Thông Minh Cảm Xúc 2.0

Lượt đọc: 322 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN KẾT
SỐ LIỆU THỰC TẾ
CÙNG XEM XÉT NHỮNG PHÁT HIỆN MỚI NHẤT VỀ
TRÍ TUỆ CẢM XÚC

Vào cuối năm 2008, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu nhằm đánh giá xem EQ chung của người dân Mỹ thay đổi như thế nào kể từ năm 2003. Trong khi chúng tôi không ngạc nhiên lắm khi nhận thấy những cải thiện ở những người chúng tôi đã khảo sát và hướng dẫn cải thiện EQ, nhưng lại vô cùng kinh ngạc khi thấy điểm EQ của những người mới tham gia tăng theo từng năm. Và sự gia tăng vẫn tiếp tục, hết năm này qua năm khác – chỉ số EQ của những người chúng tôi chưa từng khảo sát hoặc giảng dạy gia tăng từ từ và đều đặn. Chúng tôi còn phát hiện ra sự gia tăng đáng kể về trí tuệ cảm xúc trong lực lượng lao động Mỹ từ năm 2003 đến 2007.

Những người hoài nghi có thể nhìn biểu đồ sau và nghĩ, Có gì to tát đâu? Chỉ tăng có 4 điểm trong vòng 5 năm thôi mà! Nhưng thử nghĩ đến tác động của sự gia tăng dường như rất nhỏ của nhiệt độ trái đất– xem nào, chỉ từ một hoặc hai độ – đến hệ sinh thái của chúng ta mà xem. Điều này cũng đúng với hành vi con người trong môi trường làm việc, nơi các cực đóng băng của chỉ số trí tuệ cảm xúc thấp đang bắt đầu tan chảy.

Một khi chúng ta nhìn kỹ hơn về những thay đổi cụ thể trong sức lan tỏa của EQ, sức mạnh thật sự của sự chuyển đổi bộc lộ rõ rệt. Trong vòng 5 năm qua, chúng tôi chứng kiến tỷ lệ những người có chỉ số EQ cao có sự hiểu biết và làm chủ tốt cảm xúc của chính mình và của người khác tăng từ 13,7% lên đến 18,3%. Cũng trong khoảng thời gian đó, tỷ lệ phần trăm những người kém hiểu biết về việc cảm giác bất an lo lắng, thất vọng và giận dữ gây tác động như thế nào lên hành vi của họ đã giảm từ 31% xuống còn 14%. Khi bạn tính tỉ lệ này trên 180 triệu người trong lực lượng lao động Mỹ thì có nghĩa là so với năm 2003, hiện đã có hơn 9 triệu người gần như luôn giữ được bình tĩnh trong những tình huống nảy lửa; hơn 9 triệu người thật sự chứng tỏ rằng họ quan tâm đến đồng sự và khách hàng khi những người này rơi vào hoàn cảnh khó khăn; và bớt đi 25 triệu người không biết tí gì về những tác động từ hành vi của mình đối với người khác.

Điều khiến cho những phát hiện này trở nên đặc biệt chính là việc trước khi được khảo sát, rất ít, nếu có chăng nữa, những người trong số được chọn từng trải qua những đợt huấn luyện bài bản về trí tuệ cảm xúc. Tuy vậy, điểm EQ trung bình của họ vẫn tăng lên đều đặn năm này qua năm khác. Cứ như thể những người chủ trương thực hành những hành vi trí tuệ cảm xúc đã tác động không nhỏ đến những người có thể chưa từng nghe đến khái niệm này bao giờ.

Năm

Tỷ lệ người có

kỹ năng EQ cao (%)

Tỷ lệ người có

kỹ năng EQ thấp (%)

2003

13,7

31,0

2004

14,7

19,0

2005

14,8

18,5

2006

15,1

17,1

2007

18,3

14,0

Những kỹ năng trí tuệ cảm xúc – cũng như bản chất cảm xúc con người – có tính lây lan. Điều đó có nghĩa là những kỹ năng EQ của chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào con người và hoàn cảnh chung quanh. Chúng ta càng tiếp xúc với những người giàu lòng trắc ẩn bao nhiêu thì chúng ta càng trở nên dễ cảm thông bấy nhiêu. Chúng ta càng dành thời gian với những người sẵn lòng bày tỏ cảm xúc bao nhiêu thì chúng ta càng thuần thục trong việc nắm bắt và hiểu cảm xúc của mình cũng như của người khác bấy nhiêu. Đó chính xác là điều đã khiến trí tuệ cảm xúc trở thành kỹ năng có được thông qua học hỏi hơn là tài năng thiên bẩm hiếm hoi do may mắn sinh ra đã có.

Nhưng thời kỳ tươi đẹp chỉ dừng ở đó. Năm 2008 – lần đầu tiên kể từ khi chúng tôi bắt đầu quá trình theo dõi – chỉ số EQ chung bắt đầu giảm xuống, khẳng định một điều rằng các kỹ năng này nhạy cảm với thay đổi đến mức nào.

Các nhà kinh tế liên bang chỉ ra rằng tháng 12 năm 2007 là khởi đầu cho thời kỳ kinh tế tồi tệ nhất của Mỹ trong vòng 70 năm qua, đồng nghĩa với việc năm 2008, không một ngày nào vắng mặt sự suy thoái. Sự giảm sút của trí tuệ cảm xúc trong năm 2008 so với năm 2007 chính là kết quả của những tai ương do nền kinh tế gây ra. Những khó khăn về tài chính, gia đình hoặc công ăn việc làm nói chung đã gây nên rất nhiều cảm xúc tiêu cực nặng nề và khó dứt, để rồi cuối cùng dẫn đến tình trạng căng thẳng triền miên. Ngoài những tổn hại về thể chất như tăng cân và các bệnh về tim mạch thì chứng căng thẳng còn ảnh hưởng nặng đến tinh thần. Trong điều kiện thoải mái ít áp lực, chúng ta có thể tỉnh táo dành mọi sức lực để luôn duy trì trạng thái bình tĩnh và tự chủ khi đối mặt những thử thách và phiền hà của cuộc sống thường nhật. Chúng ta tự tin hơn vào năng lực của mình trong việc xử lý những sự việc không mong đợi và ta cho phép trí óc mình vượt qua những nỗi phiền muộn. Trong khi đó, với tình trạng căng thẳng mất kiểm soát, nguồn lực tinh thần của ta hao hụt đi rất nhiều. Nó đưa não bộ chúng ta vào một trạng thái tương tự như thiết quân luật, theo đó cảm xúc toàn quyền sai khiến hành vi, trong khi lý trí thì mải tìm cách biến chuyển tình thế khó khăn. Thế là bỗng nhiên, chỉ một khiếm khuyết nho nhỏ trong dự án của bạn, vốn chẳng có ý nghĩa gì trong thời điểm tương đối thuận lợi nay lại biến thành thảm họa. Với nhiều người, các kỹ năng EQ của họ đột nhiên biến mất, đúng ngay thời điểm họ cần nhất – trong trạng thái căng thẳng. Chỉ có những người được đào tạo kỹ càng và gần như biến EQ thành bản chất thứ hai mới có thể vượt qua sóng gió thời cuộc.

Nói cách khác chúng ta mất đi 2,8 triệu người lính thiện chiến trong công cuộc đấu tranh vì một xã hội thông minh cảm xúc cao.

Tình trạng căng thẳng này dường như tác động khá lớn đến trí tuệ cảm xúc chung của chúng ta. Chúng tôi nhận thấy sự sụt giảm trong tỉ lệ những người thành thạo kỹ năng trí tuệ cảm xúc, từ 18,3% trong năm 2007 xuống còn 16,7% vào năm 2008. Nói cách khác chúng ta mất đi 2,8 triệu người lính thiện chiến trong công cuộc đấu tranh vì một xã hội thông minh cảm xúc hơn. Đó là 2,8 triệu người lẽ ra trở thành người dẫn lối giúp cộng đồng tiến bộ hơn về trí tuệ cảm xúc, thay vì thế, họ phải cố xoay sở để giữ cho những kỹ năng của mình không bị bào mòn.

Năm

Tỷ lệ người có

kỹ năng EQ cao (%)

Tỷ lệ người có

kỹ năng EQ thấp (%)

2003

13,7

31,0

2004

14,7

19,0

2005

14,8

18,5

2006

15,1

17,1

2007

18,3

14,0

2008

16,7

13,8

Cuộc chiến về giới tính: EQ và giới tính

Sheila bắt đầu sự nghiệp của mình với vai trò chuyên gia tư vấn tài chính trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe ở một công ty tư vấn đa quốc gia. Cô chỉ mất vài năm để chiếm cảm tình khách hàng và giành được sự khen ngợi của cấp trên trước khi công ty hiện tại bốc cô về làm việc cho họ – một hệ thống chăm sóc sức khỏe rộng lớn vùng Trung Tây. Mới ngoài 30 tuổi, Sheila đã là trợ lý phó tổng giám đốc đang thẳng tiến lên vị trí điều hành cấp cao. Các sếp của cô, cả trong hiện tại lẫn trước đây, đều nhất trí rằng Sheila rất “thông minh,” tuy vậy ở cô vẫn còn có một phẩm chất gì khác – một điều mà họ không chỉ ra được. Giai đoạn đầu trong sự nghiệp tư vấn của Sheila, sau khi quan sát cô khéo léo xoa dịu những tình huống căng thẳng với khách hàng hết lần này đến lần khác, sếp cũ của cô tổng kết bí quyết thành công của Sheila rằng: Cô là người “đắc nhân tâm.”

Năm 2003, chúng tôi tìm thấy một số liệu hoàn toàn tương phản giữa các kỹ năng EQ của nam giới với những điều phát hiện được ở những người phụ nữ như Sheila. Phụ nữ cừ hơn đàn ông trong việc làm chủ bản thân, nhận thức xã hội và làm chủ mối quan hệ. Trong thực tế, tự nhận thức là kỹ năng EQ duy nhất trong đó nam giới có khả năng bắt kịp phụ nữ.

Nhưng thời thế đã thay đổi và cả nam giới cũng thế.

Như biểu đồ bên dưới cho thấy, khả năng nhận biết cảm xúc của bản thân ở nam giới và nữ giới là ngang nhau – theo số liệu trong năm 2003. Nhưng nam giới đã bắt kịp phụ nữ trong khả năng làm chủ cảm xúc. Những thay đổi này không gì khác hơn là sự dịch chuyển của những quy tắc xã hội.

Cuộc cách mạng văn hóa mang lại nhiều lợi ích hơn cho nam giới. Nam giới giờ đây được khuyến khích suy nghĩ nhiều hơn đến cảm xúc của mình, và để thấu hiểu được tường tận thì vẫn còn cả chặng đường dài phía trước.

Không có gì ngạc nhiên khi chúng tôi phát hiện ra rằng 70% nam lãnh đạo lọt vào tốp 15% những người có kỹ năng đưa ra quyết định cũng là những người có điểm số trí tuệ cảm xúc cao nhất. Ngược lại, không có một nam lãnh đạo nào với chỉ số EQ thấp lại nằm trong tốp những người giỏi đưa ra quyết định. Mặc dù có vẻ khác thường, nhưng hóa ra việc quan tâm đến cảm xúc của bản thân là cách logic nhất để đưa ra những quyết định đúng đắn. Thay vì cho rằng dành thời gian giải quyết nỗi lo sợ hay thất vọng của chính mình là biểu hiện của sự yếu đuối, thì nam giới bây giờ thoải mái hơn trong việc mạnh tay xử lý cảm xúc của mình để có thể đánh giá tình huống và đưa ra kết luận đúng đắn.

Cô đơn trên đỉnh cao

Các CEO, tính trung bình, có chỉ số EQ thấp nhất trong lực lượng lao động.

Nếu ví các kỹ năng EQ như một đỉnh núi cao, ắt hẳn bạn sẽ cho rằng những nhà quản trị cấp cao phải là những người sành sỏi về nó. Như chúng tôi đã công bố trong một bài báo trên Tạp chí Kinh doanh Havard, “Heartless Bosses” (Những Ông Chủ Nhẫn Tâm), các nghiên cứu của chúng tôi cho thấy suy nghĩ đó không hoàn toàn đúng. Chúng tôi đã đánh giá về EQ trên khoảng nửa triệu nhà quản trị cao cấp (gồm khoảng 1.000 CEO), quản lý và nhân viên trong tất cả các ngành, thuộc sáu châu lục. Điểm số tăng cao cùng với các chức danh, từ cấp thấp nhất trong công ty đến các cấp quản lý bậc trung. Những nhà quản lý bậc trung nổi bật hơn cả, họ có chỉ số thông minh cảm xúc cao nhất trong lực lượng lao động. Tuy nhiên trong các vị trí cao hơn nữa, EQ lại có khuynh hướng thấp dần. Với những chức danh từ giám đốc trở lên, điểm số tụt giảm càng thê thảm. Các CEO (Tổng giám đốc), tính trung bình, có chỉ số EQ thấp nhất trong lực lượng lao động.

Chức năng chính của một nhà lãnh đạo là hoàn thành công việc thông qua đội ngũ nhân viên. Như vậy, bạn có thể cho rằng cấp bậc càng cao thì kỹ năng quản lý con người của họ càng giỏi. Nhưng có vẻ điều ngược lại mới đúng. Quá nhiều vị lãnh đạo thăng tiến bởi kiến thức chuyên môn hoặc thâm niên trong nghề, hơn là kỹ năng quản lý người khác.

Một khi đã ngồi ở vị trí cao nhất, họ càng có ít thời gian giao tiếp với nhân viên cấp dưới hơn. Tuy vậy trong số các nhà điều hành, những người có chỉ số EQ cao cũng chính là những người hoàn thành công việc tốt nhất. Chúng tôi phát hiện thấy kỹ năng EQ đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả công việc hơn bất kỳ kỹ năng lãnh đạo nào khác. Điều này đúng với tất cả chức danh khác: những người có chỉ số EQ cao nhất ở bất cứ cương vị nào cũng hoàn thành công việc xuất sắc hơn các đồng sự.

Khác biệt giữa các thế hệ: EQ và tuổi tác

Một số lượng lớn người lao động sinh vào thời kỳ bùng nổ dân số (từ những năm 1946 – 1964) bắt đầu về hưu. Theo Văn phòng quản lý nhân lực Mỹ (U.S Office of Personnel Management), từ năm 2006 đến 2010, những người thuộc thế hệ này sẽ nghỉ hưu, lấy đi của các công ty Mỹ gần 290.000 lao động toàn thời gian với rất nhiều kinh nghiệm quý báu.

Mái tóc điểm sương, quỹ lương hưu và những ký ức về vụ ám sát tổng thống Kennedy không phải là thứ duy nhất mà cỗ máy kinh tế đang trục trặc của chúng ta sẽ mất đi khi những người thuộc thế hệ Bùng nổ dân số trở về cuộc sống bình lặng của họ. Những người thuộc thế hệ bùng nổ dân số sau chiến tranh thế giới thứ hai nắm giữ phần lớn những vị trí lãnh đạo cao cấp nơi công sở và việc họ về hưu hàng loạt tạo ra một khoảng trống lớn trong giới lãnh đạo, vốn cần thế hệ tiếp theo kế tục. Câu hỏi được đặt ra là có hay không việc thế hệ tiếp theo đủ khả năng đương đầu với thách thức này.

Chúng tôi muốn tìm ra câu trả lời cho vấn đề này. Chúng tôi phân điểm EQ vào bốn thế hệ thuộc lực lượng lao động ngày nay – Thế hệ Y (từ 18 đến 30 tuổi), Thế hệ X (từ 31 đến 43 tuổi), thế hệ Bùng nổ dân số (từ 43 đến 61 tuổi), và thế hệ truyền thống (từ 62 đến 80 tuổi). Khi xem xét từng kỹ năng riêng biệt của trí tuệ cảm xúc, chúng tôi thấy một khoảng cách lớn giữa thế hệ Bùng nổ sinh sản và thế hệ Y trong kỹ năng làm chủ bản thân. Nói một cách ngắn gọn, so với thế hệ trẻ hơn, Thế hệ bùng nổ sinh sản ít có khuynh hướng mất tự chủ khi mọi việc không suôn sẻ như họ mong muốn.

Có vẻ như điều này cũng chưa thật sự đáng quan ngại. Suy cho cùng, về hưu là một thực tế cuộc sống kể từ khi FDR ký đạo luật An sinh xã hội (Social Security Act). Chính thế hệ đã chọn Dennis Lee Hopper làm người phát ngôn không chính thức đã chứng minh rằng họ có khả năng đáp ứng được lượng nhu cầu lao động khổng lồ trong thời kỳ Thế Hệ Vĩ Đại Nhất (Greatest Generation). Vì thế sẽ khó đến mức nào cho những “nhà lãnh đạo tương lai” lãnh trách nhiệm thay thế cho thế hệ Những Nhà Lãnh Đạo Thời Kỳ Đầu?

Với tình trạng thiếu kỹ năng làm chủ bản thân sắc bén, mọi việc có thể trở nên khó khăn hơn ta tưởng. Tất nhiên, trong khi cách tiếp cận của Thế hệ Y có thể khác với cách của thế hệ Bùng nổ dân số, nhưng theo nhiều người như vậy không có nghĩa là kém hơn. Thật vậy, khi bạn xem xét đến khối lượng kiến thức và khả năng thành thạo về công nghệ của thế hệ Y, họ thậm chí đi trước các vị tiền bối của mình một bước trong Thời đại Thông tin. Tuy nhiên, rõ ràng bạn cần nhiều thứ khác để vươn đến khả năng lãnh đạo chứ không thể đơn thuần là quyển bách khoa toàn thư biết đi. Vì thế, nếu thế hệ Y không thể làm chủ bản thân thì làm sao chúng ta có thể trông mong họ quản trị, chưa nói đến lãnh đạo, người khác?

Ở TalentSmart®, chúng tôi tổ chức rất nhiều cuộc tranh luận để đạt được những lời lý giải khả dĩ cho khoảng cách to lớn trong kỹ năng làm chủ bản thân của thế hệ có kinh nghiệm và thế hệ trẻ. Một trong những lời giải thích hợp lý nhất là: bởi thời đại này có quá nhiều video game, sự thỏa mãn tức thì do Internet mang lại và những bậc cha mẹ nuông chiều con quá mức đã tạo ra một thế hệ nhân lực trẻ bê tha, không biết làm gì ngoài việc bộc lộ cảm xúc trong những tình huống căng thẳng. Tuy vậy, thế vẫn chưa đủ thuyết phục.

Sự thiếu hụt trong kỹ năng làm chủ bản thân của thế hệ trẻ chẳng can hệ gì nhiều với những thứ ta không có khả năng thay đổi như việc họ lớn lên giữa thời đại của iPad và FaceBook.

Khi chúng tôi xem xét các số liệu từ một góc độ khác thì bức tranh trở nên rõ ràng hơn. Những kỹ năng làm chủ bản thân có vẻ gia tăng một cách đều đặn cùng tuổi tác – những người 60 tuổi đạt điểm số cao hơn những người ở độ tuổi 50, và những người 50 tuổi này đạt điểm số cao hơn những người ở độ tuổi 40 và cứ thế. Điều đó có nghĩa là sự thiếu hụt trong kỹ năng làm chủ bản thân của thế hệ trẻ chẳng can hệ gì nhiều với những thứ ta không có khả năng thay đổi như việc họ lớn lên giữa thời đại của iPad và Facebook. Thay vào đó, Thế hệ X và Thế hệ Y chưa có nhiều môi trường thực tế để thực hành việc làm chủ tốt những cảm xúc của mình. Đó là một tin vui, bởi thực hành là điều mà Thế hệ Y có thể làm được. Nếu phải quay ngược thời gian và thay đổi phương pháp giáo dục họ có lẽ không ít cam go.

Phát hiện này nói lên rất nhiều điều về bản chất dễ uốn nắn của trí tuệ cảm xúc như nó đã thể hiện trong sự khác biệt giữa các thế hệ. Bằng cách thực hành, bất cứ ai cũng có thể – và rất nhiều người đã làm được – trở nên thông thạo hơn trong việc nắm bắt cảm xúc và kiểm soát chúng.

Việc phát triển những kỹ năng này cần có thời gian, nhưng với một chút nỗ lực có ý thức, ta có thể rút ngắn khoảng thời gian này xuống rất nhiều thay vì cứ để nó diễn ra một cách tự nhiên. Một trong những dấu hiệu rất đặc trưng của Thế hệ Y là họ có khả năng tiếp nhận thông tin mới và tiếp thu những kỹ năng mới cực kỳ mạnh mẽ. Có nghĩa là việc đẩy nhanh tiến độ cải thiện kỹ năng EQ của mỗi người gần như hoàn toàn tùy thuộc vào bản thân họ. Đối với những người thuộc Thế hệ Y, hoặc là họ ngồi đợi số năm kinh nghiệm tự nhiên đến với mình (cứ chờ đến tuổi 50 họ sẽ làm chủ thuần thục cảm xúc của mình) hoặc chủ động phát triển chính mình. Nếu Thế hệ Y chọn giải pháp thứ hai, họ có thể bắt đầu ngay từ bây giờ. Trước tuổi 30, Thế hệ Y có thể sẵn sàng cho vị trí lãnh đạo như một chiến binh dày dạn.

Trong khi thế hệ Bùng nổ dân số không sớm thì muộn cũng về hưu, lớp người tuổi đôi mươi đầy tài năng không chỉ có thể chuẩn bị cho vai trò lãnh đạo của mình mà những người Thế hệ Y này phải làm như vậy. Cá nhân nào thuộc Thế hệ Y biết dành thời gian và nỗ lực rèn luyện bản thân cưỡng lại cảm giác muốn thốt ra những điều chẳng ích lợi gì trong hoàn cảnh cụ thể và giữ cho sự giao tiếp luôn liền mạch cả khi bất hòa, thì người đó sẽ được chọn để lấp vào những vị trí lãnh đạo còn trống trong các tổ chức tương lai. Đi cùng những vị trí này không chỉ là thu nhập cao hơn mà cả khả năng tạo ra những sự thay đổi mà thế hệ Y khao khát được chứng kiến trong thế giới của họ.

Vũ khí bí mật của Trung Hoa đại lục: EQ và văn hóa

Cụm từ “Sản xuất tại Trung Quốc” giờ đây không chỉ là nghĩa đen. Lực lượng lao động chân tay ở quốc gia 1,3 tỷ dân từ lâu đã được xem là lợi thế cạnh tranh duy nhất của đất nước này trong nền kinh tế toàn cầu. Trong khi giới doanh nhân ở Mỹ nhắm mắt làm ngơ không màng để ý đến giới lao động Trung Quốc, thì chính lực lượng lao động có tay nghề không ngừng tăng nhanh của đất nước này đã trở thành mối nguy cạnh tranh lớn nhất đối với giới doanh nghiệp Mỹ ngày nay.

Điều đó đã xảy ra như thế nào?

Hãy quên đi thông tin rằng hàng năm Wal-Mart nhập khẩu một lượng hàng hóa trị giá 25 tỷ đô Mỹ từ Trung Quốc – đó là tin tức cũ. Ngày nay, Trung quốc có một lực lượng lao động tinh nhuệ mà họ cần để nắm giữ các lĩnh vực như tài chính, viễn thông và máy tính. Ngạc nhiên chưa? Bạn đừng nên ngạc nhiên. Năm 2004, hãng máy tính khổng lồ của Trung Quốc là Lenovo đã trả 1,25 tỷ đô Mỹ để mua lại mảng kinh doanh máy tính của IBM. Năm 2005, các nhà đầu tư người Mỹ tranh nhau giành cổ phần trong đợt Phát hành cổ phiếu ra công chúng đầu tiên (IPO) lớn nhất trong năm 2005 của một ngân hàng Trung Quốc với tổng giá trị tài sản lên tới 521 tỷ đô Mỹ. Đợt IPO này đánh dấu một tổ chức lớn lần đầu tiên của Trung Quốc phát hành bán cổ phiếu ra nước ngoài, và mặc dù có quy mô khổng lồ, nó vẫn chỉ là ngân hàng lớn thứ ba ở Trung Quốc mà thôi. Mặc dù cán cân về sức mạnh kinh tế chưa thay đổi hoàn toàn, nhưng chẳng ai lại không biết Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Người khổng lồ say ngủ cuối cùng đã vươn vai thức dậy.

Vài năm trước, các nhà nghiên cứu của TalentSmart® quyết định tìm hiểu xem EQ đóng vai trò gì trong sự chuyển mình đáng nể của Trung Quốc từ nhà cung cấp hàng hóa giá rẻ thành một nhà lãnh đạo đầy hiểu biết. Chúng tôi đã dành cả mùa hè năm 2005 để đánh giá chỉ số EQ của 3.000 nhà điều hành hàng đầu Trung Quốc. Những phát hiện ngoài mong đợi của chúng tôi đã tiết lộ bí quyết trong sự thành công của nền kinh tế Trung Quốc, và nó cũng là mối đe dọa nghiêm trọng cho khả năng cạnh tranh của nước Mỹ trên thị trường toàn cầu, đó là: tính kỷ luật. Điểm số của các nhà điều hành Mỹ thấp hơn các nhà điều hành Trung Quốc trung bình 15 điểm trong các kỹ năng làm chủ bản thân và làm chủ mối quan hệ.

Điểm số của các nhà điều hành Mỹ thấp hơn các nhà điều hành Trung Quốc trung bình 15 điểm trong các kỹ năng làm chủ bản thân và làm chủ mối quan hệ.

Các nhà điều hành cấp cao người Trung Quốc tham gia vào nghiên cứu của chúng tôi là những tài năng được đào tạo trong nước. Tất cả 3.000 người được khảo sát về trí tuệ cảm xúc ở Trung Quốc đều là những người Hoa sinh sống trong nước, làm việc trong các thành phần kinh tế quốc doanh và tư nhân. Điểm số của các nhà điều hành này trong kỹ năng tự nhận thức và nhận thức xã hội dù có nhỉnh hơn vài điểm so với những cá thể tham chiếu ở Mỹ, nhưng nhìn chung cũng tương đương. Điều này có nghĩa là các nhà điều hành ở cả hai nước có độ nhận thức ngang nhau về cảm xúc của chính mình và của người khác, nhưng các nhà điều hành người Trung Quốc biết tận dụng nhận thức này để làm lợi cho họ – và hành động ý nghĩa hơn lời nói rất nhiều.

Các nhà điều hành Trung Quốc đang sống với những phẩm chất mà người Mỹ cho phép bộ phận nhân sự đưa vào mô hình năng lực công ty. Các lãnh đạo người Mỹ thích cách viết chúng ra trên giấy, nhưng không có vẻ gì họ sẽ biến lời nói thành hành động. Những lời nói cửa miệng dường như là tất cả những gì các nhà điều hành Mỹ sẵn lòng bỏ ra để tìm kiếm thông tin phản hồi, kêu gọi sự đồng lòng, hiểu rõ hơn về đồng nghiệp và thực hiện cam kết.

Hiện tượng xem việc kinh doanh là chuyện cá nhân chẳng có gì lạ ở Trung Quốc. Các nhà điều hành thường lên lịch ăn tối với nhân viên để bàn về xu hướng trong kinh doanh, nguyện vọng nghề nghiệp và chuyện gia đình của họ. Người ta mong lãnh đạo của mình là tấm gương sáng trong việc đưa ra quyết định thế nào, gắn kết mọi người và thúc đẩy tiến bộ ra sao. Thật hổ thẹn nếu họ không hoàn thành những nghĩa vụ này, bởi vì mọi người thật sự quan tâm đến điều đó.

Thông điệp hàm ẩn dành cho thế giới quá rõ ràng: hãy quan tâm đến việc quản lý cảm xúc của mình hoặc gánh lấy hậu quả. Với các quốc gia đang cố bảo vệ những lợi thế cạnh tranh sẵn có của mình trên nền kinh tế toàn cầu hoặc những quốc gia đang lên, thì cũng không nên đánh giá quá cao mối liên kết giữa EQ và nền kinh tế thịnh vượng. Trung Quốc dường như có chút lợi thế nhờ vào nền văn hóa truyền thống nơi các nhà điều hành Trung Quốc được nuôi dạy. Nếu bạn lớn lên trong một nền văn hóa nơi sự bộc phát cảm xúc và những mong muốn được thỏa mãn của bản thân không những không được khuyến khích mà còn bị xem là nỗi hổ thẹn, thì một nền giáo dục như vậy sẽ ảnh hưởng đến cách bạn quản lý chính mình và người khác. Như chúng ta từng đề cập, EQ rất dễ bị tác động bởi những ảnh hưởng văn hóa. Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu văn hóa có sức mạnh thúc đẩy hay ngăn trở các hành vi trí tuệ cảm xúc hay không.

Người Hoa có câu “Hãy cho một người cái cần câu, anh ta sẽ bắt được mỗi tuần một con cá. Hãy chỉ cho anh ta loại mồi nào cần dùng, anh ta sẽ bắt được mỗi ngày một con cá. Hãy dạy cho anh ta cách câu cá như thế nào và câu ở đâu, anh ta sẽ có cá ăn suốt đời.” Suy ngược lại ý nghĩa của câu tục ngữ này là nếu một người không có cần câu, không có mồi câu, và cũng chẳng có kiến thức về việc phải làm như thế nào ở đâu thì người ấy có nguy cơ chết đói. Tương tự, những người cố tình lơ là cảm xúc, cùng mớ kiến thức nghèo nàn trong việc cảm xúc tác động như thế nào trong cuộc sống của họ và trong những lĩnh vực nào, họ sẽ khó khăn trong việc vươn tới thành công. Mặt khác, những người biết sử dụng đúng công cụ và phương pháp để khai thác sức mạnh cảm xúc sẽ có cuộc sống sung túc. Sự thật này đều đúng đối với cá nhân, tổ chức và thậm chí cả với quốc gia.

Ngẫm nghĩ: EQ và tương lai

Tất cả những phát hiện này vừa là điều đáng khích lệ, vừa có thể xem là một lời cảnh báo nghiêm khắc. Sự phát triển đều đặn của EQ trong 5 năm qua – và sự sa sút bất ngờ vào năm 2008 – cũng như sự tiến bộ về EQ của con người chứng tỏ rằng trí tuệ cảm xúc là một kỹ năng có thể học hỏi được – và quên đi. Cũng giống như việc bạn luyện tập chăm chỉ để giảm cân trong suốt mùa hè, để rồi lại tích tụ ngần ấy cân trong dịp nghỉ đông, bạn có thể rèn giũa kỹ năng EQ để rồi nhìn chúng mai một dần. Đó chính xác là lý do tại sao chúng tôi khuyên bạn hãy đọc quyển sách này và xem lại các phương pháp phát triển kỹ năng ít nhất là một lần mỗi năm.

Bạn không thể mong mình mãi mãi chơi gôn hoặc chơi đàn dương cầm thành thạo sau sáu tháng luyện tập rồi bỏ hẳn, đúng không? Điều này cũng đúng với sự phát triển các kỹ năng EQ. Nếu bạn lơ là dần rồi ngừng luyện tập một cách có ý thức các kỹ năng này của mình, đến một lúc nào đó trên cuộc hành trình, bạn gần như phó mặc cho những hoàn cảnh khó khăn kiểm soát mình. Bạn sẽ quay lại với những thói quen xấu ngày trước. Những kỹ năng không phải dễ kiếm này có thể bị mất đi dễ dàng như khi bạn học được chúng; và đi cùng với chúng là mức thu nhập cao hơn, những mối quan hệ khăng khít, và những quyết định sáng suốt hơn.

« Lùi
Tiến »