Đôi lúc, từ căn nhà ngọai ô Đồng Ông Cộ nhìn về phía Thủ Đức, Biên Hòa, có những đóm mắt hỏa châu chập chờn soi sáng, tôi lại bâng khuâng nghĩ đến số phận hẩm hiu của đất nước mình. Đất nước nằm bên bờ đại dương hình cong chữ S mà sao nom trên bản đồ, tôi cứ thấy hiện lên chữ “SOS”. Chữ S đầu tiên là ranh giới giữa ta với Lào và Cao Miên. Chữ о là hình thể đảo Hải Nam, nằm ngang với Thanh Hoá, Vinh, Hà Tĩnh. Chữ S sau cùng nằm ven Nam Hải, sóng nước bao la. Đất nước tôi chắc vì thế nên lúc nào cũng ở trong tình trạng báo động, giới nghiêm, thiết quân luật, lúc nào cũng khẩn trương, nguy cấp...
Mà nhìn kỹ, nào có thấy gì là gây hấn, chiến chinh? Cảnh toàn cảnh đẹp như Vịnh Hạ Long, Hồ Hoàn Kiếm, Hương Giang, Ngự Bình, Ngũ Hành Sơn, Cam Ranh, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu, Cửu Long, Tiền Giang, Hậu Giang, Hà Tiên, Phú Quốc...
Địa danh nào cũng mang những tên hiền hòa phúc hậu nhu mì như Hòa Bình, Hưng Yên, Kiến An, Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Phước Long, An Lộc, Phú Cường, Biên Hòa, Vĩnh Long, Bình Long, Bình Tuy, Bình Giả...
Còn nói về con người thì người nào cũng có cái tên nhẹ nhàng ý nghĩa từ hán tự, kinh điển, danh nhân như Xuân, Hạ, Thu, Đông, Mai, Lan, Cúc, Trúc, Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh, Giáng Hương, Hằng Nga, Bích Ngọc, Vân Kiều, Nguyệt Nga, Thủy Tiên, Mai Hoa, Quý Phi, Hồ Điệp, v.v...
Cảnh là cảnh đẹp, tên là tên xinh, đất là đất lành chim đậu. Ấy thế mà mấy ngàn năm dựng nước, lịch sử đã ghi biết bao nhiêu tang thương ngẫu lục rối bời. Theo cái đà ấy, đến lượt tôi cũng tiếp tục trôi theo vận nước điêu linh thống khổ, gần hết cuộc đời lớn lên và sống trong chiến tranh. Xưa kia thì ngoại bang cai trị đàn áp, ngày nay thì chủ nghĩa vô thần ác quỷ hiện hình người reo rắc đau thương làm cả nước bị đọa đày...
Nên giữa những cánh đồng bao la thơm mùi lúa chín lại có thêm những vòng giây kẽm gai quanh đồn phòng ngự. Nên bên cạnh những bà mẹ già tóc bạc phơ lại có những người vợ trẻ đầu quấn khăn tang bồng con thơ dại. Nên những nấm mồ phủ cờ vàng ba sọc đỏ lại nối tiếp nhau trong nghĩa trang bốn vùng chiến thuật.
Ngành Quân Nhu của chúng tôi chẳng những lo nhu cầu ăn mặc, xăng nhớt cho quân nhân mà lại còn phụ trách cả vấn đề chung sự. Khi người lính giã từ vũ khí mà không về nhà, rủ nhau vào nằm nghĩa trang yên tĩnh nghỉ ngơi. Ở đó, có đủ cấp bậc từ tướng đến tá đến úy đến hạ sĩ quan, đến lính. Ở đó có đủ tôn giáo họp mặt như Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo... Ở đó có đủ huy chương từ Bảo Quốc Huân Chương đến Quân Phong, Quân Vụ Bội Tinh... Ở đó tôi có nhiều bạn bè nằm xuống hồn nhiên, lặng lẽ, thanh thản. Khi những ngọn nến hắt hiu rồi tàn lụn, những nén nhang nghi ngút xong tắt ngúm, những tiếng khóc nức nở thê thảm gào thét chìm dần, trôi theo đất cát xuống nắp quan tài... thì còn lại chỉ người nằm xuống bạn bè cùng mưa gió, với trăng sao, với tiếng nỉ non côn trùng rên rỉ...
Tôi thường có công tác ở những chốn vui buồn, vui nhiều như đám hỏi, đám cưới; vui vừa như đám tiệc, đám ăn; vui ít như đám... giỗ, đám chạp. Còn chỗ buồn ít như nhà thương, buồn nhiều như... nhà xác! Trong các chốn buồn vui như thế, tôi thích thỉnh thoảng được đến thăm chỗ buồn nhiều. Nơi nghĩa trang có đầy đủ những nét đậm đen đau xót đó. Chỉ ở nơi ấy, tôi mới được dịp gần gũi với chính tôi, kiểm điểm xem mình đã làm được gì - không phải nghĩ lớn lao như làm ích lợi cho đất nước đâu, mà chỉ là cho anh em đồng ngũ - để đỡ mang tội với chiến hữu. Những lúc nghe tiếng khóc ngất của gia đình tử sĩ, tiếng trẻ thơ khóc vòi ngủ vòi ăn, tiếng kèn vĩnh biệt ngân xa thăm thẳm, tôi cũng thấy ngậm ngùi không ngăn nổi dòng nước mắt. Nước mắt tôi xót thương kẻ ở, người đi một mạch đã đành, mà cũng là nước mắt một kẻ ăn năn hối hận về những tội của mình lỡ phạm.
Khi nghĩa trang Gò vấp đã đầy đủ quân số, chúng tôi có thêm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nằm bên xa lộ, trên ngọn đồi cao, thênh thang trời mây bát ngát. Nơi đây, dẫu là nơi nghĩ bình yên của những chiến sĩ quả cảm, can trường, vẫn có những cặp tình nhân sinh viên, những đôi lứa trẻ măng dìu nhau thủ thỉ qua lối mòn uốn quanh vòng ốc trên đồi. Có những ngôi mộ cỏ mọc xanh rì, mộ bia cũ kỹ. Có những nấm mồ trồng hoa, trải đá bao quanh, với mộ bia khắc ghi họ tên, ngày tháng năm sinh, năm tử trận. Dân tộc ta là một dân tộc thi sĩ, mỗi người là một thi sĩ thật không ngoa. Ngay cả đến lúc đau khổ tột cùng, ta vẫn xổ thơ văn để bày tỏ khúc đoạn trường. Trên một bia mộ đá, tôi đọc thấy hai câu thơ này:
Chàng vui tiên cảnh đà an phận
Thiếp với năm con luống ngậm ngùi...
Qua một bia mộ khác, lại thấy:
Sống làm chiến sĩ anh hùng
Chết coi nhẹ tựa lông hồng phù du...
Ôi cha! Một dân tộc thi sĩ, hồn thơ bay bướm lả lướt như thế mà chịu cảnh địa ngục trần gian, phải làm thơ phúng điếu thay lời!
Tôi có mấy người bạn họ cũ từ thời tiểu học, khi nhớn lên chúng nó ca bài “ta đi tòng quân”. Thằng Nguyễn Trọng Quyền tức “Quyền Thịt Quay” - vì nhà nó bán heo quay - đi lính đóng tới lon quan ba, quanh năm lùng giặc mạn Kiến Hòa, mặt mày đen như củ súng. Hơn chục năm không gặp nhau vẫn nhắc đến thịt quay nhà nó. Đùng một cái tới lúc gặp nhau thì nó chả thèm nói câu nào. Tôi đứng canh xác nó quàn tại nghĩa trang, phủ cho nó lá cờ tổ quốc ghi ơn và đưa nó vào lòng đất mẹ. Thằng cháu tôi đi lính tàu bay đeo lon trung úy, trong một chuyến bay bão bùng, thân tàu va vào núi tan tành. Xác nó tả tơi đâu đó, quân đội chỉ còn dăm ba kỷ vật gói ghém bỏ vào quan tài đóng lại để thân nhân chôn cất. Tôi biết linh hồn nó quanh quất với gia đình. Nấm mồ trên nghĩa trang đã được ba nó, thày học cũ của nó và tôi, chúng tôi chở gạch cát xi-măng xây cho đẹp đẽ, trồng hoa giấy, dọn dẹp tinh tươm. Nó mới ngoài hai mươi, chỉ một lần yêu thì người con gái lại đa tình bay sang cành khác, nên ba năm tình lận đận, lúc chết vẫn cứ yên chí rằng người yêu vẫn đợi vẫn chờ. Nguyễn Ngọc Sơn, thế cũng là định mệnh! Lại có thằng bạn chọc trời khuấy nước, đi Võ Bị Đà Lạt năm 1953 mà cấp bậc khi thăng lúc giáng lúc huề, chỉ vì ba gai, lả lướt với đào. Nhưng mà đánh trận thì nó chì lắm. Những ngày cuối cùng của tháng tư đen, nghe nói nó tử thủ Long Khánh, đánh Cộng Sản rất tới, giữ chiến tuyến vững như bàn thạch. Chả hiểu mô tê ra làm sao, bom đạn bị hạn chế, máy bay hạn chế, để cho quân CS ùa vào phòng tuyến. Trung tá Lê Quang Đình, tiểu khu phó Long Khánh ở lại cùng anh em chiến đấu tới cùng. Và nó đã đền xong nợ nước tại chiến trường Xuân Lộc. Tôi không tin rằng xác nó được mang về nghĩa trang vào giây phút dầu sôi lửa bỏng đó, nhưng chắc chắn linh hồn nó đã cùng đồng ngũ rủ nhau về tề tựu nghĩa trang như một điểm hẹn hò.
Chú em tôi Trần Kính Trực, sĩ quan pháo binh Long An đi trận đạp phải mìn, đưa về Tổng-Y- Viện Cộng Hòa thì tắt thở. Nó từng rót vào đầu Cộng Sản những cú trọng pháo nẩy tung người. Ngày nó từ bỏ anh em đơn vị một mình thơ thẩn nghĩa trang, đôi dịp đi công tác tôi cũng ghé thăm chốc lát, thắp cho nó một nén nhang, thì thầm với nó dăm câu tâm sự. Rồi lại âm dương cách biệt, hai ngả phong trần.
Thằng Nguyễn Văn Bình đi lính với tôi từ hồi ở Ban-Mê-Thuột đệ tứ quân khu, làm phòng 5 văn nghệ báo chí điện ảnh, đóng lon trung sĩ. Tôi giải ngũ, tái ngũ, nhập ngũ rồi lại giải ngũ mà nó vẫn ở nhà binh, thuyên chuyển về Saigon làm chuyên viên quay phim cấp bậc chuẩn úy già. Ngày chiến cuộc Bình Long tử thủ, cả thế giới theo dõi chiến công của quân lực VNCH anh hùng quả cảm, ít ai dám mò vào vùng đạn bay mìn nổ, thì nó leo lên trực thăng xông pha nơi trận địa mịt mù thuốc súng với hy vọng quay được những hình ảnh sống thực, lẫy lừng. Nó từng bay đến nhiều chiến trường để làm nhiệm vụ nhưng lần này là lần chót. Nó gẫy cánh trên đường vào An Lộc, chết trong sự tình cờ, tuy chẳng dám chờ mong mà như vẫn theo vẫn đợi. Nơi nghĩa trang, nó được phủ quốc kỳ, được truy tặng huân chương, được anh em thương xót tiễn đưa đến nơi an nghĩ cuối cùng. Từ đó, nó miễn phải đeo máy quay hình, ôm ba-lô phim ảnh, miễn công tác, miễn tạp dịch. Miền thảnh thơi thoát tục ấy, nó gặp lại bằng hữu cũ đã một thời xả thân gìn giữ từng tấc đất quê hương, từng cây cầu, từng con sông, từng mái nhà, từng thửa ruộng... Nó sẽ có dịp cùng bạn bè ôn lại biết bao chiến tích hào hùng của cổ thành Quảng Trị, Khe Sanh, Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả, Kontum, An Lộc, Hạ Lào... Trong mấy mươi năm chiến đấu, những ai còn ai khuất, ai được đặc cách thăng thưởng tại mặt trận, ai được huy chương truy thăng trước linh vị u hoài. Lúc sống, nó không cô đơn. Đến khi giã biệt, nó vẫn còn có nơi bù khú. Chỗ họp mặt ấy, là Nghĩa Trang Quân Đội.
Ngày tôi ở quân đội, nhiều ông lớn có tài sản riêng nom mà phát hãi. Trên Đà Lạt, vùng Chi Lăng mọc lên những ngôi biệt thự xây cất kiên cố, đắt tiền. Nhưng nhờ thợ nhà binh, dụng cụ nhà binh nên cũng đỡ tốn kém. Nhìn các biệt thự ấy, phần lớn tôi thấy ánh sao lấp lánh rạng ngời, mai bạc lung linh. Khu vực bao quanh hồ Xuân Hương được chỉnh trang theo họa đồ thiết kế, không ai được xây cất làm nhà làm cửa gì cả, chỉ sau thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã mọc lên lác đác dinh cơ mái đỏ ven đồi, cũng lập loè ánh sao... Từ đó suy ra thì các nơi như Huế, Nha Trang, Cam Ranh, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Saigon, Cần Thơ... đều phác họa phương thức trên như nhau hết cả.
Trong sở, có bạn rủ mua đất mạn Lái Thiêu để làm nhà, đào ao thả cá, trồng cây cảnh, ngâm thơ đọc sách. Tôi không nghĩ xa xôi một mực lắc đầu để có thời giờ ăn chơi cho đã. Trên Đà-Lạt, ông anh làm tòa thị chính lâu năm xin được đất trung tâm thị xã, rủ chú em làm dăm căn cho thuê, một căn dành nghỉ mát, tôi vái dài vì muốn dành chút tiền kiếm chác áp-phe buôn bán mau ăn hơn.
Mà thật tình, tôi chẳng ham gì nhà cửa dinh thự tít mãi cao nguyên, cũng chẳng ưa cảnh nhàn du trầm tư mặc tưởng. Tôi cũng không phải lo gì về đất cát mai sau.
Vì tôi biết một ngày nào đó hai tay buông xuôi, chuyện đất đai của tôi sẽ có nơi lo liệu, là nằm trong Nghĩa Trang Quân Đội, được gần gũi với anh em bạn bè, với những người chiến sĩ vô danh, với cây cỏ trời mây, với gió mát trăng thanh hiền hòa êm ái...
Đó là mảnh đất tôi yêu nhất, như một vinh dự của người lính Tiếp Vận có gần mười năm quân vụ, tuy rời tập thể mà hình ảnh quân kỳ, tình chiến hữu mãi còn đậm đà, tha thiết, yêu thương...
Mảnh đất nhỏ bé ấy, tôi vẫn xót xa một đời hoài vọng...