Thang Dây

Lượt đọc: 510 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 17

Đôi tay biến mất, và không được mọi người nhìn thấy hay nghe thấy – tôi thấy mình như một con ma trong cơn ác mộng. Vừa đi, vừa chạy trở lại theo đường Bickleigh – vô định, không nơi đến – tôi cố suy nghĩ để hiểu cho ra chuyện. Nhưng mỗi ý nghĩ như một con tàu điện kêu loảng xoảng tiến tới cuối đường, và tôi kẹt cứng trong khi nó tăng tốc tiến tới High Barnet hay Morden hay Ealing Broadway. Lúc đầu tôi tránh sự va chạm bằng cách nhảy từ tàu này qua tàu khác, nhưng có quá nhiều ý tưởng, quá nhiều con tàu, quá nhiều tiếng động. Tất cả thắng lại cùng lúc và bùng cháy trong ngọn lửa kinh hoàng: Tôi không còn tồn tại nữa.

Tại sao không? Bởi vì tôi đã chết.

Như ba.

Mungo đã giết tôi và chiếm lấy cuộc đời tôi.

Cú bịp sau cùng.

Tôi còn nghĩ là tôi có thể gặp lại ba đang tới từ hướng khác, đôi giày da báo hồi phục lại toàn vẹn hào quang. Rồi tôi sẽ rảo bước bên ông và ba sẽ nói: “Ba ghét cỏ, ba ghét cây cối...”

Và tôi tiếp lời: “Cho tôi tiệm xăm mình và các dãy cao ốc bất cứ ngày nào!”

Và ông nhìn nghiêng qua tôi, theo cái cách mà ông đã nhìn ở Health khi chúng tôi đang tìm cái cây Phẳng (điều này vô tình, ba à, chứng tỏ rằng ba cũng thích cây cối lắm). Chúng tôi đi lên sườn đồi và dưới kia sẽ là công viên Whipsnade Wildlife. Tôi sẽ chỉ về phía mấy cái bản hướng dẫn và nói “Chuồng Sói” và ba chắc sẽ vò tóc tôi và nói: “Vẫn như cũ, vẫn y chang như cũ. Không tệ lắm, cái trạng thái kỳ dị của sự chết này, phải vậy không nào?”

Nhưng tôi không gặp ba, chỉ có con đường vắng dưới mưa, đầy những vết hư hại do cơn bão. Và tôi nghĩ: Điều này giống như là chết vậy. Ai cũng thắc mắc nó ra sao và bây giờ thì mình đã biết. Bước đi trên con đường vắng hoe trong cơn mưa, mãi mãi. Đơn giản quá chừng.

Trái tim tôi nhảy tưng trong lồng ngực. Tôi nghĩ là ba đang gọi tôi: “Mungoooo!” Tôi quay lại nhìn. Phía xa cuối đường, một bóng người vẫy tay. Nhưng đó là Mungo. Tôi không còn lại chút tinh thần đấu tranh của sói. Tôi đứng như con cừu đang chờ bàn tay sát thủ tóm lấy. Hắn chạy qua cơn mưa, vượt qua rác rưởi trên đường với đôi chân hươu cao cổ của mình, và khi đuổi kịp được tôi thì hắn hết cả hơi. “Mày ổn không? Tao có thể giải thích cho mày hiểu. Tụi mình có thể - hắn thở khò khè - gỡ mày ra khỏi vụ này, tao hứa mà. Đồng ý không?”

“Mày giết tao rồi.” Tôi nói. Tôi cảm thấy khá bình tĩnh khi nói điều đó nhưng rồi không kềm được nữa tôi oà khóc nức nở.

Mungo đưa tay ra nhưng tôi lùi lại. “Có phải đó là điều mà mày đang nghĩ không?” hắn hỏi, “Nó không tệ như vậy đâu. Mày chưa bao giờ đọc cuốn sách, phải không?” Và đó là lúc hắn nói về cơn mưa và việc áp suất không khí giảm đột ngột. “Đôi khi, trong các điều kiện khí hậu khắc nghiệt như hè này, thì nó xảy ra – hắn húng hắng ho – nhanh đến nỗi để lại một kẽ hở mà mình có thể len qua, vào trong một thế giới song song. Tất nhiên, với điều kiện mình có cái mà Mungo Groves gọi là “ra-đa”, cái mà – hắn thở khò khè – cả hai đứa mình phải có, bởi vì nó là một cái gen trội trong gia đình – như cái dái tai bị dính liền của tụi mình. Nhưng bây giờ có vẻ như mày bị mắc kẹt trong...”

Tôi lắc đầu, không hiểu được cái mốc xì gì hết về những gì hắn đang huyên thuyên.

“OK, Ok,” Mungo nói. “Tao nói nhanh quá đúng không, tao xin lỗi. Điều tốt nhất để làm là mày về nhà với tao và mình sẽ...”

“Không đời nào,” tôi nói, và lùi lại một bước.

“Mày phải về,” Mungo nói, “Mày phải thấy cuốn sách. Rồi mày sẽ tin tao. Rồi mình phải tính làm cái gì đó trước khi quá muộn.”

“Mày hứa là tao vẫn chưa chết?” Tôi hỏi.

“Tao hứa.”

Lẽ ra tôi ôm chầm lấy hắn, mặc dù tôi biết hắn là một thằng dóc tổ.

Ngôi Nhà Trái Thơm đã bị nhấc lên và trượt đi, như chiếc tàu chìm. Ở một đầu, những bức tường có lỗ châu mai giờ đã tuột xuống thấy rõ. Đứng giữa các trụ cổng, Mungo dừng lại ngó. “Căn nhà được xây năm một ngàn tám trăm tám mươi tám.” hắn nói, “Tao tưởng nó có thể đứng vững cả ngàn năm nhưng, chắc khoảng ba giờ sáng, thì nó bị hút ngay vào trong lòng cơn lốc xoáy. Giống như nằm trong rốn của cơn lốc, với tất cả năng lượng xấu bị hút xuống trên đầu chúng ta. Thật là kinh hoàng, tao biết vậy mà. Mọi thứ bay tứ tung, như cả họ hàng yêu quái vừa mới dọn vào. Hồi sáng nhà mình chạy toé khói mới ra ngoài kịp đó.” “Nhà mình à?” tôi hỏi lại.

Để trả lời, hắn vỗ vào lưng tôi và nói: “Thôi đi nào.”

“Chuyện gì đã xảy ra với căn nhà gỗ vậy?” tôi hỏi.

“Nó chưa từng được xây lên,” Mungo đáp. Tôi ngó hắn. “Đừng lo, tao sẽ giải thích cho.”

Ở cửa chính, Mungo lột tờ giấy thông cáo xuống:

Cảnh sát thông báo

Công Trình Nguy hiểm

CẤM VÀO!

Và chuồi cái chìa khóa vào ổ khóa. Hắn xoay chìa và mở hé cửa, rồi ngừng lại lắng nghe. Tiếng gỗ nứt vỡ. Tiếng loảng xoảng của kiếng vỡ. Mungo nhún vai và đẩy rộng hết cửa.

Ngôi Nhà Trái Thơm giống như một cái bóng đèn sắp sửa bay vèo vào quên lãng. Một chuyển động khẽ khàng nhất hoặc tiếng ai đó cất lên cũng có thể làm nó rã ra ngay. Dưới nhà, cái trần phòng đã rơi xuống ở một góc và treo lủng lẳng bằng vài sợi dây điện và mấy mảnh vụn của rầm nhà. Cái chụp đèn xoay xoay trong cơn gió nhẹ thổi xuống từ cái mái ngói vỡ nát qua hai tầng lầu. Cái cầu thang đối diện với chúng tôi đã gãy làm hai và có một khoảng trống độ hai mét giữa các nấc thang thứ bảy và thứ tám. Từ khung cửa ra vào, Mungo chỉ vào cái cầu thang thì thào: “Mình cần lên trên đó. Đi nhè nhẹ thôi nghen?” Tôi gật đầu.

Chúng tôi nhón bước qua một hàng giày ủng và một thoáng ác mộng loé lên với tôi – một giọt máu lóng lánh trên miếng cao su màu xanh. Cái sàn nhà bằng gỗ sệt quánh bụi và nước mưa. Mungo đi trước, suýt trượt té, và đôi giày thể thao kêu rít lên trên sàn nhà trơn khi hắn cố lấy lại thăng bằng. Tôi đưa tay ra cho hắn vịn – và cảm nhận vải áo thun của hắn ở đầu ngón tay thì tôi nhận ra rằng mình vẫn hiện hữu chắc mẫm bằng xương bằng thịt. Tôi vẫn tồn tại! “Nè.” tôi thì thầm.

Mungo ngừng lại quay đầu nhìn tôi. “Gì đó?”

“Không có gì.” Tôi không diễn tả được cảm giác của mình, nhưng tôi chợt cảm thấy xúc động nghẹn ngào và biết ơn Mungo.

Chúng tôi cũng tới được cầu thang. Cái thang rung lắc khi Mungo đặt chân lên bậc đầu tiên. Hắn bước thử thêm chân kia và nhún nhún trên bậc thang, thử xem có chắc không. “Tốt nhất là lên từng thằng một,” hắn nói. Tôi nhìn hắn leo lên. Cái cầu thang tiếp tục đung đưa và kêu cọt kẹt, nhưng coi bộ còn ngon. Khi tới khoảng trống giữa bậc thứ bảy và thứ tám, Mungo ngập ngừng sau đó duỗi chân phải ngang qua khoảng trống. Trong khoảnh khắc trông như hắn bị kẹt trong tư thế xoạc hai chân ra nhưng hắn đẩy được thân mình tới trước và kéo được chân còn lại lên.

Mungo lên tới đầu cầu thang và nằm xuống nên đầu và vai hắn vắt qua bậc thang trên cùng. Rồi hắn búng ngón tay, khuyến khích tôi leo lên. Từ bậc đầu cho tới bậc thứ bảy thì dễ. Tôi cảm thấy cái cầu thang lắc lư nhè nhẹ dưới chân nhưng thấy cũng còn khá vững. Khi tới khoảng trống thì tôi nhảy, chân phải đụng bậc thứ tám, bấu được hai ngón tay vào thành cầu thang rồi kéo chân trái lên. Rồi trọng lượng của cả hai chân tôi đè lên làm bậc thang gãy ra, rơi xuống vỡ tan tành bên dưới, để tôi treo lửng lơ bằng hai ngón tay trên thành cầu thang.

Hai chân tôi vung vẫy giữa khoảng không. Áp lực trên mấy ngón tay tăng nhanh với vận tốc của âm thanh và tôi biết tôi sẽ phải buông tay và rơi xuống qua đống gỗ vụn. Thế là Mungo, biến mình thành chuyên gia lướt sóng bằng bụng của Đội Hiệp Sĩ Cứu Khốn Phò Nguy, trượt xuống cầu thang bằng phần ngực của hắn. Lúc mấy ngón tay tôi rời khỏi chỗ bám trên thành cầu thang thì hắn chụp được cánh tay còn lại của tôi ngay dưới khuỷu tay và lôi tôi lên mấy bậc thang an toàn. Tôi trườn tiếp lên đến đầu cầu thang và nằm lăn ra trên cái thảm màu đỏ, nhìn lên khoảng trần nhà bị vỡ trông như mấy cái xương sườn bị lòi khỏi da.

“Có sao không?” Mungo hỏi.

“Suýt chút là tiêu tùng. Ê nè, rồi làm sao mình trở xuống đây?”

“Còn nhiều thời gian để lo chuyện đó. Mình phải vô phòng má đã. Ở đằng kia kìa.” Hắn chỉ về một trong những cánh cửa đóng. “Má và ba ở hai phòng riêng.”

Mungo mở cửa chầm chậm và nghía vào trong. “Trong này ổn. Trần nhà không hề có một vết nứt.” Tôi theo hắn vào phòng.

Mùi hương của má, của những ngăn kéo trượt ra rất êm đầy lụa được xếp ngăn nắp. Trên bàn phấn có mấy bức hình để trong khung bạc. Hình má lúc còn nhỏ, thắt bím. má với năm cô bé gái khác, ôm một bộ đồ giả trang hình con rết có hai mắt thật to và mấy cái chân giả lủng lẳng. Má mặc áo cưới đứng bên ngoài một nhà thờ, đứng cạnh bên...

“Tao hết chịu nổi vụ này rồi,” tôi nói.

... Đứng cạnh bên cha Cá Chua. Làm đám cưới với cha Cá Chua.

“Nếu tao không chết thì tao hẳn là một thằng tâm thần,” tôi nói. “Chuyện gì đang xảy ra vậy nè trời?”

“Hổng chết cũng hổng tâm thần gì ráo,” Mungo lầm bầm. “Chút nữa thôi”. Hắn mở cửa tủ áo và quì xuống để lục lọi bên trong. “Má không hề biết tao vào trong này,” hắn nói. “Đó là nơi tao tìm thấy cái bật lửa để đốt thuốc. Thường thường tao lấy nó ra vài ngày chơi nhưng tao luôn luôn trả lại chỗ cũ để má đừng biết là nó bị mất. Đây nè.” Hắn ngoái tay lại đưa một vật. Tôi cầm lấy: Cái bật lửa cũ có chữ M. G. khắc trên đó theo chữ viết uốn éo kiểu cổ. “Thường thường nó nằm chung với cuốn sách,” Mungo nói. Giờ thì hắn đang lôi từ phía sau cái tủ áo một món gì khá to, giật mạnh nó qua đống quần áo cũ và mấy đôi săng-đan.

Hắn vỗ lên nó và một đám bụi bay lên trong cái không khí thơm dịu. Rồi hắn xoay lại và mang nó tới giường, đặt xuống thật cẩn thận. Nó là cuốn sách khá lớn, dày, trông có vẻ nặng, trong lớp vải bọc rách đã từng là màu xanh nhưng đã phai ngả sang màu xám. Tôi ngó Mungo.

“Nào, xin mời.” hắn nói.

Tôi bỏ cái bật lửa vào túi mình và giở sách. Những trang sách dày và vàng vọt, góc trang nhàu nhò. Trong lúc tôi lật trang, cuốn sách kêu lên cọt kẹt như gỗ giòn căng của Ngôi Nhà Trái Thơm rệu rã. Trang đầu tiên để trống. Trên trang thứ hai có dòng chữ:

Vũ Trụ Kỳ Bí

Ngài Mungo Groves Edinburgh 1947

Tôi ngó Mungo. Hắn gật đầu: “Lật tiếp đi.” Tôi lật qua trang kế.

“Đọc đi.” Mungo nói.

Đây là những gì tôi đọc được:

Có phải vũ trụ chỉ là một bộ máy - không kỳ bí hơn động cơ đốt trong một xe hơi - hay tổng thể là một cái gì đó giàu trí tưởng tượng hơn trong hoạt động để tạo nên thế giới hiện tượng của chúng ta?

Tôi ngừng đọc. “Do ông cố của tao viết ra, đúng không?” Tôi hỏi thêm: “Tại sao...”

“Tao tự hỏi, má của mày không giữ một bản à?”

“Má tao nói nó làm ông tao nhớ lại nhiều hồi ức tồi tệ nên ổng vứt nó đi.”

“Bả có giải thích gì về ông cố Mungo Groves không?” Mungo hỏi. Tôi gật đầu nhưng Mungo đã quyết định cho tôi biết ý kiến của hắn. “Ổng là một người rất nổi tiếng và nhà thiên văn và khoa học gia được tôn trọng trong thập kỷ 1930. Mày có biết là có một miệng núi lửa trên mặt trăng được đặt bằng tên của ổng không? Miệng núi lửa Groves. Ổng còn rất giỏi trong việc sáng chế rađa. Rồi năm một chín bốn mươi bảy, ổng viết cuốn sách này, Vũ Trụ Kỳ Bí, và người ta tưởng ổng bị khùng. Họ cười nhạo ổng. Ổng mất việc làm. Rốt cuộc, ổng điên thật. Ổng chết trong một nhà thương điên ở Scotland.”

“Tại sao người ta nghĩ rằng ổng đã phát khùng?”

“Bởi những điều trong sách. Ổng tin tưởng vào sự tồn tại của những thực tại song song đồng hiện. Không chỉ có thế. Nghe cái này nè.” Và Mungo cúi xuống cuốn sách, lật lẹ tới vài trang và đọc:

Thêm nữa, lần đầu tiên tôi công bố với thế giới rằng tôi đã làm một cuộc du hành giữa những thực tại như vậy. Tôi, Mungo Groves, đã du hành thành công giữa những thế giới song song.

Hắn gõ xuống trang sách, đứng thẳng người và nhấc đôi tay lên. Những ngón tay hắn run run. Kẻ thuyết giáo. Cánh côn trùng. Điều lạ lùng nhất đang xảy ra, trong giây phút đó những ngón tay hắn giống như có một đời sống riêng của chúng và tôi không nghĩ rằng hắn biết chúng đang làm gì. Hắn đang nhìn thẳng vào mắt tôi và nhe răng cười. Bất giác, tôi rùng hết cả người. “Bây giờ mày bắt đầu hiểu ra chưa?” Mungo hỏi.

Hắn tiến tới bàn phấn và cầm cái khung hình má và cha Cá Chua chụp trong ngày cưới lên. “Ba má của tao.” Hắn nói.

“Không thể nào như thế được,” tôi nói, “bởi vì đó là má của tao, cho dù mày có nói cái giống gì đi nữa, mày cũng không thể lấy đi điều đó của tao.”

“Bình tĩnh nào,” Mungo nói, “đừng có nổi khùng. Mày vẫn chưa hiểu ra, phải không?”

“Tao không biết khỉ gì nữa hết,” tôi thừa nhận.

“Thiệt đó, điều đó là sự thật, bà Clare là má của mày. Nhưng bả cũng là má của tao. Mày là con trai mà má mày - má của tụi mình – hẳn đã có nếu bả đã rời vùng Bickleigh vào năm mười chín tuổi và tới London để tham gia một lớp thiết kế, và gặp ba của mày.”

“Bà đã làm điều đó.”

“Chính xác. Tất nhiên là bà đã làm điều đó.”

“Vậy thì mày đang nói gì đây?”

“Bởi vì bà cũng đã không làm điều đó,” Mungo đáp. “Việc này liên quan đến điều mà ông cố Mungo Groves viết trong cuốn sách của ông, về các khả năng song hành. Má cũng đã ở lại Bickleigh, và cưới ba tao, người tên là Brian Boland, người mà bà gặp tại buổi khiêu vũ ở câu lạc bộ Những Nông Dân Trẻ khi bà mới mười sáu tuổi. Bà kể với tao rằng thiệt là liều nếu như bà đi London vào năm một chín tám mốt. Bà đã được hứa dành cho một chỗ học nên bà lên xem thử cái trường đại học ấy trong một ngày và đó là lần đầu tiên trong đời bà tới London và bà ghét nó lắm. Bà trở về rồi suy nghĩ về điều đó, và quyết định là mình không chịu được ba năm sống giữa ồn ào, ô nhiễm và lũ người nguy hiểm ẩn nấp ở mọi góc phố, nên bà ở lại đây, và bốn năm sau, sau khi ba tao học xong trường đại học nông nghiệp, thì bà và ba tao làm đám cưới ở nhà thờ Bickleigh – lúc đó chụp cái hình này – và tới sống ở Ngôi Nhà Trái Thơm, trên đường Bickleigh, nơi tụi mình đang đứng bây giờ, và sáu năm sau đó thì tao ra đời.”

Hắn bỏ cái khung hình trở lại bàn phấn.

“Trông họ rất hạnh phúc, phải không nào? Nhưng chắc là không được hạnh phúc lắm đâu, kể cả lúc đó. Họ luôn luôn cãi vã nhau, tao vẫn còn nhớ như vậy, và tao luôn luôn ghét điều đó. Ngay cả mới đây nè, ở hội trường làng, tất cả chuyện ôm nhau và đùa giỡn, chỉ là trò đóng kịch thôi. Họ không thể chịu đựng nổi nhau. Mọi chuyện này bắt đầu như vậy đó, bởi vì tao muốn thay đổi. Tao muốn trở thành một ai khác. Chỉ cần nếu má không cưới ba, tao nghĩ vậy. Chỉ cần nếu bả chọn một người đàn ông khác làm chồng, thì tao vẫn có bà là má, và tao vẫn sẽ là tao, nhưng mọi chuyện chắc sẽ vui vẻ hơn. Rồi tao tìm thấy cuốn sách cũ này và tao ngộ ra rằng tao có thể thoát ra được, tao có thể biến nó thành sự thật.”

Mungo cầm cuốn sách lên. “Tất cả đều ở trong này,” hắn vừa nói vừa tìm một trang đặc biệt nào đó, rồi đọc lên.

Thế giới của không gian và thời gian giống như một khu rừng nguyên sinh. Cuộc sống của chúng ta giống như con đường mòn xuyên qua khu rừng này. Nhưng mỗi bước ta bước về một hướng, có vô số những bước chân đưa ta đi về một hướng khác, và quả thực là ta đã đi, có điều là trong một thực tại song song khác. Nếu ta có thể nhìn thấy bao quát tất cả các thực tại từ nhánh cây cao nhất của cái cây cao nhất trong khu rừng, ta sẽ không chỉ thấy một con đường thẳng mà là một mô hình chi chít những lối đi chia nhỏ và đâm nhánh bất tận, vươn ra phủ đầy không gian bất tận có thật đó.

“Thấy không nào?” Mungo hỏi. “Ví dụ bà Clare Groves. Má của tụi mình. Bà tới London, cưới ba của mày và có mày. Đó là một thực tại. Hoặc bà ở lại Bickleigh, cưới ba tao, và có tao. Thực tại thứ hai. Không có cái nào thật hơn cái nào cả. Có điều rằng thực tại của mày thì như là thực tại duy nhất bởi vì mày không có cái khả năng nhận biết hay nếm trải thực tại nào khác. Ngoại trừ bây giờ thì mày có. Tao là một thực tại khác. Mày thế nào rồi?” Mungo chộp tay tôi và lắc.

Tôi vẫn không hiểu, chưa hiểu hết, nhưng tôi cảm nhận một tia sáng le lói, một sự kích động cái khôn ngoan của loài sói. Tôi cười lớn, vẫn còn cảm thấy nỗi nhẹ nhõm vì mình chưa chết, và đi khắp London. “Nè, bồ tèo” tôi nói, khoác vai phải Mungo: “Mọi chuyện sao rồi, hả?”

Mungo nói, lờ tôi đi: “Cuốn sách này chỉ cho mày cách làm sao dịch chuyển giữa những thực tại song song. Nhiều năm về trước má nói về nó nhưng tao đã quên mất. Rồi vài tháng trước, khi má và ba cãi nhau hoài và ba đánh bà, bà phải đi báo cảnh sát thì tao thấy nó. Tao không giải thích được nhưng có cái gì đó khiến tao lục lọi trong mấy ngăn kéo tủ, và tìm thấy nó ở đó. Tao bắt đầu đọc nó, ngồi đây nè, trên sàn nhà trong phòng của má và lắng nghe tiếng động của xe cộ ngoài đường. Và giống như leo tuốt lên ngọn của cái cây cao nhất trong cánh rừng và nhìn xuống đời mình. Nhưng nó không chỉ nói những điều về rừng mà thôi. Nó còn bày cho mày cách thức. Nó giải thích khoảng trống giữa những thế giới, làm sao khoảng trống ấy chỉ mở ra vào những thời điểm có áp suất không khí bất thường. Làm sao, khi điều đó xảy ra, mày phải tìm một môi trường thích hợp, càng xa càng tốt, mô phỏng một nơi ở ngoài thời gian và ý thức. Ổng muốn nói về sự tối tăm, yên ắng, không có liên hệ với đời sống thường ngày.” Hắn lật lẹ qua những trang sách và đọc lên một câu khác trong Vũ Trụ Kỳ Bí.

Tưởng tượng một không gian khép kín, hoàn toàn bị tách lìa khỏi thế giới bên ngoài, giống như cái hộp chứa con linh miêu bị hành hạ không ngừng, Con Mèo của bác sỹ Schroedinger.

Trong một...

“Schoroedinger là thằng cha ảo thuật gia mà mày đã nhắc tới, đúng không?”

Mungo mỉm cười. “Schroedinger đã làm cái thí nghiệm này. Ổng bỏ một con mèo vào một cái hộp – thật ra, thật ra ổng đã không làm vậy, ổng chỉ tưởng tượng ra điều đó thôi, nhưng dù sao...” Hắn thấy tôi đang ngáp dài chế giễu. “Vấn đề là, ổng cho mình thấy rằng con mèo có thể hiện hữu trong những thực tại song song ở cùng một thời điểm. Vậy đó, ông cố Mungo Groves tìm được cái hộp của mình hoàn toàn tách lìa ra khỏi thế giới, nhưng ông không bỏ con mèo vào đó, mà ổng bỏ chính ổng vào. Cái hộp của ổng là cái hầm rượu của một ngôi nhà cũ ở Edinburgh, và đó là điều khiến tao nghĩ tới cái giếng. Tao đã tới chơi ở Ngôi Nhà Thung Lũng Hạnh Phúc vài lần nên tao biết về nó. Vấn đề của tao là, chẳng có ai đem cái thang dây đi chỗ khác giùm tao.” Hắn cười lớn và nhìn về phía cửa sổ. “Tao thực sự không có nhiều bạn. Nên khi tao xuống cái giếng thì tao không “hoàn toàn tách lìa mình ra khỏi thế giới bên ngoài” như Ngài Mungo nói mình phải làm điều đó. Nhưng dù sao nó cũng có hiệu quả. Tao nghĩ cái gen của tao xui khiến, giống như ông cố của mình vậy. Ổng gọi điều đó là “cái ra-đa”.

“Tao nghĩ, cái ra-đa đó cho tao biết về mày. Tao đã không biết điều gì đang xảy ra. Tao bắt đầu nghe thấy một tiếng động trong đầu, giống như tiếng rè rè của cái ra-đi-ô. Tao biết điều gì đó – hay ai đó – đã tới gần bên và tao phải tìm ra điều đó, hay tìm ra họ, hoặc là bất cứ cái gì đó. Vậy là tao làm. Tao canh chắc tình trạng áp suất không khí đúng theo yêu cầu và nó giúp tao rất tốt, tao trôi đúng vào trong thực tại của mày ngay lần đầu tiên tao thử. Tao đến ngoài cửa sổ nhà bếp của nhà mày, và mày hiện ra trong cái áo ngủ màu đỏ...”

“Đội bóng Arsenal đó,” tôi nói.

“Tao thấy mày bên trong cửa sổ, đang ăn bánh mì kẹp thịt heo muối. Và má của mày – má của tụi mình – cũng đang ở đó, và hai người bên nhau trông thật hạnh phúc. Bước tiếp theo là đem mày về trong thực tại của tao. Và điều đó cũng thành công, đúng như cuốn sách nói vậy. Tao đã không tin nó đơn giản tới vậy. Đó là lần đầu tiên mình gặp nhau, khi tao đang đi dưới mưa. Tất nhiên, tao thấy mày nhưng tao đã quá kinh ngạc và hồi hộp tới nỗi tao không biết phải nói gì, cho nên tao làm bộ như không nhìn thấy mày. Lần sau, mình nói chuyện và mày kể cho tao nghe về ba mày, thật là một người cha tốt – thật khác xa ba tao - đó là lúc tao biết.”

“Biết cái gì?”

Mungo ngập ngừng. “Nè, tao thật sự xin lỗi. Tao tuyệt vọng quá.” Hắn bước quanh phòng rồi tới cái cửa sổ. Nhìn ra hàng cây run rẩy và ngã rạp trong bão, hắn nói: “Tao có một điều phải thú tội với mày.”

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của nigel richardson