Thần thoại La-Hy cho rằng khi khai thiên lập địa khởi thủy có ba vị thần linh: thần Hỗn Mang, nữ thần Đêm Tối và thần Ái Tình.
Thần Hỗn Mang kết hợp với nữ thần Đêm Tối sinh ra thần Định Mệnh. Thần nhân này đui hai con mắt, có toàn quyền thống trị, mỗi khi phán quyết một điều gì lại ghi trên một cuốn sách bằng đồng. Các thần nhân sau này có thể dùng quyền lực của mình ngưng việc thi hành những phán quyết đó, nhưng không thể cưỡng lại được.
Titéa, nữ thần Trái Đất
Nữ thần Titéa xuất hiện sau thần Định Mệnh và đồng thời với Tartare là một vực thẳm u tối ở kế bên Trái Đất. Titéa sinh ra Uranus, rồi thần Biển Cả và những thần nhân khổng lồ và độc long Cyclopes. Những thần nhân này bị Uranus đạp xuống vực thẳm Tartare.
Uranus
Uranus kết hợp với Titéa sinh ra đám anh em Titan, gồm có, ngoài Titan, thần Đại Dương, Téthys, Céus, Hypérion tức thần Mặt Trời, Japet, Rhéa hay Cybèle, Thémis, Mnémosyne và Saturne tức Cronos. Sau đó Titéa lại sinh thêm Briarée và Gyas là hai thần nhân đại lực mỗi người có năm mươi đầu và một trăm tay.
Uranus đạp hết thảy con cái xuống vực thẳm Tartare. Titéa tức giận chế ra một lưỡi hái và súi dục các con trả thù. Saturne lãnh nhiệm vụ đó và chém Uranus bị thương. Máu của Uranus rớt xuống Đất nẩy sinh ra ba nữ thần Đại nộ (les Furies); một hạt máu rớt xuống biển sinh ra nữ thần Vénus.
Saturne
Saturne kết hợp với Rhéa và lên ngôi tự trị thay thế cho Uranus. Titan viện thứ bậc huynh trưởng của mình để đòi địa vị đó, nhưng Titéa đứng ra dàn xếp: Titan sẽ kế vị Saturne sau khi Saturne chết và Saturne không được quyền có con trai. Từ đó hễ sinh được con nào, bất kể trai hay gái, Saturne đều ăn thịt hết. Ba người con đầu là Vesta, Cérès và Pluton chịu số phận đó. Tới khi Rhéa sinh hạ Jupiter và Junon, Saturne ăn thịt Junon, còn Jupiter thì được Rhéa đánh tráo bằng một cục đá rồi đưa tới đảo Crèle giao cho các nữ thần Nymphes (Sơn Tinh và Thủy Tinh) nuôi giúp. Tại đó Jupiter bú sữa của con dê cái Amalthée, trong khi các tu sĩ của Cybèle thay nhau nhảy múa, ca hát để ngăn không cho tiếng khóc của Jupiter lọt tới tai Saturne. Sau này Jupiter nhớ ơn con dê Amalthée nên đưa nó lên Trời cùng với hai con dê non của nó. Jupiter lại lấy một cái sừng của Amalthée tặng cho các nữ thần Nymphes. Cái sừng đó có hiệu lực thỏa mãn bất kỳ sự ước muốn nào nên được mệnh danh là sừng vô tận (corne d'abondance).
Titan phát giác ra vụ gian lận đó bèn cùng các con đứng ra đối địch với em. Saturne bị thua và phải giam ở một nơi. Khi đó Jupiter còn nhỏ liền tìm tới ra mắt cha. Theo lời khuyên của Metis, con gái của Đại Dương, Jupiter kiếm cho cha một liều thuốc nôn mửa; Saturne mửa ra bốn người con đã ăn thịt khi trước. Jupiter cùng với bọn anh em, và được sự trợ giúp của các thần Cyclopes với những mũi tên sấm sét, đứng ra tranh đấu kịch liệt với Titan và các con. Jupiter dùng sấm sét đánh tan phe Titan và đưa Saturne lên ngôi ngự trị trở lại. Nhưng Saturne e ngại sức lực của Jupiter lập kế hại con. Jupiter nổi giận đánh đuổi Saturne ra khỏi nhà trời và ngự trị thay thế chỗ của Saturne.
Bị đuổi xuống hạ giới, trở thành một thường nhân, Saturne tìm tới trú ngụ tại Ý, trên lãnh thổ của vua Janus. Nơi này sau được đổi tên là Latium, tức là nơi trú ngụ. Đền đáp lại sự tiếp đón nồng hậu của vua Janus, Saturne dạy cho ông ta nhìn biết tiền vận và hậu vận của mọi người, dạy cho dân chúng tại đó biết công việc canh tác, và khiến cho khu vực đó trở nên trù phú đến độ được mang tên là thời hoàng kim. Về sau dân chúng La Mã nhớ công ơn của Saturne hằng năm có mở hội gọi là les Saturnales. Nhờ được phồn thịnh như vậy dân chúng La Mã trở nên ăn chơi phóng túng vô độ. Tại La Mã người ta có lập đền thờ vua Janus - tượng hình bằng một pho tượng có hai mặt ngó ra hai phương khác nhau để ám chỉ sự thấu hiểu cả quá khứ lẫn tương lai - ngôi đền này chỉ được đóng kín cửa những khi thái bình thịnh trị. Nhưng trong vòng bảy thế kỷ, ngôi đền chỉ được đóng cửa có ba lần: lần thứ nhất dưới thời vua Numa Pompilius (714-701 trước Công Nguyên), lần thứ hai sau trận chiến tranh thứ hai giữa Rome và Carthage (218-201 trước Công Nguyên), và lần thứ ba dưới triều vua Auguste (63 trước CN - 14 sau CN).
Ngày thứ bảy trong Tây lịch (Saturday) là ngày kỷ niệm Saturne.
Cybèle, hay Rhéa
Rhéa là em gái và cũng là vợ của Saturne, tuy là con gái của Titéa, nữ thần của Trái Đất, nhưng thường được coi như chính thức là nữ thần của Trái Đất dưới danh hiệu Cybèle để biểu dương cho sự phong nhiêu của Thiên Nhiên. Là mẹ của hầu hết các thần nhân nổi tiếng, Cybèle còn mang tên là Mẹ của các thần nhân, Bà Nội, vị nữ thần tốt lành hay Ops (kho tàng). Sau khi sinh ra Cybèle, Titéa đem bỏ phơi trong rừng, nhưng được các thú vật lo chăm sóc. Ban đầu dân ở Phrygie lập đền thờ Cybèle, sau tới dân ở đảo Crète, ở Hy Lạp, rồi sau cùng ở La Mã. Trên ngọn đồi Palatin, trong ngôi đền thờ thần Chiến Thắng, có một tảng đá không ra hình thù gì tượng trưng cho nữ thần Cybèle và sự bền vững của Đế Quốc La Mã. Nơi khác nữ thần Cybèle được tạc hình một người đàn bà vạm vỡ, ngồi trên một chiếc xe do bốn con sư tử kéo, tay cầm một cành cây hay một chiếc đai bằng gỗ chêne, trên đầu có mang một chiếc miện hình một tòa thành. Cành chêne biểu tượng món thực vật đầu tiên của loài người, tòa thành tượng trưng cho những đô thị mà Cybèle bảo trợ cho. Có pho tượng lại tả Cybèle tay cầm một chiếc chìa khóa ngụ ý nhắc tới kho tàng mà Trái Đất mang ở trong bụng. Những tu sĩ coi đền thờ Cybèle ở Phrygie được gọi là Corybanthes và Galles, ở đảo Samothrace là Cabires, ở Crète là Curètes và Dactyles. Mỗi khi làm lễ họ theo nhau chạy quanh thần tượng theo nhịp và uốn éo người rất dẻo. Mỗi lần làm lễ cúng nữ thần Cybèle cũng rất là nhộn nhàng và sau đó bày ra những cuộc liên hoan rất ư phóng túng.
Jupiter, hay Zeus
Lên ngôi ngự trị, Jupiter giao Biển cả cho Neptune, Địa ngục cho Pluton, còn mình chỉ giữ Thiên Cung mà thôi. Jupiter cưới nữ thần Métis, tức là thần Lý Trí. Nhưng rồi Jupiter cũng ăn thịt luôn vợ vì sợ rằng lời tiên tri của vợ sẽ thực hiện. Métis có một lần nói rằng Jupiter sẽ sinh ra một người con còn vũ dũng hơn cha nhiều. Sau đó Jupiter lại cưới nữ thần Thémis, tức là thần Công Minh và mẹ của Thời Khắc; rồi nữ thần Eurynome, đẹp nhất trong đám Océanides là con gái của thần Đại Dương và nữ thần Téthys, Eurynome sau sinh ra ba nữ thần Duyên Dáng (les trois Grâces); rồi Cérès, là em gái của Jupiter, sau sinh ra Proserpine; rồi Mnémosyne tức là nữ thần Trí Nhớ, sinh ra chín nữ thần Ly Tao (Muses); rồi nữ thần Latone, cũng là em gái của Jupiter, sinh ra Apollon và Diane, là những thần nhân xinh đẹp nhất; sau cùng tới Junon, cũng là em gái và sẽ là vợ chánh thất, Junon sinh ra Hébé, Mars và Vulcain.
Jupiter phải đương đầu với một cuộc giao tranh dữ dội với bọn Khổng Lồ, do Trái Đất sinh ra. Đó là những quái nhân đuôi rắn có vảy. Các quái nhân này muốn trèo lên được ngọn núi Olympe phải chồng chất núi nọ lên núi kia, đem núi Ossa chồng lên núi Pélion. Hầu hết các thần nhân khác, kể cả Prométhée là con của Japet cũng hùa theo trợ giúp Jupiter, bọn Khổng Lồ bị thua, thần Encelade vũ dũng bị chôn sống dưới núi Etna và từ đó vẫn còn lục đục ở dưới núi đó. Trái Đất muốn trả thù nên sinh ra một quái nhân còn ghê gớm hơn nhiều, đó là thần Bão Táp đầu vươn cao tới các vì sao. Hai tay dang ra thấu tới hai đầu mỏm của nhà Trời có mọc hằng trăm đầu rắn; hai bên đùi có cả ngàn con rắn độc dính chặt, mỗi khi chúng ngóc đầu lên lại phát ra những tiếng ghê rợn; mình mọc đầy lông cứng, còn mớ tóc dài buông tỏa xuống vai luôn luôn được một cơn bão tố thổi tung lên. Khi các thần nhân trông thấy thần Bão Táp lao mình lên ngọn núi Olympe đều hoảng sợ bỏ chạy hết, rồi trốn qua Ai Cập ẩn náu dưới hình thức các thú vật. Sau đó Jupiter cũng bị bắt và giao cho một con rắn canh giữ. Nhưng thần Mercure khôn khéo đã giải cứu được cho Jupiter. Thần ngự trị ở núi Olympe khi đó bèn dùng sấm sét đánh tan thần Bão Táp và đẩy xuống vực Tartare.
Từ đó Jupiter ngự trị trên núi Olympe không còn bị phá rối nữa. Chỉ một lần Junon nổi giận vì tính háo sắc của Jupiter mưu toan xúi bẩy các thần nhân nổi lên chống lại Jupiter. Cuộc âm mưu đương tiến triển thì một nữ thần dưới Biển cả là Thétis phát giác ra. Thétis đem Briarée với một trăm tay tới phò tá cho Jupiter khiến cho các thần nhân đành chịu im hơi. Jupiter trừng trị Junon bằng cách đem treo lửng lơ giữa Thiên Cung và Trái Đất bằng một sợi xích bằng vàng hai chân có đèo hai cái đe. Vulcain mon men tới bên mong giải cứu cho mẹ bị đạp nhào thẳng xuống đảo Lemnos, bị gãy hai cẳng và suốt đời chịu què gãу. Trên Thiên Cung lại thái bình như cũ và Jupiter toàn quyền thống trị.
Núi Olympe, tức Thiên cung
Núi Olympe là nơi cư trú của các thần nhân. Theo tín ngưỡng cùa dân gian núi này ở trên ngọn cao nhất trong các dãy núi ở Hy-Lạp. Đó là ngọn Olympe tại Thessalie. Vulcain có cất trên ngọn núi đó một thành phố (la ville olympique), đô thị này ở cao thấu tận trời. Jupiter ngồi trên một chiếc ngai vàng để cai trị cả hoàn vũ. Phụ tá Jupiter có một hội đồng mười hai thần nhân gồm toàn anh em, em gái hay con của Jupiter. Đó là Junon ngồi kế bên Jupiter; Neptune, thần của các biển cả; Mercure, con trai của Maia là con gái thần khổng lồ Atlas; Apollon, Mars, Vulcain, Cérès, Minerve, Vesta, Diane và Vénus. Các thần nhân này thảo luận và định đoạt số phận của các thường nhân con cái của Prométhée. Nhưng khi rỗi rãi, các thần nhân uống rượu nectar và dùng món ăn trên Thiên cung mệnh danh là ambroisie.
Các nữ thần Van Nài (les Prières)
Ngự trị trên Thiên Cung, Jupiter có toàn quyền chi phối các hiện tượng trong trời đất. Jupiter thấu suốt mọi sự việc và là vị thần nhân duy nhất có toàn quyền tự do chỉ bị hạn chế bởi Định mệnh. Quyền lực của Jupiter không những đối với không gian mà còn đối với loài người ở hạ giới. Các vua chúa ở hạ giới được sự bảo trợ của Jupiter, nhưng cũng như mọi dân chúng khác, phải chịu sự phán xét của Thiên Cung. Những ai bị tội chỉ còn cách là năn nỉ với các nữ thần Van nài. Đó là các cô con gái tật nguyền của Jupiter, vổn ngoan ngoãn, luôn luôn phải lo chữa chạy những tai họa do Até, một cô chị chuyên môn làm ác và phá phách. Tóm lại, Jupiter là biểu tượng của sức mạnh, công minh và tình thương.
Được tôn thờ ở toàn thể Hi-Lạp và La Mã, đâu đâu cũng lập đền thờ. Ngôi đền chính được lập tại Elide, trẻu vùng núi Olympe. Dâng cúng Jupiter người ta dùng dê, cừu hay bò đực lông trắng hai cái sừng được nạm vàng, không bao giờ dâng cúng người. Có nơi chỉ dâng cúng bột, muối và trầm hương. Cây chêne là biểu tượng của Jupiter. Ở Epire, trong rừng Dodone, những lời phán truyền của Jupiter được truyền qua tiếng xào xạc của những ngọn cây chêne. Loài vật mà Jupiter ưa nhất là chim đại bàng.
Ngày thứ năm là ngày của Jupiter.
Junon, hay Héra
Junon có đặc điểm là hai cánh tay rất trắng. Bản tính kiêu ngạo và hay thù vặt, công việc chính của Junon là kiếm cách rửa hận với những cô vợ ở dưới trần thế của Jupiter cùng đám con cái của họ. Junon rất hay cáu kỉnh, núi Olympe thường vang tiếng la của Junon. Hết sức phản đối những thói lục buông thả, Junon lo săn sóc tới đám cưới của các con gái, đích thân đưa cô gái tới phòng riêng và cũng trông nom cả mỗi khi có vụ sinh sản. Junon là biểu tượng của sự thánh thiện giữa vợ chồng. Dựa vào quyền lực của Jupiter, Junon có toàn quyền thống trị, không khác gì Jupiter, trên các hiện tượng trong trời đất. Cuộc kết hợp giữa Jupiter và Junon là biểu tượng của những cơn bão tố dưới trần thế và đồng thời cũng chứng minh cho sự phong nhiêu của vũ trụ. Junon được thờ phụng tại các đô thị mà người cầm đầu chủ trương khắc khổ, chẳng hạn như Argos, Mycènes. Sparte và là thần nhân bản mệnh cho dân tộc La Mã.
Những khi dâng cúng dân gian dùng một con cừu non hay một con lợn cái, không bao giờ dâng cúng bò cái vì trong thời chiến tranh giữa các thần nhân và bọn Khổng lồ, Junon chạy trốn qua Ai Cập và đội lốt bò cái. Junon ưn nhất loài công biết kêu.
Minerve, hay Athéné
Sau khi ăn thịt bà vợ đầu tiên Métis, Jupiter bị nhức đầu không sao chịu nổi. Jupiter bèn sai con là Vulcain lấy búa táng một cú thật mạnh lên đầu. Cái sọ hé mở và nữ thần Minerve vụt nhảy ra, trên đầu có mang mũ sắt, tay cầm thương, lanh lẹ, hung tợn như tia chớp mà nữ thần này là biểu tượng.
Minerve là một nữ thần rất mực thông minh, một nữ thần vừa hiếu chiến vừa chủ hòa, vì chỉ có sau khi chiến thắng mới có hòa bình. Nữ thần của chiến tranh, Minerve ưa tham gia những cuộc tính toán khó khăn và khuyến khích các bực anh dũng phải có một tấm lòng can đảm biết bình tĩnh và suy xét. Nữ thần của hòa bình, Minerve bảo trợ các thủ công nghiệp và công việc canh tác, đàn bà dệt vải được Minerve chỉ vẽ cho, các nhà thủ công và các nghệ sĩ đủ mọi ngành, các công nhân về trí óc, các triết gia, thi sĩ, các nhà hùng biện đều được sự bảo trợ của Minerve. Với tư cách này, Minerve là biểu tượng chân xác nhất của dân tộc Hy lạp ưu hoạt động, khéo léo và nghệ sĩ một cách sâu sắc. Dân thành Athènes dựng tại khu Acropole một đền thờ nữ thần Đồng Trinh Minerve, tức là đền Parthenon, cứ bốn năm một lần lại bày ra một cuộc tế lễ tưng bừng (les Panathénées).
Minerve còn mang tên Pallas, do tên một tướng Khổng lồ mà Minerve đã giết chết khi chạy tới cứu Jupiter. Minerve là con gái yêu nhất của Jupiter. Trên ngực Minerve có đeo tấm égide (danh từ Hy Lạp có nghĩa là con dê cái) làm bằng da con dê Amalthée, chỗ khuy cài có gắn cái đầu con sứa Gorgone, chung quanh có rắn quấn. Có nơi lại cho rằng égide là một tấm mộc bên trên có bao bằng da con dê Amalthée nhưng ở chỗ núm có gắn đầu con sứa Gorgone. Apollon, Jupiter và Minerve thường dùng tấm mộc đó để làm cho dân gian khiếp sợ và để báo mỗi khi sắp có bão tố.
Loài chim dành riêng cho Minerve là con cú. Người ta cho rằng loài chim này tốt vì con mắt của nó thấu suốt được đêm tối, cũng như óc thông minh thấu suốt được sự u ẩn của sự vật.
Apollon, hay Phœbus
Apollon là anh em sinh đôi với Diane, và là con trai của Jupiter và Latone, con gái của Céus. Apollon sinh ra tại đảo Délos. Hòn đảo này do thần Neptune vì cảm thương con gái của Céus bị Junon hạ lệnh cho nữ thần Trái Đất xua đuổi cho nên khiến nổi lên ở giữa biển Egée. Vừa lọl lòng ra, Apollon đã dùng mũi tên giết chết con rắn Python do bà vợ hay ghen của Jupiter sai tới ám hại Latone. Da con rắn sau dùng để bọc hòn đá trên đó bà đồng tiên tri (pythonisse) ở Delphes ngồi để giải những lời sấm ký. Để kỷ công tài vũ dũng của Apollon trên núi Parnasse, dân chúng thành Delphes cứ bốn năm lại mở hội một lần gọi là Jeux Pythiques.
Apollon sinh trai nhất trong số các thần nhân nên được coi như vị thần linh của ánh sáng. Trước khi được về nhà Trời, Apollon bị một thời kỳ đầy ải dưới hạ giới. Apollon dùng tên bắn bọn Cyclopes mà Apollon cho rằng đã có tội gây nên sấm sét để Jupiter dùng đánh con trai Apollon là Esculape. Về ẩn ở Thessalie, Apollon coi bầy thú vật cho vua Admète cho tới khi Jupiter phục hồi chức vị cho và sai Apollon phụ trách gieo rắc ánh sáng trên khắp mặt địa cầu.
Apollon thật ra không phải là thần Mặt Trời. Thần Mặt Trời là một trong số anh cm Titan, tên là Hypérion. Apollon chỉ là vị thần nhân đánh xe cho Hypérion. Ở nhiệm vụ này Apollon mang tên là Phœbus, tức là ánh sáng chói lói. Thần linh của ánh sáng và sức nóng, Apollon đem sức sống cho mọi sinh vật, giúp cho trái cây ương chín, lúa mì trổ bông; nhưng vì sức nóng, Apollon cũng làm cho mọi vật phải khô cháy, những mũi tên của Apollon có thể làm chết người được. Do đó, Apollon còn là vị thần linh của sự chết, của quân đội, lúc nào cũng vũ dũng và chiến thắng. Trái lại, Apollon cũng làm cho tiêu diệt những chướng khí và khiến cho không khí được trong lành. Cha của thần y dược Esculape, Apollon cũng giữ vai một danh y. Apollon không những làm cho thân thể được thanh sạch mà còn làm tan biến được những u ám trong tâm hồn, đem cái đẹp tới trước các thần nhân; những kẻ can phạm biết hối quá đều cầu khẩn nơi thần Apollon; Apollon cũng làm dịu bớt những nỗi thắc mắc trong tư tưởng con người và khiến cho linh tính của con người trở nên hòa dịu hơn. Apollon cũng là thần nhân của ca nhạc, của âm điệu, của những nguồn cảm hứng. Apollon cầm đầu các nữ thần Ly Tao giáng mộng cho các nữ tu ở Délos, Ténédos, Claros, Patare, Cumes, La Mã, trên ngọn núi Palatin, tại đó vua Auguste cho xây một tòa đền để dâng cúng vị thần linh mà nhà vua thờ kính đặc biệt. Nhưng ở Delphes ngôi đền thờ Apollon đẹp nhất, lịch sự nhất, là được nổi tiếng hơn cả. Muốn lập một đô thị, một ấp mới, người ta lại cầu khẩn tới Apollon để được soi sáng khi được thiết lập những luật lệ. Tại Hy Lạp, Apollon tham gia hầu hết mọi công việc liên quan tới công chúng.
Các nữ thần Ly Tao (les Muses)
Các nữ thần Ly Tao do Apollon cầm đầu ban hợp xướng đều là con gái của Jupiter và Mnémosyne. Các nữ thần này ở hoặc trên núi Olympe ở Thessalie, hoặc trên núi Piérus ở Macédoine (do đó có thêm tên Les Piérides), hoặc trên núi Hélicon, tại xứ Ascra ở Béotie, hoặc trên núi Pinde, ở giữa Epire và Thessnlie, hoặc trong vùng Phocide, trên hai mỏm núi Parnasse. Suối Hippocrène, ở gần núi Hélicon, được dâng cúng cho các nữ thần Ly Tao. Suối Hippocrène do con ngựa có cánh Pégase, sinh ra do máu của con Sứa Gorgone, dùng móng đạp vào sườn núi Hélicon khiến cho ngọn suối bật ra. Con ngựa Pégase thường chở trên lưng các thi sĩ và đưa họ lên tận trời. Pégase ăn cỏ quanh quẩn ở bên bờ suối Hippocrène, hay suối Castalie, ở gần núi Parnase, hoặc trên bờ sông Permesse bắt nguồn từ trong lòng núi Hélicon. Các nữ thần Ly Tao gồm có tám vị và chủ trì hết mọi thứ nghệ thuật do trí não, không phân biệt riêng mỗi vị cho một môn nghệ thuật. Mãi sau này, từ thế kỷ thứ XVII, người ta mới căn cứ vào ý nghĩa các tên Hy Lạp để đặt định cho mỗi vị một bộ môn nghệ thuật riêng.
Clio (Nàng nổi danh) là nữ thần của môn Sử học. Nữ thần này được biểu tượng tay trái mang một cuốn sách với hàng chữ Thucydide, là tên một sử gia Hy Lạp thế kỷ thứ V trước Công Nguyên.
Euterpe (Nàng say người) lù nữ thần của âm nhạc. Nữ thần này được biểu tượng tay mặt cầm hai ống tiêu.
Thalie (Bông hoa tươi vui) là nữ thần của hài kịch. Nữ thần này rất dễ nhận với chiếc mặt nạ cười nhăn cầm trên tay hay mang trên đầu.
Melpomène (Nàng đang hát) là nữ thần của bi kịch. Thường thường nữ thần mang trên tay chiếc mặt nạ bi thảm của Hercule.
Terpsichore (Nàng ưa nghe hợp xướng) là nữ thần của môn vũ.
Erato (Nàng đang yêu) là nữ thần của ngành thi ca bi thiết.
Terpsichore và Erato đều mang trên tay một cây đàn ly tao, nhưng Terpsichore bao giờ cũng ngồi, còn Erato thì thường đứng như sẵn sàng nhảy múa trong một dáng điệu say mê.
Polymnie hay Polyhymnie (Nàng có nhiều bản ca) không có nhiệm vụ rõ rệt. Thường thường hay bị lẫn với mẹ là nữ thần Mnémosyne, nữ thần của trí nhớ, được biểu tượng bằng một dáng điệu suy tư.
Uranie (Nàng trên trời) là nữ thần của thiên văn học hay chiêm tinh học, được biểu tượng tay cầm một trái cầu.
Calliope (Nàng xinh đẹp) là nữ thần oai nghi và nhiều uy tín nhất trong đám chín nữ thần Ly Tao, chủ trì loại thi ca trường thiên oai hùng và sự đại hùng biện. Các thi sĩ thường thích khẩn cầu nữ thần Calliope để được cảm hứng. Nữ thần này được biểu tượng một tay cầm chiếc kèn đồng và tay kia mang một bài thơ tràng thiên.
Những khi các nữ thần Ly Tao cùng giong chơi, thần Apollon với tư cách người lãnh đạo các nữ thần (Musagète), đầu mang một vòng lá chiến thắng, tay cầm cây đàn Ly Tao, đi dẫn đầu mở đường.
Diane, hay Artémis
Em gái sinh đôi của thần Apollon, thần của ánh sáng, của ban ngày, Diane là thần của ánh sáng trăng ban đêm. Apollon còn mang danh là Phœbus, Diane cũng có tên là Phébé (ánh sáng chói lói). Diane là nữ thần của ánh sáng trong trẻo. Trông gương đau khổ của mẹ, Diane chán ngán chuyệu hôn nhân, nguyện giữ đồng trinh, và cũng bắt các tu sĩ, các nữ tu cùng các nữ thần khác phải theo như vậy, nếu sai lời sẽ bị trừng phạt nặng nề. Diane ưu những vẻ đẹp hoang dại của những vùng thôn quê cùng những thói tục bình dị, thuần phác. Khu vực được Diane chuộng nhất là vùng Arcadie, xứ của những người chăn dê và các nhà nông. Diane thường phù trợ cho hai loại người này và được họ sùng bái. Cùng với các nữ thần, chạy trước có bầy chó, Diane chuyên giong ruổi các rừng bụi, đuổi theo các thú dữ và dùng tên bắn chết. Khi nghỉ ngơi, Diane lại cùng với anh là Apollon dẫn đạo ban hợp xướng các nữ thần Ly Tao, hay cùng với họ nhảy múa. Đối với những ai gây sự hiềm khích, Diane thích trả thù, nhiều khi còn tỏ ra ác độc. Trong những trường hợp như vậy, Diane rất được sợ nể và mang tên là Hécate (Nàng hại người từ xa) hay Hécate tái tam, ngụ ý ám chỉ tới ba tuần của mặt trăng. Không còn là mặt nguyệt trong sáng giữa vòm trời đầy sao, mà là mặt nguyệt đỏ gay, ẩn hiện sau từng tảng mây đen để đột nhiên xuất hiện khiến cho thường nhân phải run sợ. Diane được biểu tượng với ba đầu thú vật (ngựa, lợn, chó hay bò đực, chó và sư tử), là nữ thần của những ngã ba đường (la Trivia), nữ thần của các bà phù thủy, của những vẻ đẹp cũng như những sự kinh sợ trong đêm tối. Ở Tauride, chính Diane đã đòi được dâng cúng sinh vật người. Ngay tận Địa Phủ cũng có dấu vết của Diane.
Ngôi đền thờ Diane lộng lẫy nhất là ở Ephèse, tại Ionie, một trong số bảy kỳ quan của thế giới. Đúng ngày sinh của Alexandre đại đế, một anh chàng điên, tên Erostrate, muốn lưu danh hậu thế đã nổi lửa đốt ngôi đền này. Tại đảo Delos thường mở những đám hội huy hoàng nhất để kỷ công Diane.
Thứ hai, ngày của mặt trăng, là ngày của Diane.
Mars, hay Arès
Mars là con của Jupiter và Junon. Người ta cho rằng Junon sinh ra Mars sau khi nghe lời nữ thần của mùa xuân Flore hít hương một bông thơm mọc tại cánh đồng Achaie.
Mars là thần của chiến tranh, man rợ, hung hãn, ưa thích các vùng hoang dại ở miền Bắc Hy Lạp, chẳng hạn như vùng Thrace, nơi thường có nhiều bão tố. Mars ưa chuyện chém giết đổ máu. Mars không giống như các thần nhân khác chỉ đứng về phe này hay phe kia: ngồi trên một chiếc xe ngựa, Mars tham dự một cách hung hãn các cuộc giao tranh; tiếng la hét vang lừng át cả tiếng hàng vạn người; đứng bên Mars, Bellone, vừa là em gái vừa là vợ của Mars, đầu tóc rũ rượi, mắt tóe lửa, vút trong không khí cây roi da vấy máu. Chiếc xe đi tới đâu reo rắc sự khủng khiếp, giết chóc.
Người Hy Lạp không hề tôn sùng vị thần linh tàn ác và ngu độn, chính các thần nhân cũng thấy đáng ghê tởm. Dân Hy Lạp một phần nữa không tôn thờ Mars vì thấy tính cách thần nhân này trái ngược với bản chất ham nghệ thuật của họ. Trái lại, người La Mã lại chuộng và coi Mars như một thần nhân cao quý nhất, thứ thần bản mệnh của cả quốc gia, cha đẻ ra Romulus và Rémus. Ngay từ thời Numa Pompilius đã có lập đền thờ, có những tu sĩ chuyên trông coi ngôi đền tàng trữ mười hai tấm khiên (anciles). Tục truyền rằng một trong mười hai tấm đó rớt từ trên trời xuống, để khỏi bị đánh cắp mất người ta chế thêm mười một tấm khác giống hệt cùng để thờ một nơi. Các tu sĩ trông coi ngôi đền thờ đó mệnh danh là Saliens. Mars vốn ưa những cuộc thao diễn tại đấu trường nên mỗi khi có bày ra những cuộc thịnh điển như vậy đều có thiết lập bàn thờ và các đấu trường đó được gọi là đấu trường của Mars (champ đe Mars). Mỗi khi có chiến trận người ta cũng cầu cúng Mars và mỗi khi thắng cũng dâng cúng nữa. Khác với Apollon, thần linh của sự chiến thắng, cầu Mars không hẳn là chắc chắn sẽ thắng.
Loài vật dâng cúng cho Mars là con chó sói, một loài vật hung ác và ưa đánh nhau. Người Sabin thờ thần Mars dưới biểu tượng một mũi giáo và mệnh danh thần linh này là Quirinus (do chữ Hy Lạp cổ quiris là mũi giáo). Dân La Mã còn có tên là Quirites cũng nguyên do từ đó. Romulus, con trai của Mars cũng có tên Quirinus. Trong niên lịch của người La Mã, tháng đầu năm mang tên Mars vì Mars được coi như vị thần linh chủ về các trận mưa bão đầu mùa và độ cho công việc cày bừa, đồng áng.
Ngày Thứ ba trong tuần là ngày của Mars.
Mối tình vụng trộm của Mars và Vénus
Mars và Vénus chia xẻ một mối tình vụng trộm. Sợ sáng ra Phoebus bắt gặp hai người với nhau, Mars vẫn đặt Alectryon đứng canh, Alectryon là đầy tớ được tin yêu nhất của Mars. Nhưng một bữa Alectryon ngủ quên mất, Phoebus bắt gặp, chạy đi báo cho Vulcain, chồng của Venus. Vulcain choàng lên đôi cặp một tấm lưới vô hình, rồi cho mời hết thảy chư thần ở núi Olympe tới chứng kiến. Mars cáu tiết biến Alectryon thành một con gà trống. Từ đó mỗi ban mai khi mặt trời sắp ló, con gà Alectryon lên tiếng gáy báo hiệu.
Vénus, hay Aphrodite
Khi Uranus bị Saturne chém, máu rớt xuống biển nảy sinh ra Vénus. Từ dưới nước có nhuộm máu ngoi lên, Vénus trắng trẻo hồng hào được Zéphyre lấy một mảnh vỏ trai hứng lấy rồi đưa tới đảo Chypre giao cho các nữ thần Thời khắc (les Heures) nuôi dưỡng và giáo dục trước khi đem lên núi Olympe.
Chư thần khi trông thấy Vénus đều trầm trồ khen ngợi và bầu cho là nữ thần của sắc đẹp, của những gì làm mê hoặc mọi người. Để thưởng công Vulcain đã ra sức rèn đúc những mũi tên sấm sét cùng là chiếc ngai vàng và tòa lâu đài cho mình, Jupiter cho Vulcain lấy Vénus làm vợ. Vénus mang một vòng đai trong đó chứa đựng hết thảy những vì tốt đẹp say người của tuổi trẻ, vòng đai đó ai mang trên người cũng được trẻ đẹp như vậy. Tuy là thần cầm đầu cho Ái tình, các trò vui chơi, mọi thứ duyên dáng cùng là các cuộc vui đùa, Vénus cũng có khi nổi giận và giữ mãi thù hận: nếu bị đối xử lạnh nhạt Vénus trả thù một cách tàn nhẫn. Con của Vénus là Cupidon hay Eros, do mối tình vụng trộm với Mars, cũng đồng tính tình vừa dễ thương vừa tàn nhẫn như Vénus. Eros con của Vénus khác vời thần Ái tình thời khởi thủy, cho nên để dễ phân biệt người ta thường gọi con trai Vénus là Cupidon. Khi hay tin Vénus sinh hạ Cupidon, Jupiter muốn tránh những tai họa sau này do vị thần linh của Ái tình sẽ gây ra nên tìm cách sát hại đi, nhưng Vénus đem giấu kỹ trong rừng để cho các thú dữ cho Cupidon bú. Lớn lên, vị thần dũng mãnh và luôn luôn tươi trẻ này chỉ thích dùng tên bắn thủng tim của các thường nhân, để rồi Vénus tiếp tục đem những rối loạn do sự si mê làm tiêu tan mọi bình thản trong tâm hồn thường nhân.
Tại Hy Lạp và tại Ý, Vénus là thần linh được thờ phụng nhiều nhất. Đâu đâu người ta cũng lập đền và tạc tượng thờ nữ thần Vénus, ở Paphos, ở Cnide, ở Cythere cũng như ở Lesbos. Thường thường người ta dâng cúng Vénus nhang trầm và các thứ dầu thơm, cũng có khi họ dâng cúng một con heo, một con dê đực hay một con thỏ. Bông hường, trái táo, trái lựu, trái sim, chim anh nga, chim sẻ và nhất là chim cu là những vật thường dâng cúng Vénus.
Ngày thứ Sáu trong tuần là ngày của Venus.
Các nữ thần duyên dáng (les Grâces)
Con gái của Eurynome và Jupiter, ba nữ thần duyên dáng: Aglaé (Nàng Sáng chói), Thalie (Nàng tươi xanh) và Euphrosyne (Nàng tâm hồn sung sướng) có nhiệm vụ chủ trì những lời lẽ dịu dàng, sự hòa nhã, những ân đức, lòng biết ơn, sự vui vẻ trong đám tiệc, sự điều hòa trong đám hội, cùng là những gì rạng rỡ, vui mắt. Ba nàng bao phủ lên người Vénus vẻ nhịp nhàng cân đối, một cái gì vượt lên hẳn bên trên sắc đẹp. Ngọn bút của họa sĩ, mùi dùi của nhà điêu khắc nhờ sự trợ giúp của ba nàng mới có những đường nét uyển chuyển làm mê con mắt. Trên môi, trong dáng điệu, cử chỉ của nhà hùng biện được sự giúp dập của ba nàng nên mới có vẻ trang trọng, xác tin khiến cho cử tọa phải thán phục. Người Hy Lạp sùng bái ba nàng rất nhiều, luôn luôn họ nhắc nhở và mỗi khi lên tiếng ca ngợi cũng đưa ba nàng ra trước nhất. Vì là nữ thần chủ trì sự giao thiệp ở ngoài xã hội, đền thờ ba nàng thường được lập nên tại các nơi công cộng.
Tại Elis, một đô thị trên đảo Péloponèse, có một bộ ba pho tượng ba nữ thần duyên dáng khắc bằng gỗ, mặt, chân, tay bằng đá trắng, mình choàng mỗi nàng một tấm áo bằng vàng y: một nàng tay cầm một bông hường, nàng thứ hai một con xúc xắc, nàng thứ ba một cành sim. Nhiều khi thường nhân thờ chung ba nàng với các nữ thần Thời khắc, cũng có khi chung với các thần linh khác. Ba nữ thần duyên dáng thích hợp hết sức với dân tộc Hy Lạp vốn ham chuộng vẻ đẹp và nghệ thuật. Trái lại dân tộc La Mã không thờ các nữ thần duyên dáng.
Mercure, hay Hermès
Mercure là con của Jupiter và Maia, con gái của thần khổng lồ Atlas. Mercure là thần của lúc hoàng hôn, các quyền phép của Mercure đều do đặc tính đó. Mercure chính là vị thần báo hiệu sự xuất hiện của các thần linh khác. Chẳng hạn như buổi mai Mercure báo hiệu sự xuất hiện của Phœhus, của Jupiter. Mercure giúp đỡ các thần linh khác về mọi phương diện, trong những công việc, trên Thiên cung hay dưới hạ giới, việc đứng đắn cũng như việc ám muội. Mercure là vị thần linh có nhiều liên quan tới mọi hoạt động thầm kín hay công nhiên của mọi thàn linh khác. Thần linh của lúc hoàng hôn buổi chiều. Mercure tiêu biểu cho những hoạt động và những công nghệ của thế gian: Mercure chủ trì công việc thương mại cùng là mọi thứ ngôn ngữ dùng làm mối dây liên lạc giữa loài người. Mercure cũng là thần linh chủ trì sự hùng biện và các cuộc du hành. Các đường xá được dâng cúng cho Mercure. Tại mỗi ngã ba đường đều có trồng những cây cột bên trên có tạc hình thần Hermès, mặt hướng về từng ngả đường, mỗi góc đường có một cây cột như vậy. Mercure luôn luôn qua lại trên các cánh đồng để phù trợ cho thường nhân. Các người mục đồng thờ Mercure, cho nển trong các bức tượng nhiều khi miêu tả Mercure vác trên vai một con cừu. Mercure sáng chế ra cây đàn Ly Tao đầu tiên bằng mai một con rùa, Mercure cầm đầu cho các ngành nghệ thuật. Tới gần dân gian để dạy cho họ những môn luyện tập có mục đích làm tăng thêm sự mềm dẻo, sự duyên dáng và vẻ đẹp của thân thể, sự hiện diện của Mercure nhận thấy ở khắp nơi.
Chủ trì lúc hoàng hôn buổi chiều, Mercure lại là thần hộ mệnh của đám trộm cắp vốn hay chờ lúc nhá nhem mới hành động. Mercure chờ đón linh hồn các thường nhân chết để đưa dẫn tới Địa Phủ, cũng như đôi khi Mercure lại đưa dẫn các linh hồn từ cõi u mê lên cõi tưng bừng ánh sáng. Chuyên chủ sự giao thông không ngừng, Mercure có mang cánh ở hai cổ chân, trên hai vai và trên chiếc mũ (pétase) đặc biệt dùng cho những kẻ lữ hành. Trên chiếc đũa thần (caducée) Mercure luôn luôn cầm nơi tay, cũng có mọc đôi cánh. Một bữa Mercure trông thấy hai con rắn đang đánh nhau, bèn bắt lấy và quấn trên chiếc đũa. Hai con rắn lập tức trở nên hiền từ, thôi không cắn nhau nữa và cứ quấn quanh chiếc đũa mãi. Chiếc đũa caducée từ đó được coi như biểu tượng của hòa bình.
Tuy rằng giúp ích rất nhiều cho các thần nhân khác, nhất là Jupiter, Mercure cũng thích lỡm các thần linh những vố khá đau. Mercure lấy của người này chiếc chĩa ba, của người kia chiếc đai lưng, của người nọ cây kiếm, hay chiếc búa thợ rèn. Jupiter thấy vậy nổi giận đuổi Mercure ra khỏi nhà trời. Mercure bèn đi tìm Apollon hồi đó cũng bị xua đuổi khỏi núi Olympe. Không bỏ được tính xấu, Mercure lấy trộm mất bầy cừu của Apollon, rồi phải đem cây đàn Ly Tao ra đền cho Apollon. Việc dâng cúng Mercure có đặc điểm là chỉ cúng lưỡi của các sinh vật (bò hay gà trống) coi như tượng trưng cho sự hùng biện. Mercure được đặc biệt thờ cúng tại đảo Crète là nơi thủy tổ của các nhà buôn, và trên núi Cyllène, tại Arcadie, mà thế gian coi như nơi chôn nhau cắt rốn của Mercure.
Ngày thứ Tư trong tuần là ngày của thần Mercure.
Vulcain, hay Hépahistos
Con của Jupiter và Junon. Mới sinh ra, Vulcain đã bị thọt một chân. Junon thấy con xấu xí quá nổi giận liệng xuống hạ giới. Đây là một truyền thuyết khác (xem đoạn về Jupiter ở trên) kẻ thì cho rằng Vulcain rớt xuống đảo Lemnos, kẻ thì lại nói Vulcain rớt xuống biển, được Thétis, con gái của Nérée và cháu của thần Đại Dương, đem về nuôi trong vòng chín năm. Sau thời gian đó, nhờ được Bacchus nói giúp, Jupiter cho gọi Vulcain trở về Olympe và gả Venus cho.
Thần linh của lửa, Vulcain thọt chân vì biểu tượng cho tia chớp lóe gẫy khúc và ngọn lửa chập chờn. Bản tính Vulcain dễ dàng, luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ. Thời kỳ mà Hébé ngưng công việc, trong khi chưa có ai thay thế, Vulcain xin thay chân giót rượu nectar cho chư thần tại bàn tiệc ở nhà trời. Thi sĩ Hy Lạp Homère có nói tới trận cười của chư thần khi trông thấy Vulcain khập khiễng bưng bình nectar đi giót quanh bàn tiệc. Trong các thần nhân, Vulcain siêng năng công việc nhất. Lò rèn của Vulcain được lập ngay tại Olympe. Chính tay Vulcain đã tạo ra chiếc xe của thần Mặt Trời, chiếc khiên của Achille, ngai vàng và chiếc gậy của Jupiter, cả tòa thành Olympe, toàn bằng đồng và thép rất chắc chắn, сũng do tay Vulcain đúc nên. Sau này lò rèn của Vulcain được rời về đảo Lemnos, và sau nữa dưới lòng núi Elna, tại đây, có các thần Cyclopes giúp sức, Vulcain chế tạo mọi món trang sức cho các nữ thần cùng những đồ nhật dụng cho các thần linh cũng như cho thường nhân. Vulcain rất thương loài người và dạy cho họ cách đúc thép, đúc đồng, cùng chế tạo vật dụng bằng bạc và bằng vàng; sau đó lại biết chế ra những món đồ mỹ thuật nữa. Vulcain còn có tài tạo nên những pho tượng sống như thật; tia sáng lóe trong lò lửa của Vulcain đã hóa thành linh hồn của Pandore, người đần bà đầu tiên.
Dâng cúng cho Vulcain, các sinh vật đều được hỏa thiêu và cháy tiêu tan hết. Thế gian mở hội vào tháng tám để kỷ công Vulcain. Ngày hội này bao giờ cũng giữa mùa nóng bức nhất. Dân thành Athènes có bày ra những cuộc chạy đua để kỷ niệm Vulcain, đăt tên là Lampadophorie. Trong các cuộc đua này các tay đua, hoặc chạy bộ, hoặc cỡi ngựa, tay cầm một ngọn đuốc thi nhau chạy phóng tới đích. Người nào chạy tới đích mà ngọn đuốc vẫn cháy thì được giải; nếu bị đuốc tắt thì phải trao cây đuốc cho người khác và không được dự đua nữa. Những buổi hội này cũng có nơi dâng cúng cả Minerve và Prométhée, cũng như Vulcain, là thần nhân của lửa.
Vesta
Vesta, trưởng nữ của Saturne và Rhéa, chủ trì ngọn lửa đốt ở mỗi tư gia hay tại công quán (prytanée) của mỗi đô thị. Sau khi Saturne uống liều thuốc mửa do Jupiter đem tới và mửa ra Vesta, nữ thần này không lấy chồng và nguyện giữ mãi mãi đồng trinh. Vesta biểu tượng cho sự yên vui, vững bền của các gia đình. Vesta cũng chủ trì sự an lạc cho các gia đình và các tập thể trong dân gian. Nhân các vụ dâng cúng, người ta bao giờ cũng khấn tới Vesta đầu tiên và khi lễ tạ. Bất kỳ có một dịp cúng lễ nào, ở nơi công cộng hay ở tư gia, bao giờ cũng bắt đầu bằng việc dâng rượu cho nữ thần Vesta. Nữ thần Vesta phù trợ cho những người khẩn cầu, cũng như những khách tới chơi nhà. Mỗi khi cất lời thề thốt người ta cũng nhân danh nữ thần Vesta. Mặc dầu dân gian thờ cúng nữ thần Vesta rất nhiều nhưng rất ít đền thờ được thiết lập riêng để dành cho nữ thần này. Tại La Mã có một nghi thức đặc biệt do một tu sĩ trưởng và những nữ tu sĩ, gọi là les Vestales, hành lễ với nhiệm vụ là luôn luôn giữ cho đều ngọn lửa trong một ngôi đền hình trái cầu do vua Numa Pompilius cho dựng lên. Ngọn lửa trong ngôi đền này được coi như thiêng liêng nếu để tàn lụi sẽ tai hại cho cả dân tộc. Nếu chẳng may ngọn lửa bị tắt chỉ còn một cách là dùng gương thu ánh sáng mặt trời để nhen lại. Tượng thờ Vesta không có nhiều vì ban sơ ngọn lửa thắp trên bàn thờ được dân gian coi như tiêu biểu cho vị nữ thần rồi. Ngay ở La Mã cũng không có mấy nơi biết hình tượng nữ thần Vesta ra sao.
Những nữ tu Vestales được chọn trong số những cô gái đồng trinh từ sáu đến mười tuổi, không bị tật nguyền gì, cha mẹ là người có tự do khi sinh cô gái. Dưới sự cai quản của một vị đại tu sĩ, các nữ tu Vestales phải nguyện giữ đồng trinh và được cử trông coi ngọn lửa thờ để không bao giờ bị tắt. Nếu lửa tắt các nữ tu sẽ bị phạt roi; nếu không giữ được lời nguyện sẽ bị chôn sống. Thời gian nhiện vụ từ hai mươi đến ba mươi năm; sau đó họ có thể thôi không tu nữa và cũng có thể đi lấy chồng. Vì sự nghiêm trọng của nhiệm vụ họ được giữ, các nữ tu Vestales được tôn quý và có nhiều đặc quyền: tại các cuộc lễ nơi công cộng các nữ tu đi diễu có các cảnh lại (licteurs) mang phủ việt dẫn đầu; nếu một cô ra phố mà tình cờ gặp một tội nhân đương bị đưa đi hành tội, tội nhân sẽ được tha chỉ vì đã được dàn mặt một nữ tu Veslales; ngay sinh thời người cha, các nữ tu đã có quyền định đoạt về tài sản riêng của mình, đặc quyền này hiếm có thời đế quốc La Mã.
Dòng nữ tu Vestales kéo dài mười một thế kỷ, trong khoảng thời gian đó chỉ có hai chục nữ tu bị chôn sống mà thôi.
Thémis
Con của Trời và Đất, nữ thần Thémis lấy Jupiter sinh ra các nữ thần Thời Khắc và ba nữ thần Se tơ (Les Parques). Ngồi gần ngai vàng của Jupiter,Thémis tượng trưng cho Luật pháp.Thémis tham dự các cuộc tranh luận của chư thần, làm cố vấn cho chư thần trong các dịp đó. Thémis thường chủ tọa các cuộc hội họp của thường nhân. Những thỏa hiệp ký kết giữa thường nhân đều được sự bảo trợ của Thémis. Thémis được tạc tượng một tay cầm cái cân và một tay mang cây kiếm, đôi khi mắt lại che kín để biểu lộ sự ngay thẳng công minh của phán quan.
Các nữ thần Thời khắc (Les Heures)
Các nữ thần này là con của Jupiter và Thémis. Chủ trì thời tiết và khí hậu, các nữ thần Thời khắc chịu sự chi phối của Jupiter và Junon là hai vị chúa tể của các hiện tượng trong trời đất. Các nữ thần này có nhiệm vụ mở hay đóng cửa nhà trời cho các đám mây đi ra hay trở vô sau khi đã trút xuống hạ giới những trận mưa đem lại sự phong nhiêu. Các nữ thần Thời khắc còn chủ trì sự thay mùa, sự khai hoa và kết trái của cây cối. Trông coi về sự sinh trưởng của vạn vật, các nữ thần này được coi như thần hộ mệnh cho tuổi trẻ: Bacchus và Mercure khi mới sơ sinh đều được các nữ thần Thời khắc nuôi nấng. Đồng thời với sự chủ trì sự mưa gió thuận hòa, thời tiết đổi thay và khai hoa kết trái, các nữ thần Thời khắc còn chủ trì sự điều hòa các luật lệ, các thói tục tốt đẹp cũng như sự hòa bình, an lạc.
Ban sơ chỉ có ba nữ thần Thời khắc: Mùa Xuân, Mùa Hạ, và Mùa Đông. Sau đó thêm Mùa Thu. Về sau bốn nữ thần này được coi như chủ trì riêng về bốn mùa. Khi người Hy Lạp biết chia mỗi ngày ra thành mười hai giờ, họ liền tạo ra thêm mười hai nữ thần Thời khắc nữa, mệnh danh là mười hai Chị Em (Les douze Sœurs), mỗi nữ thần xinh tươi một vẻ nhưng luôn luôn giữ mãi được sự tươi trẻ, mái tóc dài làm tỏa lan một mùi hương vĩnh viễn. Cùng với các nữ thần Duyên Dáng, Hébé và Vénus, mười hai Chị Em cùng nhảy múa theo nhịp của các nàng Ly Tao.
Mỗi năm khi có trái đầu mùa dân gian lại dâng cúng các nữ thần Thời khắc. Sự tôn sùng này chỉ do người Hy Lạp, một dân tộc biết ưa chuộng nghệ thuật và cái đẹp duyên dáng, ở La Mã không có sự thờ cúng các nữ thần này.
Các nữ thần Se Tơ (Les Parques)
Cũng ở gần các nữ thần Thời khắc trên núi Olympe bát ngát có ba chị em nữ thần Se tơ. Ba nữ thần nầy cũng là con của Jupiter và Thémis. Nhiện vụ của ba chị em là chủ trì sự điều hòa trên thế giới và cầm vận mệnh các thường nhân. Ba nữ thần Se tơ trông coi cuốn sách bằng đồng trên đó thần Định mệnh đã ghi những phán quyết. Nhiệm vụ của ba nữ thần này không riêng trông coi về các thường nhân ở thế gian, mà còn hết thảy mọi sinh vật khác. Ba nàng thuộc lầu vận mạng của hết thảây, cũng như gốc tích và ngày sinh. Mỗi khi tới giờ lâm tử ba nàng cứ y theo số mạng mà cắt đứt sợi sống. Công việc thường nhật của ba nàng là ngồi se những sợi tơ biểu tượng cho các đời sống. Những đời sống dài lâu và hoan lạc được se bằng sợi tơ và kim tuyến. Những đời sống ngắn ngủi và đau khổ được se bằng sợi len màu đen. Những đời sống lẫn lộn cả vui buồn được se bằng những sợi len màu đen và màu trắng. Nàng Clotho se chỉ, tay cầm guồng chỉ dài từ trên Thiên Cung xuống tận Hạ giới, nàng Lachésis cầm vận mệnh các thường nhân và thay suốt; và nàng Atropos, mang chiếc kéo cương quyết, thẳng tay cắt đúng chỗ. Nàng thứ nhất trên đầu có một vòng sao, mình bận chiếc áo màu da trời; nàng thứ hai bận chiếc áo màu hồng, các vì sao còn lấp lánh trên áo; nàng thứ ba, lớn tuổi hơn hết, bận áo đen u tối.
Cũng có nơi tượng hình ba nàng là ba bà già khắc khổ: trên đầu đội mũ miện tượng trưng cho quyền hành, vòng miện bằng những đùm len đan có lẫn những bông thủy tiên. Thế gian dâng cúng các Nàng những con cừu non, giống như dâng cúng các nàng Đại Nộ.
Iris
Iris là một thần linh lâu đời ngang với các thần linh lâu đời nhất. Cha của nữ thần Iris là thần Thaumas, con của Trái Đất và Biển Cả, mẹ là nữ thần Electre, con của thần Đại dương và thần Téthys. Giữ nhiệm vụ liên lạc, giao thông giữa các thần linh, nhất là thần vương Jupiter và nữ thần Junon, Iris luôn luôn xê dịch đem lời phán truyền của nhà trời tới cho dân gian. Khi cần đến Iris lại lặn sâu xuống đáy biển để liên lạc với các thần nhân dưới thủy cung. Đặc điểm của nữ thần giao thông Iris là không chỉ đem lời phán truyền đi mà còn biết tìm lời khuyến dụ, dạy dỗ, và cũng che chở cho dân gian có dịp tiếp xúc với nữ thần nữa.
Trên Thiên cung, công việc của Iris là lo làm giường cho thần vương Jupiter và Junon. Nữ thần Junon rất thương Iris vì được săn sóc chu đáo và bao giờ cũng được Iris đem về những tin tốt lành.
Một nhiệm vụ quan trọng nữa của Iris là chạy đi cắt trên đầu các thường nhân, đàn ông hay đàn bà, sợi tóc định mệnh đem về cho Proserpine, mỗi khi thường nhân đó tự ý hủy hoại mạng sống của họ trước giờ đã định. Thường thường công việc cắt một sợi tóc của những người đến số chết là do Proserpine, có cắt được sợi tóc định mệnh đem tới cho Pluton (là chồng của Proserpine) thì thường nhân đó mới được nhận cho vào Địa Phủ. Proserpine chỉ làm công việc đó với những thường nhân chen chúc ở trước cửa Địa Phủ, nhưng đối với những thường nhân quá vội vã, tự ý đoản mệnh, Proserpine không hay biết, cho nên mới cần sự trợ giúp của Iris.
Iris là một nữ thần đồng trinh, chuyên bay lượn trong không trung cho nên trên vai có mang đôi cánh với đủ màu sắc của cầu vồng. Iris vẫn thường lướt trên Cầu Vòng để đem tin tức từ Thiên cung xuống cho Hạ giới. Dân gian còn có nơi tin rằng Cầu Vồng là vòng đai giữ mái tóc của Iris, hoặc đó là vết chân lung linh của vị nữ thần, cũng có nơi lại tin rằng Cầu Vòng chính là biểu tượng của Iris.
Cérès, hay Déméter
Cérès, con gái của Saturne và Rhéa, là nữ thần chủ trì những đất đai có canh tác, tức là nữ thần của Nông nghiệp. Kết hợp với anh trai là Jupiter, Cérès sinh ra Plutus, thần linh của sự phong nhiêu trù phú. Thần linh này được dân gian tượng hình là một ông già đui hai con mắt. Ban đầu thần linh này có hai con mắt rất sáng, nhưng vì tuyên ngôn rằng chỉ trợ giúp cho những con người tất lành cho nên bị Jupiter làm đui hai con mắt. Thần vương làm như vậy vì cho rằng các thường nhân có đức tốt sẽ được hậu đãi quá sức nếu có thêm nhiều tiền của. Từ khi Plutus bị đui hai mắt, thần linh này không nhìn thấy rõ những thường nhân đạo đức nữa và bị bọn vô lại bao quanh giành mất bao nhiêu giàu sang phú quý của những người đạo đức mà đáng lẽ Plutus hậu đãi.
Cérès lại có với Jupiter một con gái là Proserpine. Proserpine còn có tên là Perséphone hay Coré. Pluton, thần chủ trì Địa Phủ, không kiếm được một nữ thần nào chịu lấy và cùng về ở dưới Âm cung nên quyết tâm cướp lấy cô cháu gái Proserpine đem về làm vợ. Một bữa Proserpine đang vui chơi cùng các nữ thần Nymphes, đương hái hoa dưới thung lũng núi Etna, vỏ trái đất bổng nứt rạn mạnh mở lối cho chiếc xe ngựa của Pluton chạy ra. Hoảng hốt, các nữ thần Sơn, Thủy bỏ chạy tán loạn. Pluton bắt lấy Proserpine ôm ngang lưng nhảy lên xe chạy tuốt vô lòng đất.
Được tin này Cérès rất đổi thương cảm. Đau đớn quá, Cérès bỏ Thiên cung, tay cầm cây đuốc, chạy cùng khắp trái đất hỏi thăm tin tức con gái. Các thần linh đều lặng thinh không cho biết vị nào đã cướp mất Proserpine. Khi đi ngang xứ Attique, nhà vua trị vì ở Eleusis tiếp đãi Cérès hết sức nồng hậu. Nữ thần cảm kích lòng tốt của nhà vua nên dạy cho hoàng tử Triptolème, khi đó còn nhỏ tuổi, nghệ thuật cày bừa ruộng đất. Khi qua xứ Lycie, thổ dân ở đó hung ác thấy nữ thần sắp uống nước ở suối bèn làm vẩn đục nước suối. Cérè nổi giận biến chúng thành một bầy ếch. Sau bao lâu tìm kiếm, Cérès. không ngớt đau khổ, quay về Sicile. Khi đó nữ thần Aréthuse cảm thương vì nổi thất vọng không thể an ủi nổi của Cérès, mới tìm tới úp mở cho hay rằng Proserpine đã bị Pluton cướp mất. Cérès lập tức đem sự tình tâu bày cùng thần vương Jupiter, Jupiter mủi lòng trước cảnh đau khổ, tiều tụy của bà mẹ, mới truyền phán rằng Pluton phải thả Proserpine ra nếu nữ thần này chưa ăn uống một món gì ở âm cung. Không may, cô vợ mới của Pluton đã ăn sáu hột lựu, do đó phải bày ra một biện pháp dung hòa. Từ nay Proserpine sẽ ở sáu tháng dưới Địa phù và sáu tháng trên mặt đất.
Câu chuyện của Proserpine có thể coi như một bài ngụ ngôn mô tả cái vòng sanh tồn của hạt lúa: mùa hạ sống trên mặt đất ở giữa cánh đồng, tới mùa Đông lại chui xuống đất để sang Xuân trổ lá ngoi lên mặt đất.
Dân gian có bày ra hai kỳ hội để kỷ công Cérès, nữ thần của các đất đai dược khai thác.
Cérès có đặt ra cho dân gian phép hôn thú nên được coi như nữ thần lập pháp (Cérès Thesmophore), kỳ hội mở vào tháng Một dương lịch sau khi gieo mạ được gọi là Thesmophories. Nhân lễ này dân gian đem cúng hiến heo sống với ngụ ý trừ những tai hại mà loài vật này đã gây ra cho các sản vật do nhà nông sản xuất ra. Nơi làm lễ được chăng nhiều tràng lá. Dân gian kỵ không trưng bông vào những dịp này để ghi nhớ vụ Proserpine đi hái bông bị Pluton bắt đem đi. Riêng có bông anh túc (cây thuốc phiện) là được dân cúng cho Cérès vì loài cây này mọc lẫn với cây lúa, và dân gian còn truyền tụng rằng trong cơn đau đớn quá Cérès có nhai mấy bông anh túc để cho đỡ đau. Ngày lễ các bà mệnh phụ La Mã bận toàn đồ trắng.
Nghi lễ Eleusinies khởi sự từ Eleusis tới miền Nam Hy Lạp, truyền sang tới La Mã là một nghi lễ thần bí hết sức huy hoàng, có hai thứ lễ, tiểu lễ vào mùa Xuân khi Proserpine từ dưới âm cung trở về mặt đất, và đại lễ vào cuối tháng chín dương lịch, khi Proserpine sửa soạn trở lại Diêm cung. Những nghi lễ này không thiết lập công khai. Các đại gia đình Hy Lạp ngay từ ban sơ đã được biết cách thức dâng cúng ra sao. Không ai có quyền học lại một khi đã được dự lễ, bởi vậy trong dân gian chỉ biết có lễ đó mà không thấy truyền tụng những chi tiết. Những ai được ân sủng tham dự nghi lễ đó sẽ hưởng được nhiều ơn huệ.
Bacchus, hay Dionysos
Dionysos, thần linh chủ trì việc cất rượu là con trai Jupiter và công chúa Sémélé, con gái vua Cadmus sáng lập ra triều đại Thèbes ở Béotie. Không do một thần nhân sinh ra, Bacchus tuy vậy vẫn được coi như một thần nhân do một sự tích ly kỳ. Junon vốn tính ghen và mất rất nhiều tâm cơ để đối phó với những mối tình vương vãi của thần vương Jupiter, công chúa Sémélé bị chết trong khi còn mang thai Bacchus cũng chỉ vì lòng ghen của Junon. Biết chuyện Sémélé đi lại với Jupiter, Junon cải trang là Béroé, vú nuôi của Sémélé, và khuyên Sémélé nên nài nỉ Jupiter tỏ lộ cho mình thấy rõ quyền uy và tất cả vẻ huy hoàng lộng lẫy của một thần vương như thế nào. Jupiler hết lời khuyên can người yêu đừng nài nỉ một chuyện dại dột như vậy nhưng Sémélé nhứt định không nghe. Jupiter lại lỡ có hứa với Sémélé là không bao giờ làm trái ý nàng công chúa nếu công chúa đã có lời yêu cầu. Bị trói buộc vì lời hứa đó, Jupiter đành phải xuất hiện với trọn vẹn hào quang cùng những tia sấm sét của vị chủ tể nơi Thiên cung. Tòa lâu đài hạ giới bùng lên cháy vì sức nóng quá độ và nàng công chúa biến thành than. Bacchus khi đó còn là một bào thai được Jupiter cứu sống và nhét vô trong bắp đùi chờ đủ ngày đủ tháng sẽ cho ra đời. Nhờ đó Bacchus hóa ra được sinh hạ do một thần nhân và trở thành một thần nhân thực sự.
Bacchus được các nữ thần Thời Khắc và các nữ thần Sơn, Thủy lo nuôi dưỡng lại Nysa, một đô thị ở Ấn Độ, xa hẳn núi Olympe và Junon. Tại đó Bacchus còn được thần Silène, sinh ra các vị thần nửa người nửa dê, hoang dã Satyres, và các nữ thần Ly Tao dạy dỗ. Silène, mà dân gian truyền thuyết là cha nuôi của Bacchus, là con của Mercure hay của Pan với mội nữ thần Sơn, Thủy hay nữ thần Trái Đất. Silène được tượng hình như một ông già xấu xí, ngắn ngủn, tóc hói, mũi cong, bụng phệ, luôn luôn say rượu. Silène thường cỡi trên lưng một con lừa gần muốn khụyu vì sức nặng của Silène, hoặc chống cây gậy bằng một khúc cây nho trên đầu có một trái thông gọi là cây thyrse. Cũng có khi Silène vịn vai bầy Satyres bao chung quanh. Những khi rất hiếm có lão thần Silène tỉnh táo lại là một nhà đại hiền triết. Silène luôn luôn ở bên Bacchus trong khi Bacchus du hành qua những quốc gia chạy dài một giải từ Ấn Độ tới Hy Lạp, có khi Bacchus còn ghé cả Ai Cập. Theo sau có một đoàn đông thường nhân đàn ông và đàn bà, mỗi người chống một cây gậy thyrse hoặc đánh trống inh ỏi, chung quanh có các nữ thần Sơn, Thủy, các Satyres và thần Pan, Bacchus hoan hỉ bước đi, tới đâu thu phục dân gian ở đó và dạy cho họ cách trồng và sử dụng trái nho để cất rượu. Bacchus rất vui tính nhưng dễ nóng giận, nếu thường nhân nào không chịu thần phục quyền lực của thần nhân này sẽ bị tai hại rất nặng. Một ông vua ở Thèbes tên là Penthée bị chính bà mẹ và các bà dì của mình xé tan từng mảnh vì không chịu tham dự những cuộc uống rượu say sưa mừng Thần Rượu. Một vị vua khác ở Thrace tên là Lycurge bị mù mắt vì kiếm cách ngăn cấm những cuộc tế lễ thần bí do các nữ thần Bacchantes hay Ménades thiết lập. Ba cô con gái của Minée, trị vì tại Orchomène, ở Béolie, vì coi thường một thứ cúng lễ mà mấy cô cho rằng kỳ lạ quá, không chịu bỏ khung cửi để tới dự, đều bị biến thành ba con dơi.
Đi tới đâu Bacchus cũng ra oai, tác phúc. Vì lẽ đó có nơi thần nhân này được dân gian tượng hình với hai cái sừng trên đầu hay dưới hình thù một con bò mộng. Nhưng thường thường Bacchus được tượng hình một thanh niên trẻ tuổi và khỏe mạnh, đẹp trai, tóc dài thành từng lọn cong chảy xuống vai, trên đầu có quấn một vòng miện bằng một cành lá nho. Thần tượng này được tôn thờ tại miền Á Châu và coi như vị thần linh của các vụ cuồng ẩm, của những trận thác loạn do rượu. Dân La Mã cũng tôn thờ một thần tượng tương tợ và có bày ra những cuộc tế lễ mệnh danh là Bacchanales, gồm những trò buông thả kỳ lạ, đôi khi còn xảy ra cả những tội ác. Bacchus đối với dân Hy Lạp không chủ trì những cuộc hoan lạc như vậy, nhấtt là dân vùng Attique coi Bacchus là một thần nhân cao quý, sự tôn thờ không có kèm những nghi thức thác loạn. Nhân những đại lễ Dionysies (lễ mừng thần Dionysos) vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên, có tuyên đọc những bài thơ kỷ công vị thần chiến thắng và mệnh danh là những bài dithyrambe. Sau đó các công đức của Bacchus được đem soạn thành một vở tuồng mang tên là Tiếng hát của con dê. Tên vở tuồng này là nguyên do ở ngụ ý đem con vật này dâng cúng Bacchus vì nó vốn hay tàn phá các gốc nho. Theo truyền thuyết ca kịch vốn được bày ra từ thời dân Attique dâng cúng Bacchus, vì sau khi cúng lễ mọi người vào tiệm cùng nhau ăn uống và trao đổi ý kiến, những câu chuyện trao đổi đó sau trở thành hài kịch. Theo truyền thuyết ở Hy Lạp, Bacchus là vị thần linh nhỏ tuổi, sinh sau nhất trong số các thần linh. Bacchus ngược lại ảnh hưởng rất nặng tới nền văn hóa Hy Lạp. Sau khi có Bacchus nền âm nhạc, ca vũ, điêu khắc và hội họa đều chịu một ảnh hưởng mới mẻ hẳn. Từ đó các ngành nghệ thuật mới mang một tính cách hưng khởi, say mê đặc biệt thuở nay chưa hề có, ý hẳn các nghệ sĩ được thêm hứng nhờ nơi chất men của rượu nho.
Bacchus còn được mệnh danh là Liber, vì rượu khiến cho tâm thần sảng khoái, hết cả lo nghĩ, như được tự do, giải thoát. Cũng có nơi lại mệnh danh Bacchus là Evan, vì nhân những trận cuồng ẩm, các nàng Bacchantes thường xõa tóc chạy cùng đường và la: Evohé! Evohé!
Pan
Pan trong ngôn ngữ Hy Lạp có nghĩa là tất cả. Có người giải thích rằng nguyên do tên của vị thần linh này là ở danh từ Hy Lạp đó và kể rằng Mercure khi đem về nhà trời thứ thần nhân đầu người nhưng mình dê, lại có sừng, có móng, có lông như dê thật đã khiến cho tất cả các vị thần linh có mặt phải cả cười. Không ai biết rõ nguồn gốc của thần Pan. Thần linh này được coi như một thứ thần linh của vùng thôn dã, nhất là ở vùng Arcadie được dân gian tôn thờ nhiều lắm. Pan chủ trì các cánh rừng và cánh đồng cỏ, che chở cho các bầy thú được đông đảo, sinh sản mau chóng. Pan cũng là vị thần linh của các tổ ong và các con sông, tóm lại một số những ngành cung cấp thực phẩm cho dân gian ngoài lúa mì. Pan cũng là thần linh chủ trì cho các nhà săn bắn. Trong khi rình mò dã thú, Pan cũng luôn thể rình mò các nữ thần Sơn, Thủy, ở bên sau các khe đá, các bờ bụi. Thần linh của âm nhạc, Pan có sáng chế ra thứ tiêu bảy ống. Nguồn gốc của ống tiêu này do chuyện Syrinx nữ thần Sơn, Thủy tại Arcadie, một bữa bị Pan đeo theo sát quá phải nài xin với cha là thần sông Ladon biến mình thành một cây sậy. Để ghi nhớ mối tình đối với Syrinx, Pan bèn nhổ mấy cây sậy và chế ra ống tiêu syrinx.
Cũng như hầu hết các thần linh ở vùng hoang dã, Pan ưa trêu chọc khách qua đường khiến cho họ phải hoảng sợ nhất là những bộ hành lạc trong rừng. Khi dân Gaulois, do Brennus đưa dẫn, kéo qua vùng Phocide để tới cướp phá đền thờ Delphes, chính thần Pan đã khiến họ phải ngừng lại bằng cách làm cho họ thất kinh. Danh từ Pháp panique (sự kinh hoảng) nguyên do từ đó. Giọng nói của Pan líu lo. Pan thường đi theo trong đám đông ồn ào xúm quanh thần Bacchus. Hồi chiến tranh giữa anh em Titan, Fan bày ra cách thổi những vỏ ốc vương vãi trên bãi biển, tiếng kêu phát ra kinh khủng đến nỗi anh em Titan phải bỏ chạy: đó cũg là nguồn gốc của việc dùng vỏ ốc (conque) làm tù và.
Sử gia Hy Lạp Plutarque (45-125 sau Công nguyên) có ghi rằng dưới thời Tibère (con nuôi của Auguste) thuyền trưởng Thamus, khi ở giữa khu quần đảo ở biển Egée, bỗng nghe thấy ba lần có tiếng gọi tên Thamus. Lần thứ ba, Thamus đáp lại, tiếng nói bí mật ra lệnh khi thuyền tới một nơi nọ sẽ phải la lớn: «Pan đã chết!». Khi đi tới nơi đã hẹn Thamus liền la lên «Pan đã chết!» Lập tức ở tứ phía nổi lên những tiếng than vãn, rên rỉ. Không riêng gì Thamus, hết thảy các thủy thủ có mặt đều chứng nhận có nghe thấy như vậy. Nghe tin lạ lùng đó dân chúng ở La Mã đều đồn đại đi. Không hiểu ý nghĩa của câu chuyện ra sao hết.
Khởi sự Arcadie, sự thờ cúng thần Pan sau đó lan tràn ra khắp Hy Lạp. Vì ngọn núi Lycée được dâng cúng cho Pan nên các cuộc tế lễ được mệnh danh là Lycéennes. Khi lan tràn tới La Mã sự thờ cúng thần Pan được dân gian lập chung với thần Faune (Điền Dã). Người La Mã gọi những cuộc lễ đó là Lupercales (do chữ Hy Lạp Lycéennes, nhưng có ngụ thêm ý đả động tời chó sói là loài thú hay kiếm ăn trong các rừng rú ở vùng Arcadie). Dân gian dâng cúng thần Pan bò cái, dê đực, cừu non, sửa và mật ong.
Dưới thời đế quốc La Mã, các nhà triết học khắc kỷ đưa thần Pan lên ngôi tối cao, coi như biểu tượng cho sức mạnh khai sáng ra vũ trụ.
Egipan
Thần Pan, vì chân có móng như chân dê, chân cừu, còn được dân gian mệnh danh là Egipan, có nghĩa là con dê Pan. Danh từ này còn chỉ cả những thần linh nhỏ ở điền dã, mình có lông, có sừng và có râu như râu dê. Các thần linh Egipans nhảy nhót trên các mỏm núi đá, hay trên ngọn đồi, ưa trêu chọc dân quê hoặc khách qua đường rồi lẩn trốn trong hốc đá.
Satyre và Silène
Những thần linh nhỏ Satyres hay Silènes cũng giống như các thần Egipans, nhưng nhỏ con hơn, và tính chất vừa quỷ quái vừa hoang đàng hơn. Trẻ tuổi được mệnh danh là Satyres, trở về già thì được mệnh danh là Silènes. Các thần linh này chuyên trêu chọc các nữ thần Sơn, Thủy, rượt theo làm cho khiếp sợ rồi cười. Được tiếng quỷ quái như vậy nên các chú chăn chiên ở trong núi nể sợ lắm, có trái cây đầu mùa hay sinh vật ngon lành họ đều đem dâng cúng. Khi trở về già các thần linh này sinh nghiện rượu, vì vậy được mang tên vị thần linh tục tĩu hay theo Bacchus. Trở về già, các thần linh Silènes hay say sưa rồi cũng chết như những thường nhân.
Faunes và Sylvains
Các thần Faunes và Sylvains là đặc biệt của dân gian Ý, tính cách cũng giống như các thần điền dã Egipans và Satyres của dân gian ở Hy Lạp. Không xấu xí và thô tục bằng các thần Satyres, nhất là không tàn ác bằng, các thần Faunes chủ trì về nông nghiệp còn các thần Sylvains thì ưa vùng rừng núi, các thần Sylvains hay trêu chọc những khách qua rừng, khiến cho những trẻ nhỏ nghịch bẻ cành ở các cây cối trong rừng phải khiếp sợ.
Thủy tổ của các thần Faunes là Faunus mà dân gian cho là cháu của Saturne và có công trong việc gây dựng nền văn minh ở Latium, đem những phép tắc cùng những sự cúng lễ làm dịu bớt những thói tục thô sơ của thổ dân. Sylvain, cũng vẫn theo truyền thuyết trong dân gian, là con trai Faunus. Chủ trì vùng rừng núi, Sylvain phù trợ cho cây cối mau lớn và các bầy thú sinh sản mau lẹ. Sylvain cũng che chở cho chúng chống với các thú dữ, nhất là đám sói răng dài và nhọn ưa ăn thịt cừu. Faunus cũng như Sylvain rất ưa âm nhạc, và vũ điệu. Mặc dầu có đôi chút khác biệt giữa các thần Faunes và Sylvains, dân gian thường lẫn lộn hai loại thần linh này. Cũng như các thần Satyres, các thần Faunes và Sylvains cũng chết như thường nhân, nhưng sau một thời ginn tuổi già rất dài lâu.
Priape
Con của Vénus và Bacchus, thần Priape chủ trì sự phong nhiêu, sinh sản ở trong vũ trụ. Thường dân gian hay lẫn vị thần này với Pan. Thần nhân này thô tục và xấu xí cho nên dân Hy Lạp không mấy ai thờ phụng, ngoại trừ những chú chăn chiên hay chăn dê cùng những người nuôi ong. Trái lại ở La Mã, các đại địa chủ chuyên thờ cúng thần Priape để thần trông coi bảo vệ ruộng đất cho họ. Tượng thần Priape được dựng lên ở giữa vườn, phần nhiều tượng bán thân, đầu có sừng như sừng dê, tai như tai dê cái, tay cầm một cây chùy, miệng cười nhăn nhúm. Để gây thêm vẻ dữ tợn, người ta còn sơn lên tượng một thứ sơn màu đỏ choé.
Terme
Thần linh này đặc biệt của dân La Mã, chủ trì trông coi các cột chôn làm mức phân ranh giới giữa các ruộng đất. Khi vua Tarquin le Superbe (Tarquin Oai nghiêm) định xây một ngôi đền thờ Jupiter trên ngọn đồi Capitole, bao nhiêu tượng các thần linh dựng trên đó đều được hạ xuống. Thần linh Terme một mình cưỡng lại hết mọi phương kế do mọi người bày ra, không để cho di pho tượng của mình đi chỗ khác. Cùng kế mọi người phải để pho tượng đó ở lại trong đền. Toàn thể các thầy giải triệu kết luận rằng đế quốc La Mã sẽ vì thế vĩnh cửu không hết.
Ban sơ hình tượng của thần linh này chỉ là một phiến đá không đục chạm. Sau đó, người ta tạc thành hình một cây cột đầu người, không có tay chân, để tượng trưng cho sự vĩnh cửu của thần linh này. Dân gian dâng cúng thần Terme bằng sữa, mật ong, trái cây và tràng hoa hay lá.
Các nữ thần Nymphes (Sơn Thủy)
Các nữ thần này chủ trì sự phong nhiêu, ẩm ướt, cũng như các thần sông ngòi. (Các thần sông ngòi được tượng hình có sừng mọc ở trên trán.) Do thần vương Jupiter sinh ra, các nữ thần Nymphes rời khỏi Thiên cung dưới hình thức những đám mưa để xuống trị vì dưới Hạ giới. Các nữ thần này ngự tại các rừng già, trên ngọn các giòng sông, hoặc giữa các cánh đồng phong nhiêu, cỏ mọc xanh rờn. Các nữ thần Nymphes bảo vệ cho cây cỏ và loài người, loài vật. Số thần linh này lên tới ba ngàn, cũng sống chết như thường nhân tuy mỗi đời dài chừng mấy ngàn năm. Thường thường các nữ thần Sơn Thủy đi theo Diane hay Bucchus, họp thành những ban hợp xướng hay họp vũ, lo việc bảo vệ mọi người trong dân gian. Cũng có khi các nữ thần này ở lại trong các thạch động chuyên lo việc kéo chỉ và dệt vải.
Các nữ thần Sơn Thủy chia thành ba loại khác nhau:
Thứ nhất là các Thủy thần, có phép màu nói ra được chuyện tương lai và được dân gian tôn sùng, thờ cúng theo một nghi thức riêng. Đó là các nữ thần ở Biển (Océanides); ở các eo biển (Néréides) hay ở suối và sông, ngòi (Naiades).
Thứ nhì là các Sơn Thần, ngự trị tại các đồi núi và thung lũng. Đó là các Oréades và các Napées. Các thần Oréades ưa săn bắn chạy đuổi ở trên ngọn các núi cao; các thần Napées ôn hòa hơn, nô rỡn trên các sườn đồi, dưới thung lũng hay trên các cánh đồng.
Thứ ba là các thần cây cối (Dryades). Vừa có sức mạnh vừa uyển chuyển, các nữ thần Dryades khiêu vũ quanh các gốc cây chêne là loài cây dành dâng cúng các nữ thần này. Các rừng sâu được bảo vệ do các nữ thần Dryades cho nên dân gian vì tôn kính và nể sợ không ai dám tới đốn cây tại đó. Những cây to trong rừng sâu chỉ được hạ xuống khi nào các tu sĩ nói chắc rằng các nữ thần Dryades đã bỏ không ở đó nữa. Các nữ thần Hamadryades khác ở điểm mỗi nữ thần đó cầm bản mệnh cho một cây chêne trong rừng, sống chết cùng với cây đó. Mỗi nữ thần Hamadryades bởi vậy không bao giờ ra khỏi cái cây của mình, như chôn chặt cùng với cây đó. Trong ngôn ngữ Hy Lạр gốc chữ Dryade có nghĩa là cây chêne.
Dân gian lập đền thờ các nữ thần Dryades ở bờ biển, trong rừng sâu hay bên các ngọn suối. Lễ vật dâng cúng thường có dê cái, cừu non, có kèm rượu nho, mật ong, dầu ép ở trái cây, hoặc cũng có nơi chỉ dâng cúng sữa, trái cây và hoa.
Các thần Lares và Pénates
Các thần Lares và Pénates do dân gian ở La Mà thờ phụng, du nhập từ xứ Etrurie. Các thần Lares là thần Thổ công, bảo vệ cho những con người trong từng gia đình, nếu gia đình đó biết thờ cúng theo đúng phép tắc. Mỗi gia đình có một thần Lare, tức là vị thần chủ của gia đình đó. (Còn các tổ tiên đã chết đi của gia đình đó lại thuộc vào số những thần Mânes). Các thần Pénates thì lo bảo vệ cho chính căn nhà, cho sự trù phú của nhà đó và nhất là các món thực phẩm dùng trong nhà. Các thần Pénates bao giờ cũng đi thành một cặp và cùng với nữ thần Vesta là biểu tượng của bếp lửa, gia đình. Dân gian được tùy ý lựa chọn các vị thần Lares và Pénates của mỗi nhà. Tại đền Atrium, hai bên bàn thờ nữ thần Vesta có tạc hình tượng các thần Lares và Pénates. Ở giữa hai vị thần Pénates giống nhau như anh em sinh đôi, thần Lare bận chiếc áo choàng (toge) có một con chó nằm dưới chân. Mỗi sáng, người chủ gia đình cùng với con cái và các tôi mọi trong nhà tới trước bàn thờ đó cùng cầu nguyện. Trước mỗi bữa ăn lại dâng cúng mâm cơm của cả nhà trước bàn thờ đó, có kèm theo rượu nho. Vào những dịp lễ lớn, dân gian lại dâng cúng một con cừu non, một con dê đực hay một con bò non. Vào những dịp lễ thường, chỉ dâng cúng trái cây đầu mùa. Gia đình nào cùng gìn giữ một ngọn lửa riêng, ngọn lửa này chỉ tắt khi nào gia đình đó tuyệt diệt.
Cũng như các gia đình, mỗi tập thể đều có thần Lare và hai thần Pénates riêng. Gặp trường hợp một thành phố bị tiêu hủy, chẳng hạn như thành Troie, dân gian lại đem bàn thờ đi nơi khác, cùng với bếp lửa. Enée khi rời bỏ Troade di cư tới Latium cũng đem theo bàn thờ và bếp lửa như vậy.
Thần Đại Dương (Océan)
Thần Océan là con của Uranus và Titéa, là vị thần linh đầu tiên chủ trì các vùng nước ngập. Từ chiếc bình mà thần linh này mang trên tay mãi mãi có một giòng nước chảy xuôi tạo thành biển cả và các sông ngòi cùng khe suối. Dân gian thờ phụng vị thần linh già này và dâng cúng mỗi khi sắp xuống thuyền vượt biển để cầu xin được phù hộ. Các thần linh ở sông ngòi cũng thờ kính thần Đại Dương là vị thủy tổ.
Tiền nhân cũng truyền thuyết rằng thần Đại Dương ngự trị trên một con sông lớn bao quanh mặt đất (hồi đó chưa biết Trái Đất tròn) phân ranh giới giữa mặt đất với cõi bao la. Trên mặt sông đó bốc lên những đám mây, những đám mây này lại hóa thành mưa và rớt xuống thành một chu kỳ vĩnh viễn.
Nữ thần Téthys
Thần Đại Dương lấy nữ thần Téthys, là em gái, sinh ra ba ngàn nữ thần Océanides. Téthys tuần du trên khu vực của mình ngồi trên một chiếc vỏ ốc bằng sà cừ có một bầy hải mã kéo. Chung quanh có một đoàn hải trư nhào lộn, các nhân ngư thổi kèn và các Océanides trên đầu có kết lá, mái tóc buông xõa, phất phơ bay trong gió. Các nữ thần Océanides cũng được dân gian thờ cúng riêng.
Nérée
Thần Nérée là con của nữ thần Téthys, có trước thần Neptune. Nérée lấy em gái nữ thần Doris, sinh ra năm mươi vị thần Néréides. Nérée bản tính thuần nhã, hiếu hòa, luôn luôn sẵn sàng dìu dắt các thần linh hay thường nhân nào cần tới, đem sự khôn ngoan và những kinh nghiệm lâu đời ra chỉ vẽ cho họ. Chính Nérée đã chỉ cho Hercule biết nơi các nữ thần Hespérides giấu các trái táo bằng vàng. Chính Nérée kiếm cách ngăn Pâris không cho cướp Hélène của Ménélas. Nérée ngự trị tại biển Egée, chung quanh có năm chục nữ thần Néréides xinh đẹp như ánh nắng. Các cô con gái của Nérée cỡi trên lưng các con hải trư để ca hát làm vui cho cha. Thétis là một trong số con gái của Nérée. Sau này Thétis lấy con trai Eaque, tên là Pélée làm vua ở Phthiotide (Thessalie), sinh ra Achille.
Neptune, hay Poséidon
Neptune là con của Saturne và Cybèle. Vì không được quyền có con trai, mỗi khi sinh con Saturne đều ăn thịt hết bất kể trai hay gái (xem đoạn Saturne ở trên). Khi sinh hạ Neptune, Cybèle đem giấu trong một chuồng ngựa ở Arcadie và nói dối Saturne là sinh ra một con ngựa. Saturne tin lời nên Neptune thoát chết. Sau đó khi Jupiter phải đương đầu với lũ thần Khổng Lồ, Neptune giúp đỡ thần vương được nhiều, nhưng rồi Neptune nghe lời Junon đứg vào phe chống đối Jupiter và bị đầy xuống trần. Trong thời gian phải xa Thiên cung, Neptune cùng với Apollon, cùng cảnh, lo dựng lại những thành lũy bị xụp đổ của thành Troie. Sau khi được tha thứ, Neptune không bao giờ phản bội anh là thần vương Jupiter nữa. Jupiter giao cho Neptune cai quản khu vực đại dương cùng các hải đảo và các bờ biển.
Neptune là vị thần linh thống trị toàn thể các mặt nước. Khi thì Neptune ngự trị ở dưới đáy biển sâu, an nhàn nhưng không lọt khỏi mắt một chuyện gì xảy ra ở trên mặt nước; khi thì tay cầm cây chĩa ba, Neptune oai nghi, trầm lặng ngồi trên chiếc xc đi qua khắp khu vực thần cai quản. Chiếc xe do những con hải sư dũng mãnh kéo chạy trên mặt nước như những luồng sóng dữ. Mỗi khi gió vô ý làm mặt nước động sóng, Neptune lại dùng lời truyền phán sóng liền dẹp hết khiến cho các tay thủy thủ có thể yên tâm vượt biển. Nhưng khi nào nóng giận Neptune lại vung cây chĩa ba lên và mặt biển lại bị nhồi sóng, bão tố nổi lên dữ dội. Chính tay Neptune chặt các lục địa để tạo thành những eo biển, những cửa sông. Neptune cũng tự tay phát ra các mạch nước nguồn, làm nổi lên những hải đảo. Chính Neptune lo giữ gìn các lục địa khỏi xụp đổ, trong số có Hy Lạp cùng các hải đảo bao quanh (Cyclades).
Dân giun thờ cúng vị thần linh này rất chăm chỉ vì Neptune đã khiến cho các thường nhân khiếp sợ vì tính cách bí mật và khắc nghiệt của Neptune. Tại các vùng ven biển, như Hy Lạp, Ý Đại Lợi, có rất nhiều đền thờ Neptune. Dân gian ở Hy Lạp mở hội dâng cúng Neptune vào dịp tháng bảy dương lịch (Neptunales) còn dân gian La Mã thì dâng cúng vào dịp tháng hai dương lịch. Ngoài ra mỗi kỳ hội mở tại Corinthe (Jeux Isthmiques) dân gian Hy Lạp đua nhau chẩy hội.
Sinh vật dành riêng cho Neptune là con ngựa, tiêu biểu cho những nhịp sóng vùng vẫy. Vào dịp Neptune tranh với Minerve trong việc đặt tên cho thủ đô mới của xứ Attique, Neptune cũng cỡi trên lưng ngựa từ dưới biển nhảy vọt lên.
Neptune cưới Amphitrite là con gái của Doris và Nérée. Vụ hôn nhân này khiến cho Neptune sung sướng quá đỗi nên thần nhân này đem con hải trư đã có công khuyến dụ cô con gái Nérée bằng lòng lấy Neptune lên hàng một tinh đẩu. Con trai của Neptune và Amphitrite là Triton, một thần linh hay ghen tuông và dữ tợn. Chiếc tù và bằng ốc của Triton, tùy tâm trạng của Triton mỗi khi thổi, có thể phát ra những âm thanh hiền dịu, vui tai, cũng có thể phát ra những âm thanh khiến cho các thủy thủ phải khiếp hãi. Tiếng ốc êm đẹp của Triton không một thứ âm nhạc nào trên trần thế có thể sánh kịp. Triton sinh ra một số đông những thần linh nửa người nửa cá để họp thành đoàn với các Néréides bơi theo các thần linh của Biển Cả trong các cuộc tuần du.
Eole
Thần gió Eole trị vì trên mỏm cao của các hải đảo Eoliennes ở giữa Ý Đại Lợi và đảo Sicile. Thần gió chịu mệnh lệnh của thần vương Jupiter, mỗi khi có lệnh lại thả ra trong một thời gian những vị thần hung hãn mà Eole thường nhốt trong các hang đá lớn.
Các thần gió hầu hết đều ưa thích vùng vẫy, nổi những trận bão táp, làm xiêu đổ hết thảy mọi vật trên đường gió thổi qua, có khi lên vút tận từng mây, có khi lại ào xuống đồng bằng hay trên mặt biển. Dân gian rất sợ hãi các thần gió nên thường khẩn cầu và dâng cúng. Tổng số các thần gió do Eole canh giữ không kể xiết được. Dân gian ở Hy Lạp nhìn nhận tám thần gió và thường xây những ngôi đền tám cạnh để thờ cúng thần gió. Tám vị thần gió tương đương với tám hướng trời mỗi vị từ một hướng thổi lại. Dân gian La Mã chỉ thờ cúng có bốn vị thần gió: Eurus, Borée, Notus hay Auster, và Zéphyre.
Eurus từ hướng Đông thổi lại, có người cho rằng thần Eurus đầu tóc rũ rượi, tính hung hãn; có người lại cho rằng thuần hòa, dịu nhẹ.
Borée thổi từ hướng Bắc, qua vùng Thrace và đem theo khí lạnh và băng giá. Borée có khi bị lẫn với Aquilon, hung hãn, mau lẹ nlnr con đại bàng.
Notus hay Auster là luồng gió nóng từ miền Nam thổi lại như bão táp, đem theo những cơn mưa làm ngập lụt.
Zéphyre từ hướng Tây thổi lại. Vì thổi qua đại dương nên Zéphyre đem lại hơi mát dịu ban cho cỏ cây và loài người. Nhờ hơi Zéphyre thiên nhiên trở nên tươi thắm. Tuy rất dũng mãnh, Zéphyre lướt nhẹ, mơn trớn mặt đất khiến cho đất phải hé mở dưới hơi mát của Zéphyre, do đó Zéphyre lướt tới đâu hoa mọc theo tới đó và nở thắm cả cỏ cây.
Pluton, hay Adès
Pluton là em Jupiter, ngự trị một cách khắc nghiệt ở Diêm Cung. Pluton là một vị thần linh giầu có lớn, cũng như Plulus, nhưng Pluton giầu có nhờ những của cải lấy được của những người chết bị đày xuống Diêm Cung. Pluton còn có tên là Adès, vị thần linh vô hình; hay Orcus, vị thần linh cai ngục không bao giờ chịu rời tội nhân của mình giam giữ ra. Pluton có toàn quyền trên đám những thuộc hạ, không bao giờ e sợ bị thuộc hạ chống báng hay không vâng lệnh. Pluton bị dân gian thù ghét, rất ít nơi có lập đền thờ. Ngôi đền ở Elis (Hy Lạp) mỗi năm mới mở cửa một lần. Tại Pylos, Niaa, Coronée và Olympie đều có đền thờ hay có những cánh rừng dành dâng cúng Pluton. Tại Athènes, Pluton được thờ phụng chung tại ngôi đền thờ các nữ thần Đại Nộ. Tại Trézène, Pluton được thờ chung với nữ thần Diane. Mỗi khi dâng cúng Pluton, người ta làm lễ vào buổi tối và lấy tay vỗ xuống mặt đất. Lễ vật gồm có bò đực hay dê cái lông đen trên mình có mang những sọc màu sậm. Trầm hương được đốt ở khoảng giữa hai cái sừng của sinh vật dâng cúng sau khi đã ấn đầu nó cúi xuống đất.
Các tu sĩ, giữa sự im lặng tuyệt đối, bèn bỏ nón và lấy dao nhọn mổ bụng các sinh vật để cho máu chảy xuống một cái hố đã đào sẵn, trên đó lại tưới thêm rượu nho. Sau cùng các sinh vật đều bị đốt cháy thành than: dân gian không bao giờ giữ lại một món lễ vật nào vì không muốn có một chút gì liên lạc với vị thần cai quản nơi Địa Phủ. Các sinh vật dâng cúng bao giờ cũng từng đôi, trái lại với thói quen khi dâng cúng các thần linh khác. Truyền thuyết còn nói rằng tại Latium ban đầu người ta dâng cúng sinh vật người. Các tội nhân bị hành tội đều được dâng cúng cho Pluton bằng cách bất kỳ ai gặp những tội phạm đó cũng có thể tự tay giết chết được, khi họ bị đưa tới nơi hành quyết.
Ngồi trên chiếc ngai bằng gỗ mun hay bằng lưu hoàng, Pluton chỉ biết ngự trị tại Địa Phủ chứ không hề hay biết một chuyện chi ở trên dương thế hết. Mỗi khi Jupiter làm lay động núi Olympe hay khi Neptune tức giận làm chuyển động quá mạnh trái đất, Pluton liền thảng thót rời khỏi ngai vàng và lo ngại cho nơi giang sơn u tối của mình. Điều mà Pluton e ngại nhứt là mặt đất bị nứt rạn do đó các thần nhân và loài người có thể nhòm ngó tới Địa Phủ được. Tuy vậy, Plulon có hồi cùng với anh tham dự cuộc chiến đấu chống với anh em Titan. Dân gian ở La Mã coi Pluton là một trong số mười hai thần nhân đứng đầu trên Thiên cung, thay thế chỗ của Mercure.
Proserpine
Proserpine là con của nữ thần Cérès mà Pluton đã cướp được. Tại âm cung Proserpine ngồi kế bên ngai đen của Pluton. Nhiệm vụ của Proserpine là đến đúng ngày giờ do Định Mệnh đã ghi rõ cắt sợi tóc định mệnh của người tới số. Một khi sợi tóc đó chưa bị cắt đứt thì con người đó còn liên quan tới đời sống. Dân gian ở Hy Lạp, La Mã và Sicile rất tôn sùng Proserpine. Họ dâng cúng nữ thần của Bóng Tối này cùng với nữ thần mẹ là Cérès. Tại Sicile mỗi khi thề thốt điều gì người ta lại viện tới sự chứng giám của Proserpine. Đền thờ Proserpine rất lộng lẫy, nghi lễ cúng thì có vẻ bí mật, đôi khi chỉ riêng có đàn bà cúng lễ mà thôi. Lễ vật là những con chó con lông đen (như dâng cúng Hécale) hay những con dê cái không chửa đẻ, vật này được coi như tiêu biểu cho vị nữ thần không có con gái này.
Các thần Mânes
Giang sơn của Pluton là khu vực của các thần Mânes. Danh từ Mânes có nghĩa là Tốt. Ban sơ các thần Mânes là linh hồn của những thường nhân có đức tốt. Bởi dân gian tin rằng dưới Địa Phủ những linh hồn tốt dược biệt đãi và được trở thành thần nhân cho nên họ thờ cúng các vị này nhiều lắm, coi như các thần nhân khác. Bởi lẽ đó số thần Mânes lên rất nhiều.
Mặt khác dân gian cũng tin rằng các thần Mânes là hết thảy các linh hồn người đã chết, dù xấu hay tốt. Các thần linh này có nhiệm vụ bảo vệ các mồ mả. Trên mỗi tấm bi ký đều có ghi một hàng «Kính dâng các thần Mânes». Cây dương liễu là loài cây dành riêng cho chư thần Mânes. Mỗi năm có ba ký cúng chư thần Mânes. Mỗi khi đó Địa Phủ lại hé mở một lối cho các thần Mânes ra đi dự lễ cúng. Lỗ hổng đó ngày thường được bịt kín bằng một phiến đá, mệnh danh là đá manale.
Địa phủ (Les Enfers)
Mỗi tác giả miêu tả Địa Phủ theo quan điểm riêng của mình. Dưới đây là hai đoạn trích trong cuốn Odyssée, thiên XI, của thi sĩ Hy Lạp Homère (thế kỷ thứ IX trước Công nguyên), và trong cuốn Enéide, thiên VI, của thi sĩ La Tinh Virgile (71— 19 trước Công nguyên).
Địa phủ theo Homère:
Bên kia bờ sông Océan, tại ranh giới phía Tây của thế giới, nơi xứ sa mù u tối, không bao giờ thấy ánh mặt trời, bao la một cánh đồng bằng phẳng, vô bờ bến, trên đó lang thang vô định những hình bóng vật vờ của những người đã chết: không hay biết chi hết về hiện tại, các hình bóng đó tuy vậy vẫn còn giữ được những kỷ niệm về quá khứ, luôn luôn vật vờ, buồn nản, trên cánh đồng u uất, không cây cỏ, ngoại trừ những lùm cây nhật quang lan. Đó là thầy cúng Tirésias, là nàng trinh bạch Pénélope, là Agamemnon vua trong các vì vua, là con người cuồng nhiệt Ajax, con người hung dữ Achille muốn được là một tên chăn dê qùen trên dương thế hơn là trị vì nơi xứ buồn chán của những người Cimmériens. Tại đó còn chen chúc quanh Minos đang tay cầm quyền trượng khu xử cho các thần Mânes, nào là Orion, con người khổng lồ, đang giết thì giờ bằng cách săn đuổi những muông thú kỳ quái; nào là Tityus, con người xưa kia đã từng chửi mắng Latone, hồi mà nàng chạy cùng mặt đất để trốn con rắn Python đang nằm mình che kín tới chín sào đất, trong khi bị hai con diều hâu ham hố dời đời mổ xé lá gan; nào là Tantale, đang đứng giữa hồ nước không ngừng chịu cực hình của sự đói và sự khát; nào là Sisyphe, đang ra sức vận dụng hai cánh tay và hai bắp vế đẩy hòn đá lên tới đỉnh núi, mỗi khi tới đó hòn đá lại lăn xuống lũng sâu; nào là Hercule ngang lưng đeo một đai gươm rất dễ sợ, cung đã giương sẵn, mũi tên cũng sẵn sàng, đang khiến cho đám cô hồn chạy tán loạn khi Hercule tiến tới gần, khác nào một bầy chim sợ sệt vậy. Xa chút nữa, trong quãng cùng thẳm của không gian, là Erèbe, nơi tối tăm nhất trong khu vực đã tối tăm này, nơi ngự trị của Adès, của Proserpine, của đám Harpyes, của Cerbère và của các nữ thần Furies. Không một con người nào có thể ngó sâu tới những nơi đó, nơi mà ta có thể trông thấy cả những cái bóng, đứng trên thuyền ta có thể nói chuyện với những cái bóng đó và nghe thấy, như đã có lần Ulysse cũng nghe thấy, những cái bóng đó đáp lại bằng những lời than van não nuột. Những cái bóng đó than van não nuột vì còn muốn được sống lại. Mỗi khi ở gần đó có dâng cúng sinh vật gì là những cái bóng đó đổ xô tới, với hy vọng tha thiết uống được chút máu mà trong huyết quản của chúng không còn chảy nữa.
Địa phủ theo Virgile:
Người ta có thể xuống Địa Phủ bằng những lỗ hổng bí mật tại đó phun ra những luồng hơi độc. Những cái vực thẳm dưới hồ Avernc, ở gần Cumes, tại Ý, cùng những vực khác ở gần mỏm Ténare, ở phía Nam Péloponèse, là những vực nổi tiếng là cửa đưa xuống Địa Phủ. Tại nơi tiền đình, những hang hốc đầu tiên đưa tới những nơi tối tăm đó nằm la liệt những mối Thương Cảm hay Hối Hận đang chờ rửa hận. Tại đó cũng là nơi trú ngụ của các Bệnh Tật gầy guộc, xanh lướt và của Tuổi Già buồn bã, của sự Sợ Hãi, Đói Thiếu thường hay xui bẩy chuyện bậy bạ, của sự Nghèo Đói xấu xí, của sự Đau Đớn và sự Chết trông như những quái vật gớm khiếp, của Giấc Ngủ, anh em với sự Chết, và những Thú Vui độc hại. Xa hơn nữa, ngay gần cửa vào Địa Phủ, thần Chiến Tranh đứng bên ba nàng Đại Nộ đang ngồi trên những chiếc ghế sắt. Gần đó còn mụ Bất Hòa đang cơn thịnh nộ, mái tóc gồm một bầy rắn độc đang uốn éo bên vành khăn bằng những sợi băng nhuốm máu. Ở giữa có một cây du tàn lá vĩ đại có treo lủng lẳng những Mộng Ước không thành. Ngoài ra còn có ngàn quái vất khác nữa: những Centaures nằm dài dưới đất, Briarée, khổng lồ một trăm tay, con Hydre ở Lerne, con Chimère với những tia lửa dùng làm khí giới, những Gorgones, Harpyes, và Géryon ba mình.
Rồi người ta đi tới sông Achéron, một cái vực mênh mông toàn những bùn lầy, lúc nào cũng sôi sục. Nước sông Achéron trộn lẫn với nước sông Styx. Sông Achéron thực ra là một chi nhánh của sông Styx, con sông rộng lớn này bao quanh bảy vòng khu vực Địa Phủ. Các thần nhân một khi đã viện sông Styx ra để thề thốt thì không bao giờ dám phụ lời thề, vì làm như vậy sẽ bị trong vòng một trăm năm mất hết bao nhiêu quyền phép của một thần nhân. Styx xưa kia là một nữ thần Sơn Thủy đã từng lập công rất nhiều với thần vương Jupiter cho nên Jupiter dành cho Styx uy quyền đặc biệt đó.
Thần linh phụ trách việc phòng vệ các giòng sông ở Đia Phủ là Charon, con của thần Đêm Tối, có một bộ râu trắng, dài, lởm chởm và rất bẩn. Đứng trên một chiếc thuyền thoi sơn đen, thần nhân nầy tay cầm một cây sào dùng để vớt những cái bóng ma từ bên bờ sông này qua bờ sông bên Địa Phủ. Các bóng ma chen chúc trên bờ sông đông đảo như lá mùa thu rụng trong rừng. Nhưng thần Charon thẳng tay gạt ra những bóng ma nào không được chôn cất trên trần thế, họ sẽ phải đứng đợi ở đó một trăm năm nữa. Các bóng ma khác lại bị xét xem có ngậm trong miệng khi sắp chết đủ số tiền để quá giang hay không, ít nhất phải có một đồng tiền (obole), nhiều nhất là ba đồng. Còn những người sống muốn xuống thăm Địa Phủ thì phải đưa trình cành lá bằng vàng của Định mệnh cho Proserpine, cành lá này chỉ tìm được trên dương thế nếu có sự ưng thuận của Proserpine. Charon chỉ vì tội đã cho Hercule ngồi trên thuyền của mình không có cành lá vàng Định Mệnh đó mà phải lưu đày xuống đáy vực Tartare trong vòng một năm trời.
Phía bờ Địa Phủ, giữa đám lau lách mọc trên đồng lầy, con chó ba đầu vĩ đại Cerbère thò đầu ra khỏi chuồng mà ngó, cái cổ mọc tua tủa những đầu rắn. Do thần khổng lồ Typhon và Echidna quái vật đuôi rắn sinh ra, con chó Cerbère là anh em với nhân sư Sphinx, con Chimère, con Hydre ở Lerne và con sư tử ở Némée. Móng nhọn của con Cerbère dữ tợn này màu huyền và có nọc như nọc rắn. Các bóng ma đã tới đó mà còn muốn đi ra khỏi Địa Phủ bị con chó Cerbère lớn tiếng sủa vang, còn những người sống nào táo gan lần mò xuống Địa Phủ thì bị nó chồm lên cắn xé. Tuy nhiên, thần Orphée đã dùng tiếng đàn Ly Tao làm cho con chó Cerbère mê ngủ khi xuống Địa Phủ kiếm Eurydice. Nhưng sau đó khi nàng Sibylle ở Cumes đưa Enée xuống thăm bóng ma của cha là Anchise phải ném cho con chó một miếng bánh có tẩm thuốc ngủ mới đưa con của nữ thần Vénus qua khỏi miệng nó. Ít nhất có một lần con chó Cerbère phải hoảng sợ, đó là bữa Hercule xuống Địa Phủ. Bữa đó nó run lên, sợ hãi chạy núp dưới chân Diêm Vương Pluton. Thần Hercule lúc đó đưa hai bàn tay hộ pháp ra nắm lấy cổ con chó và lôi nó lên tới mặt đất trong khi nó sợ hãi hai tai cúp xuống.
Qua vũng lầy đó thì tới khu vực mênh mông của các bóng ma. Ban đầu người ta qua một cấnh đồng rộng, tại đó linh hồn của nhũng trẻ sơ sinh chết yểu than khóc. Sau đó tới một cánh đồng khác đầy những bóng ma nạn nhân của nhữug vụ án oan uổng, bất công. Giữa đám đó, Minos, có Eaque phụ giúp, đung đưa chiếc bình định mệnh. Ở Diêm cung không phải ai cũng có một chỗ ở nếu chưa được phán xét tội trạng rõ rệt. Minos là một phán quan cứng cỏi chuyên việc xét định công tội của các bóng ma mời tới. Xa hơn nữa là cánh đồng của những bóng ma chết vì tự sát. Rồi tới cánh đồng Than thở, tại đó những linh hồn đã từng đau khổ vì không được yêu. đi lang thang trong những ngõ ngách bí mật. Tại đây, dưới gốc thâm u những cây sim, Enée đã gặp cô nàng than thở Didon. Xa hơn nữa là cánh đồng của các tử sĩ, tại đó họ vẫn tiếp tục như trên trần thế cuộc giao tranh cao quý của họ.
Từ đó con đường chia thành hai ngả. Bên tay trái ở xa xa có một khu vực có ba bức thành bao quanh và phía ngoài có một con sông, sông Phlégéthon, chảy quanh. Con sông không có nước mà cuồn cuộn chảy như giòng lửa, bên những tảng đá sóng vỗ vang động. Ngay phía trước có một khuôn cửa rộng hai bên có những hàng cột bằng kim cương. Bên trên cửa có một cái lầu canh bằng sắt ở cao vút trong không. Tisiphone, một trong ba nàng Đại Nộ, mình bận một chiếc áo màu máu, ngày đêm đứng gác không hề ngủ.
Ba nàng Đại Nộ, cũng còn có tên là Erinyes, sinh ra do máu của Saturne rớt xuống đất sau khi bị Jupiter chém. Chuyên thi hành mọi sự thịnh nộ của thần nhân, nhiệm vụ của ba Nàng là tiễu trừ các tội ác và báo cừu cho những người lương thiện, vô tội. Quyền lực của ba nàng không riêng ở Địa Phủ mà còn cả ở trên dương thế và trên Thiên cung nữa. Nàng hung dữ nhất, đến Pluton cũng phải nhìn nhận như vậy, là Alecton. Alecton cùng với Mégère trong số ba chị em, đi đi lại lại bên trong tòa thành, không ngớt hành hạ các tội phạm bằng những chiếc roi mình rắn, hay những bó đuốc hừng hực cháy để trừng trị những sự độc ác của chúng ở trên trần. Nơi đây phát ra những tiếng rên xiết, la hú kinh khủng chính là vực Tartare vậy. Tại đây Rhadamanthe ban ra những luật phép gắt gao, ở kế bên giòng Cocyte, chứa đầy nước mắt quá muộn của những kẻ độc ác. Tại đây ta có thể trông thấy bọn anh em Titan phản loạn, nàng Salmonée đáng tội vô đạo, cùng là Tilyus và Ixion, những người đã bội lời thề, những người keo kiệt, phản bội, đang phải chịu những cực hình vô kể.
Phía tay mặt là con đường đưa tới những cánh đồng tươi đẹp, những cánh rừng xanh tốt, nơi an lạc ngự trị. Một bầu không khí trong lành bao phủ, ánh sáng đỏ hồng hồng. Các bóng ma được hưởng ở đây cả không khí lẫn ánh sáng mặt trời, cùng là các vì sao như trên trần thế. Tại khu vực của những người sung sướng, tại cánh đồng Elysée, các bóng ma tập luyện chân tay hay chơi đùa vật lộn trên cát vàng. Tại đó, Orphée, mình choàng một chiếc áo rộng, dùng ngón tay và mảnh ngà voi gẩy chiếc đàn Ly Tao, trong khi các bóng ma nằm dài trên cỏ, bên bờ suối Eridan, cùng nhau hợp xướng một bài ca mừng Apollon, Bacchus hay Mars. Tận cùng một thung lũng cây cỏ xanh tốt, một dòng suối lững lờ chảy qua những lùm cây râm mát, vang vang những âm thanh. Đó là dòng suối Léthé, đầu con sông Quên Lãng phân ranh giới giữa Địa Phủ và Dương Gian. Hai bên bờ sông vô số những bóng ma của những quốc gia và những dân tộc bị xóa tên trên bản đồ thế giới bay lượn và thỉnh thoảng lại xà xuống uống nước trên dòng Lãng Quên cho khuây khỏa sự nhớ tiếc địa vị cũ. Xưa kia những linh hồn này chuyên khích động những tâm hồn ngay thẳng cũng như những tâm hồn bạo ngược trên trần thế, nhưng bao nhiêu tội lỗi đã trả, nhiều linh hồn lại muốn được trở về Dương Gian một lần nữa. Chừng bao nhiêu vết tích của những tội lỗi cũ đã được rũ sạch hết nhờ nước trên dòng Qnên Lãng, các thần nhân có thể sẽ ưng chịu cho những bóng ma này thử trở lại trần gian để thứ thách một lần nữa.
Tới đó là hết khu vực Erèbe, xứ mênh mông của các bóng ma. Ở đó ta có thể ra khỏi nhờ qua hai cửa của Giấc Ngủ, một cửa bằng sừng, do đó những giấc mơ thật sự tìm tới mọi người trên trần thế; một cửa nữa bằng ngà và đem tới cho loài người những giấc mộng vô ích.