngoại cảm.
- Cháu hiểu.
- Cháu hiểu cái gì mà hiểu – Đột nhiên sếp to tiếng làm Nguyên bối rối – Với những người lính cầm súng ra trận sống bảo vệ tổ quốc, nay họ hy sinh nằm đâu đó trên đất nước này mà không thể về với thân nhân, ai có lỗi, chúng ta, những người đang sống đây – Rồi chợt nhận ra sự nóng giận vô lý của mình, ông hạ giọng – Chú xin lỗi, thế giờ cháu tính sao.
Nguyên ôm đầu rên rỉ.
- Chắc cháu điên mất. Chú à, không hiểu bỗng nhiên cháu nhớ đến anh Tư của cháu.
- Tại sao, bộ có liên quan gì sao? – Sếp nhìn anh hỏi vẻ thận trọng – Và quan trọng là cháu có tin lời bà ta nói không?
Nguyên ngập ngừng.
- Quá nhiều điều vô lý chú ạ, nhưng… nhưng… không hiểu sao trong cháu luôn có sự thôi thúc rằng hãy nhận lời làm vụ này – Nguyên vò đầu bứt tai – Nhưng dường như nó lại chính là từ những điều mà cháu không thể nào nhớ nổi gương mặt của anh trai mình.
- Vậy sao!
Sếp cau mày nhìn Nguyên suy nghĩ. Có vẻ như ông không muốn đề cập đến chuyện người anh đã chết của Nguyên, nên nghe, chỉ hỏi cho qua chuyện.
Cái tẩu đã châm thuốc nhưng không hút nên đang rơi tàn xuống bàn. Bộp, sếp vỗ mạnh tay lên bàn làm Nguyên giật mình.
- Thôi hãy tìm đến những nhà ngoại cảm.
- Họ…
- Rõ ràng trong vụ việc này mọi nghiệp vụ thám tử của chúng ta xem ra là vô ích – Sếp nhún vai – Chỉ có họ, những con người có khả năng tiếp xúc với thế giới tâm linh sẽ giúp được cháu thôi.
- Cháu không tin – Nguyên nói dứt khoát.
Sếp bật cười, gật đầu.
- Chú cũng không tin… nhưng không tin không có nghĩa là không làm.
Cả hai chú cháu cùng im lặng rồi bật cười lớn.
- Chú cho phép cháu làm vụ này chớ?
Nghe anh hỏi, sếp nhún vai.
- Cháu đang trong thời gian nghỉ phép, nếu là việc riêng, công ty không cấm.
Khi Nguyên đứng dậy chào sếp đi ra, vừa đến cửa bất ngờ anh giật thót người nghe tiếng sếp gọi lớn:
- Thám tử Nguyễn Nguyên!
- Dạ.
- Cậu nghĩ thế nào nếu công ty Thám tử Việt ký hợp đồng đi tìm một hồn ma lang thang đâu đó trên thế gian này?
Kèm theo là những tiếng cười khùng khục của sếp, xém làm anh xỉu theo luôn.
Không muốn cho Tuyết Lan biết, bởi nàng vốn sợ ma nên anh nói rằng mình tạm ngừng lái xe lẫn làm vệ sĩ cho nàng vài ngày, có việc riêng công ty giao. Việc đầu tiên là anh đi tìm đến một nhà ngoại cảm theo như lời khuyên của sếp: Cháu đang làm một công việc dị thường thì phải có sự giúp sức không bình thường, nguyên tắc là vậy. Vừa đi Nguyên vừa nghĩ rằng mình đang bị điên, anh không hy vọng sau khi làm xong vụ việc này anh sẽ phải vào viện tâm thần Chợ Quán.
“Đối với những nhà ngoại cảm cũng vậy, nếu anh làm không đúng, thế giới tâm linh sẽ thu hồi khả năng của anh”.
Nguyên dán mắt vào màn hình chăm chú đọc, trước hết, theo thói quen, anh quan sát kỹ Phó giáo sư B. hay còn gọi là nhà ngoại cảm B. cũng được. Người thấp tròn, đeo kính trắng, ông ta có tướng khá trí thức. Thời gian gần đây ông ta xuất hiện khá rùm beng trước hết bởi cái mác trí thức có học hàm phó giáo sư, thứ hai, B. đả phá rất kinh những trường hợp mà theo ông ta là “giả ngoại cảm” để làm tiền và mê tín dị đoan, bởi theo B. ngoại cảm là lĩnh vực siêu nhiên nên trong việc tìm hài cốt cần phải kiểm tra kỹ bằng xét nghiệm ADN, qua đây để xác nhận rằng thành tích của các nhà ngoại cảm là chính xác hay không. Cuối cùng nghe đâu B. được mời về Trung tâm ngoại cảm ngoài Hà Nội, giữ một chức vụ nào đấy.
Nguyên rất chú ý đến bài trả lời phỏng vấn của B. nói về ngoại cảm.
Theo B, ngoại cảm gồm có mấy trường hợp cụ thể như sau: Ngoại cảm bẩm sinh, tức là có những người sinh ra đã có khả năng ngoại cảm. Với những người sẵn có khả năng đặc biệt này hiện còn đang trong giai đoạn nghiên cứu nên chưa thể cung cấp thông tin cụ thể. Ngoại cảm hình thành sau khi phải trải qua một biến cố như chấn thương, bệnh tật, sau những trận ốm thập tử nhất sinh bỗng phát hiện ra khả năng này và hầu hết các nhà ngoại cảm ở nước ta hiện nay đều có được khả năng kỳ lạ này là vậy, ví dụ như là bị điện cao thế giật, có người qua trận sốt hoặc trận ốm thập tử nhất sinh, chó dại cắn thì trở thành nhà ngoại cảm… Thứ ba là có được do đào tạo tức ngoại cảm có do rèn luyện theo những phương pháp đặc biệt nào đó. Thứ tư do các thiền sư tu hành lâu năm, đắc đạo, song họ chuyên tâm tu hành, không màng đến thế sự, tiếng tăm, danh phận và rũ bỏ hết việc đời nên không bao giờ công bố khả năng của mình. B. có biết một người tiêu biểu về khả năng tu hành rồi trở thành nhà ngoại cảm hiện đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên phó giáo sư B. lại không giới thiệu ông ta có khả năng ngoại cảm là từ đâu.
Theo giới thiệu của sếp, Nguyên tìm đến một đồng đội cũ của ông.