Thằng Bé Thợ Rèn

Thằng Bé Thợ Rèn

Lượt đọc: 705 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
những mẩu chuyện nửa kín nửa hở

Một chút sử liệu

SỬ CHÉP RẰNG: Khi vua Nhân Tông nhà Trần hội các vương hầu ở Bình Than để bàn  việc chống giặc, Trần Quốc Toản bây giờ mới có 15, 16 tuổi cũng theo ra Hội. Vì còn  nhỏ tuổi nên không được ra dự bàn. Quốc Toản căm tức vô cùng, trong tay cầm quả  cam bóp vỡ nát ra lúc nào không biết. 

Khi tan Hội, ai nấy về sắm sửa binh thuyền. Quốc Toản về nhà cũng tự họp những  người thân thuộc, sắm đồ khí giới, mang lá cờ đề 6 chữ “Phá cường địch, báo hoàng  ân”, rồi đem quân đi đánh giặc. Đánh chổ nào quân giặc cũng phải lùi. 

Trần Trọng Kim 

(trích Việt Nam Sử Lược, trang 143)

*

Chương 01 

Những mẩu chuyện nửa kín nửa hở … 

Đây là một buổi chiều năm Giáp thân (1284) vào tiết trọng đông. Bóng tối đổ xuống  rất mau. Chỉ một thoáng lũy tre bao quanh làng Khê Thượng đã chìm hẳn vào bóng  đêm sâu thẳm. 

Lũ trẻ vừa chơi trận giả đã tản mác về làng. Trên đỉnh Gò Cụt duy chỉ còn thằng Ân  đương lững thững cất bước đi xuống. Con đường mòn hiện ra trước mắt Ân một vật  trắng vừa ngắn vừa mờ mờ …Nhưng mỗi bước thằng Ân đi, vật trắng đó lại lùi xa mãi  thêm ra. 

Đầu nặng về suy nghĩ nên bước chân thằng Ân cũng nặng như có đeo đá. Ít ngày nay  Ân thường hay ngơ ngẩn như vậy. Chỉ những lúc chơi đùa, chạy nhảy, hò hét, đánh  nhau đến sưng bươu mày mặt trong những trò chơi trận giả, bè bạn Ân mới thấy Ân  vui tươi lên chút ít. 

Nhưng nào Ân có được rộng rãi thì giờ chạy nhảy suốt ngày. Nó còn phải kéo bễ hoặc  quai búa (1) đỡ cho mẹ nó. Nhất là từ bốn năm hôm nay anh Cả Đức bận đi chợ xa  giao hàng. 

Gia đình thằng Ân làm nghề thợ rèn cũng như phần đông dân làng. Nghề đó lưu  truyền từ đời kiếp nào không ai nói rõ cho Ân biết. Nó chỉ biết làng nó ít ruộng cày  lắm. Dân làng hầu hết sống lam lũ nhờ ở đôi cánh tay và miệng bễ có đỏ lửa mới  đong đầy được nồi gạo. 

Những đứa trẻ trong làng vào trạc tuổi Ân, độ mười bốn mười lăm đều đã phải rời bỏ  mấy tiếng (Chi, Hồ, Giả, Giã) để tập nghề. Tuy vậy chúng không quên thừa dịp rảnh  tay đàn đúm với nhau ở Gò Cụt chơi đùa cho thỏa thích. 

Từ độ quan Tiết Chế (2) hội vương hầu và sĩ tốt tại Đông Bộ Đầu (3) truyền hịch,  tiếng vang đi khắp nước, bọn trẻ làng Khê Thượng cũng bắt đầu có những trò chơi tập  trận. Và cũng vì mãi mê trò chơi đó, bỏ cả đe, bễ chúng đã nhiều lần bị nhừ đòn.  Nhưng không vì thế mà chúng chịu bỏ cái mộng làm ông tướng có cờ, có quạt, có  gươm. Giáo oai vệ. 

Ân là đứa trẻ ham mê nhất trong những đứa trẻ ham mê. Nhưng nó cũng là đứa trẻ  dễ buồn nhất trong những đứa trẻ nọ. 

Tại sao lâu nay thằng Ân thường có vẻ mặt buồn? Bạn bè nó muốn biết lắm, nhưng  không thể rõ nguyên nhân vì sao. 

Ân lại là đứa trẻ kín đáo. Tuy được chúng bạn rất mến vị nể, Ân không dễ dàng thổ lộ  nổi lòng cho ai hay.

Nhưng cứ xét tình hình cái không khí nghiêm trọng trong làng ít lâu nay thì tình hình  như thằng Ân đã buồn vì không được người lớn chú ý đến nó trong những công việc  hệ trọng của nó. 

Thằng Ân cảm thấy dạo này có một không khí bí mật bao trùm lên khu làng nhỏ bé,  tiều tụy của nó và ngay cả gia đình nó nữa. 

Bố, mẹ Ân và Cả Đức, anh ruột Ân thường thì thào to nhỏ bàn bạc chuyện gì Ân  không hay. Có khi thật khuya, mãi quá nữa đêm cho đến lúc Ân díu mắt, ngủ thiếp đi  mất hoặc có khi Ân bừng tỉnh mở mắt, ánh sáng ban mai đã le lói qua cánh liếp, nó  vẫn thấy bố, mẹ và người anh cả châu đầu vào nhau chuyện trò. 

Những câu chuyện nửa kín, nửa hở ấy nhen một ngọn lửa tò mò âm ỉ trong lòng  thằng Ân. Ngọn lửa ấy mỗi ngày lại cháy to và Ân càng khao khát muốn biết như khi  nó thèm khát một món ăn vừa lạ miệng, vừa quí vừa đắt tiền vậy. 

Thằng Ân lập tâm mon men đến gần những cuộc bàn bạc đó. 

Thì …lập tức mọi người đều im bặt và anh Cả Đức đuổi ngay Ân đi chỗ khác. Có lẽ  chính vì thế mà thằng Ân buồn và thường có vẻ mặt suy nghĩ. 

*

Ân dừng chân trước cổng tre. Cánh cổng đã đóng chặt hơn thường lệ. Ân đoán chắc  trong nhà đã có khách hoặc anh nó đã trở về. 

Nhanh nhẹn nó chui qua hàng rào dâm bụt, chỗ lỗ hổng con Mực vẫn chui ra chui  vào. 

Ân rón rén đi bằng đầu ngón chân, nhẹ nhàng như một con mèo, tiến đến bên cạnh  cửa, ghé mắt nhìn vào trong nhà. 

Dưới ánh đèn nhựa chám cháy bập bùng, nó thấy rõ mấy ông bác, ông chú nó và mấy  ông già hàng xóm. Họ đều là những tay “tay kìm” cừ khôi trong phường. (4) 

Bà bạn mẹ Ân ngồi têm trầu trên cái chõng tre bên cạnh. 

Thằng Ân dỏng tai lắng nghe, tuy không rõ lắm, nó cũng góp nhặt được những tiếng  rời rạc gần như vô nghĩa: 

“Sát Đát, đại vương …..Bình Than” và mấy tiếng gằn mạnh của cụ Cả Bình, trùm  phường như: “Phải làm cho nhiều! Cứ rèn thật lực, cứ cung cấp, cứ chuyển vận cho  khéo, cho kín là được…” 

Rồi tiếng mọi người ào ào nhắc lại: “Phải cứ rèn cho nhiều thật lực vào là được”. 

Bỗng có tiếng động sột soạt phía hàng rào. Ân vội nhảy phắt ra sau một cái cột, ngồi  thu hình gọn lỏn như một con chuột nhắt.

Cũng từ lỗ hỏng góc hàng rào, nơi cửa riêng của con Mực, một người đương lom khom  chui vào. 

Người to lớn đứng lên phủi áo, thở phào một tiếng, rồi hối hả bước nhanh qua sân. Y  khẽ gõ vào chánh cửa gỗ hai tiếng ngắn, rồi lại hai tiếng ngắn, như một ám hiệu. 

Cánh cửa liền kẹt lên một tiếng, mở hé ra. Ánh sáng nhựa chám bập bùng hắt ra bên  ngoài, hằn rõ bóng người lạ to lớn rung rinh đổ dài trên sân đất. 

Nhờ ánh lửa, thằng Ân nhớ mang máng ra có gặp người khách lạ nọ một hai lần, đâu  ở trên chợ huyện vậy. 

Cánh cửa, khép kín ngay lại giấu biến người khách lạ vào bên trong. Không khí bí mật  của gian nhà lại bao phủ thên một tấm màn bí mật. 

Thằng Ân không thể bỏ lỡ cơ hội mặc dầu đôi mắt nó đã díp lại đòi một giấc ngủ. 

Ngọn gió lê lướt thướt trên bùm tre sạc sào, thỉnh thoảng lùa vào đôi ống quần ngắn  cũn cỡ của Ân như muốn giục nó đi ngủ. Nhưng tính tò mò đã đốt lửa ấm trong lòng  nó. Nó kiên gan bò lại khe cửa chỗ dễ nhìn nhất, để nhìn vào. 

Người khách lạ lực lưỡng, râu ria xồm xoàm, hẳn có mang cả một điều bí mật quan  trọng lại cho cuộc họp. Tất cả mọi người đều hướng cả vào y, lắng nghe y nói. 

Y nói rất khẽ hầu như không thành tiếng và chỉ phều phào qua kẽ môi như gió. Mọi  người phải chụm đầu cả lại gần y mới nghe nổi. 

Thằng Ân thấy tấm tức trong lòng. Nó tưởng như mội tiếng y nói ra là đã có năm,  mười cái tai hứng lấy mất sạch không để lọt một âm thanh nào ra ngoài. Nên dù tai  thằng Ân có thính như tai hươu, cũng đành chịu không nhặt được vài tiếng như lúc  nãy nữa. 

Nhưng Ân cũng không chịu hẳn. Không nghe được bằng tai, nó nghe bằng mắt vậy.  Điều nó chú ý đến trước tiên là vẻ mặt mọi người đều sửng sốt, lo sợ. Bà Bản ngồi  bên mép phản thỉnh thoảng lại kéo vạt áo lên thấm nước mắt. Già Bản, bố của Ân  cũng bối rối hiện rõ trên nét mặt. Tay già run run cầm mồi lửa để rơi xuống đến ba  lần vẫn chưa hút xong điếu thuốc lào. 

Thằng Ân đã nhìn thấy rõ sự quan trọng của câu chuyện. 

Nó vụt nghĩ đến Cả Đức. 

Hay anh Cả làm sao? Nhưng đi chợ giao hàng như mọi khi thì có gì nguy hiểm? 

Tuy nghĩ vậy thằng Ân bỗng cũng lo sợ lây. Vì nếu không, sao mẹ nó khócvà bố nó lại  bối rối đến nhường vậy? Thằng Ân thầm cầu khẩn Trời, Phật phù hộ cho anh nó, cho  gia đình nó tránh được tai nạn.

Giữa lúc ấy cuối ngõ vang lên tiếng chó cắn. Một đêm trời tối như mực, rét căm căm  vào cái thời loạn này, tiếng chó sủa trong đêm vắng, nghe thật ghê rợn. 

Những tiếng xì xào trong nhà bỗng im bặt. Nhọn đèn nhựa chám bỗng tắt phụt đi. 

Thằng Ân chợt nghĩ đến những câu chuyện “giặc Đuôi Sam” vào các làng cạnh Phủ  hiếp tróc đàn bà, con gái, cướp của, giết người do những người làng đi chợ Phủ về kể  lại mà ghê sợ. 

Một lát sau tiếng chó sủa đã dứt. Khu làng lại trở nên yên tịnh, đìu hiu; lá tre lay  động xạc xào trên mái rạ lại nghe đã rõ mồt một. 

Cánh cửa dụt dè hé mở, bật lên một tiếng động ngắn, khô. 

Từng bóng người lách ra. Họ bước thoát ra sân, chui qua lối đi của con Mực, ra đường. 

Thằng Ân lẻn vào gian buồng mẹ theo lối cửa ngách. Nó kéo cái chiếu rách chùm lên  đầu, giả vờ như đã ngủ say. 

Chú thích:

(1) Quai búa: đập búa lớn (búa tạ) trên miếng sắt đỏ. Một người thợ cái (thợ rèn,thợ  chánh) tay cầm kìm kềm miếng sắt nung, tay đập búa con làm dấu cho búa tạ đập  xuống. Một danh từ của thợ rèn. 

(2) Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được phong: Tiết Chế Thống lãnh Thủy lục Tam  quân vào tháng 10 năm Quí Mùi.(1283) 

(3) Phía Đông sông Nhị Hà thuộc huyện Thượng Phúc, gần Hà Nội 

(4) Phường:tiếng thời xưa chỉ một nhóm người, một số gia đình tụ tập ở cùng một  khu vực và cùng làm một nghề, có những liên hệ tinh thần và vật chất với nhau.

« Lùi
Tiến »