Hồ Tây đêm buông sương. Giữa kinh thành Thăng Long phồn hoa đô hội, hồ Tây như một khoảnh ảo diệu. Hồ không to nhưng hun hút bí ẩn. Nguyễn Gia Thiều thỉnh thoảng cần một chút tĩnh lặng vẫn thả thuyền trôi dạt trên mặt hồ, lẩn vào làn sương mù, để không nhìn thấy những gương mặt người tất tả vội vã trong cuộc mưu sinh. Chỉ trong màn sương, chàng mới quên mất thân phận quý tộc của chàng, quên mất những hùng tâm tráng trí, những đền đài cung điện, để nằm khểnh nghêu ngao vài điệu, nhấp từng hớp rượu say tình.
Thiều từ nhỏ đã nghe kể về truyền thuyết hồ ly tại hồ Tây. Xưa kia đây vốn là đất của hồ ly chín đuôi, nhưng nay đã bị tiêu diệt. Thiều vẫn luôn tự hỏi: “Tại sao hồ ly phải bị diệt? Có phải vì nó quá phong tình?”. Cái giống phong tình như chàng dường như không thể tồn tại được nơi đây, chỉ có thể trốn sâu vào sương khói, vào nhạc, vào họa, vào thơ để nguôi ngoai cơn cô độc.
Thiều gẩy một điệu đàn. Tiếng đàn lạnh như sương...trầm như sóng nơi đáy hồ. Tiếng đàn hay không hay bởi sự réo rắt, uốn éo mà hay bởi thanh đạm mà sâu lắng. Điệu đàn của Thiều đã đạt đến chỗ vi diệu, và khi đến được chỗ vi diệu lại chẳng thể gẩy cho người khác nghe. Nhạc hay có hai loại. Một loại đi đến chỗ tinh xảo, kỹ thuật điêu luyện, mê hoặc nhân tâm, thường khiến người nghe yêu thích. Một loại khác đi đến chỗ lay động linh hồn, từ tâm mà toát ra, cõi lòng hòa vào cõi đạo, người thường nghe không thể hiểu, lại có phần sợ hãi tới mức câm lặng. Nhạc của Thiều thuộc loại thứ hai.
Thiều đã dừng đàn. Giữa bốn bề thanh vắng, chỉ còn tiếng bì bõm khỏa nước. Thiều nhíu mày. Tiếng bì bõm càng lúc càng tiến gần về thuyền của chàng. Người trên thuyền ấy hẳn là đến tìm chàng rồi. Biết được tung tích của chàng giữa màn sương chắc chắn chỉ có thể là Nguyễn Khản. Nguyễn Khản là tri kỷ của chàng, đương nhiên biết rằng khi chàng thả thuyền trôi dạt trên hồ trong sương tức là chàng không muốn tiếp ai, tại sao còn đến tận đây thế này.
Qủa nhiên đó là thuyền của Khản. Nhưng trên thuyền không chỉ có mình Khản, còn có khách quý. Khách là một chàng thanh niên mắt phượng mày ngài, dung mạo đường đường. Chàng thanh niên đứng ở mui thuyền, lên tiếng dõng dạc:
- Thân tại ngự khuyết mà tâm lại tiêu dao ngoài vòng trời đất… Đó liệu là phúc hay là họa?
Tiếng Nguyễn Khản vọng trong sương:
- Cụ hành khiển Nguyễn Trãi chẳng phải gặp họa bởi tâm tại ngự khuyết mà thân ở chốn giang hồ sao? Nên phúc họa không lường được!
Thiều cười một mình. Chàng đã nhận ra người khách đứng cạnh Khản ở mui thuyền chính là thái tử Duy Vỹ. Thiều không hành lễ, chỉ thong thả nói:
- Sương giăng mờ quá… tôi không biết ai là hoàng tử, ai là đại thần, ai là thầy, ai là trò nữa cả…
Nguyễn Khản và thái tử Duy Vĩ đứng nghe câu đáp của Thiều, không khỏi thấy vừa buồn cười vừa thú vị. Thiều từ lâu nổi danh là vị công tử hào hoa bậc nhất kinh thành, tài học thâm sâu không thể lường hết, vẫn tự cho mình là cao quý. Nhưng dám tự đắc đến mức không hành lễ với thái tử thì cả đất Việt này có lẽ chỉ mình Thiều thôi. Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm dù xấc xược nhưng cũng không cao ngạo được đến thế.
Thái tử Duy Vỹ một lòng cầu nhân tài, nên không trách cứ Thiều. Thái tử ngày thường vẫn tâm đắc sách “Lã lãm”, hiểu rằng lễ đối đãi với hiền nhân không thể giống với hạng quan lại phàm phu tục tử, nên không những không oán trách Thiều mà còn tỏ ra trọng vọng. Đáng lý theo lễ ấy, kẻ muốn cầu người như thái tử phải vái lạy nài nỉ, nhưng nhìn phong thái nhàn nhã của Thiều, chàng lại không thể hành xử như vậy. Chiêm ngưỡng bức “Tống sơn đồ” của Thiều, thái tử càng thêm phần nể phục. Không phải nể phục tài năng điêu luyện của Thiều mà là tâm cơ sâu rộng được thể hiện trong bức tranh. Vua Cảnh Hưng, phụ hoàng của Duy Vỹ không hiểu được cái tài của Thiều nhưng Duy Vỹ thì hiểu.
Bức tranh “Tống sơn đồ” vẽ núi non của đất Tống, nhưng thực ra chính là dãy Tần Lĩnh hiểm trở. Dãy Tần Lĩnh là mạch nguồn phong thủy của biết bao triều đại phương bắc. Đâu phải vô cớ Thiều đưa dãy núi này vào tranh. Nhìn thế sông núi trong tranh thấy rõ dáng rồng uốn lượn. Qua nét vẽ của Thiều, khí núi sông ngùn ngụt khiến Duy Vỹ không kiềm được ý chí muốn thay đổi giang sơn Đại Việt. Sau khi Thiều ra về, Duy Vỹ đã đứng ngắm cả buổi bức tranh, ngẫm nghĩ về cơ đồ của nhà Lê. Nhà Lê từ Lam Sơn dấy nghĩa, hào khí ngút trời. Ấy vậy mà, giờ đây cơ đồ đổ nát, phải nương tựa vào họ Trịnh để giữ thân phận bù nhìn. Tình thế ấy, thái tử không cam tâm. Ngay đêm, thái tử đến phủ của Nguyễn Khản, ép Nguyễn Khản dẫn đi tìm gặp Thiều.
Sương mỗi lúc một dày. Chỉ có ánh sáng lập lòe nhàn nhạt của đèn lồng ở hai chiếc thuyền. Họ đã cùng nhau ngồi đàm đạo. Trên thuyền của Thiều chỉ còn vò rượu sen đã cạn phân nửa, nhưng hương thơm ngào ngạt. Tại đây không ai còn quan tâm đến lễ nghĩa, mà chỉ còn sương và chính sự. Khản nói:
- Sâm là kẻ tham lam. Từ trước hắn đã có ý coi thường thái tử, trong lòng chắc hẳn nuôi chí phản nghịch. Nhưng hắn là kẻ võ biền, không hiểu lẽ văn trị, nên cũng chẳng làm nên trò trống gì đâu! Lòng tham của hắn lại vô đáy! Cơ đồ họ Trịnh rồi cũng sụp đổ trong tay hắn mà thôi…
Thiều tiếp lời:
- Hạ bệ Sâm không phải là khó! Giờ đang lúc loạn lạc, các thế lực đều phân tán. Sâm cũng khó lòng thâu tóm hết được quân lực. Thân tín của phủ chúa là Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc. Nhưng Việp quận công cũng nuôi lòng phản chủ, muốn tiêu diệt họ Trịnh để thay thế vị trí dưới một người mà trên muôn vạn người. Sâm vẫn có ý nghi ngại họ Hoàng. Bao nhiêu năm nay, sấm truyền liên quan đến họ Hoàng sẽ thay thế họ Trịnh đã lan truyền khắp kinh thành, Sâm không thể không đề phòng!
Duy Vỹ cười ý nhị:
- Thời buổi loạn lạc, lòng người ly tán, chỉ vài câu nói là có thể đủ khiến rối loạn nhân tâm. Sấm là gì? Chính là nhắc đi nhắc lại một điều cho đến khi nó thành sự thật!
Thiều kinh ngạc nhìn Duy Vỹ. Thiều vẫn nghe Khản kể rằng thái tử Duy Vỹ là người thông hiểu thuật số và dịch lý, nay thái tử lại có lời nói như vậy, trong lòng Thiều không thể không nghi ngại rằng chính thái tử là người đứng sau những lời sấm ấy. Có điều, thái tử đã không muốn nhận thì chàng cũng thấy không cần thiết phải hỏi dồn ép.
- Ở đất Việt ta, hiểm yếu nhất là phía đông bắc, vững chắc nhất là phía tây bắc, hỗn loạn nhất chính là phía nam. Dù là quân Thanh đánh xuống hay phía nam đánh lên, thì đông bắc không phải là nơi có thể nương tựa. – Khản luận bàn – Muốn chống lại họ Trịnh, gây dựng cơ đồ lâu dài thì phải tựa vào phía tây, ngồi trên núi cao mà bình định thiên hạ. Vùng đông bắc bấy lâu nay quan lại đều là kẻ dùng tiền và quyền mà chiếm được vị thế. Cứ để lâu dài như vậy thì cơ mất nước đến gần. Chúng ta cần tìm cách thay thế đám quan lại ấy.
- Có thể qua thi cử tuyển chọn từ đám hàn nho được chăng? – Thái tử nói.
- Tuyệt đối không được! – Thiều ngắt lời – Như vậy quá lộ liễu. Quan giám khảo trường thi trước giờ chẳng phải là người của Tĩnh Đô Vương ư? Cứ cho là thần hay thầy Nguyễn Khản có thể làm giám khảo, nhưng người chúng ta chọn được chắc chắn sẽ bị Sâm tiêu diệt. Đó là còn chưa kể từ thời vua Chiêu Tông, khoa cử nước ta kém cỏi. Người đi thi muốn đỗ cao chỉ cần học thuộc tứ thư ngũ kinh và tránh các lỗi phạm húy, như vậy không thể tìm được người có thực tài.
- Đúng vậy! – Khản nói thêm vào – Việc khoa cử quả thực quá dễ dãi. Hơn nữa đám hàn nho học sĩ trong lòng chỉ biết đến thăng quan tiến chức, không có hoài bão, không có tâm tư, chỉ biết nói mà không biết làm. Dùng vào việc tung lời đồn thì được chứ dùng để thay đổi cục diện, trấn giữ các vùng trọng yếu thì không làm được!
Nguyễn Khản không giống Nguyễn Gia Thiều, chàng đi lên bằng con đường khoa cử. Ở làng Tiên Điền, chàng nổi tiếng học giỏi. Chưa đỗ đạt cao, chàng đã được mời giảng dạy ở vương phủ khi còn rất trẻ. Tiến sĩ là cái chức danh mà chàng muốn lấy thì lấy, như lấy đồ ở trong túi ra vậy, thế nên thực trạng của khoa cử, chàng hiểu rõ hơn ai hết. Nhận định của Thiều chính hợp ý chàng. Thái tử Duy Vỹ băn khoăn:
- Vậy làm sao để có được nhân tài?
Thiều mỉm cười vung tay cao:
- Thái tử nhìn xem, thiên hạ rộng lớn bao la như vậy, thái tử là người cai trị cả thiên hạ, tại sao phải trói mình vào lẽ khoa cử?
Khản vỗ đùi ha hả:
- Con vẫn không bỏ được cái thói vòng vo! Mọi sự tốt hơn hết cứ là nên nói thẳng! Ý của Thiều muốn tâu với thái tử đó là để cai trị một quốc gia, không phải chỉ dựa vào lý lẽ của Nho gia. Mở mang bờ cõi, phát triển nông nghiệp, thương nghiệp, thủ công nghiệp… rồi đến bang giao với sứ thần… tất cả đều cần đến cái tài riêng. Người thi đỗ cao trong các cuộc thi hiện nay chưa chắc đã biết cách mở mang bờ cõi, biết quản lý các phường nghề, biết giao tiếp với sứ thần… Thế nên, nếu tìm nhân tài qua khoa cử thì quá hạn hẹp, quá thiển cận.
Duy Vỹ gật gù:
- Rất có lý! Nhưng làm sao để họ về giúp cho ta mà không khiến cho Sâm nghi ngờ?
- Việc ấy không khó! Thái tử không nên mở lời chiêu mộ, người thực tài không thích biểu hiện qua lời nói, họ sẽ có cách biểu hiện qua công trình của mình. Thái tử nếu thay vì săn tìm nhân tài, chuyển sang thưởng cho những thương nhân, những thế tộc, những chúa mường, những phường chủ của các làng nghề… thì lòng họ sẽ quy thuận về với thái tử. Thông qua đó, thái tử dần dần mở rộng thế lực.
Thái tử giờ đã hiểu tại sao mình lại bị thu hút bởi bức tranh của Thiều đến thế. Thiều lại tiếp lời:
- Để phục vụ xây vương phủ và phủ của các đại thần, thần đã đưa năm làng đúc đồng ở quê thần ra dựng nghiệp gần đây. Bên ngoài là để đúc tượng, đúc chuông, nhưng khi cần có thể đúc vũ khí, thợ đúc toàn trai tráng sức khỏe hơn người, cũng đã được thần ngấm ngầm huấn luyện.
Việc làm này của Thiều đến giờ Khản mới biết. Khản vẫn biết Thiều thông minh xuất chúng nhưng lại không thể ngờ rằng Thiều tâm cơ như thế. Dường như ở Thiều có hai thái cực, một thái cực rất quyền biến, một thái cực lại có phần chán nản thế sự. Thật khó có thể nói được trong hai thái cực ấy, đâu mới thực là Nguyễn Gia Thiều.
Lúc này đã hết canh ba. Đã đến lúc phải từ biệt. Ba chàng cúi chào nhau. Hai chiếc thuyền rẽ theo hai hướng khác nhau rồi chìm vào màn sương.
Lòng Thiều vẫn không yên. Chàng vẫn lo lắng cho thái tử Duy Vỹ nhưng không thể nói ra. Thái tử mạo danh sấm truyền trong dân gian để ly gián Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm và Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc, quả là diệu kế. Nhưng biết cơ trời mà lại mạo cơ trời, e rằng nghiệp quả của thái tử sẽ nặng, chỉ e đại nghiệp vì thế chẳng thành.