Thiên Nga đọc hết quyển truyện thì đồng hồ nhà láng giềng cũng vừa gõ năm tiếng. Quyển sách đã làm cho nàng thức suốt đêm, trước mặt nàng hình như những cảnh những nhân vật đang nhảy múa. Một tiếng thở dài mà Thiên Nga không tự kiềm chế đã thoát từ trong tâm hồn người đàn bà nhiều tình cảm.
Georges dặn nàng đọc xong phải nói ý kiến, có lẽ cái tiếng thở dài vừa buông ra ấy đã quá đủ rồi chăng? Quyển truyện La Seconde Chance này như nối ý với quyển 25è Heure mà tác giả đã vạch ra tất cả cái khổ của người dân Do Thái trong cuộc chiến tranh thứ hai. Bị tầm nã, bị tra tấn, bị đuổi, bị đánh bị giết, tất cả mọi sự chịu đựng tất cả mọi sự thiếu thốn vô nhân đạo để làm gì ? Để thỏa thích cái ý muốn ma quái của một vài nhân vật. Quyển La Seconde Chance nối tiếp với quyển trên, tác giả nói lên những nỗi khổ của người dân những nước bị sửa biên giới. Những kẻ không được trở về với quê hương mà phải vì đi tìm một chỗ để chân trên mặt đất. Nhân vật chính trong truyện cho đến chết vẫn còn đặt tin tưởng vào chủ nghĩa của mình đã phụng thờ. Boris Bodnar vẫn đinh ninh rằng nếu thượng cấp xua đuổi mình là vì thượng cấp không biết rõ mình chính là con người mà thượng cấp đã giao cho những công tác như thế… Sau bao nhiêu lần tìm về đều bị tù đày hắt hủi. Boris sống ở trên núi cùng với những người dân Roumains khác cũng đi trốn cái chính sách Cộng sản. Lúc đoàn quân Đồng minh đi tìm người về, thấy những chiếc xe tanks những bộ quân phục mà ngỡ rằng của quân đội Nga, anh chàng đưa tay lên hoan hô « vive la force soviétique » nhưng khi nhìn kỹ lại qua dòng nước mắt mới thấy tất cả các thứ khí giới đều có chữ «made in U.S.A »… Thiên Nga cũng không hiểu tại sao Georges lại trao cho nàng quyển truyện ấy, có phải vì sợ Thiên Nga sẽ hối hận vì cái cảm tình của George, và nàng đã dành cho nhau ? hay muốn nàng thấy rõ thêm rằng đời còn có rất nhiều ngang trái mà vấn đề biên giới, vấn đề chủng tộc vẫn là những bài tính chưa giải quyết? Hay vì thấy Thiên Nga thường tỏ ra dè dặt,với người quân nhân nên chàng đã muốn cho nàng hiểu rằng mình không phải như nàng lầm tưởng?
Nàng nhớ trong câu chuyện Georges có nói lên một ý mà nàng vẫn nghĩ : « loài người sinh ra chỉ biết làm khổ nhau chứ chưa thấy làm được gì hơn.»
Có phải vì những lý do ấy hay còn gì nữa… Sau hôm gặp gỡ và sau buổi ăn đầu tiên không theo lối Nga hoàng mà cũng chẳng theo lối Staline, Georges bảo thế vì chàng rất thích thú ở chỗ cả hai người cùng mất thì giờ học Nga ngữ mà chẳng mấy khi có dịp dùng.
Họ đã dùng một bữa cơm thuần túy Việt Nam có cá kho có dưa giá thịt luộc với rau sống khế và chuối non chát, nhiều thứ Georges chưa hề ăn qua nhưng cũng vui vẻ nếm hết. Trước hôm Thiên Nga đến, Georges đã căn dặn chị Ba cố gắng làm sao cho chàng khỏi bị chê.
Sau hôm ấy Thiên Nga mới chịu nhận rằng cảm tình không có biên giới, trước kia nàng vẫn thường cãi nhau với các bạn để bảo vệ những lý luận của mình, nếu không cùng một giai cấp là đã khó hiểu nhau rồi đừng nói đến sự khác nòi giống. Hôm nay nhận thấy lập luận của mình hơi bị lung lạc, nàng hiểu thêm tâm hồn Georges qua quyển sách, qua hai buổi nói chuyện quên giờ giấc. Lần đầu tiên mà con người trọng kỷ luật và trọng giờ giấc ấy chịu điện thoại lên phòng tham mưu bảo rằng chàng sẽ đến muộn.
Tâm hồn Thiên Nga hoang mang, cảnh tượng bữa ăn hôm ấy diễn lại trong đầu óc.
– Cô có biết một nước nào có câu tục ngữ : «Muốn làm bạn với ai thì trước hết phải ăn với người ấy một thìa muối » không ?
Nói xong Georges tinh nghịch lấy bình muối đồ đầy một thìa đưa cho Thiên Nga bảo rằng để đốt giai đoạn. Các ông “Lords” đặt ra câu ấy chắc thế vì họ có nhiều thì giờ đi ăn với các “Ladies” , còn chúng mình ở trong thời kỳ chiến tranh, chờ cho ăn hết một thìa muối này thì không biết đến bao giờ mới có thể thành bạn của nhau.
Thiên Nga không đồng ý nàng cho rằng như thế là gian, cái gì cũng phải có yếu tố năm tháng vào mới có giá trị.
Họ vừa ăn vừa cãi nhau đủ thứ chuyện, Thiên Nga kể cho Georges nghe một vài chi tiết về cuộc sống hiện tại, một vài ý nghĩ ngông cuồng của nàng. Thỉnh thoảng khi nàng quay nhìn một vật gì, ánh đèn ngời qua mắt làm Georges cảm thấy lạnh mình. Chàng như tìm gặp trong ánh mắt những nét dã man mọi rợ, những ý liều lĩnh khinh bạc, Georges cười thầm với ý nghĩ của mình, hẳn tổ tiên nàng là con cháu của Thành Cát Tư Hãn.
– Thiếu tá cười gì thế ?
– Đôi mắt của Thiên Nga, tôi muốn biết Thiên Nga có lai Mông Cổ không ?
– Lai thì sao ?
– Chẳng sao cả. Tôi muốn nhớ những trang sử xưa khi nói đến quân Mông Cổ, tràn sang Âu…
– Tôi biết Thiếu Tá muốn nói cái gì, các bạn ở trường cũng hay bảo thế mỗi khi họ nghe giảng về Démographie historique et comparée ông thầy già gào lên rằng học trò không biết lo, chỉ độ 20 năm nữa với sức sinh sản của dân tộc Á đông thì rồi thế giới sẽ nhuộm vàng hết, trong khi người Âu càng ngày muốn hạn chế sự sinh sản. Nghe ông thầy nói đến đấy là y như cả lớp quay lại nhìn tôi bằng đôi mắt lo sợ. Thiếu tá có sợ không ?
– Không sợ.
Câu chuyện quay sang những phong tục tập quán của hai nước. Georges bảo rằng ở quê chàng mọi người đều kính trọng cái bánh mì và phần việc cắt bánh mỗi bữa ăn vẫn chỉ để dành cho người cha hay đứa con trai lớn. Đấy là một cái vinh dự cho người ấy, vì thế năm lên bảy lên tám, Georges chỉ cầu mong sao cho chóng lớn để được cắt bánh mì. Cha chàng thường răn dạy các con không được phung phí, đừng có cái thói ăn vỏ bỏ ruột hoặc lấy ruột bánh mì mà viên từng viên trong tay vứt đầy bàn như những cô gái nhõng nhẽo và yếu thần kinh.
Thiên Nga cười vang, nàng hơi ngượng vì mình là dân Á đông không lấy bánh mì làm thức ăn chính, nên nhiều người hay có cái chứng viên ruột bánh mì như thế. May quá nàng chưa đến Corse bao giờ, nếu không chắc sẽ bị mời ra khỏi đảo.
Sau bữa cơm, thời gian không quá một tiếng đồng hồ mà cả Georges và Thiên Nga cùng chung một ý nghĩ như đã là bạn của nhau từ lâu lắm.
Thiên Nga bớt dè dặt, nàng tìm lại được sự tự nhiên như thuở còn đi học, Georges thì tuy thân mật hơn nhưng có những cảm giác trái ngược đang dành nhau đến xâm chiếm lấy trí óc. Georges vừa thấy vui sướng nhưng cũng vừa lo ngại. Hình ảnh Monique trong bộ áo đỏ, trong chiếc xe đỏ, với mái tóc màu bạch kim đang hiện ra trước mắt, tươi cười thỏa mãn vì ý muốn của mình đã thực hiện được.
Hình ảnh ấy từ mấy tháng nay và nhất là từ độ gặp Thiên Nga sao không còn làm cho chàng đau xót nữa, hay là chàng đã hết yêu Monique rồi ? Có thể như thế được không, một mối tình to lớn, xây bằng bao nhiêu đau khổ bao nhiêu hy sinh. Ngày xưa hồi Monique còn ốm, Georges đang ở Congo, có một bận chàng bị mời đi dự tiệc ở một tòa Lãnh Sự trong lúc nhảy cô gái con của một ông Lãnh Sự bảo thầm thì với chàng « anh hãy hôn tôi đi » Mặc dầu lúc ấy đèn tắt thế mà Georges đã từ chối bảo rằng mình có vợ rồi nên không muốn làm khổ vợ đang ở xa. Độ ấy chàng rất kiêu hãnh thấy mình đã cứng rắn được như thế. Cố nhiên, cách mấy ngày sau chàng nổi tiếng là đại ngốc, nhưng Georges vẫn không cần, chàng không cần luôn cả những cuộc mời mọc khác và cô gái ấy mỗi khi thấy chàng là vội vã bĩu môi quay lưng như sợ chàng mang vi trùng dịch tả đến.
Thế mà sao bây giờ đứng trước Thiên Nga chàng lại quá mềm yếu. Thiên Nga có gì khác với cô gái con ông Lãnh Sự ngày xưa? Thiên Nga người con gái có đôi mắt Mông Cổ, ngoài ra còn gì nữa đâu…Lạ lùng hơn nữa là lần nầy không phải lần thứ nhất chàng gặp một người đàn bà Á đông, chàng đã có dịp gặp những cô gái Nhật, cô gái Hương cảng. Cô nào cũng xinh, cô nào cũng duyên dáng, thế mà sau khi ra về là hết, không cô nào được cái hân hạnh ở lại trong tâm trí Georges quá một tiếng đồng hồ. Đối với Thiên Nga, Georges phải thú thật rằng Thiên Nga đã làm đảo lộn tất cả những nguyên tắc, những kỷ luật của chàng vẫn buộc cho mình để giữ lấy mình, ngay từ hôm gặp ở nhà Maurice, có phải tại người con gái ấy đã đến đúng lúc chăng ?
Ngoài sân gió thổi nhẹ làm đưa đẩy mấy cành lá chuối reo lên một âm thanh đặc biệt, chỉ có ở những xứ nào có cây chuối mới nghe cái thứ tiếng gió ấy, nó phần phật có lúc nghe như tiếng sóng hồ vỗ nhè nhẹ, có lúc nghe như tiếng thầm thì của một giống ma quái xa xôi. Georges vẫn đang bị dày vò vì hai thứ tình cảm đang vật lộn trong lòng, thỉnh thoảng nhìn đến Thiên Nga không thấy nàng nhìn lại, Thiên Nga cũng như đang suy nghĩ một chuyện gì. Nàng ngả đầu ra ghế hai tay vòng lên ngực.
Trời sắp mưa.
Giọng Thiên Nga như từ xa vọng về, làm Georges hơi giật mình lạ lùng, hơn nữa là trong giọng nói có gì nhắc đến giọng nói của Monique mấy hôm đầu mới quen với Georges.
– Thiên Nga có sợ mưa không ?
– Sợ thì không sợ nhưng mưa hay mang về cho người những cảm giác bơ vơ, hình như vì gió …
Thiên Nga nói chưa hết lời thì Georges như bị một sức điện gì chạy qua người, chàng đứng vội lên rồi bước nhanh đến ngồi cạnh tay ghế dựa của Thiên Nga. Không xin phép, chàng từ từ nắm lấy bàn tay người thiếu nữ. Thiên Nga nhè nhẹ cố tìm cách gỡ ra, nhưng bị bàn tay của Georges bóp chặt hơn.
Cả hai cùng cảm động không biết nói gì, một lúc sau Georges mới lên tiếng hỏi.
– Em có mệt không ?
Thiên Nga không trả lời câu hỏi mà chỉ ngước lên khẽ nhìn Georges :
– Chúng ta cách xa nhau nhiều quá, chiến tranh, nòi giống, văn hóa… dư luận …
– Tại sao Thiên Nga chỉ sống vì những cái gì ở bên ngoài mà không chịu sống thử cho mình một lúc nào đó….
Thiên Nga nhăn mặt hơi có vẻ trách móc, cả hai cùng mỉm cười không tìm hiểu lý do. Georges cúi sát vào tai người bạn gái nói rất khẽ bằng tiếng Nga :
– Ia Iloubio vas…
– Anh còn đủ trí nhớ để nói thứ tiếng ấy ?
– Anh muốn tỏ cho Thiên Nga biết rằng anh không hành động vì một phút mù quáng …
– Anh không cần giảng em hiểu rồi, nhưng anh đã biết gì về em ?
– Anh không cần gì hết, chỉ cần biết một chuyện thôi, em là của anh, chúng ta quen nhau từ kiếp trước; thế không đủ sao ?
– Em chỉ là một đứa con bỏ rơi ngoài chợ được viện mồ côi nhặt về, năm lên sáu được một gia đình giàu mà không con mang về làm con nuôi. Mặc dầu mới sáu tuổi em vẫn còn nhớ rõ những gì xảy ra, không bị cái chứng lãng quên, như Freud đã gán cho cái tuổi ấy. Nếu khi nào anh muốn tìm hiểu cái cảm giác đó thì anh cứ việc đến những nơi người ta bán súc vật nhất là chó và mèo mà xem. Nói thế chứ em phải công nhận rằng em đã mang ơn bố mẹ nuôi của em rất nhiều, nhờ lòng tốt của bố mẹ em nên bây giờ em mới tự có thể làm việc và tự nuôi lấy thân. Mặc dầu các bà con hai bên gia đình rất lo sợ em lớn lên ăn hết gia tài thì các con họ không được hưởng, nên họ luôn luôn xúi giục bố mẹ em gả đi lấy chồng càng sớm càng hay.
Năm em vừa lên mười sáu tuổi thì trong nước có cuộc cách mạng, đọc báo chí chắc anh cũng đã theo dõi được tình hình hồi ấy. Cuộc cách mạng nào cũng phải có những sự tù đày giết chóc mới đúng lề lối, vì thế nên cha mẹ em được liệt vào hàng ngũ phản dân tộc, buôn bán cho Pháp, làm giàu trên mồ hôi nước mắt của người dân và cha em phải bị bắt để đền tội, tài sản tịch thu. Mẹ em thất vọng vào ngụ ở chùa, còn lại một mình em không biết làm gì ; em đi theo đoàn nữ thanh niên vì nếu không đi theo họ thì chẳng biết đi theo ai.
Nhờ đi vào đấy em đã học thêm được rất nhiều mà ở trường và ở trong nhà với bố mẹ nuôi em không hề biết đến, em học tìm lý tưởng học yêu tổ quốc và học căm hờn. Sau đó thì cuộc chiến tranh bùng nổ, giữa hai nước Pháp – Việt.
Nhận thấy em có nhiều khả năng nên em được người ta gửi vào hoạt động vùng tạm chiếm. Vào đấy em bắt đầu liên lạc với gia đình, ba em trốn thoát nên khỏi tù, nhưng gia đình em xuống một cách thảm hại, cha mẹ em sống trong gian nhà bé nhỏ chỉ đáng làm gian nhà bếp. Hình như đời mỗi người chỉ được một thời thịnh, thời của cha mẹ em đã hết nên ở tù ra trời còn bắt mang bệnh tê liệt, hết cả hoạt động buôn bán chỉ nằm một góc. Trước sự đói rách ấy em không thể làm gì hơn là xin đi làm thư ký đánh máy cho một hãng buôn để kiếm tiền giúp gia đình gọi là trả chút hiếu.
Mỗi ngày một mệnh lệnh của thượng cấp đưa về bảo em làm việc này việc khác, anh thử đặt vào địa vị em rồi anh sẽ làm sao, còn khổ hơn con cá nằm trên thớt, không biết lúc nào bị cắt đầu móc mang. Một hôm người thông tin về bị bắt. Xét tài liệu có tên em và địa chỉ nhà em, thế là hai cha con cõng nhau vào tù. Em làm sao quên được những cái nhìn trách móc của những người thân, suốt mấy tháng cực khổ tra tấn, em không bao giờ thấy khổ bằng lúc nghĩ đến cái nhìn của cha mẹ em trao cho em.
Cũng may là chúng thấy cha mẹ em bệnh hoạn nên thả ra. Em khỏi phải cần tả lại cho anh nghe những ngày tù đày vì nhà tù nào cũng giống nhau kém hơn nhau một tí thôi, chắc anh đã đoán hiểu, nhất là đối với một đứa con gái.
May phúc cho em, cha mẹ em biết rằng em oan nên đã cố sức chạy xin cho em ra, thế là em mang ơn thêm một lần nữa, lần này cũng nặng nề không kém lần trước khi người đưa cho em rời khỏi viện mồ côi.
♣
-Thiên Nga vào cha gọiThiên Nga ngước lên nhìn mẹ hơi ngạc nhiên, tại sao giọng mẹ khác hẳn mọi hôm, có gì nghiêm trọng quá, làm nàng hơi lo ngại. Sống trong bầu không khí nặng nề ảnh hưởng của chiến tranh nên con người không ngừng sợ sệt. Một tiếng động khác thường, một giọng nói lạ đều làm cho Thiên Nga nghĩ đến chuyện rủi ro gì sắp xảy đến.
Thiên Nga lặng lẽ xếp sách đi qua phòng cha, nàng cố chậm bước để kéo dài thời gian mặc dầu chưa biết cha sẽ nói gì với mình. Từ hôm ở tù ra nàng còn yếu nên cha mẹ không cho nàng đi làm việc. Thiên Nga muốn học thêm trong ngành bào chế, nhân có một hiệu thuốc quen của mẹ nàng bằng lòng cho nàng vào giúp việc và tập dượt luôn thể.
– Thiên Nga con có biết mấy năm nay cha và mẹ con khổ đến bực nào không ? Con hãy nhìn cái đầu tóc của mẹ con và cái thân hình bệnh hoạn của cha thì đủ hiểu, nhưng đấy chỉ là phần vật chất còn phần tinh thần thôi khỏi cần nói đến. Nhà ta bây giờ càng ngày càng trầm trệ, bao nhiêu tiền bỏ ra mua gỗ đều bị mất vì không chở về được ; nợ dồn dập mà cha bị nằm một chỗ, rồi con trở về, con bị bắt…
Nói đến đây người cha nàng ngừng vì nghẹn lời hay vì muốn cho Thiên Nga có đủ thì giờ để hồi tưởng lại cái cảnh tù đày của nàng. Đưa tay lên chùi mặt ông cụ nói tiếp:
– Bây giờ sức cha đã kiệt, nợ vẫn không trả nổi, cha mẹ không có con cái, chỉ có mình con. Chung quanh bà con đều quay lưng vì sợ liên lụy hoặc sợ phải giúp đỡ, chỉ mình con lúc này có thể cứu cha
– Cha muốn con phải làm gì, cha cứ bảo nếu sức con có thể…
Thiên Nga chưa nói hết câu thì người cha đã vui mừng cắt ngang, ông cụ ngờ rằng cô con gái đã thông minh đoán biết.
– Có người muốn xin con làm…
Thiên Nga cắn môi để trấn tĩnh, nàng không chờ đợi một câu chuyện quan trọng đến thế.
– Cha không ép con đâu, tùy ý con, người y hẹn nếu con bằng lòng thì sẽ giúp cho cha bồi thường chiến tranh…
Thiên Nga im lặng, nàng không cần phải hỏi tên ai… Cái thằng đàn ông mà cha chỉ dùng chữ xin chứ không cưới tức là thằng ấy hẳn phải có vợ rồi. Một thằng mà có thể giúp cha đòi được tiền bồi thường chiến tranh tất nhiên phải là một thằng Việt gian hạng nặng mới có đủ uy quyền mà làm những công việc ấy. Hơn nữa phải là một thằng Việt gian mới dám xin nàng là một cô gái đã can án, đã bị ở tù vì tội liên lạc với địch. Không cần phải tìm biết nó là ai cũng hiểu biết rằng đấy phải là một thằng đàn ông có uy quyền và ác độc. Nếu không độc ác, nếu thấy việc đáng làm có thể làm được, có thể giúp đỡ một gia đình, sao lại không làm mà phải mặc cả, phải đòi đứa con gái ra làm vật hy sinh…
– Con về ngủ… Ba để tùy con định liệu… Ba không ép.
Thiên Nga lặng lẽ bước về phòng mình; đầu óc rối bời, không biết tìm cách nào để giải quyết. Bên ngoài trời bắt đầu mưa, những hạt mưa gõ nhịp xuống mấy cái chậu để sẵn chờ hứng nước, Thiên Nga vẫn mở cửa sổ đứng nhìn ra ngoài, mặc cho mưa tạt vào phòng ướt cả tóc cả áo. Hình như trong con người có một cơ quan nào ngừng hoạt động, một cái gì đang tê liệt, đang bế tắc. Giá có ai cầm kim chích vào cánh tay hay lấy lưỡi dao rạch vào thịt chắc nàng cũng sẽ không biết đau. Trời vẫn mưa, sao hôm nay trời mưa nhiều quá, hay trời đang buồn giùm cho một người.
Một cái chớp sáng lòe lên không gian như lưỡi gươm tung lên của tên đao phủ làm Thiên Nga rùng mình nhưng vẫn không chịu đóng cửa quay vào. Một cuộc đời chết hay một cái đầu rơi, khác nhau là mấy…
Biết rằng vào giường cũng không thể nào ngủ được. Nàng muốn đứng nhìn trời sáng thử xem có tìm ra được một giải pháp nào chăng. Làm sao để cứu giúp được cha mẹ mà không bị chôn vùi cuộc đời, giải pháp gì bây giờ ? Thiên Nga không buồn mà cũng không oán cha mẹ, nàng chỉ oán cuộc chiến tranh. Nếu không có chiến tranh, nếu không có chiến tranh thì cuộc đời của nàng và của bao nhiêu gia đình khác đâu có phải chịu những sự điêu linh như thế. Nếu không có chiến tranh thì cuộc đời của Thiên Nga như đã được vạch ra sẵn, lớn lên học hành xong, gặp một người chồng vừa ý, sống một cuộc đời hạnh phúc.
Trời ngừng mưa, không biết mấy giờ, một mảnh trăng khỏa mây tươi tỉnh hiện ra như nụ cười trong đêm tối, một vài tiếng gà gáy vang lại từ xa, Thiên Nga vẫn đứng ở cửa tiếp tục suy nghĩ.
Có cách gì để nhân 1oại bớt tham lam, để chấm dứt chiến tranh không ? có phải vì thừa nhân khẩu, như những nhà xã hội học nói không? Nếu sự sinh sản được hạn chế công khai thì liệu có làm cho giảm bớt sự cần thiết trong công việc đi tranh dành đất đai, thức ăn không ?
Có cách gì để cho những nhà lãnh tụ của mỗi nước bớt nghĩ đến chuyện đi tìm ảnh hưởng kinh tế chính trị ? Bao giờ cho người ta bớt lo mở mang những kỹ nghệ chiến tranh để nâng đỡ đến những kỹ nghệ hòa bình chứ cứ còn mải lo đúc gươm súng, bom đạn thì rồi cứ phải tìm cách tiêu thụ ? Còn gì buồn cho một lưỡi gươm chưa được dính máu; một khẩu súng chưa thơm mùi khói thuốc súng.
Mải để cho những ý nghĩ vơ vẩn ấy chen lấn dằng co trong đầu óc, Thiên Nga quên cả sự đi tìm một giải pháp, ngày mai làm sao trả lời với cha. Người cha đã hai lần cứu sống, đã cho mình một cuộc đời đầy đủ từ nhỏ ?
Trời sáng dần, một vài nét vạch dài màu vàng nhạt vẽ lên không gian qua màn mây tối, những nét vàng ấy cứ mỗi lúc một đậm thêm và loang rộng ra, mây cũng đổi màu. Những tiếng chim ríu rít gọi nhau đi tìm ăn vui vẻ như không hề biết khổ, như đã quên hết cảnh mưa gió vừa qua.
Thiên Nga thèm muốn sống địa vị những bầy chim vô tư ấy. Giá con người cũng được như thế, chỉ cần một đôi cánh, một giọng ca vẫn có thể sống được dưới bầu trời cao rộng. Tìm đến những chỗ nào mình thích, khi nào buồn thì ca lên cho muôn loài cùng nghe có phải dễ dàng biết mấy.
♣
– Sao cô biết tôi là một thằng Việt gian mà cô dám lấy, cô không sợ bị đoàn thể phê bình sao?– Đánh bạc với trời.
Thiên Nga lạnh lùng trả lời, từ hôm nàng nhất định làm vui lòng cha mẹ, Thiên Nga vẫn tự cho như đấy chỉ là một canh bạc, không hơn không kém. Nhìn gia đình vui vẻ, cha nàng như tìm lại được sức khỏe, mẹ nàng cũng sung sướng hiện ra mặt, thay với cái nhìn oán hận hôm xưa bây giờ nàng lại hay gặp được những cái nhìn biết ơn, âu yếm. Thiên Nga bớt thấy khổ, ít nhất nàng đã làm được một việc có ích trong cuộc đời. Bao nhiêu người sinh ra từ bé đến lớn đến già, khi ngồi tính toán lại, nếu họ lương thiện không thiên vị thì họ sẽ thấy rằng suốt trong từng ấy năm trời họ chưa làm gì có thể gọi là có nghĩa lý. Họ sống, ăn mặc, đi học, thi cử, có địa vị trong xã hội, lấy vợ, lấy chồng, đẻ con, đi làm mỗi ngày hai buổi rồi hết. Không nói đến những hành động vô duyên và có khi ác hại, chưa nói đến những vấn đề giết người cướp của, đoạt vợ đoạt chồng của kẻ khác… Đấy không là một an ủi lớn cho Thiên Nga rồi sao, sức khỏe tìm lại được của người cha, nụ cười biết ơn của người mẹ ?
– Cô là một cán bộ địch vận phải không, ở ngoài chúng nó nghe cô lấy tôi chắc chúng nó mừng lắm vì tin rằng chúng nó sẽ vận được tôi.
Hắn cười lên khoái chí sau câu nói của mình tự cho rằng thông minh và duyên dáng lắm. Thấy Thiên Nga ngồi yên không trả lời, hắn đến bên nàng vỗ vai thân mật nói tiếp:
– Cán bộ gì mà không biết ăn nói, thế mà đòi vận ai? Chắc chúng nó chửi tôi lắm nhỉ, nhưng chúng nó lầm cả! Chính tôi mới là người yêu nước, cô thấy ai có tinh thần cách mạng như tôi chưa? Những người khác vào địa vị tôi thì sợ sệt lo lắng; chẳng đứa nào dám làm gì cả. Đời có bao nhiêu 1âu, ở đấy mà lo sợ với giữ gìn, thích gì thì cứ làm, thèm gì thì cứ thỏa mãn. Phải không cô, chắc cô cũng đồng ý với tôi chứ ?
Thiên Nga nghe nói mà trí nghĩ mải đi về đâu, nàng không cần biết hắn thế nào, quá khứ của hắn, tương lai của hắn, tất cả đối với nàng đều xa lạ. Nàng sẽ không hoạt động gì vì nàng muốn cho cha mẹ nàng được sung sướng cho trọn vẹn, vì thế khi hắn nói rằng « chúng nó mừng lắm», nàng cũng vẫn dửng dưng. Hắn cố nói để nhìn xem nét mặt Thiên Nga có thay đổi. Hắn biết trước mà vẫn dám tiến tới tất nhiên là hắn đã có cách đề phòng, Thiên Nga có làm gì rồi cũng không thể trốn thoát, hơn nữa nếu nàng có trốn thoát trở về với đoàn thể của nàng thì bên này cha mẹ nàng sẽ phải thay thế. Đó là một điều Thiên Nga không bao giờ mong.
Hắn hơi bực mình thấy Thiên Nga cứ lì ra không như ý hắn muốn, hôm nay vì Thiên Nga mà hắn bỏ một buổi làm việc, hắn diện thật sang, mặt mày nhẵn nhụi, đáng lẽ nàng phải kiêu hãnh.
– Cô phải biết có bao nhiêu đứa con gái trinh tiết sẵn sàng đến dâng mình cho tôi, kể cũng thích…
Câu nầy hắn nói như chỉ để cho mình hắn nghe, đấy là một điểm hắn rất tự hào, từ địa vị tầm thường trong xã hội, ngày bé, mỗi khi ra đường nghe tiếng còi xe các quan lớn hắn phải tránh sát bên lề đường. Xuất thân làm nghề bán báo kiếm mỗi ngày có vài đồng bạc thế mà nhờ có chí hắn trở nên một thương gia rồi nhân thời kỳ quân đội Pháp trở lại chiếm đóng hắn nhảy ra làm chính trị. Khôn ngoan thì nhất định là ít ai khôn ngoan bằng hắn. Khi có tiền rồi thì phải mua danh, có danh rồi thì phải lo giữ gìn cho cái danh được vững chắc. Hắn tự so sánh mình với Hitler, với Napoléon và hắn muốn rằng trong lịch sử nước Việt Nam cũng phải ghi tên hắn như lịch sử Pháp đã ghi tên Napoléon. Những người chung quanh biết hắn ưa nịnh nên ai cũng không tiếc lời ca tụng sự thông minh và tài cán của hắn, và cố nhiên là hắn tin thật. Được mặc áo gấm thất thê ngũ thể, được người ta tôn làm cụ lớn, đi ra năm bảy người theo hầu, đời hắn thật là mãn nguyện. Nhờ thế mà hắn không sợ chết. Theo ý hắn, chết như con bò mộng xứ Espagne là sướng, chết mà có kèn, có trống, có lính bồng súng đi hàng hai, còn đòi gì nữa. Hắn ngại nhất là sinh ra trong cái mái tranh không ai thèm biết đến, rồi lúc chết cũng phải trở về dưới mái tranh thì đau khổ biết mấy. Nhờ thế hắn nổi tiếng là can đảm, và không biết ai còn tặng hắn mấy chữ «Anh hùng dân tộc ». Hắn đang chờ một người nào thật thông minh tế nhị sẽ biếu hắn một bức tranh sơn mài với bốn chữ vàng «Anh hùng dân tộc» ấy thì chắc là hắn sẽ sung sướng lắm. Nhưng mọi người chưa ai có đủ sáng kiến để nghĩ đến, không lẽ hắn lại tự thuê thợ khắc lấy, chỉ có hắn là thạo tâm lý nhờ vậy nên mới có cái địa vị ngày nay.
Giá có người nào thông minh biếu cho hắn bốn chữ ấy bằng vàng thì nhất định hắn sẽ thưởng lại một chức vị gì rất xứng đáng.
Hắn gặp Thiên Nga trong một buổi hội chợ, nàng đang đi tìm mua gì mà thấy hắn nàng không tránh đường, không đỏ mặt cúi đầu e thẹn như mấy cô gái khác, trái lại còn bĩu môi quay đi như gặp phải một tên lưu manh gian ác. Thế là hắn trả thù, hắn đã sắp sẵn cái chương trình ngay từ hôm đó sau khi hỏi lý lịch của nàng. Hắn có tên cận vệ trung thành chỉ chuyên môn đi lùng danh sách và lý lịch các cô gái trong vùng. Nhờ tên cận vệ hắn biết danh sách tất cả mọi gia đình, ai có con đi kháng chiến, ai có con ở tù v.v…
Nghe tên cận vệ báo cáo về gia thế và lý lịch của Thiên Nga xong, hắn thi hành ngay chương trình, mời cha của cô gái đến niềm nở hỏi han và tỏ ý định của mình, hẹn cho người cha ấy trong vòng ba tuần lễ phải trả lời dứt khoát.
Cố nhiên là khi người ta có uy quyền, có tiền bạc trong tay thì muốn gì mà chẳng dễ, dầu sao lần này hắn cũng thích thú hơn tất cả mọi lần khác vì hắn tự hào rằng đã thắng hai trận, thắng kháng chiến là một chuyện đáng kiêu hãnh, còn thắng luôn cả con bé mất dạy ấy cho nó biết rằng hắn muốn gì là phải được.
Hắn phải lấy Thiên Nga và sẽ bỏ ngay sau đó, điều cần nhất là nàng phải có một đứa con với hắn, để cho mọi người cùng biết rằng không ai có thể làm gì được hắn, hắn muốn là trời muốn, là Chúa muốn, là Phật muốn.
Có ai trách hắn sao lại ác, sao lại bỏ con, hắn sẽ trả lời rằng có bao giờ những con chó đực, con sư tử đực biết đến con nó không. Điểm ưu tiên của trời dành cho người đàn ông, cho giống đực là chỗ ấy, những thằng nào không biết lợi dụng là đồ ngốc
Quả thật hắn muốn là trời phải muốn, tất cả đều xảy ra như ý hắn định trước, đứa bé sinh ra đã chết ngay sau đó, hẳn trời còn thương hại Thiên Nga vì để đứa bé sống ở đời cũng không đưa lại một an ủi gì mà chỉ nhắc nhở đến những ngày tháng u uất.
Để bênh vực cho cái lập luận của hắn, hắn thường tuyên bố rằng «Đối phương phải quý trọng tôi vì nếu ai cũng tốt, cũng gương mẫu cả thì dân chúng nó bỏ chiến khu nó trở về thành hết rồi. Và biết đâu diệt tôi rồi Pháp nó lại chẳng tìm được một đứa khác tàn ác hơn tôi». Để kết luận rằng chỉ mình hắn mới chính là người «anh hùng của dân tộc ».
Bỏ Thiên Nga rồi hắn tiếp tục đi tìm những cuộc chơi khác, thỉnh thoảng gặp bạn bè, lúc vui chuyện hắn không quên khoe cái thành tích vẻ vang của mình bằng một câu : «Các ông xem đấy, có ai gan dạ bằng tôi, cán bộ Việt Minh về đây cũng phải thua ».
Thế là chấm dứt một màn, bao nhiêu người trong lúc chán nản đã tìm đến cái chết nhưng chết cũng không phải dễ, chết rồi đi đâu, làm gì. Em chỉ sợ chết rồi cũng còn phải lang thang, linh hồn cũng còn vất vưởng. Đọc Enéide, Paradis Perdu anh có thấy tác giả cũng băn khoăn cũng thắc mắc cũng muốn tìm kiếm một cái gì nhưng kiếm ở đâu.
Từ nãy đến giờ Georges lắng nghe không hề cắt lời Thiên Nga, đợi cho nàng nói hết vì chàng biết rằng có những lúc cần phải nói ra thì sẽ bớt khổ bớt hận, cũng như có những vết thương cần phải được mổ xẻ, phải cắt bỏ đi mới mong lành bệnh. Khi Thiên Nga ngừng rồi chàng mới hỏi :
– Thế bây giờ người ấy ở đâu ?
– Em không cần biết, có thể đã chết, có thể đang còn sống ở một phương trời nào, hay cũng có thể đang sống ở ngay trong nước… Nhưng từ lâu lắm tất cả mọi sự đều giải quyết dứt khoát, em không còn gì phải thắc mắc nữa cả. Ngay đối với cha mẹ em, hiện giờ các cụ cũng sống yên ổn ở thôn quê với số tiền bồi thường chiến tranh đủ để các cụ kéo cuộc đời đến mãn…
– Thế là em hoàn toàn tự do ?
– Vâng thế là em hoàn toàn tự do…
– Sao em không cởi bỏ những xiềng xích cũ để cho tâm hồn được thư thả có hơn không?
– Em vẫn tự do, nhưng tự do vẫn có biên giới, những xiềng xích nào phải tự em buộc vào, nhưng vì xã hội không cho cởi ra. Cái xã hội từ bao nhiêu đời bị đô hộ, hết người Trung Hoa đến người Pháp, khi đô hộ thì ai cũng muốn ngăn chặn hết những nẻo có chân trời muốn dân phải cổ hủ, phải u tối để cho dễ cai trị, dễ bắt nạt. Vì thế người dân Việt còn đang bị trói mình vào trong những vòng giây thắt chặt, chưa có cách gì mở ra,
– Tại sao Thiên Nga không dọn về đây, nếu em muốn, chúng ta sẽ đến nhà thờ xin Chúa, đến chùa xin Phật. Anh tin rằng Chúa và Phật đều bằng lòng cho chúng ta gặp nhau, cho chúng ta yêu nhau.
Nghe Georges nói Thiên Nga lắc đầu, mắt nàng không giấu được một vẻ thất vọng chán nản, nàng nhìn vào chiếc nhẫn Georges đang mang trong ngón tay.
– Anh còn có gia đình, anh quên sao, tay anh còn mang nhẫn.
Nghe Thiên Nga nói Georges chỉ muốn lột cái nhẫn ở tay vứt đi ngay. Chiếc nhẫn mà ngày xưa chàng đã kiêu hãnh lúc mang vào ngỡ rằng chiếc nhẫn sẽ ở mãi trong ngón tay cho đến lúc già, lúc chết. Thì ra tất cả mọi sự sung sướng hay đau khổ đều do ở trí tưởng tượng của con người mà ra. Georges cũng không hiểu tại sao hôm gặp Thiên Nga, chàng lại mang chiếc nhẫn vào tay, có lẽ chàng muốn dứt khoát với mình, chàng muốn ngăn một bức thành ở giữa mình và người thiếu nữ chưa quen, không ngờ, chỉ có mấy phút, sau khi gặp, sau khi trao đổi vài câu chuyện, người thiếu nữ đã phá vỡ được bức thành một cách dễ dàng.
– Em thấy chiếc nhẫn có nghĩa lý lắm sao ? Tại hôm đầu tiên anh không muốn lừa dối em nên anh mang nó vào tay, vả lại đó là một ý nghĩ của anh muốn trả lời lại cho Maurice, vì nó ca tụng em nhiều quá, nhưng anh không bao giờ tin lời nó nên trước khi đi anh mở ngăn kéo lấy chiếc nhẫn mang vào. Sự thực từ khi về Việt Nam anh không động đến, nó vẫn nằm ở ngăn kéo, nhưng trong suốt mấy tuần qua vì muốn tranh đấu với bản thân, anh cố giữ, bây giờ nó chẳng còn có nghĩa lý gì cả.
– Đối với xã hội nó vẫn có nghĩa lý, với pháp luật cũng thế, anh quên sao, nhất là ở xã hội Việt Nam. Cái xã hội mà có những kẻ yêu nhau không biết cách gì hơn là buộc hai cổ tay sát nhau rồi cùng chết. Ngờ rằng chỉ có cái chết mới làm cho họ được gần nhau, nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn rồi sau đấy lại vẫn chôn riêng, thế cũng vẫn xa.
Thiên Nga bớt buồn, hình như trong lúc cãi nhau với Georges là chính nàng đang tự cãi nhau với mình đang muốn thanh toán với mình tự dỗ dành an ủi mình.
– Tại sao con người cứ phải lệ thuộc với xã hội? – Nói xong Georges bỗng giật mình, không ngờ chàng đã thay đổi, có thể thốt ra những ý nghĩ phóng túng như thế. Nếu gia đình chàng nếu gặp lại chắc sẽ rất ngạc nhiên, còn đâu chú bé Corse mỗi chủ nhật cầm quyển kinh đến nhà thờ dù mưa hay nắng. Còn đâu hình ảnh người quân nhân trẻ tuổi nghiêm nghị cả với người, cả với mình.
♣
Tình hình căng thẳng mấy hôm nay giữa quân Bình Xuyên và chính phủ Ngô Đình Diệm, những người dân ở mấy vùng chung quanh tầm súng của hai bên đều lo tính chuyện bồng bế nhau đi tản cư. Chính phủ Việt Nam nghi ngờ cho quân đội Pháp đã giúp đỡ quân Bình Xuyên để lật đổ chính phủ. Georges biết trước rằng thế nào rồi người Pháp cũng phải đi khỏi nước Việt Nam, con bài họ Ngô nếu được đưa ra cũng nhờ cái tiếng chống Pháp và chống Cộng sản. Trận Điện Biên Phủ đã làm cho nhiều người chán nản thấy rằng cuộc chiến tranh vô lý này sẽ không đi đến đâu. Một người bạn đã kể lại rằng trước khi Ngô Đình Diệm về nước có đến Pháp để yết kiến Bảo Đại.Cựu hoàng đế đã đưa con người ấy đến trước tượng Đức Chúa và bảo rằng:« Đây là Chúa của ông, trước mặt Chúa ông hãy thề với tôi rằng, một là ông đuổi Cộng sản ra khỏi nước, hai là ông chết tại chỗ nếu ông phản lại với đất nước, » và ông Ngô Đình Diệm đã thề.
Có phải vì lời thề quá quan trọng đó mà ông Ngô Đình Diệm trở về phải lo tìm đủ mọi cách để giữ cho trọn, hay vì lòng dân đã ngao ngán, thất vọng. Giận chánh phủ Pháp bất lực, không giữ lời hứa, hay còn có nhiều uẩn khúc khác nên mới có sự thay đổi ấy. Đường lối chính trị của nước Pháp đã càng ngày càng lầm lạc như cuộn chỉ càng gỡ càng rối. Giận nhất là những kẻ nắm guồng máy đều mù quáng, hay vì địa vị danh vọng đã làm cho mụ người, những kẻ đứng ngoài trông thấy rõ nhưng không làm gì được. Georges cũng thuộc về những kẻ đứng ngoài, bực tức mà chẳng nói lên vì nói cho ai nghe, ai mà thèm nghe.
Biết rằng tình thế còn có thể cứu vãn được nhưng không phải bằng cái đường lối chính trị của mấy ông Tây thuộc địa. Ngày trước Von Manstein một sĩ quan Đức sau buổi họp ở bộ Tổng Tham Mưu còn dám chặn Hitler để đưa cái Plan Manstein rất táo bạo của mình về sự mở mặt trận đánh sang nước Pháp năm 1940. Ý kiến được chấp thuận mặc dầu các tướng lãnh đã hết sức chống đối cho rằng đấy là một sự đưa quân lính vào chỗ chết, kết quả đã ngược lại, quân Đức đã chiếm nước Pháp…
Còn bây giờ, ở cái xứ Việt Nam xa xôi này, Georges phải đương đầu với tất cả mọi người, và tất cả mọi người đều đi một lối khác hẳn với sự suy luận hiểu biết của chàng, không có buổi họp nào là không cãi nhau, Georges cũng biết mình rất bị để ý. Chàng còn biết hơn nữa là rồi đây chàng sẽ đứng mãi ở cái chức thiếu tá này để nhìn người khác thăng chức. Ở đời thông minh quá cũng là một cái vạ, học thức nhiều cũng là một cái vạ, cứ ngu đi, ai chỉ đâu vâng dạ đó thế là lên chức nhanh nhất.
Rồi đây chàng sẽ gặp những sự bực mình mà trong quân đội người ta thường gặp, là thấy những người tài sức kém mình, trước kia vẫn ở dưới quyền chỉ huy của mình nhưng rồi vì mềm dẻo hơn nên đã dần dần bằng mình và có thể vượt mình, chỉ huy lại mình. Mà có gì đâu : chỉ nhờ có mỗi một điều là chúng nó ngu hơn. Đã ngu hơn thì còn biết gì mà cãi lại với cấp trên, vì thế nên cấp trên bằng lòng và dễ thăng thưởng. Chưa hết, khi lên được cấp trên rồi, chúng quay lại nhìn những người vì cứng đầu nên thăng thưởng chậm, chúng nhìn bằng đôi mắt tự hào như là chúng rất xứng đáng với cái vạch vừa mang thêm trên vai của chúng.,
Nếu không có một triết lý cho thật vững thì lắm khi Georges đã muốn bỏ hết tất cả, hét lên một câu : « Chúng bay là đồ trẻ con » rồi đánh sầm cái cửa đi ra khỏi phòng họp. Ý nghĩ đi tìm một nghề khác để sống cứ lảng vảng trong đầu óc Georges từ mấy tháng nay.
Ngày xưa chinh chiến là một công việc cao quý, giới quý tộc vì đã có điều kiện để sinh sản nhiều hơn giới bần dân nên mới dành đặt ra như thế để cho con cháu mình được quyền ưu tiên, được ăn trên ngồi trước, khỏi thất nghiệp, khỏi bị khinh khi. Chính Napoléon cũng phải làm giấy giả để được theo và học trường Ecole militaire đe Brienne, trường này chỉ dành riêng cho con cháu của phái quý tộc.
Ngày nay nghề quân nhân chỉ còn là một cái nghề máy ; chiến tranh có thể xảy ra bất cứ vào lúc nào và chỉ trong vài tiếng đồng hồ cả thế giới có thể tiêu diệt. Ngày nay khi nhìn thấy một ông tướng ngực đầy huy chương, lắm khi nào phải vì ngài đã từng vào sinh ra tử, lăn lóc ở nhiều mặt trận, mang về nhiều chiến thắng mà chỉ vì ngài khéo nịnh bợ, khéo luồn cúi, khéo trở tráo.
Georges thở dài chán nản đưa tay lên tắt máy phát thanh, chưa biết phải làm gì cho qua ngày chủ nhật. Dậy mặc quần áo đi ra câu lạc bộ đổi sách ư ? hay là lang thang một vòng ngoài phố ? Cả hai ý nghĩ đều làm Georges ngần ngại. Suốt tuần lễ chỉ có mỗi một ngày chủ nhật, trời bên ngoài đẹp như ngọc, thế mà còn thấy ngày ấy vô nghĩa lý, trống trải thì có thể bảo rằng Georges là một kẻ cô đơn nhất rồi chăng ?
Cả tuần lễ mỗi ngày hai buổi đến phòng tham mưu chỉ để chạm trán với những sự bực tức, những ý mâu thuẫn với những con ngựa của người Picador trong những buổi đấu bò tức là mấy ông bạn đồng nghiệp. Georges gọi họ như thế, vì thấy họ làm việc như con ngựa bị bịt mắt không biết đường lối nào, cứ nhảy chồm lên, mặc cho con bò mộng tha hồ húc vào mình.
Nằm nhà nghe tiếng đồng hồ gõ mỗi lần mười lăm phút, thấy thời gian dài dằng dặc không chịu qua, sách đọc hết mà đi ra câu lạc bộ đổi sách thì sợ gặp mấy con ngựa bịt mắt ấy, rồi lại cãi cọ để mang thêm về một mớ bực dọc, ý kiến bất đồng thì chỉ càng thêm tội.
Thế mà lang thang đi ra ngoài phố để làm gì, còn gì nữa đâu, hay chỉ còn những cái nhìn lạnh lùng xa lạ của người đi qua đường. Những cái nhìn như có kèm theo một câu hỏi : Sao chúng mầy chưa chịu rút về ? Còn ở đây làm gì nữa ? Georges đâm ngờ vực luôn cả câu nói của Victor Hugo : « vì dân chúng ở trên cao mà đám đông ở dưới thấp »… Có thật là dân chúng ở trên cao không hay đám đông là cũng do dân chúng họp lại ?
Nằm suy nghĩ vẩn vơ không đưa đến một kết quả gì thiết thực, và ngày chủ nhật không phải là một ngày vứt đi là gì. Trước kia còn Maurice, những hôm buồn như thế này chắc Georges đã tìm đến bạn mặc dầu bạn và mình không đồng ý trong lý tưởng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tuy vậy Maurice không đến nỗi là một con ngựa bị bịt mắt và chàng chỉ thích nói đến chuyện ăn chơi, cãi nhau về một bức tranh của Rembrandt hay Delacroix, về mối tình của Schiller đối với Goethe, v.v…
Nhờ vậy có những ngày chủ nhật đã trôi qua không bực dọc.
Hôm nay, Georges có cảm tưởng ngày chủ nhật bước nhẹ như bước chân của con mèo cứ từ từ tiến về phía mình, chực vồ lấy mình mà mình thì giống con chuột yếu đuối đang muốn đi tìm chỗ trốn. Georges buột miệng : Giá có ai đến thăm. Nhưng chàng chợt nghĩ lại, không thể được, nếu người khách là một ông bạn cùng sở thì ngấy chết. Ai bây giờ ? Georges có còn ai nữa ? Nghĩ đến gia đình thì hình ảnh người vợ trong bộ áo đỏ lộng lẫy trở về, đang bước xuống xe, chiếc xe đồng màu với bộ áo. Georges cau mặt không muốn nhớ đến những kỷ niệm ấy, bỗng nhiên hình ảnh của Thiên Nga hiện đến, Georges mừng rỡ như ngày bé đi tìm nấm với lũ trẻ bạn, đi mãi không gặp cái nấm nào, bỗng nhiên có cả một đám đất ở dưới chân đầy nấm. Georges cũng muốn hét lên để khoe với mọi người, Thiên Nga hiện đến lúc này cũng hệt như những cái nấm ấy. Georges vùng dậy mặc quần áo đến thăm Thiên Nga, chỉ có cô bạn gái này mới giúp Georges trốn thoát được những cái vuốt của con mèo là ngày chủ nhật này.
Một ý nghĩ lo ngại thoáng qua, liệu Thiên Nga có nhà không? Nàng có đang nằm một mình, đang buồn như Georges, hay quanh nàng đang ríu rít những bà con bạn bè ? Vô lý, Thiên Nga chỉ là một đứa con mồ côi thì nàng làm gì có bà con để đến chiếm ngày chủ nhật. Georges vẫn nghe nói đến những đại gia đình của xứ Á đông, không phải như dân Âu châu, trái lại nó giống hệt như dân xứ Corse của chàng. Cả làng kéo đến thăm nhau, vì họ bà con với nhau cả và ai cũng có thể xem nhà người làng như nhà mình. Đã thế xứ Á đông còn hơn nữa là nền móng luân lý đặt vào gia đình, tổ tiên, người sống, người chết, nên mỗi năm ngày kỵ chính kỵ phó hay ngày kỵ tổng hợp cũng là những cơ hội để họ hàng gặp nhau, ăn uống và cãi cọ. May quá xứ Corse của chàng không có cái nạn ấy và có lẽ như thế tiện hơn, kỵ giỗ thì đến nhà thờ xin lễ cho người chết thế là đủ lắm. rồi. Ai thương người chết thì cứ theo đến đấy mà cầu nguyện giùm, dễ dàng biết mấy.
Thiên Nga cũng đồng hoàn cảnh với Sémiramis, với Oedipe, đấy là một điều may. Georges vui vẻ với những ý nghĩ cầu kỳ méo mó vì sự gặm sách của mình. Tí nữa phải đến đố cô bạn gái xem nàng có hiểu ý mình không ?
♣
– Gió nào đưa anh đến đây ?Gió ngày chủ nhật, hay là con mèo của ngày chủ nhật.
– Sao lại con mèo ?
– Vì tôi có cảm tưởng mình là con chuột yếu bị con mèo là ngày chủ nhật nó đang lừ lừ tiến đến để vồ lấy mình.
Thiên Nga chế giễu ý nghĩ lạ lùng của Georges, với nàng ngày chủ nhật hiền lành như một bà mẹ, ngày chủ nhật để cho con ngủ trưa, mẹ cho đi chơi, mẹ cho làm gì tùy thích, thế không là một bà mẹ hiền đó sao. Nói ý nghĩ của mình cho Georges nghe và chàng đã ngạc nhiên, tại sao Thiên Nga có thể tự đầy đủ với mình như thế không cần đến ngoại giới. Hay là người đàn bà vẫn nhiều ý chí hơn người đàn ông chăng ?
– Tôi chỉ sợ Thiên Nga có khách hay là đi vắng…
– Rất ít khi đi vắng, mà cũng ít khi có khách, trừ những kẻ bị gió lạ thổi đến như anh?
– Anh cũng hy vọng như thế, anh nghĩ rằng Thiên Nga không có bà con và anh định gọi Thiên Nga là Sémiramis ?
– Sao anh không gọi là Moise, hay Cyrus hay Romulus có hơn không? Các ông ấy cũng toàn là con bỏ rơi cả.
– Tài thật, tôi xin chịu, nhưng anh tưởng đàn bà đều thích được làm hoàng hậu chứ.
– Anh lầm, em thích được làm đàn ông, nếu em là con trai thì cuộc đời sẽ khác hẳn, dầu có là một đứa con ở viện mồ côi, chưa chắc những kẻ sinh ra em đã nở đem đi vứt bỏ để cho viện mồ côi phải nhặt về nuôi như thế.
Georges không tin, chàng vẫn giữ cái quan niệm nhan sắc trên tất cả, nếu Thiên Nga là con trai chưa chắc cha mẹ nuôi của nàng đã chịu xin về nuôi. Sống trong viện mồ côi thì cuộc đời sẽ có những gì, chàng rất bằng lòng vì Thiên Nga không là con trai.
– Em bảo thế chứ có bao nhiêu đứa con trai vẫn bị bố mẹ bỏ cả đấy thì sao, chúng ta không nói đến Moise vì đấy là người mẹ Do Thái ấy bị bắt buộc theo lệnh của Pharaon…
– Thôi anh ơi, em xin. Chúng ta đổi đề tài khác đi. Hôm nay em đang vui vì ngày chủ nhật khỏi phải đi dạy học, lại có anh đến chơi, từ sáng em có ý chờ một sự gì, linh tính như mách trước thế mà anh định đưa cái vấn đề u tối ấy ra nói thì còn gì là ngày chủ nhật quý hóa của em.
Nhìn thấy trong nhà và cả ngoài đường đều vắng lặng, Georges quên mất lý do. Chàng ngơ ngác không hiểu vì sao.
– Tản cư gần hết, chắc em cũng sắp phải đi mà chưa biết đi đâu. Nhà này ở cạnh sở Cảnh Sát Trung Ương, nhỡ có chuyện gì thì mất mạng, mà mất một cách vô duyên.
– Thiên Nga lì lắm, anh bảo đến anh dọn căn bên cạnh cho mà ở, em còn cứng đầu hơn con lừa…
– Con lừa cứng đầu sao, thế mà vẫn bị sai khiến khổ sở hơn những loài vật khác ? Thôi không đùa, nhưng mới có hai hôm nay là em được yên ổn, tai khỏi nghe chửi rủa «Xe hơi nhà binh cán mày » vì thế em muốn tận hưởng cái sung sướng này ít hôm rồi đi đâu mới đi.
– Gàn, chờ cho bao giờ đánh nhau rồi mới chạy.
– Biết đâu rồi người ta chẳng điều đình, nhường nhịn nhau, lúc ấy có phải đỡ mất công chạy đi chạy về không ?,
– Anh bảo trước nếu có gì anh đến đây bắt em bỏ lên xe cho em biết, đừng tưởng trốn thoát được với tôi.
Thiên Nga cản động nhìn Georges, trong lúc không một người nào nghĩ đến nàng thì có Georges tìm đến săn sóc, ai cũng lo chạy lấy thân mình, của cải mình.
Nhìn Thiên Nga trong bộ quần áo ngủ Việt Nam, bộ quần áo mà ở đây mọi người đều mặc để ra đường một cách rất tự nhiên, ai mới thấy đều khó chịu, cho rằng đấy là một sự khiêu khích nhưng nhìn lâu quen mắt và rồi chịu được cả. Vì Georges đến bất ngờ Thiên Nga đang nằm trong giường đọc sách nên không kịp vào thay áo. Nàng không đợi ai đến thăm vào giờ này và Georges muốn nàng cứ mặc như thế.
Lần này là lần thứ nhất Georges đến nhà Thiên Nga, mấy lần trước chàng chỉ đưa về đến cổng, lần thứ nhất chàng được nhìn cô gái Việt trong bộ quần áo ngủ, giản dị để lộ hai cánh tay trần với một chút cổ hở cắt theo hình tim. Nhan sắc của người đàn bà khi vừa ra khỏi giường thì hoặc là thô bỉ, môi thưỡn ra, mặt láng nhẫy lên vì mồ hôi nhờn và đôi mắt húp vì ngủ nhiều, hoặc là mộc mạc giản dị nom trong sạch như một cô gái thời mà loài người chưa biết dùng những phấn son giả tạo, phải trở về với thời đệ tứ kỷ, lúc nhân loại mới có mặt chắc thế.
Hôm nay tóc Thiên Nga không búi cao như mấy lần Georges gặp trước; trông nàng hết cả vẻ văn minh thành thị, chân nàng lại không mang dép nên nhỏ hơn ngày thường. Cái vẻ đẹp «femme enfant» đang được thịnh hành ở Âu châu. Thiên Nga vừa soạn làm cà phê vừa tiếp Georges.
– Ai đến thăm em vào giờ này chắc em sẽ bị nghi. .
– Nghi gì, nghi rằng em là người yêu của anh phải không ?
– Nếu chỉ có thế thì chẳng sao, nhưng họ sẽ nghi rằng em vừa tiếp anh đêm nay.
– Oan quá nhỉ, không chịu đâu, mà chúng ta cũng ngu, bị nghi thì đã sao…
– Thì đã sao.
Thiên Nga rùng mình nhắc lại ba chữ cuối cùng của Georges vừa nói, một cảm giác kỳ lạ truyền khắp người, cảm giác như khi nghe ai nói truyện ma mặc dầu câu chuyện của Georges không có gì đáng sợ. Nàng ngước lên nhìn Georges bắt gặp ngay Georges cũng đang nhìn mình rất chăm chú. Nàng định hỏi đùa sao chàng có cái nhìn giống như con rắn nhưng lại thôi.
– Thiên Nga đẹp hơn cả hôm đầu tiên anh gặp ở nhà Maurice, tại sao thế ?
– Chắc tại anh không thích phấn son chứ gì ?
Nhưng Georges chắc là không hẳn đã như thế, chàng tin rằng vì có chàng, vì Thiên Nga yêu mình và tình yêu thường tăng thêm nhan sắc của người đàn bà cũng như tình yêu đã giúp cho nhà văn thêm phong phú. Chàng cảm thấy mang ơn người thiếu nữ. Georges rất ngạc nhiên không hiểu tại sao chàng vẫn từ chối không chịu xem Thiên Nga là một thiếu phụ, đối với chàng Thiên Nga chưa đáng được gọi chữ ấy. Chàng biết mình mang ơn Thiên Nga vì lần đầu tiên chàng cảm thấy đã có nhận trong khi cho, và từ trước đến nay, hình như chàng chỉ cho mà không được nhận lại một chút gì. Hơn nữa, nếu không có Thiên Nga thì sáng nay chàng sẽ cô đơn đến thế nào. Chưa có một lần nào mà Georges nghe cô đơn như ở đây, cả thời kỳ phải sống chung với dân Canaques, hay với mấy ông bà Papous. Có lẽ vì chàng cảm thấy như có một cái gì đã hết, một sợi dây đã đứt, người Pháp không có quyền dẫm chân lên đất Việt Nam, thở không khí của người Việt, uống nước của xứ Việt.
– Độ này mỗi khi ra đường anh hay cảm thấy lạc loài…
– Tại sao ?
Hỏi xong, Thiên Nga cắn môi suy nghĩ, nàng cũng hiểu tại sao, nàng muốn nói một câu gì để an ủi Georges, nhưng chàng đã lên tiếng tiếp theo.
– Rồi đây quân đội Pháp sẽ rút về người nào xin phép mới được ở lại, từ ngày chính phủ Diệm thay thế cho chính phủ Bảo Đại thì mọi công việc đều tiến hành rất nhanh, tất cả các cơ quan đang lo tính chuyện bàn giao công việc.
Tương lai rồi sẽ ra sao, có ai xem lén được quyển sách của định mệnh. Hôm nay chàng cũng nhân tiện kể những chuyện bực mình cho Thiên Nga nghe, may ra có vơi bớt một phần nào. Georges thầm ao ước giá mỗi ngày đi làm việc về mà có một người bạn hay người vợ lo lắng cho mình, chia sẻ với mình những bực tức, giúp mình giải quyết những vấn đề nhỏ nhặt hằng ngày thì sung sướng biết mấy. Câu nói của các bạn ngày xưa ở trường vẫn thỉnh thoảng trở về trong tâm trí như muốn mỉa mai chàng. Đời thằng đàn ông có ba cái hận. Ngày gặp Monique, Georges mới chỉ là một thanh niên còn hăng hái, đầy tin tưởng nhìn tương lai đẹp như nhìn vào cảnh thiên đường của Mohamed vẽ trong kinh Coran. Vì thế Georges vẫn ngờ rằng mình là kẻ may mắn nhất, chọn đúng nghề, gặp đúng vợ và lý tưởng là phụng thờ tổ quốc.
Mới có mấy năm qua mà mọi sự đều thay đổi như bức tranh lật ngược nhìn ra đằng sau. Lần đầu tiên Georges có ý định ly dị với vợ vì chàng muốn tránh bớt một cái hận mà chàng đang chịu. Thà không có vợ, thà sống một mình, cô độc thì cô độc cho luôn đi, chàng mang tiếng có gia đình mà rồi cũng như không. Nhìn bên ngoài, nhìn vào tờ khai đóng thuế, quả thật chàng là một kẻ quá đầy đủ. Có xe hơi, có nhà, lại thêm có bà vợ đẹp và cậu con trai, riêng mình còn mang được bốn cái gạch vàng chóe trên vai, nghĩa là danh vọng tiền tài hạnh phúc cái gì cũng không thiếu.
– Thiên Nga, anh định sẽ xin ly dị..
– Để làm gì, anh có chắc rằng anh sẽ quên được…
– Anh vẫn nhớ, nhưng lạ nhất là mỗi khi nhớ, chỉ nhớ đến những kỷ niệm buồn chán, còn những kỷ niệm vui thì mình phải tìm kiếm mãi.
– Người ta chóng quên những cái gì vui.
Thiên Nga cố lấy giọng thản nhiên để nói chuyện với Georges, biết Georges yêu mình, nếu chàng có ý định ly dị cũng vì muốn sống với mình cho trọn vẹn. Nhưng cảm tình của cả hai người còn tinh khiết quá, Georges không hề có một ý nghĩ chiếm đoạt khi biết chắc chàng chưa có thể đưa lại hạnh phúc cho Thiên Nga. Nếu chỉ như những cuộc gặp gỡ khác để rồi mỗi người mỗi đường chia tay nhau ngay sau đấy thì chẳng có gì đáng ân hận. Georges thấy Thiên Nga đã khổ nhiều và nàng không đáng bị khổ thêm một lần nữa, vả lại ở giữa hai người còn có một thứ tình bạn tinh thần bắc chiếc cầu ngang qua hai tâm hồn. Hôm đầu tiên Maurice chẳng bảo một câu rất đúng và câu ấy đã theo đuổi Georges mãi « Hai người làm như đã cùng học một trường với nhau, chung một thầy, chung một sách ». Tuy đó chỉ là một câu nói bất chợt không suy nghĩ nhưng rất đúng, Thiên Nga và chàng hiểu nhau như đôi bạn cùng học một trường.
Thiên Nga rất hoang mang đối với tương lai, nàng yêu Georges nhưng biết trước rằng đây chỉ là một mối tình không có ngày mai, không bao giờ nàng chịu để cho Georges bỏ vợ vì mình, vì thương hại người đàn bà cũng có, mà vì sợ rằng rồi đây nếu có gì không êm đẹp thì lại thêm một dang dở. Thiên Nga phân vân chưa biết phải xử trí thế nào, hoặc là cứ nhắm mắt liều không cần biết tương lai, sau đó dầu có mỗi người mỗi ngả cũng không có gì hối tiếc, hoặc là bỏ tất cả đi sang môt xứ khác, sang Hồng Kông hay sang Nhật bản để tìm cách lãng quên…
Pha hai tách cà-phê, Thiên Nga mang đến để ở bàn ăn mời Georges :
– Sáng anh ăn gì chưa ?
– Sáng nay chẳng thấy muốn ăn nên anh không ăn gì cả.
Nghe nói Georges chưa ăn, Thiên Nga vội đi lấy thêm trứng định làm, nàng bảo cho Georges biết rằng vì sợ tình hình không yên nên nàng cũng gửi bà già vẫn giúp việc trong nhà về quê với các cháu. Nàng không muốn nhỡ xảy ra chuyện gì sợ lũ con cháu của bà ấy sẽ oán trách suốt đời.
– Biết cho người ta đi tản cư còn mình thì cứ nhất định ở lì không chịu nghe lời ai cả.
Thiên Nga nghe Georges mắng chỉ mỉm cười đi xuống nhà dưới. Nhìn Thiên Nga đi lại trong nhà, Georges yên lặng theo đuổi từng cử chỉ từng bước chân, Georges có cảm tưởng như đã quen biết Thiên Nga từ lâu lắm. Tất cả mỗi cử chỉ gì của nàng, mặc dầu mới lần thứ nhất trông thấy mà Georges vẫn tưởng rằng thấy rồi và đã thấy rất nhiều lần, chàng cũng không hiểu tại sao lại mình có những ý nghĩ ấy.
– Anh có muốn ăn trứng không, em làm ?
– Thôi cô ơi, sang đây anh đã bị cái gan nó hành hạ, tối ngày phải uống toàn nước suối mà em còn cho ăn trứng vào nữa thì chết.
– Đáng kiếp, ai bảo muốn sang đây để lãnh cho nhiều lương.
Thiên Nga vừa nói đùa vừa chạy xuống bếp không để cho Georges cãi, nàng cũng biết rằng Georges không phải chỉ vì cần lãnh nhiều lương, nhưng còn vì muốn tránh gia đình như chàng đã kể. Thiên Nga ở mãi dưới bếp chưa lên, Georges tiếc thời giờ, cũng bắt chước tìm xuống theo. Sợ Georges chê bếp tồi Thiên Nga phải vội vã mang tất cả các thứ lên nhà trên.
Lần thứ nhất từ khi xa vợ, Georges chịu để cho một người đàn bà khác săn sóc mình. Thường lệ ngoài chị ở hằng ngày lo ăn uống giặt giũ còn thì tất cả mọi sự Georges đều làm lấy không muốn phiền ai. Ngày xưa Monique cũng đã từng săn sóc chàng với tất cả sự tận tình âu yếm như thế. Georges hơi ngạc nhiên, hình như chàng vừa mới tìm ra một sự lạ, người đàn bà khi yêu thì nước nào cũng giống nhau. Lạ hơn nữa đáng lẽ những cử chỉ săn sóc âu yếm của Thiên Nga sẽ làm cho Georges khổ sở vì gợi nhắc trong lòng mình những kỷ niệm cũ thì trái lại, chàng đã ngồi yên hưởng thụ không tỏ vẻ ngạc nhiên, cũng không thấy khổ tâm vì quá khứ.
– Có bà già ở nhà em hay ăn quà bán ngoài đường, mấy hôm nay bà ấy đi mất chẳng ai mua cho đành phải ăn các thứ mua sẵn vậy, đành là phải ăn ngọt. Độ mới sang Pháp phải tập mãi mới quen ăn ngọt, ban đầu ăn theo người Anh rồi dần dần mới theo hẳn lối Pháp, kể ra ăn theo lối Pháp tiện hơn.
– Hôm nào anh đến sớm em cũng cho anh ăn giống em, chúng ta đổi cảm giác, chắc vài hôm anh cũng sẽ quen đi chứ gì, anh muốn bắt chước Maurice, cũng sống hoàn toàn theo người dân trong xứ mình đang ngụ. Bây giờ mới thấy Maurice thế mà khôn.
Hôm nay trời đẹp hơn mọi hôm có phải tại vì ngày chủ nhật hay tại hôm qua trời vừa mưa đủ để rửa tất cả những bụi đất trên cành cây, trong không khí. Thiên Nga nhìn ra ngoài, nền trời xanh không có một chút mây, màu xanh trong sạch như màu của những bức tranh vẽ bằng Aquarelle, màu xanh của đôi cánh thiên thần. Ánh nắng cũng trong như được lọc, nhiều lần những tiếng chim hót gọi nhau đi hứng nắng chắc thế, vì giọng hót nghe dòn dã chứ không ỉu xìu như vào những buổi trời sắp mưa.
– Nắng đẹp quá, ăn xong làm gì cho khỏi phí anh nhỉ ? Mỗi lần trời đẹp mà có được một người bạn ở bên cạnh, em thường tự hỏi sao đời lại dễ thương đến thế, sao Thượng đế lại có những lúc chiều chuộng người đến thế.
Thiên Nga thắc mắc nói với Georges, nàng có cảm tưởng Trời hay là Thượng đế cũng đã từng yêu nên mới hiểu rõ được loài người như vậy. Những nơi phong cảnh đẹp, khí hậu lành, hay những buổi sáng đặc biệt giống buổi sáng hôm nay không phải Thượng đế muốn làm quà tặng riêng cho người đấy ư. Nàng không biết nên làm gì cho xứng đáng với món quà của Thượng đế đã cho mình. Hỏi Georges, chàng cũng chẳng có ý kiến gì cả, tìm được đến nhà nàng để thoát khỏi bốn bức tường nhà mình, Georges cho đấy đã là một sáng kiến vượt bực rồi, bây giờ phải để phần Thiên Nga.
Giá không có những cái nhìn soi bói của người đi ngoài đường thì chắc Georges và Thiên Nga sẽ tung tăng đi dạo phố, gặp cái gì đẹp cũng đến xem, dí mũi vào những tủ kính hai bên phố ngắm các thứ hàng người ta bày bên trong. Nhưng với làn không khí ngột ngạt vì lý do chính trị này, cả hai đều không dám đưa ý kiến ấy ra.
– Hay là ăn xong đi nhà thờ nhé, em chịu không? chúng mình dâng buổi sáng đẹp trời cho Chúa, như thế tức là mình tỏ lòng biết ơn Chúa. Anh thấy loài người phần nhiều chỉ đến để cầu xin mà ít có kẻ nhớ đến sự cảm tạ.
– Tùy anh đấy, nhưng em chỉ sợ đấy chỉ là một loại Jeûne du loup mà thôi, anh có biết truyện ấy đó chứ, truyện con chó sói ở trên bờ sông Gange, một hôm gặp trời lụt, không biết chạy đâu, nó phải trốn lên trên mỏm đá chung quanh toàn nước mênh mông không tìm ra thức ăn. Nó nghĩ bụng «Ta không có gì ăn mà cũng chẳng biết làm gì, thôi thì xem như là chay tịnh». Trời thấy cái lòng thành của nó hơi mỏng mảnh mới biến ra một con dê rừng cho quanh quẩn gần đấy.
Sói trông thấy đổi ý bảo rằng thôi để hôm khác sẽ chay tịnh. Nó chạy theo định đuổi nhưng không bắt được con dê, nó đành trở về nằm lại và tự nghĩ : «Dẫu sao từ nãy đến giờ ta cũng vẫn còn chay đấy chứ, có ăn uống gì đâu», và nó tiếp tục chay.
Georges nheo mắt nhìn Thiên Nga cười nói để đỡ : «Em lôi thôi lắm, đấy là loài người đặt ra, chứ Chúa ngài khoan dung đại lượng». Nói xong Georges giục Thiên Nga mặc áo để đi vào “tìm mũ cho Cha”.
– Sao lại tìm mũ cho Cha? – Thiên Nga ngơ ngác hỏi.
– Cô lắm truyện, tôi không biết lắm truyện sao :«Có anh chàng suốt đời chưa vào nhà thờ ; lúc được vào lần thứ nhất, khi ra có người hỏi : Vào thấy gì ? Anh chàng trả lời, có thấy gì đâu, một đám đông đứng dưới, một người đứng trên mới vào thì đội mũ, sau đấy lại cất mũ ra để xuống bên cạnh. Thế mà rồi vì đãng trí, ông ta quay ra kêu trời tôi mất mũ, nhờ mọi người cúi xuống tìm hộ. Nhân lúc mọi người tìm thì ông lại uống lén rượu. Thấy tìm không được, mọi người bằng lòng hùn tiền để mua biếu ông cái mũ mới. Sau đấy thấy ông tìm ra mũ mà chẳng thấy giả lại tiền cho mọi người. »
Thiên Nga cắn môi không cười, nàng chỉ hỏi : « Nếu mẹ nghe anh kể truyện này thì liệu có bị đòn không ? »
– Hồi xưa chắc bị đòn chứ bây giờ, con người càng ngày càng tiến bộ ra ấy chứ, chỉ có những kẻ mới theo buổi sớm buổi chiều thì hay nóng ruột vặt, nghe cái gì cũng giận hờn. Biết nói đùa và biết nghe nói đùa là biểu hiệu của một sự thông minh của một dân tộc, của một con người. Đấy cũng là một phương pháp vệ sinh, bớt làm táo bón. Cứ để ý nhìn ra chung quanh những người hay giận hờn thường là những người có nhiều mặc cảm, một quốc gia cũng vậy, em có thấy không.?
Thiên Nga cũng đồng ý với Georges, nàng nhận thấy những kẻ nghèo, hoặc thiếu thốn một thứ gì từ vật chất lẫn tinh thần đều hay tự ái, giao thiệp với họ thường phải cẩn thận, nếu không sẽ bị giận ngay. Trái lại những nhà tu, những triết gia đã đến một độ cao rồi thì ai có nói gì đi nữa cũng không làm động lòng họ được.. Hôm nay nghe Georges phân tách ra, Thiên Nga mới để ý, chứ từ trước nàng chỉ cảm thấy mơ hồ vậy thôi.
Ăn xong, dọn dẹp xong, Thiên Nga bảo Georges đợi mình vào trong thay quần áo, nàng chỉ Georges đến tủ sách mà xem nếu có thấy sốt ruột vì « Amor odit inertes » (Tình yêu ghét sự chờ đợi) vì khi người đàn bà sửa soạn nhất là sửa soạn để đi nhà thờ thì chắc phải lâu.
Đợi Thiên Nga vào trong, Georges mới tìm đến tủ sách, từ lúc bước vào nhà mải nói chuyện chàng không để ý đến mấy cái tủ sách nằm chiếm cả một góc phòng. Chỉ đằng sau đóng bằng gỗ còn thì từ trên xuống dưới toàn kính. Tất cả tủ sách chia ra năm tầng, ở dưới thấp nhất là bộ Bách khoa tự điển dày nặng, lên đến trên cũng chia ra từng bộ của nhà văn được Thiên Nga thích. Những loại sách đóng sẵn dành riêng cho các hội viên ở trong những «club du livre» ở Pháp. Georges phải hai ba lần huýt sáo lên một tiếng tỏ sự khâm phục khi nhìn đến những bộ sách đẹp đẽ như thế.
Lệ thường đến nhà ai chàng cũng nhìn cái tủ sách để xét đoán chủ nhân, cố nhiên là cũng phải nên coi chừng, có khi lầm, vì ở Pháp có nhà mới vào, ta thấy một tủ sách đẹp đẽ nằm ngay chính giữa, nhưng chủ nhân là một anh hàng thịt. Không phải vì ham đọc sách vì say mê sách mà vì nhân một hôm đi mua bàn ghế ở nhà bán phát mãi, gặp được một tủ sách giá rẻ nên mua về chưng ở nhà dọa thiên hạ chơi. Nhìn tủ sách quá đẹp như một món trang sức quý giá, nếu không gặp Thiên Nga chắc rằng chàng cũng phải nghi ngờ. Georges chợt nhớ đến câu nói của vợ mình ngày trước khi hai người chưa cưới nhau, câu nói xinh đẹp đã làm cho Georges cảm động, nhưng rồi mãi đến bây giờ Georges vẫn chưa có cái tủ sách ấy, vì còn bao nhiêu vấn đề khá quan trọng hơn như cái xe hơi, cái tủ lạnh, cái máy giặt …
Một lần nữa, Georges lại huýt lên khi ngước nhìn bộ sách của các tác giả cổ Hy-Lạp, tất cả đều đóng màu da nâu nhạt chữ vàng phải đọc kỹ mới thấy tên sách; tất cả đều in trên một thứ giấy qúy mỏng và mịn, đẹp như làn da của một đứa trẻ lên ba. Nếu chàng cưới Thiên Nga thì cái tủ sách này sẽ là của hồi môn chăng ? Mang danh là một thiếu tá lương mỗi tháng mấy trăm nghìn quan mà chàng chưa bao giờ dám mua một quyển sách đẹp như thế để ôm nằm ngủ chứ đừng nói đến sự sắm toàn bộ. Chàng mỉm cười với cái ý nghĩ hài hước của mình, nếu có một nhân vật ngoại quốc đến đây thì sau khi dẫn đi xem các nơi thắng cảnh, viện bảo tàng, chính phủ nên cho người giả vờ đưa vào thăm một ngôi nhà thường dân như nhà này. Người ngoại quốc ấy sẽ đánh giá trị cái trình độ dân chúng lên rất cao. Chắc ngay trong xứ họ người thường dân cũng chưa thể đến trình độ ấy. So với Thiên Nga chàng công nhận rằng mình thua xa, cố nhiên, nàng có cuộc sống tự do còn chàng có gánh nặng gia đình.
Rất nhiều quyển chàng chưa đọc đến, chàng vẫn định bụng sẽ tìm mua, nhưng rồi không gặp dịp. Mải nhìn ngắm mấy bộ sách, Georges không biết rằng Thiên Nga đã đứng bên cạnh mình.
– Sao nhanh thế, em thật quả là một kẻ sung sướng nhất đời, anh xin thành thật khen ngợi và xin chịu thua.
Thiên Nga ngạc nhiên không hiểu Georges muốn nói gì, nàng ngơ ngác hỏi Georges vì sao. Georges đưa tay chỉ mấy bộ sách và chàng nhắc lại một câu trong quyển sách Les possédés của Dostoievski « Đóng bìa một quyển sách tức là biết kính trọng quyển sách, không phải chỉ tỏ rằng người ta thích đọc sách mà còn công nhận cái quan trọng của sự đọc sách, cần phải đến hằng mấy trăm năm con người mới hiểu được, mới đi đến được đấy..»
– Tại hôm đến nhà anh, em đã dọa cho anh sợ bằng một câu của Kirilov nói ở trong quyển ấy, bây giờ anh cũng khoe lại với em bằng cách nhắc cho em một câu của Chatov nói với vợ cũng trong quyển ấy…
– Em đâu có ý định dọa anh, vì anh hỏi em có nhớ… thì em cũng chỉ nhắc một đoạn mà em muốn nhớ vậy thôi.
Khóa cửa xong hai người đi ra xe, bây giờ Georges mới nhìn thấy cách trang điểm ăn mặc của Thiên Nga. Nàng không còn giống như người con gái lúc ở nhà, đơn giản ban nãy nữa. Một vẻ khác đã đến thay thế vào, vẻ đẹp của những cô thiếu nữ đi ngoài phố giống như hôm đầu tiên nàng đến gặp mình lần thứ nhất. Một vẻ đẹp có bố cục, có xây dựng của một cái truyện ngắn.
– Màu trắng hợp với em lắm, sao anh ít khi thấy Thiên Nga mặc ?
– Tại hôm nay đi nhà thờ, đến dâng ngày chủ nhật cho Chúa.
Hai người nhìn nhau mỉm cười thông cảm.
– Anh sẽ vào giới thiệu em với Chúa.
– Chúng ta vào đốt đèn cầu nguyện, được không anh ?
– Đốt thì đốt nhưng cầu nguyện thì chưa chưa chắc đã được vì nhà thờ này anh đã vào rồi, phải là một cái nhà thờ nào mình chưa bao giờ đặt chân đến thì mới linh.
– Em biết rồi, em còn nhớ một hôm đi nghỉ ở Honfleur, việc thứ nhất là em vào nhà thờ của mấy người đánh cá để đốt đèn, kiến trúc của nhà thờ ấy lạ lắm cơ, anh đã đến lần nào chưa.
– Anh đi ngang Honfleur, nhưng hôm ấy Monique mệt không chịu ghé, nên đành phải bỏ, anh tiếc mãi. Mỗi người mỗi ý thích, Monique chỉ thích đi xem những cuộc biểu diễn áo ở Dior hay Fath.
Không muốn Georges nhớ đến những kỷ niệm buồn, Thiên Nga vội đổi sang chuyện khác, nàng chỉ cho Georges nhìn một con chim sáo đang nhảy trên cành cây trứng cá ở trước nhà thờ, hẹn rằng sẽ đi mua một con ở hàng bán chim về dạy cho nó nói tiếng Nga, như thế nàng sẽ khỏi quên. Ý nghĩ ngộ nghĩnh được Georges chấp thuận ngay.
Ra khỏi nhà thờ, cả hai đều chưa biết nên làm gì. Georges định đưa Thiên Nga đi ăn ở Chợ Lớn nhưng nàng từ chối lấy cớ rằng độ này không nên lang thang nhiều.
– Anh về nhà em nấu cơm cho mà ăn.
– Thật là thông minh, còn gì bằng, được ngồi ngắm cái tủ sách thôi cũng khỏi cần ăn em ạ.
Georges không ngờ, sáng nay lúc thức dậy chàng đã lo sợ vì một ngày chủ nhật quá nặng nề mà mình sẽ phải trải qua, thế mà trái lại. Nếu tính ngày chủ nhật của mỗi người trong suốt cả đời những ngày chủ nhật buồn và những ngày chủ nhật vui thì ngày chủ nhật này cũng có thể xem như là một ngày chủ nhật vui nhất. Cũng như những ngày chủ nhật mới quen với Monique.
Đường từ nhà thờ trở về ngõ Phật Ẩn nhà của Thiên Nga, Georges không lái xe đi qua trước dinh Độc Lập mà đi ra phía đường Nguyễn Huệ qua mấy con đường trồng toàn cây me xanh, những cành lá me lăn tăn, pha vào màu nắng vàng một chút xanh làm cho nắng non hơn, trẻ hơn, không khí tươi mát hơn những con đường không được pha màu lá me. Thiên Nga và Georges đều có cảm tưởng đang đi dưới một cái vòm bằng cẩm thạch.
– Sao anh không về thẳng nhà còn đi quanh đây ?
– Anh muốn mưa ít hoa về cắm nhà chúng ta, vì hôm nay là ngày đại lễ, lúc sáng anh định ghé mua trước khi đến em, nhưng chỉ sợ em không có nhà phải mang hoa về thì tội nghiệp, hoa mà thiếu bàn tay người đàn bà…
Thiên Nga cảm động lắng nghe những lời của Georges, nhưng đến câu cuối thì nàng không đồng ý. Nàng cãi lại « Anh bảo thế chứ các ông giáo sư Nhật bản dạy ở trường cắm hoa thì sao? Nhìn bàn tay họ nâng niu vờn mấy cành hoa em có cảm tưởng như họ đang nói chuyện và nghe chuyện của hoa. »
– Em hay cãi lắm, ngày xưa mẹ có cho em uống sữa pha máu quạ không mà bây giờ bướng bỉnh thế?
– Anh lầm, em người Á đông chứ đâu phải người Bắc Âu mà pha máu quạ vào trong sữa, người Việt bảo rằng ngang như cua, vì con cua hay bò ngang để chỉ những ai bướng. Nhưng sao bên xứ Việt không có hoa Baccarat anh nhỉ ?
Nghe nhắc đến tên hoa, Georges bỗng cắn môi, chàng sực nhớ đến quá khứ, đến những ngày vui xưa, một cảm giác buồn buồn đột nhập vào tâm hồn, nhanh chóng như sương mù kéo đến trên con đường núi những hôm trời chiều ở miền bắc mà chàng vẫn bị gặp những ngày còn đi học. Thiên Nga vô tình mắt vẫn nhìn thẳng nên không để ý đến nét mặt thay đổi của Georges, nàng nói tiếp: « Ngày xưa em hay mua thứ hoa ấy. Một tuần một bông thôi để cắm trên bàn học, bỏ hai viên aspirine và thay nước mỗi ngày thì hoa kéo dài tuổi thọ có khi được đến hơn một tuần, nếu tuần nào không có hoa là em không học được, đến trường ngó giáo sư chính trị giảng về phái tả em ghi nhầm ra phái hữu, chỉ vì thiếu hoa. Lắm khi rơi vào ngày lễ phải lên tuốt trên đường Saint Honoré mới mua được một bông hơn năm trăm quan, thế mà cũng phải mua, nếu không thì năng lực làm việc sẽ giảm bớt đi ».
– Ai dạy em yêu thứ hoa ấy ?
– Cần gì phải ai dạy, con mắt của ta không đủ dạy cho ta hay sao ? Anh có biết thứ hoa ấy không, hay anh cần phải có em dạy.
– Cảm ơn em.
Giọng nói hơi lạnh lùng ngắn ngủi của Georges làm Thiên Nga giật mình quay nhìn Georges hỏi :
– Anh sao thế ?
– Có sao đâu. – Georges định kể cho Thiên Nga biết truyện những bông hoa ấy nhưng lại thôi, hôm nay là một ngày chủ nhật đẹp nhất từ độ sang Việt Nam, nhắc đến quá khứ rồi lại buồn đi chăng.
Về đến nhà, đợi Thiên Nga vào cởi áo dài ra, Georges cũng đi theo xuống bếp định giúp nàng lau bát đặt bàn, nhưng Thiên Nga nhất định đuổi lên bảo rằng nước Việt Nam chưa đến độ văn minh ấy, nàng muốn Georges lên đọc sách chờ nàng lên sau, nhưng Georges không chịu, đòi ăn bánh mì nguội vì theo ý chàng, ăn ngon chưa chắc đã là hạnh phúc. Không đẩy được Georges lên, Thiên Nga đành nấu vội nồi cơm nhỏ để đấy rồi lên theo với Georges.
Gian phòng của Thiên Nga ngủ chỉ có mỗi cái đi-văng nhỏ, chung quanh sắp những mẩu đá kỷ niệm những nơi nàng đã đi qua, một cái tủ áo có tấm kính lớn và bên cạnh có cái bàn phấn hình giống cái giá vẽ của họa sĩ. Georges cho đó là một ý kiến rất hay vì khi người đàn bà ngồi soi vào gương cầm phấn son tô lên má lên môi chẳng khác gì một họa sĩ đang vẽ trước bức tranh. Georges ngỏ ý muốn được nhìn Thiên Nga trang điểm một hôm, nhưng nàng chỉ mỉm cười trả lời bằng một câu của Ovide.
Tất cả cái gì trong nhà của Thiên Nga cũng làm cho Georges cảm động, từ màu hồng nhạt của mấy chiếc màn cửa, của cái khăn trải giường cho đến cái nơ nhung đen to tướng như con bướm thắt lên chiếc màn mỏng, cả gian phòng chỉ có hai màu chính là màu hồng với màu đen, hai màu vừa mâu thuẫn vừa nhịp nhàng với nhau.
– Ai trình bày cái nhà này cho em ?
– Chẳng ai cả, tự làm lấy từ sơn quét cho đến vẽ kiểu giường kiểu tủ, chọn màu. Em với bà già ở là hai nhân công.
Georges nghe nói chỉ muốn ôm Thiên Nga vào lòng hôn lên những ngón tay thợ thuyền và nghệ sĩ ấy, tại sao lúc này chàng lại có những cảm giác lạ lùng hơn lúc nãy mới vào. Một ý định chiếm đoạt đang đến trong đầu óc chàng. Thiên Nga sẽ thuộc về mình, nhất định thế. Ý nghĩ táo bạo làm chàng hơi lo sợ, chàng định đưa ý định của mình ra bàn thẳng với Thiên Nga xem nàng muốn gì, nàng có nghĩ như mình không ?
– Thiên Nga, tại sao em lại không là của anh mãi…
– Em sợ… em sợ từ buổi đầu vì em biết sẽ không đi đến đâu, anh đã có gia đình, còn em đang yên ổn sống một cuộc đời…
– Thà hối hận hơn là tiếc chứ em, em không sợ rằng nếu có gì chúng ta sẽ xa nhau rồi sẽ tiếc mãi sao. Anh còn nhớ hôm nọ Thiên Nga giảng cho anh nghe câu thi sĩ ở Việt Nam.
– Xuân Diệu. – Thiên Nga khẽ nhắc.
– Sao em không bắt chước cái quan niệm ấy ; đấy là quan niệm của thế kỷ thứ hai mươi, rất nên theo.
– «Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm… »
Thiên Nga đọc khẽ vừa đủ mình nghe rồi nhăn mặt lắc đầu. Georges chăm chú nhìn không bỏ sót một cử chỉ.
– Lúc nãy em vào nhà thờ em cầu gì ?
– Bí mật, còn anh, anh nói trước đi em nghe đã.
– Cầu cho được sống chung với em mãi.
Thiên Nga mỉm cười hỏi lại : «Thế anh để vợ anh vào đâu? » nhưng Georges trả lời rằng lúc ấy quên nghĩ đến vợ.
– Em cầu cho đời em đừng bao giờ bị khổ nữa, em sợ lắm nếu có gì chắc khó sống nổi, sự can đảm của mỗi người chỉ có giới hạn…
– Tội nghiệp em.
Nghe Thiên Nga nói đến những lời cầu nguyện của mình, câu cuối cùng giọng nàng nhẹ như hơi thở, như một lời van xin trăng trối làm Georges thấy mất cả những ý nghĩ ban nãy. Georges tự hứa sẽ không để cho những tư tưởng hắc ám ấy đến phá rối mình nữa. Chàng chỉ có thể làm chủ thân hình của người yêu ngày nào chàng cưới được Thiên Nga, bỏ được Monique, nhưng liệu cái việc làm cất mũ ở đầu ông Thánh Paul để đội lên đầu ông Thánh Pierre thì sẽ có lợi gì?
Nhưng tại sao tình yêu lại cứ phải pha lẫn với xác thịt vào như thế, biết bao nhiêu cuộc tình duyên không pha lẫn mà vẫn cứ còn bền chặt mãi đó thì sao, hậu thế vẫn còn nhắc đến? Georges biết rằng nếu chàng muốn thì chắc cái gì rồi Thiên Naa cũng sẽ chiều; nhưng rồi tương lai sẽ ra sao. Nếu chàng là Maurice thì chẳng có gì đáng thắc mắc; nhưng Georges thuộc về loại người phức tạp, nhiều lương tâm.
Chàng sẽ không giống những người khác; yêu Thiên Nga, Georges không muốn nàng phải khổ vì mình. Như tìm được một thứ ánh sáng mới, Georges cảm thấy lâng lâng, chàng không còn thắc mắc vì đã tự đè nén được lòng,chàng đổi câu chuyện sang vấn đề khác.
– Anh lo cho tủ sách của em quá, nếu có gì thì mình có chân chạy được, chứ chúng nó làm sao mà chạy kịp.
– Em cũng lo mà chẳng biết làm sao, hay cho em gửi.
– Được rồi, gửi anh thì em chẳng sợ gì cả, còn em ngày nào đến gửi anh luôn.
Thiên Nga mỉm cười tinh quái trả lời: « Ngày nào súng nổ ».
– Thật chứ, ngày nào súng nổ ; em nói thì nhớ đấy nhé.
– Vâng ngày nào súng nổ.
Georges giao hẹn nếu súng nổ thì bất cứ ngày hay đêm chàng sẽ đến đón nàng, «Tình thế này em đến trường cũng chẳng ai đi học, mà sau này làm vợ anh rồi em cũng phải xin thôi, anh không muốn em đi dạy học đâu, làm nghề đó vất vả lắm, vả lại anh rất ích kỷ. Anh muốn giờ nào Thiên Nga cũng là của anh, chỉ nghĩ đến anh, chỉ lo cho một mình anh mà thôi, em nghe chưa ?
– Em chẳng sợ gì cả, nếu anh không đến đón thì em sẽ chạy cùng với dân chúng, người ta thế nào mình thế ấy chứ sao. Nhưng anh cho em gửi cái tủ sách thì em bằng lòng nhất. Nếu em có gì thì ngày nào anh về quê mang luôn nó về quê anh, vì ở đây em chẳng còn có ai thân để gửi lại, em chỉ lo nếu chiến tranh không ngừng thì rồi cái gì cũng sẽ được súng đạn giải quyết hết.
Georges gật đầu hứa mang về, nhưng chàng cau mặt trách Thiên Nga nói gì nghe dễ sợ quá, con người phải lạc quan một tí chứ.
Sau bữa cơm trưa ăn vội, cả hai người quay ra thu dọn tủ sách xếp vào đằng sau cái xe traction của Georges, sách nào qúy cho đi chuyến đầu, những sách thường cho đi sau hoặc không đủ chỗ thì ở lại. Bàn tay Thiên Nga nâng niu từng quyển sách, Georges tưởng chừng như Thiên Nga là một phần trong con người của mình tách ra, có thể nào nàng cũng say mê sách đến như vậy. Georges chợt nhớ lại những bài khảo cứu về thuyết nhị hóa của con người.
Ngày bé mỗi lần ông Ferrandini cha của Georges nói đến dân tộc Á đông, ông vẫn thường hay nhăn nhăn cái mũi, tuy ông vẫn tự bào chữa : «Không phải tao có tính kỳ thị chủng tộc» ông bảo thế vì ông thường nghe nói rằng chỉ những kẻ kém thông minh, cạn suy nghĩ thì mới có óc địa phương, óc kỳ thị chủng tộc phân chia nòi giống. Tuy ông nói rằng không kỳ thị chủng tộc nhưng bao giờ ông cũng có tiếp thêm một câu : «Không phải kỳ thị chủng tộc nhưng ai ở nhà người ấy, ở xứ người ấy là tốt hơn cả. »
Bà cô của Georges, em gái ông, lại còn quá hơn, bà cô hay góp vào lời bàn của ông anh bằng một câu đặc biệt: «Tôi có cảm tưởng rằng nếu mình sờ tay vào người dân da vàng, chắc mình phải rụt tay về ngay, cũng như khi tay mình chạm vào da con lươn con rắn. Tuy chưa bao giờ tôi phải chạm vào da tay họ nhưng tôi chắc rằng nó sẽ nhờn nhờn ».
Trời trả thù, chỉ có mẹ Georges là không bao giờ nói gì cả. Trời phạt hai anh em nhà ấy, nếu họ biết rằng thằng con trai, thằng cháu quý của họ hiện giờ đang yêu một cô gái Á đông, con người xứ da nhờn, tha hồ cho ông Ferrandini nhăn mũi và bà em gái rụt tay về.
Georges và Thiên Nga đều lo làm việc vì thấy trời gần tối, chuyến sách thứ nhất đã đi rồi, chỉ còn chuyến thứ hai và cái tủ, chàng sẽ tháo ra từng mảnh rồi sẽ lắp lại. Chàng còn muốn chở tất cả các thứ bàn ghế đẹp của Thiên Nga về nhà mình vì sợ nàng tiếc của.
Có lẽ ở trong bộ Tham Mưu nên chàng đã biết rõ tình hình hơn mọi người chăng…
– Có bao giờ anh phải đưa sách đi bán chưa ?
– Chưa, may quá.
– Thế thì nơi anh còn thiếu một mẩu sống, tâm hồn còn thủng một chỗ, cũng như những kẻ bảo rằng say mê văn hóa cổ Hy Lạp mà chưa có dịp đến cầu nguyện ở dưới Acropole tại Athène thì vẫn chưa thỏa mãn.
– Thiên Nga bán sách hồi nào ?
– Hồi ở Paris chứ còn hồi nào. Khổ tâm nhất là chỉ vì thiếu tiền mình phải bán quyển sách mình vẫn cần dùng đến. Em còn nhớ hôm ấy là hôm đầu tiên, cái gì cũng chỉ khó khăn và lưu nhiều kỷ niệm ở cái lúc đầu ấy mà thôi. Hôm ấy không phải chỉ mình em cần tiền mà cả mấy đứa bạn đều cần, thế là chúng em góp sách lại đi bán, buổi sáng hẹn nhau tại nhà em. Các cô bán sách cũ học rồi không tiếc. Còn em phải bán bộ Nga nữ với quyển tự vị chỉ trừ hai quyển La Fille du Capitaine của Pouchkine là em tiếc không chịu bán. Nhìn những quyển sách nằm giữa sàn nhà, em buồn muốn phát khóc. Nhất là quyển tự vị bìa xám chữ vàng lóng lánh dưới đèn như những giọt nước mắt.
Em phải quay lưng đi vì có cảm tưởng tất cả đều đang oán giận mình. Lúc vào đến hiệu sách, thấy người sắp hàng từ trên gác xuống dưới. Cái gác của ban mua bán sách cũ cũng cũ kỹ bé nhỏ chứ không sang trọng sạch sẽ như chỗ bán sách mới. Mấy lần em muốn mang cả giỏ sách bỏ chạy ra, may quá hôm ấy có một cô bạn cùng đi, và nhìn ra chung quanh cũng khá nhiều người đồng cảnh ngộ nên em mới bớt khổ.
Không biết liệu những người khác có khổ sở như mình không nhất là khi nghe chủ hiệu ngã giá, chỉ muốn đưa tay lên tát một cái rồi quay về. Cố nhiên những người ấy họ cũng chỉ là người làm công và lúc nào mua thì người ta cũng phải nghĩ đến số lãi bán lại.
Ra khỏi nơi ấy em buồn mấy ngày liền đêm ngủ cứ mơ thấy quyển tự điển có đôi mắt long lanh.
Giọng Thiên Nga nghe bâng khuâng, Georges vội tìm cách an ủi, theo ý chàng thì người đàn ông hay đàn bà cũng thế, nếu chưa được những lớp sơn đau khổ phủ bên ngoài thì chẳng có gì đặc biệt đáng chú ý, cuộc đời không khác cuộc đời một con búp bế hay chú lính chì được người ta tạo nên một cách máy móc, người ta cho mặc áo quần rồi bày vào tủ kính đợi một nhà giàu đến bỏ tiền ra mang về, làm thứ đồ chơi cho những cô bé, chú bé nhà giàu trong một thời gian, rồi chờ ngày vào sọt rác. Câu chuyện của họ chắc sẽ ngấy như mỡ cá, có gì hơn là quanh quẩn trong mấy vấn đề ăn uống, chơi, ngủ. Hẳn vì Thiên Nga đã được cái may mắn trải qua những phút ấy nên ngay hôm đầu tiên nàng mới lôi cuốn được Georges chăng?
– Biết rồi.
– Gì cơ ? – Thiên Nga ngơ ngác hỏi lại.
– Lý do vì sao mà anh mê Thiên Nga.
– Vì sao ?
– Vì những phút đứng làm đuôi bán sách đó, anh chắc rằng nếu chẳng có những phút ấy thì em có đẹp mấy anh cũng xin hàng. Em sẽ giống hệt các cô gái đi nhởn nhơ ngoài kia.
Phải đến mấy chuyến mới chở được hết cả sách và nhạc của Thiên Nga đi, gian nhà bây giờ trống hẳn ; một tiếng thở dài rất nhẹ chắc cũng có âm vang. Không ngờ sách đã chiếm một vai trò quan trọng như thế. Chính Thiên Nga khi trao tất cả sách gửi Georges hình như cũng đã trao luôn cả tâm hồn mình cho chàng giữ hộ.
Hiện giờ nàng chỉ còn cái xác, cũng như gian nhà chỉ còn mấy bức tường trống với mấy cái bàn ghế cũ kỹ. Sợ sách nằm ngoài bị hỏng, nên cái tủ sách được chở đi trước rồi đến những cái bàn ghế giường, tất cả của cải gì của Thiên Nga đều đưa về nhà Georges. Vi biết rõ tình hình quá nên Georges đã dùng đủ tài ăn nói để bắt Thiên Nga bằng lòng cho mình mang đi hết. Chàng đã mượn một chiếc xe lớn của sở, tự lái đến chở các thứ tủ giường đi.
Georges chỉ muốn giữ hết tất cả những gì mà nàng yêu quý, như thế Georges sẽ có cảm tưởng như đã nắm hết Thiên Nga vào trong cánh tay mình. Georges chỉ còn cầu mong cho đêm nay hay đêm mai gì thì súng nổ để chàng đến đón luôn cả Thiên Nga về nhà mình. Kể ra họ là những con người còn quá nhiều nguyên tắc, tại sao phải đợi nổ súng mới dám tìm đến nhau ? Chính Georges cũng thấy mình vô lý, tại sao chàng không mời Thiên Nga đến nhà mình ngay?
Những câu chuyện Thiên Nga kể cho Georges nghe trong suốt ngày chủ nhật bắt Georges càng phải nghĩ đến Thiên Nga nhiều hơn. Lạ nhất là nghĩ đến Thiên Nga mà không hề nghĩ gì đến vợ con ở Rabbat.
Cách một tuần sau súng nổ. Georges đã căn dặn người tùy viên của chàng bao giờ súng nổ thì lấy xe đi đón Thiên Nga ngay. Người ấy đã không phụ lòng tuy rằng có hơn một tiếng đồng hồ chờ đợi ấy Georges cũng đã khắc khoải mở cửa hết đi ra lại đi vào, hút gần hết một bao thuốc, điếu nào cũng chỉ kéo vài hơi rồi ném xuống sàn nhà lấy gót giày dí lên trên. Trái hẳn với cái tính cẩn thận hằng ngày của chàng.
Georges thay sẵn quần áo, nếu có gì thì chàng sẽ phóng xe đến mặc dầu biết rằng mình không có quyền làm như thế, chàng phải ở nhà đợi lệnh của cấp chỉ huy.
Nghe tiếng xe ngừng ở cửa, Georges sung sướng nhào ra sân cảm ơn người tùy viên của mình, rồi mời Thiên Nga vào nhà.
Cử chỉ đầu tiên lúc đứng cạnh Thiên Nga là nhìn thẳng vào mắt Thiên Nga rồi nói khẽ : «Em vẫn còn sống và đã đến được đây ».
Chàng chỉ sợ nửa đường xe bị đạn lạc. Thiên Nga không trả lời chỉ mỉm cười, muốn giấu sự cảm động nàng vui vẻ kể chuyện lại mình đang sắp sửa ngủ thì súng nổ và chỉ có độ mười phút sau là có tiếng đập cửa.
– Súng băng qua mái nhà, em có cảm tưởng như thế, may quá sách và đĩa hát đã đưa đi trước cả rồi, nếu không chắc em chẳng nỡ nào bỏ.
– Thiên Nga tệ quá, ai lại quý những thứ ấy hơn thân mình bao giờ. Bao nhiêu người thiệt mạng vì tiếc của trong những trường hợp thế, bảo cho em biết đừng có gàn.
Bị Georges trách nhưng Thiên Nga chỉ mỉm cười. Georges cũng hân hoan nhận thấy rằng ngày chủ nhật trước là một ngày chủ nhật mà định mệnh đã sắp đặt. Thiên Nga về nhà chàng một cách mạnh dạn, tự nhiên như con gái về nhà mẹ, vì tất cả giang sơn của nàng Georges đã khôn ngoan cho đưa đi từ trước. Georges đã cố ý xếp dọn căn phòng khách dành cho Thiên Nga thế nào cho giống hệt như cách bố cục ở nhà nàng. Chàng không muốn Thiên Nga sẽ bị cái cảm giác lạnh lẽo xa lạ. Cũng cái tủ sách nằm quanh góc nhà bên trong, cũng những bức màn hồng với chiếc đi-văng nhỏ và cái giá vẽ họa sĩ. Cái bàn viết cạnh tủ sách cũng có một bông hoa hồng đang hé nụ chưa nở hẳn giống như mối tình của Georges và nàng. Còn bao nhiêu dặm đường phải đi cùng nhau. Cảm tình của họ cũng nguyên vẹn như một bàn tiệc rượu chưa mở, cốc chưa lật lên và chiếc bánh chưa cắt.
– Em bằng lòng sự xếp dọn như thế này không ?
Nhìn sự bày biện rất công phu của Georges, Thiên Nga cảm động đứng lặng yên, một hồi lâu mới khẽ nói hai chữ cảm ơn. Nàng đang bị quá nhiều xúc cảm cuồng quay trong đầu óc.
Muốn cho Thiên Nga yên lòng hơn, Georges còn nói thêm: « Đêm nay nếu em muốn, để kỷ niệm chúng ta sẽ pha cà-phê uống, thức trắng đêm ra hiên nhìn về phía nhà em, anh xin hẹn rằng….»
Thiên Nga mỉm cười.
– Anh chẳng cần hẹn gì cả, em đã hứa với anh ngày nào nổ súng em sẽ đến với anh. Nếu họ thương thuyết với nhau thì thôi. Em sẽ không bao giờ đến đây, không bao giờ có đêm nay. Trái lại súng nổ, hẳn đó là ý kiến của định mệnh, em không cãi.
– Em có còn sợ rồi sau này nếu có gì xảy ra chúng ta phải xa nhau thì em sẽ thêm một lần đau khổ nữa không ?
– Tất cả đều đã xếp đặt trước, biết đâu không gặp em đêm nay thì em cũng sẽ thành tro theo với tất cả những sách vở của em ở trong căn nhà ấy.
Georges sung sướng nghe lời thú nhận của Thiên Nga. Chàng kéo người yêu ra cửa sổ đứng nhìn về phía Chợ 1ớn, về phía nổ súng. Chàng thầm cảm ơn chính phủ Pháp đã giúp cho quân Bình Xuyên. Nếu chàng biết trước rằng Thiên Nga đã tự hứa với nàng như thế, chắc lòng chàng sẽ bình yên chứ không thắc mắc như mấy hôm nay. Vì đọc trong tài liệu mật, chàng đã biết hết cả đường lối của thượng cấp.
Thiên Nga và Georges đứng sát bên nhau nhìn ra ngoài trời, không ai nói lên câu nào nữa, mỗi người đang đi riêng về miền quá khứ của mình. Quá khứ là một tập ảnh, một cuộn phim, một tập nhật ký mà mỗi người được quyền cất giữ lấy làm một tư hữu, chỉ cần cúi xuống mở ra là có thể xem lại tất cả.
Súng nổ mỗi phút một nhiều hơn, đằng góc trời phía cầu chữ Y lửa đỏ lên rừng rực, ngọn lửa nhờ được gió phụ họa nên mỗi lúc một lên cao, lửa soi sáng, nhuộm vàng cả một góc trời. Lâu lắm Georges mới lại được thấy một đám cháy lớn như thế, từ độ đánh nhau với quân Đức ở bên Anh, thế mà mấy năm rồi…
– Tại sao người ta lại đánh nhau anh nhỉ ?
– Nếu không đánh nhau thì loài người biết làm gì bây giờ?
Thiên Nga mở mắt nhìn Georges, không biết chàng nói đùa hay nói thật. Kể cũng đúng một phần lớn, nếu không đánh nhau chắc sẽ có bao nhiêu triệu người thất nghiệp. Nếu tất cả mọi ngành kỹ nghệ đều phát triển, y học phát triển, con người sống lâu mạnh khỏe, nhà ai cũng đầy đủ giàu sang thì rồi để đâu cho hết những con số thừa thãi ấy? Nghĩ đến đây, Thiên Nga lại chợt nhớ đến một câu của Erasme, không biết nàng đọc tự bao giờ nhưng nàng còn nhớ và Thiên Nga vẫn thấy rằng nhà thần học ấy rất có lý. Mỗi lần gặp câu nào thích là y như có người thợ khắc đến ghi vào trong trí nhớ. Thiên Nga lẩm nhẩm «..Người ta biết rằng chiến tranh là một sự rất độc ác, rất ghê sợ, ngay cả những loài yêu quái cũng nôn ra xuống mặt đất. Rất bi thảm, nó mang theo sau nó bao nhiêu sự hỗn loạn, rất bất công chỉ gợi hứng được cho những kẻ vô lương, những tên tướng cướp, rất oan ức, nó đã làm trái hẳn với ý muốn của Chúa, thế mà… »
– Em nói thầm gì thế? – Georges quay lại hỏi Thiên Nga.
– Không, em so sánh hai ý nghĩ, một câu của Erasme và một câu anh vừa bảo, nếu không đánh nhau thì loài người biết làm gì bây giờ.
Nghe Thiên Nga nói Georges chỉ biết khen thầm cái dân tộc có nhiều trí nhớ và chịu khó học hỏi.
– Chỉ tội nghiệp cho những người dân nghèo.
Georges thầm thì trong ánh lửa, trong đêm tối. Ánh lửa càng về khuya càng đỏ rực trong tiếng súng nổ của hai bên. Chàng ước lượng chắc phải có rất nhiều ngôi nhà bị thiêu hủy. Cố nhiên trong số ấy thế nào cũng có căn nhà của Thiên Nga ở ngay vào tầm súng làm sao tránh cho khỏi.
– Nếu chúng ta không tản cư đi thì tuần này em mất hết cả rồi.
– Thật là may mắn, may cho cái tủ sách.
Thiên Nga lơ đãng trả lời. Ngày mai hết bắn nhau, nàng sẽ phải về thăm căn nhà, Thiên Nga đưa tay lên dụi mắt vì nhìn về phía lửa làm cay mắt hay vì đêm khuya nên nàng cũng cảm thấy buồn ngủ.
Cả hai người đều đang lúng túng, trên lĩnh vực tinh thần họ gần nhau hơn cả những đôi vợ chồng đã sống cạnh nhau hằng chục năm. Nhưng trên vật chất thì họ đối với nhau còn như hai cô cậu học trò bỡ ngỡ. Lần nào gặp mặt cũng bận bàn cãi bao nhiêu vấn đề, hoặc kể lể những chuyện quá khứ, những kỷ niệm gia đình. Cả Thiên Nga và Georges đều thấy rất đầy đủ, nếu một ngày nào có đi đến cuộc phối hợp thể xác thì cũng chỉ là phụ thuộc mà thôi.
Những người khác chắc không nghĩ như thế, giá ai nghe được câu chuyện của hai người này chắc sẽ phê bình rằng chúng nó ngu không biết tận hưởng hạnh phúc.
Nhưng ở đời cũng phải có người khôn kẻ gàn chứ nếu nhân loại rủ nhau mặc đồng phục cả thì chán chết. Georges lại còn lý luận rằng có nhiều đôi vợ chồng ăn ở với nhau đến năm bảy đứa con mà đến lúc chết hình như vẫn chưa ai hiểu rõ ai. Sự gần gũi xác thịt đối với họ cũng như những chú mèo đực đêm đêm vào mùa thì gào thét khi nghe đâu có mùi mèo cái, tuân theo quy luật của tạo hóa.
Ngày bé Georges cũng có nhiều lần suy nghĩ đến những mối tình cao đẹp ấy, người điêu khắc có thể cảm cái tượng của mình tạo ra. Donatello đã không mắng mỏ cái tác phẩm Zuccone của mình bằng câu : «Nói đi, trời ơi nói đi» đó sao ? Biết bao nhiêu họa sĩ cũng mê người trong tranh của mình họ đâu có cần phải ôm tranh, ôm tượng mà ngủ. Georges thích nhất là câu chuyện nhà điêu khắc Toscan đã mắng cái tượng, bắt cái tượng nói lên. Đấy không phải chứng tỏ rằng loài người chỉ cần được nhìn, được nghe là đủ rồi đó sao.
Đêm nay quả là một đêm đặc biệt, Thiên Nga từ lúc vào nhà chưa thay áo, cả Georges cũng ăn mặc chỉnh tề để đón người yêu, cả hai đều mải nhìn theo đám cháy nghĩ đến tình trạng những nạn nhân.
– Gần sáng rồi…Thiên Nga có mệt vào nghỉ đi.
– Còn anh ?
Thiên Nga hỏi lại Georges xong đứng cắn môi, biết rằng Georges đã ý tứ cố dọn cho nàng một căn phòng riêng như thế tức là muốn để cho nàng được tự do. Không như những người đàn ông khác thường bắt người đàn bà phải trả giá những sự tử tế của họ khi họ giúp đỡ cho một việc gì.
Biết Thiên Nga thắc mắc, Georges nói ngay mặc dầu lúc mới vào Thiên Nga đã gần như thú nhận lời hẹn của mình: ngày nào súng nổ…
– Đêm nay chắc em buồn vì thương đồng bào, thương căn nhà của em bị cháy, em nên vào ngủ để lấy lại sức.
Thiên Nga mỉm cười nhìn Georges, nàng hơi lo ngại rằng mình đang hành động trái với định mệnh. Tuy vậy người thiếu nữ cũng lặng lẽ vào phòng thay áo rồi lên giường, mặc dầu chưa chắc có ngủ được.
Bên phòng tắm tiếng nước của Georges cho chảy cũng khua vang vì đêm vắng nên một tiếng động nhỏ nào cũng nghe rõ ràng.
Súng vẫn không ngừng nổ. Qua khung cửa xa xa mấy ngôi nhà láng giềng đều bật đèn, những ánh sáng vạch thành từng dòng qua lớp cửa sổ. Cả Saigon không ngủ, hồi hộp lo lắng chờ đợi. Lửa vẫn đỏ trời, những ngọn lửa sắc bén phun lên không gian một làn khói xám, giống hệt như hình ảnh của chốn địa ngục trong mấy tấm tranh vẽ để dạy trẻ con biết ăn ở lương thiện.
Nằm mãi không ngủ được, có lẽ vì lạ nhà chứ cái giường thì vẫn là cái giường quen thuộc của nàng, Thiên Nga cũng không hiểu tại sao, lúc nãy thì mắt nàng đã díu đi rồi. Vì tiếng súng chưa ngừng bắn hay vì có một cái gì khác nữa mà nàng chưa tìm biết.
Lắng nghe bên phòng Georges đã trở lại im lặng, đèn cũng tắt từ lâu, Thiên Nga lặng lẽ ngồi dậy đến nhìn lửa cháy ở phía cửa sổ, nàng đang nghĩ đến căn nhà của mình chắc giờ này đang quằn quại trong đám lửa, từng bức tường, từng cái cột phải ngã chúi xuống dưới sức bỏng cháy, Thiên Nga thở dài, không biết tương lai sẽ ra sao, nhà cháy rồi bây giờ sẽ ở đâu, không lẽ cứ ở mãi đây với Georges. Bỗng nàng giật mình vì nghe tiếng gọi tên mình thầm thì bên tai,
– Thiên Nga.
Thì ra Georges đã đứng cạnh nàng từ bao giờ, chàng bỏ dép đi chân đất, nên không có tiếng động. Georges cũng không ngủ được. Tay chàng đặt lên đôi vai trần của Thiên Nga làm nàng rùng mình, bàn tay Georges sao hôm nay nóng như đang lên cơn sốt, lần thứ nhất hai người gần nhau đến như thế. Lệ thường chiếc áo Việt Nam kín đáo bao giờ cũng như một bức tường sắt che đậy cho cả thân mình, không có một chỗ hở nào của da thịt để cho con người bị lôi cuốn, ngoài đôi bàn tay, nhưng đôi tay cũng dạn dày không dễ xúc cảm như những chỗ da khác.
– Sao anh không ngủ, em tưởng anh ngủ chứ.
– Anh không biết hình như…
Rồi Georges quàng tay qua thân hình Thiên Nga ôm trọn cả người nàng trong vòng tay của mình.
– Em có hối hận không ? – Georges hỏi rất nhẹ.
– Định mệnh…
♣
Nhìn Thiên Nga ngủ, yên lặng ngoan ngoãn tiếng thở chầm chậm, nhẹ như tiếng thở của người sắp chết, Gorges rùng mình ngắm chiếc áo ngủ trắng, tại sao lại màu trắng, nổi bật lên trong màu tóc đen huyền đóng khung cả khuôn mặt. Tóc phủ đầy lấp cả gối làm thành một bức tranh nổi mà người họa sĩ cố tình vẽ cái phông tranh toàn màu đen. Tất cả đều huyền ảo dưới ánh sáng mờ bên ngoài đang tràn qua song cửa. Người đàn bà dưới ánh trăng thường vẫn đẹp hơn gấp mấy lần dưới ánh sáng chứa chan ban ngày. Georges muốn đánh thức Thiên Nga dậy nhưng thấy giấc ngủ của nàng hiền lành quá, chàng lại không nở.Georges thì chịu, không thể nào ngủ được, Thiên Nga đã hoàn toàn thuộc về chàng rồi. Nàng bằng lòng đến với Georges, không lo sợ hay có lo cũng chỉ lo rằng mình sẽ khổ chứ không phải như chàng. Lúc này bắt đầu hoang mang, chàng đâu có quyền được sống như một người con trai tự do chưa có vợ. Lặng lẽ chàng đưa tay ra ngoài bàn nhỏ tìm thuốc và diêm châm hút để suy nghĩ. Thiên Nga đã trao hết cho chàng, không mặc cả, không đòi hỏi. Mối tình này khác hẳn với mối tình của Monique. Georges cảm thấy ngộp lên như lần thứ nhất tập nhảy dù từ trên máy bay xuống, mặc dầu đã thuộc lòng những lời dặn dò, những lý thuyết, thế mà hôm đầu tiên Georges cũng không sao tránh khỏi sự hồi hộp lo lắng. Giờ phút này cũng thế, mặc dầu đã mấy tháng chuẩn bị trước. Có mối tình nào không đưa đến nơi đây ? Tại sao Georges vẫn lo sợ ….
Tiếng súng đã ngừng, chỉ còn chơi vơi một vài tiếng nổ lẻ tẻ; ngọn lửa cũng dịu cơn nóng giận không như ban nãy. Georges chưa bao giờ tưởng tượng rằng đời lại có những đêm kỳ lạ như đêm nay, giá trước kia ai bảo chàng sẽ có những mối giây liên lạc với một cô gái Việt chắc Georges sẽ mỉm cười ngờ vực.
Hình ảnh những người đàn bà mà chàng đã gặp trong một vài buổi do các bạn giới thiệu, hoặc nài ép trong những hôm đi công tác, những hình ảnh ấy đang trở về, hẹn nhau gặp gỡ lại chàng đêm nay.
Cô gái Ý Belle Rosana, người thứ nhất đã dạy cho chàng biết cách điều khiển một tấm thân phụ nữ ở trên giường. Rosana lớn hơn Georges cũng đến mười tuổi. Gặp nhau chẳng cần ai giới thiệu. Lần thứ nhất, Georges đến Rome, chàng bỡ ngỡ chưa biết làm thế nào để đi viếng điện Vatican. Người ta bảo chàng cứ mua bản đồ mà tìm đường lấy. May là dân Corse người nào cũng biết ít tiếng Ý nên chàng khỏi phải hỏi ai. Vào chỗ bán vé Georges không có tiền lẻ, nhờ một người đàn bà đứng cạnh thấy chàng lúng túng bà ấy đã đổi hộ chàng tờ giấy mười nghìn lire và Georges đã nhập bọn với những người ấy. Sau khi đi xem khắp hết, đến trưa Rosana hỏi chàng ăn cơm ở đâu? Georges bảo ở hiệu, thế là nàng đưa về nhà cho ăn, ăn xong lại còn cho ngủ trưa. Thấy chú bé ngây thơ quá Rosana đã dạy dỗ chàng rất tận tâm. Đây là kỷ niệm đầu tiên của thằng con trai, Georges vẫn thỉnh thoảng nhớ đến người đàn bà có đôi môi đánh thật đỏ bật lên trong đôi mắt âm u, mỗi lần nhìn ai như đốt lửa vào tim người, Rosana tuy gần ba mươi nhưng thân hình cân đối, Georges nhớ rõ chàng đã vụng về khen nàng đẹp giống Vénus de Milo bị nàng hét lên vì Vénus đẫy đà, còn nàng tự cho rằng mình thanh tú hơn. Người đàn bà nào cũng tự thấy mình đẹp nhất.
Sau cô gái Ý, cô giáo dạy yêu đương ấy, là cô Smith, Georges gặp trong thời kỳ chiến tranh. Nàng là nữ điều dưỡng người Anh. Lấy bài học của cô gái Ý đưa áp dụng vào một cô gái Anh thật là sai lầm, may nhờ cái thiên tính của con người vẫn tỏ ra rất sáng suốt trong một vài trường hợp cần thiết. Cô Smith thận trọng chỉ còn thiếu sự bắt Georges phải chào quốc kỳ, hát God save the King trước khi lên giường thì mới chịu cởi đôi tất len dài lên tận đùi, xù như da gấu.. Nhưng tất cả cũng chưa bằng cô gái Do Thái, xong hết mọi sự rồi mới ngồi dậy khóc ấm ức vì thấy Georges không có sự giao kết với Yaveh, cô ấy tưởng lầm Georges là dân Do thái mới bằng lòng ở lại với chàng. Làm suốt cả buổi Georges phải vừa xin lỗi vừa dỗ dành, đã thế cô ấy còn sợ xuống gehenne (Địa ngục Do Thái) vì đúng vào ngày Sabbat (Lễ Do Thái vào ngày thứ bảy cấm làm việc).
Về sau này một hôm chàng có dịp kể cho Maurice nghe, Maurice đã bảo: « Thật đấy, lắm đứa sau khi lộn xộn xong mình chỉ muốn đá một cái xuống giường để lấy chỗ ngủ cho rộng rãi.»
Kinh nghiệm của chàng còn có một cô gái Nhật bản gặp trong chuyến đi công tác qua Tokyo. Gặp chàng, biết là người Pháp, lúc chưa bước vào phòng ngủ đã rú lên « French love, French love, I like it », Georges bực mình, chàng vẫn nghe nói người đàn bà Á đông rất tế nhị dịu dàng, gặp phải cô này khác hẳn với những lời tả trong văn, trong truyện. Đã thế Georges lại còn cáu ở chỗ cô ấy làm như người Pháp chỉ biết có mỗi một chuyện lộn xộn đó mà thôi.
Cuối cùng là hình ảnh Monique với một cơn bệnh thần kinh ngay từ đêm tân hôn để Georges hốt hoảng mất hết cả thơ mộng. Sau đấy, nếu nàng không ốm mệt thì nàng cũng hờ hững như người công chức đến sở làm xong bổn phận đợi cuối tháng lãnh lương cho khỏi thắc mắc.
Hôm nay tại sao chàng lại đem tất cả ra so sánh với nhau như thế này, cô gái Việt không ầm ĩ, không khóc lóc hay tỏ vẻ quá quan trọng như cô Smith, cũng không hờ hững như Monique đối với chàng. Vợ Georges đã gián tiếp huấn luyện cho chồng, từ một thằng con trai Corse nóng nẩy cuồng nhiệt, trở nên trầm lặng dửng dưng, như một tín đồ của Phật giáo hay một triết gia đứng trước tất cả mọi vấn đề xác thịt, chàng chỉ có quyền chiêm ngưỡng, xem như một bức thánh tượng, chàng cũng hầu quen như thế, chỉ vì trong cuộc hôn nhân ấy tình yêu, chỉ có một chiều mà thôi.
Georges hoang mang không biết hành động của mình là đúng hay sai, rồi sẽ mang lại những kết quả gì. Nếu tình yêu cứ mỗi ngày một chồng chất lên mãi thì chắc Georges phải xin ly dị, nhưng liệu Monique có chịu không, hay nàng đã có kinh nghiệm nhiều quá rồi? Nàng biết rằng bệnh hoạn và tính xa xỉ của nàng thì chẳng bao giờ gặp được một người chồng bằng lòng để cho nàng sống như Georges đã để yên từ bao nhiêu năm nay. Nàng sẽ bám vào Georges như những con đỉa bám chân anh thợ cày ở dưới ruộng.
Georges bật cười với ý nghĩ so sánh rất « exotique » của mình. Sang đây mới có chưa đầy một năm mà Georges đã biết dùng những hình ảnh thuần túy Á đông ấy.
Tiếng cười của Georges làm Thiên Nga thức giấc, nàng mở mắt ngơ ngác nhìn chung quanh, một thoáng ngạc nhiên sợ hãi hiện trên ánh mắt nhưng rồi chợt nhớ ra. Hình ảnh những gì đã xảy đến đêm hôm qua, từ lúc nổ súng nàng còn nằm trong nhà cho đến lúc nhìn lửa cháy, lúc nằm trong tay Georges, Thiên Nga xấu hổ cắn môi ngước nhìn lên người yêu.
– Nhà em chắc cháy rồi, em nằm mơ thấy đi dạo trong đống gạch ngói đổ nát cháy đen. Thế là hết…
Giọng Thiên Nga buồn như sắp khóc, Georges muốn chế giễu nàng mơ sao mà tài quá thế nhưng lại không nở, chàng cảm thấy thương Thiên Nga hơn và biết rằng bổn phận mình từ nay lại còn có phần nặng nề hơn, chàng phải làm gì để nâng đỡ cuộc sống tinh thần của nàng, cho nàng khỏi bị cái cảm giác cô độc…
– Em sẽ là vợ anh, em sẽ ở với anh…
Georges nói mà có lẽ chàng không nghĩ nhiều đến câu nói của mình. Thiên Nga lắc đầu, người đàn bà bao giờ cũng suy nghĩ kỹ hơn, nàng biết đấy là một chuyện không thể thực hiện được vì nàng đã hiểu rõ tâm trạng của Monique qua những lời Georges vẫn kể Monique sẽ không bao giờ bằng lòng cho ly dị.
– Có em gian phòng sáng hẳn lên, trước đây anh chỉ có nằm đọc sách chứ chẳng biết làm gì hơn. Bây giờ anh chắc khỏi cần ra thư viện, một là vì trong tủ sách của em có nhiều quyển anh chưa đọc đến, thứ hai là…
Nói đến đây Georges ngập ngừng, chàng có nên nghĩ thêm nữa không, chàng có quyền sống trong cái hạnh phúc hiện tại này không ?
– Thứ hai là sao ?
– Có em chắc khỏi cần tìm đến sách để giải trí, bây giờ anh mới hiểu tâm trạng của phần đông những người đàn ông ngoại quốc đến ở đây. Ông nào cũng có vợ Việt nếu không thì lúc ra đi cũng gửi lại một nửa tâm hồn, làm cho các bà – nhất là mấy bà vợ sĩ quan Pháp – tức bực. Người Pháp còn ở thêm một vài năm nữa chắc các bà vợ sĩ quan ấy sẽ lập thành một tổ chức gọi là Hội ghét gái đẹp Việt Nam, L.A.J.F.V (ligue anti jolies filles Vietnamiennes). Giống như ở Mỹ có những tổ chức cấm rượu, cấm thứ này thứ khác do các bà điều khiển.
Nghe tiếng điện thoại reo, Georges phải vùng dậy tiếc rẻ cái chỗ ngủ, lần đầu tiên chàng nằm trong giường lâu như thế. Đồng hồ điểm bảy giờ. Georges đi qua phòng rửa mặt, chàng bảo Thiên Nga ngủ nữa vì đêm qua thức khuya, nhưng Thiên Nga kêu nóng ruột chỉ muốn đi thăm ngôi nhà cháy của mình.
Suốt đêm qua Georges không nhắm mắt, thế mà Georges không cảm thấy mệt nhọc, trái lại, thân thể chàng như vừa thở làn khí mới, tươi mát, thứ khí của đồng quê những buổi quần ngựa một mình trong ánh nắng sớm còn ướt sương đêm.
Tắm rửa mặc quần áo xong, Georges ra phòng ngoài mang khay cà-phê sáng mà chị Ba đã làm sẵn cho hai người, đến gần giường chàng lúng túng chưa biết đặt vào đâu, chàng nói đùa:
– Lâu ngày quên mất cách hầu hạ vợ, em tha lỗi nhé.
Thiên Nga bật cười trả lời «Thảo nào mà con trai Pháp đắt hàng vì anh nào ở nhà cũng được thấy cảnh bố hầu hạ mẹ, nên quen đi chứ gì. Đấy cũng là một sự giáo dục, phải không anh ».
– Phải, nhưng chưa bằng con trai Mỹ, vì vợ chưa có sắm riêng cái áo khoác với cái mũ bếp đội cho khỏi hôi tóc.
– Mở đồ hộp chứ có gì mà hôi tóc.
– Em nhầm : có những món ăn phải hâm lại chứ, như món gà nấu món cassoulait hay thịt thỏ thì sao.
Ăn sáng xong Georges từ giã Thiên Nga để đến sở vì thế nào cũng có rất nhiều việc phải giải quyết. Khi bình thường, ít ai nhắc đến Georges nhưng có chuyện thì điện thoại phòng Georges không bao giờ ngừng, hết người này hỏi ý kiến đến người kia muốn gặp để bàn công việc.
Chỉ vắng có mấy tiếng đồng mà Georges và Thiên Nga đều có cảm giác tiếc thời gian, trước kia hằng tuần không gặp nhau cũng chẳng sao, cảm tình thật phức tạp …
Phải mấy ngày sau Thiên Nga mới được trở về nhà thăm đống gạch cháy của mình. Nhìn ra chung quanh nàng còn bao nhiêu chủ nhà khác cũng đang thiểu não không lê nổi bước chân. Thiên Nga buồn rầu đưa mắt trông về đằng xa, những ngôi nhà hôm kia còn nhộn nhịp thế mà bây giờ chẳng lưu lại một dấu vết gì. Vài ba người chủ nghèo đang lom khom đào bới trong đám gạch, hy vọng có vớt vát được một chút gì mà thần lửa đã vô ý bỏ quên không kịp thiêu. Bệnh viện thiếu chỗ cho nạn nhân nằm, có nhiều xác chết phải quàn vội vàng trong những chiếc chiếu được xếp hàng bên nhau.
Thiên Nga nghĩ thầm, nếu không có Georges thì hẳn nàng cũng đang ở trong số người nằm bó chiếu ấy rồi chăng ? Một vài bức tường loang lở, một vài cái cột bằng gạch, đen đủi còn bướng bỉnh sừng sững chưa chịu ngã xuống đám gạch ngói. Mà đây chỉ là một chút «mẩu» của chiến tranh thôi chứ đâu đã là chiến tranh thật sự, nếu thật chiến tranh thì không biết còn đến bao nhiêu đám cháy.
Quân đội Bình Xuyên đã rút về cầm cự ở chiến khu, người ta bảo có cả một tủ két bạc lớn của ông Bảy bị cháy, hẳn vì thế nên có nhiều người đến lom khom đi tìm đó chăng ?
May mà Georges đã giúp Thiên Nga chở hết các đồ dùng trong nhà đi chỉ còn lại một vài thứ bàn ghế lặt vặt, nếu không thì bây giờ tất cả đều bị thiêu với căn nhà hết rồi. Đứng ngay trên đống gạch vụn của ngôi nhà mình, Thiên Nga không đào bới như những người khác, nhưng nàng cũng chẳng tránh khỏi cái nhìn tìm kiếm. Đôi mắt muốn được gặp những hình ảnh cũ, cái mảnh chai này có phải là mảnh của chai nước lọc vẫn để ở bàn nhỏ cạnh chỗ ngủ. Đằng kia cái chậu rửa mặt màu trắng nay đã trở nên xám xịt vì khói bám đầy, rạn nứt chỉ chờ vỡ tung đang nằm ngả nghiêng, mấy chậu cảnh thì khô queo như tóc người chết được ướp xác giữ được lâu mà Thiên Nga đã có lần trông thấy ở trong những viện bảo tàng tại Âu châu.
Một đêm trăng mà đứng nơi này chắc sẽ rợn người, không biết còn xác ai bị bỏ quên dưới đống gạch cháy nữa không ? Xa thấp thoáng bóng một vài nhà nhiếp ảnh, quay phim. Hẳn họ đang muốn giữ lại những hình ảnh điêu tàn để làm chứng, ghi vào lịch sử kết quả của sự tham lam, ác độc ích kỷ của một số người.
Gần hai tiếng đồng hồ mà Thiên Nga vẫn chưa muốn quay về. Những giọng khóc tỉ tê của một vài kẻ vừa tiếc người thân vừa tiếc của, Thiên Nga lắng nghe qua mấy câu kể lể… Nàng cảm động muốn khóc theo: từ nay nếu không có Georges thì chính nàng cũng chưa biết phải ở đâu.
Tương lai u ám như khung cảnh đang dẫm lên dưới chân, Thiên Nga lặng lẽ bước ra khỏi đám nhà cháy, mênh mông như một cái hồ rộng. Hồ không nước mà chỉ có những công trình, những kỷ niệm, mồ hôi nước mắt của mỗi gia đình, mỗi con người.
Có tiếng còi xe vang, Thiên Nga cúi đầu chậm rãi quay về, ở lâu hơn chắc nàng cũng sẽ bị chìm trong cái hồ đen ngòm không có nước mà thăm thẳm ấy.
Mấy hôm nay mở máy phát thanh giờ nào cũng nghe những bài ca tuyên truyền, tán tụng con người đã cứu vớt nước Việt Nam ra khỏi chốn lầm than. Nếu không phải giờ ca hát thì lại là giờ tin tức sang sang kết tội quân đội Pháp đã tiếp tế cho Bình xuyên để chống lại chính phủ, để giết lương dân.
Đám tang của Thiếu Tướng Trình Minh Thế đông chật cả lối đi. Bao nhiêu tin đồn chống đối nhau, có kẻ bảo đó là chính phủ Diệm đã giết để trừ hậu họa. Người khác, nhất là những người làm trong chính phủ tự hào rằng nguồn tin của mình đúng nhất, những người này bảo chính người Pháp giết hoặc là những sĩ quan Nhật chỉ huy quân Bình Xuyên giết vị tướng trẻ tuổi ầy.
Biết tin vào ai, chỉ còn đợi lịch sử trả lời. Dầu sao đấy là một đám tang được cử hành rất long trọng, có lính ôm súng, có đại điện các cơ quan, công chức đi dài suốt mấy con đường.
……………(Kiểm duyệt bỏ 20 dòng)……………
Người nào cũng đầy tin tưởng, trong số ấy có cả Thiên Nga, nàng cũng mong ước được trông thấy sự độc lập chân thành chứ không phải những lời hứa suông giả tạo, bắt người dân khắc khoải chờ như con cá chờ ngày được thả xuống nước. Thiên Nga còn băn khoăn hơn nữa, rồi đây Georges cũng sẽ phải về xứ như tất cả những người Pháp khác. Mỗi lần có dịp lên sân bay, Thiên Nga lại được chứng kiến những cảnh tiễn đưa. Những nét mặt khổ sở, đôi mắt đầm đìa của mấy người đàn bà Việt đưa người yêu về xứ. Họ gục đầu lên vai nhau thỉnh thoảng run lên vì những cơn nức nở. Lần nào ra về, Thiên Nga cũng thắc mắc, có thể như thế được ư, những giọt nước mắt sao lại đi phung phí khóc những quân nhân Pháp là những kẻ đã từng giết hại đồng bào mình.
Dầu sao nàng cũng thấy lòng nao nao trước những mối tình lưu luyến, những vòng tay ôm thắt chặt trước một người phải bước ra sân ngoài theo cô chiêu đãi để lên máy bay. Mỗi lần quay về nhà Thiên Nga lại đặt bao nhiêu câu hỏi, thế mà, những cảnh tượng ấy rồi đây sẽ xảy đến cho mình. Thiên Nga sẽ là một trong những cô gái gục lên vai người yêu nức nở khóc đó.
Định mệnh, nếu có cần phải hình dung ra, vẽ lên giấy thì nên vẽ thành một cậu bé tinh quái, hay một nhà văn dư thời giờ, suốt ngày chỉ biết tạo ra những hoàn cảnh thật mâu thuẫn, thật khe khắt để đùa chơi.
Từ gần một tháng nay Thiên Nga ngừng dạy học, vì muốn sống kín đáo với Georges, muốn tận hưởng những ngày tháng hạnh phúc mà nàng linh cảm rằng sẽ không lâu, linh cảm hay lý luận cũng thế.
Hằng trăm hằng nghìn câu hỏi chỉ đợi Georges đi vắng để trở về quấy ngầu lên trong đầu óc Thiên Nga, quá khứ chẳng có gì để an ủi, hiện tại như thế và tương lai… Làm sao biết được tương lai, nếu tương lai là kết quả của hiện tại thì có gì đáng hy vọng.
Tiếng bánh xe chạy nhanh, nghiến vào sân sỏi làm Thiên Nga giật mình, nàng vùng dậy đến trước gương sửa qua mái tóc rồi bước ra hiên đón Georges. Chàng ở ngoài nhanh nhẹn nhảy vào ôm lấy người yêu vừa thở vừa kể cho nàng nghe cuộc họp vừa qua ở phòng tham mưu…
– La France va louper sa chance…
Georges nói rất khẽ, chàng biết rằng bây giờ hay không bao giờ nữa cả, mà bây giờ thì chung quanh chỉ toàn những kẻ nhắm mắt bịt tai, hình như họ là những kẻ biết mình sẽ chết đuối nên đã buông thả tấm ván mà nếu cố sức níu vào thì may ra sống được.
Nghe giọng Georges tức tối kể lể, Thiên Nga cảm thấy thương hại, nàng nghĩ rằng nếu mọi người đều giống Georges thì không những không có cuộc chiến tranh kéo dài từ gần mười năm nay mà có lẽ cũng không có cả cuộc cách mạng nữa… Thiên Nga mỉm cười .
– Sao em cười ?
Nàng nói ý nghĩ của mình cho Georges nghe, nhưng Georges lắc đầu hoài nghi : «Tại em thương anh nên em nghĩ thế, chứ chúng ta là những kẻ phải đi theo sau bánh xe tiến triển của xã hội. Xã hội tiến đến chỗ ấy, chính sách thuộc địa sẽ phải bãi bỏ, nếu không thì phải là một lối thuộc địa mới thế nào chứ… Nước này noi gương nước kia, họ sẽ dần dần vùng lên, rồi em xem bài diễn văn của De Gaulle đọc hồi ở Brazzaville thế mà đúng…
Bữa cơm kéo dài vì những câu chuyện chính trị. Georges báo cho Thiên Nga biết rồi tình hình còn gay cấn hơn, và chàng sẽ phải đi dự hội nghị đại diện cho nước Pháp ở Đông Nam Á ít nhất cũng đến một tuần lễ. Georges thắc mắc nói tiếp:
– Anh chỉ lo cho em… có gì anh sẽ gửi người về đón em.
Thiên Nga ngước nhìn Georges, nàng chưa bao giờ nghĩ đến nếu có chiến tranh xảy ra trong nước mà Georges đi vắng thì sẽ ra sao ?
– Anh đừng lo, em sống quen một mình, từ trước đến nay đâu có anh…
Rồi nàng nói sang chuyện khác … Nếu anh về mà nghe nói em chết rồi thì anh đặt một cái bàn thờ, để tấm ảnh làm theo lối Việt Nam, anh cắm một bông hoa, hoa gì cũng được, và anh để cái 3è mouvement ở bản Symphonie số 1 của nhạc sĩ Gustav Mahler gọi là Marche pour 1’enterrement d’un chasseur, em sẽ về thăm anh.
Georges hét ầm lên bảo để chàng ghi vào sổ chứ không thì khó nhớ, nhưng Thiên Nga đã đứng lên đi tìm bản nhạc rồi mở máy cho quay đúng đoạn thứ ba mà nàng vẫn thích.
– Giống bài Frère Jacques nhỉ.
– Thì đấy, anh nhớ chứ, phải liệu làm theo lời em dặn.
Georges khe khẽ hát vọng theo, chàng đồng ý rằng Thiên Nga biết chọn, và chàng hứa sẽ giữ lời.
Thấy câu chuyện bị bản nhạc của Mahler làm đổi sang màu âm u buồn buồn thế nào, Georges muốn chấm dứt ; chàng vẫn sợ phải kéo dài những phút ấy. Chàng linh cảm sự gì sắp xảy đến mà chính chàng cũng hoang mang chưa biết rõ. Có lẽ tại khi yêu người ta hay yếu bóng vía hay nghĩ vớ vẩn tin nhảm nhí chăng?
Để thay đổi đề tài câu chuyện, Georges đi vào tủ lục tìm một quyển sách viết theo lối cổ văn Nga để khoe với Thiên Nga.
– Đây là là câu chuyện hay nhất thế giới, hơn tất cả những truyện thần tiên khác.
– Anh làm em nóng ruột. – Thiên Nga giật lấy trên tay Georges lật qua, nhưng rồi nàng lắc đầu kêu khó đọc và bắt Georges phải kể cho mình nghe trước.
Quyển sách được Georges nâng niu như một món nữ trang quý giá. Georges bảo kể thì sẽ mất hay nhưng Thiên Nga hứa nếu chàng kể trước thì trong lúc Georges đi vắng nàng sẽ chịu khó lấy tự điển dịch ra tiếng Việt « mặc dầu em học còn kém, nhất là viết theo lối cũ, hơn nữa về đây em giả lại thầy hết cả rồi ».
Georges chịu kể sơ lược với điều kiện là Thiên Nga sẽ dịch ra, như thế trong lúc chàng đi vắng nàng sẽ không buồn.
«Ngày xưa có một ông tỉnh trưởng tên là Gordion người thâm hiểm độc ác, không biết sự công bằng là gì. Trong số dân chúng ông tỉnh trưởng ghét nhất là Đạo sĩ Miron vì ông này hiền lành đạo đức chỉ biết tranh đấu cho sự công bằng, bao giờ cũng làm việc thiện không sợ ai. Ông tỉnh trưởng gọi Ivan là một chiến sĩ can đảm vẫn theo hầu ông bảo rằng : «Ivan, mày hãy đi giết lão đạo sĩ già đó, xách cái đầu râu ria của nó về đây cho tao để tao vứt cho chó ăn ».
« Người chiến sĩ Ivan vâng lệnh, nhưng trong lòng buồn rầu, không có cách gì hơn đành phải đổ thừa cho định mệnh…
– Anh chàng Ivan này giống như những quân đội viễn chinh thuộc địa quá nhỉ.
Thiên Nga nói đùa, nhưng Georges nghiêm mặt trách, để người ta kể cho mà nghe, nước Pháp đâu có tệ như ông Voivode đó. Thiên Nga cười xin lỗi và Georges kể tiếp :
« Ivan đi đến nhà của Đạo sĩ Miron với thanh kiếm giấu dưới tay áo. Gặp Đạo sĩ Ivan cúi chào : Thưa Đạo sĩ có được sức khoẻ không ?
«Đạo sĩ cười bảo :- Thôi đừng giả vờ nữa anh Ivan ơi, Thượng đế bao giờ cũng biết trước mọi sự. Điều xấu lẽ hay đều ở trong tay ngài, anh đến đây làm gì tôi đã rõ rồi.
«Nghe Đạo sĩ nói Ivan xấu hổ nhưng không thể cãi lời vị tỉnh trưởng của mình, chàng đành rút kiếm ra chùi vào vạt áo khoác và nói: Tôi đến đây định để giết ngài, nhưng ngài đã biết, thôi xin ngài hãy cầu nguyện cho ngài, cho tôi, và cho tất cả nhân loại. Sau đó tôi sẽ cắt đầu ngài.
«Nhà Đạo sĩ già quỳ xuống, quỳ rất chậm rãi dưới gốc cây Sên và cây như nghiêng mình cúi chào ngài. Đạo sĩ mỉm cười bảo với Ivan : Coi chừng anh phải đợi lâu đấy Ivan ạ, vì lời cầu nguyện của tôi sẽ rất dài, cầu nguyện cho tất cả nhân loại mà. Có lẽ anh nên giết tôi ngay đi chứ chờ thế chịu sao nổi.
«Ivan cau mặt kiêu hãnh trả lời : Cái gì tôi đã nói ra là thôi chứ, Đạo sĩ cứ cầu nguyện đi, tôi sẽ chờ, dầu có phải chờ đến một thế kỷ cũng không sao.
«Thế là nhà Đạo sĩ cầu nguyện đến chiều, đến sáng rồi lại đến tối, từ mùa hè qua mùa xuân, nhà Đạo sĩ cầu nguyện không ngừng. Năm tháng qua nhà Đạo sĩ vẫn cầu nguyện. Cây Sên năm xưa nay đã lớn cao vút đụng đến mây và những cái rễ chung quanh cũng đâm mầm mọc lên rậm rạp như một khu rừng. Lời cầu nguyện vẫn chưa đứt. Mãi đến bây giờ họ vẫn còn đang ở đấy, người Đạo sĩ già vẫn còn cầu nguyện cho những nỗi than thở của chúng ta, xin Thượng đế hãy cứu giúp nhân loại.
«Người chiến sĩ Ivan vẫn đứng bên cạnh Đạo sĩ, lưỡi kiếm đã rơi xuống tan thành bụi, cái giáp sắt bị rỉ sét và bộ quần áo đẹp cũng mục nát. Mùa đông cũng như mùa hè vẫn trần truồng đứng đấy, nắng thiêu mà không cháy, sâu bọ gặm da thịt sống, chó sói và gấu không thèm ăn, bão tố mưa tuyết cũng chừa ra. Anh chàng không còn đủ sức để lê bước đi chỗ khác, hoặc nhích cánh tay, hay nói một câu. Đấy là một sự hình phạt, ai bảo tuân lệnh một tên gian hiểm và ẩn trốn dưới lương tâm của người khác.
«Lời cầu nguyện của người Đạo sĩ cầu cho chúng ta những kẻ tội lỗi thì tới giờ này vẫn còn tuôn tràn lên đến Thượng đế như dòng sông trong tuôn tràn về đại dương ».
Nghe Georges kể trong mấy phút, Thiên Nga không chớp mắt, nét mặt nàng từ láu táu đổi qua vẻ thành kính. Đến lúc Georges ngừng nàng mới ngước lên nhìn Georges nói khẽ:
– Hay quá, em sẽ cố đọc, rồi anh tìm thêm cho em những câu chuyện khác cũng hay như thế, em sẽ dịch ra để kể cho học trò của em nghe. Một loại luân lý không làm bực mình người khác.
– Đấy là kể vội vàng, nếu em đọc xong bản cổ văn này rồi em mới thấy thích, mỗi câu văn như một hạt ngọc….
– Trong khi viện Stehnleld ở Moscou đang nghiên cứu gửi người lên cung trăng thì bên cạnh có những câu chuyện hiền lành như thế để làm dịu bớt những tham vọng của con người phải không anh ?
– Sao em lại bảo thế ?
– Em thấy như thế, ngày nào mà cái định lý về Cộng sản của Lénine sẽ hoàn toàn không đúng với cả thế giới nữa, người ta sẽ đổi lại rằng : « Cộng sản là xã hội chủ nghĩa cộng với tình yêu » chứ không phải xã hội chủ nghĩa cộng với điện lực, thì lúc ấy những câu chuyện như truyện anh chàng Ivan với nhà Đạo sĩ này lại sẽ được đưa ra..
– Em đi hơi nhanh đấy Thiên Nga ơi.