Trại Trẻ Đặc Biệt Của Cô Peregrine

Lượt đọc: 1443 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10 (tt)

Tớ cần ánh sáng”, tôi thì thầm với Emma, cô đang rơi vào trạng thái bị sốc đến mức dường như quên mất năng lực của mình.

Bàn tay cô như bốc cháy, và giữa những cái bóng chập chờn tôi nhìn thấy nó, đang ẩn nấp giữa mấy cái bồn. Cơn ác mộng của tôi. Nó cúi rạp xuống đó, trần trụi, nhẵn thín, lớp da xám đen lốm đốm rũ xuống ngoài bộ xương thành những nếp gấp chừng, đôi mắt nó nằm giữa thứ chất nhầy tanh thối chảy nhỏ giọt viền quanh, chân vòng kiềng, bàn chân thô kệch và các bàn tay xương xẩu biến dạng thành các móng vuốt vô dụng - từng phần cơ thể trông đều nhăn nheo tàn tạ như thân hình của một người già không đếm nổi số tuổi, trừ một thứ. Bộ hàm ngoại cỡ của nó là đặc trưng nổi bật, bên trong là bộ răng dài và sắc như những con dao lóc thịt nhỏ, cồng kềnh đến mức phần lợi không tài nào chứa đựng nổi, vì thế đôi môi của nó luôn co lại thành một nụ cười quái gở.

Thế rồi những cái răng khủng khiếp đó bắt đầu há ra, miệng con quái vật mở rộng để ba cái lưỡi ngoằn ngoèo thò ra vươn lên trong không khí, mỗi cái to bằng cỡ cổ tay tôi. Chúng duỗi dài ra tới nửa chiều dài căn phòng, phải đến ba mét hoặc hơn, rồi lơ lửng ở đó, uốn éo, con quái vật thở phì phò qua hai cái lỗ như bị hủi trên khuôn mặt, tựa hồ đang ngửi mùi chúng tôi và ngẫm nghĩ xem nên ngấu nghiến chúng tôi thế nào là hay nhất. Lý do duy nhất khiến chúng tôi chưa chết là vì chúng tôi quá dễ bị giết như một kẻ sành ăn đang chiêm ngưỡng một bữa thịnh soạn, nó chẳng có lý do nào để nóng vội.

Những người khác không thể nhìn thấy con quái vật như tôi nhưng nhận ra cái bóng của nó cùng những cái lưỡi như dây thừng hắt trên tường. Emma vẫy cánh tay, và ngọn lửa của cô cháy mạnh hơn. “Nó đang làm gì?” cô thì thầm. “Tại sao nó không xông vào chúng ta?”

“Nó đang đùa bỡn với chúng ta”, tôi nói. “Nó biết chúng ta đã như cá nằm trên thớt.”

“Chúng ta không phải thế”, Bronwyn thì thầm. “Chỉ cần tớ nhìn được rõ thẳng mặt nó. Tớ sẽ tống bộ răng kinh tởm đó tụt hết vào trong mồm nó.”

“Tớ sẽ không lại gần bộ răng đó đâu nếu tớ là cậu”, tôi nói.

Con hồn rỗng ì ạch bước thêm vài bước tương ứng với những bước chúng tôi lùi lại, những cái lưỡi của nó rời nhau hơn rồi tách hẳn khỏi nhau, một cái hướng về phía tôi, cái thứ hai về phía Enoch và cái thứ ba về phía Emma.

“Để bọn tao yên!” Emma hét lên, vung bàn tay rừng rực như một ngọn đuốc đánh ra. Cái lưỡi ngoặt đi tránh khỏi ngọn lửa của cô, sau đó rụt lại như một con rắn chuẩn bị tấn công.

“Chúng ta cần tới chỗ cánh cửa!” tôi hô lớn. “Con hồn rỗng đang ở chỗ cái bồn thứ ba từ trái sang, vì vậy hãy đi sang bên phải!”

“Chúng ta sẽ không bao giờ tới được đó!” Enoch kêu to. Một cái lưỡi chạm vào má cậu ta, cậu ta liền hét toáng lên.

“Chúng ta sẽ chạy khi đếm đến ba!” Emma hô lớn. “Một...”

Thế rồi Bronwyn lao mình về phía con quái vật, hét lớn như một nữ thần báo tử. Con quái vật rít lên và đứng thẳng người dậy trên hai chân, mớ da bùng nhùng của nó căng lên. Đúng lúc nó định lao ba cái lưỡi về phía cô, cô bèn đâm sầm cả người vào cái bồn đá có Martin, đưa hai cánh tay luồn xuống đáy cái bồn khi nó lật nghiêng rồi nhấc bổng nó lên, và cả cái bồn to tướng đó, đầy ắp đá cá và thi thể của Martin, bay bổng trong không trung và rơi ập xuống con hồn rỗng với một tiếng rầm khủng khiếp.

Bronwyn quay ngoắt lại lao về phía chúng tôi. “TRÁNH RA!” cô hét lên, tôi vừa kịp tránh sang bên thì cô lao rầm vào bức tường ngay cạnh tôi, phá tung thành một cái lỗ qua những tấm ván nát mục. Enoch, người bé nhỏ nhất trong chúng tôi, lao qua đầu tiên, theo sau là Emma và tôi còn chưa kịp phản đối thì Bronwyn đã chộp lấy hai vai lẳng vai tôi vào màn đêm ướt sũng. Tôi tiếp đất đập ngực xuống một vũng nước mưa. Cái lạnh làm tôi rùng mình, nhưng miễn đã cảm nhận được bất cứ cái gì ngoài cái lưỡi con quái vật hồn rỗng siết lại quanh cổ mình, tôi đã mừng lắm rồi.

Emma và Enoch kéo tôi đứng dậy, và chúng tôi bắt đầu chạy. Một lát sau, Emma lớn tiếng gọi tên Bronwyn rồi dừng lại. Chúng tôi ngoái lại sau và nhận ra Bronwyn không đi cùng chúng tôi.

Chúng tôi gọi cô và căng mắt tìm kiếm trong bóng tối không đủ can đảm để chạy trở lại, rồi sau đó Enoch reo lên, “Đằng kia!” và chúng tôi thấy Bronwyn đang dựa người vào một góc cái kho lạnh.

“Bạn ấy đang làm gì thế!” Emma kêu lên. “BRONWYN CHẠY ĐI!”

Có vẻ như cô gái đang bám lấy cái nhà kho. Sau đó, cô lùi lại chạy lấy đà rồi thúc vai vào góc chịu lực của căn nhà, và như một công trình xếp bằng que diêm, cả nhà kho đổ sập xuống, một đám mưa đá vụn và mảnh dăm gỗ văng ra tung tóe và bị một cơn gió thổi cuốn theo xuống con đường.

Tất cả chúng tôi cùng reo hò và hoan hô trong khi Bronwyn chạy hết tốc lực về phía chúng tôi với một nụ cười hể hả trên khuôn mặt, rồi đứng dưới cơn mưa xối xả, chúng tôi ôm hôn cô và cười phá lên. Song chẳng mấy chốc, tâm trạng chúng tôi lại chùng xuống vì cú sốc từ những gì vừa xảy ra dần đè nặng xuống, rồi sau đó Emma quay sang tôi hỏi một câu chắc hẳn đang nằm trong đầu cả ba người.

“Jacob, làm sao gã xác sống kia lại biết nhiều về cậu thế? Và cả bọn tớ nữa?”

“Cậu gọi hắn là bác sĩ”, Enoch nói.

“Hắn là bác sĩ tâm lý của tớ.”

“Bác sĩ tâm lý!” Enoch thốt lên. “Tuyệt làm sao! Không chỉ đem kể tuốt về chúng ta với một gã xác sống, cậu ta còn bị điên nữa!”

“Nói lại ngay!” Emma hét lên, đẩy cậu ta thật mạnh. Cậu ta định đẩy lại thì tôi chen vào giữa.

“Dừng lại!” tôi nói, tách hai người khỏi nhau. Tôi nhìn thẳng vào Enoch. “Cậu nhầm rồi. Tớ không điên. Hắn làm cho tớ nghĩ như thế, mặc dù chắc chắn hắn đã biết tớ là người đặc biệt ngay từ đầu rồi. Nhưng cậu đã đúng về một điều. Tớ đã để lộ về các cậu. Tớ đã kể những câu chuyện của ông nội với một người xa lạ.”

“Đó không phải lỗi của cậu”, Emma nói. “Cậu đâu biết là chúng tớ có thật.”

“Tất nhiên là có chứ!” Enoch hét lên. “Abe kể cho cậu ta mọi thứ. Thậm chí còn cho cậu ta xem cả những bức ảnh chết tiệt chụp chúng ta!”

“Golan biết mọi thứ ngoài việc làm thế nào để tìm ra các cậu”, tôi nói. “Và tớ đã dẫn hắn tới thẳng đây.”

“Nhưng hắn đã lừa cậu”, Bronwyn nói.

“Tớ chỉ muốn các cậu biết tớ rất xin lỗi.”

Emma ôm lấy tôi. “Ổn rồi. Chúng ta còn sống.”

“Trong lúc này”, Enoch nói. “Nhưng gã điên đó vẫn ở ngoài kia, và từ chuyện hắn sẵn sàng cho con thú cưng hồn rỗng của mình chén chúng ta, tớ dám cược hắn đã biết được cách để tự mình đi vào vòng.”

“Ôi Chúa ơi, cậu có lý”, Emma nói.

“Nếu vậy”, tôi nói, “tốt hơn chúng ta nên quay về đó trước hắn.”

“Và trước khi nó chui ra”, Bronwyn nói thêm. Chúng tôi quay lại và thấy cô đang chỉ vào kho lạnh vừa đổ sập, những mảnh vỡ đã bắt đầu nhúc nhích trong đống đổ nát. “Tớ đoán nó sẽ lao thẳng tới chỗ chúng ta, và vừa khéo tớ chẳng còn cái nhà nào để đẩy sập xuống đầu nó nữa.”

Ai đó hô lớn, Chạy! nhưng chúng tôi vốn đã chạy rồi, lao xuống con đường về nơi duy nhất hồn rỗng không thể bắt kịp chúng tôi - trong vòng. Chúng tôi hối hả chạy khỏi thị trấn trong bóng tối đặc quánh, những đường viền xanh mờ mờ của các trại trẻ nhường chỗ cho những cánh đồng dốc thoai thoải, rồi đến lượt chạy lên triền dốc, từng dòng nước chảy xiết ngang qua chân chúng tôi, làm lối mòn trở nên đầy bất trắc.

Enoch trượt chân ngã nhào. Chúng tôi nâng cậu ta dậy và chạy tiếp. Khi chúng tôi sắp leo lên đỉnh đồi, hai bàn chân Bronwyn cũng trượt đi, và cô gái trượt dài xuống dốc đến sáu mét rồi mới dừng lại được. Emma và tôi chạy trở lại giúp đỡ, và trong khi hai chúng tôi nắm lấy tay cô, tôi quay lại nhìn phía sau chúng tôi, hy vọng trông thấy bóng dáng con quái vật kia. Nhưng chỉ có màn mưa xối xả, tối đen như mực. Khả năng phát hiện ra các hồn rỗng của tôi chẳng còn mấy giá trị khi không có ánh sáng để nhìn thấy chúng. Nhưng sau đó, khi chúng tôi leo ngược trở lên đỉnh đồi, lồng ngực phập phồng hổn hển, một tia chớp chạy dài lóe lên thắp sáng màn đêm, tôi liền quay lại thì thấy nó. Nó ở cách phía sau chúng tôi một quãng nhưng đang leo lên rất nhanh, những cái lưỡi chắc nịch cắm xuống bùn và kéo nó lên sườn dốc dần dần như một con nhện.

“Chạy!” tôi hét lên, và tất cả chúng tôi cùng lao xuống triền dốc bên kia, cả bốn cùng ngồi bệt xuống trượt đi cho tới khi xuống tới đất bằng và có thể chạy tiếp.

Lại một tia chớp nữa lóe lên. Con quái vật đã ở gần hơn lúc trước. Với tốc độ này, chúng tôi khó lòng chạy thoát khỏi nó. Hy vọng duy nhất của chúng tôi là bày mưu đánh lừa nó.

“Nếu nó bắt kịp chúng ta, nó sẽ giết hết chúng ta”, tôi nói lớn tiếng, “nhưng nếu chúng ta tách ra, nó sẽ phải lựa chọn. Tớ sẽ dẫn nó đi vòng vèo theo đường dài và cố làm nó bị lạc trong đầm. Các cậu hãy tới chỗ vòng nhanh nhất có thể!”

“Cậu điên rồi!” Emma kêu lên. “Nếu có ai đó cần ở lại đằng sau, người đó phải là tớ! Tớ có thể dùng lửa chiến đấu với nó!”

“Trong mưa thì không được đâu”, tôi nói, “với lại cậu cũng đâu có nhìn thấy nó!”

“Tớ sẽ không để cậu tự sát như thế đâu!” cô hét lên.

Không còn thời gian tranh luận nữa, Bronwyn cùng Enoch chạy tiếp về phía trước trong khi Emma và tôi rẽ khỏi lối mòn, hy vọng con quái vật sẽ đuổi theo, và nó làm thế thật. Lúc này nó đã đuổi gần tới mức không cần tia chớp nào lóe lên tôi cũng biết nó đang ở đâu; chỉ cần cảm giác cuộn thắt lại trong bụng là đủ để tôi xác định nó.

Chúng tôi cầm tay nhau chạy, băng qua một cánh đồng đầy luống cày và rãnh, vấp ngã và níu lấy nhau trong cuộc chạy trốn thục mạng. Tôi đang đưa mắt nhìn quanh tìm những hòn đá để dùng làm vũ khí thì trong màn đêm phía trước xuất hiện một cái nhà - một cái lán nhỏ xiêu vẹo, cửa sổ vỡ kính còn cửa ra vào thì đâu mất, lúc trước vì quá hoảng hốt nên tôi đã không nhìn thấy nó.

“Chúng mình phải trốn đi thôi!” tôi nói giữa hai nhịp thở.

Cầu trời cho con quái vật này ngu ngốc, tôi thầm cầu nguyện trong khi chúng tôi rẽ về phía cái lán, cầu trời, cầu trời cho nó ngu ngốc. Chúng tôi đi thành một vòng cung rộng, hy vọng vào được trong lán mà không bị phát hiện ra.

“Đợi đã!” Emma kêu lên khi chúng tôi chạy vòng ra đằng sau lán. Cô lấy một miếng vải thưa của Enoch từ trong áo khoác ra và cuống cuồng quấn nó quanh một hòn đá nhặt dưới đất, làm thành một thứ kiểu như dây lăng đá. Cô bưng nó giữa hai bàn tay cho tới khi nó bắt lửa rồi lăng nó ra xa khỏi chúng tôi. Nó rơi xuống đám bùn lầy ngoài xa, sáng lên yếu ớt trong bóng tối.

“Để đánh lạc hướng”, cô giải thích, rồi chúng tôi quay lại chui vào ẩn mình trong căn lán u ám.

o O o

Chúng tôi lách qua một cánh cửa đã bung khỏi bản lề rồi đặt chân vào một bãi phân chuồng tối đen rộng mênh mông nồng nặc mùi. Khi bàn chân chúng tôi lún xuống trong tiếng òm ọp lộn mửa, tôi mới nhận ra chúng tôi đang ở đâu.

“Cái gì thế này?” Emma thì thầm, rồi đột ngột có tiếng con vật gì đó thở hắt ra làm cả hai chúng tôi giật nẩy mình. Căn lán đầy nghịt những con cừu tìm chỗ trú ẩn khỏi màn đêm bất trắc, hệt như chúng tôi. Khi thị lực đã dần dần thích ứng được, chúng tôi bắt gặp những ánh mắt lờ mờ của chúng đang nhìn chằm chằm vào mình - có đến hàng chục, hàng chục con.

“Đây đúng là thứ tớ nghĩ phải không”, Emma vừa nói vừa rón rén nhấc một bàn chân lên.

“Đừng nghĩ về nó”, tôi đáp. “Lại đây nào, chúng ta cần tránh xa khỏi cái cửa này.”

Tôi cầm lấy tay cô và hai chúng tôi tiến sâu vào trong lán, lách giữa một bầy những con vật nhút nhát co rúm lại khi chúng tôi chạm phải. Chúng tôi đi qua hành lang hẹp vào một căn phòng có cái cửa sổ cao và cửa ra vào vẫn nằm nguyên trên bản lề, tách biệt khỏi màn đêm bên ngoài, còn những căn phòng khác chẳng biết có được vậy hay không. Lách vào tận góc trong cùng, chúng tôi quỳ gối xuống chờ đợi và lắng nghe, nấp sau một bầy cừu sợ sệt.

Chúng tôi cố ngồi không quá sát xuống lớp phân nhưng thực sự không thể nào tránh nổi chuyện này. Sau một phút nhìn chăm chăm mờ mịt vào bóng tối, tôi bắt đầu nhận ra những hình dáng trong phòng. Trong một góc có những chiếc thùng và hộp xếp chất đống, dọc theo bức tường sau lưng chúng tôi treo những món dụng cụ han gỉ. Tôi tìm kiếm xem có thứ gì đó đủ sắc để dùng làm vũ khí. Nhìn thấy một vật trong giống cái kéo khổng lồ, tôi đứng dậy cầm lấy.

“Định xén lông vài con cừu à?” Emma hỏi.

“Còn hơn không có gì.”

Đúng lúc tôi gỡ cái kéo xén lông cừu từ trên tường xuống, có tiếng gì đó vang lên bên ngoài cửa sổ. Lũ cừu be be hoảng hốt, rồi sau đó một cái lưỡi dài đen sì chui vào qua khung cửa sổ mất kính. Tôi ngồi trở lại xuống sàn nhẹ nhàng hết mức có thể. Emma đưa bàn tay lên che miệng để giấu hơi thở của mình.

Cái lưỡi sục sạo quanh phòng như một cái kính tiềm vọng, dường như đang xem xét không gian này. May thay, chúng tôi đã ẩn trốn trong căn phòng nặng mùi nhất trên cả hòn đảo. Mùi của từng ấy con cừu hẳn đã át hết mùi hai chúng tôi, vì sau một phút có vẻ như con quái vật đã bỏ cuộc và thu lưỡi ra ngoài cửa sổ. Chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân nó đi xa dần.

Emma đưa bàn tay che miệng xuống và thở hắt ra. “Tớ nghĩ nó bị lừa rồi”, cô thì thầm.

“Tớ muốn cậu biết một điều”, tôi nói. “Nếu chúng ta thoát được lần này, tớ sẽ ở lại.”

Emma nắm lấy bàn tay tôi. “Cậu định thế thật chứ?”

“Tớ không về nhà được. Không thể, sau những gì đã xảy ra. Dù thế nào đi nữa, dù không biết tớ có giúp được không, tớ cũng nợ các cậu điều đó và còn nợ nhiều hơn nữa. Tất cả các cậu từng an toàn tuyệt đối cho tới khi tớ đến đây.”

“Nếu chúng ta qua được lần này”, cô vừa nói vừa tựa vào tôi, tớ sẽ không nuối tiếc gì nữa.”

Rồi, dường như một thứ nam châm kỳ lạ nào đó khiến đầu chúng tôi cứ thế xáp lại gần nhau, nhưng đúng lúc môi chúng tôi sắp chạm nhau, sự yên tĩnh bị những tiếng be be kinh hoàng vọng lại từ căn phòng bên cạnh phá vỡ. Chúng tôi rời nhau ra trong khi âm thanh kinh khủng kia làm lũ cừu xung quanh chúng tôi cuồng lên nhốn nháo, nhảy chồm lên nhau và đẩy chúng tôi áp vào tường.

Con quái vật không ngu ngốc như tôi đã hy vọng.

Rồi sau đó tôi có thể ngửi thấy mùi nó, thậm chí còn nồng nặc hơn những thứ mùi xú uế khác trong căn lán, và tôi có thể cảm thấy nó đang ở ngưỡng cửa căn phòng. Toàn bộ lũ cừu lập tức dạt ra xa cửa, xúm xít vào nhau như một đàn cá, thành ra chúng tôi bị lèn chặt vào tường đến mức không khí bị ép hết ra khỏi phổi. Hai chúng tôi bám chặt vào nhau nhưng không dám phát ra âm thanh nào, và trong một khoảnh khắc căng thẳng tột độ, chúng tôi chỉ nghe thấy tiếng be be của lũ cừu và tiếng những cái móng chân loạng choạng đang khua lộc cộc. Sau đó, một tiếng kêu kinh hoàng vang lên, đột ngột và tuyệt vọng rồi im bặt cũng đột ngột như thế, bị cắt ngang bởi tiếng gặm xương răng rắc rởn tóc gáy. Không cần nhìn tôi cũng biết một con cừu vừa bị xé toạc ra.

Cảnh hỗn loạn nổ ra. Những con vật hoảng loạn nhảy chồm chồm lên va vào nhau, hất chúng tôi đập vào tường nhiều lần đến mức tôi xây xẩm mặt mày. Con hồn rỗng rít lên một tiếng chói tai rồi bắt đầu tóm lũ cừu đưa lên hai hàm răng ròng ròng nước dãi của nó, hết con này tới con khác, ngoạm mỗi con một nhát làm máu phun ra tung tóe rồi ném sang bên như một ông vua phàm ăn đang ngốn ngấu một bữa tiệc thời Trung cổ. Nó lặp đi lặp lại hành động đó - giết dần lũ cừu để mở đường về phía chúng tôi. Tôi cứng đờ người vì sợ hãi. Đó là lý do vì sao tôi hoàn toàn không lý giải được điều diễn ra sau đó.

Tất cả bản năng của tôi đều lớn tiếng thúc giục tôi hãy ẩn kín, hãy rúc sâu nữa xuống đống phân, nhưng rồi một ý nghĩ rõ ràng lóe lên xuyên qua cơn tê liệt - mình sẽ không để hai đứa chết trong cái lán đầy phân này - và tôi kéo Emma ra đằng sau con cừu to nhất tôi có thể thấy rồi lao tới chỗ cửa ra vào.

Cánh cửa đang đóng và cách đó ba mét, đồng thời có rất nhiều cừu đứng chen giữa nó và tôi, nhưng tôi mở một đường lách qua chúng như một cầu thủ tiền vệ. Tôi thúc vai vào cánh cửa và nó mở tung ra.

Tôi nhào ra cơn mưa bên ngoài và hét lên, “Lại đây bắt tao đi, đồ khốn kiếp xấu xí!” Tôi biết mình đã thu hút được sự chú ý của nó vì nó rống lên một tiếng thật ghê rợn và những con cừu bay ra khỏi cửa qua trước mặt tôi. Tôi loạng choạng đứng lên, và khi đã chắc con quái vật đang đuổi theo tôi chứ không phải Emma, tôi chạy về phía đầm lầy.

Tôi có thể cảm thấy nó đằng sau mình. Tôi đã có thể chạy nhanh hơn, nhưng tôi vẫn cầm theo cái kéo xén lông cừu - dường như tôi không thể buộc mình bỏ nó đi được - và rồi mặt đất mềm ra dưới chân tôi, và tôi biết mình đã tới đầm lầy.

Hai lần con hồn rỗng đã tới đủ gần để lưỡi của nó quệt được lên lưng tôi, và cả hai lần, đúng lúc tôi tin chắc một cái lưỡi sắp sửa quấn quanh cổ tôi và siết lại đến khi đầu tôi vỡ tung, nó lại vấp ngã và tụt lại. Lý do duy nhất khiến tôi đến được chỗ mộ đá với cái đầu vẫn còn nguyên vẹn gắn vào người là vì tôi biết chính xác phải đặt chân lên chỗ nào; nhờ Emma, tôi có thể chạy gấp qua chặng đường đó vào một đêm không trăng giữa cơn bão tố.

Leo lên gò đất của mộ đá, tôi chạy vòng quanh tới lối vào kè đá và chui vào. Bên trong đen kịt như hắc ín, nhưng điều đó cũng chẳng quan trọng - chỉ cần tới được căn phòng trong cùng là tôi sẽ an toàn. Tôi bò tới bằng hai bàn tay và đầu gối, vì thậm chí đứng thôi cũng sẽ làm mất thêm thời gian mà tôi thì không có thời gian để lãng phí, và khi đã bò được nửa đường tới đích, đồng thời cảm thấy một chút lạc quan dè dặt về cơ may sống sót của mình, thì đột nhiên tôi không thể bò đi thêm được nữa. Một trong những cái lưỡi đã quấn lấy cổ chân tôi.

Con hồn rỗng đã quấn hai cái lưỡi của nó quanh những tảng đá bên ngoài cửa đường hầm như để giữ cho nó khỏi trượt đi trên bùn, rồi phủ kín lối vào bằng thân hình của nó như một cái nắp úp lên miệng bình. Cái lưỡi thứ ba đang lôi tôi về phía nó, tôi đã trở thành một con cá mắc câu.

Tôi cào xuống đất, nhưng phía dưới toàn là sỏi và các ngón tay tôi lập tức trượt đi. Tôi lật ngửa người ra và dùng bàn tay còn tự do bấu vào các tảng đá, nhưng tôi đang trôi đi quá nhanh. Tôi cố dùng cái kéo xén lông cừu của mình đăm vào cái lưỡi, nhưng nó quá gân guốc và chắc chắn, như cái dây chão tạo thành từ những bó cơ đang uốn lượn, trong khi lưỡi kéo của tôi quá cùn. Vậy là tôi nhắm chặt mắt lại, vì tôi không muốn hai hàm răng đang há hoác của nó là thứ cuối cùng tôi nhìn thấy, và nắm chặt cái kéo xén lông cừu chĩa ra phía trước bằng cả hai bàn tay. Thời gian dường như bị kéo căng ra, người ta bảo đó là tình trạng thường thấy trong những vụ đâm xe, tai nạn tàu hỏa hay những cú rơi tự do từ trên máy bay xuống, và điều tiếp theo tôi cảm thấy là một cú va đập làm cả người tôi nẩy lên khi tôi đâm sầm vào con hồn rỗng.

Tất cả không khí trong lồng ngực tôi bị ép hết ra ngoài, và tôi nghe thấy nó rống lên. Tôi và nó cùng nhào ra khỏi đường hầm rồi lăn từ trên gò mộ xuống đầm lầy, và khi mở được mắt ra, tôi thấy cái kéo xén lông cừu của mình đâm lút cán vào hai hốc mắt của con quái vật. Nó rống lên như mười con lợn cùng bị thiến một lúc, lăn lộn và quẫy đạp trong lớp bùn đang dềnh lên vì mưa, tuôn ra cả một dòng chất lỏng đen ngòm của chính nó, thứ chất lỏng sền sệt phun lên tay cầm han gỉ của cái kéo.

Tôi có thể cảm thấy nó đang chết dần, sự sống bị tháo cạn dần khỏi nó, lưỡi nó lỏng ra quanh cổ chân tôi. Tôi có thể cảm thấy cả sự khác biệt ở mình, cơn hoảng loạn khiến dạ dày tôi quặn thắt đã dần dần biến mất. Cuối cùng, con quái vật cứng đờ ra và chìm nghỉm, trước mắt tôi, lớp chất lỏng nhớt quánh khép lại trên đầu nó, một đám máu đen thẫm là dấu hiệu duy nhất cho hay nó từng ở đó.

Tôi có thể cảm thấy đầm lầy đang nuốt tôi xuống cùng con quái vật. Tôi càng vùng vẫy, nó dường như càng muốn tôi hơn. Tôi thầm nghĩ hẳn sẽ kỳ lạ lắm nếu một nghìn năm sau người ta tìm thấy tôi và con vật kia cùng được bảo quản trong than bùn dưới đầm lầy.

Tôi cố quẫy đạp tiến về phía đất cứng nhưng chỉ càng làm mình lún xuống sâu hơn. Bùn lầy dường như đang leo lên tôi, dâng lên theo cánh tay tôi, lên ngực tôi, bao quanh cổ tôi như một nút thòng lọng.

Tôi la lên kêu cứu - và thật kỳ diệu, cứu viện đến thật dưới dạng mà ban đầu tôi nghĩ là một con đom đóm đang nhấp nháy bay về phía tôi. Sau đó nghe thấy tiếng Emma gọi, tôi liền đáp lại.

Một cành cây đáp xuống nước. Tôi chộp lấy nó rồi Emma kéo, và cuối cùng khi đã ra được khỏi đầm lầy, tôi run rẩy đến mức không thể đứng nổi. Emma ngồi xuống bên cạnh tôi, và tôi đổ ập vào vòng tay cô.

Mình đã giết nó, tôi nghĩ. Mình giết được nó thật rồi. Trong suốt khoảng thời gian sống trong sợ hãi, tôi chưa bao giờ mơ mình có thể thực sự giết được một con quái vật!

Điều đó làm tôi cảm thấy mạnh mẽ. Giờ đây tôi có thể tự bảo vệ bản thân. Tôi biết mình sẽ không bao giờ có thể mạnh mẽ như ông nội, nhưng tôi cũng không phải là một kẻ yếu đuối hèn nhát. Tôi có thể giết chúng.

Tôi dè dặt cất lời. “Nó chết rồi. Tớ đã giết nó.”

Tôi bật cười. Emma ôm lấy tôi, áp má cô vào má tôi. “Tớ biết anh ấy hẳn sẽ rất tự hào về cậu”, cô nói.

Chúng tôi hôn nhau, cảm giác thật êm ái dễ chịu, mưa nhỏ xuống từ mũi chúng tôi và chạy vào trong khuôn miệng vừa hé mở của chúng tôi thật ấm. Emma lùi ra ngay và thì thầm, “Điều lúc trước cậu đã nói ấy, cậu có ý đó thật chứ?”

“Tớ sẽ ở lại”, tôi nói. “Nếu bà Peregrine cho phép.”

“Cô sẽ cho phép. Tớ sẽ đảm bảo chắc chắn điều đó.”

“Trước khi lo lắng về chuyện ấy, tốt hơn chúng ta cần tìm ra tay bác sĩ tâm lý của tớ và đoạt lấy súng của hắn.”

“Đúng thế”, cô nói, nét mặt đanh lại. “Vậy đừng lãng phí thời gian nữa.”

o O o

Chúng tôi bỏ lại cơn mưa sau lưng và chui ra giữa một khung cảnh mờ mịt khói và tiếng động. Vòng thời gian vẫn chưa được khởi động lại, đầm lầy chi chít hố bom, bầu trời ầm ì tiếng động cơ máy bay, từng bức tường lửa màu cam lần về phía hàng cây ngoài xa. Tôi đang định đề xuất là chúng tôi hãy đợi đến khi hôm nay trở thành hôm qua và tất cả những thứ này biến mất rồi hãy cố gắng tìm đến trại trẻ thì hai cánh tay rắn rỏi bỗng ôm chầm lấy tôi.

“Cậu còn sống!” Bronwyn reo lên. Enoch và Hugh đang ở cùng cô, và khi cô lùi ra hai cậu con trai tiến lại bắt tay tôi và ngắm nghía tôi từ đầu đến chân.

“Tớ xin lỗi đã gọi cậu là một kẻ phản bội”, Enoch nói. “Tớ rất vui là cậu không chết.”

“Cả tớ cũng thế”, tôi đáp.

“Tất cả vẫn lành lặn chứ?” Hugh vừa hỏi vừa ngắm nghía tôi.

“Còn đủ hai tay hai chân”, tôi nói, vung chân đá lên để chứng tỏ chúng còn nguyên lành. “Và các cậu không phải lo về con hồn rỗng đó nữa. Chúng tớ giết nó rồi.”

“Ồ, khiêm tốn làm gì!” Emma nói đầy tự hào. “Cậu đã giết nó.”

“Xuất sắc”, Hugh nói, nhưng cả cậu ta lẫn hai người kia đều không hề mỉm cười.

“Có chuyện gì vậy?”, tôi hỏi. “Đợi đã. Tại sao ba cậu không ở trại trẻ? Bà Peregrine đâu?”

“Cô ấy đi rồi”, Bronwyn nói, môi run rẩy. “Cả cô Avocet nữa. Hắn bắt họ đi.”

“Ôi Chúa ơi”, Emma thốt lên. Chúng tôi đã quá muộn.

“Hắn đến mang theo súng”, Hugh nói, mắt nhìn chằm chặp xuống đất. “Định bắt Claire làm con tin, nhưng bạn ấy cắn hắn bằng cái miệng sau gáy, thế là hắn tóm tớ. Tớ cố chống lại, nhưng hắn dùng súng nện vào đầu tớ.” Cậu ta sờ tay vào sau tai và khi bỏ ra, các ngón tay cậu ta dính máu. “Hắn nhốt tất cả mọi người dưới hầm và nói nếu cô phụ trách và cô Avocet không biến thành chim, hắn sẽ khoan thêm một cái lỗ nữa lên đầu tớ. Họ đành làm theo, và hắn nhét cả hai vào trong một cái lồng.”

“Hắn có một cái lồng sao?” Emma hỏi.

Hugh gật đầu. “Một cái lồng nhỏ, để họ không có chỗ mà làm gì hết, như biến hình đổi dạng hay bay đi.”

“Tớ cứ nghĩ chắc mình sẽ bị bắn, nhưng sau đó hắn tống tớ xuống hầm cùng những người khác rồi mang hai con chim bỏ chạy.”

“Và bọn tớ tìm thấy họ như thế khi quay về”, Enoch cay cú nói. “Trốn tránh như một đám hèn nhát.”

“Bọn tớ không phải đang trốn!” Hugh gắt lên. “Hắn nhốt bọn tớ lại! Suýt nữa thì hắn đã bắn bọn tớ!”

“Quên chuyện đó đi”, Emma quát. “Hắn chạy đi đâu rồi? Tại sao các cậu không đuổi theo hắn?!”

“Bọn tớ không biết hắn đi đâu”, Bronwyn nói. “Bọn tớ đã hy vọng các cậu thấy hắn.”

“Không, bọn tớ không thấy hắn!” Emma nói, bực bội đá vào một tảng đá.

Hugh lấy thứ gì đó trong túi áo sơ mi ra. Đó là một bức ảnh nhỏ. “Hắn nhét cái này vào túi áo tớ trước khi bỏ đi. Nói nếu chúng tớ tìm cách bám theo hắn, đây là điều sẽ xảy ra.”

Bronwyn giật bức ảnh trên tay Hugh. “Ôi”, cô thảng thốt. “Có phải đó là cô Raven không?”

“Tớ nghĩ đó là cô Crow”, Hugh nói, đưa hai bàn tay lên xoa mặt.

“Có nghĩa là họ coi như đã chết”, Enoch rên rỉ. “Tớ biết ngày này thế nào cũng tới mà!”

“Đáng lẽ chúng ta không bao giờ nên rời khỏi nhà”, Emma khổ sở nói. “Millard đã đúng.”

Ở rìa phía xa của đầm lầy, một quả bom rơi xuống, sau tiếng nổ nghẹt lại dưới bùn của nó là một trận mưa bùn đất bị hất tung lên ngoài xa.

“Đợi một phút đã”, tôi nói. “Thứ nhất, chúng ta không biết đây là bà Crow hay Raven. Cũng hoàn toàn có thể chỉ là ảnh chụp một con quạ bình thường. Và nếu Golan định giết bà Peregrine và bà Avocet, tại sao hắn lại phải khổ công đến thế để bắt cóc họ? Nếu hắn muốn họ phải chết, họ đã chết rồi.” Tôi quay sang Emma. “Mà nếu chúng ta không ra ngoài, chúng ta cũng đã bị nhốt lại dưới tầng hầm như mọi người khác, và bây giờ vẫn còn một hồn rỗng đang lảng vảng ngoài kia!”

“Đừng cố vỗ về tớ làm gì!” cô nói. “Tất cả chuyện này xảy ra là lỗi của cậu!”

“Mười phút trước cậu còn nói là cậu rất mừng!”

“Mười phút trước cô Peregrine còn chưa bị bắt cóc!”

“Các cậu thôi đi nào!” Hugh nói. “Điều quan trọng bây giờ là Chim bị bắt đi rồi và chúng ta cần cứu cô về!”

“Được”, tôi nói, “vậy chúng ta hãy cùng nghĩ xem. Nếu các cậu là một xác sống, các cậu sẽ mang hai Chủ Vòng Thời Gian bị bắt cóc đi đâu?”

“Còn tùy vào việc cần làm gì với họ”, Enoch nói. “Mà điều đó thì chúng ta không biết.”

“Trước hết cậu sẽ phải đưa họ rời khỏi đảo đã”, Emma nói. “Vì thế cậu cần một cái thuyền.”

“Nhưng là hòn đảo nào?” Hugh hỏi. “Ở trong hay ở ngoài vòng thời gian?”

“Hòn đảo ở ngoài đang bị một cơn bão tàn phá tanh bành”, tôi nói. “Không ai có thể đi xa được với một cái thuyền ngoài đó cả.”

“Vậy thì hắn chắc phải ở bên này”, Emma nói, bắt đầu có vẻ hy vọng. “Vậy thì chúng ta còn nấn ná ở đây làm gì? Tới chỗ bến tàu thôi!”

“Có thể hắn đang ở bến tàu”, Enoch nói. “Đấy là nếu hắn chưa rời đi. Cho dù hắn không có ở đó và chúng ta tìm được cách lần ra hắn giữa đêm hôm tối tăm thế này mà không bị các mảnh trái phá xuyên thủng ruột trên đường, vẫn còn phải nghĩ tới khẩu súng của hắn nữa. Các cậu điên hết rồi sao? Các cậu muốn Chim bị bắt cóc hay bị bắn ngay trước mắt chúng ta hơn?”

“Hay lắm.” Hugh hét lên. “Thế thì chúng ta chỉ cần bỏ cuộc và quay về nhà thôi, nhỉ? Ai thích một cốc trà nóng dễ chịu trước khi lên giường nào? Khỉ thật, đằng nào Chim cũng không có nhà, cứ thay hẳn bằng một cốc rượu toddy đi!” Cậu ta khóc trong giận dữ, đưa tay lên chùi mắt. “Làm sao đến thử mà cậu cũng không dám, sau tất cả những gì cô đã làm cho chúng ta chứ hả?”

Enoch còn chưa kịp trả lời, chúng tôi đã nghe thấy tiếng ai đó gọi từ phía con đường mòn. Hugh bước tới, nheo mắt, và sau giây lát khuôn mặt cậu ta trở nên thật lạ. “Đó là Fiona”, cậu ta nói. Trước lúc đó tôi chưa bao giờ nghe thấy Fiona thốt ra dù chỉ một tiếng lí nhí. Không thể luận ra nổi cô đang nói gì trong tiếng động cơ máy bay và những tiếng nổ đằng xa, vậy là chúng tôi cùng chạy băng qua đầm lầy.

Khi tới chỗ con đường mòn, chúng tôi đều đã thở hổn hển còn Fiona đã khàn đặc giọng vì la hét, đôi mắt cô cũng hoang dại chẳng kém gì mái tóc. Ngay lập tức, cô bắt đầu lôi kéo, đẩy chúng tôi theo lối mòn về phía thị trấn, cuồng loạn la hét bằng thứ khẩu âm Ireland nặng trịch mà không ai trong chúng tôi hiểu nổi. Hugh nắm lấy hai vai cô và bảo cô hãy trấn tĩnh lại.

Fiona hít một hơi thật sâu, người run rẩy như một chiếc lá, đoạn chỉ về phía đằng sau mình. “Millard bám theo hắn!” cô nói. “Cậu ấy đã trốn khi hắn nhốt tất cả chúng ta xuống tầng hầm, và khi hắn chuồn ra ngoài cậu ấy liền bám theo!”

“Tới đâu?” tôi hỏi.

“Hắn có một cái thuyền.”

“Thấy chưa!” Emma reo lên. “Bến tàu!”

“Không”, Fiona nói, “đó là cái thuyền của cậu, Emma. Cái thuyền cậu nghĩ không ai biết đến, mà cậu vẫn buộc ở chỗ cái bãi cạn bé xíu ấy. Hắn đã leo lên thuyền cùng cái lồng và chỉ đi vòng vòng, nhưng sau đó thủy triều lên quá mạnh, vì thế hắn ghé thuyền vào chỗ gò đá có ngọn hải đăng, và hắn vẫn đang ở đó.”

Chúng tôi hối hả lấy hết sức chạy tới chỗ ngọn hải đăng. Khi tới chỗ vách đá nhìn xuống nó, chúng tôi tìm thấy những đứa trẻ còn lại trong một bãi cói túi rậm rạp gần rìa đá.

“Nằm xuống!” Millard khẽ suỵt.

Chúng tôi quỳ gối xuống và bò tới chỗ họ. Đám trẻ đang nằm phục xuống thành một đám rải rác đằng sau đám cói túi, thay nhau nhìn về phía hải đăng. Trông họ như bị sốc vì sức ép trái phá - nhất là những đứa bé nhất - tựa như chưa hoàn toàn tiếp nhận được cơn ác mộng đang diễn ra. Việc chúng tôi mới vừa sống sót qua khỏi một cơn ác mộng của riêng mình hầu như không được để tâm tới.

Tôi bò giữa đám cói túi tới rìa vách đá và nhìn ra. Xa hơn chỗ con tàu đắm nằm chìm dưới nước, tôi có thể thấy chiếc xuồng của Emma được buộc vào các tảng đá. Không thấy Golan và hai Chủ Vòng Thời Gian đâu.

“Hắn đang làm gì dưới kia vậy?” tôi hỏi.

“Ai biết được”, Millard đáp. “Chờ ai đó tới đón, hoặc chờ con nước đứng để hắn có thể chèo ra.”

“Trong cái xuồng bé xíu của tớ sao?” Emma hỏi có vẻ hoài nghi.

“Như tớ nói rồi đấy, bọn tớ không biết.”

Ba tiếng nổ đinh tai vang lên liền nhau, và tất cả chúng tôi đều nằm phục xuống trong khi bầu trời lóe sáng màu cam.

“Có quả bom nào rơi xuống quanh đây không, Millard?” Emma hỏi.

“Nghiên cứu của tớ chỉ liên quan tới hành vi của con người và động vật thôi”, cậu ta đáp. “Chứ không phải bom.”

“Quả là hữu ích vô cùng cho bọn mình lúc này”, Enoch nói.

“Cậu còn chiếc thuyền nào giấu quanh đây không?” tôi hỏi Emma.

“Tớ e là không”, cô nói. “Chúng ta đành phải bơi qua đó thôi.”

“Bơi qua đó rồi sao?” Millard hỏi. “Để bị bắn nát bét ra à?”

“Chúng ta sẽ nghĩ ra cách”, Emma trả lời.

Millard thở dài. “Ồ, đáng yêu quá. Tự sát ngẫu hứng.”

“Thế nào?” Emma nhìn từng người trong chúng tôi. “Ai có ý tưởng nào hay hơn không?”

“Nếu tớ có đám lính của tớ...” Enoch lên tiếng.

“Chúng sẽ mủn ra từng mảnh trong nước”, Millard nói.

Enoch gục đầu xuống. Những người khác im lặng.

“Vậy là quyết định rồi nhé”, Emma nói. “Ai tham gia nào?”

Tôi giơ tay lên. Bronwyn cũng vậy. “Các cậu sẽ cần tới ai đó mà gã xác sống không thể trông thấy”, Millard nói. “Để tớ đi cùng, nếu các cậu nhất định phải đi.”

“Bốn là đủ rồi”, Emma nói. “Hy vọng tất cả các cậu đều bơi tốt.”

Không còn thời gian để nghĩ lại hay nói những lời tạm biệt dài dòng. Những người còn lại chúc chúng tôi may mắn, và chúng tôi lên đường.

Chúng tôi cởi những chiếc áo khoác đi mưa màu đen của mình ra rồi lách qua đám cói túi, lom khom cúi gập người xuống như lính biệt kích đến khi tới chỗ lối mòn dẫn xuống bãi biển. Chúng tôi ngồi bệt trượt xuống, một dòng cát nhỏ chảy xuống quanh hai bàn chân và dọc theo hai ống quần chúng tôi.

Đột nhiên, một tiếng ồn vang lên như có năm mươi chiếc cưa máy cùng hoạt động trên đầu chúng tôi, chúng tôi vừa nằm bẹp xuống thì một chiếc máy bay ầm ầm lao qua, luồng gió thổi bạt tóc chúng tôi và làm tung lên một cơn lốc cát. Tôi nghiến chặt hai hàm răng, chờ đợi một quả bom nổ tung xé banh chúng tôi thành từng mảnh. Không có quả bom nào tới.

Chúng tôi tiếp tục đi. Khi tới bãi biển, Emma tập hợp chúng tôi sát lại nhau.

“Có một xác tàu đắm nằm giữa chỗ này và hải đăng”, cô nói. “Theo tớ ra chỗ nó. Ngâm mình dưới nước. Đừng để hắn thấy các cậu. Khi tới chỗ xác tàu đắm, chúng ta sẽ tìm kiếm hắn và quyết định xem tiếp theo làm gì.”

“Hãy mang các Chủ Vòng Thời Gian của chúng ta về”, Bronwyn nói.

Chúng tôi bò trườn xuống những con sóng và úp sấp bụng lao vào làn nước lạnh. Thoạt đầu việc bơi ra tương đối dễ dàng, nhưng chúng tôi càng bơi xa bờ, dòng nước càng có xu hướng đẩy chúng tôi trở lại. Thêm một chiếc máy bay nữa lao vụt qua trên đầu, làm bắn vọt lên một đám hạt nước rát rạt.

Tới chỗ xác tàu đắm thì chúng tôi đều thở dốc. Bám vào thân tàu han gỉ, chỉ nhô đầu lên khỏi mặt nước, chúng tôi nhìn chăm chú về phía hải đăng và hòn cù lao nhỏ trơ trọi nó được xây trên, nhưng không thấy tung tích gì của tay bác sĩ tâm lý khó lường. Trăng tròn là là trên bầu trời, thỉnh thoảng lại hiện ra qua màn khói bom, sáng lên như ngọn hải đăng thứ hai chập chờn ma quái.

Chúng tôi lần tiến lên hết dọc thân con tàu đắm, chỉ còn phải bơi gần năm trăm mét qua biển là tới chỗ ngọn hải đăng.

“Tớ đề nghị chúng ta nên làm như sau”, Emma nói. “Hắn đã chứng kiến Wyn khỏe như thế nào, vì thế bạn ấy là người gặp nhiều nguy hiểm nhất. Jacob và tớ sẽ tìm Golan và thu hút sự chú ý của hắn trong khi Wyn lén tiếp cận từ phía sau và nện cho hắn một cú ra trò vào đầu. Cùng lúc, Millard đoạt ngay lấy lồng chim. Có ai phản đối gì không?”

Như thể để trả lời, một phát súng vang lên. Thoạt đầu chúng tôi không nhận ra nó là gì - nghe không giống như những phát súng lớn mà chúng tôi từng nghe thấy, xa xa và dữ dội. Đây là tiếng nổ của một khẩu súng cỡ nhỏ một tiếng bọp thay vì đoàng - và chỉ đến khi nghe thấy phát súng thứ hai, kèm theo tiếng nước bắn lên ngay gần, chúng tôi mới biết đó là Golan.

“Lùi lại!” Emma hét lên, chúng tôi liền leo lên khỏi mặt nước và cắm đầu chạy băng băng trên thân tàu cho tới khi nó tụt sâu vào lòng nước dưới chân chúng tôi, rồi nhào xuống nước phía đằng sau thân tàu. Một lát sau, tất cả chúng tôi cùng tập trung lại, hổn hển thở lấy hơi.

“Thế này mà đòi tập kích hắn cơ đấy!” Millard nói.

Golan đã ngừng bắn, nhưng chúng tôi có thể thấy hắn đứng canh chừng cạnh cửa vào hải đăng, tay lăm lăm súng.

“Hắn có thể là một gã khốn đê tiện, nhưng hắn không ngu”, Bronwyn nói. “Hắn biết chúng ta bám theo.”

“Bây giờ thì không được rồi, chúng ta không thể!” Emma vừa nói vừa đập tay xuống nước. “Hắn sẽ bắn nát bét chúng ta!”

Millard bước lên trên xác tàu. “Hắn không thể bắn được thứ hắn không nhìn thấy. Để tớ đi.”

“Dưới biển cậu có còn vô hình nữa đâu, đồ ngốc”, Emma nói, và đúng là thế - chỗ cậu ta đứng trong nước, có một khoảng trống hình thân người nhấp nhô.

“Còn hơn các cậu”, cậu ta nói. “Dù thế nào đi nữa, tớ đã bám theo hắn suốt quãng đường trên đảo mà hắn không hề biết gì. Tớ nghĩ tớ có thể xoay xở thêm vài trăm mét nữa.”

Thật khó tranh luận, vì lựa chọn duy nhất còn lại của chúng tôi là bỏ cuộc hoặc lao vào một làn đạn.

“Được”, Emma nói. “Nếu cậu thực sự nghĩ cậu có thể làm được.”

“Ai đó cần phải làm anh hùng”, cậu ta đáp, và bước đi ngang qua thân tàu.

“Lời trăng trối trứ danh”, tôi thì thầm.

Ngoài xa, giữa làn khói, tôi nhìn thấy Golan quỳ gối xuống trên ngưỡng cửa ngọn hải đăng và ngắm bắn, gác tay súng qua một hàng lan can.

“Cẩn thận!” tôi hét lên, nhưng đã quá muộn. Một phát súng vang lên. Millard kêu thét.

Tất cả chúng tôi cùng leo lên trên xác tàu và hối hả chạy tới chỗ cậu ta. Tôi cảm thấy chắc như bắp là mình sắp bị bắn, và trong khoảnh khắc tôi nghĩ tiếng bàn chân chúng tôi bì bõm trong nước chính là những viên đạn đang trút như mưa xuống chúng tôi. Nhưng sau đó tiếng súng ngừng lại - phải nạp đạn, tôi thầm nghĩ - và chúng tôi có một quãng nghỉ ngắn để hành động.

Millard đang quỳ gối trong nước, đờ đẫn, máu đang trào ra chảy dọc thân người cậu ta. Lần đầu tiên tôi có thể nhìn thấy hình dáng thực của cơ thể cậu ta, nhuộm trong màu đỏ.

Emma cầm lấy cánh tay cậu ta. “Millard! Cậu không sao chứ? Nói gì đi!”

“Tớ xin lỗi”, cậu ta nói. “Có vẻ tớ đã bị lộ và làm mình dính đạn.”

“Chúng ta cần phải cầm máu!” Emma nói. “Chúng ta phải mang cậu ấy trở vào bờ.”

“Vớ vẩn”, Millard nói. “Gã đó sẽ không bao giờ để các cậu lại gần hắn lần nữa đâu. Bây giờ mà quay lại là chúng ta chắc chắn sẽ để mất cô Peregrine.”

Thêm nhiều phát súng vang lên. Tôi cảm thấy một viên đạn bay vèo sượt qua tai mình.

“Đằng này!” Emma hô lớn. “Lặn xuống!”

Thoạt đầu tôi không biết ý cô là gì - chúng tôi còn cách đuôi cái tàu đắm đến ba mươi mét - nhưng rồi tôi nhìn thấy chỗ cô đang chạy tới. Đó là cái lỗ đen ngòm trên boong tàu, cửa dẫn xuống khoang chứa hàng.

Bronwyn và tôi nâng Millard lên và chạy theo cô. Những đầu đạn kim loại đập choang choang vào thân tàu xung quanh chúng tôi. Nghe như ai đó đá vào một cái thùng rác.

“Nín thở”, tôi bảo Millard, rồi chúng tôi nhảy xuống khoang tàu và lặn.

Chúng tôi kéo mình xuống theo cái thang, xuống sâu vài thanh ngang và bám lại ở đó. Tôi cố giữ mắt mở nhưng nước mặn xót quá. Tôi có thể nếm thấy vị máu của Millard trong nước.

Emma đưa cho tôi ống thở, và chúng tôi lần lượt truyền nó cho nhau. Tôi đã hết cả hơi sau cuộc chạy, và vài giây mới được thở một hơi trong cái ống không đủ cho tôi. Hai buồng phổi tôi đau rát, và tôi bắt đầu cảm thấy choáng váng.

Ai đó giật áo sơ mi của tôi. Ngoi lên. Tôi chầm chậm kéo mình lên theo thang, rồi sau đó Bronwyn, Emma và tôi ngoi lên mặt nước vừa đủ để thở và nói, trong khi Millard ở lại chỗ an toàn dưới đó mấy mét, một mình dùng hẳn cái ống thở.

Chúng tôi khẽ thì thầm, không rời mắt khỏi ngọn hải đăng.

“Chúng ta không thể ở lại đây”, Emma nói. “Millard sẽ mất máu đến chết.”

“Đưa cậu ấy vào bờ phải mất hai mươi phút”, tôi nói. “Nguy cơ cậu ấy chết dọc đường cũng chẳng kém.”

“Tớ không biết phải làm gì khác nữa!”

“Hải đăng rất gần đây”, Bronwyn nói. “Chúng ta sẽ đưa cậu ấy tới đó.”

“Nếu thế Golan sẽ khiến tất cả chúng ta mất máu đến chết!” tôi nói.

“Không đâu”, Bronwyn đáp.

“Sao lại không? Cậu chống được đạn à?”

“Có thể”, Bronwyn đáp đầy bí hiểm, rồi hít một hơi và biến mất xuống dưới thang.

“Cô ấy nói gì thế?” tôi hỏi.

Emma có vẻ lo lắng. “Tớ cũng chịu. Nhưng dù là gì đi nữa, tốt hơn bạn ấy nên khẩn trương lên.” Tôi cúi xuống để xem Bronwyn đang làm gì, nhưng thay vì thế lại loáng thoáng thấy Millard ở chỗ cái thang phía dưới chúng tôi, xúm quanh là những con cá đèn tò mò. Sau đó, tôi cảm thấy rung động của thân tàu truyền vào bàn chân mình, và giây lát sau, Bronwyn ngoi lên, cầm theo một tấm kim loại hình chữ nhật dài mét tám rộng mét hai, phía trên là một cái lỗ tròn được đóng đinh tán xung quanh. Cô đã giật rời cánh cửa khoang chứa hàng ra khỏi bản lề của nó.

“Cậu định làm gì với cái đó vậy?” Emma hỏi.

“Tới chỗ ngọn hải đăng”, Bronwyn đáp. Sau đó cô đứng dậy, giơ cánh cửa ra che phía trước mình.

“Wyn, hắn sẽ bắn cậu mất!” Emma kêu lên, rồi một phát súng nổ - nó trúng vào cánh cửa và nẩy đi.

“Thật kinh ngạc!” tôi thốt lên. “Nó là một cái khiên!”

Emma bật cười. “Wyn, cậu đúng là thiên tài!”

“Tớ có thể cõng Millard trên lưng”, cô nói. “Còn các cậu, nấp ra đằng sau.”

Emma kéo Millard lên khỏi mặt nước và quàng hai cánh tay cậu ta quanh cổ Bronwyn. “Dưới đó thật tuyệt diệu”, cậu ta nói. “Emma, tại sao cậu chẳng bao giờ kể cho tớ biết về những thiên thần đó?”

“Thiên thần nào cơ?”

“Những thiên thần màu xanh lục đáng yêu sống ngay dưới kia.” Cậu ta đang run rẩy, giọng mơ màng. “Họ đã đề nghị đưa tớ lên thiên đường, thật tử tế.”

“Không ai sắp được lên thiên đàng hết”, Emma nói, trông cô có vẻ lo lắng. “Cậu bám chắc lấy Bronwyn, được chứ?”

“Tốt thôi”, cậu ta đờ đẫn nói.

Emma, đứng đằng sau Millard, đẩy cậu ta áp vào lưng Bronwyn để cậu ta không bị tuột xuống. Tôi đứng đằng sau Emma, làm đoạn hậu cho đoàn rồng rắn ngắn ngủn lạ lùng này, rồi chúng tôi bắt đầu chật vật lê bước đi qua boong tàu về phía ngọn hải đăng.

Chúng tôi là một cái bia lớn, và ngay lập tức Golan bắt đầu nã đạn về phía chúng tôi. Tiếng những viên đạn của hắn đập vào cánh cửa nẩy đi vang lên đinh tai - nhưng đồng thời lại có gì đó làm người ta yên tâm - song sau chừng hơn chục phát súng, hắn ngừng lại. Có điều tôi không lạc quan tới mức nghĩ hắn đã hết đạn.

Đến đuôi xác tàu, Bronwyn cẩn thận dẫn chúng tôi xuống nước, luôn giữ cho cánh cửa to tướng che đằng trước chúng tôi. Đoàn rồng rắn của chúng tôi trở thành một chuỗi người bơi chó xúm lại đằng sau cô. Emma nói với Millard trong khi chúng tôi bơi, buộc cậu ta trả lời các câu hỏi để cậu ta không lịm đi.

“Millard! Ai đang là thủ tướng?”

“Winston Churchiil”, cậu ta nói. “Cậu bị mất trí à?”

“Thủ đô của Miến Điện là gì?”

“Chúa ơi, tớ không biết. Rangoon.”

“Tốt! Sinh nhật cậu là khi nào?”

“Cậu có thể thôi gào lên và để tớ được bình yên chảy máu không hả!”

Không mất mấy thời gian để băng qua khoảng cách ngắn ngủi giữa xác tàu đắm và ngọn hải đăng. Khi Bronwyn dùng vai đỡ tấm lá chắn của chúng tôi và leo lên các tảng đá, Golan bắn thêm vài phát nữa, và sức va chạm của những viên đạn làm cô mất thăng bằng. Trong khi chúng tôi co ro thu mình lại sau lưng Bronwyn, cô loạng choạng và thiếu chút nữa trượt chân ngã ra sau rơi khỏi bờ đá, nếu thế trọng lượng của cả cô và cánh cửa hẳn sẽ đè bẹp tất cả chúng tôi. Emma chống hai bàn tay vào lưng Bronwyn và đẩy, cuối cùng cả Bronwyn và cánh cửa cùng lảo đảo tiến lên chỗ đất khô. Ba chúng tôi xúm xít lại loạng choạng đi theo cô, run lẩy trong màn đêm lạnh giá.

Nơi rộng nhất khoảng năm mươi mét, mõm đá nơi ngọn hải đăng tọa lạc trên thực tế là một cù lao nhỏ. Ở dưới chân đế han gỉ của ngọn hải đăng có chừng một tá bậc đá dẫn lên một cánh cửa để mở, Golan đang đứng đó chĩa khẩu súng ngắn của hắn thẳng về hướng chúng tôi.

Tôi đánh bạo liếc một cái qua lỗ trên cánh cửa. Một bàn tay hắn cầm một cái lồng chim nhỏ, trong lồng là hai con chim đang vỗ cánh đứng chen sát nhau đến mức tôi không thể phân biệt nổi con nào với con nào.

Một phát đạn rít lên bay vèo qua và tôi vội thụp xuống.

“Lại gần thêm nữa là tao sẽ bắn cả hai mụ!” Golan hét lên, rung rung cái lồng.

“Hắn nói dối đấy”, tôi nói. “Hắn cần họ.”

“Cậu làm sao biết chắc được”, Emma nói. “Nói cho cùng, hắn là một gã điên.”

“Thế nhưng chúng ta không thể không làm gì cả.”

“Xông tới chỗ hắn!” Bronwyn nói. “Hắn sẽ không biết phải làm gì. Nhưng để thành công chúng ta cần xông tới NGAY!”

Và chúng tôi còn chưa kịp cân nhắc, Bronwyn đã chạy về phía hải đăng. Chúng tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài chạy theo - nói gì thì nói, cô đang mang lá chắn bảo vệ của chúng tôi - và một khoảnh khắc sau đạn đã liên hồi nện choang choang vào cánh cửa và trúng vào những tảng đá quanh chân chúng tôi.

Cảm giác lúc đó không khác gì bám trên nóc một đoàn tàu tốc hành. Bronwyn thật kinh khủng, cô hét lên như một chiến binh man rợ: các mạch máu trên cổ hằn lên, máu Millard dính bết trên khắp cánh tay và sau lưng cô. Vào khoảnh khắc đó, tôi cảm thấy thật mừng là mình không ở phía bên kia cánh cửa.

Khi chúng tôi lại gần ngọn hải đăng, Bronwyn hô lớn, “Nấp vào sau tường!” Emma và tôi giữ lấy Millard và nhao sang trái nấp sau bức tường phía xa của hải đăng. Trong khi chúng tôi chạy đi, tôi thấy Bronwyn nhấc bổng cánh cửa lên quá đầu rồi ném nó về phía Golan.

Một tiếng rầm như sấm động vang lên, tiếp ngay sau là một tiếng thét, và vài giây sau Bronwyn gia nhập cùng chúng tôi đằng sau tường, mặt đỏ bừng, thở hổn hển.

“Tớ nghĩ tớ nện trúng hắn rồi!” cô nói đầy kích động.

“Còn về mấy con chim thì sao?” Emma nói. “Cậu có nghĩ đến họ không?”

“Hắn đánh rơi họ xuống. Họ ổn cả.”

“À, đáng lẽ cậu nên hỏi bọn tớ trước khi hăng máu lên và mạo hiểm tính mạng tất cả chúng ta!” Emma gắt lên.

“Yên nào”, tôi gắt khẽ. Chúng tôi nghe thấy tiếng kim loại nghiến ken két rất nhỏ. “Chuyện gì vậy?”

“Hắn đang leo lên cầu thang”, Emma đáp.

“Tốt hơn các cậu nên bám theo hắn”, Millard thều thào. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn cậu ta. Cậu ta đang ngồi sụp xuống tựa vào tường.

“Bọn tớ lo xong cho cậu cái đã”, tôi nói. “Ai biết ga rô cầm máu không?”

Bronwyn cúi xuống và xé ống quần đang mặc ra. “Tớ biết”, cô nói. “Tớ sẽ cầm máu cho cậu ấy, hai cậu đi tóm gã xác sống đi. Tớ đã nện hắn một cú nặng, nhưng chưa đủ nặng. Đừng để hắn có cơ hội hồi sức.”

Tôi quay sang Emma. “Cậu đi chứ?”

“Nếu như thế có nghĩa là tớ cần đun chảy khuôn mặt gã xác sống đó ra”, cô nói, những vầng lửa nhỏ hình vòng cung bùng lên giữa hai bàn tay cô, “thì chắc chắn là có.”

o O o

Emma và tôi leo qua cánh cửa khoang tàu đang nằm méo mó trên các bậc thang nó tiếp đất, và đi vào trong hải đăng. Tòa tháp về cơ bản là một gian phòng hẹp và vươn lên hun hút theo phương thẳng đứng - đúng ra là một lồng cầu thang khổng lồ - trong đó chiếm phần lớn không gian là một cầu thang mỏng mảnh chạy xoắn ốc từ sàn lên tới một chiếu nghỉ bằng đá, cao tới hơn ba mươi mét. Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng bước chân Golan khi hắn leo lên cầu thang, nhưng bên trong quá tối để có thể biết hắn còn cách đỉnh tháp bao xa.

“Cậu có thấy hắn không?” tôi hỏi, ngước mắt nhìn lên độ cao chóng mặt của lồng cầu thang.

Câu trả lời dành cho tôi là một phát đạn trúng vào bức tường gần đó nẩy ra, tiếp theo là một phát đạn nữa trúng vào cánh cửa dưới chân tôi. Tôi nhảy vụt ra sau, tim đập thình thịch.

“Ở trên kia!” Emma kêu lên. Cô nắm lấy cánh tay tôi và kéo tôi vào sâu hơn bên trong, tới một chỗ những phát súng của Golan không thể với tới - ngay bên dưới cầu thang.

Chúng tôi leo lên vài bậc, những bậc thang lúc này đã lắc lư như một con thuyền trong thời tiết xấu. “Mấy cái bậc thang này khiếp quá!” Emma kêu lên, các ngón tay cô trắng bệch ra trong khi bám lấy lan can. “Cho dù chúng ta lên được tới đỉnh mà không bị rơi, rồi hắn cũng sẽ bắn chúng ta mất!”

“Nếu không thể leo lên”, tôi nói, “có lẽ chúng ta có thể làm hắn rơi xuống.” Tôi bắt đằu nhún qua nhún lại chỗ đang đứng lắc mạnh thanh lan can và giậm chân, làm từng đợt rung chấn truyền lên phía trên. Emma nhìn tôi trong một giây như thể tôi là một gã khùng, nhưng sau đó hiểu ra; cô liền bắt đầu rung lắc, đạp chân cùng tôi. Không mấy chốc, cầu thang đã rung lên bần bật như hóa rồ.

“Nhỡ toàn bộ chỗ này sụp xuống thì sao?” Emma hét lên.

“Hãy hy vọng là không!”

Chúng tôi lắc mạnh hơn. Ốc vít, bu lông bắt đầu rơi xuống rào rào. Thanh lan can rung lên mạnh tới mức tôi gần như không nắm được nó nữa. Tôi nghe thấy Golan gào lên một tràng rủa rất ấn tượng, rồi sau đó có một vật rơi lạch cạch xuống cầu thang, rồi tiếp đất ngay gần đó.

Ý nghĩ đầu tiên của tôi là, Ôi Chúa ơi, nhỡ đó là cái lồng chim thì sao - và tôi lao vụt xuống cầu thang qua trước mặt Emma, chạy xuống đất để kiểm tra.

“Cậu làm gì thế?!” Emma kêu lên. “Hắn sẽ bắn cậu mất!”

“Không, hắn sẽ không bắn đâu!” tôi vừa nói vừa đắc thắng cầm khẩu súng ngắn của Golan giơ lên. Khẩu súng vẫn còn nóng do tất cả những phát đạn hắn đã bắn, giờ nằm nặng trĩu trên bàn tay tôi, và tôi không rõ liệu bên trong còn viên đạn nào không mà cũng chẳng biết làm cách nào để kiểm tra việc đó trong bóng tối gần như đen đặc. Tôi cố nhớ lại một cách vô vọng điều gì đó hữu ích từ vài bài học bắn súng bố mẹ đã để ông dạy tôi, nhưng cuối cùng tôi chỉ chạy trở lại theo các bậc thang lên chỗ Emma.

“Hắn mắc kẹt trên đỉnh rồi”, tôi nói. “Chúng ta cần phải từ tốn, cố gắng thương thuyết với hắn, nếu không ai mà biết được hắn sẽ làm gì với hai con chim.”

“Tớ sẽ thương thuyết với hắn ngay khi hắn lộn cổ xuống”, Emma nói qua hai hàm răng nghiến chặt.

Chúng tôi bắt đầu leo lên. Cầu thang rung lắc dữ dội và hẹp tới mức chúng tôi chỉ có thể nối nhau leo lên, cúi khom người xuống để không bị cộc đầu vào các bậc thang phía trên. Tôi thầm cầu nguyện rằng những món ốc vít bu lông chúng tôi đã lay cho rơi xuống không làm nhiệm vụ siết chặt lấy phần nào quan trọng.

Chúng tôi chậm lại khi lên gần tới đỉnh. Tôi không dám nhìn xuống, chỉ còn lại hai bàn chân tôi đặt trên các bậc thang, một tay tôi trượt theo thanh lan can đang run bần bật còn bàn tay kia cầm khẩu súng. Không còn thứ gì khác tồn tại.

Tôi chuẩn bị sẵn sàng đón nhận một cuộc tấn công bất ngờ, nhưng không có cuộc tấn công nào tới. Cuối cầu thang là một lối mở dẫn lên một chiếu nghỉ bằng đá trên đầu chúng tôi, qua nó tôi có thể cảm thấy cái lạnh se người của trời đêm và nghe thấy tiếng gió rít như huýt sáo. Tôi chĩa khẩu súng qua khoảng mở, rồi ló đầu lên. Cả người tôi căng ra, sẵn sàng giao chiến, nhưng tôi không thấy Golan. Một bên tôi là ngọn đèn đồ sộ đang quay, nằm sau lớp kính dày - ở gần thế này, ngọn đèn sáng đến chói lóa, tôi buộc phải nhắm tịt mắt lại khi nó quay qua - và bên kia là hàng lan can mảnh khảnh. Bên ngoài hàng lan can là khoảng không: mười tầng nhà trống hoác, dưới nữa là đá và mặt biển dậy sóng.

Tôi bước lên lối đi hẹp và quay lại chìa tay để kéo Emma lên. Chúng tôi đứng tựa lưng vào lớp kính nóng ấm bao ngoài ngọn đèn, mặt hướng ra làn gió lạnh căm. “Chim đang ở gần đây”, Emma thì thầm. “Tớ có thể cảm thấy cô.”

Cô vẫy cổ tay và một quả cầu lửa đỏ ối bùng lên dữ dội. Có điều gì đó trong màu sắc và cường độ của ngọn lửa cho thấy rõ lần này thứ cô tạo ra không chỉ là một nguồn sáng, mà còn là một vũ khí.

“Chúng ta cần tách ra”, tôi nói. “Cậu đi theo một hướng và tớ đi theo hướng khác. Như thế hắn không thể trốn thoát được chúng ta.”

“Tớ sợ lắm, Jacob.”

“Tớ cũng thế. Nhưng hắn bị thương rồi, chúng ta lại có súng của hắn.”

Cô gật đầu và chạm vào cánh tay tôi, sau đó quay đi.

Tôi chầm chậm đi vòng theo ngọn đèn, nắm chặt lấy khẩu súng có thể có đạn, và dần dà nhìn được phía bên kia.

Tôi thấy Golan đang ngồi xổm, đầu cúi gục xuống, lưng tựa vào lan can, cái lồng chim đặt giữa hai đầu gối hắn. Một vết rách trên sống mũi hắn đang chảy máu đầm đìa, những tia máu đỏ bầm chạy thành vệt trên mặt hắn như nước mắt.

Một cái đèn đỏ nhỏ được kẹp vào một trong các nan lồng. Cứ vài giây nó lại chớp nháy.

Tôi tiến thêm một bước, hắn liền ngẩng đầu lên nhìn tôi. Khuôn mặt hắn là một mảng máu bết cứng lại, một con mắt trắng dã của hắn vằn những tia đỏ ngầu, nước bọt sùi ra từ hai bên khóe miệng hắn.

Hắn loạng choạng đứng dậy, một bàn tay cầm cái lồng.

“Đặt nó xuống.”

Hắn cúi người xuống như thể để làm theo nhưng chỉ giả bộ nhằm lùi xa khỏi tôi và cố bỏ chạy. Tôi hét lớn và đuổi theo, nhưng ngay khi hắn vòng ra biến mất sau nhà đèn, tôi thấy quầng lửa của Emma phụt tới qua lớp bê tông. Golan rống lên, lùi lại phía tôi, mái tóc bốc khói nghi ngút, một cánh tay đưa lên che mặt.

“Dừng lại!” tôi quát hắn, và hắn nhận ra đã bị mắc kẹt. Hắn giơ cái lồng lên che chắn cho mình, và lắc cái lồng một cái đầy đe dọa. Hai con chim kêu rít lên và mổ vào bàn tay hắn qua nan lồng.

“Mày muốn cái này chứ gì?” Golan gào lên. “Tới đây, đốt tao đi! Lũ chim cũng sẽ bị đốt trụi! Bắn tao đi, tao sẽ ném cái lồng qua lan can!”

“Không đâu, nếu tôi bắn vào đầu ông!”

Hắn cười phá lên. “Có muốn thì mày cũng không bắn được súng. Mày quên rồi à, tao đã quá quen với cái tâm hồn mong manh bạc nhược của mày. Làm thế mày sẽ gặp ác mộng đấy.”

Tôi cố hình dung ra điều đó: vòng ngón tay tôi quanh lẫy cò và siết lại; cú giật và tiếng nổ đinh tai. Có gì nặng nề đến thế nhỉ? Tại sao chỉ nghĩ tới việc đó thôi bàn tay tôi đã run rẩy rồi? Ông tôi đã giết bao nhiêu xác sống? Hàng chục? Hay hàng trăm? Nếu ông ở đây thay vì tôi, Golan hẳn đã chết rồi, hắn sẽ bị bắn ngã thẳng cẳng trong khi đang đờ đẫn tựa lưng vào lan can. Đó là một cơ hội tôi đã bỏ phí mất, chỉ một phần nghìn giây không quyết đoán cũng có thể khiến hai Chủ Vòng Thời Gian mất mạng.

Ngọn đèn biển khổng lồ quay qua, làm chúng tôi tràn ngập trong ánh sáng, biến chúng tôi thành những hình khối trắng lóa. Golan, đang đứng quay mặt vào đèn, liền nhăn mặt quay đi chỗ khác. Lại thêm một cơ hội nữa bị lãng phí, tôi thầm nghĩ.

“Hãy để cái lồng xuống và đi cùng chúng tôi”, tôi nói. “Sẽ không ai bị thương nữa.”

“Tớ không biết đâu đấy”, Emma nói. “Nếu Millard không qua khỏi, có thể tớ sẽ cân nhắc lại chuyện đó.”

“Mày muốn giết tao à?” Golan nói. “Được lắm, làm cho xong đi. Nhưng chúng mày sẽ chỉ trì hoãn điều không tránh khỏi, chưa kể sẽ còn làm sự tình xấu hơn với chính chúng mày. Giờ đây bọn tao đã biết làm thế nào để tìm thấy chúng mày. Đồng bọn của tao đang tới, và tao có thể cam đoan những tổn thất họ gây ra sẽ khiến những gì tao đã làm với bạn chúng mày có vẻ vẫn là một hành động nhân từ.”

“Làm cho xong đi ấy à?” Emma nói, ngọn lửa của cô bắn một chùm tia nhỏ lên trời. “Ai nói chuyện đó sẽ nhanh nhỉ?”

“Tao đã nói với chúng mày rồi, tao sẽ giết bọn họ”, Golan nói, kéo cái lồng áp vào ngực.

Emma bước một bước về phía hắn. “Tao đã tám mươi tám tuổi”, cô nói. “Trông tao có giống như vẫn cần đến hai bà trông trẻ không?” Vẻ mặt cô lạnh lẽo, khôn dò. “Mày không biết đã bao lâu tao mong muốn được thoát khỏi đôi cánh người đàn bà đó. Tao xin thề là mày đang làm ơn cho chúng tao đấy.”

Golan quay đầu hết xuôi lại ngược, bối rối xem xét chúng tôi. Con bé này nói thật đấy à? Trong giây lát hắn dường như thực sự hoảng sợ, nhưng rồi hắn nói, “Chúng mày thật ngu ngốc.”

Emma xoa hai lòng bàn tay vào nhau rồi từ từ tách chúng ra, kéo ra một quầng lửa. “Để rồi xem.”

Tôi không chắc Emma sẽ đẩy chuyện này xa tới đâu, nhưng tôi cần phải can thiệp vào trước khi mấy con chim cháy thui hay bị ném qua lan can.

“Hãy nói cho chúng tôi biết ông muốn gì ở các Chủ Vòng Thời Gian này, và có thể cô ấy sẽ nhẹ tay với ông”, tôi nói.

“Chúng tao chỉ muốn kết thúc thứ chúng tao đã bắt đầu”, Golan nói. “Đó là tất cả những gì chúng tao muốn từ trước đến giờ.”

“Ý mày là cái thí nghiệm đó”, Emma nói. “Bọn mày đã thử nó một lần, và hãy xem điều gì đã xảy ra. Bọn mày đã biến chính mình thành quái vật!”

“Phải”, hắn nói, “nhưng cuộc đời sẽ chán ngắt đến thế nào nếu chúng ta luôn thành công ngay từ lần đầu tiên chứ.” Hắn mỉm cười. “Lần này chúng tao sẽ tập hợp năng lực của tất cả những người kiểm soát Thời gian xuất chúng nhất thế giới, như hai quý bà đây. Chúng tao sẽ không thất bại lần nữa. Chúng tao đã có cả trăm năm để tìm ra bước đi sai lầm. Kết luận là tất cả những gì chúng tao cần là một phản ứng lớn hơn!”

“Một phản ứng lớn hơn?” tôi nhắc lại. “Lần trước các người đã thổi tung một nửa Siberia!”

“Nếu ta phải thất bại”, hắn nói vẻ khoa trương, “hãy thất bại cho ngoạn mục!”

Tôi nhớ tới giấc mơ tiên tri của Horace và những đám mây tro cùng mặt đất cháy sém, và tôi hiểu ra cậu ta đã mơ thấy cái gì. Nếu đám xác sống và hồn rỗng lại thất bại, lần này chúng sẽ phá hủy nhiều lần hơn so với chỉ năm trăm dặm rừng không người ở. Còn nếu chúng thành công và biến mình thành những bán thần bất tử như chúng vẫn mơ tưởng trở thành... tôi rùng mình khi nghĩ tới điều đó. Riêng việc phải sống dưới quyền của chúng đã là một địa ngục.

Ánh đèn quay vòng tới và làm Golan chói mắt lần nữa - tôi căng người, sẵn sàng lao tới - nhưng khoảnh khắc đó kết thúc quá nhanh.

“Không quan trọng”, Emma nói. “Cứ bắt cóc tất cả Chủ Vòng Thời Gian bọn mày muốn. Họ sẽ không bao giờ giúp bọn mày.”

“Có, bọn họ sẽ giúp. Họ sẽ phải làm thế nếu không chúng tao sẽ giết bọn họ từng người một. Và nếu như thế không ăn thua, bọn tao sẽ giết từng đứa chúng mày và bắt họ chứng kiến.”

“Các người điên rồi”, tôi nói với hắn.

Hai con chim bắt đầu hoảng hốt kêu rít lên. Golan gào to át tiếng chúng.

“Không! Điều thực sự điên rồ là việc những người đặc biệt chúng mày trốn tránh khỏi thế giới trong khi chúng mày có thể thống trị nó - quy phục cái chết trong khi chúng mày có thể khống chế nó - và để những kẻ mang bộ gene người bình thường đẩy chúng mày xuống bùn, trong khi chúng mày có thể dễ dàng biến chúng thành nô lệ của mình, như chúng xứng đáng phải bị như thế.” Cứ nói hết một câu, hắn lại lắc mạnh cái lồng. “Đó mới là điên rồ!”

“Dừng lại!” Emma hét lên.

“Vậy ra mày có quan tâm!” Hắn lắc cái lồng mạnh hơn. Đột nhiên, cái đèn nhỏ màu đỏ gắn vào nan lồng bắt đầu sáng lên gấp đôi, và Golan quay ngoắt đầu lại tìm kiếm trong màn đêm đằng sau hắn. Sau đó, hắn quay lại nhìn Emma và nói, “Mày muốn bọn họ chứ gì? Đây!” đoạn hắn lùi lại và vung cái lồng quật vào mặt cô.

Emma kêu lên và cúi xuống tránh. Như một vận động viên ném đĩa, Golan tiếp tục vung tay cho tới khi cái lồng bay qua trên đầu cô, sau đó thả tay ra. Nó rơi khỏi tay hắn, bay qua lan can, lộn nhào trong không trung biến mất vào màn đêm.

Tôi bật rủa, còn Emma kêu thét lên và lao người tới với qua lan can, quơ quơ vào không khí trong lúc cái lồng rơi xuống biển. Trong khoảnh khắc hỗn loạn đó, Golan chồm tới quật tôi xuống sàn. Hắn đấm một cú vào bụng tôi, cú nữa nện vào cằm tôi.

Tôi quay cuồng chóng mặt và không thở nổi. Hắn chộp lấy khẩu súng, và tôi phải vận hết sức lực để giữ không cho hắn cướp mất nó. Vì hắn muốn đoạt lấy khẩu súng đến thế, tôi biết súng chắc chắn có đạn. Tôi đã định ném khẩu súng qua lan can, nhưng hắn thiếu chút nữa đã giật được nó và tôi không thể buông khẩu súng ra. Emma hét lên, Đê tiện, mày là đồ đê tiện, rồi hai bàn tay cô, với quầng lửa bao quanh như găng tay, lao tới từ phía sau và chộp lấy cổ hắn.

Tôi nghe thấy da thịt Golan kêu xèo xèo như miếng thịt bò lấy ra từ tủ lạnh đặt len một vỉ nướng nóng. Hắn gào lên, quay đi khỏi tôi, mái tóc thưa của hắn cháy bùng lên, sau đó hai bàn tay hắn thộp lấy cổ Emma, như thể miễn là bóp nghẹt được cô, hắn không bận tâm sẽ bị chết cháy. Tôi đứng bật dậy, giơ khẩu súng lên bằng cả hai bàn tay và ngắm bắn.

Tôi có được tầm bắn thoáng chỉ trong một khoảnh khắc. Tôi cố trấn tĩnh đầu óc mình và tập trung giữ vững cánh tay, tạo nên một đường thẳng tưởng tượng kéo dài từ vai tôi qua đầu ruồi tới mục tiêu - cái đầu của một người. Không, không phải người, mà là thứ rác rưởi của người. Một quái vật. Một thế lực đã dàn xếp sát hại ông nội tôi và làm tiêu tan tất cả những gì tôi từng khiêm nhường gọi là cuộc sống, cho dù có thể là một cuộc sống chẳng mấy thú vị và lôi tôi đến đây, tới nơi này và khoảnh khắc này, cũng gần như cái cách mà những thế lực ít xấu xa bạo lực hơn đã nhào nặn cuộc sống của tôi và quyết định thay phần tôi từ khi tôi đủ lớn để đưa ra nhưng quyết định. Thả lỏng hai bàn tay, hít vào, giữ súng thẳng. Nhưng giờ đây tôi đã có cơ hội để đẩy lùi thế lực đó, một cơ hội mong manh đến mức gần như không tồn tại mà tôi cảm thấy rõ ràng đang trôi đi mất.

Giờ siết cò nào.

Khẩu súng ngắn giật nẩy lên trong tay tôi, tiếng nó vang lên như vừa có một cơn địa chấn, dữ dội và đột ngột tới mức tôi nhắm tịt mắt lại. Khi tôi mở mắt ra, mọi thứ dường như bị đóng băng lại một cách lạ lùng. Mặc dù Golan đang đứng sau lưng Emma, khóa quặt hai cánh tay cô lại, lôi cô ra phía lan can, nhưng trông như thể hai người được đúc bằng đồng vậy. Chẳng lẽ các Chủ Vòng Thời Gian đã trở lại thành người và đang phù phép lên chúng tôi? Nhưng rồi sau đó mọi thứ trở lại bình thường và Emma vùng được hai cánh tay ra, còn Golan bắt đầu loạng choạng lùi lại, sau đó hắn lảo đảo khổ sở ngồi tựa vào lan can.

Há hốc miệng kinh ngạc nhìn tôi, hắn định nói nhưng nhận ra mình không thể. Hắn áp hai bàn tay lên cái lỗ bằng cỡ đồng xu tôi đã khoan vào cổ hắn, máu trào ra giữa các ngón tay hắn, chảy xuống theo cánh tay, rồi sức lực tuôn chảy hết ra khỏi người, hắn ngã lộn ra sau và biến mất.

Ngay khoảnh khắc Golan biến mất khỏi tầm nhìn, chẳng ai buồn nhớ tới hắn nữa. Emma chỉ tay ra biển và kêu lên, “Kìa, nó kìa!” Theo hướng ngón tay cô và nheo mắt nhìn ra xa, tôi có thể lờ mờ nhìn thấy một ngọn đèn LED màu đỏ đang nhấp nháy trên các con sóng. Sau đó, chúng tôi hối hả chạy lại chỗ cửa xuống cầu thang rồi cuống cuồng chạy mãi, chạy mãi xuống cái cầu thang xoáy ốc, gần như không hy vọng tới kịp chỗ cái lồng trước khi nó chìm xuống nhưng vẫn điên cuồng cố gắng.

Chúng tôi lao ra ngoài, thấy Millard mang trên mình một dải băng ga rô và Bronwyn đứng bên cạnh cậu ta. Cậu ta la lớn lên gì đó tôi không nghe rõ, nhưng chừng đó là đủ để trấn an tôi rằng cậu ta còn sống. Tôi nắm lấy vai Emma và nói, “Cái xuồng!” đồng thời chỉ tới chỗ chiếc xuồng bị đánh cắp đã được buộc vào một tảng đá, nhưng nó ở quá xa, tận phía bên kia hải đăng, mà thời gian thì không còn nữa. Thay vì thế, Emma kéo tôi ra phía biển, chúng tôi liền chạy tới rồi lao mình xuống.

Tôi hầu như không cảm thấy lạnh. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến là tới kịp chỗ cái lồng trước khi nó biến mất dưới các con sóng. Chúng tôi khỏa nước, nhổ phì phì và ho sặc trong khi từng cơn sóng cồn đen kịt vỗ vào mặt chúng tôi. Thật khó nói ngọn đèn báo hiệu kia ở cách bao xa, nó chỉ là một đốm sáng le lói giữa đại dương tối om cuộn sóng. Nó nhô lên rồi chìm xuống, xuất hiện rồi biến mất, đã hai lần chúng tôi mất dấu nó và phải dừng bơi, cuống cuồng tìm kiếm rồi mới lại trong thấy nó.

Dòng hải lưu mạnh đang cuốn cái lồng ra ngoài khơi, và cuốn theo cả chúng tôi. Nếu không nhanh tới được chỗ cái lồng, chúng tôi sẽ kiệt sức và chết đuối. Tôi giữ ý nghĩ bi quan này cho riêng mình chừng nào có thể, nhưng khi ngọn đèn biến mất lần thứ ba, và chúng tôi tìm kiếm nó lâu đến mức thậm chí không còn chắc nó đã biến mất từ phía nào trên mặt biển cuộn trào đen kịt, tôi bèn hét to, “Chúng ta phải quay lại thôi!”

Emma không buồn nghe. Cô bơi phía trước tôi, ra xa hơn ngoài khơi. Tôi chộp lấy bàn chân đang đạp nước của cô nhưng cô đá hất tôi ra.

“Nó biến mất rồi! Chúng ta sẽ không tìm thấy nó đâu!”

“Im đi, im đi!” cô hét lên, và từ hơi thở khó nhọc của cô, tôi có thể thấy cô cũng đã kiệt sức không kém gì tôi. “Im mồm lại và tìm đi!”

Tôi túm lấy cô, nhìn thẳng vào mặt cô và hét lên, còn cô đá tôi ra, đến khi thấy tôi vẫn không chịu buông tay, còn cô không thể buộc tôi làm thế, cô bắt đầu khóc, chỉ còn là những tiếng gào thét tuyệt vọng không thành lời.

Tôi cố kéo Emma về phía ngọn hải đăng, nhưng cô giống như một tảng đá dưới nước, lại kéo tôi xuống. “Cậu phải bơi!” tôi hét lên. “Bơi đi, nếu không chúng ta sẽ chết đuối!”

Thế rồi tôi nhìn thấy nó - một đốm sáng đỏ nhấp nháy rất mờ. Nó ở rất gần, ngay dưới mặt nước. Thoạt đầu tôi không nói gì, sợ rằng mình chỉ tưởng tượng ra, nhưng sau đó đốm sáng nhấp nháy lần thứ hai.

Emma vừa ho vừa reo lên. Có vẻ như cái lồng đã nằm lại trên một xác tàu đắm khác - nếu không làm thế nào nó có thể nằm nông dưới nước như thế? - và vì nó chỉ vừa mới chìm xuống, tôi tự nhủ rất có thể hai con chim vẫn còn sống.

Chúng tôi bơi tới, chuẩn bị lặn xuống vớt cái lồng, mặc dù tôi không biết phải lấy dưỡng khí từ đâu, chúng tôi gần như đã hết hơi. Thế rồi thật lạ lùng, cái lồng có vẻ như đang trồi lên về phía chúng tôi.

“Chuyện gì vậy?” tôi hét lên. “Có phải đó là một xác tàu đắm không?”

“Không thể nào. Không có cái nào ở đây hết!”

“Vậy thì đó là cái quái gì chứ?”

Trông nó giống như một con cá voi sắp sửa trồi lên mặt nước, dài, đồ sộ, và xám xịt, hoặc một con tàu ma đang trồi lên từ nấm mồ biển cả, và rồi một cơn sóng cồn đột ngột, dữ dội từ phía dưới dâng lên, đẩy chúng tôi ra xa. Chúng tôi có bơi ngược lại nhưng cũng chẳng có nhiều cơ may hơn một vật nổi lềnh bềnh bị cuốn vào một cơn thủy triều, rồi đợt sóng cồn ấy xô ập vào chân chúng tôi và cả chúng tôi cũng bị nâng lên, cưỡi lên con sóng.

Từ trong lòng nước bên dưới chúng tôi, thứ đó nổi lên, vừa rít lên vừa kêu lanh canh như một con quái vật kim khí khổng lồ. Chúng tôi bị mắc kẹt lại trong một làn sóng sủi bọt lần nhanh đi theo mọi hướng trên mặt nước, rồi bị hất mạnh lên một bề mặt làm bằng các tấm lưới kim loại. Chúng tôi móc các ngón tay vào các ô lưới để không bị lôi tuột xuống biển. Tôi nheo mắt lại nhìn qua làn nước mặn bắn tung tóe và thấy cái lồng đã nằm lại giữa thứ gì đó trong như hai cái vây nhô lên khỏi lưng con quái vật, một cái nhỏ hơn cái kia. Sau đó, tia sáng từ ngọn hải đăng quét qua, và trong vầng sáng của nó tôi nhận ra chúng không phải là những cái vây mà là một tháp chỉ huy và một khẩu pháo lớn bị gắn cố định xuống. Thứ chúng tôi đang nằm lên không phải là một con quái vật, một xác tàu đắm hay một con cá voi...

“Nó là một chiếc U-boat!” tôi hét lên. Không phải ngẫu nhiên mà chiếc tàu ngầm trồi lên từ bên dưới chúng tôi. Chắc hẳn đây là thứ Golan đã đợi.

Emma đã đứng dậy và chạy qua mặt boong tròng trành về phía cái lồng. Tôi loạng choạng đứng dậy theo. Đúng lúc tôi bắt đầu chạy, một con sóng ào qua boong hất cả hai chúng tôi nằm bẹp xuống.

Tôi nghe thấy một tiếng quát, bèn ngẩng đầu lên thì thấy một người đàn ông mặc quân phục xám nhô lên từ một cửa chui trên cái tháp chỉ huy và chĩa súng vào chúng tôi.

Đạn trút xuống như mưa, nện chan chát lên mặt boong. Cái lồng còn ở cách quá xa - chúng tôi sẽ bị bắn nát bươm trước khi kịp tới chỗ nó - nhưng tôi có thể thấy Emma vẫn định thử làm điều đó.

Tôi chạy tới, ngáng cô và cả hai chúng tôi lăn khỏi boong rơi xuống nước. Mặt biển đen ngòm khép lại bên trên chúng tôi. Đạn cày rào rào xuống nước, để lại đằng sau những đường vạch sủi bọt.

Khi chúng tôi trồi trở lại lên mặt nước, Emma túm lấy tôi và hét lên, “Tại sao cậu làm thế? Tớ gần cứu được họ rồi!”

“Hắn định giết cậu!” tôi vừa nói vừa vùng ra - và sau đó tôi chợt vỡ lẽ thậm chí có thể Emma còn không hề trông thấy hắn, vì cô đã quá tập trung vào cái lồng, vì thế tôi chỉ lên boong tàu, nơi gã xạ thủ đang sải bước tới chỗ cái lồng. Hắn cầm cái lồng lên lắc lắc. Cửa lồng mở tung, và tôi thấy hình như có gì cử động bên trong - một lý do để hy vọng - rồi sau đó luồng sáng từ hải đăng quét qua trùm lên tất cả. Tôi nhìn thấy khuôn mặt gã xạ thủ hiện lên trọn vẹn trong luồng sáng, miệng hắn nở nụ cười ma mãnh, đôi mắt trắng dã vô hồn. Hắn là một xác sống.

Hắn thò tay vào cái lồng và lấy ra một con chim ướt sũng, chỉ có một con trong đó. Từ trên tháp chỉ huy, một tên lính nữa huýt sáo với hắn, và hắn cầm theo con chim chạy về phía cửa chui.

Chiếc tàu ngầm bắt đầu kêu cành cạch và rít lên. Nước xung quanh chúng tôi sủi lên như đang sôi.

“Bơi, nếu không nó sẽ cuốn chúng ta chìm xuống theo nó mất!” tôi hét lên với Emma. Nhưng cô không nghe thấy tôi nói - đôi mắt cô đang hút về một chỗ khác, về phía một mảng nước tối đen gần đuôi tàu.

Cô bơi về phía nó. Tôi cố ngăn cô lại nhưng cô hất tôi ra. Sau đó, giữa tiếng ầm ĩ của chiếc tàu ngầm, tôi nghe thấy một tiếng kêu chói tai, cao vút. Bà Peregrine!

Chúng tôi tìm thấy bà đang dập dềnh trên các con sóng, vật lộn cố giữ cho đầu nhô lên khỏi mặt nước, một cánh đập đập, cánh kia có vẻ bị gãy. Emma vớt bà lên. Tôi hét to bảo chúng tôi cần phải đi.

Chúng tôi bơi đi bằng chút sức lực còn lại. Đằng sau chúng tôi, một xoáy nước đang mở ra, tất cả lượng nước bị chiếc tàu ngầm chiếm chỗ ào ạt cuộn trở lại lấp đầy khoảng trống khi nó lặn xuống. Biển đang nuốt lấy chính nó và cố nuốt chửng cả chúng tôi, nhưng giờ đây chúng tôi đã mang theo bên mình một biểu tượng chiến thắng có cánh đang kêu rít lên, hay ít nhất cũng là một nửa chiến thắng, và bà đem lại cho chúng tôi sức mạnh để chống lại dòng xoáy ghê gớm đó. Sau đó, chúng tôi nghe thấy Bronwyn đang lớn tiếng gọi, và cô bạn lực sĩ lao tới băng qua các con sóng kéo chúng tôi trở vào nơi an toàn.

 

Chúng tôi nằm trên bãi đá dưới bầu trời quang đãng, thở hổn hển lấy hơi, cả người run lẩy bẩy vì kiệt sức. Millard và Bronwyn có quá nhiều câu hỏi, nhưng chúng tôi chẳng còn hơi sức đâu để trả lời họ. Họ đã thấy Golan rơi xuống, rồi chiếc tàu ngầm nổi lên và lặn xuống cũng như bà Peregrine được đưa lên khỏi mặt nước, nhưng bà Avocet thì không; họ đã hiểu những gì cần hiểu. Hai người ôm lấy chúng tôi cho đến khi chúng tôi thôi không run rẩy nữa, và Bronwyn ấp bà phụ trách vào dưới áo mình để ủ ấm cho bà. Khi đã ít nhiều lấy lại được sức, chúng tôi tháo dây buộc chiếc xuống của Emma và chèo về phía bờ biển.

Khi chúng tôi tới đó, cả đám trẻ cùng lội ra chỗ nước nông để gặp chúng tôi.

“Bọn mình nghe thấy tiếng súng!”

“Cái tàu lạ đó là gì thế?”

“Cô Peregrine đâu?”

Chúng tôi leo ra khỏi xuồng, và Bronwyn vén áo lên để lộ con chim đang thu mình trong đó. Đám trẻ xúm lại xung quanh, bà Peregrine hơi há mỏ ra quàng quạc với bọn họ để chứng tỏ bà mệt mỏi nhưng ổn cả. Một tràng hoan hô vang lên.

“Các cậu làm được rồi!” Hugh reo lên.

Olive nhảy một điệu jig nho nhỏ và hát, “Chim, Chim, Chim! Emma và Jacob đã cứu Chim!”

Nhưng cuộc ăn mừng rất ngắn ngủi. Mọi người nhanh chóng nhận ra bà Avocet vắng mặt, cũng như tình trạng nguy kịch của Millard. Đoạn ga rô cho cậu ta được buộc chặt, nhưng cậu ta đã mất nhiều máu và đang yếu dần. Enoch đưa cho Millard áo khoác của mình, còn Fiona đưa cho cậu cái mũ len cô đội.

“Bọn tớ sẽ đưa cậu vào thị trấn tìm bác sĩ”, Emma nói với cậu ta.

“Vớ vẩn”, Millard đáp. “Ông ta chưa bao giờ trong thấy một cậu nhóc vô hình, và ông ta sẽ chẳng biết phải làm gì nếu có gặp đi nữa. Ông sẽ chữa nhầm bên chân hoặc hét tướng lên rồi bỏ chạy.”

“Ông ta có hét tướng lên rồi bỏ chạy hay không không quan trọng”, Emma nói. “Một khi vòng được khởi động lại, ông ta sẽ chẳng nhớ gì hết.”

“Hãy nhìn quanh cậu đi. Đáng ra vòng phải được khởi động lại từ một tiếng trước rồi.”

Millard nói đúng - bầu trời im ắng, trận không kích đã kết thúc, nhưng những cuộn khói bom vẫn đang hòa lẫn giữa các đám mây.

“Không hay chút nào”, Enoch nói, và mọi người đều thấy lo ngại.

“Dù thế nào đi nữa”, Millard nói tiếp, “tất cả những gì tớ cần đều ở trong nhà. Chỉ cần cho tớ một bát cồn thuốc phiện và rửa vết thương bằng rượu mạnh. Dù sao vết thương cũng chỉ vào phần mềm. Sau ba ngày tớ sẽ lại ngon lành như thường.”

“Nhưng vết thương vẫn còn chảy máu”, Bronwyn nói, chỉ ra những giọt nhỏ màu đỏ lấm chấm trên mặt cát phía dưới cậu ta.

“Vậy hãy buộc cái ga rô mắc dịch đó chặt hơn nữa!”

Cô làm theo, và Millard thở hắt ra mạnh đến nỗi khiến mọi người cùng co rúm lại, sau đó ngất xỉu trong vòng tay cô.

“Cậu ấy không sao chứ?” Claire hỏi.

“Chỉ ngất đi thôi”, Enoch nói. “Cậu ấy không hề khỏe như vẫn cố giả bộ.”

“Chúng ta làm gì bây giờ?”

“Hỏi cô Peregrine!” Olive nói.

“Phải. Đặt cô xuống để cô có thể biến hình trở lại”, Enoch nói. “Cô không thể cho chúng ta biết phải làm gì khi vẫn còn trong lốt chim đâu.”

Vậy là Bronwyn đặt bà xuống một đám cát khô, và tất cả chúng tôi lùi lại chờ đợi. Bà Peregrine nhảy chồm lên vài lần, đập bên cánh còn lành, sau đó quay cái đầu phủ đầy lông vũ nhìn quanh và chớp mắt với chúng tôi - nhưng chỉ có thế. Bà vẫn là một con chim.

“Có thể cô muốn một chút riêng tư”, Emma gợi ý. “Chúng mình hãy quay lưng lại.”

Và chúng tôi làm theo, tạo thành một vòng lớn quanh bà. “An toàn rồi, cô P”, Olive nói. “Không có ai nhìn đâu ạ!”

Sau một phút, Hugh ghé mắt nhìn và nói, “Không được, vẫn là chim.”

“Có thể cô quá mệt và lạnh!” Claire nói, và khá nhiều người tán thành rằng lý do này hợp lý, nên chúng tôi quyết định sẽ quay trở về trại trẻ, chữa vết thương cho Millard với những thứ chúng tôi có, và hy vọng sau một thời gian nghỉ ngơi, cả cô phụ trách lẫn vòng thời gian của bà sẽ trở lại bình thường.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của ransom riggs