“Này, Emoto!” Kiyoshi gọi to khi nhìn thấy cậu bạn đang đứng đợi trên sân ga Kyoto.
“Lâu quá rồi!” Emoto chào hỏi và bắt tay Kiyoshi. Với nụ cười tươi rói trên mặt, Emoto hồ hởi, “Ông khỏe không?”
“Rất tiếc,” Kiyoshi cười nhăn nhở, “tôi không khỏe cho lắm, nhưng tôi rất vui được gặp ông.” Cậu giới thiệu tôi với Emoto.
“Ồ, các ông du lịch gọn nhẹ nhỉ!?” Emoto nói khi nhấc hành lý của chúng tôi lên. Anh ấy khá cao, để mái tóc ngắn tỉa gọn gàng và dường như có một phong thái rất thoải mái, phóng khoáng.
“Ừ. Chúng tôi chỉ việc nhảy lên tàu thôi mà.”
“Chà,” Emoto nói, nhìn Kiyoshi. “Ông đặt thời gian quá chuẩn. Hai ông tới vừa kịp mùa hoa anh đào nở.”
“Hoa anh đào à?” Kiyoshi ngơ ngác. “Ồ, à phải, đang là mùa anh đào nở hoa! Kazumi sẽ rất vui đây.”
Ngoài hoa anh đào, thành phố Kyoto còn nổi tiếng về quy hoạch. Cố đô được quy hoạch thành mạng lưới, giống như một bàn cờ. Tất cả các đường phố đều chạy theo hướng bắc-nam hoặc đông-tây, giống như ở New York. Emoto sống ở Nishi-kyogoku, phía tây nam trung tâm thành phố. Anh bạn trẻ lái xe đưa chúng tôi về nhà, tôi say sưa nhìn ngắm thành phố qua cửa xe. Có rất nhiều bảng hiệu đèn nê-ông và những tòa nhà văn phòng. Một số khu vực của Kyoto trông giống hệt Tokyo.
Căn hộ của Emoto gồm hai phòng ngủ. Rõ ràng, lần đầu tiên trong đời Kiyoshi và tôi sẽ ngủ chung một phòng.
“Ngủ một chút đi, ngày mai chúng ta sẽ rất bận bịu đấy.” Kiyoshi nói trong lúc chui tọt vào chăn.
Giọng Emoto vang lên phía sau cánh cửa. “Ngày mai các ông có muốn dùng xe của tôi không?”
“Không, cảm ơn,” Kiyoshi nằm gọn dưới chăn trả lời vọng ra.
Sáng hôm sau, chúng tôi đón chuyến tàu tuyến Hankyu tới Shijo-Kawaramachi, gần địa chỉ của Tamio Yasukawa.
“Địa chỉ của Yasukawa là Rokkaku-agura, Tominokoji. Anh có biết người ta làm thế nào tìm được một ngôi nhà căn cứ vào địa chỉ của nó ở Kyoto này không?”
“Rất xin lỗi, nếu anh quên mất là tôi từ Tokyo đến nhé.”
“Được rồi, một bài học rất nhanh thôi. Nhà của ông ấy trên phố Tominokoji, chạy theo hướng bắc-nam. Và Rokkaku chạy theo hướng đông-tây. Nơi hai con phố cắt nhau chính là vị trí chúng ta tìm kiếm. ‘Agaru’ nghĩa là ngôi nhà hơi ‘nhích lên trên’ tính từ Rokkaku nói cách khác là lệch về phía bắc.”
“A ha, tôi hiểu rồi.”
“Rất đơn giản mà lại thuận tiện.”
Chúng tôi xuống tàu và leo lên bậc cấp.
“Shijo-Kawaramachi là khu nhộn nhịp nhất Kyoto. Tuy nhiên, những người yêu Kyoto đếu nhất trí rằng đây là nơi tệ hại thứ hai của thành phố, sau Tháp Kyoto.”
“Sao lại thế?”
“Bởi vì nó không thích hợp với hình ảnh của một cố đô.”
Đúng như lời cậu nói, khi ra khỏi cổng ga chúng tôi chỉ có thể nhìn thấy những tòa nhà hiện đại xếp hàng hai bên đường phố. Rõ ràng đây là Kyoto mới. Tôi thắc mắc không biết phố cổ Kyoto nằm ở đâu.
Kiyoshi đi rất nhanh còn tôi bám sát theo sau. Băng qua đường phố đông đúc, chúng tôi đến một đại lộ chạy dọc một con suối nông và hẹp. Nước trong đến kinh ngạc, nhìn rõ những hòn đá cuội dưới đáy. Rong tảo đang nhảy múa khẽ khàng trong dòng nước, phản chiếu những tia nắng buổi bình minh. Chắc chắn chúng tôi không thể thấy được hình ảnh tương tự ở Tokyo.
“Đây là sông Takase,” Kiyoshi nói. “Thật sự thì nó là một con kênh. Các thương gia đào nó để cho thuyền bè giao thương.” Cậu giải thích thêm trong lúc chúng tôi tiếp tục đi. Không lâu sau, Kiyoshi đột ngột dừng lại trước một tòa nhà.
“Nơi này là đâu thế?” Tôi hỏi.
“Một nhà hàng Trung Hoa. Chúng ta ăn thôi.”
Chúng tôi không nói chuyện gì nhiều trong bữa ăn.
Cả hai đều đắm chìm trong suy nghĩ. Tôi cố gằng hình dung xem cuộc sống của Yasukawa thế nào. Vì tên của ông được nhắc đến trong cuốn Tokyo hoàng đạo án nên chắc chắn ông thường xuyên bị những vị khách không mời tới quấy rầy hoặc tìm cách phỏng vấn. Hẳn là Yasukawa rất muốn được yên tĩnh. Buồn thay, hình ảnh mà tôi hình dung về Yasukawa là một người đàn ông cô độc đắm mình trong rượu chè. Chẳng sao cả, mối quan tâm của tôi là chứng minh rằng Heikichi Umezawa còn sống, hoặc ít nhất không hề bị giết hại.
Chúa mới biết được Kiyoshi nghĩ gì.
Cuối cùng khi chúng tôi tới được địa chỉ của Yasukawa, Kiyoshi tỏ ra bối rối. “Đây là phố Tominokoji… và kia là Rokkaku… nhưng có gì đó không đúng nhỉ. Chúng ta không thể đi thêm được nữa; đằng kia là phố khác rồi. Đây là chung cư duy nhất trong khu vực này. Có lẽ ông ấy không sống trong một căn hộ…”
Ở tầng trệt, có một quán rượu mang tên Bươm Bướm. Chẳng có nhiều lựa chọn, chúng tôi leo lên cầu thang hẹp để lên tầng hai nơi có các căn hộ. Đây chắc chắn không phải là tòa nhà sạch sẽ nhất hay mới nhất. Chúng tôi lần lượt kiểm tra tên các hòm thư trong hành lang, không có cái nào mang tên Yasukawa.
Kiyoshi bắt đầu tỏ ra thất vọng, nhưng cậu nhanh chóng lấy lại sự điềm tĩnh vốn có khi gõ cánh cửa gần nhất. Không có ai trả lời, cậu ấy tiếp tục thử cánh cửa tiếp theo, cũng không gặp may.
“Không hay rồi,” cậu nói. “Có lẽ họ nghĩ chúng ta là đám nhân viên tiếp thị. Chúng ta hay thử đầu bên kia vậy.”
Chiến thuật này có tác dụng. Khi chúng tôi gõ cánh cửa xa nhất, một bà già to béo đáp lời.
“Xin lỗi, thưa bác, chúng cháu không tiếp thị gì cả. Cháu muốn nhờ bác giúp,” Kiyoshi lên tiếng, nhã nhặn hết mức. “Chúng cháu đang tìm nhà một cụ ông có tên Tamio Yasukawa. Ông ấy có sống ở trong khu nhà này không ạ?”
“Ông Yasukawa à?... Để tôi nghĩ xem nào… Ồ, đúng, tôi nhớ ra rồi. Ông ấy chuyển đi từ lâu rồi.”
Kiyoshi quay sang tôi như thể đã đoán trước được.
“Ồ, vậy ạ? Thế bác có biết ông ấy chuyển đi đâu không ạ?”
“Tôi không rõ. Tại sao các cậu không đi hỏi viên quản lý ở dưới nhà ấy? Tên ông ấy là Okawa, nhưng có lẽ giờ này ông ấy không có ở đó đâu. Okawa có một quán rượu ở Kita-shirakawa. Nếu không có mặt ở đây có nghĩa là ông ấy đang ở đó.”
“Tên quán là gì ạ?”
“Bướm Trắng.”
Kiyoshi cảm ơn và chúng tôi đi xuống lầu dưới. Nhưng đúng như bà ấy dự đoán, chẳng có ai trả lời khi chúng tôi gõ cửa.
“Được rồi, chúng ta đi Kita-shirakawa và tìm ông Okawa.”
Xe buýt đưa chúng tôi đi về phía bắc thành phố, nhiều đền thờ và tòa nhà cổ hiện ra hai bên đường. Cảnh quan đẹp đến mức tôi bắt đầu cố hình dung xem cuộc sống sẽ ra sao nếu được sống ở khu vực này.
Quán rượu ở ngay bên cạnh trạm xe buýt Kita-shirakawa. Chúng tôi chưa kịp gõ cửa thì một người đàn ông đã ra mở cửa.
“Xin lỗi, bác có phải Okawa không ạ?”
Ông già sững người khi nghe thấy giọng Kiyoshi và lần lượt quan sát từng người chúng tôi.
Chúng tôi giải thích lý do cuộc viếng thăm của mình và nêu câu hỏi.
“Hừm… Để tôi xem… Làm sao tôi nhớ được lâu như thế?” Ông ấy nói, dò xét chúng tôi một cách cảnh giác. “Có lẽ tôi còn lưu trong hồ sơ, nhưng tôi cất ở nhà tôi tại Kawaramachi cơ. Các cậu có liên quan gì đến cảnh sát không?
Kiyoshi nhã nhặn hết mức. “Ôi giời,” cậu ấy cười toe toét, “chúng cháu trông giống lắm ạ?”
“Cho tôi xem thẻ ngành của các cậu được không?”
Tôi thoáng chút bối rối trước đề nghị của Okawa, nhưng Kiyoshi đã rất nhanh trí. Cậu ấy cau mày và nói với Okawa bằng một giọng rít lên, “Nói thật với bác, chúng cháu không được phép xuất trình thẻ ngành của mình cho bất kỳ người dân thường nào. Cháu xin lỗi. Bác đã bao giờ nghe nói đến Cục Điều tra Công an chưa ạ?”
“Ừm, có, tôi nghĩ tôi đã nghe nói đến…” Okawa lầm bầm. Đến lượt ông già trông hết sức lo lắng.
“Chậc…” Kiyoshi ngừng lại môt lúc truớc khi nói tiếp. “Lẽ ra cháu không nên nhắc đến. Xin hãy quên tất cả những gì cháu vừa nói đi ạ. Khi nào bác có thể tìm địa chỉ hiện nay của ông Yasukawa ạ?”
Ông Okawa đột nhiên tỏ thái độ hợp tác. “Tôi phải đi Takatsuki bây giờ nhưng tôi sẽ quay lại ngay. Tôi sẽ có địa chỉ của ông ấy lúc 5 giờ chiều. Các anh có thể gặp tôi lúc đó được không? Tôi sẽ đưa các anh số của tôi…”
“Anh cừ lắm,” tôi thì thào với Kiyoshi khi chúng tôi quay lại phố chính. “Tôi không biết rằng anh là một tay đại bịp cơ đấy!”
“Ồ, bình thường thôi,” cậu ấy đáp lại một cách hờ hững. “Một thám tử tư sẽ biết cách bộc lộ anh ta thật sự là ai đúng không?”
Chiến thuật của Kiyoshi nghe có vẻ có tác dụng, nhung tôi vẫn thấy lo lắng. Chúng tôi đã mất toi bốn tiếng - bốn tiếng đồng hồ trôi qua lãng phí. Hôm đó đã là thứ Sáu ngày mùng 6.
Chúng tôi đi dọc bờ sông cho tới khi đến một cây cầu nườm nượp xe cộ bắc ngang. Tôi nhận ra một tòa cao ốc; chúng tôi đang quay trở lại Shijo-Kawaramachi, nơi bắt đầu các hoạt động của ngày hôm nay. Tôi chỉ ước một cốc nước mát khi Kiyoshi bắt đầu lên tiếng.
“Có gì đó bị bỏ qua… Và có lẽ nó là gì đó rất kỳ cục và khó hiểu, nhưng tôi có linh cảm rằng nó không khó hiểu đến vậy. Khi chúng ta tìm ra mắt xích còn thiếu, chúng ta sẽ hiểu toàn bộ câu chuyện. Chúng ta có thể phải xem xét lại vụ việc từ đầu, đặc biệt nửa đầu tiên. Đúng, tôi nghĩ tất cả là do mắt xích còn thiếu đó. Trong suốt bốn mươi năm, các thám tử trên khắp nước Nhật đều lúng túng không thể tìm ra lời giải do thiếu mắt xích này. Chà, tôi là một thám tử không dễ dàng bỏ cuộc đâu!”
Cảnh 2: Hành động báng bổ
Chúng tôi ngồi giết thời gian trong một quán cà phê bằng cách chậm rãi nhâm nhi ly nước hoa quả. Gần đến 5 giờ, Kiyoshi đột nhiên đứng lên và đi tới một máy điện thoại công cộng. Cậu nói chuyện một lúc rồi quay lại.
“Tôi nắm được rồi!” Kiyoshi chỉ nói vậy. Tôi vớ vội hành lý của mình và chạy theo cậu ra khỏi cửa.
Đường phố giờ tan tầm bắt đầu đông dần lên. Kiyoshi đi thẳng qua đám đông vượt qua cây cầu bắc qua sông Kamo.
“Thế ông ta sống ở đâu?”
“Ở Neyagawa, trên đường đi Osaka. Chúng ta có thể đón tàu tuyến Keihan từ đằng kia.”
Nhà ga ngay trước mặt chúng tôi.
Từ sân ga, chúng tôi trông thấy dòng sông đang từ từ đổi màu khi ánh chiều tà buông xuống.
Chúng tôi xuống ga Korien. Tiếng Trung Quốc của tên gọi này nghĩa là “Hương Lí Viên” cho nên tôi hình dung vùng này sẽ nhiều cây cối thật dễ chịu. Nơi này quả đúng như tôi đã hình dung. Tôi thấy có mấy quán rượu và hộp đêm nhỏ với những biển hiệu đèn nê-ông lòe loẹt vừa mới được bật sáng để đón chào những người khách đầu tiên của buổi tối. Một số nhân viên văn phòng chếnh choáng đi trên hè phố vì rõ ràng vừa kết thúc sớm chầu nhậu, còn vài cô tiếp viên phấn son lòe loẹt vượt lên trước chúng tôi để kịp giờ đi làm.
Khi chúng tôi tìm được địa chỉ Okawa đưa, trời đã tối mịt. Quản lý tòa nhà đi vắng, nên chúng tôi lên gác và lại bắt đầu gõ từng cánh cửa. Một phụ nữ trung niên nói chưa bao giờ nghe bất kỳ ai có tên Yasukawa ở đây cả.
Chúng tôi may mắn hơn khi gặp vị chủ nhà tiếp theo. “Mới hôm trước vừa có người dọn đi,” ông cho biết. “Tôi nghĩ tên ông ấy đúng là Yasukawa. Chúng tôi chưa bao giờ nói chuyện với nhau, nên tôi không biết ông ấy chuyển đi đâu. Sao các vị không hỏi người quản lý.”
Kiyoshi không giấu được nỗi thất vọng của mình. Nhưng chúng tôi cố gắng tới văn phòng người quản lý lần nữa và ngạc nhiên thay, ông ấy mới quay trở lại sau khi giải quyết mấy việc vặt.
“Tôi không biết gia đình đó chuyển đi đâu,” ông nói với thái độ hết sức hợp tác. “Hình như họ không muốn cho ai biết và tôi cũng chẳng quan tâm. Gia đình có vẻ không vui vì cụ ông vừa mới qua đời.”
“Chết rồi ư?!” Kiyoshi và tôi cùng kêu lên.
“Ý ông là ông Tamio Yasukawa phải không?,” Kiyoshi hỏi.
“Tamio à? Ồ, phải, chính là tên ông ấy đấy.”
Vậy là Yasukawa đã chết ngay tại Osaka này. Tôi cảm thấy nản chí. Giờ chẳng còn cách nào tìm hiểu được cuộc đời của ông ấy nữa. Ông ấy từng sống ở Tokyo, tham gia chiến tranh, rồi chuyển đến Osaka. Cuộc đời ông cụ đã kết thúc trong một căn hộ cũ kỹ xung quanh bốn bức tường nứt nẻ.
Tuy nhiên người quản lý cung cấp cho chúng tôi một số thông tin mới ngoài mong đợi. Ông kể rằng Yasukawa không sống một mình, ngược lại còn có một cô con gái trạc ngoài 30 tuổi. Chị này lấy một anh thợ mộc và họ có hai đứa con.
Bóng đèn trong hành lang nhấp nháy, người quản lý ném cho nó cái nhìn khó chịu mỗi lần ánh sáng sụt xuống.
Tim tôi trĩu nặng một nỗi buồn ghê gớm. Tôi cảm thấy mình như một đứa trẻ bị bắt quả tang phạm lỗi. Chúng tôi đang theo dấu một con người tội nghiệp không thể có được một cuộc sống hạnh phúc và vừa mới qua đời. Đây không còn là một cuộc phiêu lưu nữa. Có gì đó rất báng bổ khi cứ bới móc vào đời tư của ông già này - một hành vi báng bổ thiếu nhân đạo.
Kiyoshi dường như cũng chìm trong suy tư.
“Nếu các anh thật sự muốn biết họ chuyển đi đâu,” người quản lý tình nguyện, “tôi có thế hỏi công ty vận chuyển. Chỉ mới tháng trước họ còn ở đây, cho nên tôi nhớ tên họ. Hãng vận chuyển Neyagawa, trụ sở ngay phía trước ga Neyagawa.”
Chúng tôi cảm ơn ông quản lý và ra đi.
“Mấy giờ rồi nhỉ?” Kiyoshi hỏi.
“Tám giờ kém mười.”
“Vậy là chúng ta vẫn có thể hành động,” cậu hào hứng thấy rõ. “Chúng ta tới hãng vận chuyển Neyagawa!”
Chúng tôi đi bộ trở lại ga tàu và đón chuyến tàu tới Neyagawa.
Không khó để tìm được công ty này, nhưng đã quá muộn vì tan sở mọi người đã đi về hết. Căn cứ vào một tấm biển có ghi “DỌN NHÀ? HÃY GỌI CHO CHÚNG TÔI!” Kiyoshi ghi lại số điện thoại của công ty. Sáng mai cậu sẽ gọi. Sau đó chúng tôi quay trở về căn hộ của Emoto.
Và ngày thứ Sáu mùng 6 tháng Tư, kết thúc như vậy.
Cảnh 3: Bắc qua mặt trăng
Sáng hôm sau, tôi bị đánh thức bởi tiếng của Kiyoshi nói chuyện với ai đó trên điện thoại. Lúc ấy khá muộn nên Emoto đã đến công sở. Tôi ngồi dậy, cất túi ngủ vào tủ và xuống bếp kiếm ít cà phê.
Khi tôi vào phòng khách tiện thể mang cho Kiyoshi một tách cà phê thì cậu vừa mới kết thúc cuộc gọi. Cậu xé một tờ giấy nhắc việc và nói, “Con gái Yasukawa đang ở Higashi-yodogawa tại Osaka. Tôi không thể hỏi được địa chỉ chính xác của chị ấy, nhưng công ty vận tải nói ở gần bến xe buýt tại Toyosato-cho, cuối một con hẻm và gần một cửa hàng bánh tráng có tên Omichi-ya. Chồng chị ấy tên là Kato. Chúng ta đi nào!”
Khi chúng tôi đến Toyosato-cho, từ xa chúng tôi có thể nhìn thấy cây cầu thép bắc qua sông Yodo. Khu vực này vẫn còn rất kém phát triển. Rải rác khắp những rẻo đất bỏ trống mọc đầy lau lách là những chiếc lốp xe cũ. Tuy nhiên, đường phố dường như mới được rải nhựa. Chúng tôi đi xuống một con hẻm nằm giữa một cụm lều lán và tìm thấy ngay cửa hàng bánh tráng. Qua một chút là vài cụm nhà bình dị. Căn cứ vào những hòm thư có ghi tên, chúng tôi tìm được căn hộ của bà Kato.
Chúng tôi leo lên thang gỗ và tìm đường vào căn hộ, len qua khu vực giặt ngay trên lối đi. Cửa sổ của họ mở hé, chúng tôi nghe thấy tiếng rửa bát đĩa và tiếng khóc của một đứa bé.
Kiyoshi gõ cửa, lập tức một phụ nữ xuất hiện. Người phụ nữ không trang điểm và mái tóc thì rối bù. Đó chính là con gái của Yasukawa. Kiyoshi bắt đầu giải thích mục đích chuyến thăm của chúng tôi, nhưng chủ nhà ngắt lời khi Kiyoshi chưa kịp nói gì nhiều.
“Tôi chẳng có gì để nói về việc đó! Cha tôi không làm gì cả. Chúng tôi đã chán lắm rồi. Hãy để chúng tôi yên!” Chủ nhà đóng sầm cửa, khiến cho đứa bé khóc càng to hơn.
Kiyoshi đứng trước cửa, không nhúc nhích. Trông cậu mất hết tinh thần.
Tôi rất ngạc nhiên khi nghe con gái Yasukawa nói phương ngữ vùng Kanto; chúng tôi đang ở sâu trong vùng Kansai và suốt hai ngày qua chúng tôi được nghe mọi dạng biến thể của thổ âm Kansai.
Khi chúng tôi rời khỏi khu chung cư, Kiyoshi nói khẽ “Tôi biết chị ấy sẽ từ chối nói chuyện với chúng ta mà. Ông bố cũng sẽ như vậy nếu ông ấy vẫn còn sống. Tôi chỉ muốn tới gặp Yasukawa nhân danh Bunjiro Takegoshi. Thôi, chúng ta hãy quên Yasukawa và con gái ông ấy đi.”
“Vậy giờ chúng ta làm gì đây?”
“Tôi không biết. Chúng ta quay về Kyoto đã.”
Vậy là chúng tôi lên tàu mà chẳng có một kế hoạch nào trong đầu.
Kiyoshi chìm trong suy nghĩ suốt đường đi, rồi đột ngột lên tiếng, “Kazumi, giờ anh đã ở Kyoto, sao anh không nhân cơ hội này đi thăm chú một chút nhỉ? Tôi gợi ý tới thăm Arashiyama, hoa anh đào vùng này đang độ rực rỡ. Anh có thể đổi tàu ở trạm tiếp theo, Katsura. Cẩm nang chỉ dẫn ở đây. Tôi muốn ở một mình để tập trung suy nghĩ. Tôi sẽ gặp anh ở nhà Emoto.”
Tôi xuống tàu tại Arashiyama và đi thẳng ra phía sông. Kiyoshi nói đúng một chi tiết: hoa anh đào tuyệt đẹp.
Một cô maiko - thiếu nữ trẻ được huấn luyện để trở thành geisha - đi ngang qua khiến tất cả mọi người chú ý. Cô mặc bộ kimono và đi cùng một cậu choai choai có mái tóc nhuộm vàng. Cậu nhóc đeo một cái máy ảnh trên cổ. Đôi dép gỗ đế dày tạo ra thứ âm thanh êm dịu, dễ chịu theo mỗi bước chân của cô gái.
Tôi theo đám đông đi về phía sông Katsura. Theo sách hướng dẫn, cây cầu có tên gọi Togetsu-kyo, có nghĩa là “cầu bắc qua mặt trăng”. Chắc là khi mặt trăng được phản chiếu trên mặt sông, du khách sẽ có cảm giác mình đang trôi bồng bềnh phía trên mặt trăng.
Gần đây là một ngôi miếu nhỏ. Nhưng khi đến gần, tôi mới nhận ra đó là một trạm điện thoại được thiết kế giống như một miếu thờ. Tôi nghĩ đến việc gọi cho ai đó từ chỗ này cho lạ, nhưng trong đầu chẳng nghĩ ra ai cả.
Sau bữa trưa, tôi bắt xe điện đi dạo. Việc này làm tôi rất thích thú vì Tokyo không còn xe điện nữa. Tôi nhớ đã từng đọc trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám rằng nhân vật thám tử nảy ra cảm hứng trong lúc đi xe điện. Tôi cảm thấy những tiểu thuyết trinh thám hay ho ngày trước đều lỗi thời như những chiếc xe điện vậy!
Tôi chẳng biết xe điện đang đi đâu nên đành xuống ở trạm cuối cùng, Shijo-Omiya. Tôi đi bộ dọc một con phố đông đúc và đột nhiên nhận ra mình đã quay lại Shijo-Kawaramichi. Không lẽ tất cả đường phố ở Kyoto đều dẫn về Shijo-Kawaramachi?
Từ đó, tôi đi thẳng tới đền Kiyomizu nổi tiếng thả bộ theo vỉa hè lát đá Sannen-zaka và dừng lại ở một quán trà nhỏ để uống tách rượu gạo amazake ngọt lịm. Rồi lại tiếp tục lang thang.
Trước cửa một tiệm đồ cổ nhỏ có một phụ nữ mặc kimono đang rẩy nước ra vỉa hè cho đỡ bụi. Cô làm rất cẩn thận, không để bắn lên người tôi và tôi cảm kích vì sự chu đáo ấy.
Tôi quay lại Shijo-Kawaramachi. Đã thấm mệt với chuyến du lịch vất vả này, tôi quyết định quay về nhà Emoto.
Emoto đã về đến nhà.
“Ồ, ông về rồi à! Tham quan có thích không?”
“Có, tuyệt lắm!”
“Kiyoshi đâu rồi?”
“Chúng tôi tách nhau trên tàu… Chà, thật ra thì cậu ấy bỏ tôi!”
Emoto nhăn mặt, nửa thích thú, nửa cảm thông.
Khi chúng tôi đang chuẩn bị món sốt hải sản cho bữa tối thì Kiyoshi thẫn thờ bước vào như người mộng du. Cậu chẳng nói gì, dù chỉ một câu chào cộc lốc.
Ăn xong bữa tối, tình trạng của Kiyoshi cũng chẳng có gì khác. Đồ ăn của Emoto rất tuyệt, nhưng Kiyoshi không chú ý lắm.
“Ngày mai là Chủ nhật,” Emoto nói với Kiyoshi. “Mai tôi được nghỉ nên ta làm một chuyến lên phía bắc Kyoto nhé? Tôi biết các ông bận, nhưng theo lời Kazumi, việc các ông đang làm ở đây chủ yếu là vận dụng trí não. Cho nên tại sao các ông không đi xe? Các ông vẫn có thể làm việc trên xe mà.”
Kiyoshi ngoan ngoãn gật đầu. “Được, miễn là các vị để tôi ngồi yên ở phía sau.”
Cảnh 4: Bờ sông
Kiyoshi không nói một lời trong khi Emoto lái xe đưa chúng tôi tới Sanzen-in, một đền thờ ở Ohara, phía bắc Kyoto. Cậu ấy ngồi ở ghế sau lặng im như một pho tượng Phật.
Chúng tôi dừng lại tại một tiệm ăn ở Ohara để thưởng thức chút đồ ăn Thiền kaiseki rất ngon. Ngay cả khi Emoto giải thích về các món ăn truyền thống, tâm trí Kiyoshi dường như vẫn đang ở đâu đâu.
Emoto và tôi vẫn tiếp tục, tôi thấy hài lòng vì có cơ hội thăm nhiều nơi ở Kyoto: Đại học Doshisha, Đại học Kyoto, Lâu đài Nijo, Đền Heian, Hoàng cung, và phim trường Uzumasa.
Buổi tối, Emoto đãi chúng tôi bữa tối sushi ở Kawaramichi và sau đó đưa chúng tôi tới một quán cà phê rất hấp dẫn chuyên chơi nhạc cổ điển.
Đó là một ngày vô cùng thú vị, mặc dù chúng tôi không tiến thêm được bước nào trong vụ án.
Khi tôi thức dậy vào sáng hôm sau, Kiyoshi và Emoto đều đã đi mất.
Tôi ăn sáng ở gần nhà ga rồi bắt đầu lang thang không chủ đích. Tôi vào khu mua sắm, băng qua một con mương nhỏ sang một sân chơi. Vài nhóm người chạy bộ chạy ngang qua. Tôi cố gắng tập trung trở lại vụ án.
Vụ giết người hoàng đạo không phải là một bí ẩn bình thường. Nó có tầm vóc đến mức cuộc sống của nhiều người đã bị hủy hoại. Có người đã bán toàn bộ tài sản của mình để đầu tư nghiên cứu vụ án. Có người thì hóa điên và tự sát bằng việc nhảy từ trên vách đá xuống biển Nhật Bản. Phải chăng tôi cũng sẽ bị hiến sinh trước đàn tế của bí ẩn này?
Tôi quyết định quay lại Kawaramachi. Tôi thấy thích quán cà phê chuyên chơi nhạc cổ điển và nghĩ nên “tị nạn” ở đấy. Sau đó, có lẽ tôi nên dừng ở một hiệu sách và mua một cuốn sách dạy về minh họa.
Trong lúc đứng chờ chuyến tàu địa phương sắp đến, một chuyến tàu tốc hành chạy ào qua, khiến cho một ít rác bị cuốn tung lên. Đột nhiên, cảnh tượng đó làm tôi nhớ đến bờ sông ở Toyosato - cho - vùng đất bỏ không, lau lách, những cái lốp xe bị vứt bỏ. Tôi nghĩ về con gái Yasukawa. Việc không thể trò chuyện được với chị ta đã để lại một lỗ hổng lớn trong quá trình điều tra của chúng tôi. Chúng tôi cần câu chuyện của người phụ nữ đó - có rất nhiều điều chị ta có thể nói với chúng tôi. Tôi đứng lên, đi xuống sảnh ga và vượt qua mé bên kia của con hẻm. Tôi sẽ quay lại gặp con gái của Yasukawa.
Đồng hồ chỉ hơn 4 giờ một chút khi tôi đến Toyosato-cho. Quanh nhà ga chẳng có gì nhiều. Chỉ có mấy người bán bánh xèo Nhật Bản okonomiyaki và bánh nướng nhân bạch tuộc takoyaki, hai thứ đồ ăn vặt rất được ưa chuộng ở Kansai. Tôi đi bộ về phía cây cầu bắc qua sông Yodo, đi dọc ngõ hẻm lần nữa, tìm quán bánh tráng và bắt đầu đi lên cầu thang của khu chung cư. Chính lúc đó cảm giác ngập ngừng trào lên trong tôi.
Liệu người phụ nữ kia có sẵn lòng trò chuyện với tôi không? Những vụ án mạng nhà Umezawa chẳng phải là chuyện thú vị, nhưng chí ít chị ta cũng phải quan tâm đến sự liên đới của cha mình trong vụ án này chứ nhỉ. Có lẽ tôi nên mang theo cuốn sổ ghi chép của ông Takegoshi. Mối liên hệ của chúng tôi với ông ấy chắc chắn nâng tầm chúng tôi lên cao hơn đám thám tử nghiệp dư vẫn đến gõ cửa nhà họ. Tôi có thể nói tôi là bạn thân của con gái ông Takegoshi. Tuy là lời nói dối, nhưng tôi phải làm những gì cần thiết. Điều tôi muốn là thu được manh mối dù nhỏ nhất chứng tỏ rằng Heikichi Umezawa chưa chết. Ngoài ra, tôi còn muốn tìm hiểu xem cuộc sống của Yasukawa thế nào sau vụ việc. Nếu Heikichi chưa bị sát hại, có lẽ họ vẫn giữ liên lạc với nhau chăng?
Lần này, không còn những người giặt giũ ở lối đi. Tôi gõ cửa. Chủ nhà mở cửa và không hề giấu vẻ khó chịu của mình khi lại nhìn thấy tôi.
“Tôi rất xin lỗi, xin bỏ qua cho tôi, tôi không có ý thiếu tôn trọng, tôi thực sự rất xin lỗi.” tôi nói, cúi người nhiều lần. Tôi đang cố gắng để một vài lời của mình lọt được vào trong nhà trước khi chị ta ra đóng sập cửa trước mặt tôi. “Tôi tự mình đến đây. Tôi có vài thông tin mới về vụ việc, và tôi muốn kể cho chị nghe về nó…”
Có lẽ trông tôi rất nghiêm túc, thậm chí hơi ngốc ngếch khi xin lỗi rối rít. Người phụ nữ mỉm cười, từ từ bước ra khỏi cửa. “Chúng ta ra bờ sông nhé,” chị ta nói. “Con tôi thích được ra ngoài.”
Ra đến sông, tôi bắt đầu nói liên tục, chỉ dừng lại để thở. Thật kỳ cục, người phụ nữ này không quan tâm đến câu chuyện của tôi như tôi mong đợi, mặc dù vẫn lắng nghe, cuối cùng chị ta lên tiếng.
“Chà, anh Ishioka, tôi có thể nói gì với anh đây? Tôi lớn lên ở Tokyo. Nhà tôi gần ga Hasunuma trên tuyến Ikegami, nhưng mẹ tôi thường đi bộ tới Kamata để đỡ tốn tiền,” chị ta mỉm cười chua chát. “Cha mẹ tôi không kể với tôi về thời tuổi trẻ của họ, cho nên tôi không biết giúp được bao nhiêu cho anh. Những gì tôi thật sự biết là sau vụ án mạng nhà Umezawa, cha tôi gia nhập quân đội. Ông ấy bị thương trong chiến tranh: tay phải bị liệt. Khi trở lại Nhật Bản, ông ấy gặp mẹ tôi và cưới bà. Mới đầu họ rất hạnh phúc, nhưng sau đó cha tôi sa vào một lối sống khá bạc nhược. Chúng tôi lâm vào túng quẫn và sống nhờ trợ cấp, trong khi ông ấy chơi cờ bạc. Ngày nào cha tôi cũng mò tới các đường đua Omori và Oi. Mẹ tôi buộc phải làm việc kiếm tiền. Căn hộ của chúng tôi chỉ là một phòng rộng bằng sáu manh chiếu. Nó quá nhỏ cho ba người, nhưng không còn lựa chọn nào khác. Cha tôi say xỉn và đánh đập mẹ tôi hằng ngày. Thỉnh thoảng ông ấy bị ảo giác, khăng khăng cho rằng ông nhìn thấy những người thân đã chết từ lâu…”
Tôi phải ngắt lời. “Họ là ai? Cụ ông có nhắc đến Heikichi Umezawa không?”
“Tôi đoán anh sẽ hỏi như thế. Có, tôi nghe cha tôi nhắc đến ông Umezawa, nhưng làm sao chúng tôi tin được cha mình? Cha tôi không mấy khi làm được những việc có ý nghĩa. Có lẽ cha tôi bị phê thuốc hoặc say rượu. Anh biết đấy, cha tôi thỉnh thoảng có dùng moóc phin.”
“Nếu cha chị thực sự nhìn thấy Umezawa thì ông cụ sẽ là một nhân chứng rất quan trọng trong vụ án.”
Đầy phấn chấn và hứng khởi, tôi nói với người phụ nữ về giả thiết của mình: Heikichi giết người thế mạng và biến mất; Heikichi giết Kazue để giữ bí mật tội ác của mình; chỉ có Heikichi mới có động cơ thực hiện vụ án mạng Azoth…
Mối quan tâm của Kato với vụ việc dường như càng giảm hơn nữa. Chị ta xốc đứa bé trên lưng, để cho gió thổi qua tóc mình.
“Thế cha chị có nhắc nhở gì đến Azoth không?” - Tôi hỏi.
“Chà, có thể có, nhưng lúc đó tôi còn nhỏ… tôi nghĩ tôi có nghe thấy cái tên Heikichi Umezawa lại được nhắc đến gần đây, nhưng tôi không quan tâm đến vụ việc hoặc con người đó. Tôi vẫn cảm thấy phẫn nộ khi nghe đến tên lão. Nó chỉ mang lại những ký ức buồn đau. Toàn những kẻ lạ mặt đến làm phiền chúng tôi. Nhiều lúc tôi về nhà và thấy có người chờ cha trong căn hộ của mình chỉ để hỏi một câu ngớ ngẩn. Chúng tôi chẳng còn quyền riêng tư, và tôi sống trong tình trạng bức bối mỗi ngày. Thậm chí đến tận hôm nay, tôi vẫn thấy bực. Đó là một trong những lý do khiến chúng tôi chuyển đến Kyoto.”
“Tôi rất xin lỗi. Chị đã phải chịu quá nhiều đau khổ, và tôi chỉ làm tăng thêm điều đó. Tôi rất xin lỗi đã đến làm phiền chị.”
“Đừng xin lỗi nữa. Tôi cũng xin lỗi vì thái độ của tôi ngày hôm trước. Các anh đến vào đúng thời điểm khó chịu và tôi đã không kiềm chế được.”
“Chị thật tốt và tôi cảm ơn chị vì đã nói chuyện với tôi. Mẹ chị có khỏe không ạ?”
“Mẹ tôi ly hôn với cha tôi. Bà cụ muốn mang tôi theo, nhưng cha tôi không chịu. Sau khi mẹ tôi ra đi, ông cụ thực sự là người cha rất tốt với tôi. Tôi rất tiếc vì cha tôi đã phải rời bỏ công việc mà ông cụ yêu thích. Chúng tôi nghèo, nhưng thời điểm đó rất nhiều người nghèo, cho nên tôi chẳng bao giờ cảm thấy xấu hổ về điều kiện sống của chúng tôi cả.”
“Cha chị có bạn bè thân thiết nào không?”
“Ông ấy đánh bạc và bù khú rượu chè với nhiều người khác nhau, nhưng chỉ có một người bạn thân là Shusai Yoshida. Cha tôi vô cùng ngưỡng mộ ông ấy.”
“Shusai Yoshida vẫn còn sống chứ?”
“Đúng, ông ấy còn sống.”
“Ông ấy làm gì?”
“Tôi nghĩ ông Yoshida là một thầy bói kiểu Trung Hoa. Có lẽ ông ấy trẻ hơn cha tôi đến mười tuổi. Họ gặp nhau trong một quán rượu ở Tokyo.”
“Ở Tokyo ư?”
“Vâng, đúng như vậy.”
“Cha chị cũng quan tâm đến tướng số phải không?”
“Tôi không nghĩ vậy. Cha tôi quý ông Yoshida vì họ cùng chung sở thích chế tạo búp bê.”
“Chế tạo búp bê ư?”
“Vâng, tôi nghĩ đó là lý do khiến họ trở thành bạn bè. Sau khi ông Yoshida chuyển đến Kyoto, cha tôi cũng làm theo.”
“Chị có kể chuyện này cho cảnh sát không?”
“Kể cho cảnh sát ư? Tại sao tôi phải làm thế? Không, chẳng bao giờ.”
“Thế còn tất cả những thám tử nghiệp dư? Chị có kể với họ điều gì liên quan đến chi tiết này không?”
“Không, không. Anh là người đầu tiên đấy.”
“Tôi muốn hỏi chị thêm hai câu. Từ những điều chị nghe cha mình nói, chị có nghĩ Heikichi Umezawa còn sống không? Và chị có nghĩ rằng ông ấy thực sự đã tạo ra Azoth không?”
“Tôi không biết. Tôi không chú ý nghe cha tôi cho lắm. Có vẻ cha tôi tin rằng Umezawa vẫn còn sống, nhưng - để tôi nói lại với anh điều này - cha tôi đã mất hết mọi cảm xúc. Nếu anh gặp ông cụ, anh sẽ nhận thấy điều đó. Tại sao anh không tới gặp ông Yoshida nhỉ? Ông ấy đáng tin cậy hơn nhiều. Cha tôi hoàn toàn tin tưởng ông. Tôi không nghĩ ông Yoshida sẽ thêu dệt sự thật.”
“Ông Yoshida sống ở đâu?”
“Tôi chỉ gặp ông có một lần và tôi không có địa chỉ hay số điện thoại gì cả. Tôi chắc là ông Yoshida sống gần xưởng xe Karasuma ở khu Kita, Kyoto. Khu vực đó ở cuối phố Karasuma. Nếu anh hỏi thăm, tôi tin chắc anh sẽ đến được nơi đó.”
Tôi cảm ơn người phụ nữ và cáo từ. Chị ta quay đi, nựng nịu đứa con và không hề ngoái lại nhìn tôi.
Tôi đi xuống bờ sông, len vào đám lau lách, theo một lối hẹp ra mép nước. Lau lách mọc cao hơn cả tôi, khiến tôi có cảm giác đang đi qua một đường hầm. Ở mép nước, những con sóng nhẹ nhàng vỗ vào bờ đất đen. Tôi ngước nhìn lên. Cây cầu sắt đổ bóng xuống dòng sông trong ánh sáng đang nhạt dần và những ánh đèn pha ô tô đã bắt đầu nhấp nháy.
Cuộc trò chuyện với con gái ông Yasukawa khiến tôi thêm nhiệt huyết.
Vậy là Yasukawa nghĩ rằng Heikichi chưa chết…Yoshida Shusai hẳn phải biết điều gì đó.
Lúc đó là 7giờ 5 phút tối ngày mùng 9. Chúng tôi còn đúng 3 ngày thì hết hạn. Tôi không thể lãng phí thêm thời gian nữa. Tôi bắt tàu trở lại Shijo-Kawaramachi rồi đón xe buýt đến xưởng xe Karasuma. Tôi không biết đường nhưng xe buýt ở đây chạy loanh quanh khắp phố. Gần 10 giờ tối thì tôi đến nơi. Đường phố vắng ngắt. Tôi đi bộ kiếm ngôi nhà có tên Yoshida, nhưng không tìm thấy. Tôi phải nhờ đồn cảnh sát khu vực chỉ dẫn.
Cuối cùng, tôi cũng tìm thấy nhà, nhưng trong nhà không sáng đèn. Lại quá muộn! Tôi quyết định sẽ quay lại vào ngày hôm sau. Hy vọng khi đó ông ấy sẽ có nhà.
Khi tôi trở về căn hộ của Emoto, Kiyoshi và Emoto đã đi ngủ. Kiyoshi còn tử tế dọn sẵn giường cho tôi - có lẽ cậu ấy không muốn bị quấy rầy đêm khuya khi đã ngủ bởi những tiếng lịch kịch dọn giường. Nhừng dù sao tôi cũng rất cảm kích. Tôi khẽ khàng chui vào chăn, nghĩ về tất cả những chuyện đã xảy ra và tất cả những gì phía trước. Hơi thở của tôi chậm lại và tôi chìm vào một giấc ngủ say.
Cảnh 5: Thợ làm búp bê
Sáng hôm sau khi tôi thức giấc thì Kiyoshi và Emoto đều đã đi cả. Tôi lại lỡ cơ hội kể cho Kiyoshi những điều đã biết từ con gái ông Yasukawa, thông tin khiến tôi rất phấn khởi. Tôi hơi tiếc vì đã ngủ nướng, nhưng rồi chợt nghĩ ra: tôi có thể tự mình tiếp tục quá trình tìm kiếm. Và nếu tôi giải quyết được vụ án trước Kiyoshi thì đó sẽ là một kết thúc quá ư có hậu.
Tôi thay quần áo và đi thẳng tới xưởng xe Karasuma. Tôi đến nhà Shusai Yoshida lúc khoảng 10 sáng. Tôi đẩy cánh cửa trượt ở lối vào và gọi to để xem có ai ở nhà không. Một bà lão mặc kimono xuất hiện. Tôi thưa rằng tôi muốn nói chuyện với ông Yoshida.
“Tôi e rằng chồng tôi đang ở Nagoya,” bà lão đáp.
Tôi thấy lòng chùng hẳn xuống. “Chà, cho phép cháu hỏi khi nào bác trai sẽ về ạ?”
“Có lẽ tối nay.”
Chậc, thế còn hơn không. Tôi xin hỏi số điện thoại để gọi trước khi tới lần nữa.
Chán nản, tôi đi bộ về phía nam dọc sông Kamo cho tới khi dòng chảy nhập vào sông Takano. Thật tình cờ, tôi nhận ra mình đã ở gần Imadegawa: Đó chính là nơi gia đình vợ cũ của Heikichi, bà Tae, đã từng sống một cuộc sống không mấy hạnh phúc.
Giờ đã là ngày mùng 10. Chỉ hai ngày nữa, chúng tôi phải kết thúc giao kèo với Takegoshi Con. Tôi có cảm giác rằng chúng tôi không thể thu được gì vào thời gian đó, cho dù tối nay thu được manh mối quan trọng từ Shusai Yoshida hoặc có được một chỉ dẫn bất ngờ nào đó vào ngày mai.
Tôi gọi đến nhà Yoshida lúc 2 giờ chiều. Bà lão cho tôi biết lão vẫn chưa về và xin lỗi tôi. Tôi không muốn cứ làm phiền bà nên quyết định không gọi lại trước 5 giờ chiều. Tôi cảm thấy tâm trạng thất vọng ngày càng tăng.
Tôi ngồi trong công viên một lúc rồi đi tới một hiệu sách. Cuối cùng, tôi ghé vào một quán cà phê ở tầng hai để có thể nhìn người ta qua lại mà không để họ phát hiện ra mình. Lúc 4 giờ 50 chiều, không thể đợi lâu hơn được nữa. Tôi quay số máy nhà Yoshida và phấn chấn hẳn khi nghe tin ông lão vừa về đến nhà. Tôi gác máy và chạy lao đi, suýt nữa va phải cô phục vụ đang bưng một khay cà phê nóng.
Con gái ông Yasukawa nói rằng ông Shusai Yoshida khoảng 60 tuổi; nhưng mái tóc bạc trắng khiến ông lão trông già hơn nhiều. Ông Yoshida chào tôi rất nhã nhặn và dẫn tôi vào phòng khách. Ngồi xuống trường kỷ, tôi thuật lại thật nhanh lời thú nhận của ông Bunjiro Takegoshi và cuộc trò chuyện của tôi với con gái ông Yasukawa.
“Dường như ông Yasukawa nghĩ rằng ông Heikichi Umezawa vẫn còn sống. Bác có nghĩ ông Umezawa vẫn còn sống không ạ? Và nếu đúng vậy thì ông ấy có tạo ra Azoth không?” Tôi hỏi.
Ông Yoshida im lặng ngả người trên ghế, lắng nghe rất chăm chú. Vẻ mặt ông lão thoải mái, mái tóc bạc ôm lấy khuôn mặt hơi dài với ánh mắt dịu dàng nhưng sắc bén. Dáng điệu của chủ nhà toát lên vẻ chính trực và căng tràn sức sống. Thật ngạc nhiên là ông ấy rất hợp với hình ảnh con sói đơn độc mà tôi hình dung.
“Dĩ nhiên tôi có biết vụ án,” ông lão bắt đầu nói. “Tôi đã tìm hiểu vụ việc bằng kỹ thuật đoán số mệnh nhưng không có bất kỳ kết luận gì về cái chết của Heikichi Umezawa. Tôi nghĩ 60% khả năng là ông ấy đã chết. Về Azoth, theo tôi chắc Heikichi đã tạo ra nó. Tôi là thợ làm búp bê, nên tôi hiểu suy nghĩ của ông ấy. Nếu Heikichi gây ra các vụ án mạng thì không có lý do gì ông ấy lại không hoàn thành ý tưởng sáng tạo của mình.”
Đúng lúc đó, bà vợ ông Yoshida bưng một ít trà và bánh ngọt bước vào phòng. Tôi nhận ra do quá chú tâm với những suy nghĩ của mình nên quên mang theo một món quà theo phong tục truyền thống. Tôi bối rối xin lỗi.
“Ồ, đừng ngại,” ông Yoshida cười to, khiến tôi cảm thấy an tâm.
Các giá sách trong phòng khách đầy kín sách và đủ các loại búp bê; một số con được làm bằng gỗ, một số bằng nhựa tổng hợp. Hầu hết số búp bê ấy trông vô cùng sống động. Tôi hỏi ông Yoshida xem mối quan tâm đến nghề làm búp bê của ông lão hình thành như thế nào.
“Chà, thật sự thì tôi quan tâm đến con người. Không dễ giải thích mối liên hệ này trừ phi có cùng chung sở thích.”
“Cháu hiểu. Nhưng bác nói bác có thể hiểu niềm đam mê của ông Heikichi Umezawa đối với việc tạo ra Azoth.”
“Để tôi giải thích nhé. Có gì đó rất kỳ diệu - nói như thế đúng hơn - về công việc chế tạo búp bê. Búp bê là bản sao của con người. Khi tạo ra một con búp bê một cách suôn sẻ, chúng ta có được cảm giác nhất định về sự sáng tạo. Chúng ta cảm thấy như thể con búp bê đang dần dần có linh hồn. Tôi đã từng có cảm giác này nhiều lần. Chính vì thế, khi làm búp bê, luôn có một cảm giác kỳ lạ về sức mạnh. Cảm giác mà tôi có được sâu xa đến mức tôi không thể nào tìm được đúng từ để diễn đạt xem tại sao nó lại cuốn hút tôi đến vậy. Từ ‘cuốn hút’ chưa thật sự đúng với những gì tôi cảm nhận. Theo truyền thống, anh Ishioka ạ, người Nhật không thích làm búp bê lắm. Thời xưa, họ làm những hình haniwa trong các dịp lễ; đó là hình nhân thế mạng thay cho những người bị chôn sống làm vật hiến tế. Làm búp bê có ý nghĩa như là tạo ra một con người chứ không phải là một sở thích hay nghệ thuật. Thực tế, người Nhật xưa rất sợ rằng một con búp bê có thể đánh cắp linh hồn họ. Đó là lý do tại sao họ không muốn tạo ra chúng hoặc thậm chí không vẽ những bức chân dung: điều đó không phải do họ thiếu kỹ năng. Vẽ chân dung - cũng như làm búp bê - là một điều cấm kỵ. Chính vì thế rất ít chân dung hoặc tượng của các hoàng đế và tướng lĩnh ở Nhật Bản, trong khi ở Hy Lạp và La Mã đến đâu cũng gặp tượng và chân dung của các hoàng đế và anh hùng. Ở Nhật Bản cổ đại, chỉ có Đức Phật được tạc tượng. Chuyện này nghe có vẻ buồn cười trong xã hội hiện đại, nhưng đó là tín ngưỡng xa xưa. Thợ thủ công dành cả đời mình cống hiến cho công việc. Nghề làm búp bê chỉ trở thành một sợ thích phổ biến vào cuối thập niên 1920.”
“Vậy ý tưởng về Azoth là…”
“Chà, có thế đó là một mối quan tâm về mặt tri thức, nhưng dĩ nhiên nó cũng là một khái niệm hoàn toàn vô nhân đạo. Sử dụng người thật để làm búp bê là trái với các quy định, là chống lại tự nhiên. Xét về lịch sử, tôi có thể đoán được ông Umezawa lấy ý tưởng đó từ đâu. Có lẽ hầu hết những người chế tạo búp bê nghiêm túc ở thế hệ tôi đều biết điều này, nhưng không ai theo con đường mà ông ta chọn. Đó là vấn đề nguyên tắc. Ý tưởng của ông Umezawa rất xa lạ với những ý tưởng của một thợ làm búp bê.”
“Rất thú vị. Cháu bắt đầu hiểu ý bác là gì rồi, bác Yoshida. Nhưng bác nói có thể ông Umezawa đã chết. Tại sao bác lại nghĩ như vậy?”
“Đó là phán đoán của tôi. Vừa là thợ làm búp bê vừa là thầy bói, tôi rất tò mò với vụ án này. Bên cạnh đó, như anh biết đấy, tôi biết Yasukawa, bạn của Umezawa. Rất có thể Umezawa còn sống, nhưng để chứng minh, tôi cần phải có bằng chứng cụ thể, nhưng tôi lại không có. Cảm nhận của tôi dựa trên cảm giác chứ không phải logic. Tôi trình bày như thế này để anh nghe nhé, anh Ishioka. Giả sử Umezawa còn sống, ông ấy vẫn cần phải có liên hệ với xã hội. Cho dù ông ấy ẩn nấp trong một vùng núi thì ông ấy cũng sẽ vẫn cần ăn. Chuyện đó rất không đơn giản như người ta nghĩ. Nếu dân làng nhìn thấy ông Umezawa đi kiếm thức ăn, họ sẽ nghĩ ông ấy là kẻ lang thang và sẽ báo cảnh sát. Và nếu Umezawa chọn sống trong một đô thị thì láng giềng của ông ấy cũng sẽ muốn biết ông này là ai và từ đâu đến.
“Người Nhật rất thóc mách, tôi nghĩ họ quá chú ý đến người khác. Nhật Bản là một hòn đảo và do tinh thần đảo quốc nên bất kỳ cộng đồng nào cũng sẽ sớm có thái độ ngờ vực với một người như Umezawa dù rằng ông ta có định sống ở đâu đi chăng nữa. Giả sử Umezawa tự sát sau khi tạo ra Azoth; xác chết chắc chắn sẽ bị phát hiện. Sẽ có ai đó chôn cất hoặc hỏa táng cái xác. Rõ ràng, ông ấy không thể làm việc đó một mình được. Và chính vì thế nên không thể nghĩ rằng Umezawa còn sống được.”
“Bác đã bao giờ nói chuyện này với ông Yasukawa chưa?”
“Có, tôi từng nói rồi.”
“Thế ông ấy bảo sao?”
“Ông bạn tôi không nghe tôi nói. Ông già đó hơi cuồng tín với những quan niệm của riêng mình.”
“Đúng vậy, cháu nghe nói ông Yasukawa tin rằng ông Umezawa vẫn còn sống… Nhưng bác nghĩ chuyện gì đã xảy ra với Azoth?”
“Theo ông Yasukawa, nó đã được tạo ra và đặt ở đâu đó tại Nhật Bản.”
“Ông ấy có đề cập đến vị trí cụ thể nào không ạ?”
“Có chứ,” ông Yoshida đáp và đột nhiên cười phá lên.
“Ông ấy nói đó là chỗ nào ạ?”
“Ở Meiji-Mura… Làng Meiji. Anh có biết chỗ đó không?”
“Cháu chỉ vừa mới nghe đến cái tên đó thôi.”
“Đó là một công viên di sản do Công ty Đường sắt Meitetsu phát triển ở Inuyama thuộc tỉnh Aichi, phía bắc Nagoya. Mọi thứ đều mô phỏng theo cuộc sống thời Minh Trị (1868-1912) và đến giờ vẫn còn hàng chục tòa nhà cổ tồn tại từ thời đó. Rất tình cờ vì hôm qua tôi vừa mới ở đây về.”
“Thật không ạ? Nhưng Azoth nằm ở chỗ nào tại Meiji-Mura chứ? Được chôn ở đâu đó chăng?”
“Chà, trong công viên có một bưu điện cũ, từ Uji-Yamada, nơi trưng bày những vật lưu niệm của ngành bưu chính Nhật Bản qua nhiều năm. Nó có cả những hình mẫu các nhân viên đưa thư trong bộ đồng phục thuộc các thời kỳ khác nhau, những hòm thư cổ lỗ sĩ - đại loại như thế.”
“Vậy là giống như một bảo tàng ạ?”
“Đúng. Hiện tại triển lãm có duy nhất một ma-nơ-canh nữ trong góc phòng. Yasukawa khăng khăng cho rằng đó chính là Azoth!”
“Sao cơ ạ…? Thật không tin nổi! Nhưng chúng ta không thể truy nguyên xem nó xuất xứ từ đâu ư? Điều đó hoàn toàn có thể cơ mà, phải không bác?”
“Ồ, anh không cần phải truy nguyên xuất xứ đâu, anh Ishioka ạ. Đó là một dự án mà cá nhân tôi có tham dự, Anh biết đấy, tôi là nhân viên Công ty Sản xuất Ma-nơ-canh Owari ở Nagoya, nằm trong nhóm chuyên qua lại giữa Nagoya và Kyoto, sản xuất ma-nơ-canh cho toàn bộ công viên Meiji-Mura. Nhưng có chuyện bí ẩn xảy ra: đúng hôm khai trương, chúng tôi phát hiện thấy có một mẫu ma-nơ-canh mà chúng tôi không chế tạo đã được cho thêm vào để trưng bày. Đó là một ma-nơ-canh nữ, và không phải là sản phẩm của bất cứ ai trong số chúng tôi cho nên mọi người kết luận rằng ban quản lý Meiji-Mura đã thay đổi quan điểm và bổ sung vào phút cuối cùng. Yasukawa cũng không hẳn điên khùng khi nghĩ đó là Azoth, bởi vì ma-nơ-canh này thực sự có diện mạo rất đặc biết.”
“Hôm nay bác đến Meiji-Mura để sửa chữa ma-nơ-canh à?”
“Không. Tôi đến thăm một người bạn, cũng là một nghệ nhân. Phải thú nhận rằng tôi mê nơi đó; nó gợi cho tôi nhớ đến thời tuổi trẻ của mình ở Tokyo. Người ta đã dẹp bỏ nhiều công trình cũ: một phần của Khách sạn Hoàng đế - do Frank Lloyd Wright thiết kế - rồi Cầu sông Sumida cũ, đại loại những thứ kiểu như thế. Ở đó rất thanh bình vì ngày thường không có nhiều khách ghé thăm. Tokyo thì quá đông đúc, tôi chịu chẳng thể sống ở đấy được nữa. Kyoto cũng tốt, nhưng tôi nghĩ Meiji-Mura rất tuyệt. Thỉnh thoảng tôi lại ghen tị với bạn mình vì được làm việc ở đó.”
“Nó là một nơi đẹp thế kia ạ?”
“Ồ, một nơi hoàn hảo. Không biết liệu cánh thanh niên có đồng ý với tôi không.”
“Nhưng, trở lại với ma-nơ-canh nữ… Bác vẫn cười nhạo ý tưởng của ông Yasukawa về chuyện coi nó là Azoth ư?”
“Chậc, Yasukawa lúc nào cũng đắm chìm trong những điều tưởng tượng. Tôi chẳng bao giờ xem ông ấy là nghiêm túc cả.”
“Nhưng ông ấy đã chuyển tới Kyoto để được gần bác, có phải không ạ?”
“Tôi không biết,” Yoshida mỉm cưới, thoáng chút cay đắng.
“Chắc hai bác là bạn bè thân thiết?”
“Bạn tôi thường xuyên tới thăm tôi. Tôi không định nói xấu người đã khuất, nhưng nói thật với cậu, những ngày cuối đời ông Yasukawa có vẻ rất lạ. Cố gắng giải quyết vụ án hoàng đạo trở thành nỗi ám ảnh của ông ấy. Tôi biết đó là sở thích của nhiều người, nhưng với ông Yasukawa thì nó biến thành một dạng nghiện. Bạn tôi thảo luận về vụ án với tất cả mọi người ông ấy gặp. Ông lão cũng bị ốm. Luôn có một chai nhỏ rượu mạnh trong túi. Tôi khuyên ông ấy nên cai rượu, nhưng lời khuyên của tôi bị bỏ ngoài tai. Ông ấy không quan tâm đến cái gì khác ngoài việc nhâm nhi chai rượu và say sưa phân tích những quan điểm về các vụ án, cho dù người nghe có quan tâm dù chỉ chút xíu hay là không. Cho nên cuối cùng người ta tìm cách lảng tránh ông lão. Những lần ghé chơi nhà tôi thưa hơn sau một lần tôi thể hiện thái độ bực bội. Nhưng hễ khi nào có một giấc mơ, ông lão lại chạy ngay đến kể cho tôi một cách tường tận. Phần lớn thời gian Yasukawa chẳng làm được gì có ý nghĩa. Ông ấy đánh mất mối liên hệ với thực tiễn. Đỉnh điểm là lần ông ấy chỉ một người bạn khác của tôi và tuyên bố, ‘Người này chính là Heikichi Umezawa!’ Rồi sụp xuống sàn, vái lấy vái để và kêu khóc ‘Đã lâu rồi mới được gặp lại ông, ông Umezawa!’ Bạn tôi có một cái sẹo phía trên lông mày, và đó có vẻ là điều khiến Yasukawa chú ý.”
“Ông Umezawa cũng có một cái sẹo ư?”
“Tôi không rõ. Chắc chỉ có ông Yasukawa mới biết.”
“Bác vẫn còn liên lạc với người bạn đó của bác chứ?”
“Có, ông ấy là một trong những người bạn thân thiết nhất của tôi. Ông ấy là người tôi vẫn tới thăm tại Meiji-Mura.”
“Cháu hiểu. Cháu xin tên ông ấy được không?”
“Hachiro Umeda.”
“Hachiro Umeda ạ?!”
“Đừng vội rút ra bất kỳ kết luận gì, anh Ishioka. Yasukawa tin rằng Hachiro Umeda chính là Heikichi Umezawa. Tên của họ nghe có vẻ giống nhau, nhưng không hề có bất kỳ bằng chứng gì cho thấy họ là cùng một người. Umeda là một cái tên rất thông dụng ở khu vực Kansai, và trên thực tế, ga lớn nhất tại Osaka lại nằm ở một nơi gọi là Umezawa.”
Măc dù Yoshida cố gắng phủ nhận bất kỳ mối liên hệ nào nhưng sự nghi ngờ của tôi càng tăng thêm nữa. Tôi chú ý đến cái tên Hachiro hơn là cái họ Umeda. Hachi nghĩa là “tám” và chính xác đã có tám nạn nhân trong vụ án Hoàng đạo: Heikichi (hoặc kẻ đóng thế, nếu ý tưởng của tôi là đúng), Kazue, và sáu cô gái nhà Umezawa.
“Theo như tôi biết,” Yoshida tiếp tục, “Umeda chưa bao giờ sống ở Tokyso. Ông ấy trẻ hơn tôi, cho nên không thể là ông Umezawa được. Ông Yasukawa đã nhầm lẫn vì cho rằng Umeda trông giống Umezawa thời còn trẻ.”
“Thế ông Umeda làm gì ở Meiji-Mura ạ?”
“Ông ấy làm việc tại đồn cảnh sát Kyoto Shichijo, một tòa nhà nguyên bản từ thời Minh Trị. Ông ấy không phải cảnh sát thực sự nhưng làm một số công việc của cảnh sát, mặc đồng phục cảnh sát thế kỷ 19 và vác theo kiếm.”
Tôi đang suy nghĩ xem làm cách nào tôi có thể gặp người này thì ông Yoshida xen vào như thể đang đọc được suy nghĩ của tôi. “Có lẽ cậu muốn gặp ông lấy, nhưng tôi cam đoan với cậu rằng cậu không nên coi Hachiro là Heikichi Umezawa. Ông Hachiro trẻ hơn ông Umezawa rất nhiều nếu Umezawa có sống tính đến thời điểm này và tính cách hai ông già đó thì khác nhau như nước với lửa; ông Umeda làmột diễn viên hài kịch bẩm sinh, trong khi Heikichi Umezawa là người phản kháng xã hội và hướng nội. Thêm nữa, ông Umezawa thuận tay trái, còn ông Umeda thuận tay phải.”
Lúc tôi ra về và cảm ơn Yoshida đã dành thời gian tiếp, vợ ông ấy bước ra chào tạm biệt, cúi người rất thấp. Yoshida bước ra phố cùng tôi. “Công viên Meiji-Mura mở cửa từ 5 giờ đến 10 giờ vào mùa xuân,” ông nói. “Hãy đến sớm. Cậu sẽ mất vài tiếng để thăm thú xung quanh đấy.”
Tôi cảm ơn ông lần nữa và đi về phía trạm xe buýt. Tôi ngước nhìn vầng thái dương đang lặn, hy vọng nó không phải là khúc xạ của những gì sắp tới.
Khi quay trở về, tôi thấy Emoto đang bình thản nghe nhạc nhưng không thấy Kiyoshi đâu cả.
Kiyoshi đâu? Ông đã gặp cậu ấy chưa?” Tôi hỏi.
“Có, tôi gặp lúc cậu ấy vừa ra ngoài,” Emoto trả lời.
“Cậu ấy thế nào?”
“Chà… Ừm… trông cậu ấy rất giận dữ, chẳng thèm nói với tôi đi đâu, cậu ấy chỉ nói ‘Tôi sẽ không bỏ cuộc!’ và sau đó lao ra ngoài.”
Thật tò mò. Nhưng vì đã câu được con cá của mình nên tôi hỏi mượn Emoto xe hơi vào ngày hôm sau.
“Ổ, cứ lấy mà dùng,” Emoto đáp.
Mệt nhoài sau một ngày hoạt động, tôi quyết định không thức khuya nữa. Tôi đặt chuông báo thức với hy vọng sẽ dậy được sớm. Không biết giao thông ở Kyoto có tệ hại như ở Tokyo không nhưng tôi vẫn quyết định đi từ lúc 6 giờ sáng để tránh giờ cao điểm. Đi sớm như thế tôi sẽ không gặp được Kiyoshi, nhưng biết làm sao được: Rõ ràng cậu ấy đang đi theo con đường riêng của mình và tôi cũng vậy. Chúng tôi sẽ nói chuyện khi tôi quay về vào buổi tối.
Tôi trải nệm ra sàn và trải sẵn cả cho Kiyoshi để đáp lại sự giúp đỡ của cậu ấy lần trước, đoạn kéo chăn trùm kín đầu và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.
Cảnh 6: Ma-nơ-canh
Tôi có một giấc mơ kỳ dị. Khi thức giấc, tôi không thể nhớ được nội dung giấc mơ đó, nhưng cứ nghĩ đến nó thì thấy rùng mình.
Kiyoshi vẫn đang ngủ. Tôi nghe tiếng cậu càu nhàu khi tôi chui ra khỏi túi ngủ.
Bên ngoài trời rất lạnh, nhưng không khí thật trong lành. Tôi hoàn toàn tỉnh táo khi xuống đến chân cầu thang.
Xe của Emoto khởi động rất dễ, tôi lái ra Cao tốc Meishin, hòa vào dòng xe cộ lưu thông một cách thuận lợi. Một tấm biển quảng cáo trên bãi trống bên tay trái lọt vào tầm mắt. Một cô gái đang mỉm cười bên cạnh chiếc tủ lạnh, mái tóc tung bay trong gió. Đột nhiên, giấc mơ trở lại với tôi. Một thiếu nữ xinh đẹp, hoàn toàn khỏa thân, đang vùng vẫy giữa đại dương, mái tóc dài của cô ta dập dờn theo sóng. Hai bầu vú, bụng và đầu gối của cô ta gầy một cách bất thường, như thể được bó chặt lại bằng một sợi dây. Cô gái nhìn thẳng vào tôi, nhưng tôi không tài nào nhận ra cô ta. Dường như cô gái đang ra hiệu cho tôi trong sự im lặng lạnh lùng. Sau đó cô gái biến mất dưới những lớp sóng tối đen.
Tôi ớn lạnh khi nghĩ tới giấc mơ. Phải chăng đó là một dạng thông điệp từ Azoth? Tôi đột nhiên nhớ đến sức mê hoặc kỳ quái đã ám ảnh Tamio Yasukawa khiến người đàn ông hóa điên và nhảy xuống biển...
Tôi ra khỏi đường cao tốc ở giao lộ Komaki và dòng xe cộ đột nhiên trở nên đông đúc hơn. Mãi tới 11 giờ trưa tôi mới đến được Meiji-Mura. Tôi đỗ xe và lên một chiếc xe buýt chở du khách tới lối vào công viên. Đường rất hẹp, cành lá của những cái cây thấp tè liên tục quét qua kính xe buýt chẳng khác gì đang đi trong rừng. Rồi đột nhiên một vùng nước xanh thẫm hiện ra - hồ Iruka. Công viên di sản được thiết kế giống như một bảo tàng ngoài trời khổng lồ.
Tôi lần theo bảng chỉ dẫn tới khu phục chế một trung tâm thị tứ điển hình của thời Minh Trị. Điều làm tôi ấn tượng nhất đó là toàn bộ nơi này trông chẳng khác gì của Mỹ. Rõ ràng là các kiến trúc sư thời Minh Trị chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong cách xây dựng phương Tây. Rất ít công trình từ thời đó còn lại nguyên vẹn đến ngày nay ở Nhật Bản: quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã làm thay đổi cảnh quan đô thị, dẫn đến tình trạng mai một phong cách truyền thống. Trong khi đó, người Anh vẫn sống trong những ngôi nhà cổ xưa với đồ đạc như cũ từ thời Sherlock Holmes. Một thành phố Nhật Bản điển hình trông rất tẻ nhạt và thiếu điểm nhấn: mọi tòa nhà mới xây đều trông như một nhà máy hoặc nhà tù. Bị bao bọc trong những bức tường trát vữa và những ô cửa sổ nhỏ xíu, người dân chẳng khác gì đang sống trong những nghĩa địa. Dân cư sống không thọ do bị nhồi nhét trong những tòa nhà kiểu phương Tây: có lẽ phong cách này không thật sự phù hợp với khí hậu Nhật Bản. Trước đây, vào mùa hè, người ta ưa để cửa sổ mở để giảm sức nóng và độ ẩm trong nhà. Ngày nay để bảo vệ sự riêng tư của mình, họ xây nhà bằng những khối bê tông dày cộp bốn xung quanh. Kết quả của sự thành công trong kinh tế thời hậu chiến ở Nhật Bản đã khiến hầu hết các hộ gia đình Nhật ngày nay, phụ thuộc vào máy điều hòa nhiệt độ. Sớm muộn, chúng ta cũng phải tìm cách loại bỏ những khối bê tông xấu xí ấy.
Trong lúc lang thang ở Meiji-Mura, tôi bắt đầu ao ước rằng kiến trúc Nhật Bản sẽ lấy lại nét phóng khoáng như đã từng có trước đây.
Tôi đi qua một cửa hàng thịt và Nhà thờ Thánh John, sau đó đến hai công trình truyền thống Nhật Bản. Một trong số đó là ngôi nhà thuần Nhật Bản nơi nhà văn Soseki Natsume đã viết tiểu thuyết nổi tiếng Tôi là con mèo. Có vài người đang ngồi ngoài hiên. Một người trong số họ bắt chước Natsume gọi to, “Lại đây, mèo con, mèo con!”. Giá mà Kiyoshi có mặt ở đây, cậu ấy hẳn sẽ rất khoái đóng giả làm nhà văn huyền thoại đó.
Ý nghĩ tiếp nối ý nghĩ, và tôi nhớ lại một dòng trong cuốn tiểu thuyết khác của Natsume, cuốn Thế giới ba góc. Tôi nhớ đến nó khi tôi đọc lần đầu tiên:
“Tiếp cận mọi việc một cách lý trí, bạn sẽ trở nên cay nghiệt. Bơi đi trong dòng cảm xúc, bạn sẽ bị cuốn phăng đi… Thế giới này của chúng ta không phải là nơi sinh sống dễ chịu.”
Tôi dám chắc Kiyoshi rất hợp với hình ảnh đầu tiên. Trong khi đó, tôi là tuýp người thiên về tình cảm hơn: tôi luôn dễ dàng bị cuốn đi. Cả hai chúng tôi đều không thành công trong thế giới xô bồ. Lúc này đây tôi càng thấm thía những gì Natsume nói. Bunjiro Takegoshi rất giống tôi ở khía cạnh này - đó là con người của tình cảm. Nếu tôi rơi vào tình huống của ông ta, chắc tôi cũng sẽ làm đúng những gì ông đã làm. Và dĩ nhiên, thế giới này không phải là nơi dễ chịu để ông ấy sống.
Gần ngôi nhà của Natsume có mấy bậc cấp đá, khi tôi bước xuống đó, một con mèo trắng chạy vụt qua trước mặt tôi. Nó khiến tôi mỉm cười: bất kỳ ai nuôi mèo đều có khiếu hài hước cả. Bậc cấp dẫn xuống một quảng trường thực chất là nhà ga xe điện Kyoto cũ chạy quanh thành phố. Ở góc phố khác, một nhóm thiếu nữ đang cười khúc khích khi chụp ảnh cùng một người đàn ông trung niên trong trang phục cảnh sát thời xưa. Ông mặc quần dài màu đen có đường chỉ vàng chạy dọc bên sườn, thắt lưng đeo thanh kiếm cũng màu vàng. Trong khi các cô gái lần lượt tạo dáng thì viên cảnh sát vân vê bộ ria rậm cong vút hình ghi đông của mình khiến cho các cô gái cười ngặt nghẽo. Vài vị khách khác mỉm cười khi xếp hàng chờ đến lượt chụp ảnh.
Mọi thứ ở đây diễn ra thật dễ chịu và nhẹ nhàng. Nhân viên phục vụ đều đã đứng tuổi, tốt bụng và rất yêu thích công việc của mình. Bỗng nhiên tôi có cảm giác rằng người đàn ông mặc giả cảnh sát thời Minh Trị có thể chính là Hachiro Umeda. Tôi quyết định sẽ quay lại để nói chuyện với ông ta sau.
Tôi leo lên xe điện. Người soát vé đứng tuổi đục lỗ vé, đóng dấu và trao trả lại cho tôi rồi nói, “Anh có thể giữ lấy vé để làm kỷ niệm của chuyến đi.” Tôi tự hỏi lẽ nào cuộc sống ở Nhật Bản có thể yên bình dễ chịu đến vậy. Chắc chắn đây là một trải nghiệm khác xa với tàu điện ngầm ở Tokyo vào giờ cao điểm.
“Ngọn hải đăng xuất hiện bên phải quý vị vốn nằm ở Shinagawa thủ đô Tokyo… và ngôi nhà bên tay trái là nhà của nhà văn nổi tiếng Rohan Koda…” Người soát vé nói bằng giọng rất tự tin của một người kể chuyện chuyện nghiệp hoặc một diễn viên sân khấu. Mỗi lần ông chỉ vào một tòa nhà hoặc công trình lịch sử nào đó để giới thiệu, nhóm phụ nữ trung tuổi trên xe điện lại đổ dồn từ một bên này xe sang bên kia để nhìn cho rõ. Họ làm cho tôi nhớ tới hình ảnh những con trâu chạy tán loạn.
Khi xe điện dừng tại ga cuối, người soát vé nhảy ra khỏi ghế ngồi. Ngạc nhiên trước sự vận động nhanh nhẹn như vậy, tôi nhìn theo qua cửa sổ, quan sát hoạt động của ông ấy. Bất chấp tuổi tác và vóc dáng nhỏ thó của mình, người soát vé vẫn nhảy vọt lên tóm lấy sợi dây mắc vào cần truyền điện giống như một con ếch nhảy lên một cành liễu. Sau khi cái cần bị kéo xuống, người soát vé chạy bên cạnh chiếc xe khi nó xoay trên bàn quay đầu. Chuyển cần truyền điện sang hướng ngược lại, người soát vé chạy trở lại chiếc ghế ngồi của mình. Ông ta ra hiệu cho tài xế tiếp tục, chiếc xe điện lại từ từ chạy ngược lên, giống như con bò vừa thức dậy sau một giấc ngủ ngắn.
Động tác nhanh nhẹn của người soát vé khiến tôi ngạc nhiên. Dường như không ai ở Meiji-Mura tỏ ra vội vã cả và có vẻ thời gian biểu không tồn tại ở nơi này, nhưng cho dù vậy thì ông ấy cũng tỏ ra thích thú với việc vận hành mọi thứ suôn sẻ. Tôi tin chắc gia đình ông sẽ rất lo lắng nếu họ nhìn thấy công việc của một người soát vé phụ xe điện nhọc nhằn thế nào. Sự năng nổ hoạt bát cho thấy ông không hề bị đau lưng hay mất ngủ - nhưng nếu ông bị đột quỵ trong khi đang nhảy thì sao nhỉ? Chà, như vậy âu cũng là số phận mà thôi. Thực tế cho thấy người đàn ông đó sẽ hạnh phúc khi được chết cùng với sợi dây xe điện trong tay hơn là bình yên trút hơi thở cuối cùng trên giường bệnh. Tôi nhớ những gì Shusai Yoshida đã nói về việc ghen tị với bạn của mình đang làm việc ở công viên này. Tôi có thể hiểu được tại sao ông ấy lại cảm thấy như vậy.
Rời ga xe điện, tôi đi qua đường tàu hỏa Shimbashi và Nhà máy kính Shinagawa. Cuối cùng, đến Bưu điện Uki-Yamada. Tôi đã sẵn sàng gặp Azoth!
Tôi chậm rãi bước lên bậc đá và vào bên trong. Sàn gỗ ở đây được phủ một lớp dầu. Tôi cảm thấy lo lắng và sợ hãi. Ánh nắng tràn vào qua những ô cửa sổ trên cao. Những hạt bụi lơ lửng trong không trung. Tôi là người duy nhất ở đây.
Phòng triển lãm được bài trí theo trật tự niên đại, bắt đầu với hình tượng một người chạy bộ để truyền tin và phát thư tín. Kế đến là chiếc hòm thư đầu tiên được hệ thống bưu chính Nhật Bản sử dụng. Sau đó là một vài thiết kế khác nhau và kết thúc là một hòm thư màu đỏ rất quen thuộc có dáng một cây cột. Rồi đến hình ảnh bưu tá trong các kiểu đồng phục khác nhau.
Tôi bắt đầu cảm thấy bực bội. “Cô ta đâu nhỉ?” Tôi tự nói với mình khá to. Tôi xoay sang một bên và ở đó, trong một góc tối, là một ma-nơ-canh nữ mặc bộ kimono màu đỏ với mái tóc đen cắt ngang trán. Ngươi có đúng là cô ta không?
Tôi rụt rè tiến đến gần ma-nơ-canh, ngập ngừng như một đứa trẻ. Cô ta đứng thẳng, đôi mắt to đen vô hồn đăm đăm nhìn tôi. Lớp bụi trên tóc và vai của ma-nơ-canh chính là minh chứng rõ rệt cho lịch sử bốn mươi năm của cô ta.
Ngươi là ai? Ngươi muốn nói gì với ta nào?
Trong buổi chiều bình yên, đối diện với thứ bí ẩn này, tôi cảm thấy thật đơn độc, rồi đột nhiên sợ hãi. Tôi bắt đầu rùng mình và vòng tay ôm quanh mình. Tôi tựa lưng vào hàng rào bảo vệ để nhìn cho rõ hơn: đôi chân tôi muốn khụy xuống.
Nếu cô ta cử động thì sao nhỉ?
Tôi đứng sững tại chỗ - cách xa gần hai mét - đăm đăm nhìn cô ta. Ma-nơ-canh có những nếp nhăn quanh mắt. Đôi mắt bằng thủy tinh, đôi tay trông đúng là nhân tạo.
Đợi đã… những nếp nhăn trên mặt cô ta? Mình phải nhìn gần hơn nữa…
Tôi nhìn quanh chẳng thấy ai cả. Nhưng khi tôi vừa định bước qua rào chắn, cửa bưu điện bất ngờ mở và lao công bước vào, cầm theo một cây chổi và một cái xẻng và nó phát ra tiếng kêu lanh lảnh khi chạm xuống sàn.
Mất hết cả nhuệ khí, tôi hối hả rời khỏi tòa nhà bưu điện…
Cảm thấy đói ngấu, tôi mua mấy cái bánh bao cùng hộp sữa và ngồi xuống một chiếc ghế băng. Từ đây, tôi có thể quan sát rõ lối vào chính của Khách sạn Hoàng gia Tokyo nổi tiếng. Trước mặt tôi là hồ nước với một cây cầu hai nhịp. Vài con thiên nga đang lướt trên mặt nước. Quá là đẹp và yên bình vô cùng. Không thấy bóng dáng của con người. Một vệt khói bốc lên phía trên những rặng cây, rồi đầu máy hơi nước xuất hiện từ trong rừng, kéo theo ba toa xe hối hả lăn bánh lên cây cầu sắt.
Trong lúc trệu trạo nhai bánh, tôi bắt đầu băn khoăn tự vấn bản thân, tâm trạng hoàn toàn bối rối. Làm sao Tamio Yasukawa lại có thể nghĩ rằng ma-nơ-canh đó là Azoth được chứ? Không thể nào. Không, không phải ma-nơ-canh đó. Yasukawa mất trí rồi chăng? Hay có ai đó đã đánh tráo vật thật?
Tôi quay trở lại để quan sát thêm nhưng thật tiếc, trong nhà bưu điện có vài vị khách. Tôi đăm đăm ngắm nhìn ma-nơ-canh và sau đó đi tìm Hachiro Umeda.
Khi tôi quay lại thì viên cảnh sát có bộ ria ghi đông đang quét khoảng sân rộng trước đồn. “Tạm biệt ông,” một nhóm thiếu nữ vui vẻ cúi người chào khi ra về. Viên cảnh sát cũng cúi người đáp lại.
Tôi bước lại gần ông. “Cháu xin lỗi, hình như bác là Hachiro Umeda phải không ạ?” Tôi hỏi.
“Vâng, chính là tôi đây,” ông cởi mở đáp lại.
“Cháu tên là Ishioka tới từ Tokyo. Bác Shusai Yoshida có nhắc đến tên bác với cháu. Bác ấy giới thiệu cháu đến gặp bác.”
Vẻ tò mò hiện rõ trên mặt ông Umeda. Sau khi tôi giải thích mọi chuyện - lúc này tôi đã có rất nhiều thực tiễn - ông ấy đặt cây chổi xuống, mời tôi vào trong và đưa cho tôi một cái ghế.
“Để xem nào… Tamio Yasukawa… Ồ, ồ, tôi nhớ ông ta rồi. Một tay nát rượu. Ông ta chết rồi phải không? Tội nghiệp thật, lão già đó sẽ được tận hưởng cuộc đời tươi đẹp hơn nếu như chuyển đến đây. Không khí trong lành, thức ăn ngon... Mọi thứ đều tuyệt vời đối với lão ta nếu như ở đây cho phép uống rượu!” Ông ngừng lại, mỉm cười và nói tiếp, “Trong bộ đồng phục này, trông tôi cũng bảnh đấy chứ nhỉ? Đây đúng là giấc mơ của tôi đấy. Để có cơ hội mặc một bộ đồng phục với cây kiếm như thế này, tôi sẵn lòng làm bất kỳ chuyện gì - thậm chí tham gia diễu hành hoặc đứng làm mẫu chụp bích chương. Cho nên khi nhận công việc ở đây, tôi rất phấn khởi. Tôi có vài lựa chọn như soát vé trên tàu hỏa, lái xe điện hay bất kỳ việc gì, nhưng ngay tức khắc tôi chọn công việc của một cảnh sát!”
Umeda vui vẻ và thân thiện, nhưng lại khiến tôi thất vọng. Từ tất cả biểu hiện, nhiều khả năng là người đàn ông trung niên vui vẻ này chẳng thể nào là tác giả kế hoạch phức tạp của Umezawa và thực hiện những vụ sát nhân kinh khủng. Thêm nữa, trông ông ấy chỉ mới ngoài ngũ tuần, trẻ hơn rất nhiều so với Umezawa nếu như ông ta còn sống. Dĩ nhiên, chắc chắn nhờ lối sống lành mạnh mà ông có được sự trẻ trung như vậy.
Tôi hỏi xem liệu ông ấy đã từng nghe nói đến Heikichi Umezawa chưa.
“Heikichi Umezawa hả? À, chuyện đó rất thú vị. Ông Yasukawa từng có lần say khướt và gọi tôi là Heikichi Umezawa. Tôi bảo ông ta tôi không phải là Umezawa, nhưng ông ta cứ cúi gập người và nói với tôi như thể tôi chính là người đó vậy. Có lẽ tôi giống ông ấy chăng? Nhưng Umezawa là một tội phạm, cho nên tôi không thích lắm. Giờ tôi trong giống Tướng Nogi hay Hoàng đế Minh Trị, chuyện rất khác đấy. Chuyện đó làm cho tôi rất hạnh phúc!” Ông ấy cười to.
“Cháu xin lỗi, nhưng cháu có thể hỏi bác đã sống ở đâu vào năm 1936 không? Thời gian cũng quá lâu, gần bốn mươi năm rồi, nhưng…”
“Năm 1936 à? Hừm… tôi mới 20 tuổi… Hồi ấy là trước chiến tranh, cho nên tôi sống ở Takamatsu trên đảo Shikoku. Tôi làm ở một cửa hàng rượu.”
“Bác sinh ra ở Takamatsu ạ?”
“Phải rồi.”
“Nhưng bác lại nói tiếng vùng Osaka?”
“Ồ, bởi vì tôi đã sống ở Osaka một thời gian dài. Khi rời quân ngũ, vì không tìm được việc ở quê nhà, tôi chuyển tới thành phố lớn. Tôi được thuê vào một cửa hàng rượu, nhưng họ bị phá sản. Từ bấy trở đi, tôi làm nhiều việc khác nhau. Có lúc, tôi đẩy xe bán mì ramen dạo, có lúc tôi lại làm ở một nhà máy chế tạo ma-nơ-canh.”
“Có phải đó là khi bác gặp ông Yoshida phải không ạ?”
“Không, không phải, tôi gặp ông ấy sau khi tôi bỏ công việc đó, đến làm nhân viên bảo vệ ở một tòa nhà tại Osaka. Hơn mười năm trước rồi… không… có lẽ phải đến gần hai mươi năm rồi. Tôi biết một nghệ sĩ điêu khắc thuê một chỗ làm xưởng nghệ thuật ở trong cùng tòa nhà. Chúng tôi trở thành bè bạn và ông ấy giới thiệu tôi tới sinh hoạt tại câu lạc bộ làm búp bê ở Kyoto do Shusai Yoshida khởi xướng. Yoshida vừa từ Tokyo chuyển đến và còn lạ nước lạ cái nên tôi gợi ý tôi có thể giúp nếu ông ấy cần. Rốt cuộc, tôi trở thành phụ tá làm búp bê cho Shusai Yoshida. Ông ấy nói rằng chỉ làm việc này như một sở thích mà thôi, nhưng ông ấy quá khiêm tốn. Nói đến làm búp bê chẳng ai giỏi hơn ông ấy được. Đây không chỉ là ý kiến của riêng tôi đâu, tất cả các chuyên gia đều nói như vậy. Yoshida là bậc thầy trong lĩnh vực này. Kỹ thuật và nghệ thuật của ông ấy đặc biệt xuất sắc khi sáng tạo gương mặt búp bê theo phong cách Tây phương. Hồi tổ chức Hội chợ năm 1970 ở Osaka, người ta còn đề nghị ông ấy trưng bày một số búp bê của mình, lúc đó tình bạn của chúng tôi thắm thiết lắm. Để chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng cho ngày khai trương, chúng tôi đã phải làm việc thâu đêm. Đó là một công việc vất vả, nhưng tôi rất thích được làm việc với ông ấy.”
Đúng như vậy. Shusai Yoshida có một sức thu hút nhất định. Tôi đã tận mắt chứng kiến. Yasukawa và Umeda đều phục tùng ông; những người khác chắc chắn cũng vậy. Bí mật cho sự thu hút của ông ấy là gì? Khả năng đoán số mệnh chăng? Hay sự nhạy bén nghệ thuật?
Umeda là một người dễ chịu, một người biết tận hưởng cuộc sống, đến mức tôi đã bỏ suy nghĩ ông ấy là Umezawa. Tôi hỏi thăm về gia đình ông.
“Chà, tôi từng kết hôn, đã rất rất lâu rồi cho nên cũng khó mà nhớ được. Vợ tôi chết trong một trận oanh kích, bấy giờ tôi còn tại ngũ, ngày đêm ở mặt trận, thì lại không chết… Chẳng biết tại sao nữa. Nhiệm vụ của chúng ta là bảo vệ phụ nữ, trẻ em và tổ quốc, nhưng tôi lại mất bà ấy. Tôi yêu vợ vô cùng. Kể từ đó, tôi sống độc thân và tận hưởng sự tự do của mình. Có lẽ một số người thích xiềng xích ràng buộc của cuộc sống hôn nhân, nhưng tôi thì không.”
Tôi không biết đáp lời sao, nên chuyển đổi chủ đề. “Bác Yoshida đã đến đây hôm qua, có phải không ạ?”
“Đúng, ông ấy đến đây thường xuyên, mỗi tháng một lần. Tôi rất quan tâm đến ông bạn già, hễ không gặp nhau vài tuần là tôi đi Kyoto thăm ông ấy ngay.”
“Gia đình bác ấy thế nào ạ?”
“Cả tôi và các thành viên câu lạc bộ đều chẳng biết gì về quá khứ của ông ấy,” ông Umeda đáp, “nhưng chúng tôi thật sự không bận tâm. Tôi nghe có người nói ông ấy xuất thân trong một gia đình giàu có và rằng ông ấy có nhà và xưởng riêng khi còn trẻ, nhưng ai bận tâm làm gì? Chúng tôi đều quý Yoshida. Ông ấy như người thầy của chúng tôi. Tôi cảm thấy rất thư thái mỗi khi gặp ông ấy. Yoshida có kiến thức và kinh nghiệm phong phú về nhiều lĩnh vực. Ông ấy sâu sắc và uyên bác lắm, tôi đã từng hỏi ông ấy về tương lai của mình. Để tôi kể với anh, tài năng của Yoshida là gì đó vượt xa đoán vận mệnh. Ông ấy biết mọi thứ… Vâng, đúng thế, biết mọi thứ…”
Umeda nói rất bình thường, nhưng câu cuối cùng của ông khiến tôi sững sờ. Con người chân chất, vô tư lự này hiểu rõ điều gì đó mà tôi hoàn toàn bỏ qua. Kẻ tôi đang tìm kiếm là một hung thủ với sức mạnh, kiến thức cùng trí thông mình siêu nhiên, biết chế tạo búp bê và đoán vận số… đã bị sát hại… Lẽ nào đó chính là Shusai Yoshida?
Đột nhiên có vài chi tiết dường như liên quan với nhau. Yoshida có lẽ đã ngót 80 tuổi, độ tuổi phù hợp. Quan trọng hơn thế, ông ta biết điều mà mấy cuốn sách không hề đề cập đến: rằng Heikichi thuận tay trái. Làm sao ông ta biết được? Khi nói về cuộc sống của một kẻ lánh đời, ông ta vận dụng vốn hiểu biết của một người đã có thực tế trải nghiệm. Ông ta cũng biết lịch sử và triết lý chế tạo búp bê ở Nhật Bản. Nghe rất liên quan đến những ghi chép của Heikichi.
Một câu hỏi khác nảy ra trong trí tôi. Chắc chắn Yoshida là một người quyến rũ, nhưng lý do thật sự khiến Tamio Yasukawa theo ông ta tới Kyoto là gì? Một cảm giác phấn khích trào lên trong tôi.
Không biết đến những gì đang diễn ra trong đầu tôi, Umeda tiếp tục giải bày về sự tuyệt vời của “sư phụ”. Tôi đợi ông nói hết rồi mới hỏi về ma-nơ-canh bí ẩn trong nhà bưu điện.
“Ồ, phải, tôi biết đám ma-nơ-canh. Ông Yoshida và Công ty Ma-nơ-canh Owari tạo ra chúng… Ồ, cậu đã biết chuyện đó rồi à?... Sao cơ? Có một ma-nơ-canh bí ẩn à? Tôi chưa bao giờ nghe nói về nó cả, chưa hề… Ông Yoshida cũng không biết nó từ đâu ra à? Ôi, thật à?... Hừm, tại sao cậu không hỏi ông Murooka, giám đốc của Meiji-Nuro nhỉ? Ông ấy ở khu văn phòng chính gần cổng ra vào ấy.”
Tôi cảm ơn ông Umeda và rời khỏi đồn cảnh sát. Ông ấy thật tốt bụng và thoải mái, tôi cảm thấy như thể mình vừa chia tay một người bạn mới tìm được. Tôi quay lại nhìn ông chắc chắn với chút bâng khuâng và nghĩ rằng có lẽ không bao giờ còn được gặp lại ông ấy nữa. Ông rất thoải mái với cuộc sống đơn giản và khoác lên người bộ đồng phục ưa thích. Tuy nhiên, ông chắc chắn không phải là người mà tôi đang tìm kiếm.
Ở bưu điện, tôi được dẫn tới phòng giám đốc. Khi tôi hỏi ông ấy về ma-nơ-canh nữ kia, ban đầu hơi có vẻ ngạc nhiên nhưng ngay sau đó ông ấy bật cười, “Nó đâu có gì là bí ẩn, anh bạn trẻ. Ban đầu chúng tôi chỉ có ma-nơ-canh nam, cho nên tôi đặt hàng thêm với Công ty Meitetsu. Hôm sau họ mang ma-nơ-canh nữ từ cửa hàng của họ sang thôi.”
Nếu tôi đang giải đáp một bí ẩn bình thường mà không chịu áp lực về thời hạn thì tôi sẽ tìm tới Công ty Meitetsu, nhưng bí ẩn này vượt xa mức bình thường và quan trọng hơn sau ngày mai, thời gian của chúng tôi sẽ rất ít. Tôi bèn lái xe quay về Kyoto. Thêm nữa, mấy ngày nay tôi không nói chuyện với Kiyoshi. Chúng tôi cần phải trao đổi với nhau những nội dung thu thập được.
Trong khi lái xe, tâm trí tôi đầy những ý nghĩ về Shusai Yoshida, lúc này đã trở thành trọng tâm điều tra của tôi. Ông ấy có sức hút, hòa nhã và khôn khéo, nhưng bất kỳ ai cũng có thể mắc sai lầm. Ông ấy là người giàu có và không tì vết. Phải chăng đã có một thủ thuật? Phải chăng Heikichi Umezawa đã được đưa vào một cái hộp đen để rồi xuất hiện trở lại trong lốt Shusai Yoshida?
Vụ việc này quá sức đối với tôi. Tôi cần sự giúp đỡ của Kiyoshi.
Tôi quay về đúng giờ cao điểm lúc chiều tối, nên phải đỗ xe và mua một thứ gì đó ăn tạm tại quán cà phê. Tôi ngắm nhìn hoàng hôn, tâm trí vẫn quẩn quanh về Yoshida. Thật căng thẳng khi thử thách não cân như vậy. Tôi sẽ phải tìm kiếm điều gì đó mà chỉ thủ phạm mới biết. Người bạn của ông ấy là Yasukawa, biết rõ về Heikichi, giờ đã chết. Yoshida có thể khai rằng ông ấy nghe nói về vụ việc từ Yasukawa. Người chết thì không nói được gì nữa, cho nên tôi sẽ không có cách nào xác minh được sự thật.
Tôi quay trở lại căn hộ của Emoto lúc hơn 10 giờ tối một chút. Kiyoshi vẫn chưa về còn Emoto đang xem TV một mình. Tôi tặng một món quà lưu niệm Meiji-Mura và cảm ơn Emoto vì đã cho mượn xe. Vì tôi quá mỏi mệt nên chúng tôi không thể trò chuyện nhiều về chuyến đi. Tôi vào phòng ngủ, quăng hai cái túi ngủ lên sàn, chui vào túi của mình và lập tức chìm vào giấc ngủ say.
Cảnh 7: Đại lộ Triết gia[1]
[1] Đại lộ Triết Gia (Philosopher’s Walk) là một lối đi cho khách bộ hành bám theo một con kênh hai bên là những cây anh đào nằm ở Kyoto, giữa Ginkaku-ji và Nanzen-ji. Con đường này được đặt tên như vậy vì triết gia người Nhật rất có ảnh hưởng ở thế kỷ 20 và cũng là giáo sư của Đại học Kyoto, Nishida Kitaro, thường sử dụng khu vực này hằng ngày cho mục đích tĩnh tọa.
Thói quen ngủ nướng của tôi dường như đã thay đổi. Tôi dậy rất sớm, vào đúng thời gian tỉnh giấc của hôm trước. Shusai Yoshida lập tức hiện ra trong tâm trí và tôi cần phải nói chuyện với Kiyoshi. Tôi nhìn sang phía túi ngủ của cậu ấy, nhưng Kiyoshi có vẻ đã dậy và đi mất.
Thật cần cù, thật nhiệt tình với nhiệm vụ!
Tuy nhiên, khi lại gần nhìn kỹ hơn túi ngủ đó tôi mới nhận ra rằng nó vẫn chưa được động tới. Trước lúc đi ngủ đêm hôm trước, tôi chỉ ném túi ngủ của Kiyoshi lên sàn như một ngư dân quăng lưới xuống biển và giờ nó vẫn nằm chồng đống ở đó.
Cậu ấy đâu nhỉ? Có chuyện gì rồi chăng? Cậu ấy gặp nguy hiểm chăng? Cậu ấy đi chỗ quái nào chứ? Hay cậu ấy đã tìm được manh mối quan trọng nào đó?
Hôm nay là thứ Năm ngày 12, ngày cuối cùng của chúng tôi.
Chúng ta cần nói chuyện. Bạn thân mến ơi, chúng ta rất cần nói chuyện!
Phần điều tra của tôi rất hữu ích, nhưng tôi chẳng giải quyết được gì. Chưa làm được gì. Tôi thiết tha muốn chia sẻ thông tin với Kiyoshi. Nhờ vậy cuộc điều tra của chúng tôi hy vọng sẽ đi tới đoạn kết có hậu.
Sao cậu ấy không gọi điện nhỉ?
Tôi cố gằng nằm yên nhưng đầu óc quay cuồng. Tôi ngồi dậy. Emoto vẫn đang ngủ. Tôi khẽ khàng thay đồ và ra ngoài đi bộ. Tôi đi lòng vòng trên bãi cỏ đẫm sương trong công viên, đầu óc quay cuồng.
Khi tôi quay về, Emoto đang đánh răng. Kiyoshi vẫn chưa gọi điện. Tôi quyết định phải ở nhà cho tới khi có tin tức của cậu ấy.
Emoto vừa bước xuống cầu thang để đi làm thì điện thoại đổ chuông, tôi nhảy bổ tối vồ lấy ống nghe.
“Kazumi”… một giọng nói yếu ớt rên rỉ ở đầu dây bên kia. Tôi phải mất vài giây mới nhận ra là Kiyoshi.
“Có chuyện gì thế? Anh ở đâu? Anh ổn chứ?” Tôi tuôn cả tràng bằng giọng gấp gáp.
“Tôi mệt lắm,” Kiyoshi đáp, giọng thều thào. Ngừng một lúc, cậu khẩn khoản, “Tôi nghĩ tôi đang chết… hãy… đến đây giúp tôi…”
“Anh ở đâu? Có chuyện gì thế?”
Tôi chực tuôn ra hàng tràng câu hỏi, nhưng tôi cần biết chính xác cậu ấy ở đâu. Tôi có thể nghe rõ tiếng xe cộ và giọng trẻ con, cho nên tôi cho rằng Kiyoshi đang gọi từ một trạm điện thoại trả tiền trên phố.
“Chuyện gì xảy ra ư? Tôi không thể nói cho anh ngay lúc này được… Tôi yếu lắm rồi.”
“Được rồi, chỉ cần cho tôi biết anh ở đâu thôi!”
“Đại lộ Triết gia… không phải bên bờ Ginkakuji… bên đối diện… ở lối vào…”
Tôi cảm thấy rối bời. Đại lộ Triết gia ư? Đó là cái quái gì vậy? Hay là Kiyoshi mất trí chăng?
“Địa chỉ như thế nào? Tôi đi taxi tới đó có được không?”
“Được, lái xe sẽ biết chỗ. Chỉ cần nói Đại lộ Triết gia. Lái xe sẽ đưa anh đến… Và xin hãy… mua một ít bánh mì với sữa… cho tôi… làm ơn.”
“Bánh mì và sữa à? Được thôi, nhưng tại sao vậy?”
“Để ăn, dĩ nhiên rồi… Tôi còn biết làm gì khác với mấy thứ đó?”
Cậu ấy vẫn có thể châm chọc ngay cả khi không được khỏe. Kiyoshi tội nghiệp.
“Anh có bị thương không?”
“Không…”
“Được rồi, tôi lên đường đây. Cứ ở nguyên chỗ đó nhé!”
Tôi lao ra khỏi nhà và chạy tới ga tàu. Ở Shijo-Kawaramachi, tôi mua mấy cái bánh kẹp và vài hộp sữa. Tôi vẫy một chiếc taxi. Kiyoshi nói đúng - người lái xe biết cần đưa tôi đi đâu.
Tôi hoàn toàn mù mịt về những gì đang diễn ra. Nghe giọng Kiyoshi vó vẻ như sắp chết đến nơi. Hay cậu ấy đang hấp hối thật? Phải chăng đây lại là một màn kịch gay cấn khác? Hay cậu ấy đang trêu chọc tôi? Thỉnh thoảng, Kiyoshi tỏ ra rất đáng ghét nhưng cậu vẫn là người bạn đích thực duy nhất của tôi.
Lái xe thả tôi ở chân một con dốc và chỉ cho tôi lên đỉnh dốc. Đó là một công viên nhỏ, và đương nhiên là cả một tấm biển ghi “Đại lộ Triết gia”. Không có ai ở xung quanh cả.
Tôi đi theo con đường chạy dọc một dòng kênh. Không bao lâu, tôi thấy một chú chó mực đang vẫy đuôi và hít ngửi quanh một gã đàn ông vô gia cư nằm dài trên ghế băng. Đó chính là Kiyoshi!
Tôi gọi tên cậu ấy. Kiyoshi lầm bầm gì đó và cố gắng ngồi dậy. Cậu ấy yếu tới mức phải để tôi đỡ mới có thể ngồi dậy được. Mới có vài ngày kể từ lần cuối gặp nhau, Kiyoshi đã thay đổi ghê gớm. Đôi mắt đỏ ngầu, hai má nhô ra, râu ria tua tủa. Trông cậu không ổn tí nào, thực sự rất ốm yếu.
“Anh có mang ít thức ăn như tôi dặn không?” Kiyoshi lên tiếng. Tôi đưa một chiếc bánh kẹp, cậu ấy mở giấy gói ra. “Ôi, chuyện ăn uống mới phiền toái làm sao! Nếu không cần phải ăn, chúng ta có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian…” cậu làu bàu và chúi mặt ngấu nghiến cái bánh.
Tôi thở phào khi nhìn thấy cậu ấy ăn, nhưng vẫn chẳng hiểu gì cả. Rõ ràng cậu đang mệt lả, vẻ sắc sảo vẫn còn nhưng khá mong manh. Tôi cảm thấy lo ngại cho trạng thái tâm lý của Kiyoshi. Tôi không muốn nghĩ đến khả năng cậu ấy bị rối loạn thần kinh.
“Lần cuối anh ăn uống là khi nào thế?” Tôi hỏi cậu.
“Tôi không biết nữa… Có lẽ hôm qua, có lẽ hôm kia… Tôi quên mất rồi…”
Tôi nhắc Kiyoshi không nên ăn quá nhanh. Sau khi ăn uống xong xuôi, dường như một chút năng lượng đã quay trở về với cậu ấy.
“Anh có thu thập thêm được mạnh mối gì không?” Tôi hỏi nhẹ nhàng.
“Vắt kiệt quả cam anh sẽ được bã!” Kiyoshi giận dữ thốt lên, đứng bật dậy và khoa tay. “Kazumi, chúng ta sinh ra để bị lừa gạt! Nhìn tôi xem. Sau khi chạy long nhong ở vùng này mấy ngày trời không ngủ, tôi không khác gì một con châu chấu sắp chết. Nhịn ăn một hai ngày là điều rất tốt; nó làm cho các giác quan của chúng ta thêm sắc bén. Ôi, giờ tôi có thể thấy điều đó. Cả một cánh đồng cải hoa mênh mông đang nở bung! Thành phố này được hình thành từ lịch sử và bí ẩn! Tôi thấy hằng hà sa số nóc nhà trông như những cuốn sách đang mở. Và tôi nghe thấy tiếng xe hơi ở khắp mọi nơi! Chúng không hề mệt mỏi ư?... Không, có khi không phải là hoa cải dầu, đó là cúc vạn thọ. Tôi có thể dùng liềm cắt. Bây giờ thì tôi thậm chí còn không nhớ nổi làm thế nào mình cắt được chúng… À, mà tôi để cái liềm ở đâu nhỉ? Chắc nó hoen gỉ rồi! Tôi phải tìm nó đã. Tôi phải tiếp tục đào như con chuột chũi! Thời gian thì trôi đi vùn vụt. Ngay lúc này hoặc là không bao giờ nữa!”
Chẳng thần kinh thì gì đây: Kiyoshi đã hóa điên. Tôi cảm thấy toàn bộ cơ thể mình tê dại. “Không, không, không, Kiyoshi. Anh kiệt sức rồi. Bình tĩnh đi, bình tĩnh lại nào!” Tôi cứ lặp đi lặp lại mấy từ đó. Tôi nắm lấy vai và từ từ đẩy cậu ấy ngồi xuống ghế đá.
Cuối cùng Kiyoshi cũng bình tĩnh trở lại và tôi thở phào nhẹ nhõm. Tôi thấy sốc trước tình cảnh trớ trêu cay đắng này: sự kiệt sức và áp lực đã khiến Kiyoshi phát điên, nhưng nó lại chẳng giúp ích gì cho việc điều tra của chúng tôi. Tôi nhận ra mình không nên để Kiyoshi tham gia vào vụ này; tôi biết sức khỏe tinh thần của cậu không được tốt. Nhưng cậu là người đưa ra lời thách thức với lão Takegoshi Con. Giờ kết quả rất rõ ràng: Kiyoshi sẽ phải chịu thất bại. Thật là vô vọng. Lão Takegoshi Con chẳng cần phải làm gì ngoài việc chờ đợi chúng tôi tới cúi đầu xin lỗi như những thằng ngốc đáng ghét. Bí ẩn này đã không thể giải quyết được suốt bốn mươi năm rồi; chúng tôi quả là điên rồ mới nghĩ rằng mình có thể khám phá trong vòng một tuần. Tôi vẫn hy vọng rằng Shusai Yoshida chính là Heikichi Umezawa cải trang. Chỉ là một chút hy vọng mong manh, nhưng vì một lý do nào đó, tôi cảm thấy rất tự tin. Tuy nhiên, với tình hình này, Kiyoshi không thể nói chuyện một cách tỉnh táo được. Tôi phải tự hành động ngay lập tức cho dù phải bỏ lại Kiyoshi tội nghiệp trong tình trạng gần như hóa điên này. Chỉ còn vài tiếng nữa thôi. Tôi cần bắt Yoshida, vì cả hai chúng tôi.
Lúc này đã là hơn 10 giờ sáng. Tôi định gọi Emoto tới giúp thì Kiyoshi lại lên tiếng.
“Tôi không nên báng bổ Sherlock Holmes. Anh nói đúng, Kazumi, lẽ ra tôi nên biết vị thế của mình. Tôi nghĩ mọi việc với tôi rất dễ dàng, và trên thực tế tôi đã gần như tới đích. Trời ơi, tất cả rất dễ dàng - như bàn cờ đô-mi-nô. Tôi chỉ cần biết chạm vào vị trí nào để tất cả đổ rạp xuống. Chỉ cần một quân thôi - đó là tất cả những gì tôi cần - và khi đó mọi quân khác sẽ đổ xuống đúng vị trí! Chó chết thật! Tôi đã dồn hết mọi nỗ lực của mình vào vụ này và giờ tôi thua cuộc. Tôi cần cảm hứng. Tôi cần cái gì đó, một chút gì đó truyền cảm hứng cho tôi.” Cậu ấy ôm đầu “Ôi! Chuyện này thật kinh khủng. Anh bảo tôi sẽ phải trả giá cho sự kiêu ngạo của mình và giờ tôi có thể cảm nhận được đôi môi mình sưng lên. Tôi cử động môi rất khó khăn. Làm sao tôi có thể nói được với tình trạng như thế này? Tôi đã để lỡ đà của mình: thật vô vọng. Ít nhất anh còn có vẻ làm được mọi việc rất ổn. Kể tôi nghe những gì anh đã khám phá được đi nào.”
Thái độ tán dương một cách tỉnh táo và sự nhún nhường hiếm thấy này thật đáng mừng, nhưng trạng thái ổn định và mình mẫn của cậu ấy lại là chuyện khác. Anh chàng này - người bạn thân nhất của tôi - đang bị suy sụp về tinh thần. Và giờ cậu ấy sẽ phải nhận thua trước mặt một gã thám tử cảnh sát ngạo mạn. Tôi không tài nào chịu được ý nghĩ đó. Thậm chí phải làm việc một mình tôi càng quyết tâm gắng sức vượt qua thử thách này.
“Nào, kể tôi nghe những gì anh đã tìm được,” Kiyoshi lại giục.
Vậy là, với thái độ rất cân nhắc, tôi giải thích cho Kiyoshi nghe toàn bộ những việc tôi đã làm: trở lại gặp con gái ông Yasukawa; cuộc gặp với Shusai Yoshida; chuyến đi tới Meiji-Mura để gặp ma-nơ-canh mà Yasukawa đã nhắc đến và cuộc trò chuyện với Hachiro Umeda, người mà Yasukawa nghĩ là Heikichi.
Trong khi tôi nói, Kiyoshi nằm dài trên ghế, hai tay ôm đầu, nhìn lên trời với đôi mắt vô hồn, chẳng tỏ vẻ quan tâm dù là nhỏ nhất. Hoặc là thật sự cậu ấy đã hóa điên, hoặc là cậu ấy đã từ bỏ cuộc đấu. Tôi cảm thấy thất vọng tràn trề.
Đột nhiên, cậu ngồi thẳng dậy. “Đã đến lúc viếng thăm Nyakuoji rồi…” Kiyoshi nói bằng giọng ngái ngủ.
“Nyakuoji ư? Là ai vậy? Một đền thờ à?”
“Đó là một đền thờ… không, tôi không muốn nói vậy! Ý tôi là, tòa nhà ở đằng kia…”
Cậu ấy chỉ lên đỉnh một tháp đồng hồ nhỏ theo kiểu phương Tây.
“Ấy là nơi tôi muốn đến! Hãy quên chuyện đền thờ đi!”
“Tòa tháp đó là gì thế?”
“Một quán cà phê. Anh nghĩ là gì nào? Tôi cần đồ uống nóng.” Kiyoshi đã trở lại với cuộc sống rồi.
Quán cà phê nằm ở sân nhà của một diễn viên nổi tiếng. Có một cái giếng kiểu Tây Ban Nha và vài bức tượng. Bất chấp tình trạng của Kiyoshi và thực tế rằng thời gian sắp hết, việc được ngồi bên một chiếc bàn trong ánh nắng ban mai thật là khoan khoái. Chúng tôi là những khách hàng duy nhất ở đó và không gian yên tĩnh làm cho chúng tôi thêm tỉnh táo.
“Một chỗ tuyệt vời,” tôi nói với Kiyoshi.
Cậu ấy gật đầu. “Ừ…”
“Tôi nghĩ tôi sẽ đi gặp Yoshida bây giờ. Anh có muốn đi với tôi không?”
“À, có, tôi rất vui…”
“Nào, vậy thì đi!” Tôi khích lệ. “Chúng ta sắp hết thời hạn rồi…”
Tôi đứng dậy, cầm phiếu thanh toán trên bàn. Trong túi tôi chỉ còn mỗi một tờ 10.000 yên, và còn rất sớm nên nhân viên thu ngân phải mất một lúc mới có đủ tiền lẻ trả lại. Kiyoshi vẫn đợi tôi bên ngoài. Khi chúng tôi quay xuống Đại lộ Triết gia, tôi sắp xếp lại chín tờ tiền 1.000 yên để tất cả quay về một hướng - đó là một thói quen của tôi. Một tờ tiền bị rách và được dán lại. Để gợi chuyện, tôi chìa tờ tiền chắp vá cho Kiyoshi xem.
“Băng dính à? Mà lại không phải băng dính mờ đúng không?” Cậu nói và cầm lấy tờ tiền, săm soi nó. “Không, họ dùng băng dính trong. Đúng như vậy.”
“Băng dính mờ thì có gì không ổn à?”
“Người ta dùng thứ đó với các tờ tiền giả, thường là với các tờ 10.000 yên chứ không phải những tờ tiền mệnh giá thấp thế này.”
“Tại sao họ lại dùng băng dính mờ?”
“Bởi vì… Ồ, quá khó để giải thích. Tôi cần một cây bút và một mẫu giấy để cho anh thấy. Mà này, giả mạo chưa phải là từ chính xác. Đúng hơn… có lẽ… lừa đảo… có lẽ…” Giọng cậu nhỏ dần. Thỉnh thoảng vẫn như vậy. Thông thường, điều đó là dấu hiệu của tâm trạng chán nản. Thật đáng buồn!
Tôi quay lại đối diện với Kiyoshi lúc này vừa tới một chỗ nghỉ. Tôi rất ngạc nhiên. Đôi mắt đỏ ngầu của cậu mở to một cách bất thường và miệng há hốc. Cậu siết chặt nắm tay và bắt đầu hét: “AAAAAAAAAA!”
Vài ba khách du lịch dừng lại trên đường. Chú chó mực nhìn cậu ấy chòng chọc.
Tôi vẫn thường phàn nàn về hành xử kỳ quặc của Kiyoshi, nhưng chưa bao giờ tôi nghi ngờ tài năng, trí thông minh, kiến thức và sức mạnh trực giác của cậu ấy. Đó là những ưu điểm. Nhưng giờ chúng trở nên nhạt nhòa so với thảm họa này.
Tất cả đã chấm hết!
Rõ ràng Kiyoshi đã bước vào ngưỡng cửa điên khùng.
“Bình tĩnh nào!” Tôi nói, nắm lấy vai và cố gắng lay Kiyoshi.
Gương mặt mệt mỏi của cậu ấy ngay sát mặt tôi. Nhưng kẻ đờ người ra không phải là cậu ấy mà chính là tôi. Kiyoshi trông như một con sư tử - đói và yếu, nhưng vẫn tràn đầy giá trị đích thực. Đột nhiên, cậu ngừng hét, giật khỏi tay tôi và bắt đầu chạy.
Giờ cậu ấy làm gì không biét? Ảo giác chăng?
Kiyoshi nhắm thẳng tới chỗ con kênh.
Cậu ấy định nhảy xuống sao? Cứu một đứa trẻ đang chết đuối chăng?
Tôi chạy theo sau nhưng Kiyoshi nhanh quá. Chạy khoảng 100 mét, Kiyoshi dừng bước, quay nhìn xung quanh và chạy trở về chỗ tôi. Vài du khách phải nhảy bật ra. Cách đó một quãng, chú chó mực vẫn nhìn người bạn cuồng điên của tôi.
Kiyoshi ngồi thụp xuống, hai tay ôm đầu, thở phì phò. Sau đó cậu ngước nhìn tôi và mỉm cười, “Ồ, Kazumi! Anh vừa ở đâu thế?”
“Được rồi, anh chạy nhanh thật đấy,” tôi lầm bầm.
“Tôi ngu ngốc quá!” Kiyoshi kêu lên, nhưng lần này không thật lớn. “Tôi đang làm gì không biết? Tôi cứ đi tìm cặp kính vẫn nằm nguyên trên đầu tôi! Mẹ kiếp! Lẽ ra tôi nên cố gắng hết sức với vụ này ngay từ đầu! Ơn Trời, tôi không làm khổ ai với cái sự cẩu thả của mình. Chúng ta rất may mắn!”
“Chà, anh rất may! Nếu tôi không ở đây, những người kia sẽ gọi xe cứu thương đến đấy.”
“Chỉ là một cái đinh ghim nhỏ xíu, Kazumi ạ! Tôi đã tìm ra nó! Tôi nhổ cái đinh ghim và, RẦM, mọi thứ rơi xuống đúng chỗ! Quả là một phù thủy đại tài! Một mẹo rất đơn giản! Thực chất là nó quá ư đơn giản, chúng ta chẳng hề nghĩ đến… đơn giản một cách nực cười. Tôi đang làm gì không biết? Tôi không khác gì một con chuột chũi đào củ cải từ bên này đến tận bên kia trái đất… Anh nói gì đi Kazumi! Cười nhạo tôi đi. Xin tất cả hãy cười nhạo tôi đi! Tôi muốn cả thế giới cười nhạo tôi. Tôi quá ngu ngốc. Sao tôi lại mù quáng đến thế chứ? Đứa trẻ nào cũng nhận ra điều này. Giờ tôi phải rất khẩn trương. Mấy giờ rồi nhỉ?”
“Sao cơ?”
“Tôi hỏi anh mấy giờ rồi. Anh không đeo đồng hồ à?”
“Mười một giờ rồi…”
“Trời ơi! Chuyến tàu cao tốc cuối cùng về Tokyo là mấy giờ?”
“Ờ… 8 giờ 29 phút tối nay, tôi nghĩ…”
“Đúng, tôi sẽ bắt chuyến tàu đó. Anh có thể chờ tôi ở căn hộ của Emoto được không? Tôi sẽ gọi cho anh sau. Hơi lâu đấy!” Cậu ấy bắt đầu quay đi.
“Đợi đã, đợi đã nào! Anh đi đâu đấy?”
“Dĩ nhiên là đi gặp hung thủ rồi!”
Tôi sững sờ. “Anh điên à? Anh thậm chí còn không biết kẻ đó ở đâu, nhưng anh vẫn cứ lao đầu vào sao?”
“Sẽ mất một thời gian, nhưng đừng lo. Đến tối là mọi việc xong xuôi.”
Tôi đã phải chạy đuổi theo Kiyoshi suốt cả buổi sáng và cảm thấy như sắp xỉu đến nơi. “Anh không biết mình đang làm gì mà, Kiyoshi,” tôi nói. “Chúng ta không hề nói về việc đi tới một văn phòng tìm kiếm người mất tích. Thế chúng ta làm gì với Yoshida? Chúng ta sẽ không đi gặp ông ta nữa à?”
“Yoshida nào? Ông ta là ai? Ồ, phải, anh đã kể về ông ta. Không, không, chẳng có gì cần phải gặp ông ấy cả.”
“Nhưng sao lại không chứ?” Tôi lên giọng.
“Bởi vì ông Yoshida không phải là hung thủ.”
“Sao anh biết?”
“Anh không hiểu ư? Bởi vì giờ tôi đã biết kẻ nào ra tay rồi!”
“Đợi đã! Anh đang giỡn phải không?”
Kiyoshi ngoặt một góc và biến mất.
Tôi đứng đó, bất lực, kiệt sức.
Mình đã làm gì để bạn mình ra nông nổi này chứ? Nếu đây là nghiệp chướng thì ắt hẳn mình đã làm việc gì đó rất xấu xa ở kiếp trước.
Giờ thì tôi lại đơn độc và tôi phải quyết định. Tôi có nên tới gặp Yoshida không? Kiyoshi đã nói hãy quên ông ta đi, nhưng liệu cậy ấy có thực sự biết được nhiều hơn tôi không?
Đơn giản một cách nực cười ư? Một vụ án đơn giản đến nực cười ư? Có gì đơn giản một cách nực cười trong vụ án này chứ? Chưa hề có vụ án nào phức tạp đến bực mình như vậy! Thậm chí một đứa trẻ cũng nhìn thấy ư? Thậm chí một đứa trẻ cũng có thể thấy cậu ấy bị điên thì có…
Cứ cho là Kiyoshi đột nhiên nhìn thấy ánh sáng thì liệu cậu ấy có thể tìm ra hung thủ vào tối nay không?
Thiên hạ đã tìm cách giải quyết vụ này suốt bốn mươi năm - bốn mươi năm trời! - và Kiyoshi vừa bỏ đi để tìm hung thủ cứ như đang tìm một cái ô bỏ quên tại một trạm điện thoại cách đây năm phút đi bộ ư? Không, mình không nghĩ vậy. Mình không sai, mình sẽ tự thân đào xới khắp Kyoto…
Kiyoshi không thể có nhiều thông tin hơn tôi. Cậu ấy vẫn nằm dài trên ghế và nhịn đói, không gặp Yoshida cũng chẳng gặp Umeda. Và giờ lại bảo đã biết kẻ đó là ai.
Làm sao cậu ấy dám nói thế chứ!
Cậu ấy muốn tôi ngồi ở nhà Emoto đợi điện thoại muốn tôi đừng làm gì cả và cứ tin rằng cậu ấy biết mình đang làm gì.
Chỉ vài phút trước cậu ấy không hề biết mình định làm gì. Nhưng nếu cậu ấy cần giúp đỡ thì sao? Tôi phải làm gì đây? Thế còn trực giác của tôi thì sao?
Cuối cùng trực giác của tôi cũng gạt được mọi nghi ngờ sang một bên và cố gắng hình dung ra cách Kiyoshi giải quyết bí ẩn này. Điều gì đã bất ngờ khiến cậu nhận ra tất cả? Điều đó xảy ra khi cậu ấy nhìn thấy tờ tiền 1.000 yên bị dán băng dính của tôi. Tôi rút ví ra và nhìn lại tờ tiền. Chẳng có gì khác lạ cả: chỉ là một đoạn băng dính trên vị trí bị rách. Kiyoshi có thể phát hiện ra cái gì từ thứ đó chứ? Băng dính nằm ở cả hai mặt tờ tiền; Kiyoshi chỉ nhìn mặt trước mà thôi.
Trên mặt trước có gì nhỉ? Có gì được viết lên chăng?... Không. Mọi thứ đều rất bình thường. Vẫn là gương mặt của chính trị gia huyền thoại Ito Hirobumi. Hay có gì đó liên quan đến tên ông ấy? Không thể được. Hay có gì đó liên quan đến một tờ tiền 1.000 yên? Rất có thể. Điểm mấu chốt: Mình không có manh mối. Thử lại lần nữa: Một tờ 1.000 yên đồng nghĩa với tiền, các vấn đề tài chính. Một cuộc đấu vì tiền bạc - được đấy - nhưng chẳng có gì mới cả. Có lẽ đó là - cậu ấy gọi là gì nhỉ? - giả mạo! Cái gì đó giả mạo, cái gì đó không thật. Đúng! Có lẽ hung thủ là kẻ giả mạo. Có lẽ tất cả chỉ là một cái bẫy, để hướng sự chú ý khỏi một tội ác nào khác chăng? Không, như thế cũng không đúng. Nhưng còn tội ác nào nữa không nhỉ? Cậu ấy nói rằng tờ tiền có thể bị làm giả nếu sử dụng băng dính mờ, nhưng bình thường là với tờ 10.000 yên, chứ không phải là tờ 1.000 yên. Giá trị càng cao thì càng tốt ư? Như thế có nghĩa là những tờ 100.000 yên, nếu có tồn tại, sẽ tốt hôn các tờ 10.000 yên. Nhưng thế còn băng dính mờ nghĩa là sao?Những kẻ giả mạo in ra tiền giả. Chúng không dán băng dính lên các tờ tiền thật hiện có… Ặc, mình chẳng hiểu gì cả!
Tôi không cố nghĩ về Kiyoshi nữa. Tôi sẽ đợi ở nhà Emoto như cậu đề nghị. Kiệt sức cũng là một lý do. Không biết làm gì khác là lý do thứ hai. Tôi chỉ không muốn cái lằn ranh mỏng manh giữa một kẻ thần kinh và một thiên tài bị xóa nhòa…
Giải lao: Thông diệp từ tác giả
Độc giả thân mến!
Thật không bình thường khi tác giả xen vào giữa chừng thế này, nhưng đến đây tôi thấy có điều cần phải nói.
Tất cả thông tin cần thiết để giải quyết bí ẩn giờ đã nằm trong tay các bạn, và trên thực tế, gợi ý quan trọng cũng đã được cung cấp. Tôi thắc mắc không biết các bạn có nhận thấy nó không? Nỗi sợ lớn nhất của tôi là có thể tôi đã tiết lộ với các bạn quá nhiều manh mối! Nhưng vì không khí của trò chơi, và cũng muốn hỗ trợ phần nào cho các bạn, nên tôi mạnh dạn làm như vậy.
Để tôi thách đấu nhé: Tôi thách các bạn giải quyết được bí ẩn trước khi đến các chương cuối cùng!
Chúc các bạn may mắn.