THẦN HỔ

Lượt đọc: 8014 | 3 Đánh giá: 8,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương IV

“Xe chạy được một quãng thì tôi thấy can đảm dần dần trở lại, tôi ngoảnh đầu trông về phía sau. Chao ôi! khủng khiếp chết đi mất! Khi xe đương chạy vút, không kịp nhìn sau lưng mình, thì yên trí rằng mình trốn thoát; đến khi định thần nhìn lại, bao nhiêu can đảm, nghị lực, vừa nhóm dậy, đã tiêu bay, tán lạc, đi đường nào! Một cái bóng đen to lớn, dưới ánh trăng, vẽ một vết đen xì trên đường trắng. Cái bóng ấy chồm lên, chồm xuống, tiến đến vùn vụt, rất nhanh. Nó chạy theo ô tô, đuổi theo chúng tôi; nó nhảy nhanh nhẹn không kém gì xe của hai chúng tôi mấy tí. Rõ ràng sau lưng chúng tôi một con hổ dài và lực lưỡng đương cong vút đuôi phi nước đại cho kịp chúng tôi. Con vật khổng lồ ấy, mỗi lần chân nó chạm đất, làm náo không trung bằng những tiếng “huỳnh huỵch” rất nhịp nhàng, mãnh liệt, có thể át được tiếng máy xe rầm rập kêu vù vù. Tiếng “huỳnh huỵch” ấy một khắc một gần; con hổ xám kia chả mấy chốc sẽ tóm được chúng tôi, nguy quá! Tôi luống cuống, nghiêng đầu kêu rõ to bên tai bạn, báo cho bạn biết cả đôi cùng bị ác thú đuổi theo. Bạn tôi càng kinh hãi, cuồng lên, cố hết sức đạp “ga”, cho xe chạy nhanh hơn, nhanh nữa.”

“Chúng tôi chạy, chạy mãi, chạy bán mạng, không kể đất trời là gì nữa. Bởi sau lưng chúng tôi, cái chết nó quá gần. Còn mười lăm thước nữa, rồi còn độ mười hai. Rồi còn bảy tám. Thôi chết!”

“Mỗi một khắc, tôi lại quay đầu xét tình hình bên địch. Tôi nhìn mãi hồi lâu, mới nhận thấy con mắt của kẻ thù làm sao không sáng rực, đỏ chói và dữ dội như lúc tôi vừa thấy nó; con mắt ấy, giờ đây, trong khi Thần hổ đuổi theo tôi, tự nhiên trông mờ ám hẳn đi, đỏ vàng như một ngọn đèn dầu tây, tựa hồ những tia lửa trong con mắt ấy dần dần sắp tắt. Hổ đuổi càng gần đến, con mắt nó càng hình như thêm mờ, thêm ám, nó cứ tối đi, tối đi mãi, sau cùng chỉ lờ mờ sáng có tí chút mà thôi. Nhưng nó vẫn đuổi. Khốn khổ, chỉ còn có vài ba thước nữa thì kịp!”

“Xe vùn vụt nuốt rất mau quãng đường đá trắng. Tai hại! Sao bóng trăng lại mù tịt thế này! Thôi hỏng rồi, nó gần theo kịp, nó sắp đến nơi rồi! Cố lên, mau lên! Bạn tôi nằm rạp xuống, mở hết đủ mười bốn mã lực.”

Nhưng... nhưng, thực là số chính tôi phải chết! Nếu không vì hàm cọp, thì ắt là vì nạn ô tô. Trời ôi! con hổ kia sắp sát đến nơi rồi, sao xe của mình lại kém nhanh thế này nhỉ? Sao lại hãm máy lại thế hở? Chết, chết, chết, chết mất!...

“Trước mặt, không có đường đi nữa! Tịt mất đường rồi! Thì ra trong khi luống cuống, bạn tôi không theo đúng đường cái thẳng về phủ Nho Quan, lại đi lầm sang một con đường đưa tuột vào cửa rừng, ven sườn núi. Thực quả là oan nghiệt! Thực quả là nghiệp số! Lần này thì không thoát được nữa. Xe hết đường, phải từ từ hãm bánh, không thể làm thế nào được nữa.”

“Lúc ấy mắt tôi hoa lên, trống ngực tôi đánh như quả tim sắp nổ, mạch máu tôi phồng to, thái dương tôi nóng rực, tinh thần tôi bàng hoàng, bao nhiêu ý tưởng lộn xộn trong óc tôi; tôi, một khắc, loáng như chớp, thấy hình ảnh cha mẹ đẻ, ông bà nội, cha mẹ nuôi, vợ, con, Peng Slao, tiệm hút, anh, và cả quãng đời trai trẻ của tôi... Tai tôi lúc ấy ù ù; cảnh vật chung quanh người tôi quay lộn như chong chóng, tôi không phân biệt gì nữa, không biết gì nữa… Mang máng, tôi tựa như thấy một vật gì to lớn, nặng nề, hút mạnh vào xe ô tô rồi tôi bị rung chuyển, như ngã hẳn ra ngoài, văng xa giữa quãng không trung, lăn lộn trong một cõi mơ màng, huyền ảo…”

“Tôi chết ngất đi lúc nào không biết. Thực là một sự dị kỳ. Lúc tĩnh dậy, thấy mình nằm trên bãi cỏ, không xa xe ô tô mấy, bạn thì nằm gục trên vô lăng, đầu ngã xuống thành xe, ngủ mê như chết. Còn xe thì vẫn đứng thẳng thắn, mũi hơi chúc xuống, đít vểnh lên trời, theo dốc của một gò đất nhỏ lõm xuống. Cái “pare-choc” đằng trước thì lõm vẹt hẳn đi, áp vào một hòn đá lớn. Tôi không hiểu thế nào cả, không nhớ gì nữa, tựa hồ như người uống rượu lỡ say, vừa tỉnh lại sau khi ngủ một giấc rõ dài. Cử chỉ đầu tiên của tôi là lại lây bạn tôi dậy, bạn bàng hoàng mở mắt, vươn vai, ngáp, rồi mở cửa xe bước ra ngoài. Anh ta cũng lộ ra vẻ kinh ngạc và hoảng hốt như tôi, hai chúng tôi nhìn nhau, thờ thẫn. Lúc ấy mặt trời lên đã cao, ánh lửa hồng đã đỏ rực cả một bên sườn núi. Chúng tôi rút đồng hồ xem, thì vừa mới bảy giờ sáng.”

“Ngồi trên bãi cỏ, móc túi dết lấy bánh tây và đồ hộp ra ăn, chúng tôi vừa nhồm nhoàm nhồi dạ dầy cho đỡ đói – vì lúc đó thấy đói quá - vừa cố sức thu nhặt trong ký ức những kỷ niệm tản mác của buổi hôm qua. Sau khi cùng nhau xếp lại trường hợp mình đã trải, chúng tôi mới nhớ rằng cả hai định lên phủ Nho săn bắn, không may gặp hổ giữa đường; bắn nó rồi bị nó đuổi theo tới chỗ ấy. Quan sát tình thế và ngắm nhìn xe, chúng tôi biết đã lái xe lạc đường, đến nỗi đi đâm vào núi. Chiếc xe nghiêng xuống chỉ rõ cho chúng tôi biết nó bị hổ húc phải rất mạnh, nên bị xô vào mãi cửa rừng, rồi gặp một hòn đá to mới đứng lại được. Sự hổ húc xe đó khiến chúng tôi lấy làm kỳ quái, nhất là vì thấy mé sau xe, trên mặt đất, trên nệm không biết bao nhiêu vết máu đỏ ngầu, chưa khô, tung tóe ra làm bẩn cả một vùng. Chúng tôi đoán chắc con hổ bị bắn bôm qua tất mang một trọng thương, khi nó hết sức đâm bổ vào xe thì vết thương ấy mở toang ra, khiến máu bắn giọt ra như tưới. Lần theo vết máu thấm trên bãi cỏ, chúng tôi rủ nhau đi mãi, đi đến non một cây số thì đến cửa một cái hang rộng, hõm sâu vào sườn núi. Trong hang, một cái xác hổ nằm phục trên một vũng nước quánh như hồ và đỏ ngầu, hoen cả làn da vàng xám có vằn đen, nhất là dây loang ra chiếc bờm lông trắng toát. Trên mặt con mãnh thú kia không biết bao nhiêu là vết đạn; hai phát súng tối qua đã trúng đích, không sai. Cặp mắt thì một con bị chột từ xưa, một con nữa vừa mới bị “đạn bắn” xuyên thủng nốt. Con hổ xám ấy còn thoi thóp thở, nó chưa chết. Nhưng nếu nó còn sống, cũng chả sống được bao lâu nữa, vì nó chỉ có một thân cô độc, mà không may lại mù tịt đi rồi. Thế tất nó sẽ không có cách gì kiếm được miếng ăn, dẫu rằng nó linh thiêng và khôn khéo.”

“Nhận được kẻ thù rõ rệt, tôi bỗng thấy lòng mừng chan chứa, đem súng quàng sau vai ra lắp đạn, chĩa vào ông chúa sơn lâm lỡ bị lúc xa cơ, rồi kế tôi mắng một hồi lâu không ngớt. Thần hổ chả rõ có nghe hiểu những lời chửi rủa và kết tội của tôi không? Nó chỉ nằm yên không thèm cựa. Điên tiết, tôi bóp cò hai lượt, hóa kiếp cho loài ác thú đã hãm hại cả gia đình, dòng dõi nhà tôi.”

“Thần hổ xám nay đã hóa ra một đống thịt gớm ghê nát bét, vấy đầy những máu. Trả thù xong, tôi rủ bạn ra đường, tôi mới nhận thấy bạn tôi có một vết bằng đồng bạc lớn mà đỏ hồng gay gắt như bị phỏng dầu sôi. Tôi biết rồi, tôi hiểu rồi, nhưng không đám nói rõ cho bạn nghe sợ hắn buồn rầu và oán trách tôi đưa hắn vào tử lộ. Tôi soi mặt vào gương chiếu đường, mặt tôi bỗng tái mét đi: trên trán tôi cũng có một vết đỏ hồng to bằng miệng chén tống. Ngậm ngùi, tôi bước lên xe; nhưng từ đấy trở về Hà Nội, tôi không nói với bạn nửa lời nào cả. Tôi không đủ can đảm, sợ hễ nói thì òa lên khóc mất.”

“Về đến đây, tôi chỉ kịp lại thăm ba đứa con tôi xong, thì đến tìm anh. Bây giờ anh đã hiểu rõ đầu đuôi công cuộc của tôi xin anh nghĩ tình bạn hữu nhớ đến những điều tôi đã trối trăng anh từ nãy nhé! Còn tôi, không chóng thì chầy, thế nào tôi cũng chết. Nhưng trước khi chết, tôi muốn về Thạch Thành lạy từ dưỡng phụ, dưỡng mẫu tôi, hai bõ già nuôi tôi, cùng ông Mo Slầy, và xin thầy mẹ tôi, sau khi tôi nhắm mắt, an táng tôi bên cạnh mồ Peng Slao. Ngày mai tôi đáp tàu về Bỉm Sơn chuyến sáu giờ sáng. Anh ở lại, cố trông nom cho vợ con cho tôi nhé! Tôi lại có một điều rất tâm sự phải cúi lạy xin anh. Nếu tôi chết đi, những vợ tôi sẽ chịu bơ vơ, không biết vào ai nương tựa. Chúng nó đều ngoan ngoãn cả, nên tôi muốn nhường lại cho anh, cúi xin anh cho chúng nó dựa vào anh để sống nốt quãng đời thừa. Anh lắm của, lại còn trẻ, lại chưa vợ - (anh tưởng tôi không biết anh chưa vợ?) - anh nên vứt hết các sự nề hà vằn vặt, lấy nghĩa lớn làm trọng, giúp tôi những việc khó khăn này. Như thế, thương mẹ, anh sẽ săn sóc đến con; con tôi cũng như con anh, tôi phó thác cả cho anh nuôi đó. Rồi, mỗi tháng cha nuôi tôi sẽ gửi trả anh một số tiền năm chục bạc để bù cái công khó nhọc cho anh. Anh Thảo ôi! Tôi là người Mường, không biết nói hoa hòe, quắt quéo, anh nghĩ tình tôi thương cảnh tôi, mà cứu lấy mấy giọt máu thừa của một dòng xuýt tuyệt tự này đây!”

“Nếu số tôi không phải chết non, tôi đã không phiền lụy anh đến thế! Anh là người độc nhất vô nhị được rõ nguồn tâm sự của tôi; nhưng được cái lợi nhỏ nhặt ấy, anh phải trả một món nợ rất to: nuôi vợ con cho tôi. Anh không thể từ chối được, anh phải nhận! Bổn phận anh bắt anh phải nhận. Lòng nghĩa hiệp của anh không cho phép anh từ chối! Anh phải biết làm một điều phúc đức, ảnh hưởng đến muôn đời. Nếu ông cha tôi xưa kia không có tội lỗi, thì khi nào tôi chịu chết giữa lúc máu trong tim đang bồng bột thế này? Thực là số anh ạ! Đáng lẽ tôi không chết, như tôi đã nói từ trước. Tôi không hiểu vì sao, sau lúc bắn con Hổ thần kia, trong người tôi bỗng đâm ra hoảng hốt, rồi tôi lên xe giục chạy trốn. Đáng lý, bắn xong, tôi nên cứ đứng yên dưới đất, chỉ để bạn tôi chạy mà thôi. Như thế con hổ mãi đuổi cái xe, nó sẽ không trông thấy tôi, vì tôi có phép tàng hình. Như thế tôi sẽ sống. Bởi vì tôi chạy mới thành ra kinh khủng, cảm động, đến nỗi chết ngất đi, ngã văng ra ngoài. Trong lúc mê man nhân điện trong người tôi, theo linh hồn, tỏa ra ngoài cả, lá bùa của tôi không hiệu nghiệm nữa. Con hổ kia, nhờ thế, mới liếm được trán tôi.”

“Chẳng qua tôi và bạn tôi đã đến ngày tận số. Ví bạn tôi không lạc đường, làm gì con hổ kia húc xe rung chuyển được; nếu cứ đường thẳng mà chạy, thì nó có theo cũng vô ích, càng theo càng đuối dần, và dẫu có đuổi kịp tới nơi, thì mắt đã mù rồi, còn biết đường nào mà liếm má tôi được nữa? Khốn nỗi trước khi mù tịt, kia con quái kia còn nhận được chúng tôi! Sau khi liếm mặt chúng tôi, nó còn lần được đến hang, mãi lúc, bấy giờ máu mới tràn đầy óc, gân mắt nó mới bị bại hẳn, ngọn lửa trong đồng tử nó mới tắt hẳn.”

“Đấy, anh xem. Trời định việc gì, những việc ấy cứ tuần tự xảy ra, sức người không tài gì ngăn cản được. Số tôi không sống lâu cùng anh mãi, phải về với Peng Slao yêu quí của tôi, cho nên không vì ai giun ngủi cả, tôi tự nhiên hóa ra ngu si, đần độn không có óc suy xét, tự mình hiến thân mình cho cái Chết.”

“Thôi, anh Thảo ạ, nói nhiều nữa càng thêm buồn, thêm tẻ; tôi xin phép anh cho tôi được cúi chào anh và áp trên hai má anh hai cái hôn nồng nàng, biểu hiệu của tấm lòng thành thực của tôi quí yêu anh, cảm phục và tạ ơn anh, mãi đến khi hồn bay phảng phất ra ngoài cõi sinh tồn náo nhiệt, sung sướng này…”

“Thôi, anh ở lại!”

Đèo Lầm Khẳng ngay tối hôm đó, từ giã tôi về nhà thu xếp hành lý để sáng mai ra tàu sớm. Từ ngày ấy, không bao giờ tôi gặp chàng nữa. Mất tích bạn đến ba tháng, tôi mới nhận được thư dưỡng phụ chàng báo tin cho tôi biết: tự nhiên, không bệnh tật, Khẳng bỗng ngã lăng đùng ra chết vào ngày 30 tháng chạp, tức là hai tháng rưỡi sau khi chàng trả được oán thù. Theo ý chàng dặn kỹ càng trước buổi lâm chung, mộ chàng để gần mộ Peng Slao, người chàng yêu quí và mến thương thứ nhất.

Có một điều rất lạ ngày 30 tháng chạp đó, đúng đầu giờ Dậu, người con ông chủ nhà trọ của Lầm Khẳng, cũng như chàng, ngã quỵ xuống chết, cái vết lưỡi của Thần hổ, quá như lời bạn tôi nói thực là lợi hại và linh nghiệm.

Không phụ lòng Khẳng và kính trọng lời ký thác của chàng, tôi hết sức nuôi cho ba đứa con bạn tôi khôn lớn. Còn như ba người vợ Khẳng, tôi cho một người về quê hầu hạ ông bà huyện; hai người sau còn trẻ và đều có nhan sắc tôi tìm hộ cho những chỗ tử tế để sánh duyên, khỏi bỏ lỡ mất một đời xuân thiếu.

Lầm Khẳng, nếu có linh thiêng, ắt cũng chẳng nỡ trách tôi không theo đúng sở nguyện chàng: cho các vợ chàng dựa vào tôi mà sống. Con thì tôi sẵn lòng săn sóc, chớ hứng đỡ cho bạn những ba người vợ còn non hơ hớ, chẳng những tôi không dám, còn cúi đầu thành kính lạy cả ba bà cả nón lẫn khăn. Nối duyên hộ họ Đèo, biết đâu, chẳng phải là một sự có thể đưa tôi vào cõi Chết?

Bởi vì tôi đã, theo ý điên cuồng của một người bạn đương cơn hăng nói, dìm hồn vào một gấm vô đạo, làm một điều trái ngược hẳn luân thường?

Ấy thế nên ba vợ của bạn tôi, tôi đều tìm chỗ cho mà dung thân cả. Chỉ có ba đứa trẻ ngộ nghĩnh còn sót lại, thì bao giờ tôi cũng để cạnh tôi, ngõ hầu nhớ mãi quãng đời kỳ dị, phiêu linh, của bố chúng nó, bạn tôi một người đã ngạo ngược lấy ma rừng, lại can đảm dám tranh hùng với cọp.

Viết xong tại Hà Thành

Ngày 18 Novembre 1936

TCHYA.

« Lùi
Tiến »