Từ năm 1877, khi nghiên cứu cải tiến chiếc máy điện thoại tự động,
Ê-đi-xơn cứ suy nghĩ mãi làm sao giữ được tiếng nói. Ông nhận xét thấy cứ mỗi lần để mũi kim trượt trên một băng kim loại có những rãnh, những lỗ khác nhau thì lại thấy những âm thanh khác nhau phát ra. Đến khi thực hiện cải tiến chiếc máy điện thoại, ông lại hiểu thêm rằng những rung nhẹ của âm thanh có thể truyền đi được bằng dòng điện. Như vậy tất phải ghi nó lại được. Và Ê-đi-xơn quyết định làm bằng được “Chiếc máy biết nói”. Biết được quyết định này của Ê-đi-xơn, người thì bảo ông nuôi ảo tưởng, người bảo “ông ta suy nghĩ quá hóa rồ”, kẻ lại nói Ê-đi-xơn ngông cuồng muốn chiếm cả quyền tạo hoá… Mặc, Ê-đi-xơn chỉ bảo họ rằng:
- Nếu như vậy bao giờ ta mới chế ngự được thiên nhiên? Sau hai tuần lễ miệt mài trong phòng thí nghiệm, một hôm, Ê-đi-xơn cho mời tất cả mọi người vào phòng thí nghiệm của mình.Một chiếc máy kỳ dị đặt trên bàn. Ê-đi-xơn mở đầu:
- Ai yếu tim thì xin mời ra ngoài kẻo tôi không chịu trách nhiệm về tính mạng của người đó đâu nhé…
Mọi người nhìn nhau. Ai cũng rờn rợn, lo sợ, tim đập gấp trong lồng ngực, nhưng ai cũng tò mò muốn biết cái gì sẽ xảy ra. Ê-đi-xơn mở máy và đột nhiên một bài hát quen thuộc của thời đó vang lên rõ ràng: “Cô Ma-ri-a có một con cừu bé…” Ai nấy kinh hãi sững người, ngơ ngác hết nhìn máy lại nhìn Ê-đi-xơn. Một người nào đó bảo: “Đức Chúa đã giáng thế!” Anh thợ máy Sác-lơ không kìm được mình, ôm chặt lấy Ê-đi-xơn nói:
- Đây là con người mà nếu cần phải hy sinh tính mạng cho ông, tôi cũng rất vui sướng!
- Không, nói nhảm nào! Sác-lơ, tôi mong anh sẽ không bao giờ làm thế…Úp-tơn và những người khác, những người đã cho Ê-đi-xơn là “hóa điên” đã thành thực kể cho ông nghe những ý nghĩ trước đây của mình về ông. Câu chuyện ấy chỉ làm vui thêm cho ngày ra đời “chiếc máy biết nói” đầu tiên. Suốt đêm ấy, Ê-đi-xơn và những người cộng tác của ông đã hát, nhảy theo các điệu dân ca máy đã ghi được. Tất cả vui chơi thoải mái như những người vô tư nhất.Khi Ê-đi-xơn thông báo cho thế giới biết phát minh mới của mình thì chẳng một ai tin cả. Thậm chí có người được trực tiếp nghe những lời nói của Ê-đi-xơn ghi trong máy cũng chẳng tin, họ cho rằng có ai đó bắt chước tiếng nói của Ê-đi-xơn. Ngay đến ông giám đốc nhật báo “Khoa học Mỹ” cũng khăng khăng đó không phải là sự thật. Ê-đi-xơn liền mang chiếc máy đó đến tận phòng ông ta và mở máy cho hát vang lên những bài ca do chính Ê-đi-xơn hát và máy đã ghi lại được. Ông này vội kêu lên:
-Ngừng máy lại, trời sụp bây giờ đây này!
Hôm sau, trên khắp các tờ báo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đều in trên trang nhất một vấn đề lớn về “chiếc hộp biết hát”…Tổng thống Hoa Kỳ, hồi ấy là Ru-dơ-pho Bớc-tra Hay-ơ đích thân mời Ê-đi-xơn đến Nhà Trắng để được nghe máy “hát” và được làm quen với nhà phát minh nổi tiếng. Đêm ấy, cả Nhà Trắng mọi người thao thức, họ đợi đến ba giờ sáng để nghe Tôm Ê-đi-xơn thuyết trình và nghe máy “hát”.Tổng thống hỏi Ê-đi-xơn:
-Cho tôi được hỏi ông Ê-đi-xơn một câu: ông đã tốt nghiệp kỹ sư ở nước ta hay ở châu Âu?
Nhà phát minh ra “máy hát” mỉm cười gượng gạo
:-Nếu ngài muốn biết nơi tôi đã tốt nghiệp, thì đây, thưa ngài, đây là tấm bằng của tôi.
Vừa nói ông vừa rút ví đưa ra một tờ giấy gập tư cho tổng thống. Cầm tờ giấy, vừa đọc những dòng chữ đầu tiên, nét mặt tổng thống bỗng lộ vẻ hết sức ngạc nhiên. Tổng thống hết nhìn ông rồi lại nhìn tờ giấy….
“ Trò Tôm, con trai ông là một trò dốt, lười, hư và hỗn láo. Nếu còn giữ trò ấy lại trường e rằng tiếng thơm lâu nay nhà trường chúng tôi vẫn có vinh dự được mang sẽ bị tổn thương. Tốt nhất là ông nên cho trò ấy đi chăn lợn thì hơn vì chúng tôi thấy rằng trò ấy có học nữa sau này cũng không nên trò trống gì.
Hiệu trưởng trường tiểu học Po Hu-rôn.
Hô-uất”
Tất cả các vị bộ trưởng, thứ trưởng cũng như những người đứng đấy đều bực dọc về bức thư lố bịch đó.Tổng thống Hay-ơ hỏi ông bộ trưởng Bộ giáo dục đứng gần đấy:
- Ông thấy thế nào?
- Thưa ngài tổng thống, tôi đề nghị tất cả các trường tiểu học ở Po Hu-rôn đều mang tên ông Ê-đi-xơn.
- Tôi chuẩn y lời đề nghị của ông. Mọi người nhiệt liệt hoan nghênh quyết định đó. Còn Ê-đi-xơn mắt nhòa lệ vì xúc động. Tổng thống Hay-ơ vừa ôm hôn Ê-đi-xơn vừa nói:
- Tất nhiên việc đó cũng chưa đủ để sửa chữa mà chúng ta còn nhiệm vụ phải xóa sạch lời nhục mạ đó… Tôi rất hãnh diện thấy nước Cộng hòa của chúng ta có một thiên tài như ông. Tôi nhiệt liệt chúc mừng ông và cầu chúc ông mãi mãi xứng đáng với vinh quang mà ông đã đạt được.
* *
Mùa hè năm 1878, khi ấy Ê-đi-xơn ba mươi mốt tuổi, trong một cuộc phỏng vấn của Tạp chí Bắc Mỹ, ông đã nói đến tác dụng của máy ghi âm, trong đó điều quan trọng nhất là:
a) – Ghi bài học để dạy cho người mù.
b) – Ghi tiếng nói và các buổi hòa nhạc nổi tiếng.
c) – Ghi tiếng nói của những người thân thích.
d) – Dùng học phát âm đúng một ngoại ngữ.
đ) – Dùng ghi các cuộc họp của các nhà bác học, các nghệ sĩ, các buổi thảo luận, các bài diễn văn của các nhà họat động chính trị lớn.
e) – Làm các hộp đồ chơi “biết hát” cho trẻ em.
Phát minh mới nhất ấy của Ê-đi-xơn chẳng bao lâu đã tràn sang châu Âu, làm cho những người sống trên cái lục địa già cả ấy phải ngạc nhiên. Nhiều giai thoại đã nảy sinh xung quanh chiếc máy hát đó. Chẳng hạn một vị quan già nua rất tin cậy của Sa-hòang bị chính Sa-hòang tống giam vì tội đã dùng cái hộp “ma quỷ” đó. Còn ở Anh, thủ tướng Anh, Gơ-lát-xtôn, đã nhận được lời chào của Ê-đi-xơn tới nhân dân Anh qua chiếc máy “biết nói”. Sau đó, thủ tướng Anh cũng lại trả lời Ê-đi-xơn qua máy đó.Tiếng đồn cũng vang đến tai đức giáo chủ Vanh-xanh ở Niu I-oóc. Đức giáo chủ không sao tin được lời đồn ấy. Lập tức, giáo chủ lên đường đến tận nơi Ê-đi-xơn làm việc, đòi ông muốn cho đức giáo chủ tin thì phải ghi và phát lại chính tiếng nói của giáo chủ. Ê-đi-xơn vui lòng làm theo ý muốn đó. Ông dẫn giáo chủ lại gần chiếc máy, cho người xem xét rất kỹ lưỡng, nhìn vào trong máy, ngó dưới gầm bàn xem có kẻ nào ẩn nấp ở đó để lừa giáo chủ không. Cuối cùng, giáo chủ nói bằng một giọng không lấy gì làm tin tưởng lắm:-Nào, ta bắt đầu chứ?-Vâng, xin mời người, “máy” cũng rất sốt ruột chờ đức giáo chủ linh thiêng nói.
- Tôi dùng tiếng La-tinh có được không?
- Người dùng bất cứ ngôn ngữ nào cũng được. Máy của tôi biết nói mọi thứ tiếng trên quả đất. Kể cả các thứ tiếng đã có cách đây hàng trăm năm… (*)
- Được, ta thử xem…Đức giáo chủ e hèm dọn giọng, ho vài lần rồi tuôn ra hàng tràng tiếng La-tinh nhanh như gió mà một người tài giỏi mấy cũng không sao nhắc lại được. Xong xuôi, ngài xoa tay đắc ý, mỉa mai nói:
- Nào, bây giờ đến lượt “hắn”. Ông bảo “hắn” thử nhắc lại xem…Ê-đi-xơn im lặng. Ông mời đấng bề trên ngồi xuống ghế rồi vặn máy. Cái hộp “biết nói” đầu tiên cũng e hèm dọn giọng, ho vài lần rồi nhắc lại hàng tràng tiếng La-tinh đó, cũng nhanh không kém và không sai một mảy may. Đức giáo chủ há miệng kinh hoàng và choáng váng không đứng lên nổi. Tuy vậy, giáo chủ cũng rất hả hê khi biết một sự thật. Ngài bảo:
- Cho đến nay ở nước Mỹ này, chưa ai nhắc lại được những câu mà cha vừa nói ấy đâu nhé!
Ê-đi-xơn mỉm cười:
- Nhưng lại có máy “biết nói” làm được.
- Đúng vậy… – nói rồi, giáo chủ bắt chặt tay “thầy phù thuỷ” ở Men-lô Pác, vui vẻ ra về.
A-đam lại xuất hiệnTrong lúc tiếng tăm Ê-đi-xơn đang nổi lên như sóng cồn thì Min-tơn A-đam, người bạn đã từng chia ngọt xẻ bùi với E-đi-xơn xưa kia đến Men-lô Pác kiếm việc làm. Nghe tin Ê-đi-xơn đã trở thành nhà phát minh nổi tiếng, A-đam mừng quá vội đến thăm bạn.Lúc ấy, Ê-đi-xơn đang ở trong phòng thí nghiệm. Bên noài, trời đã tối. Trong các hành lang, trên tường các phòng đều treo những cây đèn dầu. Ánh sáng lù mù, chập chờn của các ngọn đèn dầu làm cho Ê-đi-xơn khó phân biệt các thứ trong phòng thí nghiệm. Chính cái ánh sáng vàng vọt này đã khiến Ê-đi-xơn mất nhiều đêm suy nghĩ: ta cứ chịu làm việc mãi trong cái ánh sáng lù mù này giữa thế kỷ mười chín ư? Sao ta không biến được đêm thành ngày? Khi A-đam bước vào phòng thí nghiệm cũng chính là lúc Ê-đi-xơn sắp đi đến kết quả cuộc tìm ra đèn điện. Thấy bóng người, Ê-đi-xơn ngỡ đó là nhân viên phòng thí nghiệm đem kết quả về dây tóc đèn điện đến. Ông hỏi, vẻ ngạc nhiên:
- Sao, Uyn-ki, anh đã làm xong rồi kia à? A-đam tiến lại gần bạn:
- Tôm thân yêu, A-đam đây mà! Nhưng Tôm chẳng nghe thấy và vẫn mải miết làm việc.
- Gì thế, Uyn-ki, sao anh không nói gì thế?
- Tôm ơi, A-đam đây, bạn không nhận ra mình à?
Lúc ấy, Tôm mới ngẩng lên. Nhận ra A-đam, Tôm xúc động ông chầm lấy bạn, hỏi dồn dập:
- A-đam, cậu thật đấy sao?
- Mình đây, Tôm ạ. Chao ôi, mình nhớ cậu quá. Lâu rồi mình chẳng được gặp cậu…
Đôi bạn chuyện trò với nhau đến quá nửa đêm. A-đam kể cho Tôm nghe bước đường kiếm sống gian truân của mình. Bây giờ, anh đang đi tìm một việc khác vì anh không sao chịu đựng nổi viên giám đốc nơi anh đang làm. Cuối cùng, anh chân thật hỏi Ê-đi-xơn:
- Còn cậu? Cậu đã thành người nổi tiếng rồi. Cậu sáng chế ra nhiều thứ quá! Cậu còn nhớ cái máy đếm phiếu không?
Và đôi bạn cùng cười.
Sau đêm ấy, A-đam nghe bạn ở lại Men-lô Pác. Để giúp đỡ Tôm, A-đam nhiệt tình và cương quyết đòi đi theo một đoàn công nhân và kỹ sư do Tôm lựa chọn và cử sang châu Phi tìm chất làm dây tóc bóng đèn điện. Theo Ê-đi-xơn, cây tre sẽ là thứ cho ông cái chất quý ấy.Sau khi tiễn A-đam lên đường, Ê-đi-xơn cũng theo một đoàn triển lãm sang Pa-rí dự hội chợ quốc tế. Tôm Ê-đi-xơn đem chiếc máy hát của mình sang trưng bày ở hội chợ. Mọi năm, gian hàng “bày” của những thổ dân da đen, da đỏ thường thu hút khách nhất, vậy mà lần này nơi đông nhất, thu hút đủ mọi loại khách nhất lại là gian hàng của Tôm Ê-đi-xơn: nơi đặt chiếc máy hát.Nếu như việc khám phá ra điện và việc sử dụng điện trong những lĩnh vực mà ta được biết ấy đã là một con đường dài, gian khổ ra sao, đã thu hút biết bao nhiêu trí lực con người thì vấn đề dùng điện thắp sáng thay đèn dầu cũng đã từng làm thao thức biết bao trí tuệ con người.Cách đây mấy chục năm, những bó đuốc nhựa và nến đã được đèn dầu thay thế. Rồi cuối thế kỷ mười tám thì đèn dầu được trang bị thêm bấc và bóng chụp bằng thủy tinh. Sau đó giữa thế kỷ mười chín, người ta bắt đầu dùng đèn khí trong các nhà hát và trong các nhà giầu có. Nhưng cũng chỉ mới có nước Anh, nước Pháp và nước Nga dùng. Nhiều nhà vật lý cũng đã thử thí nghiệm làm đèn điện như A-lếch-xăng-đơ-rơ Von-ta (1800), Pê-tơ-rốp (1802), Đê-vy (1808). Hoặc như Gơ-rô-vi đã làm một bóng đèn điện mà dây tóc là một sợi dây bạch kim xoắn ốc. Nhưng dùng bạch kim đã không bền mà lại quá đắt. Phải tìm ra một chất gì bền mà rẻ. Làm dây tóc bằng chất gì, đó là một vấn đề hóc búa đặt ra cho các nhà vật lý thời bấy giờ.