Khi xuôi xuống phố Brännkyrkagatan, tôi nóng bừng người vì xấu hổ. Quỷ tha ma bắt, tại sao tôi lại bắt tay chị, như thể chúng tôi chỉ quen biết sơ sơ? Tôi phải thú nhận rằng có điều gì đó ở Hanne khiến tôi bối rối. Tôi tự hỏi liệu chị có cảm nhận được điều đó không, và liệu chị có lợi dụng để khai thác nó không, như Janet vẫn luôn làm.
Ta không thể đặt lòng tin vào phụ nữ.
Không phải vì họ kém thông minh hơn chúng ta, mà đúng ra là vì chúng ta, cánh đàn ông, không có dũng khí cũng chẳng có nghị lực để tách bạch những gì họ nghĩ trong đầu. Kết quả là chúng ta luôn rơi vào vị thế thấp kém so với họ - và chúng ta phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về điều đó.
Chiếc xe của tôi đang đậu ở vị trí cấm đỗ trên phố Hornsgatan; khi cắm chìa khóa vào ổ, đột nhiên tôi không còn tin chắc vào bản thân nữa: có lẽ tôi phải quay lại đó và xin lỗi chị. Nhưng chính xác thì tôi phải xin lỗi về chuyện gì cơ chứ? Vì đã bắt tay khi chị trong tôi những muốn làm một việc hoàn toàn khác chăng? Vì đã không đến chỗ hẹn vào tối đó, mười năm trước, hay vì đã không báo tin gì cho Hanne suốt chừng ấy năm?
Biết bao điều mà tôi phải xin tha thứ!
Tôi ngồi vào trong xe, khởi động rồi dừng lại để suy nghĩ một lát. Tôi lấy điện thoại di động ra và bấm số của Manfred mà không để bản thân có thời gian để đổi ý.
Bảy hồi chuông tiếp nối nhau trước khi anh nghe máy.
- Chết tiệt, Lindgren. Sắp mười một rưỡi đêm rồi. Tôi hy vọng cậu có chuyện quan trọng.
- Tôi cũng chúc anh một buổi tối tốt lành.
Có vẻ Manfred không thực sự phật ý. Nhưng với những ông bố có con nhỏ thì ta không bao giờ biết được. Họ bảo vệ giờ ngủ của con họ với sự điên cuồng mà những người khác dành ra để bảo vệ những phần riêng tư trên thân thể. Với lại, xét cho cùng, tôi là ai mà dám chế giễu anh, trong khi suốt cuộc đời mình tôi chưa từng thay tã cho con lần nào?
- Anh có bản báo cáo pháp y trong tay không?
- Bản báo cáo nào?
- Về người phụ nữ bị giết ở nhà Orre.
Anh thở dài đánh sượt.
- Có, trên máy vi tính của tôi. Đừng gác máy, để tôi tìm.
Một phút sau, anh quay lại. Tôi nghe thấy đằng sau anh có tiếng trẻ con khóc. Một tiếng hét lanh lảnh cất lên rồi dịu dần, giống như tiếng còi báo cháy hơi bị rít.
- Tôi rất tiếc vì đã đánh thức cả nhà, tôi xin lỗi.
- Chuyện đó thì lẽ ra cậu phải nghĩ đến trước khi gọi, anh lầm bầm. Cậu muốn biết điều gì?
- Nạn nhân có dấu vết hay vết thương nào trong mắt, hay xung quanh mắt không? Trên mí mắt chẳng hạn.
Đầu dây đằng kia im lặng; tôi ngắm nhìn đường phố Hornsgatan trong lúc chờ câu trả lời. Vài người đi dạo muộn màng biến mất trong gió, về phía quảng trường Södermalmstorg. Trên quảng trường Mariatorget, một người đàn ông đang chật vật đi ngược gió, cầm sợi dây dắt theo một con chó. Một chiếc xe hơi đơn độc đi qua, hướng về phía Hornstull.
- Cậu vừa nói là đôi mắt đúng không… Cậu thử hình dung xem, có đấy. Cậu gặp may nhé! Cậu có thể cảm ơn ngôi sao chiếu mệnh vì Fatima Ali là người thực hiện cuộc giải phẫu, chứ không phải gã học việc lười chảy thây mà người ta gửi từ Borås đến cho chúng ta. Cô ấy đã tìm thấy… hai vết thương nhỏ khoan sâu ở bên trong mỗi mí mắt trên, và một vết thương khác bên dưới mắt phải mười tám mi li mét. Các vết thương này có đường kính từ một đến hai mi li mét, và không xâm nhập hạ bì. Là những vết thương bề mặt, đại loại thế. Cô ấy không có giả thuyết nào về nguồn gốc của chúng. Sao thế? Chính xác thì đó là gì vậy?
Phải mất một lúc, Hanne mới ra mở cửa. Chị mặc một chiếc quần thể thao và một chiếc áo thun bạc màu, cầm trong tay một chiếc bàn chải răng. Ánh mắt chị nhìn tôi dò hỏi, có lẽ còn có chút hoảng hốt - điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả: ta luôn phải đề phòng những kẻ xa lạ gõ cửa lúc nửa đêm.
Và lại càng có lý do để đề phòng khi đó không phải là những kẻ xa lạ.
- Chị nói đúng, tôi bảo với chị.
Chị không trả lời mà lùi ra sau một bước, để tôi bước vào căn hộ ấm áp.
Khoảng bảy giờ, tôi tỉnh dậy. Tất cả những gì tôi nghe thấy, trong bóng tối, là hơi thở đều đặn của Hanne và âm thanh ì ầm của chiếc máy sưởi đặt gần giường. Vô cùng thận trọng, tôi nép sát hơn nữa vào người chị, cho đến khi thân hình tôi chạm vào làn da chị và tôi cảm thấy hơi ấm từ người chị lan sang người mình. Tôi đặt tay lên vùng hông vồng lên của chị, rồi hít hà mùi quế pha trộn với mùi mồ hôi trên người chị. Khoảnh khắc này thật hoàn hảo và quý giá. Thuần khiết như nước nguồn, hoặc như khí lạnh trên những vách đá bên bờ biển sau một trận mưa rào. Một khoảnh khắc lung linh mà tôi phải khư khư gìn giữ, để nó đồng hành với tất cả những thứ thổ tả đang xô đẩy nhau trong những nếp uốn của trí nhớ tôi. Nhưng tôi đã thuộc lòng bản thân tôi: tôi sợ đến tuyệt vọng là mình sẽ phá hỏng nó, sẽ làm nó vấy bẩn. Giống như tôi đã lần lượt làm vấy bẩn và phá hỏng tất cả những gì đẹp đẽ và quý giá.
Tình yêu và cái đẹp chỉ là những khách qua đường.
Còn những thứ thổ tả thì lại là vĩnh cửu. Đôi khi, ta thấy nảy sinh giữa chúng những khoảnh khắc hạnh phúc lung linh ngắn ngủi - và điều tốt nhất ta cần làm mỗi khi bắt gặp một khoảnh khắc như thế, chính là chẳng làm gì hết.
Thế nên tôi vẫn nằm dài, không cử động, trong tấm chăn ấm áp, cố gắng hít thở thật khẽ. Tôi để các đầu ngón tay mình lướt nhẹ trên làn da mềm mại ở bẹn chị, rồi trên những sợi lông loăn xoăn dưới đó một chút.
Vào cái thời kỳ chị thực sự là của tôi, khi tôi có được cùng lúc cả thân thể và lòng tin của chị, tôi cũng chưa từng cẩn trọng đến thế này. Đó là một trong những bài học của cuộc sống, tôi hình dung là thế - ta chỉ nhận ra giá trị của những gì ta sở hữu một khi đã đánh mất chúng. Một câu nói sáo mòn, tôi biết - nhưng đó là sự thật. Cảm giác thiếu vắng là thước đo tuyệt vời cho giá trị của những thứ đã mất; đó là một loại tiền đáng tin cậy như bất cứ loại tiền nào khác.
Khoảng bảy giờ rưỡi, tôi lách mình ra khỏi giường, viết vài dòng nhắn nhủ rồi để lên mặt bàn bếp. Tôi giải thích rằng tôi phải có mặt tại trụ sở cảnh sát trung tâm lúc tám giờ, và nói với chị là hẹn gặp lại. Trong một lát, tôi tự hỏi liệu tôi có nên viết “hôn em” không, hay có lẽ nên cảm ơn chị về buổi tối hôm qua, nhưng tôi quyết định bỏ qua mà không thực sự biết lý do tại sao.
Sanchez và Manfred đã có mặt. Họ đang đứng đằng trước mấy tấm biển lớn, tay cầm một cốc cà phê. Manfred có vẻ mệt mỏi; tôi tự hỏi không biết anh có ngủ lại được không, sau cuộc trò chuyện với tôi. Một phút sau, chúng tôi thấy Bergdahl - điều tra viên đã giúp chúng tôi thu thập những cuộc gọi liên quan đến danh tính của người phụ nữ bị sát hại - xuất hiện. Anh ta cầm trên tay một tập giấy, tay kia là một hộp thuốc lá sợi.
Manfred đứng dậy khỏi chiếc ghế anh vừa ngồi xuống, vừa thổi phù phù.
- Có lẽ sẽ tốt hơn nếu cậu bắt đầu luôn, anh vừa nói vừa phác một cử chỉ nhỏ về phía tôi. Tối qua cậu đã phát hiện ra điều gì đó, cậu có thể cho chúng tôi biết được không?
Tôi gật đầu rồi nhắc đến những que diêm, những vết thương xung quanh mắt của nạn nhân, rồi giả thuyết của Hanne cho rằng có lẽ kẻ sát nhân đã muốn buộc nạn nhân phải nhìn hắn, chứ không phải điều ngược lại.
- Thú vị đấy, Sanchez nhận xét, vẻ chân thành.
Thái độ châm chọc quen thuộc của cô dường như đã bay biến.
- Tôi đã nói với các vị là bà phù thủy ấy, chị ta rất giỏi mà, Manfred lầm bầm.
- Nếu tôi hiểu đúng những gì chị ấy muốn nói, vậy thì động cơ có thể là một dạng trả thù chăng? Sanchez hỏi.
- Tôi cũng diễn giải như vậy, tôi đáp lại. Nhưng tôi nghĩ tốt hơn hết là để Hanne đích thân giải thích với chúng ta về lập luận của chị ấy.
- Anh có biết khi nào chị ấy đến không?
Sanchez hỏi. Tôi nhún vai.
- Chịu thôi.
- Được rồi, Bergdahl lên tiếng. (Anh ta trạc năm mươi tuổi và có vẻ xấu hổ vì cái đầu hói, bởi vì lúc nào anh ta cũng khăng khăng đội một cái mũ len hoặc mũ lưỡi trai dù đang ở trong phòng - hôm nay là một chiếc mũ len đan to sụ.) Tôi sẽ nói thêm với các vị đôi chút về những thông tin mà chúng ta đã nhận được sau khi công bố chân dung nạn nhân trên tất cả các báo lá cải và đa số các kênh truyền hình. Chúng tôi đã nhận được chừng một trăm cuộc gọi, và có thể loại bỏ phần lớn - khoảng tám mươi cuộc - vì đã tìm thấy và liên hệ được trực tiếp với các phụ nữ được cho là mất tích. Như vậy, chúng ta còn lại mười tám người, mà chúng tôi đã chia thành hai nhóm: quan tâm và ít quan tâm, trước hết là từ góc độ tương đồng hình thể với nạn nhân. Chúng tôi sẽ tiếp tục xem xét trong ngày hôm nay.
Chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân trong hành lang. Hanne bước vào, cởi áo choàng rồi ngồi vào một chiếc ghế bên cạnh Sanchez, không nhìn vào mắt tôi. Nhưng tôi không thể ngăn mình quan sát chị. Khuôn mặt chị với những đường nét thanh tú, mái tóc vẫn còn ẩm rủ xuống vai như thể chị vừa mới bước ra khỏi phòng tắm, chiếc áo len chui đầu cũ kỹ, quá rộng đối với chị. Tôi thấy bụng mình thắt lại.
- Vậy chúng ta có bao nhiêu ứng cử viên đáng quan tâm? Sanchez hỏi.
- Ba, Bergdahl trả lời, rồi dán ba bức ảnh khó xác định lên tấm biển rồi chỉ tay vào bức ảnh đầu tiên. Wilhelmina Andrén, hai mươi ba tuổi, sống tại Stockholm. Cô ta đã đi khỏi khoa tâm thần của bệnh viện Danderyd nhân một lần được phép ra ngoài tạm thời, hai tuần trước, và kể từ đó đến nay không ai biết tin tức gì về cô ta. Cô ta bị bệnh tâm thần phân liệt, và được chăm sóc theo luật về nhập viện tâm thần theo yêu cầu của một bên thứ ba. Nhưng theo lời người thân, cô ta chưa bao giờ có hành vi bạo lực nào. Cô ta bị ảo giác. Có vẻ cô ta tin chắc rằng mình có thể giao tiếp với lũ chim. Cô ta từng nhiều lần mất tích, và thường là người ta tìm thấy cô ta trong một công viên, nơi cô ta thường la cà với đám bạn bè.
- Lũ chim ư?
- Đúng thế. Vấn đề là cô ta hơi thấp so với nạn nhân, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục xem xét trường hợp này. Tiếp theo, chúng ta có Angelica Wennerlind, hai mươi sáu tuổi, nữ giáo viên mầm non, người gốc Bromma. Cô ta được cho là đi nghỉ với đứa con gái năm tuổi vào ngày xảy ra án mạng, và từ đó đến nay không có tin tức gì. Cha mẹ cô ta cho chúng tôi biết rằng cô ta đã thuê một căn nhà gỗ ở đâu đó, nhưng họ không biết ở nơi nào. Có thể cô ta đang ở một vùng không có sóng điện thoại, và chỉ đơn giản là không báo tin gì cho ai. Nhưng cô ta khá giống nạn nhân. Đáng tiếc là tình trạng của cái xác quá tệ nên không thể cho cha mẹ cô ta nhận diện được, chúng ta sẽ phải chờ biên bản giám định nha khoa.
- Thế còn người thứ ba?
Bergdahl chỉnh lại chiếc mũ len lố bịch rồi chỉ vào bức ảnh cuối cùng.
- Emma Bohman, hai mươi lăm tuổi. Cho đến tận tuần vừa rồi, cô ta làm nhân viên bán hàng trong một cửa hàng Clothes&More. Nghĩa là cô ta từng làm việc trong công ty của Jesper Orre. Giống như vài nghìn người khác, thế nên không nhất thiết là đáng ngờ. Cô ta sống một mình trên đại lộ Värtavägen, ở trung tâm Stockholm. Cha mẹ cô ta đều đã chết. Bác gái cô ta thông báo việc cô ta mất tích từ ba ngày trước, và đã liên lạc lại với chúng ta khi nhìn thấy hình phác họa trên trang nhất của các tờ báo. Bà ấy đã tìm kiếm cô ta suốt một tuần nay, nhưng không có kết quả gì. Nhưng bà ấy cũng nói thêm rằng về bản chất, cô ta không giống với người phụ nữ trong bức phác họa cho lắm. Đặc biệt là cô ta có mái tóc dài hơn nhiều. Nhưng cũng có thể cô ta đã cắt ngắn, thế nên chúng ta vẫn tiếp tục theo hướng điều tra này. Chúng tôi đã yêu cầu cung cấp phiếu thông tin nha khoa của ứng cử viên, và sẽ nhận được trong ngày hôm nay nếu mọi chuyện suôn sẻ. Trên cơ sở đó, bác sĩ răng hàm mặt có thể sẽ nhanh chóng xác định xem một trong số họ có tương ứng với nạn nhân của chúng ta hay không.
- Emma , Manfred nhắc lại.
- Giống như người đã ký tên trên bức thư, tôi nói tiếp và đưa mắt nhìn tờ giấy viết tay lúc này đã được ghim trên tấm biển cùng với những tài liệu khác.
- Sao cơ? Bergdahl hỏi, vẻ bối rối.
- Chúng tôi đã tìm thấy một bức thư ở nhà Orre, tôi nói. Của một cô Emma nào đó, có vẻ như cô ta từng có quan hệ với Orre, và đang mang thai đứa con của anh ta.
Bergdahl chậm rãi gật đầu.
- Được rồi. Bức thư mới viết phải không?
- Không biết. Chúng tôi không tìm thấy phong bì, mà chỉ có bức thư. Nó nằm trong túi quần jeans của anh ta.
- Chúng ta có thể so sánh chữ viết trong bức thư với chữ viết của người phụ nữ mất tích, Emma Bohman, hay không?
- - Tất nhiên, tôi nói. Nhưng có thể chuyên gia răng hàm mặt sẽ nhanh hơn chăng.
Sanchez đặt cuốn sổ xuống bàn rồi lên tiếng:
- Fatima Ali, bác sĩ pháp y, đã cho chúng ta biết rằng nạn nhân từng có con hoặc từng mang thai. Angelica Wennerlind có một đứa con, thế còn hai phụ nữ kia thì sao?
- Chỉ có Angelica là có con, Manfred nói. Nhưng chúng ta không biết, đương nhiên, là một trong hai người kia có đang mang thai hay không. Nếu Emma Bohman cũng là Emma tác giả bức thư, thì cô ta cũng đang mang thai.
Sau một hồi im lặng, Manfred nói tiếp:
- Cho dù thế nào, tôi cũng đã nói chuyện lại với gã thợ kính kia. Anh ta đã thay kính một cửa sổ trong hầm, về phía Tây trong biệt thự của Jesper Orre, hai tuần trước. Orre kể rằng nhà anh ta đã bị đột nhập, nhưng không mất trộm bất kỳ thứ gì. Ngoại trừ điều đó, gã thợ kính không còn thông tin gì thú vị nữa. Ngoại trừ việc Orre khá tự phụ và có vẻ căng thẳng - chuyện này thì không có gì là bất hợp lý cả.
Qua khóe mắt, tôi nhìn thấy Hanne đang ghi chép vào một cuốn sổ tay mà chị lúc nào cũng mang theo. Có vẻ như theo năm tháng, chị đã trở nên cẩn thận hơn, bởi vì bây giờ, chị thường xuyên ghi chép, như thể chị không muốn bỏ sót dù chỉ một lời mà những người khác nói ra. Điều đó khiến tôi có chút ngạc nhiên: thời chúng tôi còn đi lại với nhau, tôi thấy chị là người khá lộn xộn và bừa bãi. Gần như du mục. Chị không bao giờ viết bất cứ thứ gì, nhưng dường như lại nhớ mọi chuyện.
Sanchez đứng dậy, khẽ kéo vạt chiếc áo sơ mi bằng lụa.
- Chúng tôi cũng nhận được một cuộc gọi từ cảnh sát vùng. Như các vị đã biết, họ đang điều tra về vụ hỏa hoạn trong ga ra nhà Orre. Họ xếp loại đây là một vụ hỏa hoạn hình sự, bởi vì công trình bị cháy ở gần nơi ở. Họ khẳng định thông tin của hãng bảo hiểm cho rằng đây là một vụ phóng hỏa. Phòng xét nghiệm đã tìm thấy vết xăng tại hiện trường, và ngoài ra còn có nhiều bi đông đựng xăng cháy đen trong ga ra. Có vẻ như Orre không ở nhà vào buổi tối xảy ra vụ cháy. Anh ta đang ở Riga để gặp gỡ các giám đốc cửa hàng tại các nước vùng Baltique. Thế nên anh ta không thể đích thân gây ra vụ cháy, nếu đúng là anh ta muốn moi tiền bảo hiểm.
- Anh ta có thể thuê một ai đó, tôi gợi ý.
Sanchez gật đầu rồi vươn thẳng người, khiến chiếc áo sơ mi của cô lại hếch lên, để lộ một vạt bụng phẳng có hình xăm.
- Đúng thế, tất nhiên. Nhưng không có điểm gì cho thấy Orre cần tiền cả. Ngoài ra, chúng ta còn có thêm lời chứng của một hàng xóm, bà ta khẳng định đã nhìn thấy một phụ nữ đứng ngoài phố nhìn ga ra bốc cháy. Bà ta không thể miêu tả, nhưng chắc chắn rằng đó là một phụ nữ, và rằng cô ta đã rời khỏi đó khi đám cháy đang diễn ra.
- Một người qua đường chăng? Manfred hỏi.
- Có thể thế. Hoặc chính là người đã phóng hỏa ga ra. Ngay lúc này, chúng ta chưa thể xác định được điều đó. Điều duy nhất mà ta biết, đó là cô ta ở đó, và đứng nhìn đám cháy trong một lát. Như thể đó là “một ngọn lửa vui vẻ khốn kiếp”. Tôi nhắc nguyên văn lời của bà hàng xóm.