Thang Dây

Lượt đọc: 506 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 13

Trên đường tới nhà ga thì trời bắt đầu đổ mưa. Nghĩ lại, lẽ ra tôi phải đoán trước điều đó. Trời luôn luôn mưa khi tôi gặp Mungo. Cơn mưa làm hắn xuất hiện không biết từ đâu, giống như lũ ếch và giun đất. Và khi trời tạnh, thì hắn chơi cái trò hô biến. Sau này hắn bảo tôi, bằng cái giọng ra vẻ bác học quái đản của hắn, rằng sự gặp nhau của chúng tôi là có liên quan với việc tụt áp suất không khí đột ngột. Nhưng buổi chiều hôm đó tôi chẳng thèm tìm hiểu cóc khô gì về chuyện đó cả.

Thế nên trời bắt đầu đổ mưa thì tôi thấy Mungo. Chiếc xe đạp của tôi đánh một vòng ở góc đường thì hắn đang ở ngay đó trên bờ đường, thơ thẩn trên bờ một cái ao. Mực nước trong ao cao tràn qua bờ làm thành một cái thác nước nhỏ đổ ra đường và chảy xuống đồi thành dòng cuộn xiết trắng xóa. Tôi không định ngừng lại – hắn là kẻ cuối cùng trên đời này mà tôi muốn gặp hay trò chuyện. Nhưng khi tôi chạy chậm lại để vọt xuyên qua dòng nước xiết thì Mungo nhảy từ trên bờ xuống và đứng ngay trước bánh xe.

“Mày muốn gì?” tôi hỏi. “Tránh ra.”

“Tao đang ngăn đập cho cái ao và luôn thể kiểm tra lũ sa giông,” hắn nói, “mày giúp tao một tay nghen.” Trông hắn thật khẩn thiết và mặt hắn, dưới mưa mù ảm đạm, giống một kẻ man rợ ở Camden Town: mái tóc đen nhánh, khuôn mặt trắng bệch, ánh mắt thất thần.

“Tao biết mày là ai.” tôi nói. “Và tao không bao giờ muốn gặp lại mày. Tao không muốn gặp lại mày chút nào. Nói với má tao biết ai là ba thật của tao và tao sẽ ra đi mãi mãi. Giờ thì tránh ra.”

Nhưng Mungo đã không chịu tránh ra. “Vậy tao là ai?”

“Mày là thằng con hoang và tao ước gì mày chết phức rồi,” tôi đáp, “và mày có thể nói với má là tao nói như vậy.”

“Không không không, mày không hiểu gì cả,” hắn nói. “Mày đã đọc cuốn sách chưa? Mày phải đọc nó. Tất cả mọi chuyện ở trong đó.”

“Tao biết mọi chuyện về cuốn sách rồi. Mày không có thể dụ tao được bằng cách đó đâu. Giờ thì tao chỉ nhổ toẹt vào nó. Tao ngán vụ này tới cổ rồi.”

“Vậy cuốn sách nói cái gì nào?”

Tôi thúc bánh xe trước của tôi vào phía trên đùi của Mungo rồi làm bộ nhấc mạnh tay lái, có ý nói là: lần tới tao sẽ chơi mày trúng chỗ đau thiệt kìa. “Tránh ra mau,” tôi nói.

Mặt Mungo nhăn nhó. Hắn ngửa mạnh đầu, và khi hắn nhìn ngược trở lại thì một dòng nước mũi trắng phì phèo bong bóng ở hai lỗ mũi. Hắn đang khóc. “Tao biết là mọi chuyện hỏng bét rồi,” hắn nói. “Mày đừng bao giờ làm điều gì chỉ vì đang buồn, giờ tao hiểu rõ điều đó. Tao chỉ muốn mày hiểu thôi.”

Mungo giống như một chứng bệnh kinh dị hầu như không thể thoát khỏi được. Bất kể ta làm hay nói điều gì, thì hắn cũng tìm ra cái gì đó để quay trở lại với mình – giống như làm bộ đang rất khổ sở buồn rầu và khóc lóc tới nỗi mũi dãi phì phèo. Nhưng lần này tôi đã có cách. Tôi sẽ không bao giờ gặp lại hắn nữa.

“À, à sống cho ra hồn đi,” tôi nói, “tốt nhất là cách xa tao một triệu dặm.” Và tôi bẻ tay lái vòng qua tránh hắn và phóng vèo xuyên qua cơn mưa.

London bắt đầu từ đâu nhỉ?

Trời vẫn còn mưa. Những giọt nước mưa đang run run chảy dọc theo cửa sổ toa tàu. Tôi đang ngắm cánh đồng có mấy con bò trên đó, cả đàn ùa chạy dọc theo hàng rào tránh cơn mưa. Rồi mi mắt tôi khép lại và ba hiện ra trong toa, ngồi đối diện và nhìn nghiêng qua tôi. Ông đang nhe răng cười. Ông nói: “Con đang dính vào chuyện khỉ gì vậy?”

Rồi tôi chào. “Ha, chào ba.” Tôi không thể kể cho ba nghe cặn kẽ mọi chi tiết, chúng sẽ làm ông buồn lắm, nên tôi chỉ nói: “Thứ chuyện vô cùng nhảm nhí mà chỉ có ba là có thể giúp con thoát ra thôi.”

Điện thoại của cha nội ngồi đối diện tôi reng lên. Tiếng chuông reo giống tiếng ợ của con sư tử. Tôi mở mắt. Bên ngoài cửa sổ, cánh đồng và những con bò đã biến mất. Có mấy con sếu và gạch bẩn, mấy thanh kim loại cong queo được xịt sơn là các tác phẩm điêu khắc đáng ra làm cho người dân London thấy vui hơn về cái môi trường của họ được phủ đầy gạch xịt sơn và kim loại. Những cây cầu được phủ bởi những tấm bảng xịt sơn sặc sỡ, và những dãy cao ốc được bọc bởi những đĩa ăng-ten vệ tinh. Trong đầu tôi ba đang nhảy lên nhảy xuống và nói: “Tôi ghét cây cối, tôi ghét không khí tươi mát, và ghét nhất là cái thứ hoa chuông cứ lắt lay rập rờn đó. Hãy cho tôi những tiệm xăm mình và và đĩa vệ tinh và gạch cũ bẩn bất cứ ngày nào trong tuần. Yeah!”.

Sau ga Clapham Junction người tài xế xe lửa nói: “Đây là dịch vụ xe lửa Tây Nam chỉ tới London Waterloo thôi.” Chúng tôi vượt qua trạm phát điện Battersea, tôi nhận ra nó từ album nhạc Pink Floyd của ba. Tôi không biết khu vực này của London nhưng nó vẫn thân thiết như ở nhà. Như khi tôi gặp chú Jack em của ba trong đám tang của ba, người tôi chưa từng gặp bao giờ bởi vì chú sống ở Toronto. Tôi không hề biết chú trước đây và nay mới được biết chú. Khi gặp tôi, chú đấm nhẹ vào cánh tay tôi và ôm lấy tôi. Chú không nói gì cả, không phải liền lúc đó. Chú không cần phải nói gì.

Điều đó khiến tôi nảy ra một ý. Có lẽ tôi dọn tới Toronto và sống với chú Jack.

Tôi thấy những cái mũi Darth Vader của những chuyến tàu Eurostar đang sắp hàng trong nhà mái che bằng kính, rồi người tài xế nói: “Đây là London Waterloo. Ga cuối của chuyến tàu là ở đây. Xin mời tất cả mọi người xuống đổi tàu. Xin cẩn thận khi rời tàu và nhớ mang hết hành lý của mình theo.”

Tôi đứng lên. Chiếc tàu lắc lư và tôi suýt té nhào. Tôi hất cái túi ba-lô lên bằng một tay và bước tới đứng cạnh cửa. Con tàu ngừng lại, cửa tàu rít lên. Tôi nhấn cái nút to ướt át, cánh cửa trượt mở ra. Tôi bước xuống London và cái không khí nặng nề kì cục của nó giống như một cái bồn tắm.

Tôi khép mắt lại và nằm xuống bồn tắm ngập lên tới cằm. Tôi không thể tưởng tượng được mình đang ở bất cứ nơi nào khác.

* * *

Thế giới đang xoay vòng vòng, tôi cảm nhận được điều ấy. Tôi hẳn có thể là cả một tỉ triệu người khác, nếu bạn tính theo suốt dòng lịch sử, nhưng tôi là tôi, ngay lúc này, lao vùn vụt bên dưới London trên một chiếc tàu chạy tuyến Bắc, rất gần điểm khởi đầu của thế kỷ hai mươi mốt. Có kẻ xuống tàu và tôi ngồi vào chỗ của họ trên một cái ghế bật. Đối diện với tôi là một cô gái da đen mặc chiếc áo thun có hàng chữ: “Funky cool ultra kinky.” [25] Tôi có thể là cô ấy cũng dễ dàng như tôi chính là mình vậy. Tôi tưởng tượng mình chính là cô ấy đang nhìn tôi, tự hỏi tôi là ai và đang làm gì. Dù cả triệu năm nữa cô cũng không bao giờ nghĩ được là tôi đang bỏ nhà đi vì ba tôi không phải là ba thật và má tôi có một thằng con hoang, nó là thằng anh em bí mật của tôi. Nhưng thật ra cô ta không hề nhìn tôi, cô ta đang kiểm tra cái điện thoại di động. Có lẽ chẳng bao giờ cô băn khoăn về chuyện mình có thể là ai đó thay vì là chính bản thân mình.

Vài người Nhật già đang ngồi rải rác trong toa tàu. Tôi để ý thấy họ nháy mắt với nhau, đang nói chuyện bằng những cái nháy mắt theo cái cách má và tôi nói chuyện với nhau bằng mắt và mày. Đã từng nói chuyện với nhau - tôi không định gặp lại má nữa. Tôi bắt đầu thắc mắc tại sao Mungo lại khóc, và hắn thật sự muốn nói gì khi nói rằng hắn đang rất buồn. Nhưng tôi tự buộc mình không nghĩ về hắn để phòng hờ chuyện mình lại thương cảm cho hắn.

Mấy người Nhật xuống tàu ở đường Tottenham Court.

* * *

Từ tàu điện Hampstead tôi đi bộ lên đồi ngang một tiệm bán các bức tượng phụ nữ khỏa thân nhảm nhí và một tiệm khác bán những bức tranh sơn dầu lớn vẽ những bữa ăn tối và các trạm xăng của người Mỹ từ thời trước khi ba ra đời. Chắc ba ghét đàn bà khỏa thân và thích những trạm xăng. Rồi một nhà hàng Thái có hai bức tượng Phật màu vàng kim to khổng lồ trong cửa sổ, và tôi suýt tính bước vào hỏi xem họ có cà tím Thái không, nhưng lại thấy vô lý vì tôi không bao giờ trở về cái vùng đất quê mùa ấy nữa, và má không còn xứng đáng thưởng thức một bữa ăn bất ngờ đặc biệt do chính tay tôi nấu, có thắp nến và và nhạc của Elvis Costello vang lên từ máy hát.

Ngày rải tro đã diễn ra như thế này. Có má, tôi, chú Jack và ba người bạn học của ba từ khi ông còn là học sinh ở Gospel Oak, đã cùng họ chơi diều trên đồi Parliament, và Barbara và ông Col, chồng của Barbara, làm kỹ sư ở hãng Formula One, tôi đã mong ông tới với một chiếc xe thật chiến nhưng cuối cùng thì chỉ là một chiếc Volvo. Chúng tôi đi bộ hàng đôi lên đồi. Mấy người bạn học của ba đi trước, rồi đến má, rồi tôi, rồi đến chú Jack - một tay chú khoác cái ba-lô nhỏ, tay còn lại cầm ba đựng trong một bình tro bằng nhựa để trong một cái túi Oddbins, mọi người cứ thấy nó ngồ ngộ - rồi tới bà Barbara và ông Col. Chúng tôi không mặc đồ trang trọng, không như đang trong một đám tang. Má nói không phải làm thế. Bà nói là đây chỉ là một cuộc đi dạo với những người bạn cũ, cộng thêm một việc khác mà thôi. Trời hôm đó nắng đẹp, có vẻ không thích hợp lắm, như khi mấy con chim hót Chào mừng bạn đến với Manuresville không phải lúc vậy. Trời cũng nổi gió. Tôi lo về cơn gió, về việc nó có thể gây ra cho đám tro.

Người ta đi qua mặt chúng tôi và không biết chúng tôi đang làm chuyện gì. Họ không biết rằng cái gã mặc quần jeans và áo khoác xám đang mang ông anh của mình trong một cái túi, rằng anh của gã là cha của tôi vừa mới đây bị bỏ vào trong một cái lò ở nhiệt độ của trung tâm trái đất và đốt cháy tiêu cho tới khi ông không còn gì hết ngoại trừ một ít bột xám. Rằng tất cả chúng tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi và rải ba bay đi cho tới khi ông không còn tồn tại, kể cả chút bột xám.

Nhưng rồi tôi lại không biết những người vừa đi qua chúng tôi đang làm chuyện gì. Họ có thể mới giết một con chim bồ câu bị thương bằng một viên gạch. Tôi đã thấy có kẻ làm điều đó ở con đường trên bờ kênh Regent’s. Gương mặt hắn lúc đó không biểu lộ cảm xúc gì. Ta không thể nói được là hắn đã làm điều đó vì hắn tốt hay vì hắn độc ác và đó là một lý do để bào chữa hay ho.

Đi ngang qua khu Heath, chú Jack nói với tôi: “Chú cá là con không biết ba con đã là một vận động viên vô địch chạy nước rút khi ổng còn đi học.”

Quả là vậy, tôi đã không biết. Tôi hỏi: “Thật vậy sao?”

“Chính xác là vậy. Vô địch một trăm và hai trăm mét các trường ở vùng Middlesex năm một chín bảy mươi tám. Ổng có tham gia thử trong đội tuyển quốc gia.”

Tôi cố tưởng tượng ba trong trang phục chạy đua, nhưng tôi không làm được. Tôi chỉ cứ thấy ông mặc áo khoác ngắn bằng da và đi đôi giày đó.

* * *

Tôi cố nhớ lại hướng đi mà chúng tôi đã đi ngang khu Health. Chỉ tới khi tôi nghĩ mình đã đi lạc thì thấy cái cây Phẳng. Chúng tôi đã đi ngang qua nó trong ngày rải tro. Đó là một cái cây lớn có thân thật to, đứng trên đỉnh của một ngọn đồi. Khi ba má và tôi thường hay đi dạo ở khu Health vào những ngày Chủ nhật chúng tôi luôn luôn tán chuyện với nhau về cái cây đó vì cái cách nó hắt bóng lên trời làm thân cây trông như phẳng ra. Ba gọi nó là cây Phẳng. Khi chúng tôi đi qua nó trong ngày rải tro thì tôi mong má đừng kể chuyện đó ra. Đó là chuyện bí mật chỉ giữa bà và tôi, giờ thì ba không còn hiện diện ở đây nữa. Và má không nói gì cả, nhưng bà quay lại mỉm cười với tôi, để cho biết là bà đã thấy nó.

Một cơn mưa phùn nhỏ rơi lắc rắc. Tôi không biết chính xác đồi Parliament ở đâu nhưng cảm nhận được là mình đang đi đúng hướng. Ba nói rằng biển và đồi luôn kéo chúng ta đến với chúng, chúng có một thứ lực hấp dẫn. Rồi sau cùng tôi đi vòng vèo ngang qua bãi cỏ mượt làm cho đũng quần jeans của tôi bị ướt và mưa phun vào mặt nhưng tôi không để ý vì mặt đất đang mở rộng và dốc dần lên và những người khác đang đi vào tầm nhìn tôi từ mọi phía khác, tất cả chúng tôi đang cùng làm một điều như nhau, chúng tôi đang lên đỉnh của đồi Parly.

Ý của ba không phải là rải tro của ông ở đây, hay không phải cái cách mà chúng tôi đã làm hôm đó. Ông muốn được bắn lên trời trong một cái pháo bông. Ông muốn tro của ông được cho vào chóp một cái tên lửa. Tất cả chúng tôi sẽ đến đồi Parly và đếm ngược từ 10 tới 1, rồi đốt ngòi nổ và ngắm ông thăng. Ông nói với má điều này từ nhiều năm trước, khi còn đang rất khỏe mạnh và tính sẽ sống tới chín mươi tuổi. Lúc đó ở Barbados và tôi có mặt khi ông nói điều đó, ông đang ngồi bên ngoài quán cà-phê nhạc jazz ở Bridgetown với một nhạc sĩ có răng vàng. Ba nháy mắt với tôi khi ông nói vậy, và người nhạc sĩ cười quá trời tới nỗi ta có thể đếm răng của ông. Tôi nhắc má sau khi ông chết nhưng má không làm vậy. Má nói ba không có ý như vậy nhưng tôi biết rằng đó chính là ý tưởng độc đáo của ba. Nhưng tôi không cãi. Má lúc đó có vẻ mạnh mẽ lắm. Tôi không cãi lại bà.

Nhưng má không thật sự mạnh mẽ sau tất cả những điều đã xảy ra, bà là một kẻ phản bội. Điều đó làm tôi bàng hoàng, không dưng nghĩ về má và cha nội Cá Chua khi tôi đi lên đồi Parly. Lại cơn sóng thần. Ba tôi không phải là ba tôi! Ba tôi không phải là ba tôi!

Ôi đúng là ba tôi mà. Đây là thời gian của ba tôi và ngày của ba tôi, bất kể thông tin mới mà tôi có. Tôi đẩy má, Mungo, và cha nội Cá Chua xuống một cái hố trên đồi và lấy chân hất đất lấp lên họ cho tới khi những ký ức về họ tắt thở.

Cái băng ghế mà tôi đang tìm, ở ngay trên đỉnh đồi đang còn trống. Ở lưng băng ghế đã có khắc dòng chữ “Vô Cùng Thương Tiếc Martha A. Tomlin”. Tôi ngồi lên ghế và lấy một thanh lương khô ngũ cốc ra, và trong khi tôi nhấm nháp nó thì tôi nhìn về phía đối diện của Munuresville. London.

Cơn mưa và mây làm cho tầm nhìn không rõ. Thành phố hoành tráng nhất thế giới trông tệ hại. Những cao ốc của nó trải ra giống như một cái bàn dài sau một bữa tiệc lớn, thứ tiệc mà chúng tôi đã từng tổ chức ở Gloucester Crescent khi một trong những album nhạc của ba được phát hành và má phải hỏi ba để biết chắc việc mang đi những bản lậu được cất trong phòng thu của ba ở tầng trệt, trong trường hợp cảnh sát đến soát. Họ chưa bao giờ tới, và tôi chưa có dịp vào phòng thu của ba trong những đêm đó, nhưng tôi thường lẩn quẩn dưới nhà; tôi đã thấy những cái bàn tiệc đó như thế nào. Và London trông giống như một bàn tiệc đầy rác, vương vãi đầy đĩa nhựa và đùi gà gặm dở và lon bia dẹp lép. Thật là yên lặng. Cả hàng triệu người dưới kia, nào là xe taxi, xe tải, xe gắn máy của người đưa thư và tàu lửa. Và thật yên lặng vào lúc nửa đêm, ba tiếng đồng hồ sau khi người cuối cùng rời bữa tiệc.

Có lần, khi ba đang thả diều ở trên đây khi ông còn đi học, ba gặp ca sĩ Fergal Shearkey của ban nhạc rock Understrone’s và đã trò chuyện với ông ta. Mười năm sau, ba gặp Fegal ở một phòng thu và nhắc ông rằng họ đã từng gặp nhau ở đỉnh đồi Parly nhưng Fergal không nhớ gì.

Ba má và tôi lên đây vào năm 1999 để ngắm nhật thực. Có cả hàng trăm người và hàng trăm đứa nhóc, ai cũng mang kính bảo vệ đặc biệt được một tờ báo phát miễn phí, tôi cũng vậy. Lúc đó trước giờ học, tám giờ sáng. Chúng tôi chờ mãi nhưng bầu trời có vẻ như chỉ tối lại một chút xíu, và tôi hết sức thất vọng. Nhưng ba nói: “Nhìn mấy con chim én kìa.” Mấy con chim nhanh như cắt, có đuôi hình nĩa, đang bay lượn và sà xuống khắp đỉnh và rìa của ngọn đồi. “Chúng đang bắt côn trùng. Lũ côn trùng bắt đầu bay ra bởi vì trời trở nên tối lại nên chúng tưởng là chiều xuống rồi. Và lũ én cũng nghĩ là chiều xuống rồi vì lũ côn trùng bay ra. Tuyệt quá phải không nào?”

Rồi ba giảng cho tôi một bài, chỉ một chuyện duy nhất ba đã giảng cho tôi, bởi vì nhìn chung thì ông không phải là kiểu ông bố hay lên lớp con cái. Bài giảng về chuyện sự vật không cứ phải thật ngoạn mục thì mới là kỳ thú. “Nhạc rock ở sân vận động thì thật là ngoạn mục nhưng không kỳ thú. Một con chim én nghĩ rằng trời đã về chiều vào lúc tám giờ sáng là điều kỳ thú nhưng không ngoạn mục. Hiểu không cưng?”

Trong ngày rải tro đó, chú Jack đã gặp trục trặc với cái hũ tro. Má và chú và tôi ngồi trên cái băng ghế Martha A.Tomlin và những người còn lại đứng vòng quanh, giả bộ đang nhìn về phía London. Tóc của họ bị gió thổi bay ngược lại. Mấy người bạn cũ ở trường Gospel Oak của ba quay đi để châm thuốc lá, rồi lại quay ra nhìn về phía thành phố yên tĩnh. Họ làm như đang ngắm hàng triệu người vô hình dưới kia bởi vì họ đã không muốn phải thấy việc chú Jack đang làm. Chú ấy đang sắp xếp cái hũ tro, hay đang cố gắng làm thế.

Chú lấy nó ra từ cái túi Oddbin và đặt nó trên băng ghế giữa tôi và chú, rồi chú lại đổi ý và đưa nó qua phía bên kia, giữa chú và má, giữa cái ba-lô của chú và cái túi xách tay của má. Má liếc nhìn nó nhưng làm bộ như đang quan tâm đến nhà thờ Chánh Tòa St Paul hơn. Chú Jack thì thầm: “Sẵn sàng chưa?” và má gật nhẹ đầu. Cái hũ tro làm bằng nhựa giả đồng nhưng nó lại chỉ giống như bằng nhựa hơn. Nó giống như một cái lọ cà-phê lớn, có nắp vặn. Cái nắp mới sinh chuyện. Chú Jack không vặn nó ra được. Tôi nhìn qua người má để quan sát chú. Đầu tiên chú thử vặn nhanh và bình thường. Rồi khi không được, chú nghiêng nó qua gần như nằm ngang để nắm cho chặt hơn và kết cục là kéo bật ra, chú vặn mạnh quá. Bạn có thể tưởng tượng cái nắp chợt bung ra và cái được đựng bên trong - là ba - rơi vãi khắp nơi. Nhưng cái nắp vẫn không nhúc nhích chút nào. Thật là buồn cười. Tôi cứ nghĩ rằng có ai đó để tôi nôn nóng kể chuyện này cho nghe, khi mọi chuyện kết thúc. Rồi tôi chợt nhận ra rằng “ai đó” mà tôi nghĩ tới, người mà tôi muốn kể chuyện này hơn ai hết, là người đang ở trong hũ tro.

Cuối cùng chú Jack gọi lớn: “Đây nè, anh Steve,” và má từ băng ghế đứng lên, đi xuống đồi một đoạn ngắn trong lúc Gospel Oak Steve tiến tới và xoay xở mở cái nắp hũ tro giúp chú Jack. Tôi nghĩ rằng có thể má nhìn tôi, có thể lo ngại về những gì tôi cảm nhận vào khoảnh khắc này, với ba tôi mắc kẹt trong cái lọ cà phê, nhưng má nhìn xuống chân mình suốt lúc đó như thể bà đang chiêm ngưỡng kiểu mũi giày nhọn của bà. Chú Jack tới với má và họ đứng cạnh nhau ở phía dưới đồi khoảng mười mét trong vài giây, nhìn về phía tòa nhà Quốc Hội, nhìn vào cái cột ăng-ten truyền thông trên đồi ở phía chân trời xa trông giống như một cái hình trong gương của đồi Parly nhưng thật ra là Cung Điện Pha Lê bởi vì ba nói với tôi thế.

Rồi má quay lại mỉm cười với tôi, tôi bước tới với bà, bà vòng tay ôm lấy tôi, và những nguời còn lại cũng đi tới, chúng tôi đứng thành nửa vòng tròn, rồi má nói: “Tôi định nói vài lời nhưng tôi chắc rằng tất cả các bạn đều có những ý nghĩ riêng về Gerry vào thời điểm này, nên tôi nghĩ chúng ta chỉ nên đứng yên lặng mặc niệm vài giây và rồi Jack sẽ trả cho Gerry sự tự do của anh ấy. Sự...” Rồi má khóc nấc lên, nhưng rồi bà lại kềm lại rất nhanh: “Sự tự do của gió và bầu trời và vùng Bắc London mà anh ấy yêu thích. Trời đất, cuối cùng thì tôi cũng nói được vài lời.” Và bà sụt sịt và cười lớn rồi ôm chặt lấy tôi, và tôi ôm xiết lại bà, và mọi người cười một chút và sau đó tất cả chúng tôi đã đứng im lặng, tôi không nhìn London, với cả triệu tòa nhà và con người, tôi đang nhìn đường mòn để chạy bộ màu đỏ thẫm ở chân đồi, tôi đang nhìn một người chạy trên đó, lặng lẽ, không để lại dấu vết nào trên nền đỏ. Rồi má nói nhỏ: “Được rồi, chú Jack à,” và chú Jack mở nắp cái hũ nhưng không lấy hẳn nắp ra.

Thay vì vậy, chú nói: “Ừm... tôi không nghĩ – ý tôi là, tôi nghĩ chúng ta nên quay đi bởi vì – Gió, cơn gió sẽ...” Và chú không cần nói gì thêm. Chúng tôi quay đi, chúng tôi xoay lưng về phía London, chú Jack mở cái nắp hũ tro và ba bay nhẹ lên như một chiếc khăn quàng cổ bằng bụi đột nhiên hiện ra, một dải Ngân Hà bằng tro xám bay biến đi mãi mãi ngang đồi Parly, những gì còn lại là một ít tro vương trên túi xách tay của má và ba-lô của chú Jack trên băng ghế, chú Jack kín đáo phủi chúng đi khi hất cái ba-lô lên vai. Má không phủi bụi tro trên túi xách của bà. Nhưng về sau, cái xách tay đó bị nhét xuống đáy tủ, tôi nhận ra điều đó.

Hôm nay không có ai trên con đường chạy bộ. Tôi nghiêng đầu ra ngoài mưa. Tôi thấy những giọt nước mưa đang rơi có vẻ như chậm rãi, dõi theo chúng rơi xuống cho tới khi mắt tôi mờ đi và mưa rơi nhồn nhột trên mặt tôi. Nếu ba ở trên đó, những giọt mưa hẳn phải có màu xám với dải Ngân Hà của ba. Nhưng những giọt mưa nhìn trong suốt. Tôi vuốt cho chúng rơi ra khỏi trán, khỏi tai, và nhìn những ngón tay mình. Những ngón tay thật tươi tắn và hồng hào, không chút dấu vết của tro.

Không có ai ở gần đây. Tôi có thể nói thật to, như tôi vẫn thường nói trong không gian được cách âm ở trong đầu khi có người khác quanh mình. Ý tôi muốn nói là nói chuyện với ba. Tôi nhớ lại một đoạn trò chuyện ngắn của chúng tôi khi ở trên chuyến tàu đi đến Waterloo. Tôi nói lớn: “Đúng rồi, như ba đã nói, con kẹt ghê gớm trong những chuyện nhảm nhí. Con sẽ không bàn về điều đó ở đây vì chắc là ba sẽ không thích nghe mọi chi tiết đó đâu, nhưng vấn đề là, con phải làm thế nào để thoát ra khỏi chúng đây?”.

Và tôi chờ ba trả lời như mọi khi. Dù là tôi đang ở đâu – trên giường, ở trường, dưới một cái giếng - ba cũng sẽ trả lời cho tôi. Tôi sẽ bắt ba trả lời.

Chờ ông trả lời, tôi lắng nghe tiếng gió và mưa và ngắm nhìn con đường chạy bộ màu đỏ không một bóng người.

Khi ba sắp chết ông đã không nói rằng ông sắp chết với tôi hay với má, và má không nói rằng ông sắp chết với tôi hay với ba, và tôi không nói ông sắp chết với má hay với ba hay với chính mình. Chúng tôi chỉ nói ông đang trải qua một giai đoạn khó khăn. Lúc đó là tháng Hai, trời rất lạnh. Má nấu cho ba thịt hầm đậu với củ hành, tỏi tây và một ít xúc xích, và đặt mua một số sách giới thiệu du lịch rồi ngồi ở cạnh giường ba, họ đã chọn cái biệt thự chúng tôi sẽ ở ở Sicily khi ông khỏe hơn. Hồi đó giường của ba để trong phòng làm việc của ông ở dưới nhà vì dễ dàng cho má trông chừng ba hơn khi bà loay hoay trong bếp, và phòng làm việc của ba có phòng vệ sinh riêng. Căn phòng đó còn có những đĩa nhạc yêu thích của ba đặt quanh các bức tường và một dàn máy hát rất xịn nhưng ông không bao giờ mở nghe một bản nhạc nào khi ông nằm bịnh trên giường.

Lúc đó ông không còn hứng thú về âm nhạc, ông không còn hứng thú về bất cứ điều gì – cả sách vở, hay tivi, hay cả thời tiết bên ngoài ra sao cũng mặc. Chỉ trừ có một lần.

Lần đó, tôi vào thăm thì ông đang đọc một cuốn thơ mà má đã mua tặng ông vài năm trước mà ông chưa có thì giờ ngó tới. Đó là tác phẩm của một thi sĩ đã từng ở gần vùng Primrose Hill và vợ ông ta đã tự tử chết ở đó. Ba ngước nhìn lên khỏi trang sách khi tôi bước vào và nói: “Nè, nhóc cưng.” Rồi ba gọi má. “Clare ơi, nghe cái này nghen.” Má với một cái khăn lau bếp trên tay, đứng dựa vào khung cửa. Ba đọc bài thơ về một người bạn của tác giả tên là Lucas, một người không bao giờ thay đổi trong suốt bốn mươi năm và giống như một viên đá nằm ở đáy sông. Rồi ông ngước nhìn lên trên cuốn sách và nói: “Đoán xem Lucas là ai nào?”

Má lắc đầu. “Em không...”

“Là Steve đó!”

Ý ông là Gospel Oak Steve. Trước khi ngã bịnh, ông đã không liên lạc với Steve trong nhiều năm bởi vì Steve là một thầy giáo và kiếm tiền ít hơn ba rất nhiều và ba nói vụ tiền bạc đã tạo ra một chút rầy rà khó xử. Nhưng ngay khi ba mới nhuốm bịnh thì ông tới thăm viếng rất thường. Má cho rằng ông là một người tốt trên đời.

Má nói: “Ồ, em hiểu rồi.”

“Em không thích ví von như vậy sao? Như một viên đá nằm ở đáy một con sông.”

“Em tưởng là anh không thích thơ thẩn?”

Trong một tích tắc, với việc họ đùa với nhau, thì mọi chuyện vẫn y như chưa từng thay đổi.

Má pha trà đãi khi khách đến thăm ông và giúp trả lời khi ông mệt. Má nói nhiều, nhiều hơn lệ thường. Cứ như là những lời của bà đang giữ cho cái mái nhà của trần gian được chống đỡ vững vàng, và nếu bà ngừng lời, nó sẽ đổ sụp xuống.

Nhưng rồi một ngày nọ những lời đó đã thật sự ngừng lại, và mái nhà thế giới chịu thua, và tôi biết điều đó. Tôi đang ở trong bếp, ăn bánh mì nướng kẹp phômai. Má đang trong phòng với ba và Steve. Tôi nghe họ đang cười. Bỗng nhiên yên lặng. Rồi má bước vào bếp thật nhanh. Má đẩy cánh cửa khép lại sau lưng bà, rồi bật khóc òa. Bà vào bếp vừa đúng lúc, như khi bạn gần như không kịp chạy vào phòng vệ sinh vậy.

Bà nói với tôi: “Má xin lỗi,” và lắc mạnh đầu, lắc đi những giọt lệ lăn ra khỏi mắt. Rồi bà đứng ở góc nhà, đối diện cái kệ nhỏ đặt những lọ gia vị mà có lần tôi giúp bà đổ đầy và dán nhãn lên, một triệu năm trước khi má còn là một bà mẹ hiền, chứ không phải mụ đàn bà đĩ thỏa có một thằng con bí mật, và tôi là một đứa con ngoan chứ không phải là một thằng quỷ quái ranh ma và hung tợn. Má yên lặng nhưng tôi biết bà đang khóc. Tôi định đứng lên bước đến bà. Nhưng trông bà rất cứng rắn. Tôi tưởng tượng mình bước đến vòng tay ôm quanh bà giống như đang ôm một cái cột gôn. Má không cần tôi, không cần tôi trong lúc đó. Má cần ba.

Má muốn ông tới từ phía sau bà, râu không cạo, mang đôi giày da báo với ly rượu đầu ngày trong hơi thở. Nên tôi không tới bên bà, tôi làm điều duy nhất mà tôi có thể nghĩ ra để cho má cảm thấy dễ chịu hơn. Tôi nghiền thật lớn tiếng những mảnh phô-mai vụn để rắc lên bánh mì nướng. Và tôi nghĩ về điều tôi biết, điều mà bây giờ tôi biết rằng tôi đã biết nó từ lâu. Ba đang chết từ từ.

Sau khi chúng tôi rải tro của ba lên trời và theo gió ở đồi Parliament, má nói hãy nghĩ tới ba như ông ở khắp quanh đây.

Tôi hỏi: “Ba sẽ luôn luôn ở khắp quanh đây không?”

“Nếu con muốn ba như vậy, thì đúng vậy. Nhưng sau một thời gian – bây giờ con có thể không nghĩ như vậy - nhưng sau một thời gian, con không muốn ông quanh quẩn nhiều quá. Thì ông sẽ không còn thế nữa. Đời sống là vậy đó. Thời gian giúp chúng ta.”

“Thời gian làm mất ông đi, má muốn nói vậy.”

Và bây giờ tôi nghĩ lại, từ lúc gặp ba trên chuyến tàu tới Waterloo đến khi tới đồi Parliament - trong vài phút ngồi lắc lư bên dưới London trên chuyến tàu tuyến Bắc gần lúc khởi đầu thế kỷ hai mươi mốt – rốt cuộc thời gian đã làm xong điều nó luôn luôn làm. Và ba đã chết.

Từ đồi Parly tôi đi bộ xuống tàu điện Kentish Town. Tôi mua một cái bánh mì thịt nướng kebab trên đường và ăn trên chuyến tàu điện tới Camden. Ở Camden tôi lên thang cuốn, bước vào trong đủ loại mùi của củ hành và nước mắm và rau cỏ và bọn du thử du thực và cái kebab trong tay.

Tôi đi ra lối đi bên trái và rẽ trái. Xuống dưới hai cửa là cửa hiệu Doc Marten. Tôi tìm đôi giày giống như của ba trên cửa sổ nhưng không thấy đôi nào. Tôi bước vào. Cũng cô gái đã bán cho ba đôi giày ở đó. Tôi nhận ra cô bởi vì cô có một cái hình xăm đóa hoa trên cổ. Cô hỏi: “Em tìm món gì đặc biệt à?” nhưng cô ta lại phát âm là “đặt biệc”.

Tôi đáp “Không,” và nhìn loanh quanh. Ban đầu tôi không thấy chúng. Rồi tôi thấy chúng. Chúng đang nằm trên sàn nhà phía sau. Chiếc bên trái trong hộp và chiếc bên phải được bày trên nắp hộp. Tôi nhặt nó lên. Đế giày sạch như mông đít một đứa bé. Lớp “da báo” thật đẹp và rậm mềm, chiếc giày nặng vừa phải, nặng chừng một trái dưa nhỏ. Cô gái trông chừng tôi. Cô nói: “Đúng hiệu George Cox đó.”

“Tôi biết,” tôi suýt hỏi cô có nhớ là tôi đã vào đây với ba khi ông mua đôi của ông hay không. Rồi tôi có thể cho cô ta biết là ba tôi đã mất. Nhưng tôi chắc là cô ta không thể nhớ ra đâu.

Khi ba mang thử đôi giày, cô đã nói: “Đôi giày này chính nà hàng hiệu đấy.”

Ba đã nói: “Đúng vậy, phải không nào?”

Và cô đã nói: “Đúng hiệu George Cox.”

Khi chúng tôi ra khỏi tiệm, tôi cầm cái hộp đựng đôi giày của ba trong một cái túi, tôi hỏi ba: “Cô đó nói giọng gì vậy ba?”

Ba đáp: “Giọng Geordie.”

Thế giới đã không ngừng xoay trong khi tôi đi xa. Tất cả những gương mặt này tiến về phía tôi khi tôi đang đi dọc theo đường High về phía vùng Lock. Những người tôi nhận ra đều nhận ra tôi. Họ chỉ không biết một điều đã xảy ra từ lần cuối họ gặp tôi, đó là họ không gặp con người cũ mà họ đã từng biết.

Một cái cánh đã rơi ra khỏi cái chiếc máy bay màu bạc sắp sửa đâm xuống vỉa hè. Nó đã tan tành trước khi nó đâm xuống.

Rồi tôi thấy Sue Blass. Tôi không thể tin được. Và không chỉ có mình Sue thôi. Cô đi với anh của Barry Lunc - và chính thằng Quái thú. Họ đang đi lên từ đường Inverness, tiến tới đường High thẳng góc tới tôi. Anh của Barry vòng tay ôm Sue, còn Barry thì theo sau cách vài bước. Cô có cái khoen đeo ở rốn và mặc chiếc áo thun có hình Che Guevara [26] . Ba cũng có một cái phù hiệu hình Che Guevare. Má cũng đã trầm trồ về cái phù hiệu đó. Tôi đứng yên đó khi họ bước tới tôi. Tôi định cười một cái, nụ cười mà tôi hy vọng sẽ nói lên rằng tôi đang vui vẻ và bảnh lắm. Nhưng tôi không cần phải lo vì những đôi mắt của họ nhìn thẳng xuyên qua tôi, họ bay xuyên qua tôi như thể họ là cơn gió và tôi là làn khói.

Bạn sẽ không thể tin điều tôi làm ngay sau đó. Tôi tới đứng trước cửa sổ một cửa tiệm để kiểm tra xem tôi có còn bằng xương bằng thịt hay không, và tôi có còn trông giống tôi không, không giống một thằng nhà quê một ngày rời Manuresville tới Camden để mua một gói cần sa mà thật ra là một nhúm cỏ khô với giá khoảng ba mươi bảng.

Trời đã ngừng mưa nhưng bắt đầu trở lạnh một chút và khi đi lên đường Inverness thì tôi lấy chiếc áo ấm trong ba-lô ra mặc vào. Tôi đi băng qua tiệm bán băng đĩa nhạc Out On the Floor Records, chắc Barry, anh của Barry và Sue Blass đã vào đó, có vài tay cò con đang bán cần sa, rồi rẽ trái vào khu Gloucester Crescent.

Có một giàn giáo ở trước nhà chúng tôi, và một cái cần trục trong vườn trước. Tôi thấy mình nổi giận. Căn nhà của chúng tôi có tệ hại lắm đâu mà ai đó phải sửa chữa nó nhiều đến vậy? Tôi đứng bên đường nhìn lên các cửa sổ của căn nhà, tìm dấu hiệu của sự sống. Một đứa con gái mặc áo da có mũ trùm đầu đi ngang qua. Tôi không để ý tới nó. Rồi nó rẽ vào lối đi vào nhà và bước lên những bậc thang dẫn tới cửa trước ngôi nhà của chúng tôi. Nó nhấn chuông nhà của chúng tôi. Trong lúc chờ đợi con nhỏ quay lại và ngó tôi chằm chằm. Sau một vài giây, cửa chính ngôi nhà của chúng tôi mở ra. Tôi thấy một người đàn bà mặc áo ngủ quấn cái khăn tắm trên đầu. Người đàn bà ôm đứa con gái, rồi con nhỏ nói gì đó và bà ta nhìn tôi qua vai nó. Cửa trước ngôi nhà của chúng tôi đóng lại.

Tôi vẫn cứ đứng đó. Khuôn mặt người đàn bà hiện ra ở cửa sổ tầng trệt. Bà ta đã tháo cái khăn tắm ra khỏi đầu. Khuôn mặt bà ta biến mất. Chắc bà ta đang gọi cảnh sát. Nhưng đâu có luật lệ nào nói là bạn không thể đứng bên đường nhìn vào ngôi nhà của chính mình.

Nhưng mặt khác, có thể cảnh sát sẽ nhận ra tôi giống với sự mô tả mà họ phải có về thằng nhóc đã đục thằng Khạc Đờm te tua và họ có thể bắt tôi vì điều đó.

Tôi đi xuống cạnh con kênh, ngồi lên băng ghế và ăn một thanh lương khô ngũ cốc nữa và một gói phô-mai và củ hành chiên giòn. Tôi phải kiểm tra cho chắc rằng đó không phải là cái băng ghế mà tôi đã ngồi khi tôi nện thằng Khạc Đờm. Rồi tôi nhớ ra rằng không có khả năng thằng Khạc Đờm chết bởi vì Barry đã gặp lại hắn kể từ vụ đó, và điều đó khiến tôi vui lên một chút bởi vì có nghĩa là tôi có thể trở thành một thằng nhà quê có gen của cha nội Cá Chua lưu truyền trong cơ thể, đeo những cái cà vạt nhỏ, và cái người mà tôi yêu thương như cha mình cuối cùng có thể đã tiêu tùng trong tôi, và có thể tôi có một thằng anh em con hoang, và có thể má tôi là kẻ phản bội vĩ đại nhất thế giới, nhưng ít ra tôi không là một thằng giết người, hay một kẻ ngộ sát.

Người ta đang trở về nhà. Tôi biết điều đó nhờ cái cách họ bước, với một chủ đích trong bước đi. Chắc họ sẽ xem tivi và ăn một miếng pizza. Có lẽ họ sẽ mặc thử một món quần áo gì đó như là một cái áo khoác mà họ đã mua ở khu Lock hồi cuối tuần và đang chờ có dịp để diện vào. Kẻ duy nhất không trở về nhà là bọn vô gia cư và tôi.

Những kẻ vô gia cư nhìn lảng đi nếu bạn nhìn chằm chằm vào mắt họ. Một đứa con nít năm tuổi có thể thắng một kẻ vô gia cư trong trò chơi xem ai chớp mắt trước.

Ở chỗ con kênh rẽ gấp, tôi bước lên những bậc thang lên con đường, băng qua con kênh trên cái cầu dành cho người đi bộ, băng qua vòng đai của công viên Regent’s, và đi xuống về phía dẫn tới chuồng sói. Tôi thấy phấn khích. Tôi lại nhớ những điều ba đã nói về biển và đồi, cái cách chúng hấp dẫn ta về phía chúng. Ngọn lửa trong hộp sọ lũ sói đang hấp dẫn tôi.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của nigel richardson