Thần Nhân Và Thần Thoại Tây Phương

Lượt đọc: 1189 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MƯỜI HAI KỲ CÔNG CỦA HERCULE (tt)

Sự tích Cadmus

Agénor là cháu của thần Neptune, trị vì tại xứ Phénicie. Agénor có hai con, một gái và một trai, tên là Europe và Cadmus, trong số đông các con cái khác. Europe xinh đẹp và trắng ngần khiến dân gian phải cho rằng một nữ thần hầu cận Junon đã lén lấy một bình phấn trên bàn riêng của Junon đem cho Europe dùng nên Europe mới được trắng tươi như vậy. Jupiter trông thấy cô nàng xinh đẹp quá, quyết tâm bắt lấíy làm vợ. Jupiter bèn hóa thành một con bò đực đi lẫn vào đàn bò của Agénor. Europe nhận thấy trong đàn bò có một con coi bộ hiền và tốt mã hơn hết nên không ngần ngại tới bên nó. Nàng hái cỏ cho nó ăn, lấy tay vuốt ve nó và kết hoa thành tràng đeo trên sừng nó. Con bò cúi đầu xuống đất. Europe thấy vậy bèn cỡi lên lưng nó. Bất đồ con bò vùng dậy, chạy phăng qua cánh đồng cỏ, tới bờ biển nó lại nhảy luôn xuống nước bơi qua biển tới tận đảo Crète. Con bò mộng bơi theo cửa sông Léthé, lên mãi gần ngọn guồn mới ghé vào bờ. Sau khi đặt Europe nằm trên bãi cỏ, dưới gốc một cây ngô đồng, Jupiter mới hiện nguyên hình. Europe sinh hạ với Jupiter được hai con là Minos và Rhadamanthe.

Trong khi đó Agénor ra lệnh cho các con đi kiếm Europe, buộc bọn chúng không được trở về nếu không kiếm được Europe. Cadmus cầm đầu một đoàn thuyền rất đông ra đi tìm chị. Tới đảo Rhodes, Cadmus sai dựng một ngôi đền thờ thần Neptune để trông nhờ sự bảo trợ của Neptune. Sau đó Cadmus mới đi tới Samothrace và Thrace, đi khắp hai xứ đó mà không kiếm được tung tích của Europe ở đâu hết. Cadmus bèn đi hỏi nhà tiên tri ở Delphes. Nhà tiên tri phán truyền rằng đừng nhọc công tìm kiếm nữa. Cadmus sẽ gặp một con bò cái và chỉ cần dựng lên một đô thị ở nơi nào mà Cadmus sẽ thấy con bò cái đứng lại nghỉ. Khi tới xứ Phocée, quả nhiên Cadmus gặp một con bò cái, liền đi theo cho tới xứ Béotie thì con bò ngừng lại. Cadmus liền bắt lấy con bò đó làm lễ vật dâng cúng Minerve. Sau đó cần có nước để tắm rửa sạch sẽ trước khi cúng lễ, Cadmus sai người đi kiếm một suối nước. Họ tìm tới suối thiêng của Dircé. Nhưng vừa khi họ sắp múc nước dưới suối thì một con rồng hung hãn vụt hiện ra. Con rồng có nhiệm vụ canh giữ suối nước đó và ăn thịt hết đám gia nhân của Cadmus, Đợi quá lâu không thấy bọn họ trở về, Cadmus phải ra đi tìm. Cadmus trông thấy con rồng mình còn đầy những máu nên biết ngay là bọn gia nhân đã bị hại. Được Minerve giúp sức, Cadmus lao vào đánh con rồng hung dữ và hạ được nó. Nữ thần Minerve khuyên Cadmus nên lấy bộ răng con rồng rắc xuống đất. Lạ lùng thay, Cadmus thấy từ dưới đất chui lên những người tay mang khí giới chạy tới bao quanh mình. Vẫn do lời khuyên của Minerve, Cadmus lấy một hòn đá liệng vào giữa đám đông; họ liền quay ra chém giết lẫn nhau chỉ còn có năm người đứng về phía Cadmus. Sau đó năm người này giúp Cadmus dựng thành phố Thèbes ở đúng nơi mà con bò cái ngừng lại khi trước. Cadmus được Minerve phong làm vua tại thành рhố mới lập đó và lấy nữ thần Harmonie là con gái của Mars và Venus làm vợ. Harmonie về sau sinh hạ Sémélé, mẹ của Bacchus, và Ino. Chư thần đông đủ tới dự đám cưới. Cérès tặng Cadmus lúa mì, Mercure một cây đàn ly tao, Minerve một chiếc vòng cổ, một chiếc áo choàng peplos và một ống tiêu. Còn Vénus thì dạy cho Cadmus việc thờ cúng nữ thần Cybèle. Тhế là Cadmus trở thành thủy tổ nền văn minh béotien, đem truyền thụ lại cho dân gian những điều mình đã được chư thần truyền dậy. Có một truyền thuyết nói rằng về sau nhờ một nhà tiên tri cho biết rằng con cháu về sau sẽ gặp nhiều cảnh tang thương cho nên Cadmus muốn tránh trước để khỏi phải chứng kiến. Cadmus tự ý trục xuất khỏi Thèbes, lui về ẩn ở xứ Illyrie, tại đây Cadmus được chư thần biến cho thành một con rắn.

Sự tích Amphion

Một người con của Cadmus, tên là Lycus, nối ngôi cha trị vì tại Thèbes. Lycus cưới Antiope. Sau tự nhiên vô cớ sinh nghi Antiope không chung thủy và cưới Dircé, rồi giao cho Dircé nhiệm vụ canh giữ Antiope. Dircé không ngớt hành hạ Antiope rất khổ sở. Một bữa sợi dây trói Antiope bỗng tự nhiên đứt. Đó là do Jupiter cảm thương nỗi khổ của Antiope nên hóa phép như vậy rồi đem Antiope lên núi Cithéron. Antiope sinh với Jupiter được hai đứa con sinh đôi. Sau khi sinh, Antiope đem hai đứa nhỏ bỏ trong rừng. Jupiter vẫn bí mật coi chừng chúng nên khiến một chú chăn chiên bắt gặp đem về nuôi. Chú chăn chiên đặt tên cho hai đứa nhỏ là Amphion và Zéthus. Amphion được Apollon cho một cây đờn Ly Tao và trở nên thi sĩ, còn Zéthus thì thành một tay thợ săn.

Khi hai đứa nhỏ đã khôn lớn, chú chăn chiên thấy cần nói cho chúng biết gốc tích của chúng. Biết rõ đầu đuôi, chúng liền mộ một đạo binh tới đánh phá thành Thèbes và giết chết Lycus. Còn Dircé thì bị cột vào sừng một con bò mộng hung dữ, con bò quay cuồng một hồi thì Dircé cũng chết. Nhưng Bacchus vốn được Dircé thờ phượng đem xác Dircé tới một miền núi biến thành một giòng suối mang tên là suối của Dircé. Hai anh em Amphion và Zéthus lên ngôi vua trị vì tại Thèbes và dự định xây chung quanh thành phố một hàng thành lũy. Theo truyền thuyết, việc xây cất tòa thành này rất dễ dàng. Mỗi khi Zéthus vác lên vai một tảng đá thì Amphion lại gảy đàn Ly tao. Hòn đá cảm xúc vì tiếng đàn tự ý lăn tới đúng chỗ. Rồi tới phiến đá khác to và nặng gấp bội cũng bắt chước làm theo. Cứ thế chẳng bao lâu tòa thành đã xây xong không mất một chút công nào của hai anh em.

Mấy năm sau, khi tham dự cuộc viễn chinh với đám thủy thủ Argo trở về, Amphion cưới Niobé, con gái của Tantale. Niobé liên tiếp sinh hạ được mười bốn người con, bảy con trai và bảy con gái. Lấy làm kiêu hãnh vì bầy con đông đảo của mình, Niobé dại dột tự coi mình hơn cả Latone, mẹ của Apollon và Diane. Niobé ngăn cấm dân gian không cho thờ cúng Latone nữa và muốn được thay thế địa vị đó. Latone hay tin rất lấy làm phiền vì sự kiêu ngạo đó nên nói chuyện lại với hai con là Apollon và Diane. Hai người bèn từ núi Olympe xuống hạ giới để rửa hận cho mẹ. Cơ hội tới rất dễ dàng. Một bữa bảy anh em cùng nhau vào rừng săn bắn, Apollon liền dùng tên bắn chết cả bảy người. Nghe tiếng kêu la bọn bảy cô gái cũng chạy tới và liền bị trúng những mũi tên vô hình của Diane. Niobé điên dại lên chạy từ trong hoàng thành ra, khi trông thấy xác mười bốn đứa con nằm la liệt trên mặt đất, Niobé chết đứng tại chỗ. Chín ngày liền những xác chết nằm phơi giữa rừng. Mãi tới ngày thứ mười, chư thần mới thương tình đem chôn lũ con Niobé. Còn người mẹ thì được biến thành một hòn núi, bên sườn núi chảy ngày đêm một giòng suối. Đó là nước mắt của người mẹ ngàn năm không nguôi nỗi thương tâm.

Còn Amphion trước cảnh đau thương cũng tự sát luôn.

Sự tích Œdipe

Labdacus, cháu nội của Cadmus, nối ngôi trị vì tại Thèbes. Labdacus có một người con tên là Laïus. Labdacus bị Lycus chiếm mất ngôi. Sau Lycus lại bị Amphion giết chết. Tới khi Amphion tự sát chết, Laïus trở lại giữ ngôi vua ở Thèbes. Laïus cưới Jocaste con gái của Moénécée và em gái Créon. Tiên tri cho biết rằng đứa con trai sinh ra sau này sẽ giết chết cha và lấy mẹ. Để giải cái số mạng ghê gớm đó, khi sinh đứa con trai đầu tiên, Laïus đục thủng hai bàn chân đứa nhỏ rồi lấy dây cột lại. Sau đó Laïus sai đem đứa nhỏ treo trên một cành cây ở trên núi Cithéron và bỏ đó. Jocaste sai một kẻ tôi mọi chuyên việc chăn các thú vật của nhà vua ở trên núi làm công việc độc hại này. Nhưng anh ta trôg thấy cảnh thương tâm của đứa nhỏ nên động lòng, đem nó giao cho một người bạn cũng làm nghề chăn thú vật cho vua xứ láng giềng Corinthe nuôi giúp. Chú chăn chiên này lại đem đứa nhỏ về cho chủ nhà là Polybe và Mérope. Polybe và Mérope nhận nuôi đứa trẻ và đặt tên cho nó là Œdipe, tức là bàn chân bị thương.

Sau đó, chàng Œdipe vẫn coi vua và hoàng hậu Corinthe là cha mẹ ruột của mình. Nhưng một hôm trong đám tiệc có một người say rượu nói ra mấy câu khiến cho (Edipe sinh hoài nghi về tông tích của mình. Œdipe tới Delphes hỏi nhà tiên tri. Nhưng vị thần linh này cho biết rằng nếu Œdipe trở về nơi quê hương thiệt thọ của mình thì sẽ giết chết cha, lấy mẹ và sinh ra một giòng giống xấu xa. Hoảng sợ vì lời tiên tri, Œdipe nhất định không quay về Corinthe nữa mà đi về hướng Béotie. Tới Daulis, nơi mà con đường đi từ Delphes tới gặp con đường đi về Thèbes, Œdipe thấy có một cỗ xe ngựa nằm chắn ngang con đường hẹp. Ông già tóc bạc ngồi trên xe cương quyết bảo Œdipe phải quay đi đường khác. Tức giận vì lời nói sẵng, Œdipe nhất định không nghe. Ông già và người lái xe tỏ ý dùng võ lực ngăn cản Œdipe. Trong cơn nóng giận Œdipe liền đánh người lái xe. Trông thấy như thế, ông già tóc bạc vừa lúc Œdipe bước lại gần liền lấy sợi roi da quất lên mặt Œdipe. Sợi roi có dính hai mũi nhọn ở đầu làm cho Œdipe bị đau. Œdipe liền lấy cây gậy đánh ông già ngã ngửa nằm trên xe, rồi ra sức sát hại hết đám thuộc hạ của ông già tóc bạc. Sau đó Œdipe thẳng đường tới Thèbes. Tới trước cửa vào thành Thèbes, Œdipe gặp một con nhân sư ngồi đó. Nếu khách qua đường không trả lời đúng câu hỏi của nó con nhân sư liền ăn thịt.

Hồi đó Laïus vừa bị người hạ sát mà không ai hay biết thủ phạm. Anh vợ Laïus là Créon liền đứng ra trông coi việc triều chính thay thế Laïus. Trước cảnh con nhân sư tàn hại dân gian. Créon có ước hẹn sẽ gả Jocaste và giao ngôi báu cho ai giết chết được con nhân sư đó. Œdipe nghe tin đó thử tìm cách hạ con nhân sư để chiếm lấy phần thưởng quý báu. Con nhân sư là một thứ quái vật mình sư tử đầu người đàn bà. Con nhân sư này do Junon sai tới để trừng trị vua xứ Thèbes vì một tội ác chưa phải trả. Con nhân sư hỏi Œdipe: «Vật gì buổi sáng có bốn chân, trưa có hai chân và tối có ba chân?». Œdipe không ngần ngừ đáp: «Người ta, vì hồi nhỏ bò bốn chân, khi lớn đi bằng hai chân, rồi về già phải chống gậy». Tức giận vì có kẻ đoán trúng câu hỏi hóc búa, con nhân sư lao đầu xuống biển.

Œdipe toàn thắng con nhân sư trở thành vua xứ Thèbes và lấy Jocaste làm vợ. Cuộc nhân duyên ghê gớm đó sinh ra hai con gái: Antigone và Ismène, và hai con trai sinh đôi: Etéocle và Polynice. Theo truyền thuyết, đám anh em này chưa sinh ra đời đã thù ghét nhau.

Trong khi đó một trận dịch tễ bỗng nổi lên tại Thèbes và tàn hại dân chúng rất nhiều. Créon đi hỏi nhà tiên tri thì được biết rằng cả xứ Thèbes đang bị xú uế vì sự có mặt của kẻ sát nhân đã giết chết Laïus. Dịch tễ sẽ hết khi nào dân Thèbes đã tìm ra kẻ sát nhân và đuổi nó đi khỏi xứ. Œdipe lập tức làm một cuộc điều tra cặn kẽ. Œdipe hăng hái, siêng năng theo dõi cuộc điều tra cho tới khi lần lần vỡ lẽ rằng bao nhiêu tội lỗi đều quy vào mình cả. Ông già tóc bạc mà Œdipe giết chết ở đoạn đường rẽ về Thèbes chính là Laïus. Bà hoàng hậu mà Œdipe lấy chính là mẹ của chàng. Được tin này Jocaste nổi điên lên vì xấu hổ và thất vọng, lấy sợi dây lưng treo cổ chết. Còn Œdipe thì giựt lấy cây ghim găm trên áo của con người vừa là mẹ vừa là vợ của mình rồi tự đâm mù cả hai mắt. Kịch sĩ Hy Lạp Sophocle có viết một bi kịch rất hay về sự tích này, tựa đề là Œdipe-roi (Œdipe làm vua).

Créon liền thi hành đúng lệ luật là trục xuất Œdipe ra khỏi xứ Thèbes. Các con của Œdipe có thể theo cha đi lưu đày được nhưng bọn con trai thì muốn ở lại thay phiên nhau trị vì, Ismène cũng bị các em giữ lại. Chỉ có một mình Antigone đưa cha đi. Œdipe vừa đi vừa kêu gọi các thần nhân trừng trị hai đứa con trai bất hiếu.

Nhưng chẳng bao lâu sau tiên tri lại truyền phán rằng dân tộc nào có được Œdipe sẽ trở nên bá chủ. Nếu không được nắm xương tàn của Œdipe đem về cũng được kết quả như vậy. Créon liền cho người đi kiếm Œdipe mời trở về nước. Sứ giả gặp Œdipe lại Colone, một thị trấn ở Attique, gần Athènes, cách không bao xa một cánh rừng dành riêng cho các nữ thần Đại Nộ (Euménides hay Erinnies) khu rừng này cấm chỉ thường nhân không được lai vãng tới. Nhưng Ismène đã đi trước sứ giả và báo tin cho cha biết ý định cầu lợi của Créon. Khi gặp Créon, Œdipe rất tức giận không đáp. Créon dự định dùng võ lực bắt ép Œdipe. Créon liền sai hai anh em Etéocle và Polynice bắt cóc hai người chị là Antigone và Ismène đi. Nhưng nghe tiếng hai cô gái kêu la, dân chúng thành Athènes chạy tới. Nhà vua là Thésée cũng chạy theo tới, Thésée giành lại hai cô con gái Œdipe, và đuổi Créon đi.

Giữa hai anh em Etéocle và Polynice lại xảy ra tranh chấp. Theo ước lệ từ trước, mỗi anh em làm vua một năm nhưng Etéocle sau khi đã ngồi trên ngai vua không muốn nhường cho em nữa. Polynice bị trục xuất ra khỏi Thèbes liền mộ quân đem về đánh cướp lấy ngôi vua. Hay tin thần nhân đã dạy là ai có Œdipe theo phe mình sẽ làm bá chủ thiên hạ, Polynice liền đi kiếm cha, khẩn cầu, nài nỉ Œdipe về cùng với mình. Nhưng Œdipe không những không chịu nghe theo còn mắng chửi thậm lệ. Đồng thời lại kêu gọi thần nhân trừng trị hai đứa con.

Polynice vừa đi khỏi một lát thì Œdipe nghe có tiếng sét nổ. Nghe thấy như vậy Œdipe biết rằng số mình sắp hết. Vì đã tự ý đầy đọa mình để rửa cho sạch những tội lỗi cho nên Œdipe rất thanh thản chờ chết. Œdipe biết rằng mình chỉ là một thứ tay sai chịu sự khiến bảo của các thần nhân, Œdipe tin rằng các thần nhân sau khi đã dùg đời mình để làm những công việc đã định sẵn nay sẽ cho mình được chết một cách đẹp đẽ. Œdipe sai đi mời Thésée tới rồi cùng với Thésée đi vô trong cánh rừng dâng cúng các nữ thần Đại Nộ. Vô trong rừng, giữa những tiếng sấm sét Œdipe bỗng biến mất. Nhưng Œdipe khi chết đi cũng gửi lại cho dân chúng thành Athènes và tay anh hùng Thésée nắm xương tàn của mình. Nhờ đó dân Athènes sau này sẽ chiến thắng thành Thèbes.

Polynice cầm đầu một đoàn quân trở về Thèbes cướp ngôi của anh. Chiến trận kéo dài không phân thắng bại, Polynice liền đề nghị với Etéocle hai anh em giao đấu một trận sống chết, kẻ nào thắng sẽ giữ ngôi vua. Ngay hiệp đầu Polynice đã đánh ngã Etéocle nhưng lại ngu dại ghé gần bên anh để xem Etéocle đã chết chưa, Etéocle liền vùng lên đâm chết Polynice trước khi thở hơi cuối cùng. Thế là hai anh em thù nghịch cùng chết cả. Một bi kịch của Eschyle có đề cập tới chuyện này, nhan đề «Bảy người đánh thành Thèbes» (Les Sept contre Thèbes).

Sau khi hai anh em Etéocle đã chết, Créon liền chiếm lấy ngôi báu. Theo lệnh của Créon chỉ riêng Etéocle là người đã đứng ra chiến đấu bảo vệ thành Thèbes là được có đám táng trọng thể. Nếu ai chôn xác kẻ thoán nghịch Polynice sẽ bị tội chết. Antigone thương em, mặc dầu những lời khuyên quá sức khôn ngoan của Ismène, quyết tâm làm trái lệnh của Créon vì nàng nghĩ rằng thà bất tuân lệnh kẻ mạnh ở trần gian nầy hơn là làm trái ý các thần linh. Antigone tự tay chôn xác Polynice. Créon sai bắt Antigone và đem chôn sống. Nhưng tội ác này Créon phải trả liền. Con trai của Créon là Hémon lại yêu Antigone. Hémon hết lời van xin với cha tha tội cho Antigone nhưng Créon không nghe. Vừa thất vọng vừa tức giận, Hémon cắn đứt lưỡi nhổ vào mặt cha rồi chết. Vợ của Créon buồn vì chết mất đứa con trai yêu quý cũng tự vẫn chết. Còn Créon về sau ra sao không thấy ai nói tới. Sự tích Antigone được kịch gia Hy Lạp Sophocle viết thành một vở bi kịch mang tên «Antigone».

Sự tích Méléagre

Œnée, trị vì tại Etolie, một bữa làm lễ dâng cúng các thần linh ở núi Olympe để tạ ơn đã cho mùa màng năm đó gặt hái được tốt. Trong khi dâng cúng, có lẽ vì đãng trí, Œnée quên không đọc tới tên nữ thần Diane. Diane tức giận lập tức sai một con heo rừng tới tàn hại những đất đai của Œnée. Œnée có một con trai tên là Méléagre. Bảy ngày sau khi sinh Méléagre, bà mẹ, tên là Althée, trông thấy ba nàng Se Tơ hiện ra trước bếp lửa. Lần lượt, Clotho tiên đoán rằng đứa nhỏ sẽ dũng mãnh, can đảm; Lachésis cho rằng đứa nhỏ sẽ có một sức mạnh phi thường; và Atropos thì nói rằng đứa nhỏ sẽ không ai xâm phạm nổi và sẽ sống dài lâu như khúc củi làm mồi lửa ở trong lò. Ba nàng vừa đi khỏi thì Althée nhảy tới bếp lửa, vội cầm lấy khúc củi đang cháy, đem dụi hết tàn lửa và cất kỹ đi một nơi.

Khi con heo rừng do thần linh sai tới đang tàn hại vùng Calydon thì Méléagre vừa lúc đang tuổi lờn. Méléagre tập hợp hết thảy các nhà thiện xạ cùng các đàn chó ở quanh vùng, tổ chức một cuộc săn bắt con heo phá hại. Trong đám anh hùng có mặt trong cuộc săn này có Castor và Pollux, Thésée, Jason, Pirithous, các ông cậu em của mẹ Méléagre cùng cô nàng xinh đẹp Atalante. Cả đoàn đi kiếm bắt gặp con heo rừng. Atalanle khai cung bắn trúng một mũi tên trên lưng nó. Một nhà thiện xạ thứ hai bắn nó mù một mắt. Sau cùng tới Méléagre đâm một ngọn giáo xuyên qua người nó. Theo lời hứa của Œnée, Méléagre là người được coi như chiến thắng con vật vì đã giết chết nó sau cùng và được hưởng con heo. Cảm vì sắc đẹp và sự can đảm của nàng Atalante, Méléagre đưa tặng nàng cái đầu con heo rừng. Nhưng mấy ông cậu lại lấy làm phật lòng, trách rằng tại sao trước mặt bao nhiêu đàn ông như vậy lại đem món quý nhất ra tặng một cô gái, cho rằng Méléagre làm thế là bỉ mặt họ. Nếu Méléagre không muốn giữ cái đầu heo về phần mình, Méléagre phải lấy thứ bậc cha chú của họ mà đưa tặng họ mới phải. Cuộc cãi vã thêm gay go: Méléagre tức giận giết chết mấy ông cậu.

Hay tin như vậy Althée muốn trả hận cho các em liền đi kiếm khúc củi hồi trước vẫn giấu kỹ một nơi ra bỏ vô lò lửa cho cháy. Lập tức Méléagre cảm thấy bị nung đốt trong tâm can. Khi khúc củi cháy hết thì Méléagre cũng thở hơi cuối cùng. Althée trông thấy con chết cũng thất vọng tự vẫn.

Œnée lấy người vợ sau, tên là Péribée, sinh ra Tydée. Tydée sau sinh ra tay anh hùng Diomède, trị vì tại Argos, và là một nhân vật hiển hách trong trận chiến tranh với dân thành Troie.

Sự tích các con nhân mã (Les Centaures)

Các con nhân mã là một loài hung hãn, to lớn, sống tại vùng Thessalie, trên ngọn hai trái núi Ossa và Pélion. Tên Centaures của chúng có nghĩa là những tay săn bò mộng. Chúng mình có lông nửa trên là người, nửa dưới là ngựa, có bốn chân, sống một đời hoang dã, lại rất ưa thích uống rượu. Chúng sử dụng gốc cây, tản đá, khúc củi hay ngọn giáo làm khí giới. Riêng có con nhân mã Chiron là biết dùng cung tên. Chúng chuyên ăn thịt sống. Ban sơ dân gian vẫn coi những nhân mã này như thú vật. Mãi sau mới gán cho chúng hình thù nửa người, nửa ngựa. Ngay Chiron, được mệnh danh là kẻ hiền triết cũng bị gán cho hình thù nửa người nửa ngựa đó. Chiron là con của Saturne và nữ thần Sơn Thủy Philyre. Chiron rất tinh thông nhiều môn: săn bắn, làm thuốc, luyện võ và coi bói. Chính một tay Chiron đã nuôi nấng các bậc anh hùng như Achille, Jason, Esculape, Thésée, Nestor, Méléagre, Hippolyte, Ulysse, Diomède, Castor, Pollux, Enée và Pélée (được Chiron quý nhất) cùng nhiều người khác ở trên núi Pélion. Chiron rất thân với Hercule. Có một thời gian Hercule ở chơi với Chiron, và chính vì sự lầm lỡ vô tình của Hercule mà Chiron phải chết. Khi Hercule đang coi lại mớ tên độc của mình chợt đánh rớt một mũi xuống đất làm thủng bàn chân của Chiron đang đứng bên. Không một phương thuốc nào trị nổi nọc độc của con quái vật ở Lerne. Chiron chết đi để lại cho Prométhée quyền bất lử. Jupiter đem Chiron lên trời. Chiron hóa thành nhóm hành tinh Sagittaire.

Sự tích dân Lapithes

Đi liền với sự tích các nhân mã Centaures có truyện các người Lapithes. Bộ lạc này chuyên nghề cỡi ngựa rất giỏi. Theo truyền thuyết các người Lapithes đã bày ra cách dùng hàm thiếc. Vua của dân Lapithes là Ixion, một người độc ác, dữ tợn. Khi đi hỏi vợ Ixion có hứa hẹn với bố vợ sẽ đem nhiều lễ vật quý tới, nhưng lấy được vợ, Ixion liền nuốt lời. Ông bố vợ bèn bắt ngựa của Ixion để thay thế. Ixion làm như không hờn giận, mời cha vợ tới chơi nhà. Khi ông kia tới Ixion lừa cho ông ta rớt xuống một cái hầm có để than hồng. Bị lên án phải lưu đày, Ixion đi tới đâu cũng phải xua đuổi, sau cùng lên Thiên cung khẩn cầu Jupiter cưu mang. Jupiter nghĩ thương tình tha hết tội lỗi và cho vào ngồi dự yến cùng với chư thần. Khi ngồi vào bàn tiệc, Ixion trông thấy Junon đâm mê và quyết tâm sẽ bắt cóc đem đi. Nhưng Jupiter sớm nhận thấy tâm địa của Ixion nên nổi trận lôi đình dùng một tiếng sét đánh bật Ixion xuống vực Tartare. Tại đó Jupiter sai thần Mercure dùng rắn trói chặt Ixion vào một cái bánh xe quay mãi không thôi.

Con Ixion là Pirithoüs lên nối ngôi. Ngày đám cưới Pirithoüs có mời một trong số các nhân mã tới dự. Nhưng khi vào tiệc Pirithoüs vô tình đã quên không khấn thỉnh thần Mars. Mars nổi giận khiến cho con nhân mã sau khi say rượu bỗng đưa tay ôm lấy cô dâu mới và dự tính cõng chạy đi. Thésée là bạn thân của Pirithoüs thấy vậy liền giựt lại. Nghe tiếng ấu đả, bọn nhân mã ở gần đó cùng ào tới, hai bên đánh nhau một trận tơi bời. Bên phe Pirithoüs có một người bị đánh ngã khiến cho dân Lapithes càng tức giận. Do Pirithoüs và Thésée cầm đầu dân Lapithes đánh đuổi bọn nhân mã kỳ cùng. Bị đại bại, bọn nhân mã phải bỏ xứ chay trốn mãi tới vùng giáp ranh với xứ Epire. Khi Hercule đi tới xứ Erymanthe, đi ngang đó bị bọn nhân mã làm khốn, nhưng Hercule nổi nóng lại đánh cho chúng một trận khiến chúng phải bỏ chạy tới tận cùng Hy lạp.

Sự tích Pélée

Eaque, con trai của Jupiter và Europe, cai trị hải đảo Egine hết sức là công minh, khoan dung, và tôn kính chư thần khiến chư thần đều lấy làm yêu vì. Hồi đó Hy Lạp bị nạn hạn hán. Eaque khẩn cầu các thần linh giúp cho tai nạn qua khỏi. Lập tức lời xin được chư thần cho được thỏa mãn.

Một khi có chuyện bất hoà xảy ra trên núi Olympe, Eaque lại được triệu tới để khu xử. Bao giờ Eaque cũng tìm được cách làm cho ai nầy đều vừa lòng.

Khi đảo Egine bị nạn đói kém, dân chúng chết gần hết. Eaque liền xin với thần Vương Jupiter khiến cho đàn kiến ở trên cây chêne dành dâng cúng thần vương hóa thành người. Eaque đặt tên những người này là Myrmidons, do danh từ Hy Lạp murmex (con kiến). Sau khi Eaque chết được cử làm một trong ba phán quan ở Địa Phủ. Eaque có nhiệm vụ giữ chìa khóa cửa vào Địa Phủ.

Con trai Eaque là Pélée. Ngay từ khi mới lọt lòng Pélée đã được chư thần yêu quý. Sau Pélée là Télamon và Phocus. Phocus là con một người vợ khác của Eaque. Hai anh em Pélée và Télamon ghen ghét Phocus vì Phocus có đặc tài chơi trò chơi nào cũng giỏi. Hai anh em định tâm hạ sát Phocus. Một bữa Pélée chơi ném đĩa lấy chiếc đĩa bằng sắt nặng đó liệng lên đầu Phocus khiến Phocus ngã lăn ra chết. Télamon lại dùng gươm đâm bồi thêm mấy lát. Hai anh em sát nhân bị tội lưu đày.

Télamon chạy qua xứ Salamine, lấy con gái vua tại đó và chờ dịp sẽ lên ngôi báu thay chân cha vợ. Khi trở về già Télamon sai hai con trai là Teucer và Ajax tới Troade tham chiến dưới quyền Agamemnon. Cả hai anh em đều có vũ công hiển hách, nhất là Ajax, được coi như cánh tay phải của binh đội Hy Lạp. Nhưng sau khi Achille bị chết dưới chân thành Troie, Ajax căm giận dân Hy Lạp đã đem bao nhiêu khí giới của tay anh hùng cho kẻ khôn ngoan Ulysse chớ không cho Ajax nên y nổi cơn điên mà chết. Còn lại một mình, Teucer trở về nước. Teucer bị cha hắt hủi. trách không trả thù cho em, hay ít nhất cũng đem nắm xương tàn của em về nước. Teucer bỏ qua đảo Chypre, sau đó lại đi mãi tới Espagne và lập ra thành phố Carthagène.

Sau khi giết Phocus, Pélée bỏ trốn qua Trachine, xứ Thessalie. Tại đó Pélée lấy Antigone là con gái vua và được ban cho cai trị vương quốc Phthiotide. Chẳng bao lâu vợ Pélée bị chết vì buồn rằng Pélée không trung thành với mình. Antigone thắt cổ tự tận. Sau đó Pélée lấy nữ thần Thétis, con gái của Nérée. Nữ thần này rất xinh dẹp, đến nỗi cả thần vương Jupiter lẫn thủy tề Neptune đều muốn lấy làm vợ. Nhưng trong một buổi hội tại Thiên cung, nữ thần Thémis có phát giác rằng Thétis sẽ sinh ra một đứa con dũng mãnh hơn cả cha, vì thế hai vị thần linh đều bỏ ý định đó. Và Jupiter quyết định Thétis không được lấy chồng thần nhân mà chỉ được lấy một thường nhân thôi. Hay tin đó Thétis hết sức phản đối quyết định bất công và ô nhục đối với mình đó và quyết tâm không để cho một ai theo đuổi. Tuy vậy Pélée cũng cố gắng theo. Trước hết Pélée hỏi ý kiến Chiron. Chiron bày cho Pélée những cung cách khôn khéo để chiến thắng cô nàng khó khăn. Thétis mấy lần hóa thân thành lửa, thành nước, thành sư tử, thành rắn để thoát khỏi tay Pélée. Nhưng lần nào Pélée cũng thắng được những quái vật đó để sau cùng ôm cứng được cô nàng đem đi mất.

Đám cưới Pélée và Thétis hết sức trọng thể. Hết thảy các thần nhân trên Olympe đều tới núi Pélion, trong thạch động của con nhân sư Chiron, để dự tiệc cưới. Nhưng không may riêng có nữ thần Bất Hòa (Discorde) bị bỏ quên không mời. Nữ thần này giữa đám tiệc bèn xuất hiện và ném ra một trái táo bằng vàng trên có ghi hàng chữ: Tặng người xinh đẹp nhất. Junon, Vénus và Minerve liền tranh giành nhau một cách hăng hái đến nỗi chính thần vương Jupiter phải đứng ra саn thiệp. Jupiter sai Mercure đưa ba nữ thần tới xứ Phrygie, trên núi Ida, nơi chàng xinh trai Pâris đang chăn cừu và để cho Pâris phân xử xem ai xinh đẹp nhất vì con mắt của Pâris được coi như sành đàn bà đẹp nhất.

Pâris, hay Alexandre, là con trai Priam, trị vì tại Troie. Mấy ngày trước khi sinh Pâris, hoàng hậu Hécube nằm mơ thấy sinh hạ một mớ lửa, lửa đó lan ra đốt cháy cả thành phố. Priam cho đi hỏi các nhà tiên tri xem ý nghĩa của giấc mơ đó ra sao. Các nhà tiên tri đoán rằng đứa nhỏ sắp sinh ra đời sẽ tàn hại xứ sở, cần phải đem bỏ một nơi. Hécube sai chú chăn chiên Agélaüs lo công việc đó. Agélaüs đem Pâris tới bỏ trên mõm núi Ida. Năm ngày sau Agélaüs lại đi ngang đó thì thấy một con gấu cái đang cho đứa nhỏ bú. Lấy làm kinh ngạc trước cảnh tượng lạ lùng đó, Agélaüs lấy lại đứa nhỏ đcm lên núi nuôi cùng với đứa con của mình. Con trai của Priam lớn lên ở trên núi, ngày càng bảnh bao, khỏe mạnh như thần nhân.

Mercure cùng ba nữ thần tới đó kiếm Pâris.

Junon hứa với chú chăn chiên nhiều của cải và quyền thống trị cả Á Châu; Minerve hứa sẽ đem lại sự khôn ngoan và danh vọng; còn Vénus thì hứa sẽ đem lại cho Pâris một người đàn bà tuyệt sắc, là nàng Hélène, vợ vua Ménélas ở Hy Lạp, nổi tiếng thời đó vì nhan sắc đặc biệt. Vénus được Pâris cho là đẹp nhất.

Chính sự chọn lựa này về sau sẽ là đầu mối cho sự tiêu hủy cả thành Troie.

Cuộc hôn nhân giữa Pélée và Thétis đem tới một đứa con trai đặt tên là Achille. Thétis muốn cho con trở nên bất tử và không ai động hại tới được mới đem tới sông Styx, con sông bao quanh bảy vòng Địa Phủ. Khi nhúng Achille xuống nước sông Styx, Thétis sơ ý không nhúng cả gót chân mà Thélis nắm để nhúng thằng nhỏ xuống nước. Achille trở nên bất khả xâm phạm thật nhưng không may chỉ riêng có một gót chân là có thể bị tổn thương vì không được nhúng nước sông Styx. Sau này Achille bị hại vì gót chân đó.

Một truyền thuyết nữa kể rằng Thétis muốn diệt hết trong người Achille những mầm mống của sự chết nên đem đêm vẫn lén chồng đem vùi Achille trong đống lửa. Mỗi sáng Thétis lại dùng món ăn trên Thiên Cung (Ambroisie) chà xát mình mẩy cho Achille. Nhưng Thétis không giấu chồng được mãi. Một buổi tối khi trông thấy Thétis đưa Achille vào đống lửa, Pélée khiếp hãi la lên. Thétis hoảng sợ và thấy không thể hoàn thành ý định của mình được bèn lao mình xuống biển bỏ chồng bỏ con lại đó, về sống cùng với các nữ thần Néreides là chị em với Thétis, ở dưới đáy biển.

Nhân mã Chiron cũng được giao cho công việc dạy dỗ Achille. Chiron cho Achille ăn tủy heo rừng và gấu, lòng gan sư tử, và dạy cho Achille nghề săn bắn cùng là những phương pháp sống trong rừng sâu hoang vu, đồng thời Chiron cũng dậy cho Achille những phép tắc còn khó khăn hơn nữa để giữ vững đạo đức. Khi Achille mới chín tuổi, nhà tiên tri Chalcas (đó là một nhà tiên tri đã già tới mấy trăm năm, đui hai con mắt và có tham dự hầu hết những biến cố trọng đại ở Hy Lạp thời tiền sử) có tiên đoán rằng thành Troie mà toàn thể dân Hy Lạp sẽ đồng minh để đánh phá sẽ không thể bị phá nổi nếu chưa có Achiile nhúng tay vào. Nghe tin này, Thétis ở dưới đáy biển cũng thấy lo sợ cho con mình, liền chạy tới đem quần áo đàn bà mặc cho Achille và sau khi đã cải trang cho Achille như vậy đưa tới hoàng cung của vua Lycomède, đang trị vì ở Scyros. Lycomède nhận đem nuôi cùng với các công chúa.

Trong khi đó dân chúng Hy Lạp cử người tới Phthiolide kiếm Achille đem về cho ứng với lời tiên tri. Ulysse được cử đi không tìm thấy Achille bèn đi hỏi nhà tiên tri Chalcas. Được Chalcas chỉ cho đúng chỗ, Ulysse cải trang thành một khách thương đến triều vua Lycomède ở Scyros. Được đưa vào ra mắt các công chúa, Ulysse đem những đồ tơ lụa và vàng ngọc ra cho các công chúa coi. Achille lẫn trong đám các công chúa cũng tới coi.

Nhưng khi Ulysse đưa ra một thanh bảo kiếm, Achille không thể giấu được bản chất con trai nên vội đưa tay ra cầm lấy. Cùng lúc đó, theo một hiệu lệnh bí mật do Ulysse đã sắp đặt từ trước, ở ngoài sân tiếng kèn đồng nổi lên, cùng tiếng binh khí va chạm nhau. Achille hăng hái nhảy ra sân, bắt gặp một thanh trường thương để sẵn đó do sự sắp đặt của Ulysse, Achille liền nắm lấy và chạy vội ra sân ngoài. Achille hứa giúp sức với bọn người Hy Lạp và theo họ về. Thétis vừa khóc vừa trao cho con thanh kiếm cùng các món vũ khí do Vulcain đã vì Thétis rèn đúc cho Achille. Thétis còn căn dặn Achille rằng đời sống của Achille sẽ tùy thuộc ở công nglùệp của chàng. Công nghiệp càng hiển hách thì đời sống càng ngắn. Những lời dặn dò vô ích vì Achille muốn được lừng lẫy một thời dù sẽ chết yểu còn hơn là sống lâu không chút tiếng tăm.

Achille cầm đầu một đoàn năm chục chiến thuyền gồm các thuộc dân của Eaque mà người đương thời mệnh danh là đàn kiến (Les Myrmidons). Trước khi rời khỏi miền duyên hải Hy Lạp để thao luyện binh sĩ, Achille đem quân chinh phạt vùng Thessalie nổi loạn. Cầm đầu thủy quân, Achille phá được mười hai thành, rồi cầm đầu lục quân, Achille lại phá được mười một thành nữa. Nhân dịp này một bữa Achille ghé lên đảo Lesbos, công phá thành phố Méthymne. Dân thành này cự địch rất hăng; mãi sau Achille mới thắng được chỉ vì sự phản bội của Pélias, con gái nhà vua trị vì tại đó. Vì say mê Achille, Pélias đã không ngần ngại phản bội cha, nhưng Achille sau khi chiến thắng đã sai quân phanh thây Pélias để trị tội đó.

Sau đó Achille thẳng đường đi đánh Troie. Trong số tùy tùng có Phénix và Patrocle là bạn thân của Achille.

Phénix là con một ông vua trị vì tại Thessalie, Một bữa nóng giận, mù quáng. ông vua này đã nguyền rủa con và đuổi đi khỏi xứ. Phénix trốn tới triều vua Pélée được Pélée tin dùng cho cai trị xứ Dolopes và trông coi việc dạy dỗ Achille, khi đó đã được Chiron huấn luyện một thời. Phénix dạy cho Achille phép hùng biện và binh pháp. Phénix hết sức lo lắng cho Achille về mọi mặt, khi lên đường đi đi đánh thành Troie, Phénix cũng theo Achille. Còn Patrocle là con một ông vua ở Locride, bị lưu đày vì một vụ vô tình giết người. Patrocle cũng tìm tới Phthie đầu quân, được Pélée tin dùng. Patrocle được quen biết Achille rồi trở nên thân nhau không rời.

Tới trước thành Troie, Achille lập được nhiều chiến công nhưng mặc dầu bao nhiêu công trạng của Achille đối với dân Hy Lạp, những lời tiên tri của Thétis vẫn còn đó. Achille mê Polyxène, con gái của Priam trong hàng ngũ thù địch. Priam sẵn lòng gả Polyxène cho Achille với điều kiện là Achille phải đứng vào hàng ngũ dân thành Troie. Achille có hẹn với Polyxène tại một ngôi đền thờ Apollon tại vùng ngoại ô Thymbra. Nhưng kịp lúc đó Pâris mới được vua cha cho trở về triều chợt tới, trông thấy kẻ thù của thành Troie liền giương cung bắn trúng Achille một mũi tên vào gót chân. Cô gái trở về Troie, còn Achille cũng về doanh trại của mình nhưng vết thương không lành, Achille bị chết.

Ít lâu sau thành phố Troie bị quân Hy Lạp chiếm được và tàn phá tan tành. Dân Hy Lạp không biết mối tình giữa Achille và Polyxène, đinh ninh rằng Polyxène tham dự âm mưu để Pâris bắn chết Achille nên sau khi hạ thành đã tìm Polyxène giết chết. Pyrrhus, con trai của Achille, là người kiếm được Polyxène và đem dâng cúng trên mộ Achille.

Sau đó xác Achille được Ajax và Ulysse đem hỏa táng. Mớ tro tàn được chôn tại mõm Sigée. Thétis hay tin tới than khóc trên mộ con, nhưng Neptune cho biết rằng Achille sẽ được liệt vào hàng thần linh cho nên Thétis cũng nguôi cơn đau khổ. Dân gian sau đó lập đền thờ Achille cúng lễ như đối với thần linh khác.

Sự tích đoàn chiến sĩ trên tàu Argo (Les Argonautes)

Tại Béotie, xứ Orchomène, có một dân tộc hùng cường và can đảm giòng giõi của Minyas, cháu của thần Neptune. Dân chúng Orchomène do vua Athamas cai trị. Hoàng hậu Néphélé sinh hạ được hai con là Phryxus và Hellé. Néphélé chết. Athamas cưới bà vợ kế tên là Ino, con gái của Cadmus. Ino thù ghét hai người con vợ trước một cách tàn nhẫn. Khi đó nạn dịch tễ tàn hại dân chúng. Nhà tiên tri được Ino đút lót từ trước nên nói rằng các thần linh sẽ không giáng họa nữa nếu nhà vua hy sinh hết giòng giõi hiện có đi. Phryxus và Hellé vì vậy sẽ phải hy sinh để dâng cúng các thần linh. Nhưng hai anh em cũng tìm cách lẩn trốn được và tẩu thoát. Trước kia Néphélé có được thần Mercure cho một con dê đực có bộ lông bằng vàng, con dê này biết nói tiếng người và biết suy xét giống như người. Ngoài ra con dê này còn có phép bay trên không hay lội trên mặt biển. Phryxus bèn cùng với em gái là Hellé cỡi lên lưng con dê được nó bay trên không đưa hai anh em về ngả châu Á. Trong khi bay qua biển, tiếng gió và tiếng sóng gầm thét khiến cho Hellé hoảng sợ rớt xuống biển. Nơi Hellé bị rớt xuống từ đó mang tên là Hellespont (biển của Hellé).

Phryxus được đưa tới Colchide ở đó cho tới chết được yên ổn. Phryxus đem con dê lông vàng dâng cúng thần vương Jupiter, là vị thần linh thường bảo trợ cho những người phải trốn chạy. Còn bộ lông vàng của nó Phryxus đem tặng cho nhà vua ở Æétès. Ông vua này đem bộ lông đó máng lên một cành cây chêne đã dâng cúng thần Mars, và cắt một con rồng canh giữ. Jupiter lấy làm mãn ý về sự dâng cúng của Phryxus nên truyền phán rằng hễ ai có được bộ lông đó sẽ được giầu sang phú quý cho tới khi bộ lông lọt qua tay người khác.

Sư độc ác của Ino sau bị Junon hay biết và trừng trị. Nữ thần Junon ban đầu khiến cho nhà vua ở Orchomène phát điên lên. Trong một cơn điên, Athamas trông thấy Learque, một trong những con trai do Ino sinh ra, lại tưởng trông thấy một con sư tử nên lấy kiếm đâm chết. Ino thấy Léarque chết cũng nổi điên lên túm lấy người con thứ hai tên là Mélicerte ném trong một thùng nước sôi. Sau đó, như hồi tỉnh lại, Ino lại ôm lấy xác Mélicerte chạy lên mỏm đá ở bờ biển rồi hai mẹ con ôm nhau nhảy xuống biển chết.

Dân giòng giõi Minyas còn đi tới vùng Thessalie, chiếm cứ một khu vực mệnh danh là Iolchos. Dân Minyas ở Iolchos được một ông vua cai trị hết sức công minh. Đó là vua Eson. Eson cũng không trị vì được bao lâu. Em trai tên là Pélias là một con người độc ác, hung dữ vì hồi nhỏ được nuôi bằng sữa ngựa. Pélias nổi lên cướp ngôi của anh và đuổi Eson ra khỏi xứ. Nhưng Pélias cũng không cai trị được yên vì bị nữ thần Junon đeo theo trị tội sao lãng không chịu thờ cúng.

Eson có một nguời con tên là Jason, được giao cho nhân mã Chiron nuôi dậy. Jason nghe tin rằng Pélias trở nên hối hận vì tội ác của mình và được, nhà tiên tri dặn rằng nếu một ngày nào có một người mang có một chiếc dép tìm tới thì phải coi chừng. Sau khi hỏi ý kiến Chiron, Jason ra đi tìm tới Iolchos. Đi ngang một bờ suối, Jason trông thấy một bà cụ già, bà ta khẩn cầu Jason bồng đưa qua bờ suối bên kia. Jason vui lòng giúp đỡ bà lão qua được giòng suối. Bà lão chẳng phải ai xa lạ mà là nữ thần Junon. Từ đó Jason được nữ thần Junon tận tình phù Irợ. Jason tiếp tục đi tới Iolchos nhưng chỉ còn nơi сhân có một chiếc dép, chiếc kia rớt khi lội qua suối. Bữa đó Pélias đang dâng cúng thần Neptune ở gần đó, chợt trông thấy Jason chân mang có một chiếc dép đi tới liền nhớ lại lời tiên tri và bỏ chạy. Jason tới Iolchos, tỏ lộ cho dân chúng biết tung tích của mình và đòi ông chú phải trả lại ngôi báu. Pélias ưng thuận hết mọi yêu sách, nhưng với điều kiện là Jason phải đi kiếm đem về cho ông ta bộ da vàng của dê. Điều yêu cầu đó chỉ là một mưu kế của Pélias vì lão biết rằng Jason không cách nào lấy nổi bộ lông vàng đó.

Nhưng Jason cũng sửa soạn ra đi. Jason sai đóng một chiến thuyền thật tốt. Khi thợ đóng thuyền nữ thần Minerve cũng ra tay giúp sức. Dân gian truyền tụng rằng khi đó Minerve có trộn lẫn trong các cây gỗ một mảnh gỗ cây chêne ở Dodone là một giống cây có tài tiên tri và biết nói tiếng người. Trong khi chiến thuyền của Jason sẽ rẽ sóng đi kiếm tấm da vàng thì mảnh gỗ đó sẽ chỉ bảo cho các thủy thủ những nơi nào nên tránh và phải đưa thuyền đi theo hướng nào. Chiến thuyền chạy rất mau nên được mang tên là Argo, một danh từ Hy Lạp có nghĩa là nhanh chóng. Một truyền thuyết lại cho rằng tên Argo là do tên nhà chuyên môn đã đóng chiếc thuyền đó là Argus.

Khi ra đi Jason không đi một mình và có đem theo một đoàn những kiện tướng. Trong số đó đáng kể là nàng xử nữ Atalante, Augias, Castor và Pollux, Hercule và anh chàng đẹp trai Hylas, Méléagre, Nestor, Orphée, Pélée, Télamon, Tyđée, Thésée... Trước khi trương buồm Jason làm một lễ thật long trọng dâng cúng các thần linh và Jason, nhân danh chỉ huy chiếc tàu, cũng yêu cầu các bạn đồng hành cùng thề giữ sự chung thủy với nhau. Hercule được cử giữ nhiệm vụ cầm bánh lái. Con thuyền rời khỏi Iolchos, đi ngang mũỉ Magnésien, rồi núi Pélion, ghé chào Chiron và cậu học trò mới là Achille rồi rẽ sóng đi tới vùng Macédoine và núi Athos. Khi tới đảo Samothrace, các tay Argonautes quay mũi tàu về hướng Bắc, chẳng bao lâu tàu tới xứ Phrygie, hồi đó do Laomédon cai trị.

Trước kia Laomédon có ý định xây một thành phố tráng lệ nên có nhờ Apollon và Neptune, hồi đó bị đày xuống trần, lo giùm công việc xây dựng đó. Hai vi này vui lòng giú với một số tiền nhất định. Sau khi xây cất xong Laomédon trở mặt không chịu nộp số tiền đã ước hẹn. Neptune nổi nóng dâng nước biển lên làm lụt hết không còn một viên đá nào đứng nguyên chỗ. Còn Apollon thì gieo rắc dịch tễ làm hại dân chúng. Dân chúng Phrygie đi hỏi nhà tiên tri thì được dạy rằng hằng năm phải đem một cô gái dâng cúng thần biển cả. Hàng năm dân ở Phrygie lại bắt thăm chọn lấy một cô gái đem bỏ trên mỏm đá dâng cho thần nhân. Khi thuyền Argo cập bến thì vừa lúc Hésione, con gái của vua Laomédon, đến lượt phải làm vật hy sinh. Laomédon tới kiếm Hercule, van nài Hercule cứu cho con gái lão. Nếu được như vậy Laomédon sẽ gả Hésione cho Hercule và tặng thêm cho nhiều ngựa quý. Hercule luôn luòn sẵn sàng trợ giúp mọi người nên vui lòng nhận ngay. Hercule giết chết con quái vật ở dưới biển lên và cứu được Hésione. Hercule đem Hésione về cho Laomédon. Quen tính dối trá Laomédon từ chối không gả Hésione cho Hercule. Hercule nổi giận giết chết Laomédon, phá cả thành phố tan tành, rồi đem Hésione cho Télamon.

Sau đó tàu Argo lại lên đường. Khi tới bờ biển xứ Mysie, các nhà hàng hải ghé lại để sắm thực phẩm. Tại đây Hylas khi vào rừng lấy nước ở suối bi các nữ thần Sơn Thủy tại đó cảm sắc đẹp bắt cóc mắt. Hercule đứng trên bờ biển lớn tiếng kêu gọi mãi không thấy Hylas. Sau Hercule lại hăm dọa dân chúng Mysie nếu không đem trả Hylas sẽ làm cỏ cả thành phố. Hylas vẫn biệt tăm. Từ xa xa chỉ nghe thấy như có tiếng vang vọng lại.

Nhưng các thủy thủ trên tàu Argo, phần vì nóng lòng phải đi, phần vì sợ sức quá nặng của Hercule có thể nguy hại tới con tàu nên bỏ Hercule ở lại đó kiếm người bạn thân là Hylas. Bỏ được Hercule ở lại đó mọi người đều cất được mối lo ngại.

Sau nhiều gian lao, các thủy thủ tới cửa biển Pont-Euxin. Tại đây thần Neptune hài lòng vì những món đồ dâng cúng, nên giữ hai phiến đá Symplégades lại cho con tầu đi qua. Hai phiến đá Symplégades chấn ở cửa vào eo biển Point- Euxia. luôn luôn bị sóng vỗ va chạm vào nhau. Vì vậy không có tàu thuyền nào vượt qua được khúc đó mà không bị hai phiến đá nghiền nát ở giữa. Qua khỏi được khúc nguy hiểm, chiếc tàu tiến tới cửa sông Phase. Con tàu theo giòng sông Phase đi ngược lên tới Æa, thủ đô của xứ Colchide.

Æétès, vua xứ Colchide, nghe tin đồn đã biết ý định của Jason. Sợ nếu cưỡng lại sẽ bị tàn hại vì phe của Jason quá đông các tướng tài, Æétès bằng lòng trao tấm du vàng cho Jason, nhưng với điều kiện là Jason phải làm xong ba công việc nguy hiểm. Æétès không có mục đích nào khác là bày chuyện khó để gián tiếp hại Jason. May mắn thay, Æétès lại có một cô gái tên là Médée là một tay phù thủy. Médée bỗng cảm thấy mê Jason, sau khi được Jason hứa sẽ đem theo về và lấy làm vợ nên nguyện sẽ giúp sức Jason tránh được mọi sự nguy hiểm. Công việc của Jason là trong một ngày phải sai khiến được hai con bò mộng, chân bằng đồng, phun lửa ra đằng mũi, sau đó lại khiến hai con bò đó cày bốn mẫu đất hoang, và sau cùng đem những cái răng con rồng mà Cadmus đã giết chết ở bên suối Dircé gieo trên các luống cày đó. Médée đưa cho Jason một cái ve trong đó đựng chất thuốc ma quái dặn Jason thoa lên mình trước khi sai khiến hai con bò, và một cục đá để ném vào giữa đám đông có khí giới sẽ nổi lên sau khi gieo những cái răng rồng xuống đất. Nhờ có thứ thuốc ma quái đó, Jason trở nên bất khả xâm phạm, hai con bò chân đồng bị khắc phục rất dễ dàng, rồi ngoan ngoãn cày bốn mẫu đất. Jason đem những cái răng rồng còn lại của Cadmus ra gieo trên những luống cày. Khi đám người có khí giới nổi lên, Jason đem cục dá liệng vô giữa đám là tan hết, sau khi quay ra chém giết lẫn nhau.

Nhưng Æétès từ chối không tự tay đi lấy tấm da thú cho Jason. Nếu Jason muốn lấy phải tự ý giết chết con rồng trước đã. Lần này Médée lại giúp sức Jason bằng cách ru ngủ con rồng. Thế là Jason chiếm được tấm da thú bằng vàng.

Xong công việc, đoàn Argonautes tính sửa soạn trở về. Nhưng Æétès tức giận vì bị mất tấm da, âm mưu đốt cháy chiếc thuyền Argo và giết luôn được Jason. Được Médée tiết lộ cho biết ý định của Æétès, Jason bèn vội vàng cùng các tùy tùng nhổ neo đưa Médée cùng đi. Æétès cử binh đi đuổi theo. Khi con thuyền Argo ra tới cửa sông Ister thì bắt gặp đám quân sĩ của Æétès. Con trai của Æétès thay mặt cha lên tàu đòi lại tấm da. Médée bắt sống người em, giết chết rồi chặt thây ra nhiều mảnh hễ thuyền đi tới đâu thì rải rắc những mảnh chân tay người bị giết tới đó. Æétès mắc thu lượm mảnh xác của con nên thuyền Argo đi thoát ra biển. Những mảnh xác của đứa con trai Æétès được đem chôn lại một nơi mệnh danh là Tomes, có nghĩa là những mảnh vụn. Về phần Jason, sau nhiều gian nguy khác, trở về tới Thessalie, rồi tới đảo Corcyre, tại đó Jason làm lễ cưới Médée. Sau cùng Jason vinh quang trở về Iolchos. Sau đó Jason đem chiếc chiến thuyền dâng cúng thần Neptune, còn tấm lông vàng thì đưa cho Pélias.

Nhưng, trong khi vắng mặt Jason, ông chú trước hết giết chết người anh là Eson bằng cách bắt ông ta phải uống huyết một con bò mộng, sau lại giết chết luôn người em trai của Jason, còn bà mẹ của Jason thì thắt cổ chết sau khi nguyền rủa người em. Thấy Jason bất đồ trở về, Pélias hoảng kinh biết chắc đã đến ngày tận số. Médée được Jason sai phái, tìm cách hại Pélias, để trả thù cho những người đã chết. Médée nói cho các cô con gái của Pélias nếu muốn cho cha trẻ lại phải đem Pélias chặt thành nhiều khúc nấu trong một cái nồi bằng đồng. Nhưng khi thi hành công việc đó Médée giữ không đọc ngay câu thần chú khiến cho Pélias đáng lẽ trẻ lại bị chết luôn. Nhưng Jason không chiếm ngôi báu và bị con của Pélias trục xuất. Jason cùng với Médée rời tới xứ Corinthe. Tại đây Médée sinh hạ hai con trai.

Sau ít năm hạnh phúc, Jason sinh mê con gái vua xứ đó là công chúa Créuse. Quá si mê, Jason nhẫn tâm bỏ vợ và hai con để cưới Créuse. Médée quyết tâm trả thù. Nàng làm bộ như cam chịu số phận. Bữa đám cười, Médée cho người đem tới mừng cô dâu một tấm áo rất đẹp để tối bữa đó cô dâu bận dự tiệc cưới. Nhưng tấm áo đó có một ma lực lạ lùng. Khi Créuse vừa bận lên người thì tấm áo hóa thành một ngọn lửa thiêu đốt cô gái thành tro và làm sáng rực cả tòa lâu đài. Hại được cừu nhân xong, Médée tự tay bóp chết hai đứa con rồi lên một cổ xc ngựa nhưng do hai con rồng có cánh kéo. Médée trở về nước, giúp vua cha Æétès khi đó bị trục xuất khỏi xứ trở lại ngôi vua ở Colchide. Hòa thuận trở lại với gia đình, Médée ở tại xứ cho tới chết. Sau đó Médée được xuống cánh đồng Elysée và trở thành vợ của Achille.

Sự tích Deucalion

Nhân loại hồi đó đang thời kỳ dùng đồ đồng, con người ta trở nên sa đoạ đến nổi Jupiter quyết định sẽ sát hại hết. Hy Lạp bị một trận mưa lũ không thể tả nỗi. Riêng có một người thoát khỏi là Deucalion, trị vì tại Thessalie và là một vị anh quân. Deucalion là con của Prométhée, cháu của Japet, và là giòng giõi của Uranus và nữ thần Trái đất. Theo lời khuyên của cha, Deucalion làm một chiếc thuyền, trên đó chứa đủ những món đồ cần thiết, rồi lên đó cùng với cô em họ và vợ tên là Pyrrha. Hai vợ chồng, hai con người độc nhất thoát khỏi nạn mưa lũ, ngồi trên thuyền chờ chín ngày chín đêm cho nước lũ rút hết. Tới hừng đông ngày thứ mười, mưa bắt đầu ngưng và mực nước bắt đầu rút xuống. Chiếc thuyền do sóng đưa tới tấp vào ngọn núi Parnasse xứ Phocide. Deucalion đặt chân lên đất liền là lo làm lễ dâng cúng thần vương Jupiter. Thần vương sai nữ thần Mercure tới cho Deucalion hay rằng có cần điều chi thần vương sẽ cho được thỏa mãn. Deucalion xin cho loài người được sống lại. Mercure liền bảo hai vợ chồng bịt mắt lại rồi lấy những xương cốt của bà nội của họ liệng về phía sau lưng. Sau khi suy nghĩ mãi về ý nghĩa của lời ban truyền đó, hai vợ chồng Deucalion mới hiểu rằng thần nhân muốn bảo họ lượm những hòn đất và liệng qua vai ra phía sau lưng, vì đất là nguồn gốc của hết thảy mọi người. Hai vợ chồng Deucalion liền y theo lời. Những hòn đất hay những viên đá liệng do tay Deucalion thì hóa thành nhwxng người đàn ông, còn đá hay đất của Pyrrha thì hóa thành đàn bà. Sau đó, hai vợ chồng từ núi Parnasse đi xuống đồng  bằng cùng nhau xây một ngôi nhà.  Họ ở đó cho tới chết.

Deucalion vì vậy được coi như thủy tổ của giòng giống Hellènes, người đầu tiên sáng lập ra các đô thị và xây cất các đền thờ. Deucalion sinh ra Hellene và Amphictyon. Hellen trở nên vua xứ Phthie, sau sinh ra Æolus và Dorus, thủy tổ của hai giòng giống éoliendorien. Anphictyon trở nên vua xứ Attique, có dạy cho dân chúng thuộc hạ cách pha nước vào rượu nho và thành lập liên đoàn amphictyonique. Đó là một tổ chức kết tập các dân tộc Hy Lạp với một mục đích tôn giáo và chính trị. Tại các hội nghị, các đoàn viên thảo luận về các vấn đề lợi ích chung, cùng giải quyết những vụ tranh chấp xảy ra giữa сác đoàn viên.

Sự tích Orphée

Orphée, vua xứ Thrace, là con của Apollon và nàng Ly Tao Calliope. Orphée còn là một thi nhân biết ca hát những vẻ đẹp. Sáng chế ra cây đàn cithare, Orphée còn biết ca và chơi đàn Ly Tao rất gợi cảm. Mỗi khi Orphée lên tiếng ca hát và đánh đàn, vạn vật ở quanh đều tụ lại để nghe không biết chán. Các cây cỏ rời cả gốc ra để tới gần mà nghe, các giòng sông thì ngưng chảy, các thú dữ quên mất cả thú tính độc ác. Chính vì những âm điệu của Orphée mà chiếc tàu Argo, sau khi hoàn thành ở trên núi đã tự nhiên từ trên núi trườn xuống cho tới bãi biển. Sau đó cũng nhờ tiếng đàn và giọng ca của Orphée mà đám thủy thù cùng các chiến sĩ vốn cương nghị và bất trị đã ngoan ngoãn nghe theo sự chỉ huy của Jason. Tới lối vào eo biển Pont-Euxin (Hắc Hải hiện nay) cũng nhờ tiếng đàn Ly Tao của Orphée, do Neptune chỉ vẽ cho, nên hai tảng đá Symplégades mới chịu ở yên không va chạm vào nhau làm tan nát chiến thuyền Argo. Một tay Orphée, nhân chuyến du hành phiêu lưu này, đã giúp sức được rất nhiều và làm cho mọi công chuyện trở nên dễ dàng chỉ vì tiếng đàn và lời ca du dương.

Vừa là thi sĩ vừa là chính trị gia. Orphée còn là một nhà gieo rắc văn minh cho các dân tộc. Orphée đi tới đâu dạy dân ở đó biết trọng pháp luật là tôn kính các thần linh. Mặc dầu bao nhiêu đức tốt, Orphée không phải là không gặp những chuyện buồn rầu và đau đớn.

Vợ thương yêu của Orphée là Eurydice. Eurydice là một nữ thần Sơn Thủy nhưng thuộc loại hamadryade số kiếp dính liền với sổ kiếp một gốc cây chứ không bất tử như các nữ thần khác. Gần xứ Thrace có một thung lũng phì nhiêu, trù mật tên là thung lũng Tempé, tại đó con sông Pénée lặng lờ chảy qua để ra biển, ở giữa hai ngọn núi Olympe và Ossa. Tại thung lũng này có một chú chăn chiên tên là Aristée, con của Apollon và nữ thần Sơn Thủy Cyrène. Aristée chuyên nghề nuôi ong, trồng nho và tinh thông y thuật. Xưa kia, Aristée cũng say mê nàng hamadryade Eurydice. Một bữa kia trông thấy cô nàng một mình đi trên bờ sông, Aristée vội đeo theo. Cô nàng sợ hãi bỏ chạy vội vã đến nỗi không trông thấy ở ven sông một con rắn độc nằm đó. Cô nàng bị răn cắn chết khiến cho Orphée đau sót không thôi. Orphée bèn xa lánh hết thảy mọi người, mượn tiếng đàn làm khuây nỗi buồn. Không gian ngàv đêm vang vang những lời than vãn của Orphée.

Sau cùng Orphée quyết tâm xuống Địa Phủ để giành lại người yêu. Orphée đi ngang Hy Lạp từ Bắc tới Nam để tới chui vô cái hang ở mõm Ténare, tìm đường xuống Địa Phủ. Nghe tiếng đàn du dương của Orphée các bóng ma tấp nập kéo tới, run rẩy cảm động, như từng đàn chim trên các vòm cây trong rừng. Ba nàng Đại Nộ hùng hổ cũng chợt ngừng tay không lấy roi quất xuống lưng các tội phạm nữa. Con chó Cerbère cả ba cái mõm cùng ngưng sủa một lượt. Bao nhiêu những đồ dùng để tra khảo các tội phạm đèu tự ý ngưng lại không chạy, đám tội nhân được một thời gian nghỉ ngơi. Lần đầu tiên Pluton và bà vợ Proserpine cảm thấy thương xót. Nàng Eurydice được Pluton trả lại cho Orphée. Nhưng Proserpine đặt mộl điều kiệu là Eurydice phải đi theo sau Orphée và Orphée không được phép quay đầu lại ngó Eurydice cho tới khi nào lên đến mặt đất. Khi sắp hết địa hạt âm cung, khi bóng tối bắt đầu mờ lần, Orphée bỗng quên lời nữ thần Proserpine căn dặn và quá yêu thương vợ vội quay mình lại để ôm lấy Eurydice. Bỗng một tiếng sét nổ vang, nàng Eurydice tan biến ra mây khói và Orphée bị đẩy sang bờ bên kia sông Styx.

Orphée trở về xứ lạnh lẽo Thrace và lại làm cho không gian vang vang tiếng đàn ai oán của con người cô độc. Các phụ nữ ở Ciconie thay phiên nhau kiếm hết cách giải khuây cho Orphée nhưng vô hiệu. Bao nhiêu lời lẽ dịu dàng Orphée đều bỏ qua đi và chỉ luôn miệng đòi trả lại Eurydice. Căm tức vì không một ai trong bọn lọt qua mắt xanh của Orphée, đám phụ nữ một bữa không chịu nổi hè nhau đánh xé tan tành Orphée, những mảnh xác bị vương vãi khắp nơi. Cái đầu của Orphée lăn mãi tới bờ sông Hèbre. Tuy đã chết khô cứng từ lâu cái đầu của Orphée vẫn không ngớt thốt ra tiếng kêu than Eurydice, tiếng than trôi theo giòng mrớc, hai bên bờ sông ai nấy đều nghe tiếng Orphée gọi Eurydice. Mối tình thê thảm này được thi sĩ Virgile ghi lại trong tập Géorgiques.

Sau khi Orphée chét, cái đầu theo giòng nước trôi ra biển và giạt vào bờ đảo Lesbos. Được dân chúng tại đảo vớt đem để thờ trong đền. Về sau cái đầu của Orphée thường nói ra những lời tiên tri. Các nàng Ly Tao mà Orphée suốt một đời không ngừng phụng sự đã thu lượm được đầy đủ các mảnh xác vương vãi của Orphée đem chôn tại chân núi Olympe. Cây đàn Ly Tao của Orphée được đem lên Thiên cung và biến thành một tòa tinh tú.

Aristée, kẻ gây ra nỗi thống khổ của Orphesee, về sau cũng bị trị tội. Các nữ thần Sơn Thủy hóa phép sát hại hết các bầy ong của Aristée. Bị mất hết, Aristée đi kiếm mẹ tại những hang sâu thẳm ở bên sông Pénesee. Cyrène cho Aristée biết không phải tự nhiên mà y bị mất hết các bầy ong, đó là do tội lỗi của Aristée đã làm đối với Orphée và Eurydice. Tuy nhiên Cyrène cũng chỉ cho Aristée đi kiếm nhà phù thủy Protée sẽ có cách lập lại được những bầy ong khac. Theo lời khuyên của tay phù thủy già, Aristée làm lễ dâng cúng bốn con bò mộng tuyệt đẹp cùng bốn con bò cái chưa hề mang ách. Sau khi dâng cúng, xác tám con lễ vật đó đem bỏ trong bụi rậm. Tới sáng sớm ngày thứ chín, Aristée trở vô rừng và sung sướng nhận thấy từ xác chết của tám con bò bay ra từng đàn lừng lũ ong mật. Từng bầy ong túm tụm trên cành cây nặng đến nỗi cành cây phải chĩu xuống.

Sự tích Sisyphe

Sisyphe là con trai của thần gió Eole là một nhân vật mang tiếng xấu xa nhất trong thời tiền sử vì vô đạo, gian tham và sảo quyệt. Trị vì tại Corinthe, Sisyphe nổi tiếng là một tay trùm kẻ cướp. Bất kỳ du khách nào đi ngang khu vực đó Sisyphe đều cho liệng đá đè chết để bóc lột. Thésée một chuyến đi ngang đó đã giết chết Sisyphe để trừ hại. Đó là một truyền thuyết về Sisyphe.

Còn một truyền thuyết thứ hai ly kỳ hơn. Asope là thần linh của con sông mang tên đó tại vùng Péloponèse, có một cô con gái tuyệt sắc tên là Egine. Thần vương Jupiter trông thấy Egine đâm mê liền bắt đem đi mất. Asope đi kiếm con gái, đi ngang Corinthe tới kiếm Sisyphe. Sisyphe biết rõ ai là thủ mưu bắt cóc đó nên tiết lộ cho Asope biết sau khi được Asope hứa sẽ khiến cho một giòng suối chảy qua vùng khô khan Acropole. Asope sửa soạn gây chiến với tliần vương thì Jupiter hay tin nổi giận dùng mộl tiếng sét đánh bạt Asope trở về lòng sông của mình. Còn Sisyphe thì bị thần vương sai thần Chết tới trị tội. Chẳng may thần Chết bị Sisyphe bắt được đem nhốt lại. Thần Chết bị bắt cho nên dân gian không có ai bị chết nữa, khiến cho Địa Phủ trở nên vắng khách hẳn. Pluton làm dữ và khiếu nại tới núi Olympe. Jupiter buộc lòng phải sai thần Mars xuống trần để giải cứu cho thần Chết. Mars buộc Sisyphe cũng phải chết và đi theo thần Chết liền ngay đó. Sisyphe vốn tính mưu sảo nên trước khi chết dặn vợ không được chôn xác mình cứ để đó chờ. Khi xuốug tới Âm cung, Sisyphe lớn tiếng than vãn thảm thương vì vợ bỏ bê không lo chuyện tống táng hợp phép. Sisyphe van nài với Pluton xin cho tạm thời trở lại dương thế để trừng trị vợ vì tội đó sau sẽ xin trở lại cõi chết. Pluton tin lời ưng cho. Nhưng Sisyphe ra đi là đi mất dạng không quay trở lại. Sisyphe lẩn trốn được nhiều năm. Mãi sau Jupiter phải đặc biệt sai nữ thần Mercure đi bắt Sisyphe trả xuống Âm cung. Mercure giao Sisyphe cho Pluton dặn phải cột chặt y lại.

Theo thuyết thứ nhất hay thuyếl thứ hai thì Sisyphe sau khi xuống Địa Phủ đều phải chịu một cực hình. Vì cái tật gian giảo, Sisyphe phải lăn một phiến đá từ dưới chân núi lên ngọn một qủa núi cao, khi lên tới ngọn núi lại thả cho phiến đá lăn xuống vực ở phía bên kia núi. Sisyphe ngày đêm ra sức lăn phiến đá lên cho tới đỉnh núi. Mồ hôi bốc ra trên đầu Sisyphe làm thành mội đám mây bao quanh ngọn núi, Sisyphe lên tới đâu thì đám mây lên tới đó. Khi đem phiến đá lên tới đỉnh núi, và sau khi ra sức đẩy qua mỏm núi cho rơi qua sườn núi bên kia thì Sisyphe lại bị một sức mạnh vô hình đẩy té lăn xuống chân núi. Mãi mãi không thôi, Sisyphe phải tiếp tục làm lại công việc cũ, cứ lăn được phiến đá lên đến đỉnh núi lại bị té trở xuống và tiếp tục trở lại.

Truyền thuyết còn muốn dính Sisyphe với Ulysse và coi như con người mưu sảo Ulysse sở dĩ như vậy là được thụ hưởng giòng máu gian tham, lật lường của Sisyphe. Để cho thuyết này đứng vững người xưa cho rằng trước khi lấy Laerte, Anticlée, mẹ của Ulysse đã có một thời kỳ bị Sisyphe bắt cóc đem về Corinthe. Nhưng thật ra số đông người Hy Lạp đều nhìn nhận Laerte mới đích thật là cha của Ulysse.

Sisyphe có một người em trai tên là Salmonée. Ban sơ Salmonée trị vì tại Thessalie, sau đó bỏ Thessalie tới Elide cất mội tòa thành và ở lại đó. Bản tánh quả cảm, kiêu hãnh, Salmonée có tham vọng kình địch với Jupiter, và bắt người ta thờ cúng y như thờ cúng thần vương vậy. Salmonée lại cấm dân gian trong vùng không được thờ cúng Jupiter với tư cách thần vương nữa. Salmonée sai cất một cây cầu bằng sắt rồi một mình cỡi xe ngựa chạy băng băng trên cầu gây tiếng động vang dậy, từ trên xe Salmonée lại cầm đuốc đang cháy liệng xuống đốt chết những con người vô tội bị bắt đưa tới đó theo lệnh của Salmonée. Làm như vậy Salmonée có ý tự lừa dối mình, tự coi có những quyền phép giống như Jupiter vì gây được sấm sét vang động. Binh sĩ của Salmonée đứng gác ở gần đó hễ thấy người nào sợ bị chết cháy bỏ chạy khỏi dưới cầu liền đuổi theo bắt giết chết. Hành động của bọn lính canh được giữ hết sức kín đáo mong mọi người tin chắc rằng Salmonée có oai quyền làm ra sấm sết vậy. Nhưng chẳng bao lâu con người độc ác bị Jupiter giáng cho một tia sét thật chết tốt và rớt luôn xuống vực Tartare chịu sự hình phạt của ba nàng Đại Nộ.

Sự tích Bellérophon

Bellérophon chính là một hỗn danh, có nghĩa là kẻ đã giết Belléros. Belléros là một con người nổi tiếng ở xứ Corinthe. Nhưng không ai hay biết rõ về nhân vật này. Chỉ biết rằng Bellérophon, cháu của Sisyphe, vì tội sát hại Belléros phải lưu đày khỏi xứ Corinthe. Bellérophon tìm tới Tirynthe, dưới triều vua Proetus. Ban đầu Proetus tiếp đãi Bellérophon ân cần, nhưng sau đó cũng phải trục xuất y ra khỏi xứ. Sthénébée, vợ của vua Proetus, vì say mê Bellérophon, bèn đề nghị hai người cùng trốn đi chung sống với nhau. Nhưng Bellérophon từ chối không chịu phản bội một cách hèn hạ người đã cưu mang mình trong bấy lâu. Hoàng hậu Sthénébée vừa bất mãn vừa hổ thẹn, lập tâm trả thù anh chàng đẹp trai Béllérophon. Sthénébée liền nói với nhà vua là Béllérophon cứ muốn dụ dỗ mình và yêu cầu nhà vua phải trả hận bằng cách giết chết Béllérophon đi.

Proetus tin lời vợ nhưng không muốn tự tay hạ sát người mà nhà vua đã cưu mang trong bao lâu. Proetus liền biên thư cho Iobatès, là cha vợ và trị vì tại Lycie. Bức thư đó là một mật lệnh bảo hãy đem Bellérophon giết đi.

Tới xứ Lycie, trên bờ sông Xanthe. Bellérophon được tiếp đãi nồng hậu liền trong chín ngày. Ngày nào cũng những yến tiệc linh đình cùng là mọi trò vui khác. Tới ngày thứ mười Béllérophon đưa phong thư của Proetus ra. Iobatès đọc thư xong liền nhờ Béllérophon tới tiễu trừ quái vật Chimère. Con quái vật Chimère là anh em với con chó Cerbère, con của thần khổng lồ Typhon và con quái vật Echidna, đầu nó là đầu sư tử, mình dê, đuôi rồng. Mỗi khi mở miệng là nó phun ra một ngọn lửa. Được vua xứ Carie nuôi thả cho chạy quanh trong xứ để cho dân gian khiếp sợ oai quyền nhà vua hễ gặp người nào là nó ăn thịt liền. Muốn giết được con quái vật, Bellérophon có ý kiến là trước hết phải chiếm được con phi mã Pégase. Bellérophon tới xứ Béotie kiếm mãi mới thấy con Pégase nhưng nhọc công không làm sao bắt được nó. Nản lòng, Bellérophon đi hỏi nhà tiên tri. Nhà tiên tri khuyên Bellérophon nên tới nằm mộng tại một ngôi đền thờ Minerve. Trong mộng, nữ thần Minerve hiện ra và hứa cho Bellórophon một cái thắng có thể chế ngự được bất cứ giống ngựa hung hãn nào. Nhưng Minerve bảo Bellérophon phải làm lễ dâng cúng thần Neptune, là cha của Minerve. Khi tỉnh dậy Bellérophon kiếm được ở bên mình một cái thắng. Được bảo vật rồi, Bellérophon liền làm lẫ dâng cúng thần Neptuue một con bò mộng có bộ lông bóng lộn. Sau đó khi trông thấy con Pégase đang uống nước tại suối Pirène, trên ngọn núi ở Corinthe. Sự tích suối Pirène là do nước mắt của nữ thần Sơn Thủy Pirène khóc con gái bị Diane lỡ tay bắn chết, nước mắt chảy mãi thành suối. Khi trông thấy con Pégase, Bellérophon liền cột vào đầu mũi giáo một cục chì, dùng thắng chế ngự được con phi mã rồi bay đi tìm Chimère. Con quái vật khi trông thấy Bellérophon cỡi con phi mã bay tới liền mở miệng phun lửa ra. Belléroplion đưa mũi giáo có cột cục chì đâm vô miệng con quái vật. Chì gặp lửa chảy thành nước và chui vô trong ruột con quái vật. Bị đau đớn quá con quái vật Chimère lăn ra chết.

Iobalès rất đỗi kinh ngạc khi thấy Bellérophon chiến thắng con quái vật trở về, liền bắt Bellérophon làm hai công việc khó khăn nữa. Lần thứ nhất Bellérophon phải đi đánh đám hung nô Solymes; lần thứ hai Bellérophon phải đi đánh các nữ tướng Amazones. Cả hai lần Bellérophon đều chiến thắng. Lần này Iobatès liền cùng với đám binh sĩ thân tín, chọn được những tay quả cảm nhất, kéo đi mai phục chờ Bellérophon trở về sẽ đổ xô ra giết chết. Nhưng Bellérophon đã một mình hạ sát hết đám thủ túc của Iobatès. Kinh hoảng vì thần lực và tài khôn khéo của Bellérophon, Iobatès cho rằng Bellérophon là giòng giõi nhà trời nên gả con gái cho và chia cho một nửa giang sơn.

Mối lương duyên của Bellérophon chẳng được hạnh phúc bao lâu. Con gái của Bellérophon vì xinh đẹp khiến cho Laodamie là người yêu của Jupiter ghen tức nên Diane được lệnh bắn chết. Con trai của Bellérophon thì bị thần Mars ghen tức vì thấy y quả cảm nên nhân một chuyến y сất quân đi đánh đám hung nô ở Solymes đã mượn tay giết chết. Còn Bellérophon vì có một lần ngạo mạn dám cỡi con Pégase lên tới Thiên cung. Jupiter nổi cơn thịnh nộ sai một con ong châm nọc cho con Pégase khiến con phi mã lồng lộn lên hất ngã chủ nó xuống. Bellérophon rớt xuống xứ Lycie. Vì té nặng Bellérophon bị đui hai con mắt và bại cả người. Từ đó Bellérophon chán ngán tình đời bỏ trốn một mình đi một nơi xa lánh hết mọi người. Bellérophon đau khổ, sầu não cho tới chết.

Sự tích lo

Inachus là con của thần Đại Dương và nữ thần Téthys, trị vì tại xứ Argos. Dân gian ở vùng này coi Inachus - cũng là thần linh của con sông Inachus nữa - như thủy tổ loài người. Rất nhiều truyền thuyết được đặt ra về Inachus. Sau này những truyền thuyết đó bị thất lạc hết, ngoài một thuyết nói rằng Neptune và Junon có một lần nhờ Inachus khu xử xem trong hai vị thần linh ai là vị xứng đáng ngự trị tại xứ Argolide. Inachus khu xử cho Junon được kiện. Neptune căm tức liền khiến cho sông Inachus cứ đến mùa nắng là khô cạn tới đáy. Inachus sinh con gái tên là Io. Những truyền thuyết về Io rất phổ thông trong dân gian ở Hy Lạp và được viết thành những áng thơ bất hủ.

Io là nữ thần chuyên việc phục vụ nơi đền thờ Junon. Jupiter bắt gặp sinh mê và quyết tâm cưới làm vợ. Nhưng muốn tránh cho nữ thần Junon khỏi ghen tuông, Jupiter biến Io thành một con bò cái tơ, lông trắng. Cẩn thận như vậy cũng vô ích vì Junon lấy làm lạ thấy con bò non đẹp mã quá bèn sinh nghi. Junon liền nài nỉ Jupiter cho mình con bò đó. Nếu từ chối tất sẽ bại lộ nên Jupiter đành phải ưng thuận. Được con bò non, Junon liền giao cho Argus canh giữ. Argus là một thứ khổng lồ có sức khỏe phi thường, có một trăm con mắt, trong khi năm chục con ngủ thì năm chục con kia thức. Argus đem cột con bò cái vào một thân cây ô-liu, trong rừng Mycènes, và quyết tâm sẽ giết chết kẻ nào bén mảng tới gần. Trong khi đó thần vương Jupiter phân vân không biết làm cách nào: Jupiter không muốn đích thân tới và nhất là tỏ lộ tung tích bằng cách hạ cho Argus một tiếng sét. Sau cùng Jupiter cậy Mercure kiếm cách nào đẩy được thứ canh gác khó chịu đó đi. Mercure liền xuống hạ giới, cải dạng thành một chú chăn chiên, dùng ống tiêu thần khiến cho Argus ngủ cả một trăm con mắt. Rồi Mercure chặt đầu Argus, đánh tháo cho con bò non. Nghe tin, Junon căm tức vô cùng, bèn sai một con ong đuổi theo châm đốt con bò đến nỗi nó phải hoảng sợ chạy chối chết qua đồi qua núi, qua rừng qua suối, bơi qua các eo biển, đi từ miền Bắc rét mướt tới miền Nam nóng bức, không một lúc nào được nghỉ. Sau con bò non lại đi lên miền Bắc, qua xứ Thessalie, xứ Macédoine, xứ Thrace, đi hết xứ Scythes rộng lớn, rồi lại quay về núi Caucase, tại đó Io gặp Prométhée, cũng là một nạn nhân của Jupiter, đang bị con diều hâu không ngớt rỉa lá gan nhưng Prométhée vẫn không ngớt tỏ ra ngang ngạnh đối với núi Olympe. Hai con người bị hành xác, trong chốc lát tạm quên những đau đớn, cùng nói với nhau những lời thương cảm. Sau khi Prométhée đã tiên đoán với Io rằng chẳng bao lâu nỗi khổ của nàng sẽ chấm dứt, hai người chia tay nhau. Prométhée vẫn bị cột vào tàng đá, còn con bò non lại hối hả nhảy đi, bụng đói khiến cho Io thở hổn hển nhưng vẫn phải chạy tới không ngừng vì con ong cứ tiếp tục châm đốt mãi. Qua xứ Thrace Io băng ngang eo biển Bosphore, sau đó lại đi ngang xứ Phrygie, xứ Mysie, xứ Lydie, xứ Cilicie, rồi đến mãi xuống phía Nam đi tới xứ Phénicie, đến bờ sông Nil ở Ai Cập thì Io gần như muốn xụp. Nhưng tới đây Junon đã thỏa mãn và muốn làm lành với Jupiter nên tha tội cho Io. Jupiter liền lấy tay thoa trên lưng con bò non và Io lại trở lại nguyên hình. Khốn nổi Io không được yên ổn bao lâu. Sau khi Io sinh hạ được Epaphus, cơn giận của Junon lại nổi dậy. Nữ thần Junon bèn hạ lệnh cho đám Curètes tới đánh cắp đứa nhỏ đem giấu đi một nơi. Jupiter nổi giận dùng sét đánh tan bọn Curètes. Một lần nữa Io lại ra đi kiếm con. Đi tới xứ Syrie mới tìm thấy con. Io bèn đưa con trở về Ai Cập và ở luôn tại đó. Sau Io lấy Télégone là vua xứ đó. Epaphus sau cũng trở nên hùng cứ một vùng và lập nên thành phố Memphis. Còn Io về sau được tôn thờ như một nữ thần, dân Ai Cập thường lẫn Io với nữ thần Isis của họ.

Sự tích các Danaides

      Epaphus, vua xứ Ai Cập, là con của Io và thần vương Jupiter. Về sau Epaphus lưu truyền tới đời chắt có hai người tên Ægyptus và Danaüs, một người sinh ra năm chục con trai và một người sinh ra năm chục con gái. Hai anh em chợt sinh chuyện kình địch nhau. Danaüs sợ rằng các cháu con Ægyptus sẽ xúc phạm tới mình nên chế tạo một chiếc thuyền có tới năm chục mái chèo, lần đầu tiên được đóng như vậy. Sau đó Danaüs cùng với năm chục cô con gái lên chiếc thuyền đó ra biển. Thuyền cập bến ở bờ biển phía đông vùng Péloponèse, tại Lerne, gần Argos, nơi Gélanor trị vì. Danaüs được Gélanor ân cần tiếp đãi. Nhưng động lòng tham, Danaus manh tâm tranh ngôi báu của người đã ân cần tiếp đón mình. Cuộc tranh chấp kéo dài đến nỗi dân chúng tại đó không biết nên chọn ai trong hai người, phải quyết định một ngày đặc biệt để phán xét. Sáng ngày đã định đó, dân chúng Argos bỗng thấy một con chó sói nhảy vọt vào giữa đàn bò đang gặm cỏ ở gần thành phố, nhào vào đầu một con bò mộng, hai bên cầm cự hồi lâu thì con sói thắng, vật ngã con bò mộng. Dân chúng chứng kiến cảnh đó và cho rằng đó là một cái điềm ngụ ý kẻ lạ mặt đã thắng, dân chúng bèn chọn Danaüs làm vua.

Trong khi đó Ægyptus căm tức vì ông em đã thoát khỏi mới cử năm chục con trai rượt theo chú. Nhưng đám thanh niên này sau khi đổ bộ ở Argolide liền thấy nguôi giận chú. Khi họ tới ngoài thành Argos, trong khi ông chú đang hoảng sợ, họ liền thông báo với bên trong là họ không có ý định gây hấn mà chỉ muốn được chú gả năm chục cô em gái cho. Danaüs vẫn căm giận anh nên âm mưu hiểm độc. Danaüs trả lời ưng thuận, nhưng sau tiệc cưới liền trao cho mỗi con gái một thanh đoản đao dặn khi nhập phòng sẽ giết chết chồng. Bốn mươi chín cô y theo lời cha và giết chết bốn mươi chín người con của Ægyptus. Trừ có Hypermnestre mật báo cho chồng tên là Lyncée biết ý định của cha và giúp đỡ cho chồng trốn khỏi hoàng cung. Đêm đó, khi Lyncée đốt lửa ở bên ngoài cánh đồng báo hiệu cho biết là đã thoát khỏi, Hypermnestre cũng đốt một ngọn đèn trên mái hoàng cung đáp lại. Sáng hôm sau bốn mươi chín cái đầu con của Ægyptus được đem vùi ở bãi lầy ở Lerne còn bốn mươi chín cái thây thì đem phơi ở ngoài thành Argos. Căm giận vì Hypermnestre không làm đúng như lời dặn, Danaüs đưa con gái ra xử trước tòa án nhân dân về tội bất tuân thượng lệnh. Trái với ý định của Danaüs, dân chúng tha tội cho Hypermnestre và được đưa đi tìm chồng.

Sau đó Danaüs lại lo gả chồng cho bốn mươi chín cô con gái. Danaüs tổ chức một vận động hội cho toàn thể dân chúng tham dự. Các thanh niên thành Argos được đặc biệt mời tới. Nhà vua công bố sẽ gả con gái cho những người thắng cuộc. Lần lượt những người nhiều điểm nhất sẽ được chọn lựa trước. Các chú rễ tương lai sẽ được miễn không phải đem lễ vật tới cho ông bố vợ. Cuộc đua tranh rất hào hứng nhưng nửa chừng Lyncée cầm đầu một toán quân kéo tới hạ sát Danaüs và bốn mươi chín cô con gái. Lyncée lên trị vì tại Argos. Tin đau đớn đến tai Ægyptus khiến cho Ægyptus đau khổ quá mà chết.

         Đàn con của Danaüs (những Danaïdes) xuống âm cung phải tiếp tục chịu hình phạt. Họ luôn luôn phải múc nước đổ đầy những cái vò thủng đáy.

Sự tích Persée

Lyncée, người độc nhất sống sót trong số năm chục con trai của Ægyptus, trị vì tại Argos. Hypermnestre sinh hạ được một con trai tên là Abas, sau Abas trở nên một danh tướng. Abas sinh được hai con trai sinh đôi tên là Proetus và Acrisius. Hai anh em sinh đôi này cũng giống như Etéocle và Polynice (xem sự tích Œdipe), ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ đã thù ghét nhau. Hai bên tranh giành mãi ngôi báu. Bị anh đánh đuổi khỏi xứ, Proetus phải chạy tới triều Iobatès, vua xứ Lycie, được Iobatès gả con gái cho. Được cha vợ giúp đỡ Proetus trở lại xứ Argolide, chiếm được Tirynthe và được bọn Cyclopes xây giùm một tòa thành. Sau đó Proetus lại đánh đuổi Acrisius đi. Acrisius chạy tới triều vua Laomédon, trị vì tại Troie và được Laomédon gả Eurydice cho. Nàng Eurydice này không phải là Eurydice vợ của Orphée. Eurydice sinh được một con gái tên là Danaé. Buồn vì không có con trai nối giõi, Acrisius tới Delphes hỏi nhà tiên tri. Thần tiên tri cho biết là Danaé sẽ sinh hạ được một con trai, người con này sẽ trị vì tại Troie, danh tiếng lừng lẫy, nhưng sẽ giết chết ông nội là Acrisius. Sợ hãi, Acrisius đem Danaé nhốt trong một cái hầm, bốn bề tường có đai sắt. Thần vương Jupiter cảm sắc đẹp của cô gái nén hóa thân thành một trận mưa vàng, chui lọt trong hầm. Danaé thụ thai sinh ra một người con đặt tên là Persée. Acrisius kinh hoảng vì sự thụ thai lạ lùng đó nên sai người nhốt cả hai mẹ con vào một cái thùng đem thả xuống biển. Chiếc thùng nhờ sóng đánh đưa đi trôi giạt tới quần đảo Cyclades, xứ Sériphe. Tại đây có hai anh em Dictys và Polydecte trị vì. Dictys trông thấy chiếc thùng, mở ra thấy hai mẹ con Danaé liền đem về nuôi. Sau đó, Polydecte cảm nhan sắc của Danaé muốn lấy làm vợ nhưng lại sợ phản ứng của Persée khi đó đã khôn lớn. Polydecte bèn mưu tính cách trừ Persée đi. Polydecte làm bộ săn sóc tới Persée, cho ở luôn bên mình, dùng những câu chuyện kể khéo léo để Persée thấy ham theo gương các bậc anh hùng thuở trước, ưa thích chiến trận. Khi thấy Persée trở nên một tay háo chiến, Polydecte bèn công khai ngỏ ý muốn cưới Hippodamie, con gái Œnomnüs, vua xứ Elide.

Theo tục lệ, các tướng lãnh dưới quyền đều phải kiếm lễ vật tặng cho Polydécte. Mọi người đều đem tới những cỗ ngựa quý. Nhưng Persée không thèm dùng những món tầm thường đó và hẹn với Polydecte sẽ tới đánh bọn Gorgones đem cái đầu con giải (Méduse) về làm quà cho Polydecte. Hợp ý, Polydecte liền nhận lời, tin chắc rằng Persée sẽ chết vì vụ này.

Đám chị em Gorgones là con của thần biển Phorcus, con của Neptune và Céto, con gái của thần Đại Dương và nữ thần Biển Cả. Ba chị em Gorgones là ba nàng xử nữ có cánh, mái tóc là mội bầy rắn độc, các thường nhân đều ghê sợ ba chị em nhà này vì hễ người nào gặp cũng thấy chết khiếp. Ba nàng Gorgones tên là Euryale, Sthéno và Méduse. Răng của họ dài như nanh con heo rừng, bàn tay của họ bằng đồng, trên vai có hai cái cánh bằng vàng nên họ bay lượn trên không trung được. Euryale và Sthéno đều bất tử, không bao giờ già. Méduse, hồi xưa rất xinh đẹp, được Neptune yêu, nhưng phạm tội lấy ngôi đền thờ nữ thàn Minerve làm nơi hẹn hò với Neptune nên bị nữ thần này tức giận đuổi ra khỏi ngôi đền và trở nên xấu xí ghê tởm như hai cô chị. Minerve còn phạt Méduse tội không được trường sinh bất tử.

Không ai biết chắc ba chị em Gorgones ở đâu, nhưng Persée cũng cứ ra đi. Persée vốn tin ở số mệnh của mình tốt thế nào cũng sẽ gặp sự may mắn thành công. Minerve vốn chưa nguôi giận Méduse vì hồi xưa Méduse đã cả gan nhận mình xinh đẹp hơn cả Minerve. Minerve bèn hiện ra, chỉ cho Persée biết hình dung Méduse bằng cách lén cho Persée một tấm gương thần. Minerve lại căn dặn Persée khi gặp ba chị em Gorgones thì đừng ngó tận mặt họ. Hơn nữa nữ thần Minerve lại hứa sẽ theo giúp Persée. Tay mang thanh gươm dài bằng đồng do thần Mercure rèn cho, Persée xuống thuyền theo sự hướng dẫn của Minerve giương buồm đi tới xứ Mysie.

Ba người chị lớn của chị em Gorgones ở tại cánh đồng Cisthène. Đó là ba bà già (Les Grées) hình dung cổ quái, mới sinh ra tóc đã bạc trắng. Cả ba chị em có chung nhau một con mắt và một cái răng lần lượt thay nhau dùng. Chỉ riêng có ba chị em này là biết đích xác nơi ba cô Gorgones trú ngụ. Persée chiếm mất con mắt và chiếc răng của ba Bà Già khiến họ bị buộc phải chỉ chỗ ở của ba chị em Gorgones. Khi đã biết đủ tin tức, Persée liền lấy của họ đôi dép có cánh đem cột chặt vào chân mình, lấy của họ chiếc bị để dùng dựng cái đầu Méduse, và một chiếc mũ màu đen từ đó bốc ra một đám mây khiến cho Persée thành vô hình. Persée trả cho ba chị em con mắt và cái răng rồi bay đi.

Tới xứ hoang vu Cyrénaique, Persée thấy ba chị em Gorgones đang ngủ. Persée nhớ lời dặn của Minerve tránh không ngó ba bộ mặt cổ quái, tay cầm chiếc gươm dài, bay lượn trên cao rồi nhờ nữ thần cầm tay dắt đi vụt một cái xà xuống chém đứt đầu con Méduse. Euryale và Sthéno giựt mình thức dậy, đứng lên sẵn sàng trả thù cho cô em. Nhưng cái thây cụt đầu của Méduse vụt biến thành một con ngựa, đó là con ngựa bay Pégase. Nhanh như chớp, Persée nhảy lên lưng con Pégase và bay đi trong bị đã cất cái đầu con Méduse rồi. Hai chị em cũng cất cánh bay lên đuổi theo, nhưng từ chiếc mũ của Perséc một luồng mây đen tung bay ra khiến cho Persée mất dạng.

Thoát lên không rồi, Persée ra sức bay đi. Tới xứ Mauritanie. Persée nói với thần khổng lồ Atlas cho tạm trú. Atlas từ chối, Persée lièn rút cái đầu Méduse trong bị đưa ra trước mặt Atlas. Tò mò, Atlas ngắm cái đầu và bỗng hóa thành một trái núi lớn. Persée lại bay đi. Tới xứ Ethiopie. Tại đây có vua Céphée trị vì. Vợ vua Céphée là Cassiopée. Một bữa Cassiopée khoe rằng mình xinh đẹp còn hơn cả đám chị em Néréides, con gái của thần biển Nérée. Hay biết sự kiêu ngạo đó, Neptune bèn dâng nước làm ngập lụt cả xứ và sai một con quái vật tới tàn hại cả xứ nữa. Céphée đi cầu thần tiên tri được dạy rằng chỉ có một cách giải được tai ách là đem dâng con gái tên là Andromède cho quái vật. Nhưng đúng bữa Andromède bị đem cột vào tảng đá làm vật hy sinh thì Persée đặt chân tới xứ Ethiopie, được Céphée cho biết mọi sự, Persée lấy làm cảm thương cho Andromède nên yêu cầu Céphée gả con gái cho nếu Persée hạ được quái vật để giải cứu cho Andromède. Được Céphée y lời, Persée cỡi trên lưng con Pégase bay liệng trên cao chờ con quái vật tới. Khi trông thấy con quái vật từ dưới nước ngoi lên, Persée xà xuống giết chết, cứu được Andromède. Céphée giữ lời hứa gả Andromède cho Persée.

Ít bữa sau Persée từ biệt Ethiopie, lần này Persée không cỡi con Pégase mà chỉ dùng đôi dép có cánh bay về đảo Sériphe. Vừa về tới nơi thì Persée được tin Polydecte không ngớt theo đuổi Danaé. Trong khi đó Dictys vì bị mất hết quyền hành nên rất khó khăn mới bảo vệ nỗi Danaé khỏi bị Polydecté làm nhục. Sau Danaé trốn được vào trong đền thờ nữ thần Minerve, Polydecte liền phải chịu. Danaé ngày đêm cầu nguyện mong nữ thần giải cứu cho. Nghe tin đó, Persée lật đật tới hoàng cung. Khi gặp Polydecte đang cùng bọn thủ hạ bàn mưu tính kế, Persée đưa cái đầu con Méduse ra trước mặt họ. Cả bọn liền chết khiếp. Persée bèn đưa Dictys trở lại ngôi vua.

Mọi việc xong xuôi, Persée đem đôi dép có cánh, chiếc bị và chiếc mũ bằng đồng lấy được của ba chị em Bà Già dâng cho thần Mercure. Còn cái đầu con Giải Gorgone thì dâng cho nữ thần Minerve để gắn vào giữa chiếc khiên. Sau đó Persée cùng mẹ là Danaé và vợ là Andromède trở về Argolide.

Vua Proetus khi đó đã chết. Acrisius từ Phrygie trở về nối ngôi. Nghe tin Persée sắp về tới, Acrisius hoảng sợ vì nhớ tới lời tiên tri, vội vàng trốn tới ẩn náu tại bộ lạc Pélasges ở Thessalie. Acrisius cho rằng ẩn náu ở đó ít lâu Persée khi nào ra đi thì mình lại trở về Argos. Nhưng số mệnh đã định không sai. Vua Larissa, nhân dịp làm lễ táng cho cha mới chết, có lập một vận động hội. Acrisius vì tò mò cũng tới coi. Khi các lực sĩ đua tài về năm môn vận động (pentathlon): ném đĩa, chạy, nhảy, đánh vật và ném lao, Acrisius len tới gần để coi cho rõ. Không may, trong đám lực sĩ có một người thần lực ném chiếc đĩa nặng vượt xa hơn hết mọi người. Chiếc đĩa bằng chì rớt xuống đất còn bật tung lên lao trúng giữa trán Acrisius khiến ông vua già bị chết tại chỗ. Nhà lực sĩ đó chính là Persée được mời nên từ xa tới tham dự vận động hội. Thành ra một bên Persée vô tình, một bên Acrisius cố ý trốn tránh, lời tiên tri vẫn thực hiện đúng.

Persée chôn cất cha xong không muốn quay trở về Argos vì hổ thẹn không muốn thừa hưởng ngôi báu do cái chết thảm khốc của Acrisius. Persée bèn qua xứ Tirynthe, gặp con trai Proetus là Mégapenthès yêu cầu đánh đổi giang sơn. Do đó sau Persée lên ngôi trị vì tại Tirynthe và Mycènes. Trong số con cái của Persée có Alcée, sau sinh ra Amphitryon. Hercule cũng là giòng giõi của Persée cho nên có nơi gọi Hercule là Alcide (giòng giõi của Alcée). Đoạn đời về sau của Persée không thấy ghi chép lại. Sau khi Persée chết được dân gian lập đền thờ như một thần linh, nhất là ở vùng Mycènes và đảo Sériphe. Dân thành Athènes cũng lập đền thờ Persée, bên trong có lập riêng một bàn thờ Dictys cùng một bàn thờ hoàng gia Ethiopie. Dân gian còn tin có ba tinh tòa mang tên Andromède, Cassiopée và Céphée.

Sự tích Tantale, Pélops và con cháu (Les Pélopides)

Đây là một câu chuyện ai oán nhất, khủng khiếp nhất trong số các truyền thuyết của dân Hellènes và là đề tài cho nhiều bi kịch Hy Lạp. Một số mạng ghê gớm đã gieo họa cho cả một gia tộc, gây nên bao cảnh bi thảm.

Thủy tổ của giòng nọ này là Tantale, con của thần vương Jupiter. Tantale trị vì tại xứ Lydie, dưới chân núi Sipyle. Vua xứ Lydie giàu mạnh được nhận ngồi vào bàn của các thần linh trên núi Olympe. Ỷ vào địa vị hùng mạnh của mình, Tantale lố lăng, kiêu hãnh đến độ coi núi Olympe như một thuộc quốc của mình. Mỗi khi được lạm ngồi vào bàn của các thần linh, Tantale lại ăn cắp rượu nectar và món ăn ambroisie đem về hạ giới phân phát cho kẻ quen biết. Mượn cớ năng được qua lại Thiên cung, Tantale không ngớt đem những chuyện bịa đặt ra kể xấu về các thần linh, đến nỗi một bữa Mặt Trời nghe thấy phải kinh hoảng quay trở lại.

Bữa đó Tantale bày tiệc mời chư thần xuống dự. Trong tiệc có một món thịt nấu nhừ dọn từng đĩa lớn để mời khách. Cérès vì đói sau khi suốt ngày mê mải chạy đi kiếm con gái là Proserpine, liền vội ăn hết phần của mình. Lúc đó Jupiter mới nổi giận la lên rằng Tantale dọn thịt người cho chư thần ăn. Quả có vậy, Tantale muốn thử chư thần nên giết con là Pélops nấu thịt mời chư thần ăn. Jupiter lập tức sai thần Mercure thu thập các mảnh thịt Pélops đem nấu lại trong chiếc nồi thần. Nàng Se Tơ Clotho nếu xong đem ra một Pélops còn khỏe mạnh hơn lúc thường. Tuy nhiên miếng thịt vai mà Cérès đã lỡ ăn hết được thay thế bằng một miếng ngà voi. Sau đó, Jupiter mới đạp cho Tantale rớt xuống vực Tartare.

Tại đây Tantale luôn luôn bị vò xé vì một cơn khát dữ dội nhưng lại bị dìm trong một hồ nước chỉ lên tới gần môi dưới, hễ Tantale cúi mình xuống để uống thì mực nước lại lập tức hạ theo khiến cho Tantitle càng thấy khát vì trông thấy nước mà không được uống. Trên đầu Tantale, một cái cây chi chít những trái ở ngay tầm tay với, nhưng mỗi khi Tantale đưa tay ra thì gió lại đung đưa cành cây không sao hái được một trái cho đỡ cơn đói lòng ghê gớm. Dân gian nói tới cực hình của Tantale (Je supplice de Tantale) là ám chỉ cái cảnh của kẻ kiêu hãnh quá lố ở dưới vực Tartare vậy.

Pélops tới tuổi khôn lớn, nghe tin vua xứ Elide có cô con gái tên là Hippodamie xinh đẹp dị thường, bèn rời khỏi xứ Lydie của mình đi kiếm vua Œnomaüs với ý định cầu hôn. Nhưng một nhà tiên tri đã cho Œnomaüs hay biết trước là ngày nào gả chồng cho con gái thì Œnomaüs sẽ phải chết. Biết như vậy, Œnomaüs loan tin rằng: sẽ gả con gái cho ai có thể chạy đua xe ngựa mà thắng được nhà vua. Sở dĩ Œnomaüs rao ước như vậy vì tin rằng trong thiên hạ khó lòng có ai có những cặp ngựa chạy hay hơn những cặp ngựa nỗi tiếng của xứ Elide. Nếu thi đua với nhà vua mà bị thua thì người đó sẽ phải chết. Œnomaüs còn kiếm cách giữ phần thắng về mình: mỗi khi có cuộc đua Œnomaüs đều cho con gái ngồi cùng xe với mình, người tới tỉ thí còn bận để mắt tới người đẹp thành ra không hết sức lưu tâm tới cuộc đua. Mười bảy chàng thanh niên đã đem tính mạng của mình ra để cầu người đẹp, nhưng mười bảy lần Œnomaüs đều đã thắng. Xác của mỗi người lần lượt được hỏa táng đem đổ chung một hố. Mỗi khi sắp có cuộc đua Œnomaüs lại làm lễ dâng cúng thần vương Jupiter một con dê đực. Lần nào chiếc xe của Œnomaüs, do chú nài ngựa Myrtile thắng yên cương, cũng chạy như có gió đưa trên con đường từ chân núi Olympe tới mỏm Corinthe, và vượt thắng dễ dàng xe của đối phương.

Tới phiên Pélops tới ghi tên dự đua, chàng thanh niên trông thấy treo trước vọng lâu ở cửa thành Pise những cái đầu của mười bảy người thua cuộc trước. Nhưng Pélops tin rằng tới lượt mình sẽ thắng. Hơn nữa, Pélops cũng mưu tính những cách riêng để quyết thủ thắng. Đêm trước ngày mở cuộc đua, Pélops đã tới bờ biển kêu cầu thần Neptune, được vị thần linh ban cho một cỗ xe bằng vàng và mấy cặp ngựa có cánh, chạy không biết mỏi. Hồi sau khi mặt trời vừa ló rạng, Pélops đi kiếm chú nài ngựa Myrtile, hứa cho chú ta một nửa giang sơn thành Pise nếu Myrtile lo sao cho Pélops thắng cuộc. Myrtile tham lợi định tâm hại chủ, hắn lấy bớt một cây sắt giữ bánh xe dính liền với trục. Khi Œnomaüs vừa phóng xe tiến lên trước thì bánh xe bị rơi ra, chiếc xe bị lật nhào khiến cho Œnomaüs bị chết tại trận. Pélops cưới Hippodamie, lên ngôi vua nhưng bội ước không chia cho Myrtile phần giang sơn đã hứa. Muốn tránh khỏi bị Myrtile nhắc nhờ mãi, một bữa Pélops nổi cáu liệng Myrtile xuổng biển. Nhưng chú nài ngựa lại là giòng giõi thần nhân cho nên khi chết đi được ba nàng Đại Nộ và thần Mercure, là cha sinh ra Myrtile, quyết tâm trả hận cho. Giòng giõi của Pélops sẽ bị thần nhân đeo theo trừng trị.

Pélops sau khi lên ngôi ở Elide, oai danh lừng lẫy, uy quyền lan ra khắp khu vực chung quanh từ đó mang tên là Péloponèse. Hippodamie, sau khi đã sinh hạ được một số đông con trai, trong số nổi tiếng nhất có Atrée và Thyeste, bị Pélops lưu đầy ra xứ Argolide vì tội cùng với Atrée và Thyeste lập mưu hãm hại Chrysippe là một chàng trai hết sức xinh đẹp, con riêng của Pélops có với một nữ thần Sơn Thủy và được Pélops cưng chiều hơn hết các con khác.

Ở xứ Argolide có một người cháu của Atrée và Thyeste là Eurysthée đang trị vì. Eurysthée gọi Atrée và Thyeste bằng cậu vì mẹ của Eurysthée là con gái Pélops, lấy vua xứ Mycènes là Sthénélus. Sau khi Eurysthée bị giòng giõi Hercule (anh em Héraclides) giết chết tại Attique, Thyeste đòi lên ngôi vua thay thế cho cháu. Atrée cũng lập tâm muốn chiếm ngôi. Atrée có nuôi được một con cừu vàng, do thần Mercure ban cho từ trước với thâm ý gieo rắc sự bất hòa trong anh em Atrée. Con cừu vàng đó có phép mầu khiến cho ai nuôi được nó sẽ được làm vua và giòng giõi sẽ được phát đạt mãi. Muốn chiếm được ngôi báu, Thyeste đem tài lợi ra nhử Еrоре là vợ của Atrée, nên đánh cắp được con cừu vàng đem về nuôi. Sau đó Thyesle tập hợp dân chúng lại và tuyên bố rằng mình làm chủ con cừu vàng vậy ngôi báu phải dành cho người có diễm phúc đó. Nhưng sự gian lận của Thyeste bị bại lộ liền vì sau khi Thyeste tuyên bố như vậy, mặt trời sắp lặn về Tây lại quay trở lọi chói lói ở hướng Dông. Dân chúng nhận thấy đó là điềm báo hiệu sự gian dối, nhất định không tin lời Thyeste. Kẻ muốn tiếm vị phải tự ý lưu đày ra xứ khác. Atrée được trả lại con cừu vàng của mình.

Chạy qua xứ Elide, Thyeste bắt đầu lo tính kế báo cừu. Trước hết Thyeste đón Еrоре, vợ của Atrée, tới chung sống. Cuộc nhân duyên bất chính này kết quả được hai trai và một gái, tên là Pélopie. Thyeste đi hỏi nhà tiên tri thì được dạy rằng nếu Thyeste lấy luôn соn gái thì sẽ sinh ra một đứa con có thể thay mình mà báo cừu được. Thyeste không ngần ngại thi hành công việc khủng khiếp đó. Pélopie sinh hạ được một con trai tên là Egisthe. Sau khi sinh con, Pélopie trao đứa nhỏ cho đám chăn dê trong núi nhờ nuôi giúp. Pélopie lại trao cho họ một thanh kiếm báu của Thyeste để họ sẽ trao lại cho Egisthe khi đứa nhỏ khôn lớn, nhưng căn dặn họ không bao giờ nói rõ cho đứa nhỏ biết tung tích của nó.

Trong khi đó, Atrée cũng vẫn nuôi sự căm thù đối với anh vì đã cướp vợ của mình. Atrée bên ngoài làm bộ muốn hòa giải với anh, tỏ ra quên hết mọi chuyện cũ. Thyeste tin là thật. Một bữa Atrée mời Thyeste tới dự tiệc. Những món ăn dùng trong bữa đó đều nấu bằng thịt của hai đứa con trai của Thyeste có với Еrоре mà Atrée đã cho người đi bắt cóc được. Ngồi ở một đầu bàn, Atrée tự tay cắt thịt của hai đứa nhỏ mời khách ăn. Thịt đã cắt nhỏ nên Thyeste bị mắc lừa cứ việc ăn uống ngon lành. Мãn tiệc, Atrée sai rót rượu cho Thyeste uống nữa, nhưng Thyeste vừa đưa lỵ rượu lên miệng vội rời tay để rớt xuống vì không phải cái ly đầy rượu mà đầy những máu. Đồng thời Atrée lại sai bưng ra trên một chiếc khay đầu hai đứa nhỏ. Trông thấy thế Thyeste khiếp hãi lăn nhào xuống đất, nôn mửa hết những món ăn kinh tởm vừa ăn. Ngã xuống đất, Thyeste đưa chân đạp đổ cái bàn tiệc và luôn miệng nguyền rủa giòng giõi Atrée. Cảnh anh em Thyeste như vậy khiến cho Mặt Trời cũng ghê tởm đến nỗi lần thứ hai phải quay trở lại, giống như lần trước khi Tantale làm thịt con để thử chư thần. Mặt đất lúc đó cùng tối tăm mù mịt vì ghê sợ.

Thyeste trở  về Elide chờ ngày báo cừu.

Khi Egisthe trở nên khôn lớn, liền mang cây gươm báu bên mình tới triều Mycènes ra mắt nhà vua. Atrée tiếp đón Egisthe rất nồng hậu. Tại đó Egisthe rất được lòng Atrée, lâu dần được Atrée yêu không khác gì hai đứa con nuôi, con của người em tên là Plisthène. Egisthe cũng quý mến Atrée không kém gì hai người con nuôi kia, tên là Agamemnon và Ménélas. It lâu sau Atrée sai Agamemnon và Ménélas cùng qua xứ Elide bắt Thyeste. Bắt được Thyeste đem về Mycènes, Atrée sai đem nhốt dưới hầm bỏ đói, bỏ khát trong một thời gian, Atrée sai Egisthe xuống hầm giết chết Thyeste. Egisthe xuống tới hầm, rút thanh bảo kiếm đưa ra toan cắt cổ Thyeste. Nhưng trông thấy thanh kiếm của mình, Thyeste kinh hoảng nhận ra Egisthe. Thyeste liền tỏ lộ cho Egisthe biết tung tích của mình. Sau đó hai cha con mới bàn tính với nhau cách hảm hại Atrée để trả thù. Liền lúc đó Pélopie cũng xuất hiện. Vì thương Thyeste, vừa là cha vừa là chồng, Pélopie đã tìm được mọi mưu kế để lọt xuống hầm giam. Pélopie tưởng rằng chỉ gặp tại đó một mình Thyeste không dè lại chạm trán cả với đứa con trai kết quả của mối tình đáng sỉ nhục. Pélopie bèn giựt lấy thanh bảo kiếm đâm thủng ngực chết. Egisthe điên lên, cầm thanh kiếm còn vấy máu mẹ chạy bay trở lên đi tìm Atrée. Hay tin Atrée đang ở ngoài bãi biển làm lễ dâng cúng các thần linh để cảm tạ vì đã trừ được kẻ thù, Egisthe chạy tới trước đàn dâng lễ và giết chết Atrée ngay tại đó.

Giết chết Atrée xong, Egisthe đem Thyeste trở lại ngôi vua nhưng Thyeste trị vì chẳng được bao lâu thì hai anh em Agamemnon và Ménélas đi mượn quân của Tyndare, vua xứ Sparte, đem về đánh đuổi Thyeste chiếm lại thành Mycènes. Thyeste bỏ chạy rồi chết không ai biết rõ ở nơi nào mong Egisthe một ngày kia sẽ báo cừu cho Thyeste nữa. Nhưng khi đó Egisthe giảng hòa với Agamemnon và tôn Agamemnon làm vua.

Hai anh em Agamemnon và Ménélas cùng cưới hai cô con gái Tyndare. Agamemnon lấy Clytemnestre và Ménélas lấy Hélène.

Hélène nổi tiếng vì sắc đẹp siêu phàm. Mới mười tuổi đã bị Thésée bắt cóc mất đem về trao cho mẹ giữ. Hai người anh của Hélène là Castor và Pollux mất nhiều công phu mới kiếm ra được và cướp lại đem về nhà. Một bữa, Tyndare làm lễ dâng cúng chư thần ở núi Olympe nhưng lãng quên không dâng cúng nữ thần Vénus. Căm giận, nữ thần Vénus đoán quyết rằng Hélène sẽ thất tiết với chồng và sẽ là đầu mối cho nhiều tai họa lớn.

Khi Tyndare biết rằng Hélène được nhiều người trong số các hoàng tử Hy Lạp muốn cầu hôn, liền nghe theo lời Ulysse, trị vì tại Ithaque và cũng là một trong số những người muốn cầu hôn, hội các hoàng tử đó lại và yêu cầu mọi người cùng thề rằng mặc dầu người nào trong bọn sẽ cưới được Hélène, tất cả cũng sẽ họp nhau lại để rửa hận giùm nếu một trong hai vợ chồng Hélène bị kẻ khác làm nhục. Hết thảy đều thề như vậy vì ai nấy đều hi vọng rằng mình sẽ chiếm được người đẹp. Sau hết Hélène lựa Ménélas. Liền trong ba năm trời Ménélas là người đàn ông có hạnh phúc và sung sướng nhất. Tyiularc nhường cho Ménélas ngôi báu, và để thưởng công Ulysse trong vụ xếp đặt hạnh phúc cho Ménélas nàv, Tyndare đứng ra làm mối cho Ulysse cưới con gái nhà quý tộc Isarius, ở xứ Lacédémone (hay Sparte), tên là Pénélope, Pénélope là người nổi tiếng hiền đức.

Trong khi đó chàng đẹp trai Pâris, con trai Priam, trị vì tại xứ Troie, tới Hy Lạp yêu cầu Telamon, trị vì tại Salamine, chia cho mình phần gia tài của Hésione, mà Pâris gọi bằng cô. Từ ngày Pâris mới sinh, nhà tiên tri đã đoán trước rằng Pâris sẽ là đầu mối một cuộc tàn hại xứ sở. Ban đầu Pâris bị đem bỏ trong rừng, rồi được cứu sống, và may mắn về sau lại được vua cha nhìn nhận lại. Nguyên do vụ nhìn nhận lại này là nhân một buổi thao diễn lại vận động trường, Pâris đại thắng và được Priam nhận ra những nét đặc biệt, Priam cho vời Pâris tới hỏi chuyện, rồi nhận ra đúng là đứa con bị bỏ rơi hồi trước. Trong khi vì thương con mà nhìn nhận lại Pâris, Priam đã quên lời tiên tri cho nên tự tay lại gây lấy họa về sau.

Sau khi xong công việc ở Hy Lạp, Pâris ghé chơi Sparte và được Ménélas tiếp đãi rất nồng hậu. Không hiểu Pâris có ý trả mối thù ngày xưa người Hy Lạp đã bắt cóc bà cô của mình là Hésione, do Hercule bắt đem cho Télamon, hay vì háo sắc quên giữ đạo đức của một người khách được chủ nhà hậu đãi, Pâris đâm say mê Hélène và rủ Hélène cùng trốn đi. Nhân một bữa Ménélas có việc qua đảo Crète, Pâris liền bắt cóc Hélène đem xuống một chiếc thuyền chở ra một hải đảo rồi sau đó đưa luôn về Phrygie. Vua cha Priam coi việc bắt cóc Hélène như một việc trả hận nên đón tiếp con trai hết sức linh đình. Priam có ngờ đâu lời tiên tri bắt đầu ứng nghiệm từ đó và hàng ngàn chiến thuyền Hy Lạp sẽ kéo tới trả hận.

Ban đầu phe Atrides (giông giõi Atrée) cử người tới điều đình với Ménélas, nhưng vô hiệu. Ménélas bỏ ra hai năm trời đi khắp các triều vua Hy Lạp nhắc lại lời thề năm xưa, yêu cầu họ nhất tề cử binh đi đánh thành Troie. Các hoàng thân Hy Lạp đem chiến thuyền cùng binh mã, khí giới tập hợp trên bãi biển Aulis, xứ Béotie, để sửa soạn kéo đi chinh phạt Troie. Agamemnon được đề cử cầm đầu đoàn quân viễn chinh. Trước khi rời khỏi Mycènes, Agamemnon trao cho người em họ là Egisthe thay mình trông nom việc triều chính và coi sóc vợ là Clytemnestre và ba con gái: Iphigénie, Chrysothémis và Electre, cùng người con trai nhỏ tên là Oreste.

Trước khi ra quân Agamemnon bạo miệng đã thốt ra mội lời súc phạm: Agamemnon khoe mình săn bắn tài hơn nữ thần Diane và đã một lần bắn chết một con nai tơ trong cánh rừng dành riêng cho nữ thần Diane. Diane mếch lòng, yêu cầu thần Gió giữ gió lại khiến cho đoàn chiến thuyền không ra khơi được.

Đi cầu thần tiên tri thì được Calchas giảng dạy rằng Agamemnon phải đem con gái là Iphigénie ra làm vật hi sinh cúng thần gió thì mới xuất quân được. Agamemnon ngần ngại mãi, rốt cuộc cũng phải nghe lời nài nỉ của Ulysse và cũng do lòng kiêu căng muốn được nhiều vinh quang thúc đẩy. Agamemnon cho người triệu con gái từ Mycènes tới, nói dối rằng để làm lễ cưới Iphigénie với Achille trước khi lên đường. Iphigénie tin lời, hân hoan từ Mycèlies tới. Tới nơi Iphigénie được Calchas dẫn tới đàn chay. Nhưng Diane cảm thương số phận của Iphigénie. Khi lưỡi dao của Calchas sắp đưa lên đâm vào ngực Iphigénie, Diane thay thế một con nai tơ vào chỗ ngồi của Iphigénie và đem con gái Agamemnon về xứ Tauride, dùng Iphigénie vào chân thủ tự ngôi đền thờ nữ thần Diane. Iphigénie được lệnh giết chết bất cứ kẻ lạ nào đổ bộ lên bờ biển hoang vu này.

Sau lễ, gió bắt đầu lên và đoàn chiến thuyền thẳng tiến sang thành Troie. Binh sĩ Hy Lạp đều hăng hái, quả cảm, nhưng quân của Priam cũng dũng mãnh không kém. Đoàn quân viễn chinh quá đông nên vấn đề tiếp tế lương thực rất khó khăn. Giữ vững được vị trí của mình, quân thành Troie khiến cho quân Hy Lạp phải nhọc công lo việc tiếp tế kéo dài trong vòng mười năm. Hai lần Agamemnon nản lòng đề nghị lui binh. Tới măm thứ mười, Agamemnon sinh chuyện xích mích với Achille vì đã cướp mất của Achille một cô gái xinh đẹp bắt được của địch. Achille tức giận lui về doanh trại của mình và nhất định không ra đánh. Mãi sau vì muốn trả thù cho người bạn thân là Patrocle bị người xứ Troie giết chết, Achille mới ra quân cả thắng, đánh chiếm được thành Troie. Sau khi tàn hại cả thành phố, các tướng lãnh Hy Lạp trở về nước. Agamemnon đem theo về con gái của Priam và Hécube, tên là Cassandre, xem ra còn xinh đẹp hơn cả Vénus, lại còn có tài tiên tri nữa.

Nguyên do hồi còn nhỏ tuổi, Cassandre và em tên là Hélénus bị bỏ quên trong một ngôi đền thờ Apollon. Sáng ra mọi người thấy hai đứa nhỏ bị rắn quấn chặt và đang lấy lưỡi liếm hai tai chúng. Do chuyến đó hai đứa nhỏ trở nên có tài tiên tri. Không may thần Apollon lại mê Cassandre, trong khi Cassandre không thể đền đáp được mối tình của thần nhân. Apollon tức giận đoan quyết rằng từ nay sẽ không ai tin những lời tiên tri của Cassandre nữa, và Cassandre sẽ bị mọi người coi như một người điên.

Trước khi Agamemnon lêu đường trở về, Cassandre đã bao phen nói cho Agamemnon biết răng nếu đặt chân về tới Mycènes là Agamemnon sẽ không toàn mạng. Nguyên do hoàng hậuClytemnestre hết sức tức giận vì vụ Agamemnon đã đem cô gái yêu của mình là Iphigénie làm vật hi sinh cho một mối kiêu căng, hiếu thắng. Đồng thời Clytemnestre lại gặp được ở Egisthe một kẻ đồng lõa hăng hái vì Egisthe vẫn không nguôi mối hận với giòng giõi Atrée. Clytemnestre bèn lấy luôn con người mà Agamemnon đã tin cậу, giao phó mọi công việc nhà. Mười năm sau, khi Agamemnon trở về, được mọi người tiếp đón linh đình. Theo thói tục, một bồn nước nóng được sắp đặt cho Agamemnon tắm rửa cho thoải mái gân cốt. Khi Agamemnon ngồi trong thùng nước, binh sĩ của Egisthe mới lấy một chiếc lưới có cột những cục chì nặng trùm lên đầu Agamemnon rồi dùng búa chặt nát thây ra nhiều mảnh. Cassandre cũng bị Clytemnestre sai người giết chết trong khi Cassandre ngồi một mình ở ngoài đang dùng lời thơ tiên tri miêu tả cái cảnh Agamemnon bị tàn sát như vậy. Trong bi kịch «Agamemnon» thi sĩ Eschyle có viết được những lời thơ rất đẹp do miệng Cassandre thốt ra khi thi sĩ diễn tả đoạn sự tích này trong kịch.

Sau khi bà mẹ đã trả thù được cho con gái, thì sắp đến lượt đứa con trai, tên là Oreste, tính chuyện trả thù cho cha. Electre, một trong ba cô con gái Agamemnon, khi đó nghĩ tới Oreste và lo rằng sớm muộn Oreste cũng sẽ bị hại bởi tay Clytemnestre và nhất là Egisthe. Electre bèn tính cách đem Oreste giấu đi. Do một kẻ tôi mọi thân tín Electre gửi Oreste tới Phocide, nơi triều đình Strophius là chồng người cô của Electre. Tại Phocide, Oreste thân với Pylade con của Strophius. Hai người trẻ tuổi này kết thân với nhau để về sau cũng trở nên bất tử. Electre bị Clytemnestre ngược đãi nên không ngớt sai người đưa tin cho Oreste và nói cho nghe nội vụ Agamemnon bị sát hại và yêu cầu Oreste tính cách trả thù cho cha. Khi Oreste vừa hai mươi tuổi liền cùng với Pylade lén trở về Mycènes. Oreste tới trước mộ Agamemnon khấn vái và dâng cúng một lọn tóc của mình. Vừa sau lúc đó thì Electre cùng một đoàn nữ tỳ người thành Troie bị bắt đem về làm tôi mọi tới đó cúng lễ. Electre ngó lọn tóc nhận ra em mình. Trong khi Electre than vãn, Oreste bỗng xuất hiện và hai chị em bàn chuyện trả thù. Khó khăn nhất là kiếm cách nào vào lọt hoàng cung. Hai chị em nghĩ được một kế là Oreste giả làm một người dân ở Phocide cùng với Pylade được sai tới báo tin Oreste đã chết. Theo kế đó Oreste được đưa tới trước mặt Egisthe và Clytemnestre. Oreste liền rút gươm giết chết Egisthe. Khi quay trở lại sắp sửa giết mẹ thì Oreste muốn té xỉu. Nhưng Pylade bèn lên tiếng nghiêm khắc kết tội Clytemnestre, đồng thời nhắc cho Oreste những lời của Apollon đã phán truyền buộc Oreste phải giết chết Clytemnestre. Nhưng sau khi phạm tội sát nhân, Oreste bị một cực hình là luôn luôn thấy bóng Clytemnestre theo sau cùng với ba nàng Đại Nộ, đàn rắn ở trên đầu ba nàng Đại Nộ không ngớt phun ra những tiếng ghê rợn. Để trốn chạy sự ám ảnh kinh khủng đó, Oreste đi lang thang hết nơi này qua nơi khác. Tới Delphes, thần tiên tri cho biết rằng một khi tới Athènes thì nỗi khốn khổ đó sẽ hết. Oreste nghe lời vội vã ra đi. Trong khi đó thì ba nàng Đại Nộ vì mỏi mệt vừa ngủ quên trên thềm ngôi đền chợt tỉnh dậy chạy theo, vừa chạy vừa nạt nộ vang động. Tới ngọn đồi thờ thần Mars (Arès) ở gần thành Athènes, Oreste chạy tới ôm dưới chân pho tượng nữ thần Minerve, dựng bên ngoài ngôi đền thờ nữ thần. Ba nàng Đại Nộ chạy tới đòi Oreste. Minerve liền từ trong đền đi ra cùng với một nhóm phán quan dân thành Athènes. Cuộc tranh luận kéo dài về tội ác của Oreste. Sau cùng Pallas, từ nãy chưa bày tỏ ý kiến, đứng ra biện hộ cho Oreste và thỉnh cầu pháp đình tha bổng cho Oreste. Oreste được nhìn nhận vô tội.

Để lưu niệm vụ xử án danh tiếng này, dân thành Athènes lập tại đồi Arès một pháp đình mang danh là Aréopage. Ba nàng Đại Nộ được nữ thần Minerve phủ dụ nên hứa sẽ đem phép lành cho dân vùng Attique cày bừa làm ăn được thịnh vượng. Trả ơn đó nữ thần Minerve hứa sẽ cho lập một ngôi đền ba nàng và mệnh danh là các nàng Khoan Dung (Les Euménides).

Tuy rằng đã đưực thần linh và thường nhân nhìn nhận sự vô tội của mình, Oreste vẫn không ngớt khắc khoải, nhiều khi tưởng như điên dại. Trở lên ngôi ở Mycènes, Oreste vẫn không yên. Được người bạn thân là Pylade khuyên đụ, Oreste tới Delphes kêu cầu thần tiên tri được phán truyền rừng nỗi cơ cực sẽ chấm dứt sau khi tới Tauride đem pho tượng nữ thần Diane rước về Athènes lập đền thờ.

Hai người bạn cùng nhau lên đường. Khi tới bờ biển hoang vu của xứ Tauride, hai người bị bắt đóng xiềng sắt rồi đưa tới trước mặt nữ tu Iphigénie. Trước đó Iphigénie có bắt được những người dân Hy Lạp tra hỏi thì được biết là Oreste vẫn còn sống. Lần này Iphigénie lại gạn hỏi nữa và tin chắc rằng Oreste còn sống thật. Sung sướng được tin về người em trai yêu quý, Iphigénie liền hứa sẽ tha tội chết cho một trong hai người bạn nếu người đó nhận đem một lá thư về cho Oreste. Giữa hai người bạn thiết nảy ra một cuộc tranh giành nhau để tranh lấy cái chết thay cho bạn. Nghe hai người nói với nhau, Iphigénie chợt nhận ra rằng một trong hai người đó chính là Oreste. Iphigénie bèn xưng danh cho biết. Sửng sốt vì thiếu chút nữa chính mình cũng phạm tội ác, Iphigénie bày kế nói với nhà vua ở Tauride là hai người lạ mặt này có phạm tội sát nhân cần phải làm lễ tẩy trần trước khi dâng cúng nữ thần Diane. Nhà Vua y lời. Đêm hôm sau Iphigénie cùng với Oreste và Pylade lẻn trốn xuống thuyền đem theo cả pho tượng nữ thần Diane. Về tới vùng ngoại ô Brauron ở Attique, ba người dựng nên một ngôi đền thờ nữ thần Diane với pho tượng đem từ Tauride về. Tại đó Iphigénie lại giữ vai thủ tự mãi cho tới khi chết.

Khi trở về Mycènes, Oreste gả Electre cho Pylade, và tính cưới cho mình cô em họ Hermione, con gái của Ménélas. Nguyên trước khi ra đi chinh phạt thành Troie, Ménélas đã đính ước với anh là sẽ gả Hermione cho Oreste. Nhưng khi tới Troie, Ménélas đã bội ước và hứa gả Hermione cho Pyrrhus là con trai Achille khi nào chinh chiến xong trở về nước. Khi phân chia các tù binh người xứ Troie, Pyrrhus lại được chia Andromaque, vợ của Hector, con trai Priam và là một danh tướng trong trận phòng thủ thành Troie bị giết chết trong khi xông pha tại mặt trận. Pyrrhus đem Andromaque xuống thuyền trở về xứ, nhưng thuyền gặp sóng cả nên trôi giạt tới bờ biển xứ Epire. Tại đây Pyrrhus đánh đuổi nhà vua trị vì và chiếm lĩnh ngôi báu. Khi Ménélas về tới Sparte, giữ lời hứa với Achille, cho người đưa Hermione sang xứ Buthrote để sửa soạn làm lễ cưới với Pyrrhus. Nhưng mọi việc kéo dài mãi và Hermione chẳng bao lâu đã hiểu rõ vì Pyrrhus đang đam mê Andromaque. Tức giận, Hermione quyết tâm sát hại Andromaque. Vừa dịp đó thì Oreste tới. Hémione không yêu Oreste, trái lại Oreste vừa gặp mặt Hermione trở lại đã thấy say mê. Oreste nhân danh toàn thể các người Hy Lạp đã tham dự trận chinh phạt thành Troie yêu cầu Pyrrhus phải hạ sát Astyanax, con trai Hector, hiện do Andromaque đem theo về nuôi. Sở dĩ có vụ yêu cầu này là vì người Hy Lạp mới khám phá ra rằng Astyanax không bị liệng xuống biển như đã quyết định sau khi chiến thắng thành Troie. Hồi đó Andromaque đã âm mưu đánh tráo Astynnax với một đứa nhỏ khác. Tuy nhiên sự yêu cầu đó chỉ là thứ yếu, mục đích chính của Oreste tới Buthrote chỉ là gặp lại Hermione và kiếm cách bắt cóc đem về. Mặc dầu những lời đe dọa của các người Hy Lạp, Pyrrhus vì yêu mê Andromaque nhất định không trả lại Astyanax. Làm như vậy Pyrrhus có ý mong rằng sẽ lay chuyển được Androninque vì thương con mà quên Hector và nhận lời lấy mình. Hay tin đó, Hermione cho vời Oreste tới, hứa với Oresle sẽ trở thành vợ Oreste nếu Oreste giết chết Pyrrhus. Nghe nói tới chuyện giết người, Oreste hoảng sợ, nhưng vì quá yêu mê Hermione nên đành nhẫn tâm sát hại Pyrrhus. Sau khi giết chết Pyrrhus, Oreste cũng không lấy được Hermione vì Hermione chỉ vì trong lúc hờn giận nên mượn tay Oreste giết Pyrrhus, thật tâm Hermione không thương yêu Oreste. Bị Hermione từ chối và còn lớn tiếng nguyền rủa nữa, Oreste rất đau khổ rồi trở nên điên dại một lần thứ hai sau khi thấy Hermione tự đâm cổ chết.

Sự tích này dựa theo vở kịch của Racine mà kể lại. Còn một truyền thuyết khác là Oreste sau khi ngỏ lời với Ménélas xin cưới Hermione thì được tin Pyrrhus đã cho người bắt cóc Hermione. Oreste bèn tới đền thờ thần tiên tri ở Delphes, tại đó Oreste bắt gặp Pyrrhus, Oreste buộc tội Pyrrhus phản bội, tố cáo với dân thành Delphes khiến họ giết chết Pyrrhus. Sau đó Oreste làm lễ cưới Hermione, yên ổn ngự trị, sống lâu tới 90 tuổi. Oreste chết ở Arcadie vì bị một con rắn cắn nơi gót chân.

Về phần Chrysothémis, người con gái thứ hai của Agamemnon, chị của Electre, không có truyền thuyết nào ghi rõ những hành động ra sao, ngoài một điểm là Chrysothémis đã hết sức kiếm cách ngăn cản không cho kéo dài cuộc rửa hận bằng cách giết mẹ là Clytemnestre để trả thù cho cha là Agamemnon.

Ménélas, khi rời khỏi thành Troie có đem theo về được nàng Hélène. Nhưng Hélène sau khi bị Pâris bắt đem về đã làm vợ Pâris cho tới khi Pâris bị giết chết. Sau đó lại qua tay Déiphobe là một danh tướng, cũng là con của Priam. Ménélas giết chết Déiphobe rồi đưa Hélène về nước. Nhưng trước khi rời bến, Ménélas lại quên không làm lễ tạ dâng cúng các thần linh nên đoàn thuyền của Ménélas bị sóng đánh lạc đi phải bơ vơ dọc theo duyên hải Ai Cập mất bảy năm. Khi về tới Hy Lạp thì vừa lúc Oreste giết chết Egisthe và Clytemnestre. Từ Argos, Ménélas trở về Sparte. Tại đây Ménélas sống lừng lẩy oai danh và rất nhiều tiền của trong kho tàng, cùng với Hélène. Theo truyền thuyết, Hélène rất ăn năn hối hận sau khi bị bắt về thành Troie và vẫn luôn luôn tưởng nhớ tới chồng cũ là Ménélas. Khi Télémaque, do mẹ là Pénélope cử đi tìm cha là Ulysse, ghé tới Sparte thì gặp đúng lúc Ménélas cùng với Hélène tái ngộ đang chung hưởng hạnh phúc. Dường như tới đây những oan trái do con người đẹp đó gây ra cho mọi người đã tạm dứt. Ménélas không phải chịu cái chết như mọi thường nhân. Các thần linh nhìn nhận Ménélas là rể của Jupiter nên khi Ménélas còn sống đã được đưa về xứ Elysée là nơi mà các con người sạch tội, các con cái của thần nhân, cùng các bậc anh hùng nhiều chiến công rực rỡ được đưa về sống đời đời kiếp kiếp. Nơi đây còn được gọi là Đảo của những Đắc phúc (Ile des Bienheureux).

Có truyền thuyết khác về Hélène. Theo một truyền thuyết thì Hélène trở nên bất tử và khi Ménélas đã chết Hélène được đưa lên Trời cùng các vì sao. Theo một truyền thuyết thứ hai Hélène bị người con của Ménélas có với một người tôi mọi bắt được ở Troie về đuổi đi khỏi xứ. Người con đó tên là Mégapenthe. Bị đuổi khỏi xứ Sparte, Hélène lui về Rhodes ở tại nhà một người bạn tên là Polyxo, là góa phụ một ông vua trong xứ bị chết tại trận Troie. Polyxo câm giận vì cái chết của chồng và nhiều danh tướng Hy Lạp khác, nguyên do chỉ vì sắc đẹp của Hélène, nên quyết tâm trả thù. Một bữa, trong khi tình nương cũ của Pâris đang tắm, Polyxo sai nữ tỳ cải dạng là ba nàng Đại Nộ tới dìm Hélène chết trong bồn tắm rồi đem treo cổ lên một cành cây.

Với cái chết của Hélène mới tàn lụi giòng họ gặp bao nhiêu đau thương kể từ khi Tantale gây ra tội ác.

Sự tích Atalante

Atalante nổi tiếng từ vụ tham dự cuộc săn bắt con heo rừng Calydon và cuộc đi kiếm những trái táo bằng vàng. Cha của Attalante là Jasus, vua xứ Arcadie. Jasus ghét con gái, cho nên khi sinh ra Atalante liền cho đem bỏ trong núi. Atalante được một con gấu cái cho bú sữa. Sau đó dân thợ săn trong vùng một bữa tìm thấy cô bé đem về nuôi dưỡng theo lề lối của những con người sống một đời sống vất vả, khắc khổ. Khi lớn lên Atalante quyết tâm sẽ không bao giờ lấy chồng, có bọn nhân mã tính bắt cóc nàng, nhưng Alalante lần lượt dùng cung tên hạ chết hết. Atalante sống một đời sống lang thang vô định, luôn luôn mang vũ khi theo bên mình. Atalante sống bằng thịt các dã thú nàng săn bắn được. Khi khát lại lấy cung tên, mũi giáo đâm vô vách đá hứng nước từ vách đá tuôn ra mà uống. Nhưng một ngày kia cha nàng cũng bắt buộc nàng phải lấy chồng. Nàng làm bộ ưng thuận nhưng đặt một điều kiện khiến cho có thể không bao giờ có người nào xứng đáng làm nổi. Nàng cắm một cái cọc ở tận cùng một thao trường và hẹn rằng chàng thanh niên nào chạy đua với nàng mà tới mức đó trước thì nàng sẽ nhận làm chồng. Nàng còn bằng lòng chấp một bước, nhưng nếu dọc đường mà nàng vượt được qua thì thanh niên đó sẽ chịu để nàng giết chết. Một số khá đông thanh niên đã chết dưới ngọn dáo của nàng vì bị nàng đuổi kịp và vượt lên. Sau tới phiên một chàng thanh niên tên là Mélanion, có thuyết lại nói là Hippomène, say mê Atalante nên đăng tên dự cuộc đua tài. Trước khi đó Mélanion đã được nữ thần Vénus ban cho mấy trái táo bằng vàng. Mỗi khi cô gái sắp vượt được chàng thì Mélanion lại để rớt một trái táo xuống đất. Mỗi lần như vậy Alalante lại cúi xuống lượm trái táo và để cho Mélnnion chạy xa lên. Vì mải lo lượm táo vàng nên Atalante bị thua cuộc và phải lấy Mélanion. Hạnh phúc của hai người tuy vậy rất ngắn ngải. Hai vợ chồng một bữa đột nhập khu rừng cấm dành riêng cho nữ thần Cérès. Cérès nổi giận biến hai người thành một cặp sư tử.

Sự tích bốn người con của Tyndare (Les Tyndarides)

Tyndare trị vì tại Sparte, láy vợ tên là Léda, con gái của Thestius, trị vị tại Etolie. Nhân một buổi làm lễ dâng cúng chư thần, Tyndare quên không khấn tới nữ thần Vénus, Vénus tức giận quyết sẽ trả hận trước hết vào Léda và sau đó vào con gái của Tyndare. Sau đó một bữa Léda tắm trên sông Eurotas, bỗng một con anh nga rất đẹp bị một con đại bàng đuổi đánh vội chạy tới nép bên người Léda. Con đại bàng chính là nữ thần Vénus, còn con anh nga rất đẹp lại là thần vương Jupiter. Sự tình cờ đó kết quả là Léda sinh ra hai cái trứng anh nga, nở ra một trứng có Pollux và Hélène, một trứng có Castor và Clytemnestre. Pollux và Hélène được di truyền đúng máu huyết của thần vương nên về sau trở nên bất tử. Còn Castor và Clytemnestre chỉ là giòng máu của Tyndare nên về sau cũng phải chết như mọi thường nhân khác.

Một truyền thuyết khác lại cho rằng Castor và Pollux nằm trong một trứng, còn Hélène và Clytemnestre nằm chung một trứng khác.

Mặc dầu có sự khác biệt trong các truyền thuyết, dân gian vẫn coi Castor và Pollux vừa là con của Jupiter, với tên là Dioscures (con trai Jupiter), vừa là con của Tyndare, với tên là Tyndarides.

Sau khi sinh ra đời, hai người con trai, Castor và Pollux, được thần vương đặc biệt lưu tâm nên sai Mercure tới đem hai đứa nhỏ tới bán đảo Pallène. Tại đây Castor và Pollux được trao cho các nông dân bản xứ nuôi nấng, theo lề thói khắc khổ của họ. Lớn lên hai anh em ngày một thêm yêu thương nhau không rời. Thành người, hai anh em ra công tiểu trừ bọn giặc biển thường quấy nhiễu quanh khu vực các đảo gần đó. Việc tiễu giặc này rất hữu ích cho dân gian nên họ đều coi hai anh em như hai vị thần linh của biển cả.

Sau đó, khi trở về nước, Castor và Pollux lại cùng nhau tới nơi trú ẩn của Ethra, mẹ của Thésée, để cướp lại người em gái là Hélène bị Thésée bắt cóc đem giấu. Hai anh em đột nhập xứ Attique đánh tháo cho Hélène về, đồng thời bắt luôn cả Ethra đem theo nữa. Sau kỳ công tìm ra được Hélène đưa về, hai anh em Castor và Pollux lại có dịp tham dự hai công cuộc còn ghi danh mãi về sau là vụ săn bắt con heo rừng ở Calydon và vụ đi kiếm tấm da bằng vàng trên chiến thuyền Argo. Nhân vụ viễn du cùng các kiện tướng dưới thuyền Argo, Castor và Pollux có ghé xứ Bithynie, tại đó trị vì tay thủ lãnh của dân Bébryces tên là Amycus. Cậy có vóc người cao lớn và sức khỏe đặc biệt, Amycus ưa bày chuyện tỉ thí bằng găng tay có bọc đai sắt hay chì với hết thảy mọi người lạ mặt ghé bến. Hầu hết đều bỏ mạng vì sức khỏe đặc hiệt của Amycus. Khi bọn Argonautes tới đó, theo lệ, Amycus cũng lên tiếng thách thức rất là ngạo mạn. Pollux bằng lòng tỉ thí. Nhưng mới đấm một cú đầu Pollux đã hạ Amycus đo ván rồi chết. Từ đó các tay đô vật thường coi Pollux như thần hộ mệnh của họ.

Castor có đặc tài cỡi ngựa, rất rành khoa huấn luyện các giống ngựa hung dữ cho trở nên thuần thục. Vì lẽ đó Castor được coi như thần hộ mệnh của các tay cỡi ngựa đua và các người đánh xe. Nhân vụ đi tới xứ Colchide này hai anh em Castor và Pollux gặp một biến cố khiến cho hai người nỗi tiếng là thứ linh thần hộ mệnh cho các nhà hàng hải. Gần cửa sông Phase, một trận bão tố nổi lên. Khi Orphée cầu khấn các thần linh phù trợ có hai ngọn lửa từ trên không bay xuống đậu trên đầu hai anh em Castor và Pollux (Ngày nay ngọn lửa đôi khi xuất hiện ở trên ngọn cột buồm báo hiệu cho các thủy thủ biết là cơn bão tố đã dứt, được các nhà hàng hải mệnh danh là ngọn lửa Saint-Elme). Sau khi hai ngọn lửa đã bay xuống đầu hai người được coi như con trai của thần vương Jupiter, giông tố liền im bặt và mặt biển trở nên phẳng lặng. Do sự tích này mà về sau các thủy thủ thường kêu cầu sự phù hộ của hai thần linh con của thần vương Jupiter và sau đó ngóng trông những tia lửa báo hiệu lời kêu cầu đã ứng nghiệm.

Khi du hành trên tàu Argo trở về, hai anh em Castor và Pollux lại tự mình phạm phải cái lỗi mà trước kia hai anh em đã trách cứ Thésée. Chú của Castor và Pollux có hai cô con gái rất xinh đẹp đã hứa hôn. Tới bữa làm lễ cưới, Castor và Pollux tới dự bỗng cảm thấy cùng say mê hai chị em nên bàn nhau bắt cóc cả hai đem đi. Hai chú rể tức giận rượt theo và bắt kịp hai người tại núi Taygète. Hai bên xoay ra đánh nhau. Castor hạ được một người nhưng lại bị người kia nhảy tới giết chết. Pollux lập tức trả thù giết luôn người kia. Trông thấy anh bị giết chết, Pollux đau đớn, cầu xin thần linh cho được chết theo anh. Nhưng Định Mệnh đã liệt Pollux vào hàng bất tử nên thần vương Jupiter không thể làm khác được. Sau cùng Jupiter bầy ra được một giải pháp là cho hai anh em chia nhau bất tử. Cứ mỗi sáu tháng người nọ lại chết thay cho người kia sống. Tình trạng kéo dài không được bao lâu thì chính Jupiter cũng thấy khó nghĩ nên đưa cả hai anh em lên trời thành một tòa tinh tú mang tên là Hai anh em sinh đôi (Les Gémeaux).

Hai anh em Dioscures, ngoài nhiệm vụ bảo vệ cho các nhà hàng hải, còn được dân gian tôn thờ coi như hai vị thần linh tiêu biểu cho đức hiếu khách. Thỉnh thoảng hai anh em lại tới các gia đình ở đô thành để thử xem đức hiếu khách của họ ra sao. Một người tên là Phormion, được thừa hưởng căn nhà mà khi sinh thời hai anh em vẫn ở tại Sparte, một bữa từ chối không chịu nhường cho hai anh em giả dạng lữ khách căn phòng mà hai người ở khi xưa, lấy cớ là phòng đó là phòng riêng của người con gái. Sáng hôm sau, Phormion kiếm cùng hết không thấy cô con gái và các nữ tì hầu cận đâu cả. Nhưng trong căn phòng mà hôm trước Phormion đã từ chối không cho hai anh em tạm trú lại thấy có tấm hình Castor và Pollux.

Hai anh em Dioscures giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử người Hy Lạp và người La Mã. Tại trận Marathon, Castor và Pollux đã tham gia chiến đấu người Ba Tư, tại hồ Régillc, hai anh em đứng vào phe dân La Mã chống lại người Latins. Ở Rome, đàn ông mỗi khi thề thốt đều viện tới Pollux và đàn bà thì viện tới Castor. Dân chúng ở Athènes cúng lễ Castor và Pollux như hai vị thần linh. Ở Rome, các đoàn quân đều đem biểu tượng Castor và Pollux đi dẫn đầu để gợi lòng hăng hái, sự quả cảm của các chiến binh. Có nhiều đền thờ Castor và Pollux được lập nên ở Rome. Lễ vật thường là thứ cừu non lông trắng.

Sự tích Minos

Europe, con gái của Agénor, trị vì tại Phénicie, bị thần vương Jupiter cải dạng thành một con bò mộng bắt đem qua đảo Crète, ở đó Europe sinh với Jupiter hai con là Minos vố Rhadamanthe (coi sự tích Cadmus). Sau đó Europe lấy vua đảo Crète là Astérius và được Astérius nhận nuôi hai đứa con. Europe sống ở đó cho tới già rất được dân chúng tôn sùng. Khi Europe chết dân tôn thờ như một vị thần linh.

Astérius chết đi, hai anh em vì tranh ngôi sinh ra bất hoà. Minos thắng thế, đuổi Rhadamanthe ra khỏi đảo. Rhadamanthe trốn qua quần đảo Cyclades và lưu lại đó nhiều thành tích tốt bằng cách bày ra những luật lệ, đem sự văn minh thịnh trị tới cho các dân tộc còn ngu dốt trong khu vực này. Lập xong những công nghiệp đó, Rhadamanthe tới xứ Béotie. Tại đây Rhadamanthe lấy Alcmène, goá phụ của Amphitryon. Tại đây Rhadamanthe cũng nổi danh vì sự ngay thẳng. Rhadamanthe bày ra luật ăn miếng trả miếng (loi du Talion) và phép tuyên thệ, hễ không đủ chứng tá thi can phạm phải tuyên thệ là nói đúng sự thật. Sau khi Rhandamanthe chết, các thần linh thưởng công cho vì đã cả đời phụng sự công lý và Rhadamanthe được bổ nhiệm vào chức vị thẩm phán tại Âm cung. Thco truyền thuyết, quản hạt của Rhadamanthe là các dân tộc Á Châu.

Minos trị vì tại đảo Crète không được bao lâu thì bị dân chúng phản đối, không nhìn nhận là truyền thống của Astérius. Minos hết sức biện bạch là các thần linh đã dành sẵn ngôi báu cho mình. Để gây sự tín nhiệm trong dân chúng, Minos lập đàn kêu cầu thần Neptune phù trợ và hứa nếu thần Neptune cho hiện lên từ dưới biển một con bò mộng thì sẽ dùng con bò đó làm lễ dâng cúng luôn. Quả thật có một con bò mộng từ dưới nước xuất hiện. Nhưng Minos thấy con vật tốt đẹp quá nên tiếc, sai đem về nuôi tại cánh đồng cỏ và lấy một con vật khác thay thế trong việc dâng cúng tạ thần Neptune.

Thấy Minos lừa dối cả thần linh, Neptune nổi giận khiến cho Pasiphaé, là vợ của Minos, ảnh hưởng tới Minos để Minos nuông con bò đó hết sức, đồng thời Pasiphaé lại cảm thấy ngày một say mê con bò thần đó nữa. Mối tình bất chỉnh đó trở nên ngày một sâu nặng một phần nữa do sự thù ghét của Vénus đối với thần mặt trời. Nguyên do Pasiphaé là con gái của thần mặt trời và Vénus vẫn căm thù thần Mặt trời vì xưa kia đã có lần thần Mặt trời phanh phui mối tình vụng trộm của Vénus với thần Mars. Mối tình giữa Pasiphaé và con bò mộng sinh ra một quái vật, đầu người mình bò (Minotaure). Minos hay biết mọi chuyện muốn che giẩu sự xấu xa đó nên cho cất một tòa Mê Cung để nhốt con Minotaure trong đó. Người được cử ra xây cất tòa nhà đó tên là Dédale.

Dédale là một người dân thành Athènes, rất có khiếu về cơ khí. Chính Dédale là người đầu tiên có sáng kiến làm những pho tượng chân tay rời và mắt thủng bên trong có con mắt giả. Sáng kiến này được dân chúng thán phục lắm và coi Dédale như người sáng chế ra những hình nhân biết cử động, biết trông và biết nghe. Dân gian còn nói rằng Dédale là người sáng chế ra cái rìu, cái khoan, cái búa, cái cưa, ống thủy chuẩn, cái trục buồm và kiểu ghế xếp cho các bà đem theo ngồi mỗi khi đi dự lễ Panathénées. Con trai Dédale là Icare đã sáng chế ra cánh buồm. Cháu của Dédale lần đầu tiên chế ra máy tiện và cái quy (compas). Thấy đứa cháu quá lanh lợi, Dédale sinh ghen tức đem giết đi. Bị đưa ra tòa án Aréopage, Dédale phải vĩnh viễn biệt xứ. Dédale liền qua đảo Crète tìm sự nương náu ở triều vua Minos. Công việc đầu tiên Minos giao phó cho Dédale là việc xây cất tòa Mê cung (Labyrinthe). Đó là một khu vực mênh mông có rừng cây, có nhà, một khi đã bước vô đó không thể kiếm được lối ra nữa. Con Minotaure được thả ra nhốt trong đó.

Minos có một con trai tên Androgée là một tay đô vật đại tài. Tại Athènes, nhân kỳ hội Panathénées, một mình Androgée đã hạ hết mọi địch thủ. Vua Egée thấy con mình bị thua Androgée nên sinh lòng ghen tức, quyết tâm sẽ hạ sát Androgée. Nhà vua hay tin Androgée sẽ tới Thèbes thăm vua Laiũs (coi sự tích Œdipe) bèn sai một bọn gia nhân tới mai phục trên đường đi qua, khi Androgée tới liền bất thần đổ ra dùng giáo đâm chết. Minos được tin nổi giận cầm đầu một đoàn chiến thuyền đổ bộ lên Mégaride, đánh chiếm thành Mégare. Lẽ ra Mégare có thể chống cự nổi với đạo quân của Minos nếu nhà vua tại đó tên là Nisus không bị cô con gái bội phản. Cô công chúa Scylla đứng trên bờ thành ngó ra ngoài trông thấy Minos đẹp trai, đường bệ, nên sinh bụng mê say. Trong cơn điên dại vì yêu mê, Scylla đang đêm lén gỡ trên đầu vua cha Nisus sợi tóc vàng hộ mệnh cho cả xử, đem dâng tặng cho đối phương. Vì sự bội phản đó thành Mégare bị mất. Nhưng Minos đối đãi với Scylla hết sức rẻ rúng khiến cho Scylla phát điên. Khi Scylla trông thấy đoàn chiến thuyền của Minos rời khỏi bén liền từ trên vách đá lao mình xuống biổn tính bơi theo. Nhưng từ trên không một con đại bàng cũng lao xuống. Đó là Nisus. Trong cơn căm giận Nisus tính giết chết Scylla nếu các thân nhân không kịp biến Scylla thành một con hải điểu. Từ đó con đại bàng không ngớt đuổi theo con hải điểu mổ những cú rất nặng.

Minos đưa quân tới Attique, qua đâu tàn sát, phá hại tới đó. Cuộc công hãm thành Athènes rất khó nhọc, lâu dài đến nổi Minos phải thấy ngán. Minos liền lập đàn kêu cầu thần vương Jupiter, nhờ thần vương trừng trị giúp. Một trận dịch tễ lan tràn giết hại dân chúng Athènes, và khu vực đồng quê Attique. Dân chúng thành Athènes dùng các thiếu nữ làm vật hi sinh cũng vô hiệu. Cầu thần tiên tri thì được biết nếu muốn thoát khỏi nạn dịch tễ và sự trả thù của Minos thì từ đó về sau hằng năm phải dâng cho vua đảo Crète bảy thanh niên và bảy thiếu nữ để Minos dùng làm mồi cho con quái vật Minotaure.

Sau khi đã được dân Athènes hứa triều cống như vậy, Minos rút quân về đảo Crète. Công việc cai trị của Minos rất công minh. Sự phụ giúp của Dédale cũng đem lại cho Minos nhiều sáng kiến hay. Lệ triều cống hằng năm những thanh niên và thiếu nữ Athènes để hi sinh cho con quái vật Minotaure theo được hai năm. Tới năm thứ ba nhờ có Thésée là con của Egée cầm đầu bọn thanh niên và thiếu nữ, giết chết được con Minotaure rồi nhờ sợi dây của Ariane, con gái của Minos, vì yêu Thésée đem bày cho người yêu phương kế ra khỏi tòa Mê Cung. Thésée thành công trở về nước và lệ triều cống dã man đó chấm dứt (coi sự tích Thésée).

Tòa Mê Cung sau đó cũng không vắng người. Tình cờ Minos được biết là chính Dédale, người chịu ơn mình, đã từng giúp sức Pasiphaé trong những vụ ái tình lén lút của bà hoàng hậu. Minos nổi giận sai đem Dédale và con trai là Icare nhốt ngay trong tòa Mê Cung. Đối với một người khác thì hình phạt này coi như một cái chết chắc chắn, nhưng đây lại một phen khiến cho Dédale sử dụng sáng kiến của mình. Hai cha con cùng nhau chế tạo hai bộ cánh đem gắn lên vai bằng sáp ong. Với đôi cánh đó hai cha con cùng nhâu bay lên. Mặc dầu những lời căn dặn của cha, lcare đã bay lên quá cao, một phần nữa vì sử dụng không được thuần thục bộ máy kỳ lạ đó, vì bay cao quá bị sức nóng mặt trời thiêu đốt sáp ong tan ra và bộ cánh bị rã rời. Icare rớt xuống biển Egée, nơi đó thành tên là biển Icare. Dédale khéo léo hơn nên thẳng đường bay lên miền Bắc, tới vùng núi non gần Néapolis bèn hạ cánh xuống rất nhẹ nhàng giống như một con chim. Tại miền Cumes, Dédale xây một ngôi đền dâng cúng thần Apollon. Trên hai khung cửa bằng vàng, Dédale khắc hết đầu đuôi các chuyện về Pasiphaé, con quái vật Minotaure và tòa Mê Cung.

Minos thấy Dédale trốn thoát khỏi tòa Mê Cung lấy làm căm tức lắm nên xuống thuyền đuổi theo. Tới đảo Sicile, nơi mà Minos nghe nói Dédale đã đáp xuống. Minos tới triều vua Cocalus, trị vì tại đảo Sicile, yêu cầu Cocalus phải trả lại Dédale. Cocalus sợ oai danh vua đảo Crète nên vội quên bao nhiêu sự giúp sức của Dédale trong công việc xây cất trong hoàng thành, đem Dédale dìm cho chết ngộp trong một thùng nước. Tiện tay sát nhân, Cocalus cho bắt luôn cả Minos và liệng trong thùng nước sôi.

Truyền thuyết không thấy nói tới Pasiphaé về sau này ra sao. Người ta chỉ biết rằng Pasiphaé có với Minos một con gái tên là Phèdre sau này lấy Thésée, con trai nhà vua trị vì tại Athènes.

Ta không nên lầm Minus, cha của Phèdre với một Minos khác là ông của Minos này. Minos thứ nhất đó là một hiền nhân rất mực đạo đức. Thần vương Jupiter hâm mộ tài đức phải từ trên núi Olympe ghé xuống một thạch động để cùng với Minos đàm đạo, cứ chín năm lại có một cuộc họp mặt như vậy. Sống trong tòa thạch động, Minos ngày đêm nghiền ngẫm về phép trị dân, đặt ra phép tắc, sao cho dân được yên ổn, no ấm. Dân gian ai nây đều ghi công nhà luật pháp đầu tiên đó và truyền tụng rằng thần vương Jupiter cảm mến công đức của Minos nên về sau dùng Minos làm phán quan tại Diêm Cung.

Sự tích vụ công hãm thành Troie, tức Ilion

Ngoài những truyền thuyết trong dân gian về những sự tích các thần nhân thời tiền sử Hy Lạp và La Mã, đáng kể nhất trong kho tàng các cổ tích La Hy là hai thiên IliadeOdyssée của Homère (thế kỷ thứ IX trước Công Nguyên) và thiên Enéide của Virgile (71-19 trước Công Nguyên). Homère là người Hy Lạp, Virgile là người La Mã. Bộ Iliade kể một giai đoạn trong vụ công hãm thành Troie. Bộ Odyssée kể cuộc hành trình phiêu lưu của Ulysse từ sau khi cả thắng ở Troie tới khi về đến xứ Ithaque. Bộ Enéide kể sự tích hoàng thân Enée, sau khi thành Troie thất thủ bỏ trốn sang xứ Latium, cưới công chúa Lavinie, con vua Latinus. Sau Enée lập ra thành phố Lavinium, coi như nơi thủy tổ của đế quốc La Mã.

Giòng họ sáng lập ra thành Troie gồm có:

Teucer, khai sáng ra xứ Teucrie, thuộc Phrygie. Con gái của Teucer lấy

Dardanus, nguyên là con thần vương Jupiter, từ miền Tây (Ý) tới, rồi lập nên xứ Dardanie. Dardanus có con trai tên là

Erichthonius, sinh ra

Tros. Tros lấy tên mình đặt cho thành phố do Dardanus lập nên. Dardanie trở thành Troie. Tros sinh ra

Ilus. Ilus lại lấy tên minh đặt cho thành phố cũ. Vì vậy Troie còn có tên Ilion. Homère lấy tên Ilion đặt thành bộ Iliade, Ilus sinh ra

Laomédon. Nhờ thần Neptune và thần Apollon (bị lưu đầy xuống trần) giúp sức nên xây được thành Troie. Con trai của Laomédon là Priam.

« Lùi
Tiến »