Một tuần trước.
Đường phố yên ả, tĩnh mịch. Những bông tuyết to tướng rơi xuống từ bầu trời tối om. Chiếc Volvo màu đỏ đỗ trước cửa nhà. Tôi đi xuống lối đi lát đá, về phía chiếc xe, túm chặt cánh tay Jesper. Đến gần bụi đỗ quyên, tôi dừng lại và lau tay xuống tuyết. Tôi vục mặt vào lớp áo choàng trắng lạnh băng ấy, chà xát cho sạch máu. Jesper đứng bất động bên cạnh tôi, thở hổn hển như một con chó.
Tôi lấy ra chùm chìa khóa đã nhặt được. Tôi mở cửa xe, bồi cho Jesper một cú sốc điện nữa rồi đẩy anh ta vào ghế bên cạnh ghế lái. Khuôn mặt anh ta không biểu lộ bất kỳ cảm xúc nào, còn đôi mắt thì giống như hai viên sỏi đen ướt át.
Lớp da bọc ghế có màu sẫm, thô nhám và có mùi như mùi ngựa. Lần đầu tiên sau nhiều giờ liền, tôi cho phép mình thư giãn đôi chút.
- Mẹ đâu rồi?
Giọng nói vang lên từ băng ghế sau. Trong một thoáng, nỗi sợ cùng nỗi ngạc nhiên khiến tôi lạnh người. Rồi tôi quay lại và ngắm nghía khuôn mặt của đứa bé gái. Cả hai chúng tôi cùng im lặng và nhìn nhau chằm chằm. Dường như con bé vừa tỉnh giấc, nhưng nó không có vẻ gì là sợ hãi, mà chỉ tò mò. Đằng sau con bé, tôi nhìn thấy mấy chiếc va li cất trong cốp xe.
- Mẹ phải đến gặp bác sĩ, tôi vừa nói vừa khởi động xe. Jesper và cô sẽ làm người trông trẻ.
- Wilma, Jesper nói bằng giọng nhừa nhựa.
- Im ngay!
Tôi kết hợp mệnh lệnh đó với một cú sốc điện nữa. Thân hình anh ta co giật, rồi cái đầu ngật sang một bên, và anh ta cứ giữ tư thế ấy, một dòng nước dãi chảy ra từ khóe miệng.
- Cả Jesper cũng bị ốm, tôi nói và quay nhìn ra phía sau. Chúng ta sẽ chăm sóc chú ấy ở nhà.
Đứa bé gái lặng lẽ đến mức đáng ngạc nhiên. Tôi đã chuẩn bị tinh thần là con bé sẽ xổ ra một tràng câu hỏi và phản đối, nhưng nó ngồi bất động, hai mắt mở to, không nói lời nào.
- Vậy cháu tên là Wilma?
Nó nhét ngón tay cái vào miệng mà không trả lời, mắt nhìn đăm đăm ra vùng bóng tối bên ngoài.
- Không được mút ngón tay. Trên ngón tay có rất nhiều chất bẩn và vi khuẩn, tôi nói, cố tỏ ra không quá nghiêm khắc.
Ánh mắt con bé bắt gặp ánh mắt tôi qua gương chiếu hậu.
- Cô là Emma.
Chúng tôi lái xe vài trăm mét trong yên lặng. Có thể là do căng thẳng, nên tôi đi nhầm đường khi ra khỏi đường phố nhà Jesper.
Tôi không còn nhận ra phải đi đường nào nữa. Thay cho những ngôi nhà, tôi nhìn thấy những cây cối phủ đầy tuyết và cánh đồng rộng mênh mông. Không có lấy một bóng người.
Tôi đang ở đâu? Tôi không hề biết.
- Cháu muốn mẹeeeee! Đứa bé gái đột ngột hét lên.
Tôi lưỡng lự, rồi bật đài và suy nghĩ. Tôi quay lại để bảo con bé im đi, nhưng trước khi tôi kịp mở miệng, Jesper đã lao vào tôi và ép tôi vào cánh cửa xe. Hẳn là bằng cách nào đó, anh ta đã cởi được vòng trói bằng băng dính, vì hai tay anh ta đang tự do. Anh ta tìm cách giằng lấy vô lăng và phanh tay.
Vì bất cẩn, tôi đạp chân ga, khiến chiếc xe lao đi và bắt đầu trượt, bay qua một gờ giảm tốc rồi đâm vào một cây dương. Một âm thanh đinh tai, và mùi nhựa cháy lan khắp khoang lái.
Jesper nằm sóng sượt trên đầu gối tôi, đầu áp vào kính chắn gió. Những vết rạn dài ngoằn ngoèo trên mặt kính. Trông giống như một cái mạng nhện.
Tôi quay nhìn về phía sau theo phản xạ.
Đứa bé gái nhìn tôi chòng chọc bằng đôi mắt mở to, nhưng nó có vẻ vô sự.
Tôi chầm chậm đưa tay lại gần cổ Jesper, tìm động mạch, nhưng không cảm thấy gì hết. Một dòng máu nhỏ rỉ từ đầu anh ta, chảy xuống bảng điều khiển. Trong xe im phăng phắc. Chỉ có tiếng thở của Wilma vọng đến tại tôi từ băng ghế sau.
Tôi khẽ lay Jesper, nhưng anh ta không phản ứng gì. Không thở.
Tôi nhìn ra bên ngoài. Chỉ thấy những bụi cây lúp xúp phủ tuyết cùng cánh đồng trải rộng. Dần dà, tôi ý thức được rằng tôi không thể đi tiếp cùng với Jesper trong xe. Tôi phải bỏ anh ta lại.
Nhưng tôi không thể bỏ mặc anh ta ở đây, ngay giữa đường, đúng thế không?
Tôi đưa mắt lục lọi khắp quang cảnh tối tăm bên ngoài. Phía xa, tôi nhìn thấy một cái thùng vuông lớn có in mấy chữ sáng màu: CÁT.
Con bé nằm trên giường của tôi và ngủ ngon lành, như thể những sự kiện lúc tối chỉ là một ký ức mờ nhạt: vụ tai nạn và cái xác của Jesper mà tôi lôi ra khỏi xe và chật vật đẩy được vào bên trong thùng cát; hành trình mà chúng tôi tiếp tục như thể không có chuyện gì xảy ra, cho đến tận bãi đỗ xe của bệnh viện Danderyd nơi tôi dừng xe giữa hàng trăm xe khác. Tuyết đã trải lên kính chắn gió rạn nứt với một lỗ thủng ở mé trái một lớp dày như một tấm chăn. Wilma chỉ hỏi tôi một câu trong lúc chúng tôi thực hiện chặng tàu điện ngầm ngắn ngủi: tôi đã đưa Jesper đi đâu. Tôi bình thản trả lời con bé rằng anh ta cũng phải đến gặp bác sĩ, giống như mẹ nó.
Tôi không biết con bé có tin tôi không, nhưng nó không biểu lộ gì. Nó chỉ nghiêm trang gật đầu.
Khuôn mặt nhỏ bé nhợt nhạt của Wilma thật hoàn hảo: đôi má bầu bĩnh, cặp mi đen dài, cái miệng xinh xắn hé mở. Tôi khẽ vuốt ve má nó. Da nó vừa ấm vừa mềm mại.
Nó thật xinh đẹp, tôi tự nhủ. Hoàn hảo và trọn vẹn biết bao. Quả là một tuyệt tác thực thụ. Chỉ có một vấn đề duy nhất: nó không phải là con tôi. Con tôi đã chết và biến mất mãi mãi. Nó biến mất trước cả khi chúng tôi kịp gặp nhau.
Tôi ngủ bên cạnh con bé đêm đó. Rất nhiều lần, tôi tỉnh giấc khi nó trở mình hoặc đạp vào người tôi bằng đôi chân bé nhỏ rắn chắc. Thế nhưng, có thứ gì đó lớn dần trong tôi: cảm giác rằng tôi đang được trải qua một điều gì đó tuyệt vời và duy nhất. Rằng đứa bé này, rằng tất cả trẻ con trên đời, chính là thứ mang lại ý nghĩa cho cuộc sống; rằng chiếc chìa khóa của cuộc sinh tồn nằm trong thân hình bé nhỏ bụ bẫm đang ngủ cạnh tôi, và rằng có một thứ sự thật nằm trong đôi mắt xanh nhạt và tròn xoe đến lạ lùng kia.
Có lẽ mình có thể giữ con bé, tôi tự nhủ. Chúng tôi có thể bỏ trốn cùng nhau, bắt đầu lại tất cả ở một nơi không ai biết chúng tôi là ai.
Có thể con bé sẽ thực sự thuộc về mình.
Wilma thức dậy trước tôi. Khi tôi mở mắt, nó đang nghịch đôi khuyên tai mà tôi đã cởi ra và để trên mặt bàn đầu giường. Cánh tay con bé nhợt nhạt, gần như cẩm thạch.
- Cháu đói à?
Con bé không trả lời.
- Chờ chút, cô sẽ đi tìm đồ ăn.
Tôi vào bếp. Tủ lạnh trống trơn, không có gì ngoài một củ hành khô và một miếng bơ khét. Tôi nhìn vào trong các ngăn tủ. Không có bánh bích quy cũng không có ngũ cốc: chẳng có thứ gì để mang lại niềm vui cho một đứa trẻ con. Cả tủ đông cũng gần như trống trơn. Nhưng ở tầng dưới cùng, tôi nhìn thấy một thứ gì đó. Tôi cúi xuống để nhặt cái hộp, mở một ngăn kéo và lấy một cái thìa.
Wilma ngoan ngoãn ăn kem, nó ngồi luôn trên sàn nhà. Nó làm rớt kem ra quần áo và tấm thảm, nhưng tôi mặc kệ. Nó hoàn hảo quá, tôi tự nhủ, và đột nhiên ý nghĩ đó trở lại trong đầu tôi:
Giá như nó có thể thuộc về mình.
Tôi vào phòng tắm và nhìn mình trong gương. Mái tóc ngắn xấu xí, lớp phấn mắt màu đen loang lổ trên làn da nhợt nhạt bên dưới đôi mắt vằn những tia máu. Tôi cẩn thận xoa xà phòng dạng lỏng lên người, bước vào đứng dưới vòi hoa sen và để mặc cho những tia nước nóng bỏng chảy tràn trên vai. Tôi đang rửa sạch vận rủi.
Có tiếng kim loại lách cách vang ra từ phòng bếp: hẳn là Wilma đang chơi trò thám hiểm cái ngăn kéo đựng dao thìa dĩa. Tôi biết là tôi phải ra xem con bé đang làm trò gì. Đúng lúc ấy, tôi nghe thấy một tiếng kêu phấn khích, rồi Wilma reo lên:
- Cháu tìm thấy một kho báu! Cô lại đây mà xem!
Tôi lau người rồi quấn mình trong một cái khăn tắm. Tôi đi vào bếp. Wilma có vẻ phấn khởi. Nó gần như nhảy lên vì vui sướng.
- Thế nào, cháu tìm thấy một kho báu sao?
- Vâng! Cô nhìn xem!
Thoạt tiên, tôi không hiểu con bé muốn cho tôi xem thứ gì, rồi tôi nhìn thấy những xấp tiền rải rác trên sàn. Tôi ngồi xổm xuống. Những sợi dây chun nhỏ màu đỏ buộc những tờ tiền lại với nhau. Và thế là tất cả đã rõ ràng: đây là số tiền mà tôi được thừa kế. Số tiền đã biến mất không để lại dấu vết. Thậm chí tôi còn nhận ra cả những sợi dây chun.
- Cháu tìm thấy thứ này ở đâu thế?
Giọng tôi vang lên thật xa xôi, như thể nó thuộc về một người nào khác.
- Trong này.
Wilma vừa nhảy nhót vừa chỉ vào một ngăn tủ nhỏ bên trái bếp lò, nơi tôi cất dụng cụ làm bếp. Phải nhiều tháng nay tôi không mở ngăn tủ này. Đúng ra, tôi biết chính xác tôi đã sử dụng nó lần cuối cùng khi nào. Đó là buổi tối lẽ ra Jesper và tôi cùng ăn tối để mừng lễ đính hôn của chúng tôi, khi tôi chuẩn bị món bánh mì nướng. Tôi cúi người và nhìn sâu vào trong vùng bóng tối. Phải mất vài giây mắt tôi mới quen được với những thứ bên trong. Dưới đáy tủ, tôi nhìn thấy nhiều tập tiền. Tôi lấy ra, đếm rồi suy nghĩ một lát. Có vẻ số tiền không bị thiếu.
- Làm sao…? Ngăn tủ mở à?
Wilma lắc đầu, vẻ mặt nghiêm trang. Những vệt kem to tướng dính trên cằm và áo thun của con bé.
- Khi cháu mở ra, cháu tìm thấy kho báu.
Tôi gật đầu, quỳ sụp xuống sàn nhà lạnh lẽo, cố gắng hiểu xem chuyện gì đã xảy ra. Hẳn là Jesper đã mang trả lại tiền… Nhưng tại sao anh ta lại cất nó vào chỗ này? Cách giải thích duy nhất, đó là anh ta không muốn tôi tìm lại được nó. Anh ta đã cố tình giấu nó đi.
Như thể anh ta tìm cách khiến tôi phát điên.
Đúng lúc chuẩn bị đóng ngăn tủ hẹp lại, tôi nhìn thấy một thứ gì đó ẩn trong vùng tối. Trông như một cái khay dựng vào tường. Tôi thò tay vào, quờ quạng và tóm được đồ vật. Nó có viền bằng gỗ. Tôi nhẹ nhàng rút nó ra rồi đặt trước mặt mình.
Chính là bức tranh của Ragnar Sandberg.
Tôi lại đứng trước tấm gương trong phòng tắm. Tôi lục lọi trong ký ức. Liệu có khả năng chính tôi đã cất số tiền cùng bức tranh mà không hề nhớ không? Có điều gì đó lướt qua tâm trí tôi. Một hồi ức mơ hồ. Một phòng bếp chìm trong bóng tối. Sức nặng của bức tranh trong tay tôi, khi tôi ngồi xổm xuống đằng trước ngăn tủ.
Phải chăng tôi đang hóa điên?
Hẳn là tôi đã mơ. Tôi nghĩ đến mẹ tôi, đến việc mẹ chưa bao giờ cho tôi câu trả lời.
Người phụ nữ mặc áo xanh lá đặt tay lên cánh tay tôi, như để an ủi. Cô ta còn trẻ. Rất trẻ. Tên cô ta, Soraya, được viết trên tấm thẻ.
- Emma, cảm ơn cô đã đến nhanh như thế. Đi theo tôi, tôi sẽ chỉ chỗ của bà ấy cho cô.
Chúng tôi lặng lẽ đi dọc một hành lang. Qua các cửa sổ, tôi nhìn thấy những ngọn cây. Tán lá xanh mát nhảy nhót trong gió. Những vụn mây rách nát đuổi nhau trên bầu trời xanh biếc. Chúng tôi đi qua một nơi giống như phòng bếp. Trên chiếc bàn tròn nhiều tầng có ngự một chiếc bình bằng nhựa cắm những bông thủy tinh bấc héo úa. Mùi cà phê lẫn với mùi thức ăn hâm nóng trong lò vi sóng lan tỏa trong hành lang.
Bước chân của nữ y tá vừa êm ái vừa quyết đoán. Cô ta dừng lại trước một cánh cửa rồi quay sang phía tôi.
- Trước khi vào… Mẹ cô đã được đặt máy thở. Những đường ống đó có thể hơi đáng sợ, nhưng không làm bà ấy đau đâu. Chúng tôi đã cho bà ấy dùng nhiều morphin để giảm đau. Điều đó có nghĩa là việc tiếp xúc với mẹ cô có thể sẽ khó khăn. Bà ấy vẫn chưa nhận thức được.
- Bà ấy sẽ nhận ra tôi chứ?
Nữ y tá khẽ mỉm cười. Tôi không biết là vì cô ta cố tỏ ra dễ mến, hay vì tôi vừa hỏi một câu ngốc nghếch.
- Nếu bà ấy tỉnh lại thì sẽ nhận ra cô, tất nhiên rồi. Cô biết đấy, bà ấy không hề bị rối loạn tâm trí. Chỉ là thân thể bà ấy…
- Tôi có thể chạm vào bà ấy không?
- Có chứ, không vấn đề gì. Cô có thể nói chuyện với bà ấy, nắm tay bà ấy, hôn bà ấy. Không có gì nguy hiểm cả, cô sẽ không làm bà ấy đau đâu. Nhưng, như tôi vừa nói, tôi không biết bà ấy có nhận thức được không. Hôm qua, tình trạng suy gan và thận của bà ấy đã tiến triển nặng hơn, thế nên bà ấy rất… mong manh.
Ở cuối hành lang, tôi nhìn thấy một ông già đang ngập ngừng đi ra khỏi phòng, kéo theo một cây truyền sau lưng. Chặng cuối của cuộc đời, vậy là nó giống như thế này đây. Một hành lang bệnh viện trắng toát với mặt sàn trải thảm linoleum sáng bóng và những chiếc giường có thể điều chỉnh bằng inox. Bầu không khí tĩnh mịch chỉ bị phá vỡ bởi tiếng hút và tiếng rì rầm của máy móc.
Nữ y tá đứng cạnh tôi mở cánh cửa phòng mẹ tôi. Tôi đặt tay lên cánh tay cô ta, cảm thấy nhất thiết phải hỏi cô ta một điều gì đó:
- Bà ấy sẽ tỉnh lại chứ?
- Không thể nói trước được.
Đôi mắt nâu của cô ta nhìn thẳng vào mắt tôi, rồi cô ta tặng tôi một nụ cười ngắn ngủi và quay gót. Cô ta đi xa dần, trên đôi giày màu trắng lặng lẽ.
Đến giữa hành lang, cô ta quay lại.
- Nếu cô có cần gì, thì tôi ở trong văn phòng nhé.
Tôi gật đầu rồi bước vào phòng.
Không thể nào nhận ra mẹ tôi. Cứ như thể toàn bộ thân thể bà đã phồng lên. Bà vẫn luôn béo tốt, nhưng lúc này, bà đã hoàn toàn khác. Toàn bộ thân hình bà như đựng đầy chất lỏng. Làn da bà tái nhợt, lờ mờ, gần như trong suốt. Đột nhiên, tôi sợ bà sẽ bị thủng nếu tôi chạm vào bà, và toàn bộ số chất lỏng kia sẽ chảy ra giống như khi ta chọc thủng một quả bóng đựng đầy nước.
Bà đang được đặt ống truyền, và âm thanh duy nhất mà ta nghe được là tiếng xì xì của chiếc máy thở đang chuyên cần đưa khí vào và ra khỏi lồng ngực của bà.
Quả là một cú sốc! Tôi không chuẩn bị tinh thần cho việc này. Hẳn là vì trước đó, tôi vẫn cho rằng mình sẽ không bị tác động, bởi vì mối quan hệ giữa mẹ tôi và tôi vẫn giống hệt như bấy lâu nay. Nhưng tôi đã nhầm. Chân tay tôi bắt đầu run rẩy, và khi tôi kéo một chiếc ghế để ngồi vào bên cạnh đầu giường, tôi cảm thấy mồ hôi lạnh rịn ra khắp người. Những ký ức lạ lùng mà tôi không thể nào chống trả bất thần ập đến xâm chiếm tâm trí tôi: mẹ tôi, cha tôi và tôi đang trang trí cây thông mà chúng tôi đã lấy trộm ở công viên Vitaberg. Mẹ tôi nằm dài trên giường tôi, đôi tay bà ôm siết lấy tôi: một trong những thời khắc hiếm hoi của tình yêu và sự thân mật mà tôi giữ gìn như châu báu. Hơi thở của bà có mùi ngọt của bia và thuốc lá. Và tôi không dám lùi mặt lại bất chấp thứ mùi đó, dù chỉ là một mi li mét, ngập tràn trong một thứ lòng biết ơn cầm lặng trước biểu cảm dịu dàng này. Con bướm xanh, đã chết và rách nát trên sàn nhà, giữa những mảnh thủy tinh vụn và những nhánh cây đầy gai khô quắt.
Tôi khẽ khàng đặt tay lên cánh tay mẹ tôi, cẩn thận tránh những vết bầm tím lớn trên đó. Bà không phản ứng. Cả khuôn mặt bà cũng sưng phồng, nhất là xung quanh mắt. Khó mà thấy được là mí mắt bà đang mở hay đang khép.
Nước mắt tôi bất ngờ dâng lên. Nó lặng lẽ chảy ra mà không báo trước, và tôi thậm chí còn không tìm cách lau nó đi. Viêm tụy và suy thận, các bác sĩ đã nói thế. Khi tôi hỏi liệu có phải là do bà uống rượu không, họ chỉ gật đầu, giải thích rằng điều đó không phải là không có thể, rằng họ đã thấy nhiều căn bệnh gắn với rượu bia trong khoa này.
Tôi cúi xuống rồi ngả đầu vào ngực bà. Tôi cảm thấy lồng ngực bà nâng lên rồi hạ xuống theo nhịp hoạt động của chiếc máy thở. Và đột nhiên, tôi biết rằng tôi phải hỏi mẹ, rằng tôi sẽ không còn dịp nào để đặt cho mẹ câu hỏi vẫn giày vò tôi suốt bao lâu nay.
Tôi lau mắt vào tấm chăn màu vàng rồi hắng giọng. Tôi nắm tay mẹ chặt hơn, rồi nhìn chăm chú vào mặt bà.
- Mẹ ơi, con là Emma đây.
Không hề có phản ứng gì trên khuôn mặt sưng húp. Tôi nắm tay mẹ chặt hơn: làn da bà trở nên trắng bệch, và các móng tay tôi để lại những dấu vết nhỏ hình nửa mặt trăng trên lớp biểu bì nhợt nhạt của bà. Rồi tôi đưa bàn tay còn lại vỗ vào má bà, có lẽ là hơi quá mạnh.
- Con là Emma đây, mẹ ơi!
Một bên mí mắt bà khẽ run rẩy. Phải chăng đó là một phản xạ, hay bất chấp tất cả, bà đã nghe thấy tôi? Tôi vươn người, áp miệng vào tai bà.
- Mẹ ơi, con phải biết…
Chiếc máy thở rít lên và mẹ tôi rùng mình, như thể tôi vừa cấu vào má bà.
- Mẹ ơi, mẹ phải nói cho con biết sự thật… Có điều gì đó không ổn ở con đúng không?