THẦN HỔ

Lượt đọc: 8004 | 3 Đánh giá: 8,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương III

Cách đấy non một năm, nhờ ơn cha con ông Bỉnh trừ hại cho dân, quả nhiên huyện Thạch Thành không bị hổ thần làm náo loạn nữa. Thổ dân làm ăn được yên dạ, vui vẻ chắc mẫm rằng con yêu tinh kia đã bỏ thân trong khe hiểm, vực sâu nào đó. Chỉ có một điều đáng nghi ngại là, từ khi con hổ bị một phen đau đớn, tuy nó biệt tích, nhưng không nhà đi săn nào tìm thấy xác chết nó ở đâu. Có lẽ nó chạy sang một quả núi khác ở tận vùng xa để chết.

Sự làm ăn của gia đình họ Đèo, sau khi đánh hổ, vẫn được vui vẻ, cường thịnh mãi đến ngày, không hiểu vì sao, Đèo Thắng Mãnh đi ăn giỗ ở một làng bên cạnh, đi đến quá ba ngày đêm mà vẫn không thấy trở về. Ông Bỉnh sốt ruột sai đầy tớ phi ngựa đi tìm, thì trở về, tên đầy tớ bảo rằng chủ nhà làm giỗ nói Đèo tiên sinh về cách đấy đã được ba hôm. Hôm ăn giỗ, sau khi cơm nước xong, đến xâm xẩm tối, Mãnh cáo từ về ngay, không nán lại phút nào cả. Thế thì Mãnh vì sao mà biệt tích? Đi du lịch chăng? Lên tỉnh chăng? Xưa nay Mãnh đi đâu cũng đều về xin phép cha mẹ hẳn hòi, hoặc báo tin cho nhà biết. Lạ thật! hay là hắn bị ám sát? Không có lẽ, vì Mãnh có thù hiềm ai và có ghen tị, tranh cạnh cùng ai bao giờ? Có khi Mãnh mê cô nàng nào mà phút chóc bỏ nhà, bỏ cửa? Cái đó lại càng vô lý nữa. Vì, xưa nay, Mãnh là người rất có giáo dục; uy theo phong tục Mường, trong máu hắn vẫn có tính tình và tâm hồn Việt Nam, một nòi Việt Nam quí phái. Từ thuở nhỏ, Mãnh vẫn được học, vẫn được cha dậy cho thế nào là luân lý, cương thường. Bình sinh hắn đối với đàn bà, dẫu đối với những cô nàng tuyệt sắc, cũng không khi nào có cử chỉ ra ngoài quy cũ. Không lẽ nhất đán, hắn nỡ bỏ cha, bỏ vợ, bỏ con và em đi theo một ả nhân tình? Vậy thì có lẽ hắn bị ám sát thật! Song le, bên nhà người mời ăn giỗ, khách khứa đều là bạn tốt cả, có ai nỡ lòng giết Mãnh, mà có giết thì để làm gì? Lạ. Lạ quá!

Ông Bỉnh cho người đi tìm con khắp bốn phương. Sau ba ngày tìm kiếm, Lầm Phá thấy xác anh nằm trong khe đá, bên cạnh một dòng suối nhỏ; thân thể bị nát bét, ruồi bọ bấu đầy; mùi hôi thối xông lên sặc sục, ngạt mũi. Khi khám tử thi, Phá rất lấy làm kinh ngạc.

Áo Mãnh vẫn còn lành lặn y nguyên, không rách. Chỉ có quần thì bị cắn nát, tơi tả ra từng mãnh, để lộ nửa người dưới ra ngoài. Nhờ sự rách quần ấy, Phá nhận rõ thấy anh mình bị một loài gì cắn mất hạ bộ. Và, không những thế, sau khi vạch làn tóc rối lòa xòa phủ kín mặt người chết, Phá lại nhận thấy Mãnh bị mất con mắt bên trái, ai đem móc ra và vứt đi tự bao giờ. Phá đau lòng quá, quỳ xuống thây anh khóc sướt mướt, rồi không quản hôi thối, cõng anh lên vai chạy một mạch về nhà.

Ông Bỉnh trông thấy xác con, vừa đau đớn vừa lo sợ. Lo sợ, vì ông suy nghĩ, biết ngay Thắng Mãnh thiệt thân không phải tại bị người ám sát, mà chính là bị Thần hổ xám cắn tha đi. Thật là ông vô phúc! Lần này thế nào ông cũng bị vạ diệt môn! Ông Bỉnh cuống cuồng lo ngại quá.

Ông Bỉnh thực là người thông minh, nhanh trí. Ông đoán không sai chút nào. Quả nhiên, con ác thú gần thành tinh kia chưa chết. Nó tuy bị một phen đau đớn cực điểm - mù một mắt, gẫy hai ba cái răng, cụt mất dương vật và sứt mất mũi - song nó khỏe lắm, nó chống cự rất hăng hái với Tử thần, với thương tích, nó chạy vào một khe núi rất sâu thẳm nằm dưỡng bệnh, nó cố bám lấy sự sống. Sau khi lăn lộn mãi trong một thời gian thập tử nhất sinh, nó thoát nạn, thương tích của nó dần dần vá lại, nó đoạt được số mệnh gần nghiêng ngửa, lung lay. Nó sống. Nó sống là nhờ lòng tận tụy, nghĩa thủy chung của một con hổ cái, vợ nó, ngày ngày hết sức rình mồi, săn các dã thú để nuôi nấng nó và hơn nữa, đi lùng trong rừng những thứ lá thuốc đem về cho nó ăn, rồi đắp vào những vết thương cho nó. Người ta bảo giống vật không có trí khôn, nhưng mà thực quả trời - đấng Hóa công tối thiêng liêng kia - đã phú cho mỗi loài một thứ khí giới riêng để bảo tồn lấy nòi giống. Mỗi một con vật - không ai bảo mà biết - lại có riêng một thứ lá để dùng những khi có tật bệnh. Những thứ lá ấy toàn là vị thuốc rất nghiệm, rất hay. Người Mường tò mò đi theo vết chân khỉ đi hái thuốc, có tìm được một vài thứ lá ấy. Vì thế nên khoa thuốc Mường có nhiều môn bí hiểm nhưng rất tài tình.

Nói tóm lại, con mãnh hổ xám kia nhờ được “hiền thê” nó săn sóc cho khỏi chết. Cũng là bởi số nó chưa đến ngày đoạn tuyệt, hóa nên quỷ thần xui khiến vợ nó không thè lưỡi liếm vào những vết thương của nó, nếu không tất nó bị gai lưỡi làm cho thối da thối thịt mà thiệt thân, không tài gì cứu chữa được nữa. Con hổ xám phải nằm dưỡng bệnh trong hang mất hơn năm tháng. Qua khỏi cơn hoạn nạn, nó lại khỏe mạnh như thường, nhưng nó đâm ra tàn ác không biết thế nào mà kể. Trong lòng nó đeo sẵn một mối thù rất lớn với loài người, mối thù ấy chưa trả được nên tính khí nó sinh ra hung hăng nóng nẩy. Vả lại, nay nó đã hóa nên một con vật tàng tật, sống không có sinh thú nữa; bản năng của nó không được trăm phần thỏa mãn; khiến vì thế nó thay đổi hẳn cách ăn ở, sinh ra khó khăn, dữ dội, ác nghiệt, hơn xưa nhiều. Thậm chí, vợ nó, nó cũng cấu xé, cắn đứt, đánh cho một trận nên thân rồi bỏ hẳn, không nghĩ đến ân tình cũ và tấm lòng hi sinh đáng quý của con vợ ấy trong khi nó còn bị điêu đứng khổ sở xuýt nữa phải đi đời. Nó không nghĩ gì cả, nó quên hết, bây giờ nó dã man, bội bạc đến cực điểm rồi. Thì nào có sự gì lạ! Nó là một con vật còn sống, còn khỏe mạnh, nhưng đối với con cái, nó vô dụng đứt đi rồi. Nó không thể vừa lòng vợ nó được nữa, bởi lẽ nó không đủ tư cách làm cho vợ nó được bản năng thỏa nguyện. Thế tất con hổ cái phải đi lùng đực để bù vào chỗ khuyết điểm trong đời. Thần hổ xám biết mười mươi mình là phế vật, nhưng cũng vẫn ghen, vẫn tức, vẫn không bằng lòng cho vợ có ngoại tình. Gia dĩ tính nó đã đổi khác hẳn sau trận đòn thập tử nhất sinh, nó không nể nang vợ gì nữa, chỉ nghe tiếng gọi của sự tức giận, ghen ghét, nó nhảy chồm lên đánh đuổi nhân tình vợ nó, và sau khi con vật kia trốn chạy, nó quay vào xông vồ lấy vợ, rồi nào vả, nào cấu, nào xé, nào cắn, tưng bừng túi bụi, đến nỗi vợ nó hoảng kinh phải cúp đuôi chạy thẳng, không dám cả gan quay lại nhìn chồng.

Thần hổ xám, sau khi vợ đi mất, được hoàn toàn tự do, không còn có điều gì bó buộc nữa. Nó bèn mạnh mẽ ra đi. Đi, thi đi đâu? Trước tiên, nó hãy tạm bỏ chốn rừng cũ, đi ngao du sang các núi bên cạnh vài ba tháng. Trong thời kỳ ngao du ấy, ngày nào nó cũng ngồi phục ở chỗ hay có người qua lại, rồi tìm cơ hội đổ ào ào vào giống người tất cả những nguồn oán hờn, căm giận, chất chứa trong lòng từ trước đến nay. Ngày nào nó cũng vả chết, hay cắn chết ba bốn người, ít nhất là một hai người. Nó ăn chán thì tha đi vứt vào bụi; dù no đến thế nào, thấy kẻ vô tội đi qua đường nó cũng không tha. Nó lại có một dấu hiệu đặc biệt để báo cho loài người biết oai quyền của nó: những kẻ bị hại đều mất một mắt và bị cắn mất bộ sinh dục, dù đàn ông hay đàn bà cũng vậy.

Khi Thần hổ trở lại huyện Thạch Thành, sáu tháng về sau, trong lổ tai nó đã có hơn 100 vết đỏ và da nó đã thay hẳn ra màu xám.

Bây giờ mới đến lượt gia đình ông Bỉnh chịu số mệnh cay nghiệt nặng nề. Từ lúc Thần hổ lộn về, trong huyện náo động như có loạn. Thổ dân kinh khủng như nghe tiếng giặc tạt qua. Người bị thiệt thân đầu tiên là Đèo Thắng Mãnh. Hôm ấy Mãnh sang làng bên cạnh đánh chén, đến xâm xẩm tối thì trở ra về. Uống rượu cần cả ngày. Mãnh say khướt, vừa đi vừa chập choạng. Thất thểu đi bộ được hơn một dặm, khi đến gần một tòa miếu cổ, Mãnh thấy một cái bóng đen, dài nhảy vút lại vồ mình. Thì ra Thần hổ ngồi chờ đấy từ buổi chiều, biết trước Thắng Mãnh thế nào cũng sẽ trở về qua đấy. Mãnh nhận biết hổ, nhưng say quá, lòa cả mắt lại mềm nhủn cả chân tay và không có khí giới đem theo, nên không tài nào chống cự nổi kẻ thù. Thành ra Mãnh bị hổ hành hình một cách đau đớn.

Mãnh vừa bỏ mạng, tối hôm sau trong huyện lại có người tiều phu vô phúc bị hổ vồ. Rồi hôm sau nữa, tấn thảm kịch lại diễn ra một lần nữa: ba người bị tát chết. Người nào cũng như người nào, đều mất mắt, và mất bộ sinh dục. Thần hổ đã để lại một dấu hiệu gớm ghê. Kinh khủng hơn nữa là xung quanh nhà ông Bỉnh, không sáng nào là không thầy vết chân cọp in sâu vào đất, và dấu bọt mép của con ác thú ấy lênh láng trên thềm nhà. Cả nhà ông Bỉnh lo sợ quá. Chỉ có ngót một tháng trời mà nhà thiện xạ đầu đã bạc phơ, trông mặt già hẳn đi nhiều lắm. Trong huyện, không ai dám đi đâu buổi sáng trước mười giờ, và quá ba giờ chiều, mọi nhà đều đóng cửa ngõ kín mít. Thần hổ đã đem đến cho thổ dân một vẻ hãi hùng cực điểm. Sự sinh hoạt vì thế, hóa ra khó khăn vô kể; dân huyện Thạch Thành, không bị nạn mất mùa, lụt lội, mà cũng sống khổ sở như trong những buổi mất mùa. Quan huyện, thương dân, ngày đêm lo lắng không biết cách gì giải thoát tai ương được.

Sau có ông thầy phù thủy hiến quan một kế: là bảo tất cả dân gian đặt bàn thờ long trọng cúng thần Hổ. Hơn nữa, mỗi năm bốn kỳ lại mua trâu dê và các vật sống khác làm quà cho hổ xám, cầu khẩn ông “Mãnh thú” thiêng liêng ấy tha cho hàng huyện, đừng giết hại kẻ vô tội nữa. Ai ai cũng đều thành tâm theo lời thầy phù thủy: quả nhiên, sự tàn phá và sát hại cũng đỡ nhiều, hình như Thần hổ hiểu hết những lời cầu nguyện, khấn khứa. Song le, “Ngài” còn một mối căm hờn chưa trả được, hóa nên chưa vui lòng tha cho dân hạt Thạch Thành. Thỉnh thoảng Ngài lại vả chết một hai người, và đêm nào cũng như đêm nào, Ngài đến lượn qua nhà ông Bỉnh suốt đêm, gầm lên như sấm. Ông Bỉnh biết rằng tình thế như vậy tất không tài nào ở yên được; ông bèn nghĩ cách di cư cả gia đình, đi sang ngụ ở một khu đất khác, lành hơn. Đi là phải lắm, nhưng đi bằng cách gì, làm thế nào đi cho thoát? Ông Bỉnh nghĩ mãi, sau ông tìm ra một cách; nhờ quan huyện thuê cho một chiếc xe ô tô lớn, ông bỏ tất cả đồ đạt ở lại, chỉ thu lầy tiền tài và những vật quí rồi sắm sửa ra đi.

Trước khi đi, ông vào khóc lạy từ quan huyện và đem theo một đứa cháu giao cho bạn, dặn rằng:

- Thằng nầy là Đèo Lầm Khẳng. Nó là con trai trưởng của thằng Phá nhà tôi. Tôi xem trong họ chỉ có nó là thông minh hơn cả. Chúng tôi đi lần này, chưa biết sống chết thế nào - vì “Ngài” đã thù; e rằng khó lòng trốn thoát - nên tôi phải đem cháu ký thác cho quan lớn, mong quan lớn nghĩ ân tình cũ, săn sóc nuôi nó hộ tôi. Khi nào nó khôn lớn, quan lớn sẽ kể lại lịch sử của gia đình nhà nó cho nó nghe.

Nói xong, ông Bỉnh sụt sùi, cáo từ ra về. Ông lại đem một đứa cháu bé nữa, mới 12 tuổi, con thứ hai Đèo Thắng Mãnh, gửi một người bạn thân khác, ông cai tổng cựu. Rồi, một buổi sáng, khi ông xem chừng Thần hổ đã trở vào rừng rồi, ông bèn đem họ hàng lên xe ô tô, cùng chạy sang Cẩm Thủy. Đến nơi, ông vào ở tạm nhà một người thông gia, bố vợ Thắng Mãnh. Ông kể lại cho thông gia nghe những lẽ khiến ông phải xin sang ở nhờ, và có khi, ngụ cư luôn ở Cẩm Thủy. Gia đình nhà ông Bỉnh ở Cẩm Thủy nghe chừng như yên ổn, bởi cớ sau khi ngụ được ba ngày ba đêm vẫn không thấy sự gì quái lạ xảy ra cả. Ông Bỉnh vững dạ, bèn thuê làm một cái nhà sàn rộng rãi, vững vàng, để dọn sang cho khỏi phiền lụy, khỏi chật chội.

Cách đấy bốn năm hôm sau, cả gia đình họ Đèo đã an cư tại huyện Cẩm Thủy, trên một chiếc nhà sàn cao sạch. Ông Bỉnh tưởng rằng thay chỗ ở tức là tránh khỏi nạn hổ thù. Ai hay đâu số vận họ Đèo ngày ấy đã tận, xui nên Thần hổ theo dõi được mãi tới Cẩm Thủy, dò biết được chỗ ở của cha con nhà thiện xạ làm hại nó khi xưa. Rồi một buổi chiều, vào quãng xâm xẩm tối, khi cả nhà ông Bỉnh vui vẻ ngồi xung quanh mâm cơm, đương mải mê ăn uống, một cái bóng đen dài, từ đâu không rõ, nhẩy xổ qua khuôn cửa, xông lên nhà sàn. Cha con Đèo Lắm Phá không còn thì giờ đâu đứng dậy đối địch với loài mãnh thú. Trong khi cả nhà kinh hoảng, kêu la cầu cứu thất thanh, Thần hổ cứ điềm nhiên quay sang trái, nhẩy sang phải, mỗi một lần cựa mình là một lần phân phát cho già trẻ lớn bé những cái vả, những cái tát, những cái ngoạm lẹ làng. Thương hại thay một gia đình vô tội, trong khoảng khắc, không còn ai sống sót! Thần hổ xám khôn lắm, trước tiên tát cho ông Bỉnh quỵ xuống đã, rồi quay vào cắn cổ người thứ hai khỏe nhất trong nhà là Lầm Phá. Xong đâu đấy nó mới lần lượt sửa cho đàn bà con trẻ, mỗi người một miếng đòn hằn. Trong khi hốt hoảng, chả ai kịp đề phòng, hóa nên cùng ngã gục xuống như một đống người bằng rơm rạ. Lúc ai nấy nằm ngổn ngang bất tỉnh nhân sự, Thần hổ mới để lại trên những xác chết cái dấu hiệu ghê gớm, dị kỳ: xác nào cũng bị móc mất mắt bên trái và mất hạ bộ. Công việc báo thù đã làm yên ổn cả, Thần hổ đứng nhìn một khắc cho hả giận, rồi vẫy đuôi một cái rõ mạnh, nhẩy vút qua cửa sổ, chui vào quãng tối âm u.

Ông cha Đèo Lầm Khẳng, từ đấy, đều hóa ra người thiên cổ.

Mối thù đã trả được, Thần hổ bỏ hai huyện Thạch Thành và Cẩm Thủy vào ẩn thân ở nơi rừng thẳm núi sâu. Dân hai huyện, trong năm sáu năm, không thầy tăm tích con ác thú ấy đâu nữa, nên được yên lòng làm ăn như cũ, không phải đêm ngày thấp thỏm lo sợ, hãi hùng. Song, dù thế mặc lòng, thổ dân bao giờ cũng vẫn nhất tâm sùng kính Thần hổ xám: một năm bốn mùa tế lễ, không vụ nào họ dám sao nhãng, đơn sai. Cũng có lẽ vì lòng thành của họ cải hóa được hổ thiêng, nên nó không xuống núi quấy nhiễu sự sinh tồn của họ nữa. Vả lại, ngày nay số trăm vết đỏ trong tai đã đủ, nó không cần phải giết người vô tội làm gì. Máu hiếu sát của nó nghe chừng cũng bớt nồng nàn, hăng hái. ông thầy Mo Slầy ở chợ Kim Sơn cho rằng Thần hổ chui vào động đã tĩnh dưỡng và tu luyện cho thành tinh; nếu tu đắc đạo, nó sẽ có thể sống ngoài ba bốn trăm tuổi. Đó là một lời phỏng đoán, song thổ dân tin là rất đúng, không ai dám ngạo mạn cãi là không đúng bao giờ. Vì tín ngưỡng đó, Thần hổ được sùng kính như một vị Thượng Thánh.

IV

Dân hai huyện Thạch và Cẩm được yên ổn trong khoảng ngót mười năm, kể từ ngày họ Đèo bị tuyệt diệt. Thần hổ biệt hai xứ ấy, không biết đi về phương nào. Nhưng bỗng một ngày kia - không hiểu vì sao, có lẽ tại lắm người nói xấu hay nguyền rủa nó, - nó đường đột trở về, bắt của nhà cai tổng cựu một con lợn rồi ngày đêm cứ đi quanh quẩn hoặc nằm phục mé ngoài nhà dáng chừng muốn rình mò một vật gì ở trong nhà ấy. Ông cai tổng thấy thế lấy làm sợ hãi quá, nhưng cố giữ vẻ khẳng khái điềm đạm, không lộ cho ai biết rằng ông lo ngại, ưu phiền. Ông cho gọi con nuôi là Đèo Thắng Hổ bắt nó phải chui vào trốn tránh trong một cái hầm, trốn tạm ít lâu để khỏi bị Hổ thần hãm hại. Thắng Hổ vốn là cháu nội ông Bỉnh, con thứ hai Đèo Thắng Mãnh, em Đèo Thắng Long. Trước khi bỏ nhà trốn lên Cẩm thủy, ông Bỉnh có đem cháu phó thác cho bạn chí thiết của ông là cai tổng cựu. Thấm thoát mười năm trời, Thắng Hổ đã hai mươi hai tuổi.

Ngờ đâu mối thù của hổ lại dai dẳng làm vậy mà loài quái vật kia nhớ mãi mãi không quên! Ai giun giủi cho nó dò biết được tông tích họ Đèo để theo dõi tới kỳ cùng, cái đó là một sự bí hiểm sau này ta sẽ giải. Hiện thời ta chỉ biết rằng Thần hổ sau khoảng mười năm, biết được chỗ ở của Thắng Hổ, rồi trở về huyện Thạch Thành rình bắt kẻ thù. Ông cai tổng cựu không biết làm thế nào cho con nuôi thoát nạn, không biết làm thế nào để giữ cho họ Đèo tránh khỏi vạ diệt môn. Ông luống cuống suy nghĩ ba bốn ngày đêm mãi sau cùng ông mới tìm ra được một phương mà ông cho là tuyệt diệu, ông bèn sai đặt một bàn thờ rất nguy nga long trọng ở trước ngõ, trên hương án bày bài vị của Thần hổ và các đồ lễ phân minh. Trên bài vị có hai chiếc lọng xanh xung quanh hương án thì có các sinh vật buộc vào cột hay trói bò ngổn ngang trên mặt đất. Thôi đủ cả trâu, dê, bò, lợn, lại kèm thêm một con hươu sao non hơ hớ và một con nai con vừa mới lớn lên. Tối đèn, ông sai thắp đèn đuốc sáng chưng, sai mở cờ gióng trống chiêng inh ỏi, rồi ông mặc áo thụng xanh, thành kính ra lễ một tuần. Khi hành lễ, ông khấn khứa rất lâu, đại khái nói rằng: “Thắng Hộ (ông kiêng tên Chúa Sơn Lâm) là giọt máu rớt của họ Đèo, nó là một đứa trẻ vô tội, không can dự gì đến việc làm của ông cha nó; vậy xin Ngài sinh phúc tha số mệnh cho nó. Gọi là lòng thành lễ bạc có chút quà mọn, xin Ngài nhận cho và để nó được sống sót, ơn ấy sẽ ghi sâu trong đáy dạ, chẳng bao giờ dám quên… vân vân…” Ông cai tổng cựu khấn xong lại cho đốt một lá sớ, rồi cả nhà ông cùng lần lượt ra quì lạy trước bàn thờ. Lễ bái đâu đấy, chiêng trống bèn nổi lên một hồi, rồi thiên hạ kéo nhau vào trong nhà, để lễ vật lại cho Ngài đến nhận.

Làm tròn phận sự, ông cai tổng cựu tưởng như thế sẽ được vừa lòng Thần hổ và chắc mười mươi Ngài sẽ tha chết cho đứa con nuôi vô tội của mình. Vì thế nên cúng vái xong xuôi, ông yên lòng đi nghỉ, sau khi dặn người nhà đóng cửa trong, cửa ngõ, cho kỹ càng. Độ quá canh một, người nhà ông cai tổng cựu đều yên nghỉ cả. Trên chốn đồng rừng vắng vẻ quang cảnh đêm khuya rất âm u, tịch mịch, khiến người xa lạ đến ngụ không tài nào không kinh sợ giùng mình. Một vẻ im lặng nặng nề, đầy những âm khí, đầy những bóng ma thiêng thú dữ chập chùng; tựa hồ bao la khắp vũ trụ. Thỉnh thoảng tiếng chim tử quy buồn bã, lại xé tan màn lặng lẽ của canh trường. Trong một đêm lạnh lẽo, hãi hùng như những đêm ấy, người phu Mường ngồi trên chòi, canh nhà ông cai tổng cựu, được thấy một sự làm cho anh ta mỗi khi kể đến, lại thấy tóc muốn đựng đứng lên và lạnh buốt cả xương sườn.

Trước hết, khi các đèn đuốc trên bàn thờ Thần hổ lần lượt tàn cả, khi bóng tối đến vây bọc lấy bàn thờ ấy, anh ta thấy, từ đường xa, chiếu thẳng lại nhà ông cai tổng một tia lửa sáng, khi đỏ hồng, khi đỏ dịu, ẩn hiện trong đám lá cây rậm rạp, đen xì. Tia lửa ấy dần dần tiến lại. Khi gần đến bàn thờ, anh ta nhận biết là một con mắt hổ, con mắt của Thần hổ chột. Thấp thoáng trong bóng tối, một thân hình dài đi dọc đi ngang. Làm quen với đêm mù mịt đã lâu ngày, anh phu Mường nhận rõ được hết những cử động của hổ. Anh ta lấy làm lạ lúc thấy loài mãnh thú kia tiến đến mé bàn thờ, hất cái bài vị xuống đất, rồi quay đi. Hắn không hề đụng đến những lễ vật bày xung quanh hương án. Hắn đi vòng hàng rào, ra phía sau nhà, tới một chỗ bụi thấp, nhảy thẳng vào sân trong, vụt như một cái bóng lẹ làng, mềm dẻo. Một tiếng huỵch. Phút chốc hổ đã đứng thẳng dậy, rồi lại phục xuống mé trước nhà ông cai tổng, điềm nhiên ngồi đó. Từ lúc ấy, nó ngồi yên không nhúc nhích, con mắt đăm đăm trông thẳng vào phía nhà hầm. Con mắt ấy, lạ thay! bỗng sáng rực lên như hòn ngọc quí, làm cho kẻ đứng cách xa độ chục thước có thể nhờ tia sáng trong con mắt ấy chiếu ra mà nhận thấy sự vật bề ngoài. Thần hổ giương mắt nhìn vào nhà không chớp, chăm chăm chú chú tỏa ra những ánh lửa đỏ ngầu, sáng chói, trong lúc đêm sương mù mịt, trông rất ghê sợ, lạnh lùng. Hổ ngồi như thế không biết trong bao lâu. Nó không hề cựa quậy không hề nhìn đi chỗ khác. Nếu con mắt nó không tia ra hào quang chói lọi, tố rằng nó vẫn còn sống thì anh phu Mường phải ngỡ rằng nó hóa ra tượng đá mất rồi. Vẻ im lặng của nó lại càng khiến anh ta thêm sợ hãi.

Đến khi trống điểm canh ba vừa dứt, anh phu Mường lại thấy một sự nữa làm cho anh ta bị một phe kinh khủng đến cực điểm. Người nhà ông cai tổng đương ngủ yên lặng cả thì bỗng đâu cánh cửa nhà dưới mở toang ra, một cái bóng vòng mé ngoài nhà trên, thất thểu chạy lên sân trước. Cái bóng chạy cứ dơ hai tay lên; khi chạy đến gần con mắt sáng thì như hốt hoảng, luống cuống, quì gục xuống. Lúc ấy, con mắt hổ bỗng thấy mờ đi, không sáng rực lên nữa. Hổ từ từ đứng dậy, giẫm lên cái bóng quì rạp trên mặt đất. Một tiếng hét tha thiết, đau đớn, một tiếng kêu thê thảm, bi ai, xé quãng không trung phẳng lặng. Đáp lại tiếng kêu ấy, hổ gầm lên một tiếng vang trời…

Bấy giờ mới bắt đầu một cuộc diễn trò hiếm có. Con mãnh thú cắn cái bóng đen kia tha đi vài bước rồi nhẩy chồm lên, hất cái bóng ấy lên trên không. Sáng sao lờ mờ, anh phu Mường nhận rõ cái bóng kia là thân hình một người đàn ông to lớn. Hổ vờn xác người hồi lâu, tung xác ấy lên rồi lại đỡ, tựa như một con sư tử hí cầu. Chơi chán rồi, hổ bỏ cái xác lại, nhảy qua bờ rào, đi mất.

Anh phu Mường lấy làm lạ không hiểu vì sao kẻ thiệt thân kia lại tự mình đến hiến da thịt cho hổ cấu xé. Anh còn đương hoảng hốt sợ hãi, sau khi được mục kích một tấn tuồng gớm ghê vừa mới diễn, anh còn đương đờ mắt há miệng, chân tay cứng đờ không cựa được, cũng không kêu được, thì, ngoảnh đi ngoảnh lại, Thần hổ đã biến tự lúc nào rồi. Hồi lâu anh mới định thần, bèn đánh bạo xuống chòi, vào đánh thức cả nhà ông cai tổng dậy, và lấy đèn đuốc ra soi xem người bị hổ cắn chết là ai.

Thiên hạ đều lấy làm kinh ngạc đến tột bực khi nhận rõ người ấy là Đèo Thắng Hổ. Cũng như mọi kẻ chết dưới vuốt Thần Hổ xám; đứa con nuôi vô phúc của ông cai tổng đeo cái dấu hiệu của Ngài: anh ta bị móc mất mắt bên trái và cắn mất hạ bộ. Lòng đau như cắt, ông cai tổng cúi xuống xác con nuôi, khóc một hồi thảm thiết; tưởng chừng Thắng Hổ là một giọt máu rơi của ông. Thực tình, ông vừa thương Thắng Hổ, vừa đau xót cho nòi giống bạn chí thân của ông nay đã khuất: nhà thiện xạ Đèo Văn Bỉnh. Thắng Hổ đeo một cái tên cường tráng; ông cha anh ta những mong sau này anh sẽ thắng nổi loài ác thú để trả thù cho gia tộc; ai ngờ, trái lại, anh ta đã không thắng nổi hổ, lại bị hổ vật cho tan thịt nát xương. Đau đớn thay! Ông cai tổng bùi ngùi cho đem xác Thắng Hổ vào nhà, khâm liệm tử tế, rồi ngày hôm sau mới thầy Mo về làm lễ thu hồn và bỏ xác vào một cây gỗ đục rỗng, dựng ở một góc nhà. Thắng Hổ phút đã thành ra ma xó.

Vì cớ gì anh ta tự đem mình hiến cho Thần hổ? Cái đó là một sự lạ nữa. Sau này ta sẽ hiểu rõ anh bị lạc mất linh hồn, bị một thứ ma rừng ám ảnh, một thứ ma mà dân Mường thường gọi là “ma trành”. Câu chuyện “ma trành” rồi đây các bạn sẽ dần dần được biết. Bây giờ ta hãy để ý đến giọt máu cuối cùng của dòng họ Đèo: Đèo Lầm Khẳng.

Đèo Lầm Khẳng là con trai cả Đèo Lầm Phá. Theo lời tổ phụ anh ta nói, thì Khẳng là đứa trẻ thông minh lanh lợi nhất trong nhà. Khi ông Bỉnh đem Khẳng phó thác cho quan huyện Thạch, Khẳng mới lên mười một. Thấm thoát tới bây giờ, Khẳng vừa đúng hai mươi mốt tuổi. Quả như lời ông Bỉnh đã bảo trước, Khẳng càng lớn lên càng tinh khôn; láu lỉnh vô cùng. Ông huyện thương chàng như con, cho cùng học với các cậu công tử. Khẳng học giỏi và mau tấn tới hơn con quan nhiều; quan huyện vì thế, lại càng quí như hòn ngọc. Trọng lời ký thác của ông bạn thân thiết đã bất hạnh trong một trường hợp đau đớn, thảm thương, quan huyện hết sức chăm nom săn sóc đến Khẳng. Quan không đám cho Khẳng đi lạc ra ngoài nữa bước; dẫu rằng Khẳng đã lớn tuổi, không bao giờ chàng được đi ra khỏi nhà một phút nào. Khẳng cứ phải lẩn quất trong thư viện hoặc trong tư thất, cùng lắm là được ra đến ngoài vườn mé trước công đường; hễ hơi trái phép một chút ắt bị quan huyện quở mắng cho thậm tệ. Quan lại phó cho hai người lính có tuổi, đứng đắn, vừa khỏe mạnh, vừa có kinh nghiệm, ngay đêm phải đi kèm bên mình Khẳng để trông non và che chở cho chàng. Tuy đã hai mươi mốt tuổi đầu, đi đâu một tí Khẳng cũng có hai bõ đi theo; tối đèn thì chàng nằm giữa, hai bõ nằm bai bên canh gác. Khẳng thực như một thằng tù bị giam lỏng nhưng một thằng tù được nưng niu chiều chuộng, quý báu vô cùng. Quan huyện coi Khẳng và yêu Khẳng có lẽ hơn cả các con ruột của ngài; ai cũng mừng cho Khẳng được sa vào một cửa sung sướng.

Thấm thoát mười năm, từ ngày ông Bỉnh đem cháu phó thác cho bạn để di cư sang Cẩm Thủy.

Từ ngày ấy, sau khi trị nhậm tại Thạch Thành năm năm, quan huyện đổi sang Cẩm Thủy. Quảng Xương, rồi quan được thăng hàm tri phủ, nhưng vì đã già nên ngài phải về hưu. Quan phủ vốn người Kim Sơn; nhân khi ở huyện Thạch, ngài có mua nhiều ruộng vườn và lập một trại lớn ở vùng đó, nên khi về trí sĩ, ngài đem cả gia đình trở lại huyện Thạch Thành. Về tới đất Thạch Thành, ngài bí mật dặn hai tên bõ già phải săn sóc trông nom cậu Khẳng cẩn thận hơn xưa, đừng sao nhãng chút nào mà có sự nguy hiểm xảy ra, thì không thể gỡ được nữa. Hai bõ già có biết chuyện họ Đèo, nên hết sức che chở cho giọt máu rớt cuối cùng của dòng họ ấy. Muốn tránh sự lộ tông tích của Khẳng, quan phủ bắt chàng cải họ bằng họ Trịnh. Từ thuở mười một tuổi Khẳng vẫn mang họ Trịnh, hóa nên lúc lớn lên, vẫn tưởng mình họ Trịnh. Chuyện gia đình của Khẳng, quan huyện cũng dấu kín không nói, chỉ nói với Khẳng là ông nội chàng đem chàng bán cho quan để làm con nuôi, và ông nội chàng nay đã thác. Lầm Khẳng được rõ có thế, chàng lấy làm lạ không hiểu vì sao duỡng phụ lại bắt chàng cấm cung mãi mãi thế này. Nhưng mà chàng cũng không bị cấm cung quá hai mươi mốt tuổi đâu! Một việc hiển nhiên sắp sửa bắt quan Phủ phải kể rõ lai lịch họ Đèo cho chàng được biết. Việc hiển nhiên ấy, tức là sự Thần hổ xám rình nhà ông cai tổng cựu. Ông cai tổng và quan phủ đã có lời hẹn nhau từ trước khi nào có sự biến động, thì phải báo nhau ngay, và khi báo xong, một bên phải hết sức úp mở và trùng trình rất lâu để giúp bên kia có thì giờ đánh tháo. Vì thế, khi Thần hổ đến rình nhà ông, ông cai tổng vội vã cho người sang phi báo để quan phủ biết: Rồi một mặt, đêm thì bắt Thắng Hổ vào hầm, ngày lại vẫn cho ra vào để giữ hổ đợi chờ trong non nửa tháng. Thực ra, ông cai tổng đã biết không trước thì sau, thế nào con nuôi ông cũng chết: nhưng ông cứ làm hết bổn phận, cho khỏi hổ thẹn với người bạn dưới suối vàng.

Trong lúc bên kia ông cai tổng đương lo ngại cho số mệnh Thắng Hổ, thì bên này quan phủ cuống quýt, sợ cho thân phận con nuôi ngài. Quan bèn gọi Lầm Khẳng và cả hai người bõ vào phòng kín mít, rồi bắt Khẳng ngồi yên, nghe ngài kể rõ lại căn nguyên bắt ngài phải giam hãm Khẳng như giam hãm một người có tội. Ngài lại thuật cho Khẳng biết la lịch của chàng. Ngài nói:

- Ngày nay con đã rõ vì cớ gì ông cha và bác con đều bị nạn diệt vong, cha phải tìm cách tìm hết cách, để bảo tồn lấy con vì con tức là giọt máu rớt cuối cùng, - cuối cùng, con nghe không? - của họ Đèo gần tuyệt diệt. Anh con ở bên nhà ông cai tổng cựu nay đương bị nạn, mà chưa chắc đã cứu nổi. Vậy nhân lúc này kẻ thù của con (quan phủ không dám phạm húy) chưa để ý đến con, thì con nên đi ngay, đi ngay đi, lên tỉnh mà lánh nạn. Cùng lắm, con nên ra hẳn một tỉnh thành náo nhiệt như Hà Nội chả hạn mà ẩn thân. Con có ở một chỗ đông đúc như Hà thành cha mới khỏi lo cho số mạng con được. Nhưng cốt nhất là con phải nghe cha: đừng bao giờ nên lẩn quất trở về rừng, về núi. Dù ở mé nào cũng vậy, con chớ nên đi săn bắn làm gì. Cứ an cư dưới chợ; mới ra, có lẽ con còn bỡ ngỡ, nhưng dần dà rồi cũng quen. Con cứ đi đi. Mỗi tháng cha gửi cho con năm bảy chục để chi tiêu, rồi sau này, cha liệu gửi gấm cho con, tìm cho con một việc làm; cha lại sẽ chọn nơi xứng đáng, lấy vợ cho con tử tế.

“Muốn bảo tồn lấy dòng họ, con cần phải có vợ. Sự ấy cha hiện đương lo, nhưng vì còn công việc bề bộn, hóa nên chưa làm xong được. Song le, con không ngại; bây giờ bởi chưng tình thế bó buộc, cha cho con được toàn quyền tự do, trong khi ngụ ở Hà thành muốn lấy ai thì lấy, miễn làm sao có nhiều con trai thì thôi. Nhưng, mấy người con gái dưới chợ mà con sẽ lấy sau này, có thể tất đều phải làm hầu cả. Còn như vợ chính thức của con, cha mẹ sẽ cố công để ý tìm tòi; khi nào tìm được chỗ môn đăng hộ đối, lúc ấy sẽ làm lễ linh đình cưới cho con. Cưới vợ, ta sẽ cưới theo lối Tàu, nghĩa là không cần chàng rể. Con cứ ở Hà Nội, cha mẹ sẽ đưa vợ con đến tận nơi. Con đừng lo ngại điều gì, cha xin quyết, xin đoan với con rằng: vợ con sau này sẽ đẹp lắm, đẹp lắm!

Nhưng ta hãy tạm gác chuyện đó. Con nên đi ngay, sáng sớm mai phải đi sớm. Trước hết, sang phủ Quảng Hóa, từ phủ Quảng con sẽ đi ô tô lên tỉnh, rồi từ tỉnh con sẽ đi tàu hỏa ra Hà Nội. Đường đi nguy hiểm nhất chỉ có từ đây sang phủ Quảng Hóa vì con phải theo đường rừng… nhưng mà không, đường ấy không đi được! Chết nổi! cha quên, không đi được, con ạ, không đi được! Nếu đi đường ấy, con sẽ qua nhà cai tổng, không nên, không nên! Vậy con phải đi thẳng đường Phố Cát, ra Bỉm Sơn, rồi con đi tuột tàu ra Hà Nội. Quãng ấy tuy toàn đường rừng cả, nhưng lúc nầy thì con lại phải can đảm xông pha trên con đường ấy. Tuy là đường khó đi, song trên khúc đường đó tính mệnh sẽ không bị nguy hiểm.

“Đây, cha hãy tạm cho con hai trăm bạc này làm lộ phí; đi xa con chớ nên đem nhiều của cải; dần dần sau này cha sẽ gửi cho. Đi theo con, cha sai hai bõ già của con và tám tên lính Mường mang đủ súng ống. Ngựa đã sẵn sàng cả rồi, mười một thầy trò con sáng sớm mai mờ mờ trời đất đã phải khởi hành, để đến trưa ngày kia kịp tới Bỉm Sơn kẻo lỡ tàu thì lắm điều đáng ngại. Con nên cẩn thận nhé! Chớ nên cậy sức mình trai trẻ, cường tráng, mà có khi thiệt hại cả một đời.”

“Thôi, cha nói thế đủ rồi. Bây giờ con nên vào lạy từ mẫu thân con và hôn hít các em con, rồi con chong chóng đi ngủ sớm để sáng mai mà dậy sớm!”

Ngày hôm sau trên con đường gập ghềnh ven sườn núi, chạy từ Thạch Thành song Phố Cát, ngòng ngoèo xuyên đám rừng rậm, một đoàn kỵ mã làm cho cát bay sỏi bắn mù trời. Trong đoàn kỵ mã đó, Đèo Lầm Khẳng, tâm hồn lo mong, hồi hộp, bỏ chốn đã chôn rau cho chàng, đi tìm hạnh phúc ở một vùng khác, đi tìm sự sinh hoạt êm đềm lặng lẽ, xa lánh mặt kẻ thù tàn ác, ngõ hầu bảo tồn lấy giọt máu cuối cùng của một dòng họ quí phái bị kẻ thù sắp làm cho tuyệt diệt suy vong.

« Lùi
Tiến »