Người mà chẳng nói là câm
Người mà nói gặng là căm trong lòng
Căm người mà cứ phải gồng
Thì thôi sống kiếp câm lòng cho xong!
Sau đấy ba ngày, ông Xã ôm cái mông mới lành đòn do lão Châu trách phạt, lết sang phủ huyện tạ tội với ông Huyện nhà ta.
Gã khóc lóc thảm thương rồi lạy ông như lạy thánh, mồm phều phào thề thốt từ nay về sau sẽ không dám vượt mặt ông hớt lẻo với quan trên nữa. Ông Huyện lúc đó - nghe thằng con bà bếp kể lại - hả hê ghê lắm, cứ ngồi ưỡn ra ghế cười lên ha hả, vừa cười vừa lấy gậy gỗ gõ lên đầu ông Xã mà rằng; mày ấy à, muốn khôn lỏi với ông, chờ sáu mươi năm nữa con nhé! Đến lúc đó ông rụng hết răng, đơ hết lưỡi, họa may mày mới có cơ múa mồm!
Mà tính ra cái mồm của ông đúng là lợi hại thật, bởi vì lúc sau không hiểu khua múa thế nào, ông Huyện lại khiến ông Xã nhà ta ngoan ngoãn sung vào “quỹ công” thêm mười quan nữa.
Trước lúc ra về, ông Xã thẽ thọt xin với quan nhà; vì đợt này Thanh Ba phải thu ít sưu đi, đức ông Tri châu có vẻ không hài lòng mấy, đã lệnh cho chức dịch phải liệu cách từ lũ già neo đơn và đàn bà góa gom thêm cho đủ ba trăm quan bị hụt. Làm mà không xong, cả đám no đòn, quan lớn hãy thương tình mà nói đỡ với ông Châu vài lời...
Nghe bảo cuộc chuyện vừa xong, ông Huyện nhà ta đã nhảy đổng lên như đàn bà mắc đẻ, gí tay vào mặt Xã Chả mà mắng thế này.
“Tiên sư bố nhà mày, lại tính giở ngóe với ông đấy phỏng? Đem chuyện quan lớn dặn riêng kể hết ra đây rồi dụ ông sa vào, ba trăm quan ở mỗi làng Ẻn sẽ dây sang cả huyện? Ông chẳng có ngu mà dây vào! Đây là họa do mày gây, tự mà về lo lấy! Đừng có mong bẫy ông sa lầy!”
Thế rồi ông Xã lủi thủi ra về trước con mắt hả hê của ông Huyện. Bọn lính lệ bảo nhau, lần này ông Huyện phởn rồi! Vừa trả thù được thằng Xã hớt lẻo, thu non của nó tận mười quan, vừa xoay được quan to đẩy cái việc khó sang bọn chức dịch trong làng, bản thân thì cứ ễnh bụng an nhàn chờ thu sưu đợt khác, phởn mà phải biết...!
Mỗi lần nghe đến đây, Trinh lại thở dài, đầu lắc lư khe khẽ. Phởn cái nỗi gì? Phải ông mà phởn, bữa cơm đêm đó ông cũng không bỏ dở lúc mới non nửa bát, chỉ toàn uống rượu suốt thôi.
Ông buồn, nàng biết, buồn cái sự gì, nàng cũng lờ mờ đoán ra. Mà nàng ngờ ông có biết nàng đoán ra, mới gọi nàng lên hầu để có người đồng cảm.
Kể ra số nàng cũng may rủi đan xen, rủi vì uất ức mà câm, may vì bị câm nên ông Huyện chẳng chút mảy may đề phòng, nhiều lúc say quá đã lộ ra bao nhiêu nông nỗi.
Tựa như cuộc chuyện trò lúc ấy vậy.
“Hứ! Lũ già neo đơn và đàn bà góa... Quan đố cô Trinh nhé, cớ gì bọn nó lại chọn hai lứa người ấy?” mắt lờ đờ, ông Huyện nghiêng ngả vung bát hỏi to.
Trinh nhúng tay vào chén toan viết lên mặt sập đáp án của mình, lại ngó đến cái vẻ ngắc ngứ của ông, đoán chừng ông cũng chẳng đọc được nữa, bèn lôi tay ông ra viết thẳng lên ấy.
“Vì họ lứa thì không con, lứa lại không chồng, trong nhà không có trai đinh để sinh uất mà mưu phản.”
“Giỏi lắm!” ông cười to, vơ lấy bình rượu rót luôn cho nàng đầy cái bát con, đoạn ghé sát mặt nàng lừ đừ hỏi nhỏ. “Cô nói xem, con chó già đấy ăn gì mà khôn thế?”
Nàng chưa phản ứng, ông đã gục xuống sập đập đầu bộp bộp. “Ngu! Ngu quá đi mất! Uổng cho mày bao năm đèn sách, lại chẳng khôn bằng thằng con buôn vô học! Nghênh ngang tự phụ vì đã trên nó một con cờ, vừa xoay đầu đã bị nó ăn hết ván! Đến ba trăm quan! Phen này thì tôi phải tội với các cụ đơn chị góa rồi, giời ạ...”
Âm thanh chát chúa của sọ người liên tiếp nện vào mặt gỗ khiến Trinh lạnh xương sống, đưa tay níu lấy thì ông lại gạt ra. Bí quá, nàng nhét luôn tay mình xuống chỗ ông đang đập.
Bộp một cái, Trinh tưởng nó đã muốn gãy đến nơi, đau quá chừng mà vẫn cắn răng chịu đựng chẳng dám rút. Mạnh như thế, còn để ông nện lên gỗ nữa thì hỏng luôn óc mất.
Ông Huyện đập liền ba cú lên tay nàng thì chợt dừng, nhổm đầu lên nhìn xuống bàn tay đỏ tấy như vật lạ hiếm thấy, lúc sau còn ngơ ngẩn vuốt nắn ra chiều thương xót lắm...
Vẫn tư thế gập người trên sập như kẻ tội đồ quỳ lạy đấng Thế tôn, ông lặng đi một hồi, đoạn trở cơn loạn trí áp môi xuống hôn nhẹ.
Trinh rùng mình.
Có giời mới biết, ngay thời khắc môi kẻ cao sang chạm tay người tôi đòi ấy, trong bụng đứa gái trẻ đã nảy lên bao nhiêu sự rộn ràng; cái sự rộn của tim, của gan, của dòng máu xuân ngời sục sôi trong huyết quản.
Trinh chưa ý thức được nó là gì, song cũng lờ mờ hiểu ra loại cảm giác này không hề đơn giản. Nàng muốn rụt tay về, lại chẳng biết cớ gì làm mãi không xong, chỉ biết ngẩn ngơ nhìn người đàn ông sang quý kia tì mũi và môi lên tay mình hít hôn nhè nhẹ, cẩn thận trân quý như người mẹ thương con trẻ mới sinh.
Chừng vã cơn mê say loạn trí, ông Huyện mới lảo đảo ngồi thẳng dậy, má đỏ hồng như muốn báo cho kẻ xung quanh cơn đói tình của quan ông vẫn còn chưa đẫy. Ông dùng vẻ mặt tiếc rẻ buông tay nàng ra, gượng gạo nói nhỏ.
“Cô Trinh tha cho, chỉ vì... đã lâu rồi không ai thương cho cái thân tôi như vầy...”
Dạ Trinh khẽ lung lay. Đúng rồi, ông là thằng Huyện tham lam khốn nạn cơ mà, đến cả u ruột còn đang tâm vứt bỏ lúc bệnh hoạn, thì có ai mà xót cho chút thịt vêu trên trán?
Nghiêng người nắm lấy bàn tay siết chặt của ông, nàng dịu dàng gỡ ra từng ngón, đoạn viết luôn một tràng.
“Sự đâu còn có đó, quan ông đừng vội nản lòng. Mấy vạn quan cả một guồng chúng nó gian tham, ông còn mưu toan xén giảm đi được, sá gì vài trăm bạc lẻ?”
Ông Huyện không nói gì, chỉ chăm chăm nhìn nàng như kẻ tình si thình lình bị bỏ ngải. Nàng thấy ngại nên muốn rụt tay về, lại bị ông nắm chặt, ghì siết.
“Hóa ra cô Trinh biết hết thật.”
Nàng bình tĩnh gật đầu.
“Vì sao?” giọng ông hơi vỡ òa, bàn tay siết lấy nàng cũng bắt đầu run rẩy. “Đến u tôi và các anh còn chẳng chịu tin...!”
Nàng lắc đầu, bên tay rỗi đưa lên chỉ vào môi, xong lại chỉ vào ngực ông và tai mình, đầu gật nhẹ, miệng mỉm cười hiền dịu.
Chẳng nhìn ra cái chữ gì, thế mà rượu lại khiến ông Huyện của chúng ta tưởng tượng ra nàng Trinh đang cất giọng ôn hòa. “Con tuy câm, nhưng không điếc, tai vẫn nghe được điều tim ông thổn thức.”
Rồi ông nghe rõ ràng tiếng nàng buông ra thật.
“Nó gào khóc với con rằng: “Tôi là một thanh quan!.”
Đêm đó trăng tàn, chỉ có lòng người chợt khẽ khàng le lói, rọi lên dáng hình thằng Huyện Thanh Ba sà vào lòng con hầu òa ra nức nở.
Đêm đó, có hai đứa câm trọ trẹ tập nói trong mơ.
Giấc mơ về một đất nước thanh bình sạch bóng quân Minh, không có người bắt tội hai chữ “trung, trinh”; và không cần đến con hầu, thằng Huyện.
*
Từ cái hôm nàng Trinh mở miệng nói lần đầu tiên sau mấy năm dìm mình trong uất lặng, cuộc đời dường như đã thay một lớp áo mới cho thằng Huyện, con hầu. Ông Huyện nhìn đâu cũng thấy hoa tươi, nét cười nơi đuôi mắt càng sâu hơn một chút.Chớ nhầm, ông cũng chẳng nhân từ hiền hậu thêm tẹo nào đâu. Án to án nhỏ trình lên, ông vẫn chễm chệ ăn trốc ngồi trên làm cha thiên hạ. Thằng nào nghèo quá không bòn được gì thì ông tha, chỉ xử qua loa cho có lệ, mấy đứa răng vàng nhẫn ngọc áo quần xênh xang mà dại dột lạc vào phủ ông thì chỉ có chết, ông vắt nó kiệt còn hơn vắt cái cổ chày.
Ví như cái sự thuế má đánh trên đàn bà góa và các lão vô tự năm đó, ông ngẫm nghĩ vài ngày rồi lại gọi ông Xã lên dạy. “Ông sẽ giúp mày bình an qua khỏi nạn này, nhưng thừa ra bao nhiêu, mày phải nhường ông tám phần.”
Chờ ông Xã đau khổ gật đầu, ông mới tiếp.
“Kế của đức ngài Tri châu rất hay, nhưng còn có chỗ thiếu sót. Ví như thuế được ban ra, vì để trốn tránh thì đám con góa sẽ đi lấy chồng, mấy lão ông sẽ đi nhận con thừa tự. Chưa biết chừng... chúng lại lấy nhau để bà được chồng, ông được con của vợ, thế là có thể vẹn cả đôi đàng.
Chuyện thành thế thì chúng ta công cốc! Đấy là chưa nói đến cái đám không chồng không con ấy chắc gì đã có bạc cho ta bòn? Không khéo dây vào cũng chỉ tốn hơi.
Thôi thì mày hãy trình với quan lớn thế này, nhân việc đám tang của phu nhân ông Đô chỉ huy sứ ti, toàn dân Thanh Ba ngoài để tang ra còn phải đề cao thân phận vợ cả của bà qua việc gom tiền cúng tế.
Chúng ta vì thế phải đánh thuế trên đám bà lẽ nhà dân, mà theo đạo vợ chồng, các ông phải là người nộp thuế cho các bà mới đúng lẽ. Mày cứ đánh cho cao vào, một quan ứng cho một bà lẽ, càng nhiều bà lẽ thì thuế vợ càng nhiều.”
“Bẩm ông, một quan có nhiều quá không ạ? Nhỡ đâu nhà nó nghèo, ta thu lại cực...”
“Mày ngu quá thằng Xã ạ! Đời này có thằng nghèo nào đi lấy nhiều vợ không? Lấy về để mà nai lưng ra nuôi cho chết à? Chỉ có cái đám bá hộ, phú ông, mới có cái tài đó con ạ. Mà với mấy thằng đấy, vài quan đã là bõ bèn gì? Mày cứ việc thu mạnh tay vào! Huống hồ, kẻ giàu có trong huyện không đầy ra như đám dân đen nghèo kiết, chẳng thu nhiều cỡ đấy thì năm nào mới mót đủ ba trăm quan?”
Ấy thế là người ta trông thấy mắt ông Xã Chả sáng ra, ông gập người như quyển sách lạy tạ ông Huyện rồi vội vã ra đình bàn việc thu gom với các ngài chức sắc.
Tối hôm ấy, lúc ngồi cạnh bên mài mực cho ông Huyện vịnh thơ, Trinh đã viết lên giấy một câu hỏi vu vơ; quan ông không sợ các ông giàu sang ấy... vì trốn thuế nên bỏ vợ hay sao?
Ông nhìn nét chữ mềm như liễu trên trang giấy bản phẳng phiu mà trong ruột khẽ nhăn nhúm lại. Ông muốn lấp liếm với nàng bọn giàu sang sẽ không keo kiệt đến thế, vì một quan tiền mà bỏ nghĩa đá vàng.
Nhưng rồi ông cũng chỉ chững bút nhìn nàng mà nặn mãi không ra lời, bởi ông thừa hiểu việc đời khó nói trước, đâu đó sẽ tồn tại những giống người trọng một quan hơn cả vợ mình.
Cuối cùng, chỉ đành hạ bút viết bên cạnh câu hỏi của nàng.
“Thời thế nhiễu nhương, đôi đường khó vẹn, đã vào quan trường, tránh không khỏi tội, chỉ có thể chọn phần tội nhẹ hơn mà làm.”
Ông thấy nàng cười, đầu chậm rãi gật nhẹ đầy cảm thông, nâng bút lên viết tiếp.
“Vâng, con đã hiểu rồi. Nếu có thể vẹn cả đôi đàng, thanh quan đã không cần tự vẫn, hoặc khoác lên cái vỏ tham quan.”
Ấy rồi ông cũng cười theo.
Nàng hầu của ông, tri kỷ của ông...
*
Người ta thấy ông Huyện nha càng ngày càng mê con hầu gái, thu thuế tô gì đều dắt thị đi theo. Này lọng thếp võng đào, này thoa vàng trâm ngọc, nom thị càng lúc càng ra dáng cô bà mấy con đĩ đào, trông ghét không chịu được. Đúng là một cặp đôi vô liêm sỉ.Cơ mà... có một sự thật khó lòng chối bỏ; chúng xứng đôi thôi rồi.
Trai anh tuấn, gái mỹ mạo, kèm với mão áo cao sang, trông chẳng khác nào một đôi thần tiên quyến lữ.
Có ông học trò chân trần áo vải thấy gai mắt bèn lén lút giễu cợt thế này:
“Thằng Huyện, con Hầu, quả xứng đôi
Đứa hầu nằm ngửa, đứa hầu ngồi
Xênh xang áo mũ cho là quý
Đào điếm trong phường, cũng thế thôi!”
Bài thơ ấy được giới Nho lâm trong vùng cho là tuyệt tác, đem sao ra phân phát cho những kẻ có chữ khắp nơi. Đến một ngày rơi vào tay ông Huyện, người ta thấy ông cầm nó bò lăn ra sập mà cười.
“Ông Sĩ, ông Trò, quả xứng danh!
Công tước không tranh, lợi không giành
Vận nước mỗi ngày than mấy gánh
Gom về đè chết lũ giặc ranh.”
Đợi cho mực khô hẳn, ông Huyện bèn đưa tờ giấy bản đến trước mặt nàng hầu của mình nhờ đề tựa. Nàng trầm tư một lúc, đoạn cười mỉm hạ liền một dòng bốn chữ: “Nhàn sĩ làm trò.”21
Ông Huyện lại càng hềnh hệch cười to, vừa vỗ đùi đen đét vừa khoái chí cảm thán. “Hay, hay lắm! Sĩ tử nhàn rỗi làm trò! Quan thật oán hận cao xanh vì gặp được Bá Nha22 quá muộn!”
Đấy cũng chẳng phải lời nói sáo của người có học. Càng ở bên nàng, ông càng tiếc rẻ những năm tháng nàng chẳng ở bên. Nhất là bảy năm trời hầu giặc, bị người ta nhấc khỏi hàng “ông” ném xuống hàng “thằng”.
Nhục quá, có đôi lúc muốn thắt cổ chết quách cho xong. Đến những khi bị người thân không tin tưởng rồi cấm tiệt về nhà, họ tộc xung quanh vì căm ghét mà đập toi con chó nuôi trong phủ; đuối lòng, ông thật muốn cam tâm sa ngã, lôi cái đám vô ơn ấy ra chém hết cho thỏa nỗi uất oan.
Nhưng rồi ông nhớ đến người thầy mệnh bạc, đến những xác đàn bà lõa lồ trên sông Thao ngày giặc Minh tràn vào huyện mình, đến ánh nhìn dài dại của những đứa trẻ khi ngó lên xác thầy, thây mẹ đung đưa trên cây, đến những xác thây bụng dạ toang hoác, ruột rà bị đem ra quấn quanh cổ thụ... ông lại thôi.
Có nàng rồi, ông mới thấy gánh nặng trong lòng nó nhẹ đi nhiều lắm. Ông thấy mình giễu làm sao khi căm hờn những đứa chẳng biết gì, dại thế nào khi lắm lần muốn đi tự vẫn.
Đây là con đường ông đã chọn, dù nhuốc dù nhơ thế nào cũng phải gắng đi cho bằng hết, ấy mới không phỉ mặt làm trai, dẫu ông biết ngày mai chết đi sẽ đeo mang tiếng nhơ ngàn kiếp.
Có giời mới biết, đã lâu lắm rồi, ông mới có lại tráng chí này, cái loại tráng-chí khốn-đời mà không kẻ sĩ nào đủ gan gánh đỡ. Sự tin tưởng của nàng Trinh khiến ông như thoát được tội nợ. Thì ra... được người hiểu mình, con người ta có thể kiên gan đến chừng này.
Ông thích chọc nàng cười, lại càng vui hơn khi nàng khóc. Cái thú vui nghe thoáng thì hoang đường, bệnh hoạn làm sao! Nhưng quả thật là thế. Bởi lẽ ông biết rõ, mỗi lần nàng rơi lệ trước mặt mình; đều vì thương, vì xót cho cái thân “thằng Huyện”.
Được người ta thương xót, ông đắm, ông mê; bởi bao năm ngụp lặn trong bùn nhơ chán chê, ông đói cái tình người ghê lắm.
Thằng Huyện Thanh Ba, từ nay đã có người thương xót rồi nhá!
Rồi ông lấy cái sự vui thầm kín ấy ra hống hách với đời, đi đường càng vênh mặt nghênh ngang hơn một chút. Ông thách chúng mày căm, thách chúng mày hận ông đấy! Căm sâu, hận dày cho thậm vào, ông đây cóc sợ!
Ông mà về đến nhà ông rồi, lại có người đổ ra xót cho, nào xoa, nào vuốt, nào sụt sùi thương cảm, sướng mà phải biết. Chúng bây có giỏi thì cứ thử oán chết ông xem?
Đêm đêm, ông lại khoanh chân ngồi trên tấm phản sau nhà kể cho nàng nghe những việc tốt mình đã làm trong bóng tối, nào vơ vét lượng thuế sưu bị đám chức dịch ăn tham, nào đem phần lớn của ấy vờ thua vào những canh bạc thâu đêm trên nhà thằng Cai đinh Vi Đại.
Ông thừa biết thằng đấy vốn người của họ Nguyễn Vi cài vào đình hóng chuyện vụn vặt, người nó lại nhân đức hiền từ nên thể nào cũng bố thí hết của bất hảo lại cho đám dân đen, ừ thì ông chỉ mong có thế.
Rồi đến mấy mẩu chuyện hoang đường về “đạo quan trường” mà ông phải gánh, như cái đám quan to trên ông chẳng hạn. Để yên lành mà vơ vét lũ lý giáp quan con, ông vừa phải tỏ ra vô lại cho có vẻ hợp cạ hợp bầy, vừa trích ra một phần của tham để đấm vào mõm chúng nó.
Nước nhà đang buổi bị xâm lăng, đút tiền cho giặc không vẫn chưa đủ, còn phải tỏ ra trung thành tận tụy. Mà chữ trung này phải được thể hiện rõ ràng nhất qua việc làm ác với chính dân mình.
Nói đâu xa, ông Huyện Thanh Ba vốn nổi danh hung ác đây này, ngày nào mà chẳng thấy ông vung gậy đánh dân? Năm nào mà chẳng thấy ông bịa ra một đống sưu vặt để thu dần?
Ừ thì đánh chẳng mấy đau, đóng chẳng mấy tiền, nhưng phải đòn và thuế quá nhiều lần, dân nó thấy phiền nên oán. Người quê mà, cứ thấy số cao thì cho rằng nhiều, cứ bị khẽ nhiều thì cho là ác, chứ có bao giờ chịu động tim động não suy sâu cho nhờ...?
Nếu như họ có, đã phát hiện ra cái tiếng dân Thanh Ba khó thuần, huyện Thanh Ba thuế thu khó vẹn, vốn chỉ xuất hiện từ bảy năm trở lại đây thôi. Mỗi lần ngẫm đến đây, nàng Trinh lại nhoẻn cười khen quan ông tài quá.
Nàng tuy đã nói được, song vẫn rất kiệm lời, giao tiếp thường ngày với ông phần lớn vẫn bằng con chữ; thế nên nghe đến lời khen nỉ non mềm mại đó bật ra trên môi người ngọc, ông Huyện sướng tê người, cứ như học trò dốt lâu ngày được thầy khen hay chữ ấy, nó kỳ diệu gì đâu...!
Cuối cùng thì ông cũng là bậc anh hùng trong mắt một người rồi! Đời làm “thằng”, có sự nào nó vui bằng thế?
Mùa hạ năm ấy, vừa hay biết tin mình phải sang Bắc Kinh23 khảo mãn24, ông Huyện lại một phen lo nghĩ, tối trời không ngủ được, bèn ra bếp ngồi ủ rũ một mình. Chẳng biết là vong ông nặng quá hay sao, Trinh đang ngủ ở chái gian nhà giữa cũng thình lình trở dậy, ngóng ra bếp thì quả nhiên trông thấy cái bóng quan ông khòm lưng khều lò.
Thấy ông lục đục dùng cây moi móc mãi, Trinh đánh động để ông biết mình đã đến, đoạn dịu dàng giành lấy que củi từ tay ông, ý tứ muốn thay ông nhóm lửa.
“Ấy, quan chẳng phải muốn nhóm lửa gì đâu, chỉ vào chào con Quan một tiếng.”
Trinh dừng tay, mặt mày ngơ ngác quay sang nhìn ông. Huyện ta gãi đầu, dè dặt nói. “À, con Quan ấy, con chó quan nuôi trong phủ ngày xưa.”
“Ông thịt nó à?” Trinh hốt hoảng bật thốt, suýt đánh rơi que củi trong tay, chứng câm gì bay biến cả.
Ông Huyện lắc đầu nguầy nguậy. “Ấy chết! Trinh đừng nghi oan cho quan! Quan chỉ là chôn nó... dưới cái lò này thôi...! Nó thích ấm lắm, lúc nào cũng chui vào ngủ gần lò...”
Trinh ngớ ra trước cái lối tang ma tai quái của ông Huyện nha, mãi một lúc sau mới bình tâm lại được. Dường như vẫn có điều băn khoăn, nàng ngồi xuống cạnh ông, thản nhiên lôi tay ra viết lên.
“Chôn nó nơi này, là vì quan ông sợ người làng họ đào mả phải không...?”
Thấy ông chỉ nắm lại tay nàng, khẽ siết, Trinh buồn bã thở dài.
Người ta chôn chó ngoài đồng, dưới gốc đa, gốc gạo. Chỉ có chó nhà quan, là phải chôn giấu, chôn chìm nơi góc bếp. Hỡi ôi, thời thế gì đây...? Đến cả con chó chết cũng chẳng bằng quân chó-chết mất rồi? Nghĩa tử là nghĩa tận, cả thằng trộm chó bị đánh chết còn được bố thí cho nấm mồ ngoài bãi, vậy mà đến phiên con chó...
Chỉ trách... Trinh nghẹn ngào nghĩ buồn trong dạ. Như hiểu được ý nàng, ông Huyện cười nhạt, giọng mông lung, hoang hoải.
“Chỉ trách, nó là chó nhà thằng Huyện...”
Cái ngày ông lên đường sang Bắc, bất chấp mọi phản đối từ các quan cấp trên và biết bao cái nhìn dè bỉu của đám đồng liêu, ông Huyện vẫn một hai đem theo nàng hầu quý báu nhà mình.
Bảo là quý báu, vì ông đối nàng có khác gì ngọc thạch, trân châu đâu? Ông cho nàng mặc gấm, cài thoa vàng, đeo vòng ngọc, bộ dáng huy hoàng, cao sang, đến các bà Cả quan trên cũng chẳng mong bì kịp.
Sau đấy, phớt lờ hết cả thảy, khom người để nàng giẫm lưng leo lên thuyền. Có ai dè bỉu, khinh khi, quở trách ông dại, ông ngu, để đứa hầu gái trèo luôn lên đầu ngồi, ông cũng mặc.
Lên thuyền rồi, Trinh mới sẽ sàng hỏi ông, ông không ngại ạ?
“Ngại gì chứ?” ông hỏi ngược lại nàng, đủng đỉnh phẩy quạt như người sang gặp vận. “Quan phải để chúng thấy quan dại, quan ngu vì nàng, càng sẽ không dám hành sự lỗ mãng. Con Quan ngày ấy bị chúng giết đi, cũng vì chúng nghĩ nó chỉ đơn thuần là một con chó quan nuôi, có giết rồi quan cũng không dám nổi điên bắt bớ. Quan không thể mắc lại sai lầm tệ hại ấy. Quan phải cho chúng thấy quan dại nàng thế nào, đặt nàng lên đầu thờ ra sao, có thế thì dù ghét đủ trăm đường, đến cái móng tay nàng chúng cũng không dám rớ!”
Trinh ngẩn ngơ nhìn bóng lưng người đàn ông ở mũi thuyền, lòng mênh mông gợn sóng, mở miệng rụt rè khuyên khẽ.
“Nhưng lần này xuôi Bắc gặp vua Minh, chỉ có các ông to ngũ, lục phẩm mới có quyền đem theo gia quyến, người hầu... Quan ông cứ như vậy... nhỡ đâu bị bịa đặt gièm pha là phường dại hương tham sắc, vua Minh sẽ trị tội.”
“Thì đến lúc ấy, lại phiền cô Trinh khóc cho quan thôi.”
“…”
“Với cả, ấy cũng chẳng phải bịa đặt rồi...”
Câu cuối ấy, ông Huyện nói rất khẽ, cứ như đang tự thú với bản tâm của mình.
Đúng, ông có thể câm lòng mà sống kiếp thằng Huyện, nhưng không thể cầm lòng khi đối diện với giai nhân.
Thằng Huyện này, cần con hầu để tiếp tục sống kiếp hèn vì dân, kiếp gian truân vì nước. Đã lỡ kéo nàng vào con đường ức-oan-không-tỏ-được; thế thì nếu sống, ông phải cho nàng sung túc áo lụa trâm vàng; nếu chết, phải để nàng vẻ vang cái tiếng “ngồi được cả trên đầu thằng ngụy quan”!
Thiên hạ có muốn gọi nàng hai chữ “Thị Khinh”, thì cũng phải ngẩng lên mà gọi! Vệ quốc, hưng gia, bảo bọc gái nhà. Nhà bao việc! Ông phải chóng bỏ cái thói than đời đi thôi.
Cái thòng lọng vẫn quấn hờ trên xà ngang buồng ngủ kia, có lẽ cũng đến lúc tháo xuống rồi...
Chú thích:
[21] Bốn chữ này có hai nghĩa:
1. Sĩ tử nhàn rỗi không phải thi cử công danh nên về quê tiếp tục làm học trò;
2. Sĩ tử rảnh rỗi nên kiếm chuyện làm trò cười mua vui cho thiên hạ.
[22] Trích từ tích Bá Nha - Tử Kỳ, ngụ ví đối phương như người tri kỷ.
[23] Bắc Kinh: kinh đô của nước Đại Minh.
[24] Khảo mãn: khảo hạch 9 năm một lần để quyết định thăng hoặc truất của triều đình Đại Minh dành cho quan chức Giao Chỉ vào thời kỳ Minh thuộc