Huệ Khả còn có tên là Tăng Khả, họ thế tục là Cơ, người Hổ Lao (nay là Huỳnh Dương, Hà Nam). Lúc bốn mươi tuổi, Huệ Khả gặp Bồ-đề Đạt-ma du hóa ở Tung Sơn, Lạc-Dương, vừa gặp liền kính mộ, tôn làm thầy, được Đạt-ma truyền tâm ấn. Huệ Khả được tôn là Nhị tổ ở Đông Thổ.
Trong bộ Tục Cao Tăng Truyện (quyển 16), Đạo Tuyên có chép sự kiện Huệ Khả bị giặc cướp chặt tay, nhưng chế ngự tâm, không biết đau đớn, dùng lửa đốt chỗ bị thương, lấy vải băng bó rồi đi khất thực như thường. Đồng bạn của Huệ Khả là Pháp Lâm cũng gặp tai họa tương tự, bị cướp chặt tay kêu la suốt đêm, được Huệ Khả cứu chữa, đi khất thực về nuôi. Sự thực này không lâu sau đã biến đổi trong một số sử sách Thiền tông. Trong Bảo Lâm Truyện của Trí Cự đời Đường có chép lại bài văn bia Huệ Khả, trong đó thuật chuyện Huệ Khả muốn cầu pháp Đạt-ma nên đứng suốt mấy đêm, tuyết ngập đến thắt lưng, Đạt-ma nói: "Ngươi cầu pháp thì không xem thân là thân, không xem mệnh là mệnh." Huệ Khả đã tự chặt tay để chứng tỏ quyết tâm cầu pháp, sau đó được pháp môn "an tâm" của Đạt-ma. Câu chuyện này trở thành một công án trứ danh của Thiền tông. Một số bộ sách quan trọng sau này như Lăng-già Sư Tư Ký, Truyền Pháp Bảo Ký, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Truyền Pháp Chính Tông... đều thuật giống như Bảo Lâm truyện, làm cho truyền thuyết Huệ Khả đứng trong tuyết chặt tay được truyền tụng suốt lịch sử Thiền tông, thậm chí ngay cả chính sử như Cựu Đường Thư (quyển 191) cũng chép theo: "Huệ Khả từng tự chặt tay trái để cầu pháp".
Qua chuyện Huệ Khả (và Pháp Lâm) bị chặt tay chúng ta có thể thấy được điều gì? Một mặt tai họa này phản ảnh khốn cảnh của thiền Đạt-ma trong giai đoạn sơ truyền. Đạt-ma tự xưng là Nam Thiên Trúc nhất thừa tông", đến Trung Quốc truyền thiền pháp Đại thừa Ấn Độ, lấy bốn quyển Kinh Lăng-già làm tôn chỉ. Thiền pháp này khác với các loại thiền pháp đang lưu hành ở phương bắc, nhất là thiền pháp của hệ Tăng Trù vốn lấy thực tiễn tôn giáo làm căn bản, nên đã xảy ra mâu thuẫn kịch liệt. Đạo Tuyên nhận xét sự khác biệt giữa hai người, cho rằng Tăng Trù dạy thiền Tứ niệm xứ, dễ lãnh hội, còn Thiền Đạt-ma là "hư tông", "cực kỳ thâm huyền nên lý tính khó thông" (Tục Cao Tăng Truyện, thiên Tập thiền). Thiền Tứ niệm xứ quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, là thiền pháp có tầng bậc cụ thể, đối tượng minh xác, đạo lý rõ ràng, chỉ cần tín ngưỡng chân thành, và ý chí kiên định thì có thể thực hành. "Hư tông" của Đạt-ma là thiền pháp Không tông Đại thừa, ngoài tín ngưỡng và ý chí còn cần đến khả năng trực ngộ cao, chỉ có hạng "thượng căn lợi khí" mới có thể lãnh hội, đối với những tín đồ thông thường thì quả thật là "lý tính nan thông". Tông Mật cũng có nhận xét về thiền pháp Đạt-ma là "người theo học khó đắc tông chỉ. Đắc thì thành Thánh, chứng ngay Bồ-đề. Sai thì thành tà, vào ngay khốn khổ". (Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô tự). Hai biệt phái thiền học khác biệt rất lớn này cùng lưu truyền trên đất trung nguyên tất nhiên sẽ xảy ra xung đột. Do vậy, chuyện Huệ Khả, Pháp Lâm bị chặt tay (còn có truyền thuyết Đạt-ma từng bị đầu độc mấy lần nhưng không chết) có lẽ cũng liên quan với điều này.

"Lập tuyết đình" ở Thiếu Lâm Tự. Nguyên tên là Đạt-ma đình, bên trong có khâm thờ đặt tượng Sơ tổ Đạt-ma, Nhị tổ Huệ Khả, Tam tổ Tăng Xán, Tứ tổ Đạo Tín, Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Tắm biển "Tuyết an tâm châu" là ngự bút của vua Càn Long đời Thanh.
Tăng Trù theo Tăng Thực xuất gia, theo Đạo Phòng học thiền, sau vào chùa Thiếu Lâm bái kiến Tổ sư Phật-đà. Phật-đà đánh giá thiền học của Tăng Trù rất cao: "từ Thông Lĩnh trở về phía đông, thiền học cao nhất chính là ông". Về sau, Tăng Trù được vua Lý Minh Đế, Lý Vô Đế đời Bắc Ngụy trọng đãi. Vào thời Bắc Tế lại được Văn Tuyên Đế chiêu thỉnh, lập cho chùa Vân Môn tự. Hệ thiền Tăng Trù có địa vị "độc thịnh", sự hưng thịnh này đối nghịch rõ ràng với tình hình của hệ thiền Đạt-ma, Huệ Khả. Vào thời đó, thiền Đạt-ma ở trong tình trạng tiêu điều, không được xã hội đón nhận, chưa có cơ hội phát triển.
Thiền Đạt-ma không chỉ bị các biệt phái thiền học khác phản đối, mà cả giới văn nhân cũng "đa số coi khinh" (đa bất xỉ chi), "bọn trệ văn (phái bảo thú) thị phi ầm ĩ" (trệ văn chi đồ, thị phi phân cử). Trong hoàn cảnh như vậy, Huệ Khả bị chặt tay là chuyện cũng có thể lý giải được. Thiền tăng hậu thế muốn che dấu sự thực này nên đã biến đổi thành câu chuyện bi tráng tự chặt tay để cầu pháp.