Lão thợ ảnh Voòng Cắm Sềnh rất khó chịu mỗi khi phải tiếp xúc với viên phó ty lâm nghiệp họ Trương. Cũng giống như Lưu Nghị, lão không ưa gì Trương, cứ hở ra điều gì là y như bị Trương độp lại. Cùng một nguồn gốc Hán mà hắn luôn luôn lên mặt với lão, làm như hắn chính gốc là người Việt vậy. Hắn là cái thá gì mà mỗi khi tổ chức (tức là lão) gợi ý công việc là hắn từ chối thẳng thừng, đưa ra lý lẽ này nọ để khước từ.
Cắm Sềnh rất căm nhưng vì lệnh của “Huynh trưởng” đã ban ra như vậy nên lão phải nhẫn nhục. Mà tính chất người Trung Quốc thì luôn luôn có tài nhẫn nhục, lão là người Trung Quốc, lão cũng có cái tài ấy. Lão đã từng nhẫn nhục suốt mười mấy năm trời nay, lưu vong trên cái đất Việt Nam này, làm một anh người Hoa lang thang trên mấy tỉnh, hết Lạng Sơn lại Cao Bằng rồi Hà Giang lên Lai Châu, chỉ vẻn vẹn mấy tỉnh miền núi mà thôi. Địa bàn của lão đã được cấp trên quy định như vậy, không thể tự ý lọt xuống vùng đồng bằng được…
Cách đây khoảng mười lăm năm, lão mang tên họ khác, là một tình báo viên trẻ của Cục tình báo Hoa Nam. Thủ trưởng y lúc đó là một người trạc ngoài ba mươi tuổi, họ Tạ, tương đương cấp dinh trưởng (lúc đó quân đội Trung Quốc chưa phong quân hàm) trao nhiệm vụ cho y xâm nhập vào Việt Nam, trà trộn vào đám cần vụ và cấp dưỡng của các đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc. Hồi đó ở Việt Nam, mỗi cố vấn có đến hàng chục cần vụ và cấp dưỡng, di chuyển đến đâu đều có người đi theo gánh chăn màn, quần áo, gánh những chậu men và gối nệm, gánh những bu gà vịt và rau cỏ… Quy định của quân đội cách mạng Trung Quốc ngày đó đã nói rõ: cấp dinh trưởng có hai gánh và một ngựa, như vậy là phải có hai cần vụ để gánh và một để coi ngựa. Dinh trưởng mà còn vậy huống chi là các cấp cao hơn…
Trước khi rời khỏi Hoa Nam, người tình báo viên được thủ trưởng Tạ trao đổi rất kỹ về nhiệm vụ. Ông ta nói:
– Đồng chí Sang Việt Nam và ở đó lâu dài, hoạt động độc lập. Đồng chí cần tìm một nơi tiện bề liên lạc và cắm sâu vào đó. Đồng chí sẽ mang tên họ khác… Tôi trao cho đồng chí vật này…
Ông ta đưa cho y mấy lá vàng và dặn:
– Đây là lương khô để sử dụng trong những ngày xa Tổ quốc. Vàng này bên Việt Nam gọi là vàng Kim Thành, loại vàng tốt nhất. Đồng chí cũng sẽ lấy tên là Hoàng Kim Thành. Tổ quốc mới giải phóng tuy nghèo, nhưng cũng không tiếc gì đối với công tác của đồng chí, chỉ mong đồng chí sử dụng nó cho đúng chỗ và có lợi nhất… Chúng ta hẹn sẽ gặp lại nhau trong một ngày toàn thắng…
Hoàng Kim Thành cảm động, y hứa hẹn với thủ trưởng sẽ làm tròn nhiệm vụ dù cho phải nhảy vào lửa cũng không từ nan. Đóng vai một giám mã, y gia nhập đoàn cố vấn quân sự vào Việt Nam. Được một tháng sau, khi đoàn di chuyển từ Việt Bắc về Khu 3 để chuẩn bị cho chiến dịch Hà Nam Ninh thì Kim Thành (tức Cắm Sềnh gọi theo tiếng Quảng Đông sau này) rời khỏi đoàn cố vấn. Y lang thang tại mấy thị xã vừa được giải phóng, ở Thất Khê, Đông Khê rồi Cao Bằng. Và y đóng lại ở đó, ngay tại cái thị xã xinh đẹp đầu mối của hai con đường, một đi Bắc Cạn – Thái Nguyên và một xuống Lạng Sơn rồi Bắc Giang về xuôi. Đấy là một hợp điểm lý tưởng. Năm 1954, sau khi Việt Nam đánh thắng thực dân Pháp, Cắm Sềnh trở lại Trung Quốc. Y đã gặp lại thủ trưởng Tạ nghe chỉ thị mới rồi y lại trở về Cao Bằng. Lần này để tỏ quyết tâm sống lâu dài ở Việt Nam, được phép của tổ chức y lấy một người phụ nữ dân tộc Nùng làm vợ và có với người đó một thằng con trai, lấy tên là Voòng Chuýn – tức Hoàng Quân. Năm 1962, y lại trở về Trung Quốc. Lần này y đi hợp pháp, có giấy phép của Bộ Ngoại giao Việt Nam và cả Đại sứ quán Trung Quốc. Y lại được gặp thủ trưởng Tạ bây giờ đã là đại tá tư lệnh sư đoàn.
Lần về nước thứ hai này hơi cập rập và y không được phép đi về thăm quê hương, nơi đã sinh ra y. Cấp trên không nói ra nhưng y biết rằng, tình hình Trung Quốc đang gặp khá nhiều khó khăn về mặt kinh tế và về chính trị thì trong nội bộ đang căng thẳng giữa các phe phái. Lần trước y về nước được ít lâu và y chỉ được nghe toàn những chuyện tốt đẹp. Trong những năm cuối cùng của thập kỷ năm mươi, toàn dân Trung Quốc nô nức làm kinh tế theo hướng “đại nhảy vọt”; ở nông thôn, nông dân bị dồn vào các loại công xã và đua nhau làm lúa về tinh; ngoài thành phố thì công nghiệp chạy theo khẩu hiệu: “Đuổi kịp nước Anh trong 15 năm”… Rồi cả nước hò nhau làm gang thép, đâu đâu cũng có lò nấu thép, người ta bỏ hết cả công việc hàng ngày để đi nấu thép, làm như có thép là có cả thiên đường…
Tất cả những công việc phiêu lưu và viển vông ấy đã tàn phá nghiêm trọng cuộc sống bình thường của mọi người dân Trung Quốc. Xã hội Trung Hoa lại trở về thời kỳ cũ chỉ có đói và rét, kèm theo sự sợ hãi, lúc nào cũng nơm nớp sợ hãi…
Sống ở Trung Quốc chưa đầy ba tuần, Cắm Sềnh vội vã tháo lui, quay lại Việt Nam, vừa để tỏ ra sốt sắng với nhiệm vụ, vừa để rút chạy khỏi cơn ác mộng đang bao trùm lên cả lục địa mênh mông hàng sáu, bảy trăm triệu dân này… Y lại trở về Cao Bằng, dù sao thì cái thị xã nhỏ bé của vùng biên giới Việt Nam này cũng ổn định hơn rất nhiều. Những năm 60, Việt Nam thắng mấy vụ lúa liền, gạo thóc hạ, thực phẩm sẵn và hàng hóa vật dụng đều nằm trong tay Nhà nước quản lý. Đời sống ở nông thôn lẫn thành thị đều rất ổn định… Năm ấy, Cắm Sềnh xin phép phỏng Văn hóa thị xã mở hiệu chụp ảnh. Mới đầu, y tham gia vào hợp tác xã nhiếp ảnh của thị xã, dần dà y rút về làm cá thể. Vì chính sách đối với người Hoa nên chính quyền thị xã phải làm ngơ cho y hành nghề.
Hiệu ảnh của y ở ngay đầu thị xã, phía sau nhà là bãi trống và phía trước là con đường thông thẳng tới ngoại ô thị xã, chẳng có gì vướng víu, chẳng có ai có thể dòm ngó nhà y mà không lộ dạng…