Con đường lịch sử Việt Nam chịu một cái xô và một cái đẩy về những chiều hướng mới vào mùa hè 1954. Cái xô là việc chỉ định tân Thủ Tướng, ông Ngô Đình Diệm. Ông Diệm từ Pháp về Sàigòn ngày 25 tháng 6. Còn cái đẩy là sự kết thúc hội nghị Genève, khi Pháp và Việt Minh ký thoả hiệp ngày 20 tháng 7 chấm dứt chiến tranh tại VN và ngày hôm sau đại diện các quốc gia lớn nhỏ tham dự hội nghị ký Tuyên Ngôn về việc bảo vệ hoà bình Đông Dương.
Tôi không nghi ngờ gì về việc tân Thủ Tướng có làm nên công chuyện hoặc tôi và ông có thể trở nên thân thiện hay không. Như tôi còn nhớ, tôi được nghe đến tên ông khi Đại Sứ Heath nói với tôi rằng Bảo Đại đã chỉ định ông Diệm thành lập chính phủ mới. Ông Heath hỏi tôi xem có biết gì về ông Diệm không. Tôi chẳng biết chút gì và hứa sẽ hỏi thăm bên phía VN. Trong lúc chờ đợi Hoa Thịnh Đốn gửi sang bản tiểu sử ông Diệm, tôi đến thăm mấy người VN quen biết và hỏi họ về vị tân Thủ Tướng.
Tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông Diệm được nhiều người biết đến một cách đặc biệt và có người thích ông, có người không thích ông. Một số ít tỏ vẻ trung dung. Tất cả đều đồng ý rằng ông là người liêm khiết có tiếng và có cá tính mạnh. Phần lớn những người nói chuyện với tôi đều cảm thấy rằng ông Diệm là một nhà đại ái quốc, có lẽ ông là người khá hơn tất cả những nhân vật quốc gia còn sống, có thành tích xuất sắc của một nhà hành chánh khôn ngoan và có khả năng. Một vài người còn quả quyết rằng đồng bào của họ biết đến ông nhiều hơn là ông Hồ Chí Minh. (Tại sao tôi lại không biết điều đó ? Tôi được trả lời rằng vì lẽ ông chưa hỏi chúng tôi.). Nhiều người có liên hệ chặt chẽ với chính trường tiết lộ với tôi rằng không phải chỉ riêng bộ Thuộc địa và cả chính phủ Pháp đã yêu cầu Bảo Đại chỉ định ông Diệm, cho rằng ông là nhân vật quốc gia duy nhất còn lại có đủ tư thế để tập họp tất cả những người VN không Cộng Sản. Một quan niệm thiểu số cho rằng ông Diệm là người ương ngạnh, không thể là một chính trị gia giỏi và đáng lẽ nên đi tu theo ước vọng của ông lúc còn nhỏ. Có người nói ông ngu, lại có người khác nói ông hèn.
Bản tiểu sử của ông khi được gửi sang đã cung cấp thêm dữ kiện cụ thể. Ông Diệm sinh tại Huế ngày 3 tháng l năm 190l, lớn lên trong Thành Nội nơi cụ thân sinh làm quan trong triều. Ông tốt nghiệp trường Hậu Bổ một năm trước các bạn đồng học và được cai trị một huyện năm 2l tuổi (tuổi VN, năm mới sanh tính là một tuổi). Tiếp đó là ông làm Tỉnh Trưởng hai tỉnh và năm 1933 Bảo Đại phong cho ông làm Thượng Thư bộ Lại. Ở chức vụ này không lâu ông bị người Pháp hạ bệ vì họ từ chối đề nghị của ông đòi gia tăng quyền tự trị cho người Việt. Ông Diệm bỏ chính quyền và khởi sự hoạt động theo đường lối của ông để đòi độc lập cho VN.
Ông Diệm và gia đình ông theo Thên Chúa Giáo, đối lập sâu xa với ý thức hệ Cộng Sản. Anh ông là Ngô Đình Khôi bị Việt Minh giết năm 1945. Còn chính ông thì bị VM bắt giam ở vùng núi một ít lâu sau được ông Hồ Chí Minh mời gia nhập chính phủ nhưng ông từ chối. Năm 1950 ông Diệm rời VN ra ngoại quốc (tại Nhật, sau đó là một thời gian nhiều tháng ở New Jersey trong nhà dòng Maryknoll ở Lakewood, và ở Âu Châu), cho đến khi được Bảo Đại mời làm Thủ Tướng ngày l6-6-1954.
Bị tánh tò mò kích thích, sáng hôm ông Diệm về nước, tôi lần mò ra phi trường định sẽ đứng cùng với quan khách ngoại giao và chính quyền ra đón. Khi lái xe qua đường Công Lý ra phi trường tôi ngạc nhiên vì thấy nhiều đám đông đứng nghẹt hai bên đường. Dân chúng của một thủ đô trong thời chiến tranh này đã quá nhàm chán chẳng thèm liếc mắt ngó những nhân vật tai to mặt lớn đi trên xe hơi lộng lẫy hoặc những đoàn xe chở lính và chiến xa. Vậy mà họ tụ tập ở đây hàng ngàn người, rõ ràng chỉ để chờ coi có một người. Việc này không được tính trước, vì không có mấy cố gắng để vận động dân chúng ra đường chào đón mà chỉ có lời loan báo giản dị rằng ông Diệm sẽ về vào sáng hôm đó. Thấy thích thú, tôi quẹo đường khác đậu xe và chen vào đám đông dọc hai bên hè phố.
Có những gia đình mọi người chụm lại bên nhau, con nít trèo lên lưng hoặc vai và vịn lấy tay cha mẹ, hoặc dồn vào một chỗ trên hè phố. Nhiều xe cán nước mía đi bán rong hai bên. Mọi người phấn khởi và vui thích trong không khí của một ngày lễ. Một giờ trôi qua. Một giờ nữa, rồi lại một giờ nữa. Người ta bàn tán về giờ giấc các chuyến bay từ Paris. Các chuyến bay có khi chậm. Họ đứng dưới trời nắng nóng bức lúc gần trưa, mà vẫn tin tưởng, vẫn vui vẻ.
Từ đằng xa có tiếng còi hụ và tiếng xe mô-tô. Tiếng động ấy càng lớn, đám đông càng chen lên phía trước để nhìn rõ hơn. Bỗng nhiên, những chiếc xe mô-tô Cảnh sát chạy thành hàng sát nhau hú còi đi qua. Chạy sát sau đoàn mô-tô, một chiếc xe hơi đen chạy vút qua đám đông trên xe cắm quốc kỳ VN. Cửa xe đóng kín, không thể nhìn thấy người ngồi bên trong. Vèo một cái, chiếc xe và đoàn tùy tùng qua mất. Mọi người nhìn nhau thất vọng. Phải ông ấy không ? Ông ấy chẳng ngó ai. Họ giải tán với vẻ bất mãn. Nhiều người tranh luận và cảm giác thất vọng hiện ra rõ ràng. Tôi ra lấy xe chạy về tòa Đại Sứ.
Ở tòa Đại Sứ tôi nói với Đại Sứ Heath về phản ứng của dân chúng đối với việc ông Diệm đi từ phi trường về một cách vội vàng cẩn mật. Rõ ràng là người cố vấn cho ông Diệm đã không nhìn thấy thái độ của dân chúng. Đáng lẽ ông Diệm phải ngồi trên xe mui trần chạy thong thả hoặc đi bộ để thu hút cảm tình mà dân chúng đã chờ đợi để dành cho ông. Hình như các cố vấn của ông e ngại dân chúng nên mới cho xe ông chạy ào ào sau đoàn hộ tống Cảnh sát như vậy. Tôi tỏ ý nghi ngại rằng những vị cố vấn của ông sẽ có thể có nhiều nhận định nhầm lẫn khác nữa. Tôi chợt nghĩ rằng có lẽ ông Diệm cần có sự giúp đỡ vì ông đã xa đất Việt và người Việt nhiều năm. Tôi trình điều ấy cho Đại Sứ Heath cùng với đề nghị là tôi sẽ ghi lại một số ý kiến để đưa cho ông Diệm duyệt xét. Đại sứ Heath bảo tôi tiến hành.
Ngày và đêm hôm ấy tôi ngồi viết ngay. Trong đó tôi cố gạn lọc những gì tôi được biết về lòng kỳ vọng của dân chúng, những phương thức mà dân chúng muốn ông Diệm sẽ làm và những vấn đề khó khăn chính yếu theo nhãn quan của họ. Tiếp theo là những đề nghị về những hành động mà người lãnh đạo cần làm để giải quyết khó khăn từng bước một. Một trong những đề nghị là việc đồng hóa vào một quân đội quốc gia duy nhất tất cả các lực lượng quân sự và bán quân sự chống Cộng ; việc này cần làm ngay nhưng phải chia ra từng giai đoạn tùy theo những dữ kiện về chính trị và kinh tế. Còn có những đề nghị tương tự về việc tập họp các đoàn thể chính trị quốc gia dưới một phương thức đáng tin tưởng để các đảng viên trong bóng tối chịu tham dự sinh hoạt công khai trong chính trường ; những đề nghị về việc xây dựng một chính phủ có tinh thần trách nhiệm đối với dân chúng, về kinh tế nông thôn và cái cách ruộng đảt, về tổ chức diễn đàn công cộng tại nông thôn, về cựu chiến binh, y tế, về vấn đề hiệu lực của chính quyền tại các tỉnh, và về tư cách cá nhân của vị Thủ Tướng có thể vận động được sự ủng hộ tích cực của đa số quần chúng để hoàn thành các mục tiêu này.
Tôi viết xong vào sáng hôm sau khi mặt trời mọc.
Tôi đưa cho Đại Sứ Heath và tướng O’Daniel coi. Họ đều cảm thấy rằng những vấn đề trong đó không hề đi ra ngoài phạm vi chính sách của Hoa Kỳ, nhưng chính phủ Mỹ không bao giờ dám chuyển một văn kiện như thế qua đường lối chính thức cho một vị Thủ Tướng mới cắt chỉ. Tuy nhiên nếu tôi có thể đoan chắc rằng ông Diệm sẽ coi văn kiện này chỉ có tính cách cá nhân không do sư hậu thuẩn chính thức của chính phủ Mỹ, thì tại sao tôi lại không có thể đến trao tận tay cho ông Diệm. Vì không biết rõ ông Diệm hiểu được tiếng Anh đến mức nào, tôi phải xin ông Đại sứ cho George Hellyer, nhân viên phụ trách Giao Tế Dân Sự, là người nói thông thạo tiếng Pháp để đi cùng tôi.
Ngôi dinh thự nhỏ của nhà nước mà ông Diệm đặt văn phòng (Dinh lớn nhất còn do người Pháp xử dụng) thật là vô trật tự khi tôi và Hellyer bước vào. Không có lính gác, không có nhân viên tiếp đón khách khứa. Một vài người vẻ mặt khó chịu, lang thang từ phòng này qua phòng khác, tay ôm giấy tờ và văn phòng phẩm như thể đang đi kiếm một chỗ ngồi mà làm việc. Một trong những người ấy bảo chúng tôi là Thủ Tướng ở trên lầu. Chúng tôi đi lên. Hành lang trên lầu không có ai. Thấy một cửa phòng mở hé, chúng tôi đẩy cửa và thò đầu vào. Đó là một căn phòng hẹp, có một cái bàn lớn choán gần hết phòng, trên chất đống những giấy tờ. Một người VN trung niên ngồi tại bàn đang đọc hồ sơ ngước nhìn khi chúng tôi bước vào.
Thoáng nhìn lúc đầu, ông ta không có gì đáng để ý lắm. Một hình ảnh tròn trĩnh mặc một bộ vét sác-kin vạt chéo, chân chưa chấm tới đất. Tôi nghĩ có lẽ ông này chân rất ngắn. Tóc ông ta đen và dầy, chải gọn ghẽ, khuôn mặt lớn với những đặc điểm nổi bật là những u thịt tròn trên gò má giống y như lúc nào cũng cười. Tôi nhìn ông ta, cặp mắt ông sống động và thân thiện, đột nhiên làm tôi cảm thấy ông ta là một con người khác hẳn. Lúc đó tôi cũng giống như chú lùn lanh lợi, chú lùn già nhất trong 7 chú lùn đã quyết định thái độ đối xử với nàng Bạch Tuyết. Hellyer xin lỗi ông ta và tỏ ý rằng chúng tôi muốn tìm gặp Thủ Tướng Diệm.
Ông ta trả lời chúng tôi rằng : «Tôi là Ngô đình Diệm».
Chúng tôi vội vàng tự giới thiệu và trình bày câu chuyện tôi thấy trong lúc đón ông ở phi trường đi về, sau đó tôi đã viết một bản nhận định có tính cách hoàn toàn cá nhân, không chính thức cùng một số đề nghị để ông duyệt xét. Ông Diệm mời chúng tôi ngồi, cầm lấy tờ giấy tôi đưa, đeo kính lên và đọc. Một lúc sau ông móc túi lấy ra một cuốn tự điển Anh–Pháp nhỏ, loại dùng để đi mua đồ và hỏi thăm giờ tàu đi tàu đến thì tốt, mà chẳng có câu nào liên quan đến chính trị, xã hội, tâm lý, kinh tế và quân sự. Tôi vội vàng đề nghị Hellyer thông dịch lại tài liệu ấy cho ông Diệm. Ông Diệm đồng ý. Hellyer cầm lấy bản phụ, nhìn qua rồi đưa ra xa hết tầm tay và lầm bầm : “Chó thật, không có kính thì làm sao mà đọc, tôi lại quên không mang theo”. Ông Diệm cười, bỏ kính ra và đưa cho Hellyer. Mượn được kính, Hellyer làm công việc thông ngôn rất ngon lành. Ông Diệm chăm chú nghe, hỏi một vài câu, cảm ơn tôi về sự sốt sắng, rồi gấp miếng giấy và bỏ vào túi.
Tôi đã quen biết ông Diệm trong trường hợp như vậy.
Tôi và ông Diệm gặp nhau thường xuyên hơn trong những tuần lễ kế tiếp và những tháng sau đó cho đến khi chúng tôi có thói quen gặp nhau mỗi ngày. Sự giao thiệp giữa hai người dần dần tiến đến chỗ thân hữu khá sâu xa, tin tưởng và chân thành.
Sau khi ông Diệm và tôi biết nhau nhiều hơn, tôi thường được ông mời ăn cơm chung với gia đình ông. Vì sống độc thân, nên những lúc như thế làm ông vui. Dù rằng ông Diệm thường ngồi ở đầu bàn, chỗ ngồi như chỗ của vị Thủ Tướng, nhưng bữa cơm rất có vẻ gia đình. Đức cha Thục là anh ông Diệm, thì luôn luôn phát biểu sau cùng bằng giọng nói kẻ cả đối với mọi vấn đề được bàn cãi. Ông Thục và ông Diệm thường cùng ăn, nhưng ông Thục xong trước rồi ngồi nói chuyện trong khi ông Diệm vẫn còn ăn. Các em ông Diệm là ông Nhu và ông Luyện cùng hai bà vợ thỉnh thoảng xen vào một vài ý kiến, nhưng họ nói ít hơn hai ông anh. Người được coi là trí thức trong gia đình là ông Nhu, có thói quen giải thích vắn tắt bằng lý thuyết của ông ta về nguyên do của những sự việc. Ông Luyện là một nhà ngoại giao, thì thường góp một vài lời bàn để làm dịu bớt những ý kiến gay go của các anh. Bà Nhu thì hay góp ngay ý kiến cùng với các ông kia, nhưng bà Luyện thì dè đặt nhiều hơn, thường chỉ trả lời những vấn đề được nêu lên thẳng với mình.
Ngoài những bữa ăn gia đình bất thường xuyên này tôi ít khi gặp các anh và em ông Diệm. Tôi chưa hề gặp ông Cẩn, người em út ở với bà cụ thân sinh ở Huế. Ông Luyện và vợ sau đó ít lâu đã sang Âu Châu, rồi ông được cử làm Sứ Thần tại Anh Quốc. Một đôi khi, khi đến họp với ông Diệm tôi gặp ông Thục và ông Nhu nhưng họ thường cáo lui sau khi chào hỏi tôi. Tôi gặp lũ con ông Nhu thường xuyên hơn, vì chúng được tự do đi lại trong Dinh. Tôi hay ngừng lại một chốc lát đề chơi trò cao bồi và mọi da đỏ với chúng. Một bữa, tôi vừa té nhào xuống đất giả bộ chết khi chúng chỉ ngón tay giả làm súng bẳn, bỗng nghe có tiếng thở dài sau lưng. Tôi ngước nhìn lên thì thấy một đám đông các nhân vật ngoại giao đến dự một buổi lễ. Họ nhìn tôi một cách khinh mạn, không một ai nhếch mép cười. Tôi và lũ trẻ lấy thế làm khoái lắm.
Một thời gian sau khi tôi gặp ông Diệm lần đầu thì có một toán khoảng 50 quân nhân Mỹ đến Saigon để làm việc trong cơ quan MAAG. Đó là sự kiện dự liệu cho vai trò tích cực hơn của người Mỹ nhằm huấn luyện quân đội VN, một dự tính dựa vào những điều được phê chuẩn tối hậu tại Paris về thỏa hiệp trao trả độc lập cho VN. Mười hai người trong số ấy được cử đến làm việc trong “toán” của tôi. Họ là binh sĩ, thủy thủ, TQLC, được chọn lựa cho tôi do một số sĩ quan phụ trách vấn đề nhân viên ở Hoa Thịnh Đốn mà các sĩ quan này hình như chỉ biết đến hình thái chiến tranh “kiểu Đại Hàn” nên đã bỏ qua không ngó đến bản danh sách nhu cầu do chính tôi liệt kê. Những quân nhân đến làm việc với tôi là những toán chuyên viên giỏi về du kích chiến, về phá hoại, về nhảy dù sau hậu tuyến địch và về những hoạt động tình báo bén nhạy chống lại bọn cán binh Cộng Sản nội tuyến, phá hoại, khủng bố. Nhưng không có một người nào biết tí gì về tâm lý chiến là công việc tôi đang giúp cho quân đội VN, hoặc về công tác dân sự vụ của quân đội đã được áp dụng tại Phi Luật Tân và về những vấn đề nên làm mà tôi đã gợi ý cho vị tân Thủ Tướng và có thể ông sẽ yêu cầu chúng tôi giúp đỡ .
Việc gửi toán quân nhân này đến cho tôi làm tôi phải tỏ ra bực tức về quan niệm lầm lạc của phe bên này đối với vấn đề chiến tranh cách mạng phi qui ước. Những sĩ quan tham mưu ngồi lựa chọn nhân viên gửi cho tôi là những người đã bị tiêm nhiễm những qui ước của đời sống Tây Phương, chẳng biết gì về vấn đề Chiến tranh Nhân dân của Cộng Sản thí dụ như cuộc đấu tranh của Việt Minh. Trong khi ở phía bên kia, những tổ chức Việt Minh xuất sắc nhất gồm những nhân viên được huấn luyện về chính trị quân sự trong một trường huấn luyện biệt lập mà tại đây họ được ông Hồ Chí Minh đích thân khảo sát từng cá nhân trước khi tốt nghiệp cũng y như Mao Trạch Đông từng làm tại Trung Hoa. Sự tham gia của cá nhân vào công tác đào tạo các chuyên viên chiến tranh lạnh như vậy là một điều rất lạ lùng đối với nhiều lãnh tụ Tây Phương mà tôi quen biết, không một ai hiểu biết thực tế về những việc làm hàng ngày trên trận địa của một cuộc chiến tranh lạnh. Các vị Tổng Thống và Thủ Tướng phe bên này đạt được địa vị theo một con đường khác hẳn con đường mà những lãnh tụ Cộng Sản trải qua với những thực tế phũ phàng của cuộc cách mạng. Về phương diện này, Cộng Sản hơn hẳn chúng ta. Các lãnh tụ của họ đòi hỏi các cán bộ dưới quyền phải thi hành những công tác mà chính họ đã từng làm.
Tôi vẫn không có văn phòng, nhưng tôi được cấp một căn nhà ở tại đường Miche gần trung tâm thành phố. Tập họp nhân viên trong toán gồm những người mới tới tại ngôi biệt thự nhỏ này, tôi trình bày tình hình cho họ nghe. Họ là những huấn luyện viên về phản du kích chiến, nhưng người Pháp chưa cho phép người Mỹ huấn luyện người Việt về những đề tài mà toán của tôi thông thạo. Họ đành phải chờ đợi và kiên nhẫn như những người Mỹ khác cũng được gửi sang đây để phụ trách công việc huấn luyện. Chỉ có 3 trong số nàv tình nguyện giúp tôi trong việc phụ giúp cho người VN về công tác Tâm lý chiến khi được hỏi. Tôi giao cho những người kia công tác tìm một hoặc hai căn nhà trong thành phố Sàigòn chật chội này để họ có thể ở chung thành toán, cũng như lo phương tiện di chuyển và các vấn đề cần thiết khác. Hai người có thể đến ở với tôi tại biệt thự, nơi này được tạm dùng làm văn phòng trong thời gian ấy. Đến bữa cơm trưa hôm ấy, tôi cùng họ ăn với những món mà tôi có, một bữa trưa mà về sau tất cả đều cho rằng đó là bữa ăn tồi nhất trong đời họ. (Tôi trữ trong nhà một ít cà phê, phô-mai Thụy Sĩ, mấy chai rượu vang An-giê-ri thêm một ít bánh mì Pháp mua ở tiệm trước nhà, đó là những món ăn hàng ngàv để làm cho một người đàn ông sống một mình như tôi). Tôi không lấy làm ngạc nhiên về việc một trong những công việc đầu tiên của anh em trong toán là tìm cho tôi một người nấu ăn…
Hai trong số nhân viên mới nói thạo tiếng Pháp, nên tôi giữ họ ở với tôi. Hải Quân Đại úy Joeeph Bedick là chuyên viên về chống khuynh đảo và về vũ khí nhỏ, đã học ở Đại Học Sorbone sau Thế Chiến I, giọng nói nhỏ nhẹ, thành thạo công việc và là thiện xạ trong toán. Người này về sau luôn luôn ở cạnh tôi làm thông dịch viên. Thiếu tá Lục quân Lucien Conein đã phục vụ trong quân đội Lê Dương cho đến khi nước Pháp thất trận vào năm 1940, sau phục vụ cơ quan OSS Mỹ giúp kháng chiến Pháp và lúc Thế Chiến thứ I gần kết thức, ông đã nhảy dù xuống VN để giúp du kích quân chống Nhật. Bằng một giọng ồ ồ như bò rừng, ông ta đã giảng cho tôi nghe về lịch sử VN năm 1944-1945, những bài học mà tôi rút tỉa được trong những câu những chữ đầy tiếng chửi rủa văn hoa tôi chưa hề nghe bao giờ, do ông ta kể lại bằng một giọng rất hùng hồn.
Cuộc chiến tranh Pháp –Việt Minh kết thúc vào tháng 7 tại Genève sau 8 năm chiến chinh với 400 ngàn sinh mạng. Khi một số bản sao của hiệp định Genève và các bản tuyên ngôn được gửi đến Saigon, tôi liền mượn một tập để nghiên cứu cẩn thận. Hội nghị Genève đã giải quyết một số vấn đề nhưng lại làm nảy sinh ra một số vấn đề khác mà chúng tôi sẽ phải liên hệ đến trong tương lai. Là một trong những người sẽ sống trong khung cảnh của những vấn đề tương lai ấy, tôi cảm thấy tôi phải hiểu rõ những vấn đề nói trên một cách cặn kẽ nếu tôi muốn làm được công việc giúp đỡ người VN
Tôi chia toán của tôi làm hai. Một nửa do Thiếu Tá Conein chỉ huy, lo việc di cư ở Bắc Việt. Nửa còn lại cùng tôi lo các công tác khác. Tôi đã gây được sự lưu tâm đáng kể và trình bày về quan điểm của tôi đối với vấn đề những phương thức mà chính quyền Saigon phải làm để lấp khoảng trống mà kẻ cầm quyền hành chánh, quân sự Việt Minh để lại tại nhiều vùng sau khi họ tập kết. Vấn đề này cứ đứng yên trong tình trạng bàn cãi mà chẳng có hành động cụ thể nào. Tôi cố gắng thu thập tin tức về những vùng nói trên để dự trù một kế hoạch sơ khởi có thể thi hành ngay khi có quyết định hành động. Tôi phát giác rằng một tổ chức không gồm nhiều cán bộ chính trị của Cộng Sản được bí mật để lại sau khi VM công khai rút đi. Hơn nữa, một số lượng khổng lồ các loại vũ khí, đạn dược, mìn, lựu đạn và các loại vật liệu khác được kín đáo chôn dấu trước khi Việt Minh tập kết. Các lực lượng Cộng Sản không chào vĩnh biệt khi ra đi nhưng lại bảo dân chúng rằng : “họ sẽ trở lại”. Những tin tức này không phải là điều không đáng lo ngại ở Nam VN…
Tia nắng từ Phi Luật Tân làm cho tôi nghĩ đến những khung cảnh người VN hàng loạt phải rời bỏ nhà cửa mà đi, đến việc Cộng Sản chủ tâm chuẩn bị chiến trường tương lai để tiếp tục đấu tranh, đến tình trạng phân hóa chính trị của chính trường quốc gia có khuynh hướng hoạt động bí mật, và đến sự hiện hữu của chế độ thực dân Pháp nghiêm khắc vẫn tiếp tục không cần biết đến nền độc lập đã được thừa nhận của VN. Tia nắng ấy đem đến từ một đoàn chí nguyện Phi Luật Tân lập thành một đoàn công tác mang tên Chiến Dịch Huynh Đệ. Đoàn người vui tươi và chăm chỉ này chỉ có một mục đich. Họ muốn làm vơi bớt nỗi thống khổ của những người bạn Á Châu.
Tôi có mặt khi Chiến Dịch Huynh Đệ ra đời. Một người bạn Phi hăng hái của tôi là Oscar Arellano đến thăm Saigon với tư cách Phó Chủ Tịch ÁChâu của tổ chức Thương Mại Quốc Tế và mời tôi dự tiếp tân với các nhân vật thuộc tổ chức này tại Saigon. Arellano là người tròn trĩnh, nhiều nghị lực, làm nghề kiến trúc sư, từng tổ chức một trong những toán tình nguyện tham gia chiến dịch bầu cử tự do năm 1953 tại Phi. Các nhân vật Sàigon gồm nhiều y sĩ, nha sĩ và dược sĩ. Trong buổi tiếp tân, họ tỏ vẻ lo lắng về những vấn đề y tế tạo ra cho những đồng bào miền Bắc di cư và những sự thiếu hụt đáng sợ về thuốc men và nhân viên y tế VN khiến không thể giải quyết nổi những khó khăn ấy. Arellano cho biết ở Phi Luật Tân có nhiều y sĩ, nha sĩ và y tá. Nếu cần, ông sẽ cõ gắng tìm một số người tình nguyện sang VN. Rất có thể, tổ chức Thương Mại Quốc tế sẽ giúp đỡ vấn đề này. Cũng còn có thể có những đoàn chí nguyện từ những quốc gia bạn khác muốn sang giúp VN. Trong bất cứ trường hợp nào cũng có nhiều người Phi tình nguyện ngay khi được yêu cầu. Các nhân vật VN tỏ vẻ phấn khởi và sau buổi tiếp tân họ liền viết thư chính thức mời các đoàn chí nguyện.
Mấy tuần lễ sau, đoàn chí nguyện Phi đầu tiên đến VN trong Chiến Dịch Huynh Đệ. Họ gồm nhiều y sĩ và y tá.
Một dưỡng đường được thiết lập tại một trại tiếp cư lớn ở Saigòn, và họ bắt đầu làm việc bận rộn. Nhiều người chí nguyện Phi khác hưởng ứng theo đoàn thứ nhất và nhờ nhiều tổ chức Thương Mại ở Mỹ trợ giúp thêm cho ngân khoản sơ khởi góp ở Phi, tổng số chí nguyện lên đến 105 y sĩ và y tá. Sau đó nhờ tổ chức Thương Mại Quốc Tế thuận bảo trợ chương trình này mà nhiều đoàn chí nguyện từ các quốc gia khác cũng đến phục vụ tại VN. Chiến dịch Huynh Đệ đã điều trị cho khoảng 400 ngàn người Việt trong năm đầu. Những trạm y tế miễn phí được thiết lập tại nhiều nơi ở Nam VN không những chỉ ở những nơi có dân di cư, mà còn ở bất cứ chỗ nào có nhu cầu quan trọng về y tế. Viện trợ về y tế còn được gia tăng thêm bằng những bài học về vệ sinh, dinh dưỡng và về kinh tế gia đình. Cũng có những bài chỉ dẫn về cách thức trồng tỉa tân tiến ; người Phi chỉ dẫn cho người Việt vùng sát phía nam vĩ tuyến l7 về cách nuôi cá để bán trong những hồ cá lớn. Tin tức về những hoạt động này lan truyền đến tai nhà cầm quyền miền Bắc qua vùng phi quân sự, họ liền yêu cầu các cố vấn canh nông Trung Cộng bắt chước. Nhưng vì họ chỉ là những chuyên viên về trồng lúa miền núi nên đã không thành công trong việc cố gắng xây dựng những hồ cá kiểu mẫu tại miền Bắc.
Cộng Sản cũng có hỏi thăm đến Chiến Dịch Huynh Đệ đôi khi bằng một cách rất lẩm cẩm. Điều buồn cười nhất là Đài Hà Nội truyền thanh lời kết tội Arellano là một Trung Tướng Quân Đội Phi được Tổng Thống Magsaysay cử sang Việt Nam làm phụ tá cho tôi. Arellano là một thường dân hiền từ và lịch sự nhất mà tôi đã gặp. Sau khi nghe thấy những lời kết tội này, ông ta buồn rầu hàng tiếng đồng hồ nhưng sau đó thì lấy làm tức cười về sự phi lý đến ngu độn của lời kết tội ấy. Sự khen ngợi còn nồng nhiệt hơn nữa dưới hình thức bắt chước, là việc một đoàn y tế Đông Đức, “những người chí nguyện anh em xã hội chủ nghĩa”, đã đến Hà Nội và thiết lập ở đây một bệnh viện, cùng nhiều đoàn y tế công cộng Tiệp Khắc đi công tác tại các tỉnh miền Bắc. Tôi tin rằng hàng triệu người VN đã được hưởng lợi nhờ sự lưu tâm của những người chí nguyện sơ khởi ở phía bên này và nhờ những kẻ ganh đua với họ ở phía bên kia trước khi các chương trình ấy chấm dứt. Mặc dầu có những lời tuyên truyền điên dại, nhưng đó cũng là những giây phút ấm lòng đáng ghi nhớ trong một cuộc chến tranh lạnh.
Tôi tiếp tục cố gắng lưu ý người Việt về những vấn đề khó khăn gây ra tại những tỉnh miền Nam sau khi VM rút vào các khu tập trung để tập kết ra Bắc. Tôi đã bàn với Tổng Trưởng Quốc Phòng Lê Ngọc Chấn và Tướng Nguyễn Văn Hinh về vấn đề này và đề nghị xử dụng các đơn vị quân đội VN để tạm thời trám vào khoảng trống hành chánh an ninh khi VM rút lui. Tôi có cảm tưởng như đã nói chuyện với những người điếc. Những người lãnh đạo tối cao nền quốc phòng còn bận rộn vì những mối bận tâm khác khẩn thiết hơn đối với họ. Một vài mối quan tâm ấy không phải là vô lý như những công tác hàng ngày liên quan đến việc chuyển vận các đơn vị VN từ Bắc vào Nam. Nhưng trọng tâm chính yếu của họ lúc ấy lại là một âm mưu vô vọng và phi lý được giữ kín không lộ cho tôi biết từ những giai đoạn sơ khởi. Tôi chỉ biết được nhờ dò hỏi kín đáo xem việc gì đang xảy ra. Sau đó, mọi người mới biết rằng Tướng Hinh đang toan tính lật đổ Thủ Tướng Diệm.
Việt Nam đã dạy tôi rằng xứ này đầy rẫy những sự lạ lùng. Tình trạng khẩn trương do tham vọng của Tướng Hinh vào một giai đoạn đặc biệt như vậy đã là một bài học quyết định cho tôi. Ông Hinh không thể nào lãnh đạo được những người VN quốc gia. Họ coi ông ta như một sĩ quan Pháp chuyên nghiệp, được người Pháp đặt vào địa vị chỉ huy quân đội VN. Nếu VN còn là một thuộc địa của Pháp, ông ta cũng còn lâu mới có thể được đặt vào chức vị thủ tướng. Huống hồ VN không còn là thuộc địa Pháp, mà các nhà lãnh đạo quân sự Pháp thì chẳng còn được ai kính nể nữa sau khi người Pháp bị đánh bại ở Điện Biên Phủ. Tôi chỉ có thể kết luận rằng, do ý kiến của những người Pháp thực dân và những kẻ thích phiêu lưu quân sự, một số những người ấy đã xúi bẩy ông Hinh toan tính việc đảo chính. Họ tưởng rằng hành động như vậy có thể làm đảo lộn thời cơ. Thật là điên khùng.
Vậy là đúng vào lúc Nam VN đáng lẽ có thể khởi sự sinh hoạt như một quốc gia độc lập trong khi phải thi hành những gánh nặng do hiệp định Genève tạo ra, thì một vở bi hài kịch ngắn đã được đem lên sân khấu chính trị quốc gia. Phần lớn vở bi hài kịch này được diễn xuất như một trò hề. Chúng tôi là những người ngồi gần các vai chánh trên sâu khấu đã không biết mình nên cười hay là nên khóc.
Vụ này phát sinh từ sự bất bình cá nhân giữa Thủ Tướng Diệm một người độc thân nghiêm nghị và Tướng Hinh một người có vợ nhưng sống ăn chơi ngoài gia đình. Ông Thủ Tướng yêu cầu ông Tướng điều động một vài đơn vị tiểu đoàn. Ông Tướng không chịu. Những tiểu đoàn này do những sĩ quan quốc gia chỉ huy, đã cố tìm cách tự chuyển vận nhưng bị những đơn vị đặc biệt của ông Tướng mang về chận lại. Đến lúc ấy ông Thủ Tướng cố gắng để ngưng chức ông Tướng nhưng ông Tướng không chịu trao quyền chỉ huy. Không những thế, ông Tướng còn tỏ ý sẽ đánh đổ ông Thủ Tướng và tự đảm nhận lấy chức vụ Thủ Tướng. Khi được hỏi về việc này, Tướng Hinh chỉ mỉm cười và cho tôi xem chiếc bật lửa mà Nasser người vừa đảo chính ở Ai Cập đã tặng cho ông. Tướng Hinh nói rằng Nasser đã nghĩ đúng. Tôi bảo rằng các lãnh tụ VN cần đoàn kết để làm việc chứ không nên phá phách nhau. Tôi khuyên Tướng Hinh nên chấm dứt đừng chơi trò chính trị và nên làm công việc của một tướng lãnh. Vài tiếng đồng hồ sau đi, Thủ Tướng Diệm cho tôi biết quan điểm của ông về cuộc tranh chấp. Tôi lại khuyên ông Diệm đừng nên làm công việc của một tướng lãnh mà nên hành động như một nhà chính trị.
Bộ Tư Lệnh Pháp lúc đó vẫn còn quyền hạn đối với Quân đội VN gồm cả việc trả lương và thăng thưởng sĩ quan, đã không can thiệp vào nội vụ. Bi hài kịch tiếp diễn.
Số quân sĩ trung thành với Tướng Hinh chiếm Đài Phát thanh Saigon và bắt đầu truyền thanh đả kích ôug Diệm. Cơ quan Thông tin Mỹ cố gắng lấy lại những vật dụng phát tuyến đã cho chính phủ VN mượn, những vật dụng then chốt để một đài phát thanh có thể hoạt động được, nhưng không làm sao qua lọt được những chiến xa bao quanh đài. Tôi tìm cách đưa một người trong số những nhân viên đài phát thanh quân đội là người thân Mỹ vào lọt được đài Saigon và dần dà, những vụ đả kích ông Diệm bớt đi.
Một bữa trong lúc đài phát thanh đang đả kích ông Diệm ác liệt nhất, tôi đến thăm ông Tổng Trưởng Quốc Phòng. Phòng sở bên ngoài vắng ngắt. Tôi nghe thấy có tiếng la lớn trong phòng ông Tổng Trưởng liền đẩy cửa vào. Một cảnh tượng không ai hình dung nổi đang diễn ra. Tổng Trưởng Quốc Phòng Lê ngọc Chấn với tất cả thân hình cao thước rưỡi của ông đang đứng thẳng sau bàn giấy, một tay ông luồn trong ngăn kéo bàn đã mở. Đối diện với ông là 3 đồng đảng của ông Hinh trong quân đội VN đang chĩa súug tiểu liên vào vị Tổng Trưởng nhỏ bé. Sự xuất hiện bất ngờ của tôi đã làm thay đổi cảnh tượng. Tôi yêu cầu mấy quân nhân ấy hạ súng xuống và đi ra. Họ rút lui sau khi cau mặt lườm tôi. Ông Chấn lúc ấy mới rút tay ra khỏi ngăn kéo với một khẩu súng lục dấu trong đó. Ông nói với tôi rằng mấy người của ông Hinh đến định bắt ông, và ông đã trả lời bằng cách sẽ tuyên bố bắt giữ họ. Đúng lúc ấy thì tôi mở cửa vào. Ông trách tôi đã ngăn cản công việc của ông. Tôi bảo ông rằng một người đã chết thì chẳng ra lệnh bắt được ai và ông ta đã nhờ may mắn mà còn sống sót….
Sự giao thiệp giữa tôi và ông Lê Ngọc Chấn đã dẫn dắt đến một câu chuyện bịa đặt gắn liền với bi hài kịch nói trên. Nguyên ông Chấn là một Luật sư, có những lãnh tụ Hòa Hảo là thân chủ cũ của ông kể cả Ba Gụt, người đã chặt đứt một lóng tay để thề nguyện vì lý tưởng. Ông Chấn đã rủ tôi cùng ông kiếm dịp rỗi rãi vài ba ngày đi thăm Ba Cụt, nhưng công việc quá bận rộn nên chẳng bao giờ chúng tôi đi được. Lời đề nghị của ông Chấn là liên hệ duy nhất giữa tôi và Ba Cụt vào lúc mà một vài nhân vật Mỹ đến thăm Saigon và dự thuyết trình tại phái bộ MAAG về tình hình VN. Tướng O’Daniel có mời nhiều sĩ quan tham mưu Pháp đến gặp các quan khách Mỹ trong buổi thuyết trình. Tôi cũng đến tham dự và ngồi ở hàng ghế cuối trong phòng hội.
Trong buổi hội này, một sĩ quan Pháp đã đề cập sơ qua đến sự bất bình của quân đội VN đối với Thủ Tướng Diệm và nói rằng những hành động của Đại Tá Lansdale nhầm tìm cách mua chuộc sự ủng hộ của các lực lượng giáo phái đối với ông Diệm là những hành động thiếu xây dựng. Viên sĩ quan ấy còn nói rằng tôi đã đến thăm Ba Cụt mang theo một vali đựng hàng triệu bạc mà tôi đã tin tưởng một cách ngây thơ rằng tôi có thể mua chuộc được Ba Cụt với số tiền ấy. Ba Cụt đã phục kích tôi và lấy mất vali bạc.
Ông ta ngừng lại một chút sau khúc chuyện ly kỳ ấy để cho thính giả suy ngẫm về sự dại dột của tên Mỹ ngu ngốc này. Tôi đã đánh tan sự im lặng của mọi người bằng cách đứng lên từ phía cuối phòng yêu cầu ông ta kể nốt câu chuyện. Tôi muốn biết rõ sau đó Ba Cụt có biết tôi hay không.
Việc tôi phá thối câu chuyện của vị sĩ quan Pháp nọ không làm cho câu chuyện ngưng lan truyền. Quả nhiên các sĩ quan Pháp đã có một hình ảnh khá hấp dẫn về tên Mỹ bị lừa này. Một vài người Pháp này gặp tôi trong những bữa tiếp tân ngoại giao đã đòi mở nút áo tôi để xem vết thương mà họ cho rằng tôi bị trúng đạn. Có lẽ họ đã giận tràn hông khi tôi bảo họ và những quan khách đứng gần đó rằng việc đòi hỏi tôi cởi quân phục lúc này là chứng tỏ họ có bệnh đồng tình luyến ái.
Trong khi đó Tướng Hinh tiếp tục khoác lác rằng ông ta sẽ lật đổ ông Diệm. Ông ta cứ hẹn ngày đảo chính, rồi khi ngày đó đến mà chẳng có gì xảy ra thì ông ta cười om sòm. Một lần có chuyện như vậy, Đại Sứ Heath đề nghị tôi nên đến dinh Độc Lập coi xem ông Thủ Tướng có bình yên không. (Lúc này người Pháp đã trao trả dinh Norodom, bản doanh của Cao Ủy Pháp, cho VN từ 7.9.1954 và ngay sau đó được cải danh là dinh Độc Lập). Trong dinh lúc ấy vắng tanh, lính gác không có ở vị trí, cũng chẳng thấy mấy người thư ký chạy lăng xăng như mọi khi ở hành lang.
Thủ Tướng Diệm đang làm việc một cách trầm tĩnh ở bàn giấy, tỏ ra ngạc nhiên rằng có người đã phải lo lắng về vấn đề an ninh của ông. Đêm hôm ấy, tôi gặp Tướng Hinh và ông ta hỏi tôi có lấy làm thích thú về việc ông ta lái xe máy dầu chạy trên mấy con đường bao quanh dinh không ? Tôi thành thật nói với ông ta rằng tôi không biết vụ đó, vì lúc ấy tôi đang ở trong phòng với Thủ Tướng và Thủ Tướng cũng không được thấy. Ông Hinh cho rằng việc ông dọa làm đảo chính và vụ ông chạy xe máy dầu quanh dinh Độc Lập đã làm cho ông Diệm sợ hãi. Tôi công nhận rằng có lẽ ông Hinh đã làm cho nhiều người khác sợ thật, trừ ông Diệm.
Ít lâu sau ông Hinh mời tôi đến ăn cơm cùng với ông và Bộ tham mưu của ông. Nhà ông Hinh nhộn nhịp như tổ ong, nhiều sĩ quan nói như hét vàođiện thoại, xe mô-tô tống thư văn đi ra đi vào, và rất nhiều cấp chỉ huy đơn vị xúm lại trên tấm bản đồ thủ đô Saigon. Ông Hinh dịu dàng giải thích với tôi về lý do của sự nhộn nhịp ấy rằng ông ta đã sửa soạn cuộc đảo chính vào sáng hôm sau. Tôi nghĩ ngay đến việc phải trì hoãn dự tính tai hại của ông ta, nên nói với ông ta rằng thật là không may vì đang lúc thuận tiện để ông Hinh và các sĩ quan bộ tham mưu của ông sang thăm Phi Luật Tân. Tôi nói thêm là tôi sẽ rời Saigon để đi Ma Ni vào ngay khuya hôm ấy đồng thời xin ông thứ lỗi vì việc quá gấp rút. Tôi hỏi ông rằng ông có thích đến thăm những hộp đêm ở Ma Ni hay không ? Ông Hinh trả lời rằng ông rất lấy làm tiếc vì công việc bận rộn không đi được nhưng bằng lòng cho tôi đưa một số sĩ quan tham mưu của ông trong chuyến du hành. Tôi liền chọn lựa những người chân tay quan trọng của ông Hinh mang đi. Tôi gọi điện thoại gấp cho Tướng O’Daniel, và mượn được chiếc C47. Trong đêm ấy, tôi đến Ma Ni cùng với những cộng sự viên thân tín nhất của ông Hinh. Tôi giải thích cho Tổng Thống Magsaysay lý do tại sao chúng tôi lại sang Phi Luật Tân bất ngờ như thế và ông đã cho sắp xếp chương trình thăm viếng dài cả tuần lễ cho các sĩ quan VN. Xong xuôi tôi vội vàng trở lại Saigon một mình. Tướng Hinh buồn rầu cho biết ông đã hủy bỏ vụ làm đảo chánh. Ông đã quên khuấy mất rằng ông cần có các phụ tá thân tín dùng vào những vai trò then chốt trong việc đảo chánh. Không thể tiến hành dự tính này trong khi các sĩ quan nói trên đang mắc ở ngoại quốc với tôi. Tôi không bao giờ nghĩ đến việc đo lường xem lời ông Hiah dọa đảo chính có thật không.
Vụ dọa dẫm đảo chính lằng nhằng của ông Hinh đi dần đến chỗ kết thúc. Đại Sứ Heath sẽ rời VN và được tướng hồi hưu J.Lawton Collins (hỗn danh “Joe sấm”) vị đại diện của cá nhân Tổng thống Eishenhower thay thế. Bộ Tư Lệnh Pháp cũng có sư thay đổi và Tướng Ely, một quân nhân trí thức được nhiều người kính nể được cử sang giữ chức tân Tư Lệnh lực lương Liên Hiệp Pháp. Đại sứ Heath tổ chức nhiều buổi tiệc giã biệt mời nhiều thân hữu người Pháp ở Saigon và tôi có đến dự vài bữa. Một trong những bữa ấy, Đại Sứ Heath gọi một nhóm những sĩ quan Pháp lại chung quanh ông bên chiếc đàn dương cầm, và bảo họ rằng ông biết nhiều bản nhạc bình dân ở Paris, có thể đệm dương cầm cho họ hát. Một phút im lặng, các sĩ quan này còn đang nghĩ đến những bản nhạc phòng trà mà những người Mỹ ngành ngoại giao có thể biết. Giữa lúc ấy tướng O’Daniel nhẩy vào hỏi Đại Sứ Heath :
– Ông có biết bài “The Dog-faced Soldier” (chú lính mặt chó) không?
Đại Sứ Heath không biết. Vậy là tôi và O’Daniel cùng hát, không có đàn đệm, bài hát nổi danh của Sư Đoàn 3 Bộ Binh Hoa Kỳ trong cuộc giải phóng nước Pháp hồi Thế Chiến thứ 2. Tôi sợ rằng chính vì giọng hát ống bơ gỉ của tôi và O’Daniel mà sau đó những người khác không ai còn muốn hát nữa.
Tướng Collins đến Saigon ngày 8 tháng lI và bay lên Đà Lạt vào sáng hôm sau để hội kiến với tướng Ely đang nghỉ tại thành phố nghỉ mát cao nguyên này. Quả nhiên cả 2 vị đã đồng ý chấm dứt vở bi hài kịch của Tướng Hinh. Ngày 19 tháng 11, ông Hinh bàn giao quyền chỉ huy cho Tướng Nguyễn văn Vỹ và lên đường sang Pháp. Joe Redick và tôi là 2 người Mỹ duy nhất ra phi trường tiễn biệt, một sự kiện được nhiều sĩ quan Pháp ra cạnh phi cơ tiễn chân ông Hinh ghi nhận. Một số sĩ quan Pháp này đã bàn tán những điều không tốt về sự hiện diện của tôi.
Một cách thân mật, tôi bảo họ rằng tôi đang mong chờ giờ phút vui sướng được trông thấy họ cũng rời khỏi Saigon như vậy trong thời gian rất gần đây. Những lời diễu cợt độc ác của họ làm tôi hết chịu nổi. Tướng Hinh lại trở về với Paris và được đặc ân phục vụ trong quân đội Pháp.
Những tay chúa trùm của thế giới phi pháp tại Saigon – Cholon là đảng Bình Xuyên tỏ ra khá cứng rắn trong vụ lộn xộn của tướng Hinh. Chưa hài lòng với việc được làm đầu nậu Cảnh sát thủ đô, ma túy, cờ bạc và những vụ phi pháp, cùng với nhiều tiểu đoàn lính trong một quân đội riêng, họ còn đòi hỏi ông Diệm chia cho họ một vài phần lớn hơn trong chính quyền, thí dụ như một vài ghế bộ trưởng chẳng hạn. Tôi có gặp một số cố vấn chính trị của Bảy Viễn và đề nghị với họ rằng đã đến lúc mà Bình Xuyên nên tìm cách để được ghi tên vào sử sách VN. Thay vì chỉ được coi như những tên chúa trùm du đãng tham quyền cố vị, tại sao họ lại không làm những công việc khác để chinh phục cảm tình của nhân dân và để được sử sách coi như những con người từ thiện ? Lời đề nghị ấy được đón nhận một cách tốt đẹp. Các cố vấn này đã cho tôi biết rằng Bảy Viễn và những lãnh tụ Bình Xuyên khác từng sống một cuộc đời niên thiếu trong nghèo nàn cực khổ nên có lẽ họ sẽ rất hoan nghênh những ý kiến về vấn đề làm thế nào để có thể giúp đỡ được đồng bào. Thật ra, tôi đã nghĩ gì trong lúc đó ?
Tôi đã đề nghị bên Bình Xuyên hãy đem gươm ra mà đúc lưỡi cày. Quân đội riêng của họ hãy tự giải giới và đem số dụng cụ, vật liệu do họ thu thập được qua sự kinh doanh của những cơ sở phi pháp ra mà kiến thiết một xa lộ tối cần thiết từ Saigon đi Vũng Tàu (nơi có nhiều tài sản của Bình Xuyên). Xa lộ ấy vì là tặng vật của Bình Xuyên cho quốc gia, nên sẽ được mang tên của lãnh tụ Bình Xuyên.
Đề nghị của tôi về việc làm xa lộ đã khiến cho Bảy Viễn thích thú. Tôi liền dàn xếp một cuộc gặp gỡ giữa Bảy Viễn và ông Diệm. Sau khi gặp nhau, Bảy Viễn giận dữ ra về và trút cơn thịnh nộ lên đầu các tay cố vấn ; kết cuộc một người trong số cố vấn này bị bắn lũng bụng. Nghe được câu chuyện tai hại ấy, tôi liền tức tốc đến gặp ông Diệm để tìm hiểu việc gì đã xảy ra trong cuộc hội kiến với Bảy Viễn. Ông Diệm cho tôi biết viên lãnh tụ Bình Xuyên đã đưa ra một đê nghị “tầm bậy” là hắn sẽ chấm dứt những hành vi sai lầm phi pháp và đem tiền của ra để kiến thiết một xa lộ. Tôi nói với ông Diệm rằng : “Đó là lý do khiến tôi xin Tổng Thống tiếp kiến ông ta. Vậy Tổng Thống đã trả lời ông ta ra sao ?” Ông Diệm nói : “Tôi bảo hắn rằng tôi không tin điều đó. Tôi không chấp nhận. Trước sau gì thì hắn cũng chỉ là đồ vô lại“. Tôi điếng người vì sự kém khôn ngoan về chính trị của ông Diệm, và tôi nói thẳng với ông Diệm như vậy. Ông ta đã không áp dụng nổi một giải pháp xây dựng cho một vấn đề khó khăn. Bình Xuyên kiểm soát ngành Cảnh sát và một đạo quân, được hậu thuẫn bằng tiền bạc của những hoạt động phi pháp. Thay vì khuyến khích họ từ bỏ những hoạt động ấy, ông Diệm lại mua lấy sự oán ghét. Khi kẻ cướp bị khinh miệt thì chúng cũng nguy hiểm không khác chi một người đàn bà. Một ngày nào đó, ông sẽ phải trả giá đắt cho sự kém khôn ngoan ấy.
Trong chuyến thăm Ma Ni chớp nhoáng với các sĩ quan của ông Hinh, tôi đã nói chuyện với Magsaysay về hoàn cảnh làm việc của ông Diệm đặc biệt về việc bảo vệ an ninh tại dinh Độc Lập. Magsaysay đồng ý rằng nếu ông Diệm cần, ông sẽ cho Đại Tá Napoleon Valeriano sang Saigon ít tuần để giúp đỡ ý kiến về các phương thức bảo vệ an ninh cho Thủ Tướng. Valeriano là tùy viên chính của Magsaysay và chỉ huy tiểu đoàn phòng vệ phủ Tổng thống tại Ma Ni . Ông Diệm nhiệt liệt đồng ý. Valeriano được mời sang Saigon và chẳng bao lâu vấn đề an ninh dinh Độc Lập đã chặt chẽ hơn. Khi trở lại Ma Ni, ông ta mời theo một số sĩ quan VN để họ học hỏi thêm về tiểu đoàn phòng vệ phủ Tổng Thổng Phi.
Đến nay tôi chỉ còn nhớ hai việc trong dịp Giáng Sinh năm 1954. Thứ nhất là việc trao quà giúp cho một người Mỹ, và thứ hai là việc đi tìm kiếm những bản nhạc Giáng Sinh.
Món quà nói trên do William Bullitt gửi sang bằng bưu điện. Ông này là một nhà ngoại giao nổi tiếng yêu cầu tôi tìm và trao giúp cho một người bạn của ông ta tên Đỗ văn Bông. Hồi Thế chiến 1, Bullitt được cử sang công cán bên Pháp cho Tổng Thống Roosevelt là anh họ của ông, chẳng may bị tai nạn xe hơi gần chết. Ông Bông lúc ấy làm lao công trong quân y viện của Phúp, đã chăm sóc Bullitt cho đến khi khỏi trong mấy tháng trời. Việc đi tìm ông Bông cũng dễ dàng. Ông ta lúc ấy đã là tùy phái chính tại tòa Đại Sứ Mỹ ở Sàigòn và ngày nào tôi cũng gặp ông ta. Chuyển món quà của Bullitt và chuyển lời chúc tụng nhân dịp Giáng Sinh, tôi chợt nghĩ ra rằng hai người ấy đã biết nhau hơn l0 măm. Thời gian đó có thể là thời gian lâu nhất mà một người Mỹ và một ngươi VN quen biết nhau. Liên hệ giữa hai dân tộc ở hai bờ Thái Bình Dương thật là mới mẻ.
Còn vụ đi tìm nhạc Giáng Sinh thì chứng tỏ rằng hai dân tộc có thể khác nhau rất nhiều về mặt văn hóa. Môt hôm tôi hỏi Thủ Tướng Diệm rằng lễ Giáng Sinh được tổ chức ở VN như thế nào. Ông cho biết lễ này được coi như một ngày lễ thường, người Công Giáo thì đi nhà thờ và mừng lễ một cách trầm lặng tại nhà. Không có quà cáp, không có cây Giáng Sinh và cũng không có những bữa tiệc đặc biệt. Ngày lễ lớn đối với người VN là Tết Nguyên Đán vào đầu năm âm lịch. Vào ngày này mọi người trong gia đình quây quần, tặng nhau quà bánh. ăn uống và đốt pháo. Khi tôi hỏi thêm về Giáng Sinh, thì ông Điệm cho biết ông rất thích những bản nhạc và bài hát như bài Silent Night (Đêm Thánh Vô Cùng) mà ông đã được nghe khi ở ngoại quốc nhưng có lẽ ở VN ít người biết. Vì vậy tôi mới đề nghị tìm một ít đĩa hát nhạc Giáng Sinh và cho phát thanh một chương trình đặc biệt trên đài Saigon. Ông Diệm bảo tôi: “Vậy thì tiến hành đi”.
Ông Diệm thì cho tìm những đĩa hát ấy trong dinh và trong đài phát thanh trong khi tôi đi tìm ở những người Mỹ, nhưng cả hai chúng tôi chẳng kiếm được cái nào. Quả thật ở Saigon khi ấy chẳng có lấy một đĩa hát Giáng Sinh nào. Tôi vội vàng gửi thư nhờ mấy người bạn ở Ma Ni. Một ngày trước lễ Giáng Sinh, đồ của họ gửi sang đến tay tôi và tôi chạy vội vào Dinh Độc Lập. Ông Diệm cũng như tôi đều nóng nghe các dĩa nhạc, ông liền sửa soạn chiếc máy hát đặt trên bàn trong khi tôi bóc gói đồ. Đĩa nhạc vui Giáng Sinh bắt đầu chạy và trong loa phát ra câu “All I want for Christmas are my two front teeth” (Tất cả những gì tôi mong muốn trong dịp Giáng Sinh là… hai chiếc răng cửa). Đĩa kế tiếp là “Rudoff, the Red-Nose Reindeer ” (Rudoff, con nai Mũi Đỏ).
Tôi vội đọc một lượt những nhãn hiệu dán trên từng đĩa. Tất cả đều có cùng một loại âm điệu lạ tai, mà phần lớn ngày nay không ai còn xài. Ông Diệm ngồi sát cạnh bàn, kiên nhẫn nghe những lời hát giọng khàn khàn của những ca sĩ trong đĩa, vẻ mặt nhăn nhó khó chịu. Ông hỏi tôi một cách nghiêm chỉnh: “Có chắc đó là những bản nhạc Giáng Sinh không ?” Tôi đoan chắc với ông rằng đó đúng là nhạc Giáng Sinh rồi phá lên cười về sự kiện vô lý ấy của đất Saigon và về nét mặt thất vọng của ông Diệm. Riêng tôi, tôi cũng nghe những bản nhạc này lần đầu tiên, có lẽ vì tôi xa nhà đã quá lâu.
Tháng cuối cùng của năm 1954 có nhiều dấu hiệu của một sự thay đổi. Ngày 28 tháng 10, những thỏa hiệp tại Paris đã được phê chuẩn và chính phủ Pháp trao độc lập toàn diện cho VN. Ở Saigon, các viên chức quân sự Pháp – Mỹ cùng xúc tiến việc thực thi thỏa hiệp l3 tháng 12 trong đó người Pháp thuận cho người Mỹ khởi sự giúp đỡ việc huấn luyện quân đội VN qua một tổ chức hỗn hợp Pháp – Mỹ. Tổ chức này ở dưới quyền Tổng Tư Lệnh Pháp là Tướng Ely và dưới sự giám đốc trực tiếp của vị chỉ huy cao cấp Hoa Kỳ tại VN là Tướng O’Daniel. Các kế hoạch gia tham mưu nêu lên vấn đề danh xưng của tổ chức này. Danh xưng cũ , Allied Training and Operations Mission (Phái Bộ Đồng Minh Huấn Luyện và Hành quân) được hủy bỏ khi có người nhận ra là danh xưng ấy khi viết tắt sẽ là ATOM (nguyên tử). Sau cùng danh xưng được chọn là Training Relations lnstruction Mission (Phái bộ Liên lạc Huấn Luyện) viết tắt là TRIM. Do lời khuyến cáo của tôi, tổ chức mới này cũng góp phần vào vấn đề xử dụng các cơ quan quân sự VN tại các vùng tiếp thu cũng như vấn đề gia tăng mức huấn luyện thường lệ,. Tôi được mời tham gia tổ chức khi đã được thành lập.
Trong tuần lễ cuối năm 1954, Paris xác nhận sẽ giải tán Ngân Hàng Đông Dương của người Pháp và chính phủ VN sẽ điều hành lấy những công việc tiền tệ. Ngân Hàng Quốc Gia VN được thiết lập ngày l tháng l năm 1955. Người Việt và người Pháp cũng gần đi đến thỏa hiệp về vấn đề chỉ huy và kiểm soát quân đội VN vào tuần lễ cuối này. (Ba tuần sau ngày 20-1-1955, người Pháp thỏa thuận sẽ trao quyền chỉ huy toàn diện quân đội VN cho chính phủ VN sau 5 tháng).
Hết năm 1954 thì trên danh nghĩa VN đã là một nước độc lập. Tuy còn một lực lượng Viễn Chinh Pháp khá lớn ở VN và vẫn còn nhiều nhân viên Pháp trong các cơ quan quân, chính VN nhưng hầu hết đã rút khỏi vai trò viên chức thừa hành xuống vai trò cố vấn. Sự hiện diện của người Pháp vẫn hiển nhiên và nặng nề. Những viên chức VN mới chỉ dễ thở chứ chưa dám thở mạnh, cái không khí tự do và độc lập.