.
1. Trích từ bài từ Điệp luyến hoa của Âu Dương Tu (đời Tống).
1. Rượu vang Laleur: Một loại rượu vang rất đắt, nổi tiếng thế giới của Pháp
1. An là “bình an”, Duyệt là “vui vẻ”, Sinh là “sinh ra”, vì thế Phong Bình mới cảm thấy tên của An Duyệt Sinh mang đầy niềm vui.
2. Tiểu thư táo: Biệt danh của Phong Bình khi còn nhỏ, người bạn thân Phương Quân Hạo và anh họ cô Bỉnh hìn đều gọi như vậy.
3. Lolita: Nhân vật trong tiểu thuyết nổi tiếng cùng tên của nhà văn Nga Vladimis Nabokov, kể lại câu chuyện một giáo sư đại học yêu một cô gái mười hai tuổi. Từng được dựng thành phim, trong phim nhân vật Lolita được sửa thành mười lăm tuổi. Về sau, những nhân vật chính trong phim có khí chất đặc biệt thì được gọi là Lolita hoặc Loli.
1. Vua Salomon trong Kinh hánh nổi tiếng là một người khôn ngoan, thông thái, là người xây dựng ngôi đền đầu tiên của người Do hái ở Jerusalem, sở hữu một kho vàng khổng lồ. Kho báu của Salomon đã được viết thành tiểu thuyết, dựng thành phim
1. Câu thơ Kinh Kha đã ngâm khi tiễn biệt bên bờ sông Dịch, vào nước Tần để hành thích Tần Vương. Kinh Kha một đi không trở lại, nhưng tác giả mượn điển tích và ví von một cách thật hài hước: Phong Bình sẽ quay trở lại nơi này để “rửa hận”.
2. Zoro: Nhân vật người anh hùng trong bộ phim bom tấn Mặt nạ của Zoro.
1. Tiền Chung hư, tên thật là Ngưỡng Tiên, tự là Triết Lương, hiệu là Hòe Tụ, từng dùng bút danh Trung hư Quân, là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng của Trung Quốc.
2. Oscar Wilder (1854-1900) là nhà soạn kịch, nhà thơ, nhà văn nổi tiếng người Irealand.
1. Một hãng kem nổi tiếng - thuộc tập đoàn Nestlé
2. Carat là đơn vị đo khối lượng sử dụng trong ngành đá quý, nó tương đương với 200miligam.
1. Diệc hư (1946 - nay) là nữ nhà văn nổi tiếng người hượng Hải, còn có bút danh khác là Y Sa Bối. Bà tinh thông nhiều lĩnh vực, kiến thức uyên bác nên được mọi người tôi là “sư thái” - mang hàm ý vui đùa, thân thiết.
1 Tiếu lý tàng đao: trong nụ cười ẩn giấu lưỡi dao.
1 Trong tiếng Trung, Cai Cai (猜猜) phát âm gần giống với Thái Thái (菜菜).
1 Có nghĩa: đời người không thiếu chốn để gặp nhau.
1. Tống Ngọc (301-240TCN), đại phu nước Sở thời Xuân Thu Chiến Quốc nổi tiếng vì rất đẹp trai và tài hoa. Dịch nghĩa: Đêm qua gió thổi vào phòng, gột rửa trái tim con người, xóa hết mọi ưu phiền.
1. Trần Thế Mỹ - một nhân vật trong tích Bao Thanh Thiên xử án, thi đỗ trạng nguyên, vì được chọn làm phò mã, ham vinh hoa phú quý nên đã vứt bỏ vợ con chốn quê nhà.
1. Đồ vật vì ít nên mới trở nên quý hiếm (BTV)
2. Bồn địa Talimu nằm ở Tân Cương, là bồn địa có diện tích lớn nhất Trung Quốc (BTV).
1. 16. Câu chuyện ngọc bích họ Hòa được chép trong sách Hàn Phi Tử. Người họ Hòa từng dâng khối đá có ngọc quý đến cho Vệ Vương nước Sở và Vũ Vương, nhưng gặp người thợ không biết xem ngọc, coi đó là đá thô, nên bị chặt hai chân. Đến thời Văn Vương, họ Hòa lại ôm đá ngọc khóc ở núi Sở, khóc chảy cả máu mắt. Văn Vương cho xem lại, quả là ngọc báu, mới đặt tên là Ngọc bích họ Hòa. Về sau, nó trở thành quốc bảo của nước Sở và được khắc thành ngọc tỉ truyền quốc (BTV).
1. Biện pháp chiết trung: Biện pháp điều hòa, đứng ở giữa không theo bên nào. (BTV)
1. Ca sĩ giọng cao nổi tiếng người Nga (BTV).
2. IKEA: Một thương hiệu đồ nội thất nổi tiếng thế giới, có xuất xứ từ Thụy Điển (BTV).
3. Bài từ Ngu mỹ nhân của nhà thơ Tần Quán (1049-1100) – một tác gia nổi tiếng thời Bắc Tống. Dịch nghĩa: Bích đào vốn trồng trên thượng giới, không phải loại hoa bình thường. Nhưng giờ lại nở ở chốn rừng sâu núi thẳm, không biết cành hoa như họa ấy nở vì ai? (BTV)
4. Dịch nghĩa: Rét mướt mưa bay tình vô hạn, chớ nói xuân khó màng, vì chàng thiếp say đâu có sao, chỉ sợ đến khi tỉnh rượu, lại tan nát cõi lòng (BTV).
5. Ca sĩ nổi tiếng Đài Loan (BTV).
6. Vu Đan: Phó viện trưởng Học viện Nghệ thuật và Truyền thông, Đại học sư phạm Bắc Kinh, thạc sĩ văn học cổ đại Trung Quốc, tiến sĩ văn học… Bà có các tác phẩm tiêu biểu như “Luận ngữ tâm đắc”, “Trang tử tâm đắc”… Chương trình “Cuộc đời nghệ thuật của bà được đông đảo khán giả truyền hình mến mộ.
9. Xe Smart là loại ô tô cỡ nhỏ hai chỗ. Xe Karting là loại xe đua cỡ nhỏ có đặc điểm là bánh xe hở, một chỗ ngồi, rất thấp (BTV).
1. Trong mười loại tạng, đảm (mật) là trước tiên (BTV).
1. Nhị thập ngũ hiếu: Giới trẻ Trung Quốc hay nói, nhị thập tứ hiếu là hai mươi tư tấm gương hiểu thảo với cha mẹ, còn trường hợp thứ hai mươi lăm là “hiếu thuận” với người yêu (BTV).
1: Linus Torvalds (1969): nhà khoa học máy tính người Phần Lan, nổi tiếng với việc phát triển hệ điều hành Linux, một ví dụ nổi bật về phần mềm tự do và phát triển mã nguồn mở. Anh từng là sinh viên trường Đại học Helsinki.
4. Một kiểu bánh mỳ không có bột nở, khô, đặc và ít ngọt hơn, thường được ăn với bơ và mứt.
5. Pháo đài phòng thủ đầu tiên được xây dựng chạy ngang nước Anh dưới thời trị vì của hoàng đế Hadrian năm 122 sau Công Nguyên.
6. Nguyên văn câu trước Charles nói là “... have a nip”, có nghĩa là uống ngụm nhỏ, nhưng Ellie chơi chữ, dùng “nip” là động từ, có nghĩa là cấu, véo.
7. Bài xì lát (xì dách).
1. Nguyên văn tiếng Pháp: Ngược lại.
2. Lụa Đa-mát (damask) là loại lụa nổi tiếng thời kỳ Trung cổ, tên bắt nguồn từ thành phố Damascus - một thành phố lớn và náo nhiệt (là một phần của con đường tơ lụa) chuyên sản xuất và trao đổi buôn bán tơ lụa.
3. Oliver Cromwell (25/4/1599 - 3/9/1658) là một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự người Anh, đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập nền cộng hòa ở Anh và sau đó là Huân tước bảo hộ của Anh, Scotland và Ireland.
1 Audrey Hepburn: Một diễn viên điện ảnh huyền thoại của những thập niên 1950-1960. Qua các cuộc bầu chọn, bà thường được xem là một trong những phụ nữ đẹp nhất thế kỷ 20.
2 Grace Kelly: Một diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Mỹ.
3 Calvin & Hobbes: Một bộ truyện tranh hài nhiều tập nói về những cuộc phiêu lưu của chú bé sáu tuổi Calvin và con hổ Hobbes. Bộ truyện cực kỳ nổi tiếng và được in trên 2400 tờ báo trên khắp thế giới vào cuối thập niên 80 đến đầu thập niên 90.
4 Small Business Administration: Một tiểu ban của chính phủ Mỹ có nhiệm vụ hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ.
5 Nguyên văn là “blue chips”: Một loại cổ phiếu chất lượng cao do các công ty lớn có tiếng phát hành.
6 Nguyên văn là “Father of the year”: Giải thưởng hàng năm ở Mỹ dành cho những ông bố. Bertram Svenson là bố của Kate.
7 Leona và Harry Helmsley: Hai vợ chồng ông vua bất động sản lớn nhất ở Mỹ trong thế kỷ 20.
8. Donna Reed: Nữ diễn viên tài năng của Mỹ đã từng đạt giải của Viện Hàn lâm Mỹ và giải Quả cầu vàng.
1 Nguyên văn là “Wet-T-shirt Wednesdays”: Bữa tiệc trong đó người tham dự mặc áo phông mỏng và té nước vào người nhau, một loại hình giải trí quen thuộc của người dân Mỹ." class="sup center"> 1 , mà chỉ có cái biển cũ kỹ “Xin mời vào” màu trắng sơn bằng tay trên cánh cửa gỗ thông đầy mắt. Ngay cả các quán bar trong thị trấn này cũng sạch sẽ và xinh xắn. Cô đã hạ cánh xuống Disneyland ở Kentucky mất rồi.
2 Ca-bin: Loại nhà tương tự như nhà gỗ một tầng trong các khu nghỉ dưỡng, được làm bằng gỗ ghép và chỉ có một tầng, được chia ra làm phòng ngủ, phòng khách, phòng bếp đầy đủ tiện nghi cho các vị khách giàu có trong các khu nghỉ dưỡng đắt tiền.
3. Abraham Lincoln: Tổng thống thứ 16 của nước Mỹ.
4 Frank Lloyd Wright: Kiến trúc sư nổi tiếng người Mỹ sống từ nửa cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, là nhà thiết kế nội thất, đồng thời là nhà văn và nhà giáo.
5 Croquet: loại trò chơi vừa mang tính chất giải trí vừa có tính thi đấu, bao gồm có gậy đánh bằng gỗ, bóng nhựa và một cái vồ, cần phải đánh bóng chui qua những cái vành được gắn trên sân cỏ để ghi điểm.
6 Luau: bữa tiệc kiểu Hawaii.
7 Kate chơi chữ, trong tiếng Anh, “frank” có nghĩa là ngay thẳng.
8 Frank chơi chữ, lei có nghĩa là vòng hoa, đồng âm với lay, nghĩa là quan hệ tình dục.
9 Andrew Dice Clay: diễn viên hài người Mỹ trong thế kỷ 20.
10 Polo: trò chơi mà người chơi cưỡi ngựa dùng chày có cán dài đánh bóng vào cầu môn để ghi điểm.
1 Ở đây tác giả chơi chữ từ “ground”, nguyên văn câu nói của Mark là “from the ground up”, nghĩa là “từ thấp lên cao”, còn nguyên văn câu nói của Kate là “the ground here certainly goes up”, nghĩa là “mặt đất ở đây rõ là đi lên rồi”.
2 Nguyên văn là “swing”, một cú xuynh gậy bao gồm các chuyển động trước, trong và sau khi gậy người chơi tiếp xúc với bóng.
1 Nguyên văn là “correspondence courses”, nghĩa là các lớp học gửi sách, bài tập… qua đường bưu điện.
2 Taj Mahal: khu lăng tẩm được xây dựng ở Agra, Ấn Độ bởi Mughal Emperor Shah Jahan để tưởng nhớ người vợ mà mình yêu thương nhất.
3 Đây lại là một cách chơi chữ của nhân vật. Trong kinh tế, từ “liquid” có nghĩa là có tính thanh khoản (dễ chuyển thành tiền mặt). Nhưng nghĩa gốc của từ “liquid” là chất lỏng. Vì thế Kate mới nói rằng dù khoản đầu tư đó có bốc hơi thì cô cũng không quan tâm.
4 Nguyên văn là “Paint By Numbers”: một cách vẽ tranh. Bộ sản phẩm này bao gồm: giấy cứng chuyên dụng, cọ vẽ, bản hướng dẫn và màu tô có đánh số. Có kèm theo hướng dẫn cách pha màu, tô màu theo từng số cụ thể. Trong giấy cứng có phân ô theo số. Chỉ cần tô màu theo bản hướng dẫn là sẽ có một bức tranh như mẫu. Đây là cách vẽ tranh cho những người nghiệp dư.
5 Annie Oakley: sống trong giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, là người bắn súng thiện xạ của Mỹ. Tài năng kỳ diệu của cô và sự nổi tiếng đúng lúc đã làm cô trở thành nữ siêu sao đầu tiên ở Mỹ. Hình ảnh cô thường xuất hiện với hai bím tóc tết hai bên và đội một chiếc mũ rộng vành.
6 Daiquiri: hỗn hợp đồ uống gồm rượu rum, nước chanh và đường ướp lạnh.
7 Stetson: một nhãn hiệu mũ cao bồi.
1 Một người bình thường nhịp tim ở vào khoảng 60-100.
2 Nguyên văn là “fly-fishing”, một cách câu cá bằng ruồi nhân tạo thay vì mồi câu thông thường.
3 Touchdown: phương pháp ghi bàn chính trong bóng bầu dục ở Mỹ và Canada. Một touchdown được tính 6 điểm, đội nào ghi được touchdown sẽ có cơ hội ghi thêm điểm. Một cầu thủ ghi được touchdown khi anh ta ôm bóng và chạy qua vạch cầu môn (đường cấm địa) của đối phương.
4 Nguyên văn là “mortgage”: khoản vay để mua bất động sản và rồi dùng chính bất động sản đó làm vật thế chấp cho khoản vay.
5 MBA, viết tắt của Master of Business Administration: Thạc sĩ quản trị kinh doanh.
1 Tiffany: thường là biểu tượng cho những cô gái Mỹ 'ngực to, mông to nhưng đầu rỗng tuếch'.
2 Twits 'R' Us: một cách chơi chữ của Toy 'R' Us – là chuỗi cửa hàng bán đồ chơi trẻ em nổi tiếng. Twits thường chỉ những người vô dụng, ngu ngơ.
3 Kate chơi chữ, cậu của Jake tên Early, nghĩa là 'sớm'.
1 Lord Byron: tên thật là George Gordon Byron, nhà thơ nổi tiếng người Anh cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Ngoài việc nổi tiếng vì là một nhà thơ lớn, ông còn nổi tiếng với cuộc sống riêng tư vốn đầy rẫy những xì căng đan, những câu chuyện tình ái, nghi ngờ, rồi chia tay. Ông được Quý bà Caroline Lamp miêu tả bằng một cụm từ nổi tiếng là 'mad, bad and dangerous to know'. Lúc này Kate mượn cụm này để nói về bản thân mình.
2 A-mi-ăng: một loại khoáng chất được sử dụng làm các vật liệu chống cháy, khi hít phải hạt a-mi-ăng sẽ dễ bị bệnh viêm phổi hoặc ung thư phổi.
3 Calamine: một loại thuốc mỡ bôi da dùng để làm dịu các vết sưng tấy.
1 Godzilla: con quái vật xấu xa khổng lồ trong một bộ phim của Nhật Bản, là sự kết hợp giữa khỉ đột và cá voi.
2 Hallelujah: thán từ có ý nghĩa ca ngợi Chúa.
3 LBO, nguyên văn là “Leveraged buyouts”: hình thức mua lại và sát nhập các doanh nghiệp bằng nguồn tài chính đi vay. Từ năm 1980, LBO nổi lên như một chiến lược mua lại rất quan trọng.
4 Securities Exchange Commision: Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ, là cơ quan đầu não kiểm duyệt mọi hoạt động mua bán trên thị trường chứng khoán Mỹ, có ảnh hưởng cực lớn đến phố Wall và thị trường chứng khoán thế giới.
Bài từ nổi tiếng của Lục Du (1125-1209), nhà thơ thời Nam Tống. Bài từ xuất phát từ bi kịch của cuộc đời ông. Ông kết hôn với người em họ Đường Uyển. Mẹ ông không thích Đường Uyển và cũng không tán thành cuộc hôn nhân này nên đã chia cách họ. Mười năm sau, hai người gặp lại nhau ở Thẩm Viên, Lục Du viết lên tường một bài từ rất bi phẫn là Thoa đầu phượng. Không lâu sau, Đường Uyển chết, Lục Du vẫn còn lưu luyến mãi, viết bài thơ tình nổi tiếng Thẩm viên được truyền tụng đến nay.
Bài thơ của Tô Thức (Tô Đông Pha) (1037-1101), nhà văn, nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc đời Tống.
Tên tập truyện của nữ văn sĩ nổi tiếng Quỳnh Dao.
Còn gọi là Nguyệt Lão, vị thần chuyên quản việc hôn nhân theo truyền thuyết Trung Quốc.
Nhà vật lý học nổi tiếng, người Hoa đầu tiên được nhận giải Nobel. Ông kết hôn với Ông Phàm (28 tuổi) năm ông 82 tuổi.
Liễu Hạ Huệ (720-621 TCN): người nước Lỗ, thời Xuân Thu, nổi tiếng là một chính nhân quân tử.
Nhân vật nữ không có thực trong Xạ điêu tam bộ khúc (Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ, Ỷ thiên Đồ Long ký) của Kim Dung.
Một hình phạt dã man thời phong kiến: tứ chi của phạm nhân bị cột vào bốn sợi dây buộc vào bốn con ngựa, con ngựa thứ năm cột vào cổ phạm nhân.
rai : 1 ha = 6,25 rai, 1 rai = 1.600m2
tapioca : Các sản phẩm sơ chế từ sắn (như sắn lát, bột báng…)
giáp: Một cách đo lường thời gian ở một số nước Á Đông, 1 giáp bằng 12 năm
Soi : Hẻm
easy open : Loại hộp có móc khoén ở trên nắp, ể giật lên và mở hộp dễ dàng
Kinh lạc là đường khí huyết vận hành trong cơ thể, đường chính của nó gọi là kinh, nhánh của nó gọi là lạc, kinh với lạc liên kết đan xen ngang dọc, liên thông trên dưới trong ngoài, là cái lưới liên lạc toàn thân.
Nửa khắc: Tầm mười lăm phút.
Mắt hạnh: Mắt hình quả hạnh đào, là kiểu mắt tròn và có phần đuôi mắt dài, hình mẫu mắt lý tưởng của các cô gái.
Nguyên mạt: Chiếc khăn lụa dính máu của người con gái trong lần đầu tiên vào đêm động phòng.
Bình thê: Trong chế độ một chồng nhiều vợ, có từ hơn một chính thất trở nên thì gọi là bình thê. Có nghĩa là cả hai (hoặc nhiều) bà vợ đều là vợ cả, chính thất.
Chữ “Hầu” trong Hầu phủ đọc đồng âm với từ “con khỉ”.
Nhu động: Cử động như giun đất bò.
Chữ Xuyên tiếng Trung viết là: 川.
Tức là gọi trai bao.
A hoàn bồi giá: Là a hoàn của nhà mẹ đẻ được gả đi theo khi tiểu thư lấy chồng.
Đường huynh: Anh họ đằng nội.
Trong tiếng Trung, Sính Đình có nghĩa là tha thướt (chỉ người con gái xinh đẹp thướt tha).
Khế đất: Văn tự ruộng đất.
Cáo mệnh: Phụ nữ được phong hiệu.
Văn phòng tứ bảo là bốn vật dụng thiết yếu của người học thư pháp, bao gồm: Bút, nghiên, giấy và mực.
Bệnh tiêu khát: Trong Đông y chỉ chứng uống nhiều nước, tiểu tiện nhiều, bao gồm các bệnh đái đường, tháo nhạt... Thời cổ đại chưa có khái niệm về bệnh tiểu đường.
Viên phòng: Chỉ việc bắt đầu cuộc sống vợ chồng.
Đây là hai câu thơ trong bài “Ỷ Hoài” kỳ thứ mười lăm của Hoàng Cảnh Nhân (Nhà thơ thời Thanh). Dịch nghĩa là: Sao đêm nay đã không còn là sao của đêm trước, vì ai mà vẫn đứng trong gió sương này?
kinh lạc: Đông y chỉ mạch chủ và mạch nhánh.
Hung hữu thành trúc: Làm gì cũng phải có tính toán kĩ càng.
Quý nhĩ tiện mục: Trọng những gì mình nghe thấy hơn là nhìn thấy.
Mục vô dư tử: Chỉ trong mắt không có ai, là người tự cao tự đại.
Tử hư ô hữu: Chỉ chuyện tào lao, chuyện bịa.
Hữu mục cộng đổ: Chuyện ai cũng biết, ai có mắt cũng thấy.
Đổ vật tư nhân: Nhìn vật lại nhớ tới người.
Nhân trung kì kí: Chỉ người tài, người xuất chúng.
Kí tự long văn: Chỉ thần đồng, anh tài.
Văn chất bân bân: Nho nhã, lễ phép.
Bân bân hữu lễ: Cũng cùng nghĩa với văn chất bân bân.
Cầm(琴)sắt(瑟)tỳ(琵)bà(琶) là bốn loại nhạc cụ, phía trên bốn chữ này đều có bộ hai chữ vương, tổng cộng là tám chữ Vương (Bát đại vương).
Đào phi kí: Phi tần bỏ trốn.
Thứ tử: Con của thiếp thất.
Đích tử: Con của chính thất.
Bả tổng: Một chức quan.
Sát có nghĩa là hung dữ.
Quế Cầm: Tên của Vương thị.
Lôi Phong: Một chiến sĩ của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, anh được miêu tả là người vị tha, khiêm tốn, hết lòng vì Đảng và chủ tịch Mao Trạch Đông, anh còn trở thành đề tài cho cuộc vận động toàn quốc có tên “Noi theo tấm gương đồng chí Lôi Phong”.
Tức năm hành tinh: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ xếp thẳng hàng. Hay còn gọi là ngũ tinh tụ.
biên tu: Là một chức quan.
Hai câu đầu trong Hậu đình hoa (Hoa nở sân sau) của Triệu Mãnh (Đời Nguyên). Nghĩa là: Một chiếc thuyền lá trên khe suối, bên bờ phù dung nở rộ.
Đây là một câu đối với ý là: “Ánh trăng trên mặt nước khiến màn đêm trở nên đẹp lung linh, hoa mai bên suối như được trang điểm nhẹ nhàng.”
Đông xưởng là một trong bốn cơ quan giám sát được Hoàng đế thời nhà Minh thành lập nhằm giám sát hành vi, cử chỉ của các quan lại thuộc mọi cấp. Bốn cơ quan đó gồm: Cẩm y vệ, Đông xưởng, Tây xưởng và Nội hành xưởng. Danh từ chung để gọi bốn cơ quan đó là Xưởng vệ.
Ngỗ tác: Tên một chức lại để xét nghiệm tử thi.
Tống Từ (tiếng Trung: 宋慈) (1186 - 1249), tự Huệ Phủ, người huyện Kiến Dương, tỉnh Phúc Kiến thời Tống. Ông là nhà pháp y học trứ danh đời cổ xưa của Trung Quốc và cũng là của thế giới. Ông viết quyển “Tẩy Oan Tập Lục” (洗冤集录), một quyển sách chuyên môn về pháp y học sớm nhất trên toàn thế giới.
Phong quan: là vân ngang nằm giữa đốt thứ nhất và đốt thứ hai của ngón cái trong lòng bàn tay.
Nhị công chúa An Ninh.
Ý chỉ việc lập gia đình riêng sau khi hủy hôn.
Chữ 好Hảo (Tốt) được ghép bởi hai chữ 女(Nữ, con gái) và chữ 子 (Nam, con trai).
Chủng đậu: Nghĩa là cách chủng ngừa đậu mùa.
Quan phu: Ở đây chỉ người góa vợ.
Là câu nói của Triệu Vân trong Tam Quốc Diễn Nghĩa. Cả câu là: “Đại trượng phu chỉ hoạn công danh bất lập, hà hoạn vô thê”. Ý muốn nói rằng: Thứ mà đàn ông cần quan tâm là công danh sự nghiệp, chứ không phải việc thành gia lập thất.
Văn Tử Hằng đọc phiên âm giống với Văn Tử Hanh. Mà Văn Tử trong lời của Tử San có nghĩa là con muỗi, còn “hanh” là kêu rên. Nên Tưởng Nhược Nam mới ví von như vậy.
Là chứng bị khí hư và ngoại tà xâm nhập, biểu hiện trên lâm sàng đều có triệu chứng khí hư như thở gấp, ngại nói, tự chảy mồ hôi và biểu chứng sốt rét, đau mình, đau đầu, ngạt mũi.
Trong y học cổ truyền, bệnh viêm tắc động mạch chi dưới được mô tả trong phạm vi các chứng “Thoát thư”, “Thoát cốt thư”, “Mạch tý”, “Thập chỉ linh lạc”.
Tam phục thiên: Khoảng thời gian từ tháng Sáu đến tháng Chín dương lịch.
Đông y gọi các thứ bệnh đau buồn trong lòng là can khí.
Tương phi trúc: Trong lịch sử Trung Quốc, vào thời Ngũ Đế có Nga Hoàng và Nữ Anh đều là con gái của Đế Nghiêu và cùng là vợ của Đế Thuấn. Lần Đế Thuấn đến đất Thương Ngô bên bờ sông Tương thì ngã bệnh qua đời, hai bà ngồi cạnh mộ bên bờ sông Tương khóc ròng rã suốt bảy ngày bảy đêm. Chỗ nước mắt của hai bà rơi xuống mọc ra bụi trúc nên người đời gọi luôn đó là “Tương phi trúc”, sau khi khóc than thì Nga Hoàng cùng Nữ Anh đều trầm mình xuống sông để tuẫn tiết theo chồng.
Loại cảm ứng này là...
Sự kiện Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn năm 1900. Sau khi Liên quân tám nước Anh, Pháp, Nhật, Nga, Đức, Mỹ, Italia, Áo đánh vào Bắc Kinh, Từ Hy Thái Hậu đã bất lực, chấp nhận ký bản Hiệp ước Tân Sửu với 11 nước Anh, Pháp, Nhật, Nga, Đức, Mỹ, Italia, Áo, Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan. Đây là một hiệp ước bất bình đẳng, là hiệp ước bán nước nhục nhã xưa nay chưa từng có của xã hội Trung Quốc.
Điều may mắn không đến hai lần cùng lúc, tai họa không bao giờ đến một mình.
Pardon: là “Xin lỗi?”, ý hỏi một cách lịch sự đối phương vừa nói gì khi không nghe rõ.
Bandari: nhóm nhạc nổi tiếng của Thụy Sĩ được thành lập vào năm 1990. Bandari tạo riêng cho mình một nét nhạc rất độc đáo: đưa thiên nhiên vào âm nhạc.
Shakespeare (1564-1616): nhà văn, nhà viết kịch vĩ đại người Anh.
Wordsworth (1770-1850): nhà thơ lãng mạn người Anh.
Chỉ vợ chồng không hợp nhau.
Valentin Louis Georges Eugène Marcel Proust (10/7/1871 - 18/11/1922): nhà văn người Pháp, được biết đến nhiều nhất với tác phẩm Đi tìm thời gian đã mất (À la recherche du temps perdu).
Chính xác.
Vì điều gì?
Hiểu không?
Thì sao cơ?
Nhân Vương kinh, hay còn còn là Bát Nhã Nhân Vương kinh, tên đầy đủ là Bát Nhã Nhân Vương hộ quốc thần bảo ký kinh, là một bộ kinh bao gồm khoảng 40 bài kinh Đại thừa được gọi chung dưới tên này với nội dung, mục đích hướng dẫn hành giả đạt được trí Bát Nhã, thành tựu Bát Nhã Ba La Mật Đa. Bộ kinh này là một phần quan trọng của bộ Kinh Phương đẳng, được ghi lại từ thế kỷ thứ nhất trước công nguyên đến khoảng thế kỷ thứ năm trước công nguyên.
Thiên điểu: là một loại cây thân thảo, có nguồn gốc từ các nước miền Nam châu Phi và châu Mỹ nhiệt đới. Hoa bao gồm ba lá đài màu da cam rực rỡ, ba cánh hoa màu lam ánh tía. Tràng hoa màu lam sẫm, nhụy màu trắng. Hai trong số ba cánh hoa hợp lại thành tuyến mật hình mũi tên.
Vương Lão Cát: một loại đồ uống giải nhiệt của Trung Quốc, thành phần gồm: tiên thảo, đản hoa, hoa cúc, kim ngân hoa, hạ khô thảo, cam thảo.
Bài hát chủ đạo trong một bộ phim truyền hình về tình yêu học đường lần đầu tiên được làm theo thể sitcom, có trong album Mùa đông ở Bắc Kinh do hãng Warner Music phát hành vào 1/1/2010.
“Lá sen xanh biếc liền trời thẳm. Nắng chiếu hoa sen lạ sắc hồng.” Hai câu thơ trích trong Hiểu xuất Tĩnh Từ Tự tống Lâm Tử Phương (Buổi sớm ra chùa Tĩnh Từ tiễn Lâm Tử Phương) của nhà thơ Dương Vạn Lý thời Nam Tống, Trung Quốc.
“Hồng nhan thấm thoắt xuân qua, Hoa tàn người vắng ai mà biết ai.” Trích bài Táng hoa từ (Bài từ chôn hoa) trong tiểu thuyết nhà của Tào Tuyết Cần đời Thanh, Trung Quốc.
Blue trong tiếng Anh vừa có nghĩa là màu xanh da trời vừa có nghĩa là nỗi buồn.
Sherry, cô không sao chứ?
CBD: viết tắt của Central Business District, khu trung tâm hành chính và thương mại của một quốc gia hay một thành phố.
Immanuel Kant (1724 - 1804): triết gia nổi tiếng người Đức.
Câu lưu: một hình thức bắt giữ tạm thời, trong khoảng một thời gian ngắn để điều tra.
Cây cầu độc mộc: chỉ chiếc cầu làm từ thân cây khô, bắc qua sông, qua rạch.
Viêm Đế: một vị vua huyền thoại của các dân tộc, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa, một trong Tam Hoàng và được coi là anh hùng văn hóa Trung Hoa. Câu nói này ý chỉ Trung Hoa là một đất nước trọng văn hóa, lễ nghĩa.
Tiếng địa phương của người Tứ Xuyên, tương đương với “kiểu quái gì”.
Penthouse là căn hộ nằm trên tầng cao nhất của một tòa nhà, người ta còn gọi là căn hộ thông tầng.
Sát thủ chuyên nghiệp.
Tử kinh: là một loài cây thân gỗ, các lá to và dày cùng các hoa đỏ ánh tía nổi bật. Hoa tử kinh cũng là biểu tượng trên lá cờ Hồng Kông.
Đã bất hạnh rồi thì cũng phải bất hạnh một cách tốt nhất.
(1) Một kiểu nhân vật trong truyện manga, bề ngoài hiền lành nhưng trong lòng rất xấu xa.
(2) Ý chỉ khái niệm “ngược” trong truyện ngôn tình.
(3) Viết tắt của Central Business District: khu trung tâm hành chính và thương mại của một quốc gia hay thành phố.
(4) Một vị thuốc giúp thanh nhiệt, giải độc, lợi yết hầu.
(5) Ý của câu thành ngữ này là chỉ lâu đài gần bờ nước sẽ được ánh trăng chiếu sáng trước tiên, thường dùng để ví với việc ở gần thì được ưu tiên. Hiện nay, người ta vẫn thường dùng câu: “Cận thủy lâu đài” để ví với việc ở gần thì được ưu tiên trước.
(6) Grandet: nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết 'Eugénie Grandet' của Honoré de Balzac, nổi tiếng vì sự giàu có, khôn ngoan và đặc biệt là vô cùng keo kiệt.
(7) Trong thần thoại Hy Lạp, Medusa là một con quỷ trong ba chị em quỷ có tên chung là Gorgon.
(8) Có nghĩa là cảm giác không chân thực.
(9) Ý chỉ người có nhiều tài năng.
(10) Nữ nhà văn Trung Quốc với những tác phẩm tiêu biểu như: 'Bá vương biệt cơ, Thanh xà, Cây cầu sinh tử…'
(11) Có nghĩa là: sống ngày nào vui ngày ấy.
(12) Viết tắt của tên Cố Bình An: Gu Ping An.
(13) Có nghĩa là: Cố công chúa, / Em đồng ý lấy anh nhé? / Thẩm
Thu Cúc: Tên nhân vật chính trong bộ phim Thu Cúc đi kiện của đạo diễn Trương Nghệ Mưu.
Chu Bát Bì: Tên địa chủ gian ác trong tác phẩm Bán dạ kê khứu của nhà văn Cao Ngọc Bảo. Tên địa chủ này thường giả tiếng gà gáy để bắt người ở dậy sớm làm việc.
Nhân vật “Tiểu Thanh” trong Bạch xà truyện.
THỔI SÁO Vua Tuyên Vương nước Tề thích nghe sáo, và lúc nào muốn nghe, bắt ba trăm người cùng thổi một loạt. Trong ba trăm người ấy, có Đông Quách tiên sinh không biết thổi sáo, nhưng cũng lạm dự vào đây để kiếm lương ăn. Đến khi vua Tuyên Vương mất, vua Mẫn Vương nối ngôi, cũng thích nghe sáo. Nhưng chỉ muốn nghe riêng từng người một mà thôi. Đông Quách tiên sinh thấy thế, tìm đường trốn trước. (Hàn Phi Tử)
Lâm Ngữ Đường (10/10/1895 – 26/3/1976), tên chữ Ngọc Đường, là nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc. Ông được xem là người có công lớn trong việc giới thiệu văn hóa Trung Quốc ra thế giới, với những cuốn sách bằng tiếng Anh, nói về nghệ thuật, văn hóa và nhân sinh quan của người Trung Quốc.
“Such a fruitcake!” là một câu chữ có nghĩa là “Đồ gay!” hoặc “Đồ điên!”
Thái tang tử - Tân Khí Tật Nguyên văn Niên thiếu bất thức sầu tư vị, ái thượng tầng lâu. Ái thượng tầng lâu, vi phú tân từ cường thuyết sầu. Nhi kim thức tẫn sầu tư vị, dục thuyết hoàn hưu. Dục thuyết hoàn hưu, khước đạo thiên lương hảo cá thu Văn dịch Người đang còn trẻ thì không rõ cảm giác ưu sầu, thích đăng cao nhìn về nơi xa. Thích đăng cao nhìn về nơi xa, vì ngâm phú tân từ mà miễn cưỡng nói sầu. Mà hiện tại nếm hết cảm giác ưu sầu muốn nói rồi lại không nói gì. Muốn nói mà không nói gì, lại chỉ nói: “Mùa thu mát mẻ làm sao!”
Tương: Tên gọi khác của tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc
Công tước xứ Windsor: Chuyện tình của Edward VIII nước Anh và những ngày hạnh phúc bên người phụ nữ của mình - Wallis Simpson.
“Ngư Dương bề cổ động địa lai” trong tác phẩm “Trường hận ca” của Bạch Cư Dị. Vu Dương và Ngư Dương đều có phiên âm là Yu Yang.
Raphael, Titian là những họa sỹ nổi tiếng thời kì phục hưng ở Tây Âu.
Albrecht Dürer (1471-1528): Họa sỹ người Đức
Năm sản xuất của xe.
Tên viết tắt của loại xe Thunderbird do hãng Ford sản xuất.
Dòng xe ô-tô đặc trưng của Mỹ có vẻ ngoài được thiết kế nam tính và mạnh mẽ, là biểu tượng và phong cách của người Mỹ những năm 70-80 thế kỷ trước, tiêu biểu với các dòng Ford Mustang, Chevrolet Camaro và Dodge Challenger/Charger...
Một loại dầu chống gỉ.
Một môn thể thao được cải biên từ bóng chày để dành cho trẻ con chơi.
Thú có vú thuộc họ Dasypodidae ở miền nam Bắc Mỹ và Nam Mỹ.
Một cách gọi xe Cadillac.
Chỉ những người ở khu vực Đông Bắc của Mỹ
Một ban nhạc rock của Mỹ được thành lập vào năm 1995, đã từng có ba albums liên tiếp xếp hạng nhất trên Billboard 200.
Chữ cái đầu của một từ chửi bậy trong tiếng Anh, còn dùng để chỉ hành động quan hệ tình dục.
Ở đây Nathan dùng câu nói “If it harelips the governor” có nghĩa là bất chấp hậu quả, một câu mà người Texas hay nói.
Nekkid Boobs and Butts Club (tiếng Anh)
Kiểu tóc chỉa nhọn giữa đầu, hai bên được cạo sạch tóc.
Tên một công ty của Canada được thành lập năm 1930, cung cấp miễn phí dịch vụ chào đón những gia đình sắp có sự thay đổi trong lối sống, như là chuyển nhà, tổ chức đám cưới, sắp sinh con, v.v...
Một loại nút thắt có thể trượt đi trên dây để điều chỉnh độ rộng của vòng dây.
Kí hiệu của Thang độ Fujita hay Thang độ Fujita–Pearson, một thang đo sức gió và khu vực ảnh hưởng của lốc xoáy được lập bởi nhà khí tượng học Fujita Tetsuya của Đại học Chicago năm 1971. Chúng gồm 6 cấp độ từ 0 đến 5. Cấp 0 là cấp thấp nhất.
Internal Revenue Service: Tổng cục thuế Mỹ
Một loại thuốc kháng sinh dành cho trẻ em
Big D: biệt danh của Dallas
Mullet có nghĩa là cá đối (tiếng Anh)
Đơn vị km/h
Một món ăn Mexico làm từ ngũ cốc, thịt băm, ớt, dầu, rồi đem hấp.
Một loại xe ô-tô mà các hàng ghế sau ghế lái xe có thể bỏ ra hoặc gấp lại, và khoang chứa đồ sau ghế hành khách cũng được nới rộng hơn so với các loại xe khác, mục đích ban đầu của dòng xe này là để chở đồ.
Điểm khác biệt giữa trò bóng bầu dục cờ và bóng bầu dục thông thường là thay vì giành bóng trực tiếp từ đối thủ, người ta gỡ lá cờ trên thân người cầm bóng.
Một kiểu ghi điểm trong môn bóng bầu dục.
Một ban nhạc Alternative rock của Mỹ.
1. Ý muốn nói một việc gì nhỏ nhặt đến mấy xảy ra đều không phải tình cờ.
2. Nguyễn Đắc Xuân, Từ Phú Xuân đến Huế (Hồi ký), Nhà xuất bản Trẻ, 2012.
3. Không rõ sau này về nước, “anh Khê” có đem 17 các-tông ấy về không. Xem danh sách trên 500 các-tông di sản của Trần Văn Khê tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh để tại tầng 1 dãy nhà sau 32 Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh, không thấy đề cập đến 17 các-tông vật dụng riêng của cô Đoan.
4. Không ngờ sau đó không lâu, cô Ngọc Hân, một trong những thư ký của Trần Văn Khê, đã tìm được tiền tài trợ và cũng đã tìm được người dịch. Trước khi qua đời Trần Văn Khê đã xem qua một số trang bản dịch rồi. Hiện nay (3/2016) việc dịch Trân Van Khê et le Vietnam sắp hoàn thành.
5. Sài Gòn Tiếp Thị, số ra ngày 29/8/2012.
6. Lời đề tặng Marrionnettes sur eau du Viet Nam, Huế 3/11/1993.
7. Lời đề tặng ngày 12/4/2001, Hồi ký Trần Văn Khê, Tập I.
8. Lời đề tặng Tự truyện Trần Văn Khê, Những câu chuyện từ trái tim, ngày 8/3/2011.
9. Lời đề tặng Tính dân tộc trong âm nhạc Phạm Duy & Tình bạn Duy-Khê, ngày 4/10/2013.
10. Trích bài hát Người tình già trên đầu non, Phạm Duy.
1. Trích Hồi ký Đãi cát tìm vàng, Trần Văn Khê.
11. Trích bài Trăng thu dạ khúc, Hải Đăng.
12. Cần bổ sung một số chi tiết của công trình của Lê Mạnh Thát, Vài tư liệu mới cho việc nghiên cứu âm nhạc Việt Nam trước năm 939, công bố năm 1970 tại Sài Gòn và tái bản năm 2001 tại Việt Nam với tựa đề Lịch sử âm nhạc Việt Nam từ thời Hùng Vương đến Lý Nam Đế.
13. Thầy có ưu ái viết vài trang về chuyện này trong Hồi ký Trần Văn Khê tập 5, Đãi cát tìm vàng, với tựa đề Lấy Luật học nuôi Nghệ thuật vì sự thật là tôi mưu sinh bằng nghề luật sư để có phương tiện nghiên cứu âm nhạc.
14. Thanh điệu tiếng Việt và âm nhạc cổ truyền của tác giả Hoàng Kiều, Viện Âm Nhạc, 2002.
15. Gagaku và Nhã nhạc của tác giả Văn Minh Hương, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2003.
16. Bến Cũ Văn Lâu tại Thùy Khương trang
17. Hồi ký Trần Văn Khê xuất bản lần đầu năm 2005 gồm năm tập với 20.000 bản. Năm 2010 và 2013, hồi ký được tái bản, chắt lọc lại còn hai tập với số lượng in mỗi lần là 10.000 bản (BT).
18. Những chuyện trên thuật lại từ Hồi ký Trần Văn Khê (Công ty văn hóa Phương Nam và Nhà xuất bản Thời đại phát hành).
19. Trên thực tế là Biên bản làm việc.
20. Nhà báo Nguyễn Thế Thanh soạn lời mở đầu cho cụm bài này và chọn 11 bài thơ xướng họa trong cuốn sách Cung đàn tri kỷ tri âm do gia đình nhà thơ Tôn Nữ Kỷ Khương cung cấp.
21. Tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Bình (1877 - 1961) cháu nội của Tuy lý vương Miên Trinh, từng được triều đình nhà Nguyễn phong nhiều chức quan trong đó có Thượng thư trí sử (1933) và Hiệp tá Đại học sỹ (1943).
Lễ kỷ niệm ngày dân tộc Do Thái vượt qua Hồng Hải.
Một loại cỏ chua.
Dân Do Thái kỷ niệm ngày ra khỏi Ai Cập
Ngày lễ cuối tuần của người Do Thái.
(1) Một số người sẽ nhầm lẫn khái niệm cổ tức với khái niệm lợi nhuận mà chúng ta đang thảo luận trong chương này. Lợi nhuận là số tiền mà công ty kiếm được hàng năm sau khi đã trừ đi tất cả các chi phí và thuế. Cổ tức là khoản tiền mà công ty trả cho các cổ đông trên cơ sở lợi nhuận chia theo cổ phần mà họ đóng góp. Một công ty có thể có lợi nhuận khổng lồ tuy nhiên không nhất thiết phải trả cổ tức.
(1) Đây là một chỉ số quan trọng trong chính sách kinh tế - tiền tệ của một quốc gia.
(1). Stephen King: nhà văn chuyên viết truyện kinh dị nổi tiếng của Mỹ.
(*) Danh sách này không bao gồm các công ty đã sáp nhập vào công ty khác.
(1) Home run: khái niệm trong bóng chày, cú đánh cho phép người đánh chạy quanh ghi điểm mà khỏi phải dừng lại.
(2) Trong cuốn sách này, chúng ta sẽ gặp một số vấn đề phức tạp xuất hiện khi các công ty chia nhỏ cổ phiếu của họ - chia một cổ phiếu thành hai cổ phiếu, chia một cổ phiếu thành ba, v.v... Nếu bạn đầu tư 1.000 đô la vào 100 cổ phiếu của công ty X, mỗi cổ phiếu có giá 10 đô la, sau đó một cổ phiếu được chia nhỏ thành hai cổ phiếu, và bạn nghiễm nhiên có 200 cổ phiếu với giá 5 đô la một cổ phiếu. Hai năm sau, giả định giá cổ phiếu tăng lên 10 đô la và bạn sẽ có số tiền lớn gấp đôi. Tuy nhiên, với một người không biết gì về chia nhỏ cổ phiếu, anh ta sẽ cho rằng bạn chẳng được thêm gì, vì cổ phiếu bạn mua với giá 10 đô la lại bán ra với giá 10 đô la. Trong trường hợp của Subaru, cổ phiếu thực sự chưa bao giờ được bán với giá 312 đô la. Cổ phiếu đã được chia nhỏ từ một cổ phiếu thành tám cổ phiếu trước khi giá tăng, vì vậy thực chất giá cổ phiếu tại thời điểm đó chỉ có 39 đô la (312:8). Để phù hợp với mức giá này, tất cả các số liệu trước khi chia nhỏ đều phải chia cho 8. Đặc biệt mức giá thấp 2 đô la vào năm 1977 sau khi được “điều chỉnh chia nhỏ” chỉ còn 25 xu một cổ phiếu (2:8=0,25 đô la), mặc dù thực chất cổ phiếu không bao giờ bán ở mức giá 25 xu. Các công ty nói chung không muốn giá cổ phiếu của họ tính theo đô la quá cao, đó là lý do vì sao các công ty chia nhỏ cổ phiếu.
1. Tác phẩm Recherches sur l’Origine du Langage et de la Conscience được dịch giả Đoàn Văn Chúc dịch sang tiếng Việt, với tựa đề: Tìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thức [THẢO, Trần Đức (1973 (1996)]). Tuy nhiên, sau khi đọc các Báo cáo (I, II) của Giáo sư Trần Đức Thảo gửi Trung ương về tác phẩm này, thì tôi thấy rằng, chữ Langage trong nguyên bản tiếng Pháp phải được dịch là tiếng nói. Vì vậy, tên đúng của tác phẩm này trong tiếng Việt phải là: Những nghiên cứu về nguồn gốc tiếng nói và ý thức. Từ đây, mỗi khi đề cập đến tên tiếng Việt của tác phẩm ấy, tôi sẽ sử dụng cái tên này, còn khi đề cập đến bản dịch tiếng Việt cụ thể của dịch giả Đoàn Văn Chúc, thì tôi sẽ sử dụng lại tên cũ của dịch giả. (BS)
2. Tôi in nghiêng (NTC).
3. KANT, I. [1781] (2004). Phê phán lý tính thuần túy. Bùi Văn Nam Sơn dịch. Hà Nội: Nxb Văn học, tr. 1176.
4. HƯNG, Phạm Thành (2013).
5. “The ideas of economists and political philosophers, both when they are right and when they are wrong, are more powerful than is commonly understood. Indeed the world is ruled by little else” (KEYNES, J. M. (1936). The General Theory of Employment, Interest and Money. Cambridge, UK: Cambridge University Press, p. 204).
6. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1984b). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
7. Tác giả có chút nhầm lẫn. Trên thực tế, Edmund Husserl mất năm 1938. (BS)
8. Nước Pháp được giải phóng khỏi phát-xít Đức vào mùa Thu năm 1944. (BS)
9. Tác phẩm Erfahrung und Urteil: Untersuchungen zur Genealogie der Logik [Kinh nghiệm và phán đoán: Những nghiên cứu về niên đại học của logic] của Husserl, được xuất bản năm 1939, sau khi Husserl qua đời. (BS)
10. Husserl tự phân loại các bản thảo của mình thành năm nhóm, được xếp từ Nhóm A đến Nhóm E, trong đó Nhóm D gồm các bản thảo cuối đời, đề cập nhiều đến vấn đề “primordiale Konstitution” (kiến tạo nguyên thủy). (BS)
11. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1982). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
12. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1987a). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
13. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1989a). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
14. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1989b). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
15. Năm Stalin xuất bản tác phẩm Диалектический материализм и исторический материализм [Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử]. (BS)
16. Người Khéo (homo habilis) tồn tại trong khoảng thời gian cách đây từ 2,3 triệu tới 1,4 triệu năm, thể tích não bộ tăng dần từ 530 cm[3][sup] tới 660 cm[3][sup]. Người Khôn (homo sapiens) xuất hiện cách đây khoảng 600.000 – 400.000 năm, thể tích não bộ tăng dần từ 1.100 cm[3][sup] tới 1.400 cm[3][sup]. Người Tinh Khôn (homo sapiens sapiens) xuất hiện cách đây khoảng 200.000 năm, thể tích não bộ tăng dần từ 1.000 cm[3][sup] tới 1.850 cm[3][sup]. (BS)
17. Phạm Trọng Luật dịch. Nguồn: THAO, Trân Duc [1946b] (2004).
18. Thuật ngữ phénoménologie được Giáo sư Trần Đức Thảo dịch là hiện tượng luận, luận hiện tượng, hiện tượng học... Tuy nhiên, sau khi đọc kỹ di cảo của Giáo sư và trao đổi với các chuyên gia, tôi thấy cách dịch thuật ngữ này thành hiện tượng luận là chính xác hơn cả, vì phénoménolgie, trước hết và quan trọng nhất, là một cách lập luận về hiện tượng, để qua đó mở ra con đường mới cho nhận thức (Từ điển bách khoa Britannica Encyclopedia định nghĩa hiện tượng luận như là một phương pháp mô tả và phân tích ý thức để qua đó triết học cố gắng trở thành một khoa học chính xác). Vì vậy, từ đây về sau, trừ khi thuật ngữ hiện tượng học xuất hiện trong các tác phẩm tiếng Việt của Giáo sư Trần Đức Thảo, còn lại đều được biên tập thành hiện tượng luận. (BS)
19. Trần Đức Thảo rất kín đáo về việc tiếp thu chủ nghĩa Marx. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề khó trả lời. Một giáo sư Mỹ viết về ông khẳng định Trần Đức Thảo đã từng gia nhập Đảng Cộng sản Pháp trong thập niên 1940 [FEDERICI, S. (1970)]. Dù thông tin trên đúng hay không, Đảng Cộng sản Pháp đương nhiên là nơi đã đào tạo rất nhiều trí thức theo chủ nghĩa Marx tại đây, trong số đó hẳn cũng có Trần Đức Thảo.
20. BARTHES, R. (1951b).
21. NAVILLE, P. (1947). Marx ou Husserl. Nguồn: Les Conditions de la Liberté. Paris: Ed. du Sagittaire, pp. 162–167.
22. MARX, K. [1844] (1968). Manuscrits de 1844. Présent., trad. et notes de Emile Bottigelli. Paris: Ed. sociales, p. 91.
23. Sđd., tr. 93.
24. Đây là từ đã nhảy mất trong nguyên bản. Bản dịch của Laura Lafargue mà Trần Đức Thảo sử dụng ghi là “art”, theo bản in của K. Kautsky; bản dịch sau của Maurice Husson và Gilbert Badia ghi là “mythologie”, và giải thích là dựa trên bản in ở Moscou (1939). Chúng tôi cũng nghĩ rằng “mythologie” đúng hơn, vì mấy câu kế tiếp đều nêu danh các vị thần Hy Lạp. Nguồn: MARX, K. (1957), Contribution à la Critique de l’Economie Politique [Góp phần phê phán kinh tế chính trị học]. Trad. de l’allemand par Maurice Husson et Gilbert Badia. Paris: Ed. sociales, p. 174.
25. Sđd., tr. 174
26. Sđd., tr. 175
27. Tất nhiên, không nên lẫn lộn sự hưởng thụ cái tuyệt đối do con người sản sinh ra một cách ý thức với tình cảm thụ động về tính đồng nhất chung chung của vạn vật. Ở một nơi như Ấn Độ, thứ cảm thức sau tương ứng với loại trình độ kỹ thuật lạc hậu và bất lực, không làm chủ nổi thiên nhiên phong phú (Chú thích của Trần Đức Thảo).
28. Phạm Trọng Luật dịch. Nguồn: THAO, Trân Duc [1949a] (2004).
29. Phê phán giấc ngủ giáo điều của Đảng Cộng sản Pháp, Sartre viết năm 1956: “Đã đến lúc [tư duy vô sản] phải lật ngược các triết thuyết tư sản cuối cùng, giải thích nó, phá vỡ cái vỏ ngoài để sáp nhập phần tinh túy bên trong. Còn chờ đợi gì? Người duy nhất ở Pháp đã thử đấu tranh với đối phương trên lãnh địa của nó là Trần Đức Thảo...; người duy nhất ở châu Âu đã thử giải thích nguyên nhân của các trào lưu tư tưởng hiện đại là Lukács, nhà cộng sản Hungary mà tác phẩm mới nhất cũng chưa được phiên dịch..”. (SARTRE, J.–P. (1956). “Le Réformisme et les Fétiches”. Les Temps modernes, n° 122, pp. 1153–1164). Nói về Sartre với Phan Huy Đường, Trần Đức Thảo cho rằng: “Sartre là nhà triết học duy nhất đã đặt ra những câu hỏi đáng đặt” (ĐẠO, Trần [1993] (2004)).
30. Descartes phân biệt hai thực thể: vật hữu tri (res cogitans) và vật hữu hình (res corporex). Thuộc tính chính của vật hữu tri là tư duy, của vật hữu hình là quảng tính hay hậu lượng (étendue). Vì tất cả những phẩm chất khác ở mỗi thực thể đều là thứ yếu nên gọi là phẩm chất hàng hai. Từ sau Locke, phẩm chất hàng một chỉ những thuộc tính khách quan gắn liền với vật thể (quảng tính, hình thể, vận động), trong khi phẩm chất hàng hai chỉ tồn tại nhờ và cho chủ thể nhận thức (màu sắc, mùi, vị...).
31. Dasein: hữu thể, một khái niệm cơ bản trong triết học hiện sinh của Martin Heidegger. (BS)
32. Summum jus, summa injuria = comble de justice, comble d’injustice: người ta có thể gây ra nhiều bất công khi áp dụng luật pháp một cách quá khắt khe.
33. Trần Đức Thảo nhắc đến một luận điểm trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản – một luận điểm có ý nghĩa rất quan trọng trong sự chuyển dịch của ông từ hiện tượng luận sang chủ nghĩa duy vật biện chứng, định hướng sự phát triển của tư tưởng triết học và sự dấn thân chính trị của ông: “Vào thời kỳ mà cuộc đấu tranh giai cấp đi đến lúc quyết định, thì quá trình tan rã bên trong tầng lớp thống trị, bên trong toàn bộ xã hội cũ mang một tính chất mạnh mẽ và triệt để đến mức một bộ phận của tầng lớp thống trị sẽ tự rời bỏ giai cấp mình và liên kết với tầng lớp, với giai cấp cách mạng, tầng lớp nắm giữ tương lai trong tay họ… Cũng tương tự như trước đây, một bộ phận quý tộc chuyển qua giai cấp tư sản, ngày nay cũng tương tự như vậy, một bộ phận tư sản sẽ chuyển qua giai cấp vô sản. Đặc biệt hơn, một bộ phận những nhà tư tưởng tư sản với sức mạnh công việc của mình, họ có thể nổi lên do am hiểu về lý luận toàn bộ quá trình vận động của lịch sử”. (MARX, K., & F. Engels (1848), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1984b)). (BS)
34. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1950b] (2013). Bản sử dụng ở đây đã được sửa chữa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BT)
35. Từ đây trở đi, các chữ trong ngoặt vuông do triethoc.edu.vn thêm vào cho rõ nghĩa.
36. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1956e] (2005). Bản sử dụng ở đây đã được sửa chữa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. Do khuôn khổ của cuốn sách, nên bản sử dụng ở đây chỉ công bố một phần của tác phẩm này. Bản đầy đủ sẽ được công bố trong Tổng tập Trần Đức Thảo. (BS)
37. Tài liệu [B].
38. Bản A.
39. trường quan sát. (BS)
40. Bản A.
41. Tài liệu [B].
42. Tài liệu [B].
243. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1977b). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
460. Nguồn: TRUYỀN, Triệu Tử (2011). Do khuôn khổ của cuốn sách, bản sử dụng ở đây có lược bớt một số ý nhỏ, và chỉnh sửa một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
461. RICŒUR, P., “Sur la phénoménologie”, Esprit, 12/1952, p. 827. Cao Việt Dũng trích dịch trong bài viết tưởng niệm triết gia Trần Đức Thảo của Michel Kail trên tờ Les Temps modernes số 568, tháng 11/1993, năm thứ 49. Như vậy là có cấp bậc, và niềm tin của Trần Đức Thảo được đặt dứt khoát nơi chủ nghĩa Marx chứ không phải trên hiện tượng luận: ngay cả khi được trình bày trong sáng như trong suốt phần một của tác phẩm, hiện tượng luận vẫn là bất cập; trái lại chủ nghĩa Marx thì hoàn chỉnh và chỉ nhận từ hiện tượng luận một thứ thiết bị kỹ thuật. Thật ra, đây là một hành trình: hiện tượng luận trao đuốc thiêng lại cho chủ nghĩa Marx cùng với loại từ vựng cho phép nó mô tả sự vận động của ý thức và những huyền thoại của Lịch Sử (trích bài điểm sách của Roland Barthes, đăng trên Combat, ngày 11/10/1951, và in lại trong Roland Barthes toàn tập, quyển 1, 1993, tr. 107. Bản dịch của Phạm Trọng Luật). Jean–François Revel đã chỉ trích Patrick Kéchichian vì đã viết Trần Đức Thảo là triết gia mác-xít đăng trên Le Monde des livre, lúc Trần Đức Thảo từ trần, lẽ ra phải viết: “Ông ấy là nhà hiện tượng luận”...
462. Nguyên lý bất định là một nguyên lý nguyên nhân quan trọng của cơ học lượng tử, do Werner Heisenberg đưa ra, phát biểu rằng người ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác.
463. “Nhưng chúng tôi còn xin nói một điều nữa cho ổn và cho đầy đủ: có bạn sẽ hỏi rằng hiện tượng luận có phải là một chủ thuyết đúng không... và các nhà trí thức dùng phương pháp hiện tượng luận để diễn giảng, để mô tả... như vậy có đúng không... Vậy chúng tôi chỉ còn có thể mạn phép trả lời thế này: hiện tượng luận là một chủ thuyết triết học mới nhất của cả nền triết học thế giới, hợp thời thượng và nhiều tính chất cách mạng nhất – đã vượt gần hết tất cả các hệ thống cổ điển, thì tất nhiên nó đúng và chân xác hơn hết với cái nghĩa là giữa lúc mà các hệ thống duy lý (trong đó có duy tâm) và kể cả duy vật và hai hệ thống duy thực và duy nghiệm truyền thống – xin nói – truyền thống – làm căn bản triết lý cho chính khoa học, đã không đóng đầy đủ và trọn vai trò nhận thức của họ – kể cả nhận thức khung cảnh cũng bị hiện tượng luận vượt: khoa học đây là các khoa học và những thuyết về khoa học lý (epistémologie) đã quy định ra chủ nghĩa khoa học “scientisme” trước đây chẳng hạn”. (Tam Ích, Văn học hiện tượng luận có phải là văn học khiêu dâm không?. Tạp chí Văn, 1967).
464. “Trái với hai phái duy tâm và duy thực truyền thống đã siêu cực hóa (extrapolation) sự nhận thức, hiện tượng luận chủ trương rằng Ý thức bao giờ cũng là ý thức về một cái gì. (La conscience est toujours la consience de quelque chose). Nói một cách khác, ở hiện tượng luận, giữa khái niệm chủ thể và đối tượng có một tương quan giao hỗ (corrélation). Ý thức chủ quan gọi là noème, đối tượng ý thức là noèse – và sự tương quan giao hỗ gọi là “corrélat noé – tico – noématique”. Thực ra, hiện tượng luận cũng có chứa một mẩu màu sắc duy tâm chủ quan của Berkeley, Fichte hay Vương Dương Minh – chính Merleau–Ponty đôi khi cũng ngờ ngợ rằng trên một phương diện nào đó, ông duy tâm hay duy ngã (solipsisme)?” (Tam Ích, tài liệu đã dẫn).
519. Phạm Trọng Luật dịch và chú thích. Nguồn: BARTHES, R. [1951] (2004).
520. Trong số các bài điểm sách về tác phẩm trên của Trần Đức Thảo, đây là bài ngắn mà sát nhất, đăng trênCombat, ngày 11/10/1951, và in lại trong Roland Barthes Toàn tập, quyển 1, 1993, tr. 107.
521. Mỗi sinh vật là trung tâm của những chuỗi vận động và hành vi liên tục. Hành vi mới nối tiếp hành vi cũ, và ý thức xuất hiện đúng vào lúc hành vi cũ vừa khởi hiện đã bị hành vi mới lấn át. Chính những phác thảo vận động bị trấn áp này tạo nên ý thức như dữ kiện nghiệm trải. Như thế, nghiệm sinh luôn luôn trễ hơn hành vi thực sự một bước. Ý thức luôn luôn chạy theo hiện thực, bởi vì sự thật là hiện thực quy định ý thức chứ ý thức không quy định hiện thực.
735. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2011b).
736. THẢO, Trần Đức (1954c).
737. THẢO, Trần Đức (1955a).
738. THẢO, Trần Đức (1956d).
739. THAO, Trân Duc (1973) Bản dịch tiếng Việt: THẢO, Trần Đức [1973] (1996).
740. THẢO, Trần Đức (1990). Thư gửi Lucien Sève (1–11–1990). Bản thảo viết tay, tiếng Pháp. Trần Đức Tùng dịch.
741. Cái mình sinh thức là con người cá thể cá nhân – nhân cách cụ thể đang trực tiếp lao động sản xuất trong đời sống thực tế.
742. THAO, Trân Duc (1946a)
743. Báo Nhân dân, thứ Bảy, ngày 26 tháng 1 năm 1991.
849. Tặng các con, với trọn vẹn tình thương yêu của Ba Mẹ. Hi vọng thế hệ các con sẽ được sống trong một thế giới của Hòa bình, Tự do, Dân chủ, Nhân văn, Nhân bản, Khoan dung, Tiến bộ và Khai sáng. (LV)
850. “Ja! Ich weiß, woher ich stamme! Ungesättigt gleich der Flamme, glühe und verzehr’ ich mich. Licht wird alles, was ich fasse, Kohle alles, was ich lasse: Flamme bin ich sicherlich!” (Trần Thanh Hà dịch)
851. “Szabadság, szerelem! E kettő kell nekem. Szerelmemért föláldozom. Az életet, Szabadságért föláldozom, Szerelmemet”. (Xuân Diệu dịch)
905. Nguồn: HƯNG, Phạm Thành & Trần Ngọc Hà (2006).
Nguồn: THÀNH, Nguyễn Đức (2016).
Một phần trong số các tài liệu tham khảo này đang được cập nhật lên tài khoản oogle Drive của cuốn sách này. (Địa chỉ truy cập: drive.google.com; Username: tdthaoreading; Password: 19171993).
43. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1956a). Bài báo nổi tiếng này của Giáo sư Trần Đức Thảo được công bố trên Tập san Đại học (Văn khoa) năm 1956. Gần 10 năm sau, theo gợi ý của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, bài báo này đã được Giáo sư Trần Đức Thảo dịch sang tiếng Pháp. Sau đó, đích thân ông Phạm Văn Đồng, theo đường ngoại giao, đã gửi đăng bản dịch tiếng Pháp này trên tạp chí La Pensée, tạp chí triết học uy tín lớn của Pháp. Việc đăng bản dịch này trên La Pensée đánh dấu sự trở lại của Giáo sư Trần Đức Thảo với nền triết học Pháp và thế giới, sau 15 năm “bặt vắng”. (Bài báo cuối cùng Giáo sư công bố trên tạp chí Pháp trước khi trở về Việt Nam tham gia kháng chiến chống Pháp là bài: Le Origines de la Reduction Phénoménologique chez Husserl [Nguồn gốc của phépquy giản hiện tượng luận ở Husserl], tóm tắt bản luận án cao học của ông). Việc làm này của ông Phạm Văn Đồng có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó là tiền đề để Giáo sư tiếp tục công bố các nghiên cứu mới của mình về nguồn gốc của tiếng nói và ý thức, cũng trên tạp chí La Pensée, và kết tinh lại thành tác phẩm Recherches sur l’origine du langage et de la conscience [Những nghiên cứu về nguồn gốc tiếng nói và ý thức] (1973), do Éditions Sociale (Nhà xuất bản Xã hội của Đảng Cộng sản Pháp) xuất bản. Bên cạnh đó, sự kiện này cũng cho thấy tình bạn đẹp đẽ, sự cảm thông sâu sắc, và sự “gạt đỡ” của Thủ tướng Phạm Văn Đồng dành cho Giáo sư. Ngoài ra, thông qua phần phê phán Hegel, chúng ta cũng bắt nhận được những dự cảm ban đầu của Trần Đức Thảo đối với sự phôi thai đầu tiên của một loạt những tư tưởng lớn được ông cụ thể hóa trong các tác phẩm sau này: sự hình thành con người, sở hữu thời khởi nguyên, biện chứng của quá trình chuyển dịch từ Tự nhiên lên Văn hóa, đặc biệt là biện chứng của quá trình tiến hóa của sự sống – một trăn trở lớn của Trần Đức Thảo, được ông cụ thể hóa trong hai tác phẩm cuối đời, Rercherches Dialectiques (Những nghiên cứu về các mối liên hệ biện chứng), và La Logique du Présent Vivant (Sự logic của thời Hiện tại sống động). (BS)
44. MARX, K. Tư Bản Luận. Bài của bản in lần thứ hai.
45. ENGELS, F. Ludwig Fuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức. II
46. ENGELS, F. Cuốn “Góp phần phê phán kinh tế chính trị học” của Karl Marx. II
47. MARX, K. Tư Bản Luận. Bài của bản in lần thứ hai.
48. Những đoạn giới thiệu dưới đây in bằng chữ ngả, vì viết theo quan điểm duy tâm của Hegel. Trong ấy chúng tôi cũng có thêm một vài danh từ cụ thể cho dễ hiểu. Để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi sẽ phê phán từng bước, tuy như thế phần nào cũng có mất liên tục.
49. HEGEL, G.W.F [1807] (1937). Phanomenologie des Geistes [Hiện tượng luận của Tinh Thần]. Leipzig: Herausgegeben von J. Hoffmeister, p. 139.
50. Sđd., tr. 139.
51. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1955d). Bản sử dụng ở đây đã được hiệu đính lại dựa trên những sửa chữa của tác giả, và chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
52. Tác phẩm Ludwig Feuerbach und der Ausgang der klassischen deutschen Philosophie (Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức) (1886). (BS)
53. Những chữ trong ngoặc vuông được người biên soạn thêm vào để làm rõ thêm ý của tác giả. (BS)
54. chân giả. (BS)
55. bọt bể = bọt biển, nước bể = nước biển, v.v… (BS)
56. rướn mình trong. (BS)
57. trường quan sát. (BS)
58. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1955c). Bản sử dụng trong sách này đã được hiệu đính lại dựa trên những sửa chữa của tác giả. (BS)
59. Các tua để giúp cho tế bào chuyển động. (BS)
60. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1973] (2015).
61. Bản dịch tiếng Việt tác phẩm kinh điển xuất bản năm 1973 này của Giáo sư Trần Đức Thảo là một nỗ lực to lớn của dịch giả Đoàn Văn Chúc. Tuy vậy, do sự khác biệt về ngôn ngữ và văn phong của dịch giả đối với đông đảo bạn đọc ngày nay, nên bản sử dụng ở đây có hiệu đính một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung, đồng thời điều chỉnh một chút về văn phong để nhất quán với hình thức của toàn bộ cuốn sách, trên cơ sở đối chiếu với bản gốc [THAO, Trân Duc (1973)] và bản dịch tiếng Anh [THAO, Tran Duc [1973] (1984)]. Mọi sai sót về chuyên môn có thể có trong bản sử dụng ở đây đều thuộc về trách nhiệm của người biên soạn. (BS)
62. MARX: Tư bản, Editions Sociales (E.S.), Paris, L 1.1, t. 1, tr. 181.
63. IAKIMOV, V.P. U istokov chelovechestva [Les Origines de l’humanité]. Moscow, 1964.
64. ENGELS, F. (1975). Dialectique de la nature. Paris: Editions Sociales, p. 175. [Ngô Minh Tuấn dịch, URL = <http://www.marxist.com/what–makes–us–human–vi.htm>]. (BS)
65. Boulenger: Les singes, Payot, Paris, p. 41.
66. Người vượn (préhominiens): giống vượn đã thành người nhưng chưa hoàn toàn mất tính vượn, rất gần với con người hiện nay, song chưa hoàn toàn như con người hiện nay, gồm cả người vượn Java (pithécanthrope) và người vượn Bắc Kinh (sinathrope). (ND)
67. V. P. Iakimov, đã dẫn.
68. Tlđd.
69. “L’homme se voit lui–même tout d’abord dans l’autre homme comme dans un miroir”. Marx: Le Capital. E. S., Paris, t. 1, p. 67, note 2.
70. Một loài tinh tinh ở Trung Phi. (BS)
71. Kohler: L’intelligence des singes supérieures (Trí thông minh của những con khỉ cao cấp), Paris, 1927, tr. 303 – 304.
72. N.A.Tikh, trong A.Spirkine: “Origine de la conscience,” Moscow, 1950, note. Công trình nguyên tác (tiếng Nga) của N.A.Tikh đã được xuất bản trong luận văn tiến sĩ của ông, lưu trữ tại Viện Pavlov (Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô), Maxkova, 1950, 36 trang.
73. Kohler, Sđd., tr. 274.
74. Tức cái đã từng trải qua. (ND)
75. Marx, La Capital, E. S., L. 1, p. 67, Note 2.
76. Sự miêu tả này chỉ có giá trị đầy đủ trong những điều kiện ban đầu của quá trình tiến hóa lên loài Người, hoặc sự thai nghén của giống Homo (người). Trong phần thứ hai của Kỷ nhân sinh, tức “Quá trình tiến hóa thành Người” (sapientiation) hoặc sự hình thànhNgười Khôn (homo sapiens), sự vận động mang tính hướng nội, để sau đó mang những hình thức vô cùng phức tạp.
77. Kohler, Sđd., tr. 269 – 270.
78. “simple conscience grégaire”, hay “conscience moutonnière”. Marx–Engels: L’idéologie allemande, E.S., 1972, tr. 64.
79. Marx, Sđd., tr. 50.
80. Marx, “Gia đình thần thánh”.
81. Marx, “L’idéologie allemande” (Hệ tư tưởng Ðức), E.S., tr. 59.
82. “Die Produktion der Ideen, Vorstellungen, des Bewusstseins ist zunächst unmittelbar verflochten in die materielle Tätigkeit und den materiellen Verkehr der Menschen, ist Sprache des wirklichen Lebens. Das Vorstellen, Denken, der geistige Verkehr der Menschen erscheinen hier noch als direkter Ausfluss ihres materiellen Verhaltens”.
83. Marx, Tư bản, E.S., t. 1, tr. 66.
84. Marx, Sđd., tr. 92, chú thích.
85. ‘The Works of B. Franklin‘, edited by Sparks. Boston, 1836, v.II, p. 267
86. Marx, Sđd., t. 23, tr. 65, chú thích 17a. Chúng tôi nhấn mạnh.
87. Marx, Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị. E. S., tr. 33.
88. A. Sirkine: “Nguồn gốc của ý thức” (tiếng Nga), Moscow, 1950.
89. signification tendancielle.
90. milieu immanent.
91. Lénine: Oeuvres. E.S., t. 14, “Matérialisme et empiriocriticisme”, tr. 50.
92. Marx: “Grundisse der Kritik der politischen Ekonomie,” Dietz–Verlag, Berlin, 1953, tr. 390.
93. l’ensemble verbal.
94. Kant: Kritik der reinen Vernunft (Phê phán lý tính thuần túy), Reclam, Leipzig, tr. 209.
95. Lénine: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, tr. 152.
96. Lénine, Sđd., tr. 152.
97. Lénine, Sđd., tr. 91.
98. Lénine, Sđd., tr. 253.
99. Marx, Sđd.
100. Marx: Hệ tư tưởng Ðức, tiếng Pháp, E. S., tr. 59.
101. Engels, Phép biện chứng của tự nhiên, E. S., tr. 43, tiếng Pháp.
102. Engels, Chống Dühring, E.S., tr. 393, tiếng Pháp.
103. Lénine toàn tập, t. 38, Bút ký triết học, bản dịch tiếng Pháp. E.S., tr. 172.
104. Engels, Phép biện chứng của tự nhiên, tr. 383. Chống Dühring.
105. Engels, Sđd., tr. 41, tiếng Pháp.
106. Marx, Góp phần phê phán kinh tế, chính trị học. E.S. tr.150, tiếng Pháp.
107. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1973] (2015).
108. Bản dịch tiếng Việt tác phẩm kinh điển xuất bản năm 1973 này của Giáo sư Trần Đức Thảo là một nỗ lực to lớn của dịch giả Đoàn Văn Chúc. Tuy vậy, do sự khác biệt về ngôn ngữ và văn phong của dịch giả đối với đông đảo bạn đọc ngày nay, nên bản sử dụng ở đây có hiệu đính một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung, đồng thời điều chỉnh một chút về văn phong để nhất quán với hình thức của toàn bộ cuốn sách, trên cơ sở đối chiếu với bản gốc [THAO, Trân Duc (1973)] và bản dịch tiếng Anh [THAO, Tran Duc [1973] (1984)]. Mọi sai sót về chuyên môn có thể có trong bản sử dụng ở đây đều thuộc về trách nhiệm của người biên soạn. (BS)
109. Tam giác Œdipe: một thuật ngữ phân tâm của Freud, chỉ mối quan hệ tay ba: con trai có “ham muốn tính dục” với mẹ và “ghét” bố, con gái có “ham muốn tính dục” với bố và “ghét” mẹ, hệ quả của phức cảm Œdipe, phát triển mạnh ở trẻ em thời kỳ 3 – 5 tuổi, tương ứng với sự phát triển của loài người trong Kỷ nguyên Chellean, với sự ra đời của Người Khéo (homo habilis) cùng sự chế tác các công cụ lao động và những hình thái lao động tập thể đầu tiên. (BS)
110. André Green. [Nguồn tài liệu không được trích dẫn đầy đủ]. Green là tác giả của tác phẩm Le discourse vivant: la conception psychanalytique de l’affect (Paris: Presses universitaires de France, 1973), và Un Œil en trop, le complexe Œdipe dans la tragedie (Paris: Editions de minuit, 1969).
111. Thèrèse Gouin–Decarie: “Intelligenece et affeectivité chez le jeune enfant: estude experimentale de la notion d’object chez Jean Piaget et de la relation objectale”. (Neuchâte: Delachaux et Niestlé, 1962), p. 111.
112. FREUD, S. (1969), p. 126.
113. Ibid., p. 130.
114. Ibid., p. 125.
115. Ibid., p. 83.
116. ENGELS, Friedrich [1884] (1971), pp. 43 – 43.
117. Ibid., p. 43.
118. Ibid., p. 44.
119. ENGELS, F. [1883] (1971), p. 174.
120. Toàn tập, t. 46, p. 232.
121. Ibid., t. 33, p. 10.
122. Thời kỳ thứ nhất của tiền sử, đặc định bởi sự xuất hiện và phát triển của công nghệ chế tác đá, và bởi nền kinh tế săn bắt. Thời Đá cũ kéo dài từ kỉ thứ 4 (3 triệu năm) đến Thống Holocène (thiên niên kỷ thứ X) được chia làm 3 kỳ, sơ kỳ, trung kỳ, và hậu kỳ, tùy theo trình độ phức tạp của công cụ. Đá cũ hậu kỳ được đánh dấu bằng sự xuất hiện của Người Khôn (Homo sapiens) và sự sản xuất những đồ vật có tính cách nghệ thuật. (ND)
123. Xem thư mục và phân tích các quan niệm trong Séménov: “Nhân loại đã ra đời như thế nào” (tiếng Nga) (Moscou), tr. 18–33.
124. Moustérien, một dạng văn hóa của thời Đá cũ trung kỳ, đặc định bởi những mũi lao hình tam giác và những cái nạo làm từ những mảnh tước sửa sang một mặt (70.000 đến 30.000 năm trước CN). (ND)
125. Ris và Wirm, kỳ đóng băng thứ 3 và thứ 4 (cuối cùng) của kỷ Đệ tứ ở châu Âu– alpin mà kỷ Đệ tứ của tuổi Trái Đất được đặc trưng bởi bốn kỳ sông băng lớn, cùng sự xuất hiện và tiến hóa của loài người. (ND)
126. BOURDIER, F. (1967), pp. 193, 195, 215.
127. ENGELS, Friedrich [1884] (1971), p. 63.
128. SPENCER, B. & F.J. Gillen [1899] (1966). The Native Tribes of Central Australia. New York, NY: Dover, pp. 60 ff.
129. Để đơn giản hóa trong trình bày, chúng tôi không nói đến quy tắc chỉ là nupa những chị em do các anh của mẹ sinh hay do các chị của bố sinh ra.
130. Séménov: “Nhân loại đã ra đời như thế nào” (tiếng Nga) (Moscou), tr. 130.
131. VAOLIS, Henri V. “The social life of early man: the evidence of skeletons”. Nguồn: WASHBURN, S. L. (1961). Social Life of Early Man. Chicago: Aldine. tr. 225, bảng 4.
132. Ngược lại, hình như rất khó sử dụng các sưu tập của thời Đá cũ sơ kỳ. Sự hợp thành của sưu tập Người vượn Bắc Kinh, 10 đàn ông cho 3 đàn bà, không thể tương ứng với hiện trạng dân số vào thời điểm đó, bởi người ta không thấy được trong những điều kiện như thế, làm thế nào mà các nhóm có thể tái sinh sản một cách bình thường. Còn như sưu tập Ngang–dong, 4 đàn ông cho 6 đàn bà, thì theo ý kiến chung, nó đại diện, cho những tàn dư của tục ăn thịt người mang tính nghi thức. Königswald coi trầm tích ấy có thể được so sánh với những bàn thờ đầu lâu nay còn thấy ở Mélanésie. Dù thế nào, cũng chắc chắn, như chúng tôi sẽ chỉ ra ở sau, sự mất cân đối dân số giữa các giới, được nhận thấy ở thời kỳ Moustérien, đã tồn tại trong thời Đá cũ sơ kỳ.
133. Xem: VAOLIS, Henri V., Tlđd., tr. 224, bảng 3.
134. Xem Boriskowsky: “Les problèmes de la genèse de la cociété humaine et les découvertes archeologiques de ces dix derniéres années”, trong: “Les idées léninistes dans l’étude de l’histoire de la societe prinitive, l’eselavagiste et le féodalisme” (tiếng Nga), Moscou, tr. 72.
135. ENGELS, F. [1884] (1971), p. 40.
136. SPENCER, B. & F.J. Gillen [1899] (1966), pp. 558–559.
137. Xem: Sherwood Larned Washburn: “Tools and Human Evolution”, và John Napier: “The Antiquity of Human Walking”. Nguồn: LAUGHLIN, W.S & R.H. Osborne (1967).
138. Người ta chia ra phôi (embryon) và thai (fcetus); ở người sau ba tháng thụ tinh, phôi mới thành thai, nghĩa là mang hình hài của giống người, và nó giữ như thế đến khi ra đời. (ND)
139. John Napier: “The Antiquity of Human Walking”. Nguồn: LAUGHLIN, W.S & R.H. Osborne (1967), p. 126.
140. Oldoway (hoặc Olduvai) thuộc xứ Tanzania (Đông Phi), ở gần hồ Eyasi, nơi phong phú về hóa thạch tiền sử. Những hài cốt cổ nhất cách đây trên 1 triệu năm (tầng 1– horizon 1) mà nhà khảo cổ học người Anh Leakey (1903 – 1972) đã tìm thấy (1959) là Zinjathrope và Homo Habilien, cách đây 1.750.000 năm và 1.850.000 năm. (ND)
141. VAOLIS, H.V., “The social life of early man: the evidence of skeletons”. Nguồn: WASHBURN, S.L. (1961), đã dẫn, pp. 223 – 228.
142. Di chỉ Chelléen thuộc tỉnh Seine & Marne (Đông thành phố Paris) có khu di chỉ tiền sử thuộc thời Đá cũ. (ND)
143. M. D. Leakey, trong tạp chí Nature, 1966, t. 210, số 5035. Hình in lại chiếc rìu nguyên sơ trong tập 212, số 5062, trang 579 (trong bài báo của bà Leakey: ‘Primitive Artefacts from Kanapoi Valley’).
144. Acheuléen, Saint–Acheul, thuộc ngoại vi tỉnh Amiens, Pháp, là một diện mạo văn hóa chính của thời Đá cũ sơ kỳ, được đặc trưng bởi rìu sắc hai mặt đều đặn được ghè đẽo bằng dụng cụ kim loại mềm (pereuteur tendre). (ND)
145. Tất cả phần này, xin xem Séménov, Sđd., tr. 191– 195.
146. Người vượn Java (Pithécanthrope) giống cổ nhất lùi về tới 1,9 triệu năm, mới nhất 100.000 năm. Nằm trong nhóm archanthropien hóa thạch của thời Pleistocène–trung, nói chung thuộc giống Người đứng thẳng (Homo erectus) nói riêng gồm: người vượn Java, người vượn Bắc Kinh, Người vượn Đại Tây dương và người Manuer (một làng thuộc Odenwald, Đức, năm 1907, người ta phát hiện một hàm dưới người có thể so sánh với người vượn Java, cũng gọi là người Heidelberg (Pléistocène cũ). (ND)
147. Alberto C. Blanc, “Some evidence for the ideologies of early man”. Nguồn: WASHBURN, S.L. (1961), đã dẫn, p. 133.
148. FREUD, S. (1969). p. 118.
149. ABRAHAM, K. (1966). Oeuvres completes; t. II: Développement de la libido, formation du caractère, étude cliniques. Paris: Payot, pp. 103–104.
150. BOURDIER, F. (1967), p. 174.
151. ABRAHAM, K. (1966), Ibid., p. 115.
152. Neanderthal, khu di chỉ Đá cũ trung kỳ ở Đức, người ta tìm thấy ở đây loại hình Homo Sapiens (Người Khôn), néandersthalien là một di chủng. (ND)
153. Về phương diện phát sinh loài Người, sự cấm dục áp đặt vào thanh niên Néanderthailien đã có thể tạo thuận lợi cho thuyết “thanh niên luận” (le “juvénisme”), trong đó nhiều tác giả thấy đó là một trong những lý do của sự chuyển từ một số hình thức Néanderthalien tiến bộ sang Người Khôn (Homo sapiens): “Nếu những đặc điểm của hình thức ấu thơ đã tồn tại dai dẳng trong tuổi già, bằng hình thái học hàm dưới và hình thái não bộ của nó, đứa trẻ Néanderthalien của La Chaise hẳn sẽ có một số điểm tương đồng nào đó với người hiện đại” (J. Piveteau, nguồn: BOURDIER, F. (1967), p. 206). Tất nhiên, cũng giống như sự trụy thai, thanh niên luận đã chỉ có thể đóng vai trò gia tốc, bởi động lực chủ yếu của sự Người hóa, hay sự hình thành giống Người Khôn (Homo sapiens), tất nhiên là sự phát triển của lao động và tiếng nói.
154. Vallois, Sđd., tr. 230.
155. Ibid., p. 244.
156. LAPLANCHE, J. & J. –B. Pontalis (1967), p. 76.
157. STREHLOW, Carl, Die Arunta unf loritfa–stamme in Zentral–Australien, IV, Teil, I Abteilung, tr. 10–12.
158. SPENCER, B. & F.J. Gillen [1899] (1966), p. 246.
159. Ibid., pp. 398–399
160. FREUD, S. (1969), p. 119.
161. Ibid., p.127.
162. Ibid., p. 117.
163. Ibid.., p. 121.
164. Ibid., p. 130.
165. Ibid., p. 122.
166. Ibid., p. 131, 122.
167. ‘Aurignaciennes’ (tên riêng bắt nguồn từ tên của một cái hang tại Aurignac, Haute-Garonne, Pháp) chỉ giai đoạn sơ khai nhất của nghệ thuật tượng hình thời cổ đại tại châu Âu, ví dụ như, hội họa của thời Đá cũ hậu kỳ, khoảng 30.000 năm trước Công nguyên. ‘Vénus’ là thuật ngữ của lịch sử nghệ thuật tượng hình, dùng để chỉ các tượng phụ nữ nhỏ của thời kỳ này. Kể từ khi những bức tượng nhỏ này, với phần ngực và bụng được nhô cao lên (trong một số trường hợp, bức tượng được bắt đầu từ phần eo lưng), thì người ta cho rằng, ‘Vénus’, biểu tượng của sự mắn đẻ ở phụ nữ, được sử dụng như hình ảnh của một nữ thần. [Nguồn: Mục từ ‘Prehistory’, Encyclopedia of World Art (New York: McGraw-Hill, 1966)].
168. SPENCER, B. & F.J. Gillen [1899] (1966), pp. 388–420.
169. KABO, Vladimir Rafailovich (1969). L’origine et l’histoire ancienne des premiers habitants de l’Australie (Tiếng Nga). Moscow, 1969.
170. Đạo Chaman: một tín ngưỡng chuyển thông với các linh hồn bằng những thuật nhập định và lên đồng (gọi hồn) được quy vào các thực hành ma thuật, ngày nay còn thấy ở một số vùng thuộc Bắc Á và Bắc Mỹ. (BS)
171. Freud, “Abrége de psychanalyse” (Giản yếu luận phân tâm).
172. Freud, “Neue Folge der Vorlesungen für Einführung in die Psychoanalyse”. Nguồn: LAPLANCHE, J. & J. –B. Pontalis (1967). p. 362.
173. Sigmund Freud, ‘Some Psychical Consequences of the Anatomical Distinction between the Sexes’, p. 250.
174. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1975b). Bản sử dụng ở đây đã được hiệu đính lại dựa trên những sửa chữa của tác giả, và chỉnh sửa một số lỗi đánh máy. (BS)
175. THAO, Trân Duc (1973).
176. THẢO, Trần Đức [1973] (1996).
177. Introduction à la genèse de l’Homme (Giới thiệu về sự phát sinh loài người). La naissance du premier homme (Nguồn gốc của loài người nguyên thủy).
178. Drei Abhandlungen zur Sexualtheorie (1905), một tác phẩm quan trọng Sigmund Freud, đã được dịch sang tiếng Việt với nhan đề Ba tiểu luận về tính dục. (BS)
179. Nhưng trẻ em được quá nuông chiều, thì đã đi đến những đòi hỏi quá đáng, không thể thỏa mãn được, do đấy mà trở thành bất mãn, tự ái, tự ty, tự cao. Trong gia đình, quan hệ giữa anh chị em ở tuổi nhi đồng có khi lại quan trọng hơn là quan hệ với cha mẹ.
180. Tư bản, trong Marx–Engels Werke, T. 23, tr. 193. Dietz–Verlag, Berlin.
181. Phạm Trọng Luật dịch. Trích dịch từ tiểu luận De la phénoménologie à la dialectique matérialiste de la conscience (1) [Từ hiện tượng luận đến biện chứng duy vật của ý thức (1)]. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1974] (2004). (Các chú thích đều là của người dịch). (BS)
182. SAUSSURE, F. de (1967). Cours de linguistique générale. Publié par Charles Bally et Albert Sechehaye, avec la collab. de Albert Riedlinger. Paris: Payot. Được xây dựng từ giáo trình của Saussure trong ba năm học (1906–1911), và xuất bản năm 1915, sau khi tác giả mất hai năm.
183. Thuật ngữ signe [sign] trong tiếng Pháp có thể được dịch là ký hiệu trong nghĩa hẹp [như trong signe linguistique = ký hiệu ngôn ngữ] hoặc biểu hiệu hay dấu hiệu trong nghĩa rộng. Ở đây, dựa trên ngữ cảnh, signe sẽ được dịch bằng từ trước hay các từ sau, tùy mức độ từ hẹp nhất đến rộng nhất. Theo Saussure, signe luôn luôn gồm có hai mặt mà ông gọi là signifiant [signifier] và signifié [signified] (xem chú thích số 02 [tr. 260] bên dưới), được kết hợp trong một quan hệ “độc đoán”. Về điểm này, đối với nhà ngôn ngữ học Emile Benveniste, nếu signifiant và signifié có quan hệ bất khả phân như mặt phải và mặt trái của một tờ giấy theo chính thí dụ của Saussure, thì quan hệ giữa hai yếu tố này không thể nào là “độc đoán”, mà phải được xem là tất yếu (làm gì có một tờ giấy chỉ có mặt phải, không có mặt trái!). Nói cách khác, Saussure đã lẫn lộn quan hệ giữa hai mặt của ký hiệu với quan hệ giữa ký hiệu với vật quy chiếu [référent = referent], bởi vì đúng thật là không có một quan hệ thiết yếu nào giữa âm hoặc từ chó với con chó ngoài đời, khi người Pháp gọi cùng một sinh vật này là chien, người Anh là dog, người Đức là Hund, v.v...
184. Trong tiếng Pháp, verbal chỉ tất cả những gì được diễn đạt bằng ngôn từ hơn là bằng các dấu hiệu khác, tuy langage verbal thường được dịch chính xác nhưng hạn hẹp là ngôn ngữ nói. Ở đây, vì verbal còn thường được dùng kèm với nhiều từ khác nữa, để có thể dịch nhất quán tất cả các trường hợp trên, chúng tôi thử nghiệm dịch là âm từ, để có thêm ngoài ngôn ngữ âm từ (ngôn ngữ được xây dựng bằng lời nói và chữ viết, trên âm vị và từ vị), các cụm từ khác như khác biệt âm từ [différenciations verbales], ký hiệu âm từ[signes verbaux], ý nghĩa âm từ [signification verbale], cấu trúc âm từ [structure verbale], v.v...
185. Sémiologie [semiology] thường được dịch là triệu chứng học trong bối cảnh y học, và ký hiệu học trong ngôn ngữ học. Ở đây, chúng tôi sử dụng lại từ dịch đã trở thành quen thuộc là ký hiệu học chung cho cả hai trường hợp. Sau Saussure, nhưng xuất phát từ dự án sémiologie của ông, còn xuất hiện một môn học khác mang tên là sémiotique [semiotics, dù đôi khi vẫn còn tiếp tục được gọi là sémiologie]. Từ chối cho ký hiệu âm từ quy chế ưu đãi (giống như Trần Đức Thảo ở đây), bộ môn này lấy mọi phương thức biểu nghĩa làm đối tượng (thời trang, văn học, huyền thoại, văn bản, v.v…), do đó, tùy sở thích của mỗi tác giả, cũng phát triển theo nhiều chiều hướng khác nhau.
186. Symboles [symbols] có thể được dịch là ký hiệu như trong ký hiệu hóa học hay biểu trưng như trong biểu trưng của công lý. Ở đây, để đầy đủ, chúng tôi dùng cả hai.
187. Signifiant, signifié thường được dịch là cái biểu đạt và cái được biểu đạt, tuy đôi khi cũng có người dùng cái lập (tạo) nghĩa và cái thụ nghĩa. Ở đây, để tránh sự lặp lại, chúng tôi dùng cả hai. Mặt khác, quan niệm của Saussure về signifiant, và về ký hiệu ngôn ngữ như sự kết hợp giữa một signifiant với một signifié không phải là không đặt vấn đề. Ký hiệu ngôn ngữ nói đây có phải là từ chăng? Trong trường hợp này, nếu lấy thí dụ ở tiếng Pháp chẳng hạn, phải xem hai signifiants khác nhau như cheval và chevaux là biểu hiện của cùng một từ như table và tables chăng? Nó có thể là đơn vị nhỏ hơn từ như tiền tố néo– [tân–] chăng, bởi vì tiển tố này cũng kết hợp một signifiant với một signifié như mọi ký hiệu khác? Nó có thể là từ sáp nhập như au (à le) và aux (à les) chăng, khi cùng một signifiant bất khả phân này lại tương ứng với hai signifiés, nghĩa là phải kết hợp với hai khái niệm khác nhau?
188. “Dans la langue, comme dans tout système sémiologique, ce quy distingue un signe, voilà tout ce quy le constitue” (Saussure, Sđd., tr. 168). Đối với Saussure, ngôn ngữ âm từ là một hệ thống ký hiệu, và ký hiệu không phải là vật thể, mà là quan hệ: trong một trạng thái ngôn ngữ, tất cả tùy thuộc vào những quan hệ (hoặc đối lập, hoặc khác biệt, hoặc kết hợp) giữa các ký hiệu âm từ hay đơn vị ngôn ngữ. Trong quá trình tạo câu chẳng hạn, một đơn vị ngôn ngữ (âm hay từ) chỉ có thể được nhận diện bởi sự khác biệt với nó của những đơn vị đi trước hay đi sau trên trục ngữ đoạn [syntagmatique = syntagmatic, trục phân bố vị trí các đơn vị], và bởi những đơn vị có thể hoán vị với nó trên trục ngữ hình [paradigmatique = paradigmatic, trục chọn lựa giữa các đơn vị cùng tập hợp]. “Tôi yêu em” chỉ có nghĩa chính xác nếu người nghe phân biệt được “yêu” với “tôi” và “em” trong đoạn âm thanh này và trên các vị trí này (bởi vì “tôi yêu em” khác với “em yêu tôi”, và “yêu em tôi”), đồng thời biết rằng “yêu” khác với “thương”, “mến”, “thích”, “ưa”, “quý”,… trong cùng tập hợp “tình cảm tích cực” chẳng hạn.
189. Signification [signification, meaning] và sens [meaning, significance] đều được dịch là nghĩa hay ý nghĩa, mặc dù hai từ này thường được phân biệt hơn là sử dụng như từ đồng nghĩa trong tiếng Pháp. Ở Saussure, không có định nghĩa rõ ràng về sens, và từ này có thể được tiếp cận, hoặc như kết quả của một sự cắt xén (từ một dòng tư tưởng, một mảng chữ viết hay một khối âm thanh còn bất định) hay một hiện tượng kết hợp, hoặc như một giá trị xuất phát từ hệ thống ngôn ngữ. Ở các nhà ngữ học khác (Leonard Bloomfield, Zellig S. Harris, Stephen Ullmann, André Martinet...), sự phân biệt cũng không thống nhất. Do đó, cách đối lập phổ biến nhất hiện nay trong bối cảnh ngôn ngữ học có lẽ vẫn là: a) hoặc nhìn nhận hai loại quan hệ khác nhau, và xem signification như thuộc về quan hệ biểu đạt [rapport de signification, xuất phát từ sự đối lập giữa các từ vựng trong cùng một hệ thống ngôn ngữ], còn sens như thuộc về quan hệ chỉ định [rapport de désignation, xuất phát từ liên hệ giữa ký hiệu với vật quy chiếu bên ngoài]; b) hoặc chấp nhận thông kiến xem signification như ý nghĩa của một từ, khác với sens là ý nghĩa của một đoạn văn hay một văn bản.
190. “Prenons d’abord la signification telle qu’on se la représente et telle que nous l’avons figurée... Elle n’est... que la contre–partie de l’image auditive” (Saussure, Sđd., tr. 158). Ở đây, chúng tôi mạn phép dịch contre–partie là mặt trái, vì Saussure thường dùng hình ảnh mặt phải và mặt trái của một tờ giấy để diễn tả tính bất khả phân của hai yếu tố cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong ký hiệu ngôn ngữ.
191. Langage và langue [language] đều được dịch là ngôn ngữ, còn parole [speech] là lời nói. Trong tiếng Pháp, langage vừa chỉ khả năng đặc thù của con người là khả năng giao tiếp hay hiệp thông bằng một hệ thống ký hiệu âm từ, vừa chỉ bất kỳ một hệ thống ký hiệu nào đã được xã hội quy tắc hóa (ngôn ngữ của người câm điếc chẳng hạn), trong đó có các hệ thống ký hiệu âm từ riêng của mỗi cộng đồng dân tộc gọi là langue. Như vậy langage [ngôn ngữ theo nghĩa rộng], với tư cách là một đặc tính chung của loài người, xuất phát từ khả năng biểu trưng của con người, và bao gồm hai bộ phận: langue [tiếng nói hay ngôn ngữ theo nghĩa hẹp] và parole [lời nói]. Langue là một sản phẩm xã hội, là cái phần của langage tồn tại trong ý thức của mọi thành viên thuộc một cộng đồng ngôn ngữ nhất định, là tổng số những dấu ấn do thực tiễn xã hội để lại trong trí óc của mỗi cá nhân qua vô số hành vi ngôn ngữ cụ thể. Trái lại, parole là phần ngôn ngữ được vận dụng thực sự bởi mỗi cá nhân, là phần hành vi ngôn ngữ cụ thể ở mỗi người.
192. “Thật ra, kinh tế chính trị học thông tục chỉ lý thuyết hóa và hệ thống hóa những biểu thị của các tác nhân sản xuất còn bị tù túng trong quan hệ sản xuất tư sản, và biện hộ cho loại ý tưởng này. Do đó, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi nó cảm thấy hoàn toàn thoải mái trong chính cái phần ngoại hiện tha hóa của những quan hệ kinh tế ấy – điều hiển nhiên là phi lý và cực kỳ mâu thuẫn, bởi vì nếu phần ngoại hiện với bản chất của sự vật chẳng khác gì nhau thì có khoa học cũng bằng thừa! Vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi kinh tế chính trị học thông tục cảm thấy hoàn toàn tự nhiên ở đây, và những ràng buộc bên trong càng bị che giấu kỹ bao nhiêu, thì các quan hệ bên ngoài này càng có vẻ hiển nhiên đối với nó bấy nhiêu, đồng thời trở thành quan hệ hiện hành trong cách biểu thị thông thường của người đời về kinh tế” (MARX, K. Le Capital. Livre troisième: le procès d’ensemble de la production capitaliste. Paris: Ed. sociales, 1950–1960. Q. 8, tr. 196).
193. craindre: sợ hãi; redouter: vô cùng sợ hãi. (BS)
194. “Một mặt, Destutt de Tracy nói rõ ràng rằng những sự vật cấu thành của cải biểu hiện phần lao động đã tạo ra chúng; mặt khác, ông lại cho rằng hai loại giá trị khác nhau của chúng (giá trị sử dụng và giá trị trao đổi) đều được rút ra từ giá trị của lao động. Như vậy, ông rơi xuống trình độ tầm thường của kinh tế [chính trị] thông tục, khi nó chấp nhận trước giá trị của một thứ hàng hóa (lao động, chẳng hạn) để xác định giá trị của những món hàng khác” (MARX, K. Le Capital. Livre premier: le développement de la production capitaliste. Paris: Ed. sociales, 1950–1960. Q. 1, tr. 92).
195. “Xin lưu ý một lần dứt khoát rằng: tôi gọi là kinh tế chính trị học cổ điển bất cứ thứ kinh tế nào, từ William Petty trở đi, tìm cách thâm nhập vào cái tổng thể hiện thực và mật thiết của những quan hệ sản xuất trong xã hội tư sản, tương phản với thứ kinh tế chỉ dừng lại trên những biểu hiện bên ngoài là kinh tế thông tục. Để thỏa mãn nhu cầu riêng và phổ biến một cách dung tục những hiện tượng thô lậu nhất, thứ kinh tế sau không ngừng nhai đi nhá lại những tư liệu đã được soạn thảo trước nó, rồi tự giới hạn như các nhà thông thái rởm vào việc dựng thành hệ thống, đồng thời tôn xưng như chân lý vĩnh cửu, loại ảo tưởng mà giai cấp tư sản ưa thả vào thế giới của hắn, cái thế giới [coi như] tốt đẹp nhất có thể tồn tại” (MARX, K. Le Capital. Livre premier: le développement de la production capitaliste. Paris: Ed. sociales, 1950–1960. Q. 1, tr. 83).
196. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1993c] (2013). Các chú thích là của người dịch. Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
197. Những chữ trong ngoặc vuông được dịch giả thêm vào để làm rõ ý của tác giả. (BS)
198. Tức khi bước sang khoa học xã hội, nhân văn.
199. Khoảnh khắc là mấu chốt của quan điểm thời gian của Aristotle. Khoảnh khắc phân chia dòng chuyển động, thành trước và sau. Mặt khác, hai khoảnh khắc, một trước một sau, cho ra một khoảng thời gian, có thể đo lường được bằng một con số.
200. Vì muốn có “trở thành”, phải có chuyển động.
201. Husserl, C2I – 1932–1933. Dẫn bởi: THAO, Trân Duc (1951), p. 143, Note.
202. Thuyết nhân quả, trong dạng đơn giản nhất của nó, quan niệm những tương quan theo một đường thẳng, theo kiểu: “vì có A, nên có B”. Nó có thể trở thành phức tạp hơn một chút: “vì có A, hay A’, nên có B”. Tuy nhiên, ít khi nào hệ quả lại không tác động ngược lại trên nguyên nhân, theo mô hình: “A cho ra B, B cho ra A’, A’ cho ra B’ v.v..”. dẫn đến “nhân quả xoay tròn”, trong thực tế là những vòng xoắn ốc. Nếu các “vòng” ấy có thể tự xoay chuyển, bất chấp những yếu tố khác, thì người ta có một “hệ thống nhân quả”. Nhưng nếu hệ thống phải chịu ảnh hưởng của những yếu tố bất định do môi trường, hoàn cảnh bên ngoài,... ảnh hưởng vào, thì hệ thống nhân quả ấy trở thành phức biến (mà không thành một hệ thống lớn hơn, với nhiều yếu tố hơn, vì các yếu tố vừa nêu được coi như “bất định”, đi ngược lại với tính “phân định”, phải có, của “nhân quả”).
203. Yếu tố “môi trường, hoàn cảnh” nói trong chú thích trên.
204. Theo Sartre, l’Etre en soi – hiện hữu tự thân – là sự hiện hữu bị quy định: cây xoài chỉ có thể “làm” cây xoài, Đạt Lai Lạt Ma “làm” Đạt Lai Lạt Ma,... nên cũng có thể được dịch là “hiện hữu thường hữu”, với ý nghĩa nó bị gò bó không thể thay đổi. L’Etre pour soi – hiện hữu vị kỷ, còn có thể được dịch là “hiện hữu tự hữu”, tức là sự hiện hữu do “tôi” chọn lựa, như Đạt Lai Lạt Ma có thể chọn nhảy rock, mặc dù nhảy rock không thuộc về “hiện hữu tự thân” của một Đạt Lai Lạt Ma. L’Etre pour l’autre – hiện hữu vị tha – là sự hiện hữu tùy thuộc vào người khác, vì cái nhìn của người khác ngăn cản tôi làm những gì tôi chọn lựa (Sartre: “địa ngục là kẻ khác”), hay vì cái nhìn của họ phản chiếu lại hình ảnh về tôi mà tôi muốn họ nhận thấy (Ricœur), hay vì ý thức nhân bản chính là ý thức trách nhiệm đối với tha nhân (“nhân bản qua tha nhân” – Lévinas), nên cần sự đối diện với một tha nhân cụ thể để hiện hữu. Trong một dịp khác tôi sẽ khai triển những ứng dụng đối với Sự logic của thời Hiện tại sống động trong các vấn đề được nêu lên trong đoạn này.
205. Khoa học là “thực tế có giá trị tổng quát”. Thí dụ như định luật Boyle Mariotte: P x V = hằng lượng. Định luật này áp dụng cho tất cả các chất hơi, ở bất cứ đâu, bất kể đang hiện hữu, đã hiện hữu, hay sẽ hiện hữu. “Xe mình hết xăng” cũng là một thực tế, nhưng nó chỉ áp dụng cho một trường hợp cá biệt (xe mình), vào một thời điểm giới hạn, nên không thể là “khoa học”. “Thực tế khoa học” là một thực tế không hiện hữu. Vì không có gì hiện hữu được trong tổng quát. Mọi sự vật cụ thể đều hiện hữu tại một nơi chốn, trong một thời gian rõ rệt. Mặt khác, cách nhìn tổng quát không cho phép phân tích tường tận một hiện hữu cá biệt, nên trên quan điểm của khoa học, thì hiện hữu là cái không thể định nghĩa được một cách toàn diện: “Omne individuum ineffabile”. Vấn nạn này đưa đến một khó khăn khác, khi buộc phải công nhận là người ta đạt đến quy luật khoa học với giá trị tổng quát của nó bằng sự quan sát các trường hợp cá biệt. Tức là đi từ hiện hữu đến không hiện hữu, từ cái “không thể là khoa học” (vì tính cá biệt), để xây dựng nền tảng của khoa học (mang tính tổng quát)!
206. Logic hình thức, mô tả “hình thức” tư duy làm sao cho đúng đắn, chứ không nhằm vào những đối tượng cụ thể của tư duy. Nó như một loại “văn phạm” của tư duy. Văn phạm không cần biết anh nói lời yêu thương hay mắng chửi. Nhưng, trong mọi trường hợp, anh đều phải tuân theo những quy luật của nó. Logic tiên nghiệm nhằm vào những phạm trù tàng ẩn đằng sau các nhận thức thông thường. Khi nói “con ngựa trắng lớn” thì đằng sau đó, đã phải có sẵn khái niệm động vật với những phân chia theo loài, giống,... đồng thời với khái niệm về tính chất (lớn, trắng). Nếu tôi nói “một con ngựa trắng trong nhiều con ngựa đen” thì đằng sau đã phải có sẵn các khái niệm đơn vị, số ít, số nhiều, cá thể, toàn thể,... Tức là đối với những cảm nhận thông thường thì các khái niệm ấy đã được “nghiệm” trước (tiên nghiệm). Ở đây, Husserl tách khỏi quan điểm của triết học thời ông, đặc biệt là quan điểm của Kant, khi ông từ chối xem logic hình thức như tự nó không có đối tượng (chỉ có hình thức, không có nội dung), cũng như phủ nhận việc cho là logic tiên nghiệm chỉ có đối tượng là các phạm trù biểu trưng cho những gì có thể “nghiệm” được bằng cảm quan. Husserl cho rằng logic hình thứccó thể có đối tượng là những khái niệm thuần túy. Ta thử lấy công thức: “A cho ra B, vậy phải chăng không B cho ra không A?”. Tức là ta đã biến công thức này thành một đối tượng logic, có thể phân tích, sử dụng cách này, cách kia, mặc dù nó chỉ là khái niệm thuần túy. Mặt khác, logic tiên nghiệmkhông chỉ là vận dụng những “phạm trù biểu tượng cho thực tại” nữa, mà là đạt đến những khái niệm trừu tượng qua tư duy logic. Nói cách khác, logic tiên nghiệm, đối với Kant, là đưa các phạm trù biểu tượng cho thực tế vào logic hình thức để giới hạn logic hình thức trong thực tại. Còn đối vớiHusserl thì logic tiên nghiệm là nền tảng để đi lên phạm trù khái niệm từ logic hình thức. Trước một khái niệm, thay vì đặt câu hỏi “đối với tôi nó biểu tượng cho cái gì trong thực tế” (tức từ khái niệm “đi xuống” thực tại), Husserl tự hỏi: “tôi hiểu nó như thế nào?” (tức đặt vấn đề ý nghĩa thay vì biểu tượng, cũng là “đi lên” một khái niệm cao hơn, “tiên nghiệm” hơn). Logic tiên nghiệm, như thế, không tách biệt với logic hình thức, mà là khởi điểm của logic hình thức. Để rồi, với “logic Hình Thức và Tiên Nghiệm”, người ta có thể “hiểu” tự thân sự vật qua một sự “hiểu biết cảm thông” như sẽ được bàn đến ở phần sau.
207. “Individualité” (tính cá thể) khi được dùng để chỉ một hiện hữu cụ thể, thì được dịch là tính cá thể. Vì khi ấy, cái “tính” được nhìn qua “thể”, và dùng cái “thể” này để tượng trưng cho nó. Cũng tương tự như chữ “personnalité” (cá tính của một người) được dịch là “nhân vật” khi chỉ những con người cụ thể (“personnalités” politiques = “nhân vật” chính trị).
208. Thu nạp các chất dinh dưỡng để cá thể sinh học có thể hóa thành chính nó.
209. Giữa chức năng tồn đọng và chức năng hướng đến tương lai.
210. “Vẫn còn hiện hữu” vì vẫn giữ những đặc tính của nó.
211. Nisus: khuynh hướng nỗ lực hiện thực hóa cái mục tiêu đề ra. (BS)
212. Appetitus: khuynh hướng bẩm sinh của một sự vật nhằm giúp chính nó tiếp tục tồn tại và phát triển. Appetitus có nguồn gốc Ấn–Âu: “pete–” có nghĩa là “lao tới”. (BS)
213. “Hiểu biết cảm thông” – “Connaissance compréhensive” – là hiểu biết xây dựng trên trực giác, chú trọng vào sự cảm thông, thay vì giải thích. Vấn đề của nó không phải là nhận biết các dữ kiện mà là cảm thông ý nghĩa của các dữ kiện ấy. Khi đã được hấp thụ đúng mức, thì “biện chứng sinh học hội nhập thời gian” ảnh hưởng như một phương pháp “tiên nghiệm” (xem chú thích (2), tr. 132) nâng các dữ kiện sinh học lên trình độ ý nghĩa, có thể cảm thông trực tiếp, mà không cần phải phân giải bằng trí năng nữa.
214. Tức là duy trì những đặc tính đủ để người ta vẫn nhận ra “nó là nó”.
215. “Nó là nó”, nhưng cũng “không còn là nó”, cho phép sự tiến hóa thành những sinh vật mới, phát triển hơn.
216. Thu nạp chất dinh dưỡng để biến hóa thành chính nó.
217. Bằng các chất dinh dưỡng lấy từ môi trường.
218. Như con sứa.
219. Sự thống nhất của cặp mâu thuẫn “tồn đọng – hướng tới tương lai” bao giờ cũng thể hiện thực tại, tức cái hiện trạng trong lúc này. Trong trường hợp sinh vật mà ta đang quan sát, cái “hiện trạng lúc này” ấy là sự co thắt. Hiện trạng ấy tổng hợp hai “tiến trình chuyển biến bao hàm đối nghịch”, do sự phân chia cấu trúc “thần kinh – cơ bắp” của nó thành hai loại, trương lực và từng kỳ. Tương tự như thế, sự đối kháng giữa hai phạm trù “tồn đọng” và “hướng hướng tới tương lai” triệt tiêu cái thực tại vừa nói, tức sự co thắt, để cho ra giai đoạn thư giãn, nghỉ ngơi, như Trần Đức Thảo sẽ nói tiếp ở câu sau.
220. “Tự thân” (corps propre), là một khái niệm được mô tả ra bởi một số triết gia như Merleau–Ponty (Phénoménologie de la Perception), để chỉ hình ảnh chủ quan của thân thể. Nó tạo ra cảm giác “chính mình”, “là mình”, “tự mình” cùng với những gì “mình” có thể làm, hay có thể cảm nhận.
221. Gọi là “hình ảnh thần kinh”.
222. Chứ không phải vào hình ảnh của chuột.
223. Vì không có thực.
224. Vì vượt ra ngoài giới hạn bản thân.
225. Tương đương với “khoảng miệng” của trẻ nhỏ.
226. Chỉ hiện hữu nơi con người.
227. Như Trần Đức Thảo đã phân tích trong nhiều tài liệu, ở trẻ em, tiếng gọi, rồi tiếng nói bên ngoài kích thích sự hình thành của tiếng nói bên trong. Tiếng nói bên trong được lập lại rồi khai triển thành ý thức. Với sự ý thức qua tiếng nói bên trong ấy, những cảm giác được ý thức, được trừu tượng hóa, đồng thời với ý muốn, chủ ý hành động,... Con vật chỉ có “cảm giác bản thân”, để phân biệt những gì “thuộc về nó” và “không phải nó”. Cảm giác về “nó” là cảm giác về một sự vật cụ thể, cũng như cảm giác đối với những sự vật “không phải nó”. Ở con người thì khả năng trừu tượng hóa làm cho ý thức của hắn không chỉ hướng đến sự vật hay cảm giác cụ thể mà vượt lên phạm trù trừu tượng. Thí dụ con vật chỉ ham muốn một sự vật cụ thể, như thức ăn, đối tượng giao hợp,... Trong khi đó, con người, trong sự ham muốn thực sự “người” của mình, thì ham muốn một hình ảnh chủ quan của đối tượng mà mình ham muốn, hoặc ham muốn chính sự ham muốn, như huy chương, bằng cấp, nhà to, xe đẹp, vì chúng chứa đựng sự ham muốn của người khác, hay khi giao hợp, thì muốn đối tượng cũng ham muốn giao hợp với mình... Trong điều kiện ấy, ý thức bản ngã nơi con người cũng hướng vào một “cái tôi” trừu tượng, được cấu tạo qua một “câu chuyện” được thường xuyên cập nhật, mà mình tự kể với mình, đồng thời thể hiện hình ảnh mà mình muốn người khác nhận biết nơi mình. Ý thức, như thế, bắt buộc phải có ngôn ngữ. Xem (tiếng Pháp):http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=167&kind=20 (đoạn “conscience et langage”).
228. Được ý thức, qua “tiếng nói bên trong”.
229. Tính chủ thể ở động vật được hình thành qua tập hợp cảm giác, trực giác, bản năng, của nó. Ở con người tính chủ thể bao hàm thêm tất cả những gì hắn “biết”, qua kinh nghiệm, học hỏi, suy tư, v.v... và qua những gì hắn dự phóng cho tương lai. Ngôn ngữ ở đây cũng đóng một vai trò then chốt, qua chức năng truyền đạt các hiểu biết, suy nghĩ và kinh nghiệm, cũng như xây dựng các dự phóng... Như Marx đã nhận xét: sự khác biệt giữa một kiến trúc sư kém cỏi nhất và con ong tài ba nhất, là người kiến trúc sư xây dựng công trình của mình trong trí óc, trước khi thực hiện nó trong thực tế. Chúng ta cũng đã nhận xét rằng con người luôn tự kể “tiểu sử” của mình, một tiểu sử không ngừng được phóng chiếu vào tương lai (“tôi là người sẽ...”), với những cập nhật đều đặn. Tính chủ thể nơi con người thể hiện qua ý thức mình là nhân vật chính của “tiểu sử” ấy.
230. Hylè là chất liệu của cảm giác, trước khi nó được cảm giác, để rồi, từ cảm giác, trở thành tri giác. Husserl đã có những do dự quanh vấn nạn làm thế nào để Hylè trở thành tri giác (sự kết hợp giữa Hylè và Morphè – hình thái). Sau cùng, quan điểm của ông là khi hội nhập thời gian, thì, cùng với sự vận động của thời gian qua mâu thuẫn tồn đọng và áp lực hướng đến tương lai, Hylè tự nó mang tính năng khích động cơ thể, đưa đến sự bổ túc các cảm giác đã nhận được bằng những tư thế nối tiếp nhau để tiếp tục nhận được những cảm giác mới về cùng một sự vật. Như một người vừa đi quanh một bức tượng, vừa nghiêng đầu để nhìn nó dưới nhiều khía cạnh. Đồng thời với những tư thế này, hệ thần kinh liên tục tổng hợp những cảm giác thu nhận được, dựa vào quá khứ, và hướng đến tương lai, làm thành một dòng tri giác. Như thế, Hylè, tức chất liệu của cảm nhận, tự nó hướng đến Morphe, hình thái. Mỗi cảm giác tự nó mang những phương tiện để được nhận thức đầy đủ hơn, và trong mỗi sự vật được cảm nhận trực tiếp đã có sẵn động lực để liên kết chúng thành một tập hợp hình ảnh hiểu được, “cảm thông được”, của thế giới.
231. Như Hylè, nó mang trong nó động lực tự bổ sung và hướng đến hành động.
232. Tương tự như “khoảng chân – tua” nơi loài Ruột Khoang, cho ra “vùng phụ cận” ở các trình độ tiến hóa cao hơn, trò chơi phân định một khoảng trống trung gian giữa “trong” và “ngoài” một cá thể. Cá thể ấy có khả năng tác động trên khoảng trống này, như thể thuộc về nó, mặc dù khoảng trống kia vẫn được cảm nhận như bên ngoài nó. Trong trò chơi, nó tác động trên những sự vật trung gian, để tăng cường cảm giác hiệu năng của nó trên khoảng trung gian vừa nói. Điều này cũng làm gia tăng cảm giác tự thân của nó, và là một bước tiến hóa dẫn đến việc phát triển các “trung gian thực dụng”, vẫn để tăng cường hiệu năng tác động trên “vùng phụ cận”, thường trùng hợp với khoảng trung gian của trò chơi. Các “trung gian thực dụng” ấy là các công cụ lấy trực tiếp từ thiên nhiên, trước khi tiến lên giai đoạn dụng cụ được chế tác.
233. Lời Cuối: Chỉ trong vài trang, chúng ta đã đi qua một quãng đường dài với Trần Đức Thảo. Khởi đầu bằng một phương pháp lý luận, ông dẫn chúng ta “hội nhập thời gian”, để hiểu được sự chuyển động của một hiện hữu trong thời gian. Rồi ông đưa chúng ta vào trong mỗi hiện hữu, để chỉ ra cá tính của nó, luôn tồn đọng, dù không ngừng chuyển biến, bất kể nó là một hạt cát, một sinh vật, hay toàn vũ trụ. Sau hết, vì hiện hữu mang tiềm năng kết hợp với những hiện hữu khác, làm thành những cá thể phức hợp, những hệ thống bao gồm nhiều tầng lớp, từ con sứa đến xã hội loài người, nên Trần Đức Thảo mời gọi chúng ta quay về quá khứ, tìm hiểu bản thân của tính kết hợp, qua những nền tảng đơn sơ nhất của nó. Từ thời buổi xa xưa ấy, những trang sử ly kỳ của Thiên Nhiên được lật nhanh, cho đến sự xuất hiện của xã hội tính và nhân tính, vạch ra một tiến trình từ sự co thắt cho đến các hành vi được ý thức nơi mỗi người chúng ta. Sự logic của thời Hiện tại sống động đã là ánh sáng chiếu soi cho chúng ta trên suốt con đường ấy, khiến chúng ta có được một cái nhìn nhất quán về lịch sử của Thiên Nhiên từ nguyên thủy cho đến hiện tại, với tất cả nhưng gì con người đã, và sẽ, biết được.
234. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1989c). Bản sử dụng ở đây đã sửa chữa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
235. Di chỉ khảo cổ học nổi tiếng ở miền Tây nước Pháp. (BS)
236. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1991b). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
237. Xem Ph. Ăng–ghen: Chống Đuy–rinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959, tr. 35–37.
238. Xem Ph. Ăng–ghen, Sách đã dẫn, tr. 36.
239. Chú thích của người biên tập: Tiếp sau phần hình thể cộng sản nguyên thủy, tác giả đã phân tích những nấc thang tiến hóa của lịch sử phát triển loài người. Vì khung khổ bài báo có hạn, rất tiếc chúng tôi không đăng được phần đó. Mong tác giả và bạn đọc thể tất. Dưới đây là phần tiếp.
240. Mác: Tư bản, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, Q1, T3, tr. 351–352.
241. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1977a). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
242. Trưng thu và cống nạp. (BS)
244. Hoàng Tuấn Anh dịch. Dịch từ nguyên bản tiếng Anh. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1947b] (2012). Bản sử dụng ở đây có biên tập một số chữ, và sửa chữa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
245. Giáo sư Trần Đức Thảo là nhà triết học lớn. Bên cạnh đó, với lòng yêu nước nồng nàn, ông còn là một nhà trí thức dấn thân chính trị từ khi còn rất trẻ. Năm 1944, khi mới 27 tuổi, ông đã được bầu làm Tổng Phái đoàn của người Đông Dương ở Pháp (Délégation générale des Indochinois en France), phụ trách nghiên cứu các vấn đề chính trị. Trên cương vị này, bên cạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, ông còn diễn thuyết, viết báo và vận động chính trị cho nền độc lập và dân chủ ở Đông Dương, hướng cuộc đấu tranh dành độc lập dân tộc theo hướng dân chủ–xã hội. Bài báo tiếng Anh này phản ánh tinh thần của bài báo tiếng Pháp của Giáo sư, Sur l’Indochine [Về Đông Dương]. Bài báo tiếng Pháp này được viết trong 4 tháng tại xà lim ở nhà tù Prison de la Santé (tháng 9–12/1945), sau khi ông bị bắt vì các phát ngôn ủng hộ nền độc lập ở Đông Dương, sau đó được đăng trên tạp chí Les Temps modernes, diễn đàn của giới triết học và trí thức cánh tả tại Pháp, do Maurice Merleau–Ponty, Jean–Paul Sartre, Raymond Aron và Simone de Beauvoir chủ trương. (BS)
246. Nay là Sri Lanka (ND).
247. Nguyễn Trung Kiên dịch. Nguồn: HERMAN, Daniel J. [1997] (2013). Tên bài do người dịch tạm đặt. Người dịch xin cảm ơn sự chỉ dẫn quý báu của Giáo sư Trần Hữu Dũng, Tiến sĩ Cù Huy Chử, Luật sư Cù Huy Song Hà và Tiến sĩ Nguyễn An Nguyên để bản dịch này được hoàn thiện. Đây là bài giới thiệu cho bản dịch tiếng Anh của Daniel J. Herman, Dialectical logic as the General logic of Temporalization [Logic biện chứng như là logic tổng quát của vận động thời gian], sau đó được tác giả sửa chữa và công bố trong The Encyclopedia of Phenomenology [EMBREE, Lester, et al (1997)]. Bản gốc tiếng Pháp của bài nghiên cứu này của Giáo sư Trần Đức Thảo là: La dialectique logique comme dialectique générale de la temporalisation. Đây là chương 2 của tác phẩm La Logique du Présent vivant [Sự logic của thời Hiện tại sống động] (1993), gồm 4 chương, của Giáo sư Trần Đức Thảo. Tác phẩm này, cùng với tác phẩm Recherches Dialectiques [Những nghiên cứu về các mối liên hệ biện chứng] (1992), là hai tác phẩm cuối đời do Giáo sư Trần Đức Thảo viết tại Paris, Cộng hòa Pháp. Hai tác phẩm cuối đời này đã đưa sự nghiệp nghiên cứu và sáng tạo triết học của Giáo sư Trần Đức Thảo lên tới đỉnh cao, và khẳng được định triết học của ông là chủ nghĩa duy vật biện chứng nhân bản, đúng như mơ ước ông gửi gắm trong bản Hồi ký Triết học (1989): “Trên cơ sở tiếng gọi của cái hình ảnh xã hội bên trong, ý thức cá nhân tự gọi bản thân mình, qua đó xác định sự đòi hỏiđạo đức trong hành động, chân lý trong nhận thức, và thẩm mĩ trong sự hoàn thành các quá trình sống động và sinh thức... Ý thức chuyển hóa thế giới tự nhiên thành một thế giới có tính Người, có giá trị đối với con người”. (ND)
248. Tài liệu tham khảo: CAVEING, M. (1974); LYOTARD, J.-F. (1992); RICŒUR, P. (1974); ROUSSET, B. (1984); THAO, Trân Duc (1946b), (1948), (1950b), [1951] (1971), [1951] (1970), [1951] 1986), [1956a] (1965), (1966b), (1969a), (1969b), (1970), [1985f] (1986), (1986a), (1992a), [1992c] (1995), (1992e), [1992e] (1995), (1993a).
249. THAO, Trân Duc (1951), (1986a).
250. Xem Phụ lục A [THAO, Trân Duc (1992a)].
251. HUSSER, E. (1936). Die Krisis der europäischen Wissenschaften und die transzendentale Phänomenologie: Eine Einleitung in die phänomenologische Philosophie [Sự khủng hoảng của các ngành khoa học tại châu Âu và Hiện tượng luận tiên nghiệm: Giới thiệu về Triết học tiên nghiệm] (ND)
252. THAO, Trân Duc (1991c).
253. THAO, Trân Duc (1973), [1973] (1984).
254. “Tiếng nói của đời sống thực tế” là một thuật ngữ của Karl Marx. “Sự sản xuất những ý kiến, những ý tưởng, sự sản xuất ý thức lúc đầu là trực tiếp quấn quyện trong hoạt động vật chất mà trong những quan hệ vật chất của những con người, trong tiếng nói của đời sống thực tế (Sprache des wirklichen Lebens).Ý tưởng, tư duy, những quan hệ tinh thần của người ta ở đấy là còn xuất hiện theo lối như toát ra từ cử chỉ vật chất của họ” (MARX, K., Hệ tư tưởng Đức, Dietz–Verlag, tr. 22) [Nguồn: THẢO, Trần Đức (1989b)] (ND).
255. Ví dụ như hòn đá (ND).
256. Ví dụ như hòn đá mài (ND).
257. Sự phân biệt này đã bị Jane Goodall, người sử dụng những khái niệm này mà không kèm trích dẫn, bác bỏ hoàn toàn. Không nên ngạc nhiên! Được đào tạo trong chuyên ngành của mình, bà đã được thừa hưởng không chỉ các nghiên cứu nhân chủng học của Thảo mà còn các nghiên cứu của Köehler. Nhiều năm trước, Köehler, trong một thí nghiệm mang tính kinh điển của mình, đã chỉ ra rằng khỉ không đuôi không có khả năng tự diễn đạt cho mình về một đối tượng vắng mặt, do đó nó không có khả năng suy nghĩ, nếu suy nghĩ phải tồn tại ít nhất là một khoảng cách giữa người suy nghĩ và đối tượng được suy nghĩ.
258. THẢO, Trần Đức, “Một hành trình ”, đã dẫn.
259. Năm 1968 được mở đầu với sự kiện Mùa xuân Praha, khi vào ngày 5 tháng Giêng, Alexander Dubček được bầu làm Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, mở đầu quá trình ngắn ngủi nhằm tự do hóa chính trị, cải cách dân chủ và phi tập trung hóa nền kinh tế tại Tiệp Khắc, và kéo dài đến ngày 21 tháng Tám, khi Liên Xô và các nước đồng minh trong Khối Vác–sa–va xâm lược Tiệp Khắc nhằm ngăn chặn các cải cách cấp tiếp này. (Nguồn: Wikipedia) (ND)
260. Daniel J. Herman có chút nhầm lẫn. Trên thực tế, Trần Đức Thảo trở lại Paris vào tháng Ba năm 1991 (ND).
261. THAO, Trân Duc [1992c] (1993).
262. Bao gồm: 1. Quy luật đồng nhất (cái gì tồn tại thì tồn tại); 2. Quy luật không mâu thuẫn (cái gì không tồn tại thì không tồn tại); 3. Quy luật loại trừ cái thứ ba (cái gì vừa là A, vừa không phải là A, thì không có cái thứ ba) (ND).
263. Heraclitus (kh. 535 duy vật của Hy Lạp cổ đại, được coi là ông tổ của phép biện chứng. Những tư tưởng biện chứng của ông rất sâu sắc, tuy vậy cách thức thể hiện lại rất phức tạp và khó hiểu. Dưới con mắt của Heraclitus, mọi sự vật trong thế giới của chúng ta luôn luôn thay đổi, vận động, phát triển không ngừng. Thế giới như một dòng chảy, cứ trôi đi mãi. Từ đó, ông đưa ra luận điểm nổi tiếng: “Không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Không có gì thường xuyên biến đổi như một dòng sông nhưng cũng không có gì ổn định như dòng sông. Bởi khi nó vận động cũng là khi nó đứng im. Nói cách khác, tính biến đổi của dòng sông không loại trừ sự đứng im, tức là cái mà nhờ đó dòng sông là xác định, ổn định và bất biến. Heraclitus đã tiếp cận được với những tư tưởng rất cơ bản của phép biện chứng. Ông nói: “Trong cùng một dòng sông ấy chúng ta lội xuống và không lội xuống, chúng ta có và không có”. Đó chính là những tư tưởng về mối liên hệ phổ biến của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (ND).
264. THAO, Trân Duc [1992a] (1993).
265. Thảo đã quên mất Bergson, người đã phân biệt giữa thời gian của cái đồng hồ với thời gian thực, mà rõ ràng là đã chịu ảnh hưởng bởi Husserl.
266. Đây là luận điểm triết học rất quan trọng của Trần Đức Thảo. Luận điểm này còn nguyên giá trị thời sự đối với quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền và phát triển xã hội dân sự trong các nước chuyển đổi, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam. Bên cạnh đó, luận đề triết học này còn tạo ra những nhận thức mới để thúc đẩy tiến trình “hòa hợp” và “hòa giải” giữa các quốc gia và dân tộc đang phải sống trong sự chia rẽ và hận thù bởi các di sản của quá khứ. (ND)
267. THAO, Trân Duc (1993a).
268. Đây là một thành tựu triết học rất quan trọng của Trần Đức Thảo. Ông đã sử dụng phép biện chứng của Hegel để loại bỏ yếu tố siêu hình trong khái niệm thời gian của Aristotle, và nội dung duy tâm trong khái niệm các khoảnh khắc bất động của Husserl. Qua đó, Trần Đức Thảo đã phát triển khái niệm sự vận động của các khoảnh khắc trên tinh thần của chủ nghĩa duy vật biện chứng, và sử dụng khái niệm đó để diễn giải quá trình phát triển biện chứng của lịch sử tự nhiên, xã hội và ý thức, ngôn ngữ của con người – một quá trình phát triển từ thú tính đến nhân tính sang sử tính (Phan Huy Đường). Sự diễn giải đó được thể hiện trong hai tác phẩm cuối đời của Trần Đức Thảo: Recherches Dialectiques, và La Logique du Présent vivant. Hai tác phẩm này, bên cạnh việc tạo cảm hứng cho các thế hệ sau kế thừa và phát triển các thành tựu triết học của Trần Đức Thảo, còn khẳng định vị trị quan trọng của ông trong triết học phương Tây hiện đại. (ND)
269. Nguyễn Đức Truyến lược dịch, Nguyễn Trung Kiên biên tập. Nguồn: FÉRON, A. (2014a).
270. Với các thông tin về tiểu sử, chúng tôi dựa trên hai văn bản tự thuật của Trần Đức Thảo, THAO, Trân Duc [1984b] (1993), Lời nói đầu [THAO, Trân Duc (1986a)], và nghiên cứu của Daniel Hemery [HÉMERY, D. (2013)]; một văn bản được đăng lại trong: BENSOIST, J. & M. Espagne (2013); và THAO, Trinh Van (2004).
271. Cùng năm với Louis Althusser.
272. Sau đây là lời bình của Jean Cavaillès: “Ông Thảo đã đọc tất cả các tác phẩm đã xuất bản của Husserl, một số chưa được công bố, và những lời bình luận quan trọng. Bản thân công trình của ông là một trong những nghiên cứu bằng tiếng Pháp tốt nhất về Husserl và cao hơn hẳn trình độ của bằng tốt nghiệp thông thường. Nó cho thấy những kiến thức rất phong phú và một tư duy triết học sâu sắc” [ISRAËL, S. (2005)]. Khóa luận này được lưu hành rộng rãi trong các sinh viên Trường ENS vào thời điểm đó và đã có ảnh hưởng lớn đến cách tiếp nhận hiện tượng luận ở Pháp. Xin chỉ nêu những cái tên nổi bật như Jacques Derrida, Lyotard, Bourdieu, và cả Louis Althusser.
273. ISRAËL, Stéphane, Ibid., Chương 2.
274. Trong bài báo của mình, Sur l’Indochine [Về Đông Dương], Trần Đức Thảo gợi lên hiện trạng của phần tử “tinh hoa” trí thức: ”... thành viên cấp thấp [của cộng đồng Pháp], người mà, nhờ một ân sủng đặc biệt, được đối xử như một thành viên cao cấp và do đó phải có một lòng biết ơn sâu sắc đối với quyền lực chi phối cộng đồng [...] thay vì sử dụng nó, thì trái lại, người ta đã làm cho tranh thủ nó để trục lợi... Bằng một ân sủng của quyền lực, anh ta đã được nâng đỡ từ giai cấp bị trị lên giai cấp thống trị; từ đó trở đi, anh ta là một thành viên của nó và ý định quay trở về với những người bị bóc lột là phản quốc”. (THAO, Trân Duc (1946a), pp. 896–897).
275. Sau đoạn văn được trích dẫn trong ghi chép trên đây, Trần Đức Thảo khẳng định: “Nhưng người Annam, ở chân trời riêng của mình, chỉ có thể tự xem mình như một công dân của Việt Nam. [...] Từ bỏ đồng bào của mình vì lợi ích cá nhân chính là định nghĩa về khái niệm phản quốc”. (Ibid., p. 897).
276. Ví dụ đó là sự lựa chọn của Phạm Duy Khiêm (vào trường ENS vào năm 1931, đậu thạc sĩ, ông được huy động vào năm 1939 và trở thành đại sứ của Tổng thống Diệm từ 1955–1957). So sánh giữa Phạm Duy Khiêm và Trần Đức Thảo: xem bài viết của Daniel Hemery và công trình của Trịnh Văn Thảo.
277. Ibid., p. 890.
278. Chúng tôi dựa trên các thông tin của Daniel Hemery trong bài viết của ông được trích dẫn ở trên.
279. Cũng vào thời điểm này, ông đã gặp Daniel Guérin và Pierre Naville.
280. Xem các bài được đăng lại trong tác phẩm của Merleau-Ponty, Sens et non sens [Có nghĩa và vô nghĩa].
281. THAO, Trân Duc (1986a), p. 6.
282. Ibid.
283. ANDERSON, P. (1977).
284. THAO, Trân Duc (1946b), cũng như một số văn bản khác bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, luôn sẵn có trên trang Web: studies.info/TDThao/
285. Văn bản đầu tiên này là một phần của một cuộc tranh luận được tổ chức bởi Revue internationale về mối quan hệ giữa chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh. Người ta còn thấy có sự đóng góp của Jean Domarchi, Pierre Naville và Merleau–Ponty.
286. l’expérience antéprédicative.
287. Contribution à la critique del’économie politique,”Introduction de 1857” [Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, “Lời nói đầu, 1857”], p. 175.
288. “Tính ưu việt của nền kinh tế không thủ tiêu được tính xác thực của các kiến trúc thượng tầng, mà trả nó về với nguồn gốc thực sự của nó trong sự tồn tại được trải nghiệm. Các kiến tạo ý thức hệ đều có liên hệ với phương thức sản xuất, không phải vì chúng phản ánh nó – đó là một điều vô nghĩa, mà đơn giản chỉ vì chúng tạo lập được ý nghĩa của chúng từ một kinh nghiệm tương ứng, nơi các giá trị “tâm linh” không được tái hiện nhưng được trải nghiệm và cảm nhận, và tất cả những kinh nghiệm đặc thù đều tham gia vào trong kinh nghiệm tổng thể của con người trong thế giới. Vì nó luôn được định nghĩa tại mỗi thời điểm trong những đường nét chung nhất của nó, qua các quan hệ kinh tế đang tồn tại và một sự thay đổi trong các quan hệ này sẽ kéo theo một sự tái cấu trúc của tổng thể, nên khi cho rằng sự vận động của lịch sử, xét cho cùng, luôn được quy chiếu vào các điều kiện của đời sống vật chất. Mỗi tình trạng mới của kỹ thuật đều ám chỉ đến một “văn hóa” mới, không phải là cái văn hóa này phải phản ánh nó, mà vì vì nó chỉ có thể đích thực là văn hóa nếu nó thể hiện những trực giác ban đầu mà những điều kiện sống mới tiết lộ”. [THAO, Trân Duc (1946b), p. 4].
289. “Bài viết Về Đông Dương của tôi đã được viết trong xà lim, nơi tôi bị giam một mình trong nhà tù Santé. Tôi đã sử dụng thời gian rỗi bắt buộc để kiểm tra ý thức của tôi về hiện tượng luận. Bài viết của tôi là theo chủ nghĩa hiện sinh”. (THAO, Trân Duc [1984b] (1993), p. 148).
290. THAO, Trân Duc (1946a), p. 898 (nhấn mạnh của chúng tôi). Trước đó, Thảo đã lưu ý trong bài viết: “Ý nghĩa của những tồn tại có trước các lý lẽ, mà nhờ chúng người ta có thể biện minh cho nó. Khái niệm về trách nhiệm không có nghĩa gì ngoài một cộng đồng mà hiện tại người ta đang thuộc về nó. Người ta không thể thuyết phục được ai đó gia nhập vào một cộng đồng bởi vì tất cả những lý do mà người ta có thể đưa ra để giải thích về điều đó đều tiền giả định rằng anh ta đã tham gia vì nó. Cái dự án được hình thành trước anh ta, như thể có một ý nghĩa cho anh ta, chỉ có thể nhằm vào cộng đồng, trong đó anh ta cảm thấy mình tồn tại. Một cảm giác như vậy xác định chính bản chất của sự tồn tại của anh ta, việc anh ta sống cho bản thân mình, chính là điều nếu không có nó anh ta sẽ không tồn tại” (p. 897).
291. Ibid., pp. 885–886.
292. Ibid., p. 900.
293. Les faits [Các sự kiện], p. 362. Một câu chuyện tương tự: “Trong chốn riêng tư, Thảo nói với chúng tôi: ‘Tất cả các bạn đều là những cái tôi – bình đẳng siêu nghiệm’. Ông luôn mỉm cười, nhưng chân lý thật sâu sắc!” (ALTHUSSER, L. (1992), p. 201).
294. Trong tạp chí Les Temps Modernes, số 19, tháng 3/1947, với chuyên đề: “Hồ sơ về Đông Dương”, bao gồm chủ yếu một bài viết của Merleau–Ponty (“SOS Indochine”), một bài viết của Trần Đức Thảo [THAO, Trân Duc (1947a)], và bài viết của Claude Lefort (Les pays coloniaux: analyse structurelle et stratégie révolutionnaire [Các nước thuộc địa: phân tích cấu trúc và chiến lược cách mạng]).
295. THAO, Trân Duc (1947c). Đây cũng là bài viết cuối cùng về Đông Dương mà ông công bố trên tạp chí Les Temps Modernes; bài viết sau về vấn đề này sẽ được công bố trên tạp chí La Pensée.
296. Chúng ta phải nhớ rằng chính là vào thời điểm này mà nhóm Les Temps Modernes, và nhất là Sartre và Merleau–Ponty, khởi xướng việc xây dựng Tập hợp Dân chủ cách mạng (RDR), phong trào tập hợp một số nhân vật theo khuynh hướng tờ-rốt-kít và mong muốn trở thành một “con đường thứ ba” mang tính cách mạng giữa Liên Xô và Hoa Kỳ.
297. “Phần thứ hai của Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng (1951) đã đi đến một bế tắc mà tôi hy vọng tìm thấy con đường dẫn đến các giải pháp trong cách mạng Việt Nam” [THAO, Trân Duc (1986a), p. 1].
298. Sự công thức hóa của tính chính thống triết học được thực hiện trong tác phẩm của Stalin, Matérialisme dialectique etmatérialisme historique [Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử] (1937). Về vấn đề này, tham khảo: LABICA, G. (1984). Le Marxisme–léninisme. Paris: Bruno Huisman.
299. GOUARNÉ, I. (2013).
300. THAO, Trân Duc (1986a).
301. THAO, Trân Duc (1948).
302. Cũng phải nhắc đến vai trò của sự thất bại trong năm cuộc đối thoại của Thảo với Jean–Paul Sartre trong quá trình này về mối quan hệ giữa chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh.
303. Đó là điều mà Vincent Descombes đã chỉ ra. Tham khảo: DESCOMBES, V. (1979).
304. Phần đầu tiên là một trong những trình bày sáng tỏ nhất về triết học của Husserl, trong đó ông phân tích sự phát triển biện chứng trong tư tưởng của ông này và chỉ ra sự cần thiết phải vượt qua quan điểm hiện tượng luận đến chủ nghĩa duy vật biện chứng.
305. Marx, IA, p. 42–43.
306. Ibid., p. 51.
307. Tôi sử dụng từ “ý thức”, nhưng phải chú ý rằng tùy theo loại sinh vật, thuật ngữ này có một ý nghía rất khác biệt. Con cá không có ý thức về thế giới cùng cách với các động vật có vú, và nhất là với con người.
308. Về chủ đề này, xem bài viết của Jocelyn Benoist, “Une première naturalisation de laphénoménologie?” [Một sự tự nhiên hóa đầu tiên của hiện tượng luận?]. Nguồn: BENSOIST, J. & M. Espagne (2013), pp. 25–46. (Bài thuyết trình này có thể truy cập theo địa chỉ: http://savoirs.ens.fr/expose.php?id=830).
309. THAO, Trân Duc [1984b] (1993).
310. THAO, Trân Duc (1986a) p. 1
311. Trong giai đoạn này của cuộc đời ông, chúng tôi chỉ có những thông tin rất không đầy đủ. Chúng tôi đã sử dụng các văn bản tự truyện của Trần Đức Thảo (đã đề cập ở trên), kể cả tham luận của Philippe Papin trong hội thảo chuyên đề về Trần Đức Thảo (http://savoirs.ens.fr/expose.php?id=832); trong tài liệu: “Itinéraire II. Les exils intérieurs”, nguồn: BENSOIST, J. & M. Espagne (2013); tác phẩm của Trịnh Văn Thảo (trích dẫn ở trên); và bài viết của McHale, nguồn: McHALE, S. (2002).
312. Khu vực phía bắc của Hà Nội, được dùng làm căn cứ địa cho Việt Minh.
313. Một công trình đã được công bố theo ghi chép về các bài giảng của các sinh viên của ông năm 1955 Ông lấy lại những nét lớn trong một tác phẩm mà ông đã công bố. bằng tiếng Việt ở Paris năm 1950, Triết lý đã đi đến đâu. Về vấn đề này, xem các công trình của Trịnh Văn Thảo.
314. Không có bài viết nào trong số này được dịch [sang tiếng Pháp].
315. Oliver Todd (1929): nhà văn và nhà báo Pháp cánh tả, theo khuynh hướng tờ-rốt-kít, chịu ảnh hưởng bởi truyền thống triết học phân tích, từng cộng tác với nhóm Temps Modernes của Jean-Paul Sartre. (BS)
316. THAO, Trân Duc (1966), p. 4.
317. THAO, Trân Duc (1974).
318. Ibid.
319. THAO, Trân Duc (1965).
320. THAO, Trân Duc (1973), p. 13.
321. Xuất bản ở Éditions sociales năm 1973 [THAO, Trân Duc (1973)]. Ông đăng lại các bài viết đã được xuất bản trong tạp chí La Pensée (1966–1970), và một nghiên cứu chưa được công bố về mối quan hệ giữa phân tâm luận và chủ nghĩa Marx.
322. Đây có lẽ là lý do tại sao Althusser, khi đọc những bài viết trong La Pensée, đã nhận xét rằng, Trần Đức Thảo, qua sự quan tâm của ông về nguồn gốc và sự hình thành ý thức, vẫn chịu ảnh hưởng của Husserl”. (ALTHUSSER, L. (1992), p. 362)
323. Marx, IA, p. 50.
324. Ibid..
325. Tác phẩm này nhằm chống lại Althusser và thông qua ông này chống lại tư tưởng Mao–ít và phái Khmer đỏ.
326. THAO, Trân Duc (1986b).
327. Có thể xem về chủ đề này qua nhân chứng Thierry Marchaisse trong văn bản của ông, Tombeau sur la mort de Trần Đức Thảo (Nguồn: BENSOIST, J. & M. Espagne (2013),pp. 254–257).
328. THAO, Trân Duc [1993b] (1993), pp. 154–168.
329. Nguồn: LUẬT, Phạm Trọng (2004). Do khuôn khổ của cuốn sách, bản sử dụng ở đây có lược bớt một số chi tiết trong nguyên bản, và biên tập một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
330. Đây chủ yếu là bài tưởng niệm Trần Đức Thảo đã đăng trên Hợp Lưu,số 79 (10-11/2004). Vì phải tôn trọng thời hạn nộp bài để kịp ra báo, tôi đã để lại một vài sai sót, xin thành thật cáo lỗi cùng quý độc giả. Những sơ suất ấy nay đã được khắc phục; tôi cũng nhân tiện bổ túc bài viết ở một vài đoạn trước đây không kịp triển khai (về phức cảm Œdipe, về một số biên khảo của tác giả từ thời Đổi mới năm 1986 đến cuối đời). Và xin xác định thêm: vì triết gia còn là “kẻ lạ” đối với phần lớn người Việt, bài Tổng quan này sẽ nghiêng về phần trình bày hơn là bình luận các trước tác của ông. Mặt khác, Trần Đức Thảo là một tác giả không dễ đọc: về tư tưởng, ông vừa là nhà hiện tượng luận, vừa là nhà duy vật biện chứng; lập luận của ông lại được xây dựng trên những kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau (triết học, tâm lý học, nhân chủng học, sử học, sinh học…), và trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng vượt xa khả năng của kẻ viết bài này. Dù hết sức cố gắng, chắc chắn là tôi đã không thể hiểu hết, do đó, có thể cũng vẫn còn không ít sai sót chưa nhìn thấy ở đây. Rất mong được sự trợ giúp của quý độc giả, hầu sửa sai cho lần cập nhật sau, hoặc khi có dịp trở lại trên các vấn đề đã được trình bày trong bài.
331. THAO, Trân Duc [1984b] (1993).
332. Aristote (1992). Ethique de Nicomaque. Jean Voilquin dịch, đề tựa và chú giải. Paris: GF-Flammarion, p. 230.
333. QUYẾN, Nguyễn (2002).
334. Về thuật ngữ triết học nói chung, thứ tiếng Việt của Trần Đức Thảo trong tác phẩm “Triết lý đã đi đến đâu?” ngày nay không còn ai dùng, và bản thân tác giả cũng đã tiến hóa nhanh chóng sau khi về nước. Ở đây, chúng tôi ưu tiên dùng thuật ngữ của Trần Đức Thảo, trong trường hợp dùng thuật ngữ khác, cũng sẽ ghi lại từ ông dùng trong ngoặc […] nếu biết. Riêng về hiện tượng học, trong khi chưa nhận được bản dịch tiếng Việt của Hiện tượng luận và Chủ nghĩa Duy vật Biện chứng,chúng tôi chủ yếu dựa trên trước tác của Cao Xuân Huy (Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu. Nguyễn Huệ Chi soạn, chú thích, giới thiệu. Hà Nội: NXB. Văn Học, 1995). Bởivì, theo sự ghi chú ở trang 173 của tác phẩm này, thì “Chương viết về Husserl và hiện tượng học (Phần thứ nhất, tr. 150-174) là tóm tắt theo sách “Phénoménologie et Matérialisme Dialectique” [THAO, Trân Duc (1951)]. Mặt khác, bên cạnh các từ sử dụng, chúng tôi cũng ghi lại trong ngoặc […] thuật ngữ của Trung Hoa hay những tác giả khác nếu có. Thí dụ: quy giản [réduction = hoàn nguyên (Trung Hoa), dẫn thoái (Cao Xuân Huy)], giảm trừ (Đặng Phùng Quân)], chú thị [visée, Cao Xuân Huy].
335. Hiroshima University, Hiroshima (Nhật Bản). URL = http://home.hiroshima-u.ac.jp/orient/VSD.xls.
336. Jean Cavaillès (1903-1944). Triết gia và nhà toán học Pháp. Ông đỗ đầu vào Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1923, đậu thạc sĩ triết học năm 1927, từ năm 1929 đến năm 1935, ông làm phụ đạo [répétiteur] tại đây. Được học bổng của Viện Rockefeller năm 1930, ông có dịp sang Đức nhiều lần để chuẩn bị luận án, và chứng kiến tận mắt những hành động ghê tởm của chế độ quốc xã. Là giáo sư trung học tại Amiens (1936), ông trình luận án toán học năm 1938, rồi làm phó giáo sư [maître de conférences] môn triết học và logic học tại Đại học Strasbourg. Trong chiến tranh, ông là trung úy bộ binh. Ông bị bắt năm 1940, song trốn thoát về được Clermont-Ferrand, nơi Đại học Strasbourg lánh nạn, để tiếp tục dạy học. Được bổ nhiệm giáo sư tại Sorbonne năm 1941, ông rời Clermont-Ferrand về Paris, tiếp tục vừa dạy học vừa hoạt động kháng chiến bí mật. Bị bắt lần đầu tháng 9 năm 1942, ông vượt ngục sang London gặp tướng De Gaulle. Bị bắt lần thứ nhì tháng 8 năm 1943, ông bị Đức Quốc xã xử bắn vào tháng 2 năm 1944. Về học thuật, Jean Cavaillès còn để lại nhiều tác phẩm rất giá trị trong lĩnh vực chuyên môn của ông: Nhận xét quanh Lý thuyết trừu tượng về Tập hợp [Remarques sur la Théorie Abstraite des Ensembles, 1938], Tiểu luận về Nền tảng của Toán học [Essai sur le Fondement des Mathématiques, 1938], Siêu hạn và Liên Tục [Transfini et Continu, 1938], Về Logic học và Lý thuyết về Khoa học [Sur la Logique et la Théorie de la Science, 1947].
337. THAO, Trân Duc (1950a), pp. 128-142.
338. Ba lối quy giản: ở Descartes (trở về chủ thể tư duy, để từ tính bất khả hoặc của cái tôi tư duy ấy, song song với tính hiếu chân của Thượng Đế, xác lập sự tồn tại của ngoại giới); ở Kant (trở về với chủ thể như môi trường của của mọi kinh nghiệm, để từ những cái khuôn tiên thiên ở chủ thể, xác lập tính khách quan và tính khả tri của thế giới hiện tượng) và ở Husserl (trở về với ý thức của chủ thể, như luôn luôn là ý thức về một đối tượng nào đó, để xác lập đồng thời trong cùng một chú thị trực quan [visée intuitive], cả chủ thể lẫn đối tượng của ý thức). Tất nhiên, “cái tôi tư duy” củaDescartes và “cái chủ thể thuần túy” của hiện tượng luận cũng không nhất thiết phải hoàn toàn trùng hợp (Ibid., pp. 128-138).
339. Ibid., p. 139.
340. THAO, Trân Duc (1946b).
341. Ibid., p. 174.
342. LYOTARD, J.–F. (1999), pp. 112-115.
343. THAO, Trân Duc (1974). pp. 37-42.
344. Ibid., p. 37.
345. “Tiếng nói của đời sống thực tế” là một thuật ngữ của Karl Marx. “Sự sản sinh ra những ý tưởng, biểu tượng và ý thức trước hết đã hòa lẫn một cách trực tiếp và mật thiết vào sinh hoạt và trao đổi vật chất giữa những con người, nó là tiếng nói của đời sống thực tế. Mọi biểu tượng, ý tưởng, trao đổi trí thức giữa con người với nhau cũng hiện ra, ngay cả ở đây, như xuất phát trực tiếp từ hành vi vật chất của họ”. Nguồn:MARX, K. & F. Engels [1846] (1975), L’Idéologie Allemande. Paris: Ed. sociales, p. 50. (BS)
346. THAO, Trân Duc (1974), p. 38.
347. Alexandre Kojève (1902-1968). Triết gia Pháp gốc Nga. Ông theo học tại Đại học Heidelberg (Đức), trình luận án năm 1931 dưới sự hướng dẫn của Karl Jaspers, về Triết lý Tôn giáo của Vladimir Solovyov(một triết gia tôn giáo Nga chịu ảnh hưởng sâu đậm của Hegel). Đổi quốc tịch, ông định cư tại Paris và hướng dẫn một lớp nghiên cứu chuyên đề về Hegel tại École Pratique des Hautes Études từ 1933 đến 1939. Được xuất bản dưới tựa đề Introduction à la Lecture de Hegel (1947), loạt bài giảng của ông đã ảnh hưởng sâu đậm lên giới trí thức và triết học Pháp đương thời cũng như thuộc thế hệ sau (như Sartre, Merleau-Ponty, Lacan, Bataille, Althusser, Queneau, Aron, Breton…). Qua Léo Strauss và bản dịch Introduction to the Reading of Hegel (1969), tư tưởng của Kojève còn lan sang nhiều nhà tư tưởng Hoa Kỳ, đặc biệt là Allan Bloom và Francis Fukuyama. Sau Đại chiến thế giới Hai,Kojève trở thành công chức cao cấp tại Bộ Kinh Tế, và đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc thương thuyết quốc tế của Pháp, cho đến khi mất năm 1968. Tiếp tục viết về triết học, ông còn để lại nhiều tác phẩm khác (phần lớn chỉ được xuất bản sau khi qua đời), về: các triết gia tiền Socrate,Kant, ảnh hưởng của Ki-tô Giáo đến khoa học phương Tây và chủ nghĩa cộng sản, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, v.v… Có thể liệt kê: Lịch Sử Biện Giải về Triết Lý Đa Thần [Essai d’une Histoire Raisonnée de la Philosophie Païenne, 1968-1973]; Kant (1973); Phác Thảo về Một Hiện Tượng Luận Pháp Lý [Esquisse d’une Phénoménologie du Droit, 1981]; Bạo Quyền và Minh Đạo [Tyrannie et Sagesse, 1983] ; Khái Niệm, Thời Gian và Biểu Văn [Le Concept, le Temps et le Discours ; 1990]; Quyết Định Luận trong Vật Lý Học Cổ Điển và Vật Lý Học Hiện Đại [L’Idée du Déterminisme dans la Physique Classique et dans la Physique Moderne, 1990]; Ý Niệm về Quyền Uy [La Notion de l’Autorité, 2004]…
348. JARCZYK, G. & P.-J. Labarrière (1996), p. 29.
349. Maurice Merleau-Ponty (1908-1961). Triết gia Pháp. Ông đỗ vào Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1924, đỗ thạc sĩ triết học năm 1930. Ông là giáo sư triết học cấp trung học ở Chartres, rồi làm phụ đạo tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Ông đỗ tiến sĩ Văn khoa với 2 tác phẩm quan trọng Cấu trúc của Hành vi [La Structure du Comportement, 1942] và Hiện tượng luận về Nhận thức [La Phénoménologie de la Perception, 1945]. Cũng trong năm này, cùng với Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir, sáng lập tạp chí Les Temps Modernes mà ông rời bỏ năm 1952 sau 7 năm cộng tác đắc lực. Ông là giáo sư triết tại Đại học Lyon (1945 – 1948), rồi môn tâm lý trẻ em và khoa sư phạm ở Đại học Sorbonne (1949 - 1952). Cuối cùng, ông là người trẻ nhất được cử giữ ghế giáo sư triết tại Collège de France từ 1952 cho đến khi mất vì bệnh tim năm 1961. Tác phẩm của ông, ngoài 2 tựa đề kể trên, còn có Cuộc phiêu lưu của Biện chứng pháp [Les Aventures de la Dialectique, 1945], Nghĩa và Vô nghĩa (Sens et Non-Sens, 1948]), Dấu hiệu [(Signes, 1960], Hữu hình và Vô hình [Le Visible et l’Invisible, 1964].
350. THAO, Trân Duc (1948).
351. Ibid., p. 492.
352. KOJÈVE, A. & Trân Duc Thao [1948] (1990).
353. Ibid., p. 134.
354. Jean-Paul Sartre (1905-1980). Triết gia, nhà văn, nhà báo Pháp. Ông đỗ vào Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1924, là bạn đồng song với Raymond Aron, Paul Nizan và Maurice Merleau-Ponty; đỗ đầu thạc sĩ triết học năm 1929, Simone de Beauvoir đỗ thứ nhì và trở thành bạn đời của ông. Ông được bổ nhiệm giáo sư tại Havre (1931), rồi Viện Berlin [Institut de Berlin, 1933]. Ông bị động viên năm 1940, bị bắt và vượt ngục năm 1941. Ông kết bạn với Albert Camus từ năm 1944, đến khi tác phẩm Người Nổi Loạn [L’Homme Révolté] của Camus ra đời và bị Sartre cùng nhóm Les Temps Modernes đả kích dữ dội, hai bên đoạn tuyệt năm 1952. Tạp chí Les Temps Modernes được sáng lập năm 1945, với sự cộng tác đắc lực của Merleau-Ponty, nhưng sau đó hai bên cũng chia tay (1954). Về chính trị, ông là biểu tượng của trí thức dấn thân: Sartre đã hợp tác với nhật báo La Gauche (1948) và với Đảng Cộng sản Pháp (1950-1968); ký ”Tuyên Ngôn 121” về quyền bất phục tùng (trước lệnh động viên sang Algérie, 1960); đỡ đầu tuần báo Nouvel Observateur cùng với Pierre Mendès France (1964); ủng hộ cuộc nổi dậy của sinh viên (1968); lập thông tấn xã Libération với Maurice Clavel và nhận làm chủ nhiệm tờ báo cực tả đã bị đóng cửa Libération (1973); cùng với Raymond Aron, bạn đồng song đồng thời là địch thủ chính trị chính của ông (1976). Mất ngày 15/4/1980 tại Bệnh viện Broussais, đám táng ông quy tụ cả chục ngàn người đưa tiễn. Về triết học, Sartre để lại những tác phẩm chính sau đây: Trí tưởng tượng [Imagination, 1936], Phác thảo một Lý thuyết về Cảm xúc [Esquisse d’une Théorie de l’Emotion, 1939], Ảo tượng [L’Imaginaire, 1940], Hữu thể và Hư vô [L’Être et le Néant, 1939-1943], Chủ nghĩa hiện sinh là một Chủ nghĩa nhân bản [L’Existentialisme est un Hummanisme, 1946], Vấn đề Phương pháp [Question de Méthode, 1957], Phê phán Lý trí biện chứng I [Critique de la Raison Dialectique I, 1957-1960], Phê phán Lý trí biện chứng II [Critique de la Raison Dialectique II, chưa hoàn tất, 1985]… Về văn học, ông cũng để lại một sự nghiệp đồ sộ, với cao điểm là Giải Nobel mà ông từ chối năm 1964: Buồn nôn [La Nausée, 1938], Bức tường [Le Mur, 1939], Ruồi nhặng [Les Mouches, 1943], Xử kín [Huis Clos, 1944], Những ngả đường tự do [Les Chemins de la Liberté, 1945], Không mộ phần [Morts sans Sépulture, 1946], Con điếm kính cẩn [La Putain Respectueuse, 1946], Baudelaire (1947), Những bàn tay bẩn [Les Mains Sales, 1948], Chết trong tâm hồn [La Mort dans l’ Âme, 1949], Ác quỷ và Thượng đế [Le Diable et le Bon Dieu, 1951], Saint-Genet (1952), Nekrassov (1956), Nekrassov (1956), Những kẻ giam thân ở Altona [Les Séquestrés d’Altona,1960], Từ ngữ [Les Mots, 1963], Thằng ngu trong nhà [L’Idiot de la Famille, 1971-1972], v.v…
355. THAO, Trân Duc (1949).
356. Ibid., p. 322.
357. MICKUNAS, Algis. Marxisme. Nguồn: EMBREE, Lester, et al (1997), pp. 435-439.
358. STALIN, I. V. (1971).
359. Louis Althusser (1918-1990). Triết gia Pháp, sinh tại Alger. Ông học và sau dạy tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Gia nhập Đảng Cộng sản Pháp năm 1948, ông là một triết gia uy tín của Đảng. Mặt khác, khi trào lưu cấu trúc [structuralisme] tràn ngập các ngành học thuật Pháp từ khoảng 1960 (Roman Jacobson trong ngôn ngữ học, Roland Barthes trong lý luận văn học, Jacques Lacan trong phân tâm học, Levi-Strauss trong nhân chủng học), thì Louis Althusser và học trò của ông, Michel Foucault, cũng thuộc khuynh hướng này. Althusser được xem là đầu đàn của trường phái Marx cấu trúc [marxisme structuraliste], còn Michel Foucault thì rẽ sang hướng khác, khi trường phái cấu trúc nổ thành nhiều mảnh “hậu cấu trúc” khoảng 1970. Về mặt tư tưởng, chủ nghĩa Marx cấu trúc được xem là giải đáp cho hai mối nguy đang đe dọa dự án cách mạng xã hội chủ nghĩa lúc ấy: chủ nghĩa kinh nghiệm đang ào ạt trở về trong các khoa học xã hội, và khuynh hướng dân chủ, nhân bản trong phương hướng của các chính đảng tả khuynh. Althusser giết vợ năm 1980, và bị giam giữ trong nhà thương điên cho đến khi mất năm 1990, để lại một số tác phẩm: Vì Marx [Pour Marx, 1965], Đọc Tư bản luận [Lire le Capital, đồng tác giả, 1965], Lênin và Triết học & Marx và Lênin trước Hegel [Lénine et la Philosophie & Marx et Lénine devant Hegel, 1969], Trả lời John Lewis [Réponse à John Lewis, 1973]…
360. “Vì thế, như đã viết trong bài tựa quyển “Pour Marx”, tôi không có ai là bậc thầy thực sự trong triết học hết, không có sư phụ nào cả trừ Thảo, nhưng ông lại sớm bỏ chúng tôi để về Việt Nam…”. Nguồn: ALTHUSSER, L. (1992), p. 172.
361. ALTHUSSER, L. (1973), p. 33.
362. THẢO, Trần Đức (1989), tr. 105-106.
363. Nói thật tóm tắt, nét độc đáo của phương thức sản xuất Á Châu nằm ở sự lệ thuộc của người lao động vào nhà nước, nghĩa là vào “giai cấp quan lại”, xuất phát từ sự thiết yếu của những công trình xây dựng lực lượng sản xuất quá lớn (như hệ thống dẫn thủy), và sự thiếu vắng của chế độ tư hữu đất đai. Ở Liên Xô, các cuộc tranh luận gay cấn về đề tài này kéo dài cho đến năm 1931, sau đó cả khái niệm lẫn mọi tranh luận liên hệ đều bị xóa bỏ từ năm 1938. Ở Trung Hoa, từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1928), khái niệm trên cũng đã được thay thế bằng thuật ngữ “quan liêu phong kiến” (bureaucratie féodale). Xem: Mode de Production Asiatique. Nguồn: ENSUSSAN, Gérald & Georges Labica (1985), pp. 592-595.
364. Trên thực tế, một công trình nghiên cứu cụ thể về hình thái kinh tế xã hội của Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX đã dẫn đến sự bác bỏ cả 2 mô hình lý thuyết nói trên. Nguồn: KHÔI, Lê Thành (1973).
365. Về chế độ phong kiến, ông Lê Thành Khôi đã kết luận:”Tóm lại, theo ý chúng tôi, không thể gọi Việt Nam xưa là “phong kiến”, do sự thiếu vắng của chế độ chư hầu và cấp đất, của loại tổ chức xã hội và chính trị đặt trên một mạng lưới lệ thuộc cá nhân và sự chia chác quyền hành giữa vô số lãnh chúa” (Ibid., p. 133). Về phương thức sản xuất châu Á, ông viết: ”Để kết luận, những sửa đổi cần phải mang đến cho khái niệm “phương thức sản xuất châu Á”[nếu áp dụng vào trường hợp Việt Nam]nhiều và thiết yếu đến nỗi, theo chúng tôi, tốt hơn nên từ bỏ nó và lập ra một khái niệm khác, khi nào sự phân tích các xã hội ngoài châu Âu đã đủ sâu để cho phép” (Ibid., p. 140).
366. THẢO, Trần Đức (1954a), tr. 33.
367. THẢO, Trần Đức (1956d), tr. 40.
368. Được đề xuất lần đầu tiên bởi nhà động vật học Đức Ernst Haeckel (1834-1919) vào thế kỷ XIX, ”quy luật tóm thâu” [loi de récapitulation] hay ”quy luật tái lặp” [loi de répétition] cho rằng sự phát triển của cá thể thật ra chỉ là sự tóm tắt quá trình phát triển của chủng loại. Vẫn còn được phổ biến cho đến nay như một giả định phong phú, “quy luật” trên cũng thường là đối tượng của không ít nghi hoặc và chất vấn khoa học.
369. “Tôi thú thực vẫn chưa hiểu nổi những biến cố của sự tiến hóa xã hội thời Đồ đá đã được ghi lại trong di sản chủng loại của loài người như thế nào để sinh ra ở đứa bé những phức cảm như đã được đề cập. Tôi hy vọng rằng tác giả sẽ cho chúng ta những giải thích chi tiết hơn về các hiện tượng này, chưa sáng tỏ lắm đối với loại không-chuyên gia như tôi”. Nguồn: HAUDRICOURT, A. (1974). Câu hỏi chung không chỉ cho Trần Đức Thảo mà cho cả Haeckel, Engels lẫn Freud này, triết gia đã thử trả lời trong Formation de l’Homme (THAO, Trân Duc (1986a), pp. 12-16). Xin nhường việc đánh giá giải đáp của ông lại cho các chuyên gia di truyền học.
370. THAO, Trân Duc (1973), p. 340.
371. FEDERICI, S. (1970).
372. HERMAN, D.J. [1993] (1997), p. 704.
373. THAO, Trân Duc (1986a) pp. 4-5.
374. Ibid., p. 5.
375. Khái niệm “luyến ái” được đề cập đến ở đây xuất phát từ nhà tâm lý học trẻ em John Bowlby (1907-1990); trở thành học thuyết vững vàng từ năm 1958, nó được xây dựng trên sự quyến luyến tự nhiên của đứa bé với bà mẹ (hay kẻ thế chỗ), rồi từ đó lan sang những người thân cận, trước khi phát triển theo tuổi dưới những dạng khác (trai gái). Theo những người chủ trương, đây là một nhu cầu sinh lý bẩm sinh chứ không phải thứ phát, nghĩa là không xuất phát từ sự luyện tập mà được ghi khắc trong sự cấu tạo con người; nói cách khác, đây là một nhu cầu xã hội tự nhiên vì nó xuất hiện ngay từ đầu đời.
376. CAVING, M. (1974).
377. THÚY, Đỗ Lai (1996), tr. 18.
378. ĐƯỜNG, Phan Huy (1993).
379. THAO, Tran Duc [1992f] (1995).
380. HERMAN, D.J. [1993] (1997), p. 707.
381. THAO, Trân Duc [1992a] (1993).
382 THAO, Trân Duc [1992c] (1993).
383. THAO, Trân Duc [1993a] (1993).
384 THAO, Trân Duc (1993b)
385. THAO, Trân Duc (1986a), p. 6.
386. Trong phần ghi chú, ông đã trích dẫn tác phẩm của Richard Leakey, Yves Coppens… và những công trình nghiên cứu khác của Peter Andrews, Marcel Blanc, Jerold M. Lowenstein, Brigitte Senut, Tobias, Tim White… đăng trên các tạp chí chuyên môn như Anthropologie, Archeologia, La Recherche, Science News, trong khoảng 1980-1984…
387. Theo Charles Darwin, bốn đặc tính sau của giống Homo đã xuất hiện cùng một lúc: sự đi đứng trên hai chân, sự chế tác công cụ, sự thu nhỏ răng nanh, và sự phát triển của não bộ.
388. MARX, K. (1976). Théories sur la plus-value. Paris: Ed. socialiales, Q. 3, p. 579.
389. MARX, K. & F. Engels [1846] (1975).
390. THAO, Trân Duc (1986a), p. 27.
391. MARX, K. [1867] (1950).
392. HUOT, Jean-Louis, et al (1990). Naissance des Cités. Paris: Nathan.
393. THAO, Tran Duc [1992e] (1995).
394. THAO, Trân Duc (1984a).
395. “Theologic học của Hegel, bước chuyển từ lượng sang phẩm được thực hiện qua trung giới kép của cái hạn định và cái siêu hạn(…)Hạn định là sự hợp nhất trực tiếp của phẩm và lượng, nó là “cái lượng tử phẩm chất tiên khởi với tư cách là cái tức thời, nghĩa là thứ lượng tử gắn liền với một sự hiện diện hay một phẩm chất”. Khía cạnh kép này của hạn định dẫn đến hệ quả là, một mặt, những xác định về lượng của một sự vật có thể biến thiên mà không gây thay đổi gì về phẩm, nhưng mặt khác, sự tăng hay giảm bất kỳ này cũng có một giới hạn mà sự vượt qua sẽ làm thay đổi cả phẩm chất”. (Ibid., pp. 80-81).
396. THAO, Trân Duc (1991e).
397. Ở Hegel, ”hiện thực” [Realität, réalité] chỉ bất kỳ một dạng hình ngoại hiện nào, trong khi ”thực hiệu” [Wirklichkeit, effectivité] chỉ giai đoạn sự tồn tại và lý do tồn tại của cái hiện thực ấy đã được thống nhất biện chứng bởi Lý trí. Vì thế, ”cái thực hiệu là cái hợp lý” và ”cái hợp lý là cái thực hiệu” (mọi hiện thực chân thật đều chỉ là những biểu hiện, một giai đoạn phát triển của Lý trí; những biểu hiện tất yếu của Lý trí sớm muộn gì rồi cũng phải thành hiện thực).
398. THAO, Trân Duc (1992b), p. 24.
399. Henri Wallon (1879-1962). Triết gia, nhà tâm lý, nhà tâm thần bệnh học, nhà giáo, nhà chính trị Pháp. Ông chịu ảnh hưởng của Lucien Lévy-Bruhl về dân tộc học trước khi chuyên về tâm lý trẻ em. Sau luận án tiến sĩ về trẻ hiếu động năm 1925, ông dựng lên Phòng Xét nghiệm Sinh-Tâm lý Trẻ em. Trở thành Giám đốc Viện Tâm lý, Ðại học Paris, ông lập ra tạp chí Trẻ Em năm 1948. Ðiều khiển Ủy ban Cải tổ Giáo dục với Paul Langevin, ông là đồng tác giả của dự án Langevin-Wallon năm 1945. Về lý thuyết, bài bác học thuyết Freud và phương pháp nội quan trong tâm lý học, ông dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng và sự quan sát ở phòng bệnh để xác định điều kiện cho một khoa học khách quan về ý thức và sự phát triển tâm lý của trẻ em. Sự nghiệp của ông được xem như thuộc ngành tâm sinh lý học mà cốt lõi là sự so sánh các giai đoạn phát triển ở trẻ em bình thường và những bế tắc hay bất cập ở trẻ em tật bệnh.
400. THAO, Trân Duc (1992g).
401. Jean-François Revel (1924). Triết gia Pháp. Đỗ vào Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1943. Sau khi đỗ thạc sĩ triết học, ông đã dạy học ở nhiều nơi trên đất Pháp cũng như ở nước ngoài, nhưng rời đại học năm 1963 để theo viết văn và viết báo. Sau khi cộng tác với nhiều nhà xuất bản (René Julliard, Jean-Jacques Pauvert, Robert Laffont), ông làm giám đốc tờ tuần báo Express trong 4 năm (1978-1981); từ 1982 viết thời luận cho Le Point, đồng thời cộng tác với nhiều đài phát thanh (Europe 1, RTL). Jean-François Revel được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp năm 1997. Bạn đồng song với Trần Đức Thảo, ông xem ông Thảo là nhà hiện tượng học và là “một triết gia thuần túy, theo nghĩa là người không bao giờ tự hỏi về tính đúng hay sai của một triết thuyết” (“c’était un pur philosophe, en ce sens qu’il ne se demandait jamais si une philosophie était vraie ou fausse”). Khi Trần Đức Thảo mất, ông đả kích Patrick Kéchichian, cho rằng tác giả này đã không làm phận sự khi gọi ông Thảo (trong phụ trang của nhật báo Le Monde về sách mới) là triết gia mác-xít.
402. HERMAN, D.J. [1993] (1997), p. 707.
403. Nguồn: QUÂN, Đặng Phùng (1994). Do khuôn khổ của cuốn sách, bản sử dụng ở đây có lược bớt một số chi tiết trong nguyên bản, và biên tập một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
404. Sartre, J. P. Question de méthode (collection Idées, tr. 26).
405. Auguste Cornu (1888–1981): nhà lịch sử tư tưởng người Pháp, học giả đầu tiên về chủ nghĩa Marx tại Pháp. Các công trình của ông về những tác phẩm của Marx và Engels thời trẻ đã tạo ra tranh luận sâu rộng trong những thập niên 1960. Bản luận án của ông tại Đại học Sorbonne mang tên: “Karl Marx l’homme et l’oeuvre de l’hégélianisme au matérialisme historique” [Karl Marx: con người và tác phẩm về chủ nghĩa duy vật biện chứng kiểu Hegel]. (BS)
406. THAO, Trân Duc (1951).
407. MARCUSE, H. (1928). Beitrage zu einer Phanomenologie des historischen Materialismus. Berlin: Philosophische Hefte.
408. Sđd., tr. 5.
409. MERLEAU-PONTY, M. Humanisme et Terreur (bản tiếng Anh, tr. 153).
410. THAO, Trân Duc (1948)
411. HUSSERL, E. Ideen I, tr. 139, dẫn trong PMD, tr. 8.
412. PMD, tr. 296 – 7.
413. Sđd., tr. 51.
414. Sđd., tr. 228.
415. Sđd., tr. 227.
416. Sđd., tr. 247.
417. Sđd., tr. 238.
418. Sđd., tr. 256 và 262.
419. Sđd., tr. 266.
420. Sđd., tr. 286.
421. Sđd., tr. 306.
422. THAO, Trân Duc (1973).
423. ROLC, tr. 35.
424. Khi dẫn đoạn văn của Lenin trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Trần Ðức Thảo nhấn mạnh ở từ “những dấu chỉ”, và ghi chú bản dịch tiếng Pháp lần thứ tư của Editions Sociales đã từng dùng từ chứng cớ (témoignage) thay từ dấu chỉ(les indications), cho nên ông đã chua thêm tiếng Nga pokasaniiam ở nguyên tác. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên chú ý là những bản dịch chính thức của nhà xuất bản ngoại văn Liên Xô đều dùng từ chứng cớ. Xem bản tiếng Anh: “Acceptance or rejection of the concept matter is a question of the confidence man places in the evidence of this sense organs, a question of the source of our knowledge” (Materialism and Empirio–criticism [ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán], tr. 114), bản tiếng Tây Ban Nha: “El admitir o rechazar el concepto de materia es un problema de confianza del hombre en el testimonio de sus órganos de los sentidos, es la cuestión del origin de nuestro conscimiento” (Obras escogidas. Tomo IV, tr. 119).
425. THAO, Tran Duc (1973), p. 76.
426. ENGELS, F (1971). Dialectique de la nature [Biện chứng của tự nhiên]. Paris: Editions Sociales, p. 18.
427. THAO, Tran Duc (1973), p. 96 bắt nguồn từ khái niệm “khả năng biểu đạt cảm xúc” của Hegel trong Hiện tượng luận về tinh thần, hình thái nguyên ủy của ý thức, hay mục tiêu định hướng của “cái này”.
428. Ibid, p. 123.
429. Ibid, p. 123.
430. MARX, K. Manuscrits de 1848, ES, p. 63.
431. THAO, Tran Duc (1973), p. 257.
432. SAFOUAN, M. (1968). De la structure en psychanalyse in Qu’est ce que le strucuralisme?. Paris: Editions du Seuil, p. 241.
433. DELEUZE, G. & F. Guattari, L’Anti–Œdipe, Editions de Minuit 1972; X. phê phán tác phẩm này trong: QUÂN, Ðặng Phùng (1974). Triết học và văn chương. Sài Gòn: Lửa Thiêng, tr. 181–197.
434. THAO, Tran Duc (1973), pp. 263 – 265.
435. Ibid., pp. 268 – 269.
436. FREUD, S. La vie sexuelle, P.U.F., tr. 118.
437. THAO, Tran Duc (1973), p. 297. Trần Ðức Thảo dẫn chứng Forrer đã phát hiện trong di tích thời Acheuléen ở Burbach, những nửa mảnh răng ở hàm trước của loài trâu nước có hình dạng dương vật, và theo ông nếu giả thuyết của ông đúng thì những răng hình dương vật này có thể do những bà nội trợ mang theo người vào thời kỳ này như tín hiệu của sự cấm đoán tính dục yên ổn cho họ trong công tác phục vụ cộng đồng.
438. Ibid, p. 301
439. Ibid., p. 331.
440. Ibid., p. 335.
441. Ibid., p. 340.
442. THAO, Tran Duc (1951), pp. 94 – 95.
443. Ibid., tr. 318.
444. Ibid., tr. 319.
445. THAO, Tran Duc (1973), p. 295.
446. PIAGET, J. Le structuralisme, P.U.F. 1968
447. HABERMAS, J., Zur Rekonstruktion des Historischen Materialismus, Suhrkamp Verlag 1976, PACI, E.,Funzione delle Scienze e Significato dell’Uomo, bản dịch tiếng Anh 1972.
448. Xem thêm Triết lý đã đi đến đâu của Trần Ðức Thảo; luận điểm này là thái độ chung của người cộng sản dưới thời Stalin, chẳng hạn Lukács, Die Zerstorung der Vernunft, Gesamtausgabe Bd 9. Trong Vorwort 1967, lời mở đầu tác phẩm Geschichte und Klassenbewusstsein (1923), Lukács có thái độ cởi mở như khi ông coi giữa Heidegger và ông, vấn đề đi trước và ảnh hưởng không đáng quan tâm mà quan trọng là sự tha hóa của con người là vấn đề then chốt của thời đại đối với mọi nhà tư tưởng tư sản cũng như vô sản.
449. X. Phê phán hệ tư tưởng mác-xít.
450. Herder, Abhandlung uber den Ursprung der Sprache (1772).
451. LÉVI–STRAUSS, C. Mythologiques. Le Cru et le Cuit.
452. THAO, Tran Duc (1973), pp. 150 – 151. Trần Ðức Thảo chú thích ico maka sang tiếng Pháp là Enco laitvà câu nói đúng cú pháp là: “encore du lait”.
453. THAO, Tran Duc (1951), p. 365 và THAO, Tran Duc (1973), p. 339.
454. Nguồn: TÔN, Cao (2005). Bản sử dụng ở đây đã được biên tập một số từ ngữ và thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
455. LYOTARD, J. F. (1954). La phénoménologie. Paris: Presses univertaires de France.
456. THAO, Trân Duc (1951).
457. Lời nói đầu. THẢO, Trần Đức (1988a).
458. THẢO, Trần Đức (1989b).
459. QUÂN, Đặng Phùng. P. Ricœur, nhà hiện tượng luận của đầu thế kỷ XX, talawas, 24/8/2005.
465. Nguồn: QUANG, Trần Ngọc (2015).
466. Nguồn: AMTÔ, Giôdép A. (1985). Lời phán quyết về Việt Nam: Tiếng nói của một công dân. Hà Nội: Nxb. Quân đội nhân dân.
467. Là năm Robert Langlands 36 tuổi, vừa được công nhận giáo sư tại viện IAS.
468. Nguồn: TÂM, Nguyễn Đức (2015). Nhân đọc: Sự logic của thời Hiện tại sống động (Trần Đức Thảo);Những bước tiến hóa của hệ thần kinh (Trần Đức Thảo); Chống Dühring (F. Engels); The Tao of Physics (F. Capra).
469. Tài liệu tham khảo chính: ĂNG-GHEN, Ph. (1976); ĂNG-GHEN, Ph. (1991); BAAREN, T.V. (2002); CAPRA, F. (1991); CAPRA, F. [1991] (1999); CẦN, Nguyễn Duy (1992); CẦN, Nguyễn Duy (1996); CHÍNH, Doãn (2003); CHÍNH, Đào & Đoan Nghiêm (2006); COOMARASWAMY, A. K. (1999); DŨNG, Hoàng (1999); DURANT, W. [1926] (1994); DURANT, W. [1930] (2003; ĐẠT LAI LẠT MA XIV [2005] (2007); ĐẠT LAI LẠT MA XIV (2008); ĐÀN, Nguyễn Đức (1998); ĐỈNH, Trần Thái (2005a); ĐỈNH, Trần Thái (2005b); ĐỈNH, Trần Thái (2007); ĐỊNH, Phan Quang (2008); GREENE, B. (2006); GUNARATANA, B.H. (2007a); GUNARATANA, B.H. (2007b); HẢI, Nguyễn Ngọc (2002); HALL, D.G.E. (1997); HAWKING, S. (1991); HAWKING, S. [1991] (2008); HIẾU, Minh (1999); HUY, Lê Tuấn (2006); HUY, Nguyễn Hoàng (2002); HỮU, Nguyễn Khắc, et al (2005); KÌ, Hoàng Thọ & Trương Thiện Văn (2007); KIM, Trần Trọng (2002); KHEMA, A. (2007); LÃO TỬ (1998); LAWHEAD, W.F. (2012); LÊ, Nguyễn Hiến (1994); LIÊN, Trần Duy (2008); LỰC, Thích Duy (1999); MÁC, C. & Ph. Ăng-ghen (1977); MERTON, T., et al (2008); MINH, Hà Thúc (1996a); MINH, Hà Thúc (1996b); MONGAITƠ, A.L. (1977);NGUYÊN, Mộng Bồi (1998); NHIỀU TÁC GIẢ (2004); NINH, Lương, et al (2004); NINH, Vũ Dương & Nguyễn Văn Hồng (2004); PHƯƠNG, Hoàng (1996); REDDING, P. (2006); SANH, Nguyễn Xuân (2007); SÂYDAW, Pa-auk (2006); SHIK, A.Y. (2002); SON, Dam Thanh, et al (2011); SUSSKIN, Leonard (2010); THI, Nguyễn Văn(biên dịch) (2001); THIỆN, Thích Chơn (2010); THIỆN, Thích Tâm (2000); THUẬN, Trịnh Xuân (2006); TỐ, Ngô Tất (1957); TRANG TỬ (1992); TUẤN, Lý Minh (2005); TỪ, Thích Thanh (2004); UGAROV, V. A. (1979); URQUAHART, C. (2009);ƯỚC, Nguyễn (2009); VIVEKANANDA, S. (2000); Гегель, Вильгельм Георг фридрих (1972); Гегель, Вильгельм Георг фридрих (1975).
470. Nhòe lượng tử: vì một lượng tử khi vận động có thể vận động được theo nhiều quỹ đạo cùng một lúc, vì nó vừa là “hạt” vừa là “sóng”, tính chất “sóng” của nó hiện ra thì lúc nó vận động là thành ra một bước sóng, tức là đến nhiều nơi cùng một lúc, tùy người quan sát quan sát ở tư thế nào, trạng thái nào mà có thể nhìn thấy nó theo cách nào, bắt được nó như thế nào, nó hiện ra như thế nào, chứ không dứt khoát là nhìn thấy một hình nhất định có tính “định xứ” như ta thấy một cuốn sách trên bàn, v.v… Ví dụ như sự vận động và xuất hiện của electron trên H. 5 (H.5a và H.5b). Một lượng tử cứ như “nhòe” ra, chứ không rõ ràng như các vật ta thường thấy.
471. “Chống Duhrinh”. Nguồn: Tuyển tập Mác - Ăng-ghen. Hà Nội: NXB. Sự thật, 1983, t. 5, tr. 73.
472. Tlđd, tr. 77.
473. Tlđd.
474. Tlđd, tr. 71 - 72.
475. Tlđd, tr. 71.
476. Tlđd.
477. Vận động enblock: Là tất cả vận động xảy ra cùng một lúc, không tuần tự từ cái này rồi đến cái kia theo thời gian, không có quan hệ nhân quả theo thời gian (vì trong môi trường đó thời gian = 0), giống như ta: trong một cuộc họp chẳng hạn, người thì báo cáo, người thì nghe, người thì đang đọc báo, người thì lại đang nói chuyện riêng, chẳng liên quan gì với nhau, không có quan hệ nhân quả theo thời gian, như sáng dậy ta rửa mặt rồi mới ăn sáng, rồi mới đi làm, v.v...
478. Tlđd, tr. 80.
479. Quanta năng lượng: năng lượng truyền đi không phải thành dòng liên tục mà là từng đợt, như đợt sóng, mỗi đợt người ta gọi là một bó sóng, tức là một portion hay một mồi. Tức là năng lượng truyền đi vừa có tính chất sóng lại vừa có tính chất hạt. Một quanta là một “lượng tử” (chữ quanta do A.Einstein đặt ra). Tóm lại, một quanta năng lượng là một “lượng tử năng lượng”, ví dụ sóng ánh sáng truyền đi là các lượng tử ánh sáng hay quanta ánh sáng truyền đi.
480. Alaxander Friedmann (1888 – 1925): nhà toán học Nga - Liên Xô.
481. Liên tục Dedekin: Thuật ngữ “liên tục Dedekin” do tác giả bài này đặt ra để nói về lý thuyết của Dedekin. Dedekin chứng minh trục số toán học mà chúng ta đang dùng là liên tục từ âm vô cực đến dương vô cực, gồm các số hữu tỷ và các số vô tỷ. Tác giả bài này gọi sự liên tục ấy là “liên tục Dedekin” – có tính triết học. Tuy nhiên tùy cách nhìn mà con người thấy “vũ trụ liên tục” - “liên tục kiểu Dedekin” (cách nói của tác giả) – “ liên tục theo cách nhìn của Đức Phật, hoặc “vũ trụ đứt đoạn” - “đứt đoạn kiểu cổ Hy Lạp” (cách nói của tác giả) - theo cách nhìn của Democritus - cổ Hy Lạp.
482. Không gian Calabi-Yau: Con người chỉ cảm nhận được có 3 chiều không gian x, y, z, các chiều không gian này duỗi ra. Còn hiện tại người ta đã tìm ra được thêm 7 chiều không gian nữa, các chiều này không duỗi ra mà cuộn tròn lại một điểm, cái không gian 10 chiều cuộn tròn lại này gọi làkhông gian Calabi-Yau (Calabi-Yau manifold). Eugenio Calabi (1932) là nhà toán học người Mỹ gốc Ý; Shing-Tung Yau (1949) là nhà toán học người Mỹ gốc Trung Quốc.
483. Lỗ sâu đục: hay lỗ giun, tức là lỗ chui từ chiều không gian này sang chiều không gian khác, thuật ngữ khoa học chính thức là “quantum tunnel” (đường hầm lượng tử). Trong môi trường của không gian Calabi-Yau, năng lượng vận động với tốc độ rất cao, đục xuyên từ chiều không gian này sang chiều không gian khác thành các “đường hầm lượng tử” mà thường khi người ta cứ gọi là “lỗ sâu đục” hay “lỗ giun”, tiếng Anh là “worm hole”.
484. Thời gian Plank: Có hai thứ Plank là thời gian Plank và không gian Plank. Không gian Plank là kích thước không gian (độ dài) bằng 10-35 cm. Còn thời gian Plank là đoạn thời gian ngắn nhất, bằng 10-44 giây.
485. Thí nghiệm giả tưởng EPR: đây chỉ là một thí nghiệm giả tưởng để lấy làm ví dụ mà giải thích, chứ không phải thí nghiệm làm thật, của Einstein, Podolski và Rosen: Giả sử có 2 hạt làm thành 1 cặp, trong đó một cái quay xuôi, một cái quay ngược, khi đưa 2 hạt đó ra xa cách nhau rất xa (xa vô cực) nhưng khi 1 hạt đổi chiều quay ngược lại thì hạt kia cũng tức thì đổi chiều quay ngược lại để cho cái cặp 2 hạt ấy là luôn quay ngược chiều nhau. Như vậy khi một hạt đổi chiều quay thì cứ như có thông tin từ nó đến hạt kia ngay tức thì thì hạt kia mới biết mà đổi chiều, nhưng khoảng cách vô cực thì hóa ra thông tin bay với tốc độ vô cực, lớn hơn tốc độ ánh sáng? Sai với thuyết tương đối là tốc độ V của bất kỳ vật nào cũng không thể lớn hơn tốc độ ánh sáng C. Nếu quả thật xảy ra thế thì là vì “cả vũ trụ chỉ có một điểm” và “dung thông với nhau” chứ không phải vũ trụ là rộng mênh mông như ta thấy. Thí nghiệm giả tưởng này là cái ví dụ đầu tiên cho thấy vũ trụ làliên hoàn - dung thông không phải có khoảng cách như ta vẫn thấy, vẫn đo đạc được. Đó là điều (nghịch lý) mà Einstein đã không nhận ra khi bị thuyết tương đối của chính mình ánh ảnh và giữ chặt lại, chỉ có sau này dần dần người ta mới hiểu ra.
486. Vũ trụ song song: Hiện tại có người cho rằng có nhiều vũ trụ sinh ra và tồn tại song song với nhau chứ không phải tất cả chỉ có một vũ trụ của chúng ta mà ta thường thấy. Từ lý thuyết về sự hình thành vũ trụ là từ Big Bang sinh ra vũ trụ, vậy thì có thể sinh ra nhiều vũ trụ và chúng tồn tại song song bên nhau chứ không phải chỉ sinh ra duy nhất vũ trụ của chúng ta. Kinh Phật nói: “Vũ trụ nhiều như cát sông Hằng”.
487. Tấm lưới Indra: trong kinh Hoa Nghiêm có nhắc đến hình ảnh “tấm lưới Indra”: Trên bầu trời Đế Thích có một tấm lưới gọi là “tấm lưới Indra”, dệt toàn các hạt ngọc. Các hạt ngọc bố trí sao cho một hạt có trong tất cả các hạt, mà tất cả các hạt lại có trong một hạt. Hình ảnh này là để chứng tỏ: không gian bằng 0, tất cả không gian chỉ là một không điểm, tất cả vũ trụ lồng vào nhau tại một điểm mà thôi, không có cái này nằm cạnh cái kia như trong vũ trụ của ta.
488. Từ đây các câu nói của các nhà vật lý, các thiền sư được trích từ tác phẩm The Tao of physics của Fritjof Capra.
489. David Bohm (1917 – 1992): một trong những nhà vật lý lý thuyết người Mỹ ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX. Ông có những đóng góp quan trọng cho lý thuyết lượng tử, tâm lý học não bộ và triết học về tư duy, đồng thời có những đóng góp đột phá cho lý thuyết vũ trụ toàn ảnh. Mô hình vũ trụ toàn ảnh mà ông xây dựng cho phép hiểu được một loạt những điều bí ẩn trong vật lý, trong thần giao cách cảm (telepathy), tiên tri (precognition), sự thống nhất con người và vũ trụ (oneness), động học tâm lý (psychokinesis),... (BS)
490. Điểm kỳ dị: Hồi đầu có người (Stephen Hawking, v.v...) nói rằng ở tâm hố đen có một điểm đặc biệt gọi là “điểm kỳ dị” nơi do trọng trường lớn vô cực mà không gian co về = 0, thời gian co về = 0. Tại đây mọi lý thuyết khoa học hết giá trị, không thể biết được qua bên kia cái điểm ấy là gì, không thể lý giải tiếp cho bên kia điểm này, không thể liên hệ sang thế giới khác qua điểm này. Về sau ý này thay đổi dần. Theo tác giả bài này thì ngay từ đầu đã cảm thấy rằng “điểm kỳ dị” chỉ là ảo giác trên phương trình toán của thuyết tương đối mà thôi, cũng giống như nhiều trường hợp khác (qua 2 điểm chỉ có thể vẽ được 1 đường thẳng, v.v...), chứ không có thật, hố đen không thể kết thúc một chách “chết cứng lạnh buốt” như vậy, nó phải liên thông – liên kết sang các miền khác, ví dụ theo con đường qua “môi trường lượng tử” sang “VŨ TRỤ LƯỢNG TỬ” vượt ra ngoài logic của “thuyết tương đối” của A. Einstein.
491. Richard Phillips Feynman (1918 – 1988, nhà vật ký người Mỹ gốc Do Thái, nhận Giải thưởng Nobel vật lý năm 1965.
492. SUSSKIN, L. (2010), tr. 391.
493. SON, Dam Thanh, et al (2011).
494. Quark gluon plasma: là trạng thái vật chất chỉ có các hạt quark và chất kết dính (gluon - chất lầy nhầy dạng keo). Lý thuyết của Đàm Thanh Sơn và một số nhà vật lý học khác gọi đó là “độ nhớt của hố đen”.
495. Alfred Korzybski (1879 – 1950): học giả độc lập người Mỹ gốc Ba Lan, phát triển một ngành riêng được gọi là ngữ nghĩa học tổng quát (general sematics). Ông khẳng định rằng những hiểu biết của con người về thế giới bị giới hạn bởi cả bộ não của con người lẫn các loại hình ngôn ngữ mà con người phát triển để mô tả thế giới ấy; và do vậy, con người không thể nắm bắt được thực tại giống như nó đang hiện hữu, bởi những gì chúng ta biết được đã bị bộ não của chúng ta “lọc bớt”, do khả năng giới hạn của bộ não khi “phản ánh” hiện thực khách quan. (BS).
496. Nguồn: KIÊN, Nguyễn Trung (2012).
497. Chân Phương dịch. Nguồn: KOJÈVE, A. & Trần Đức Thảo [1948)] (2004).
498. Trần Đức Thảo muốn nhấn mạnh đến sự sụp đổ của chủ nghĩa phát–xít, sự thất bại của chủ nghĩa thực dân cũng như sự trỗi dậy của chủ nghĩa đế quốc, với những thay đổi mang tính tất yếu trong sự phát triển của các khuynh hướng, trường phái và trào lưu triết học tại Pháp sau chiến tranh. (BS)
499. THẢO, Trần Đức (1989b).
500. THAO, Trân Duc (1948).
501. THAO, Trân Duc (1951).
502. Sự ý thức sâu sắc này được Trần Đức Thảo thể hiện rõ hơn ở bài báo nổi tiếng của ông xuất bản tại Hà Nội năm 1956: “Hạt nhân duy lý” trong triết học Hegel [THẢO, Trần Đức (1956a)]. Bản dịch tiếng Pháp của bài báo này được công bố trên tờ La Pensée năm 1965 [THAO, Trân Duc [1956a] (1965)], ít năm trước khi Kojève qua đời.
503. HUSSERL, E. [1936] (1970).
504. MAJKUT, P. (2003).
505. VŨ, Trần Tri (2008).
506. THAO, Trân Duc (1946a).
507. Ibid.
508. “Il fallait mettre la vie en accord avec la philosophie, accomplir un acte réel quy réponde aux conclusions théoriques de mon livre”. THAO, Trân Duc [1984b] (1993). Tác phẩm mà ông nói đến ở đây chính là Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng(1951). (BS)
509. Nguồn: TÔN, Cao (2005).
510. Die Krisis der europäischen Wissenschaften und die transzendentale Phänomenologie: Eine Einleitung in die phänomenologische Philosophie [Sự khủng hoảng của các khoa học châu Âu và triết học tiên nghiệm: Giới thiệu về hiện tượng luận tiên nghiệm] (1936).
511 ĐOÀN, Trần Văn (2004).
512. CHỬ, Cù Huy & Cù Huy Song Hà (2011c).
513. Ý kiến của nhà văn Nguyễn Đình Chính trong các trao đổi về triết học Trần Đức Thảo với tác giả [Nguồn: CHÍNH, Nguyễn Đình (2007)].
514. HERMAN, Daniel J. [1997] (2013).
515. Chữ dùng đầy hóm hỉnh của Phạm Trọng Luật.
516. ALTHUSSER, L. (1982), p. 172.
517. Nguồn: NAM, Trần Văn (2013). Bản sử dụng ở đây có lược bỏ một số chi tiết của nguyên bản, và biên tập một số chữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
518. Trọn tập sách “Triết Lý Đã Đi Đến Đâu?” có thể tìm đọc trong “triethoc.com.vn”.
522. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2010).
523. THẢO, Trần Đức (1989b).
524. THAO, Trân Duc (1951).
525. THAO, Trân Duc (1948).
526. Tham khảo: KIÊN, Nguyễn Trung (2012a).
527. THẢO, Trần Đức [1986b] (2004), tr. 110 – 111.
528. THẢO, Trần Đức (1956a).
529. THẢO, Trần Đức (1955b), (1955c).
530. THẢO, Trần Đức (1973). Tác phẩm này đã được Trần Đức Thảo sửa chữa rất nhiều. Đây là tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ (Đợt II), năm 2000.
531. THAO, Trân Duc (1991c), (1992b)
532. THAO, Trân Duc (1993c).
533. Nguồn: TUẤN, Nguyễn Anh (2011). Do khuôn khổ của cuốn sách, bản sử dụng ở đây có lược bỏ một số chi tiết nhỏ, đồng thời chỉnh sửa một số thuật ngữ và từ vựng để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
534. Johann Heinrich Lambert (1728 – 1777): nhà triết học, toán học, vật lý học và thiên văn học người Đức, nổi tiếng với công trình chứng minh tính vô tỷ của số π. Qua tác phẩm New Organon [Bộ công cụ mới](1764), ông đã đề ra các quy tắc để phân biệt tính chủ thể và tính khách thể, làm nền tảng để hình thành những ý tưởng đầu tiên về hiện tượng luận. (BS)
535. THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr. 86.
536. Sđd., tr. 176.
537. Sđd., tr. 111.
538. Sđd., tr. 32 – 33.
539. Sđd., tr. 35.
540. Sđd., tr. 48.
541. Sđd., tr. 60.
542. Sđd., tr. 73 – 74.
543. Sđd., tr. 75.
544. Sđd., tr. 76.
545. Sđd., tr. 71.
546. Sđd., tr. 84.
547. Sđd., tr. 89 – 90.
548. Sđd., tr. 50
549. Sđd., tr. 54.
550. Sđd., tr. 157.
551. Kaarlo Hintikka (1929 – 2015): nhà triết học và logic học Phần Lan. (BS)
552. Sđd., tr. 98.
553. Sđd., tr. 105.
554. Sđd., tr. 107.
555. Sđd., tr. 108.
556. Sđd., tr. 16.
557. Sđd., tr. 16 – 17.
558. Nguồn: ĐOÀN, Trần Văn (2004). Bản sử dụng ở đây có lược bớt vài chi tiết, và chỉnh sửa một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn cuốn sách. (BS)
559. “Hiện tượng luận tại Việt Nam” vốn là bài báo cáo khoa học viết bằng Anh ngữ hoàn tất vào tháng 8.2004 (Phenomenology in Vietnam –A Panaromic Review). Thực ra, vào năm 1983, dịp Hội Nghị Quốc Tế lần Thứ Nhất tại Viễn Ðông về Hiện tượng luận (ÐH Ðông Hải, Ðài Trung, Ðài Loan), tôi đã nhận lời mời của Tập san Nghiên cứu Phenomenological Information (Boston) viết một tiểu luận ngắn về hiện tượng luận tại Trung Hoa và Việt Nam, nhằm bổ túc vào tập The Phenomenological Movement của Giáo sư Herbert Spiegelberg (ÐH Washington, St. Louis). Nhưng vì thiếu tài liệu, nên không thể hoàn tất. Năm 2003, tại Ðại hội Triết học Thế giới lần thứ XXI tại Istanbul, Giáo sư Tiến sĩ Anna–Teresa Tymieniecka (Chủ tịch Viện Hiện tượng luận Quốc tế, Boston), chủ biên kho tài liệu nghiên cứu Hiện tượng luận Husserliana, mời tôi như là một thành viên danh dự của Ban Tổ chức (Honorary Organizer) Hội nghị Quốc tế về Hiện tượng luận tại ÐH Oxford, tháng 7 năm 2004. Bà cũng đề nghị tôi trình bày Hiện tượng luận tại Viễn Ðông cho toàn thể hội nghị. Dịp này buộc tôi phải đọc lại các tác phẩm của các Giáo sư Trần Ðức Thảo, Trần Thái Ðỉnh, Lương Kim Ðịnh, Cao Xuân Huy, Lê Tôn Nghiêm, Vũ Kim Chính và của vài vị mà gần đây tôi mới biết hay để ý đến như Tiến sĩ Ðặng Phùng Quân, Trần Công Tiến và cả Giáo sư Nguyễn Văn Trung. Ðặc biệt, Khoa Triết học (Ðại học Khoa học xã Hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) ủy thác chúng tôi hiệu đính lại bản dịch Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng của Giáo sư Trần Ðức Thảo. Dịp này, người viết đã tìm hiểu thêm về triết gia họ Trần. Tác giả chân thành cảm tạ Tiến sĩ Trịnh Trí Thức (Chủ nhiệm, Khoa Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), Giáo sư, Viện sĩ Dương Thụ Tử (Viện Hàn lâm Khoa Trung Hoa, Hiệu Trưởng ÐH Hoa Trung) và Giáo sư, Tiến sĩ Âu Dương Khang (Phó Hiệu trưởng ÐH Hoa Trung), cũng như Giáo sư, Tiến sĩ Tymieniecka đã có nhã ý tạo cơ hội giúp chúng tôi hoàn tất bài viết.
560. THAO, Trân Duc (1951), phần “La méthode phénoménologique et son contenu effectivement réel”. Bản dịch Việt ngữ: THẢO, Trần Đức [1951] (2004). (Nhà xuất bản Minh Tân do một nhóm Việt kiều tại Pháp xuất bản cách sách của Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo,...) Tập sách này vốn gồm hai phần chính. Phần thứ nhất về hiện tượng luận, vốn là luận án Tốt nghiệp Sư phạm (agrégation) được tác giả viết quãng năm 1941–1943, đệ trình năm 1943 tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm, và được giới học giả chú ý một cách đặc biệt. Phần thứ hai về Biện chứng Duy vật được viết vào quãng năm 1948–1949, sau 5 cuộc “gặp gỡ” (chứ không phải tranh luận, débates) với Jean–Paul Sartre. G.S. Thảo tự thuật trong Niên biểu: “Sartre đã mời tôi đến những cuộc gặp gỡ này...”, “Trong năm cuộc gặp gỡ tôi đã chỉ cho ông rằng chính xác là phải coi trọng chủ nghĩa Marx cả về triết học”. [THẢO, Trần Đức [1984b] (1993)].
561. Spiegelberg, ctr. 431 – 32.
562. Do chúng tôi dịch.
563. Về phương pháp, ta thấy trong Chương 1, phần 1 về “Kỹ thuật biến hóa” (La technique de la variation), pp. 23 – 27. Và rất miễn cưỡng, pp. 34 – 38, vể “Trở lại Chủ thể” (Le retour du sujet). Về sự khám phá phương pháp giản hóa, giản lược, truy nguyên (réduction), pp. 51 – 66; và về mô tả hiện tượng luận (la description phénoménologique), pp. 160 – 163.
564. Đây có lẽ là một loại “hiện tượng luận” của Pháp, đặc biệt của Jean–Paul Sartre thời đó. Giáo sư Thảo khi phê bình hiện tượng luận, ông nhầm lẫn với chủ nghĩa hiện sinh (existentialisme) của Sartre. Chủ nghĩa hiện sinh của Sartre đã dùng lối miêu tả, diễn tả (descriptive) để phân tích những dữ kiện (données) của hiện thể (existence), và đứng khựng lại ở giai đoạn này.
565. Trần Đức Thảo, tr. 6: “Việc duyệt xét kỹ lưỡng bản thảo chứng tỏ một cách rõ rệt rằng những phân tích cụ thể thật ra đã đi theo một đường hướng không hợp với những nguyên lý thuần lý thuyết, mà chính ở trong lòng của những lý thuyết này những phân tích cụ thể từng được phát triển ra” (bản dịch của chúng tôi). Về điểm này, ta thấy Giáo sư Thảo theo Karl Marx (Luận đề về Feuerbach, Luận đề 11) khi chỉ trích giới triết học tư sản “chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau”. Họ quên cái điểm chính yếu, đó là triết học phải cụ thể và thực tiễn nhằm “cải tạo thế giới.”
566. Maurice Merleau–Ponty, người được coi như là một triết gia hiện tượng luận sáng giá nhất của Pháp. Cùng với Trần Đức Thảo, Merleau–Ponty từng nghiên cứu tại Thư khố Husserl tại ĐH Louvain (Bỉ), và được Giáo sư Léo Van Breda (một linh mục dòng Phan Sinh), Giám đốc Thư khố, ủy thác thành lập Thư khố Husserl ở Pháp. Merlaeu–Ponty đã cổ động giới trí thức Pháp ký bản kiến nghị yêu cầu chính phủ Pháp phóng thích Giáo sư Thảo khỏi nhà ngục vào tháng Chạp năm 1945). Giáo sư Thảo bị chính quyền Pháp bắt giam quãng 3 tháng vì “tội” đấu tranh dành độc lập cho Việt Nam và chống thực dân Pháp.
567. THAO, Trân Duc, Préface, p. 19: “Cependant nous avons cru utile de donner dans la première partie de cette ouvrage des études purement phénoménologiques et largement dépassées...”
568. Bắt chước ngôn ngữ và cách diễn tả đầy tính châm biếm của Karl Marx (trong Die Heilige Familie [Gia đình thần thánh]), Trần Đức Thảo viết, tr. 19: “Dans le marxisme la philosophie bourgeoise trouve la forme de sa suppression: mais la suppression enveloppe le mouvement même de ce dont elle est supression, en tant qu’elle leréalise en le supprimant”. (Chính trong chủ thuyết mác-xít mà nền triết học tư sản mới nhận ra cái hình dạng của sự tự áp bức: tuy nhiên sự áp bức (này) bao gồm quá trình sinh hoạt, ngay cả của chính cái quá trình mà sự áp bức thuộc về chính nó, (và như vậy nó) tự tạo ra mình bằng cách đàn áp mình). (Bản dịch của chúng tôi)
569. LUKÁS, G. (1922). Geschichte und Klassenbewusstsein. Bản Anh ngữ của Livingstone: History and Class Consciousness [Lịch sử và ý thức giai cấp] (Cambridge: MIT Press, 1971), phần 2:” What is Orthodox Marxism?”.
570. Xin tham khảo KOLAKOWSKI, L. (1978). The Main Currents of Marxism (Oxford: Oxford University Press), Tập 3, chương 7, ctr. 253 vtth. Ảnh hưởng của Lukács trên trường phái Frankfurt và những triết gia như Ernst Bloch... Các chương sau, đặc biệt chương thứ năm.
571. Ta biết, lối giải thích Marx theo hệ thống của Hegel, hay ngược lại, từng là một trào lưu bắt nguồn từ nhà triết học người Pháp gốc Nga Alexandre Kojève (1902–1968) với những bài giảng về Hegel tại Học viện Cao đẳng (École des Hautes Études) vào những năm 1933–1939. Xin tham khảo: KOJÈVE, A., Introduction à la Lecture de Hégel [Giới thiệu về Bài giảng Hegel] (Paris: Gallimard, 1947). Bản dịch Anh ngữ của James H. Nichols, Jr.: Introduction to the Reading of Hegel (New York: Cornell University Press, 1980). Kojève là người đầu tiên đã đọc Hegel theo lối nhìn của Heidegger, cũng như đọc Marx theo lối nhìn của Hegel. Ông gây được một ảnh hưởng sâu rộng trên những người chủ trương hai tập san nghiên cứu Les Temps modernes(Merleau–Ponty, Sartre, Trần Đức Thảo), và L’Esprit (Emmanuel Mounier, Maurice Nédoncelle, và cả Paul Ricœur). Trần Đức Thảo, theo lời yêu cầu của Merleau–Ponty, đã viết một bài điểm sách của Kojève đăng trên Les Temps modernes (1948). Với bài này, theo lời tự thuật của mình (1984), Trần Đức Thảo đã nhìn ra sự thiếu sót của hiện tượng luận, và định cho ông chiều hướng theo Marx.
572. Tác phẩm: GARAUDY, R. (1961). Perspectives de l’homme [Viễn cảnh của con người]. (Paris: P.U.F.), được Giáo sư Trần Đức Thảo dịch sang tiếng Việt theo lời đề nghị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. (BS)
573. Hai câu dẫn trên trích lại từ tập Tự điển Phê phán về Chủ nghĩa Marx (Kritisches Woerterbuch des Marxismus, chb. bản Đức ngữ: Wolfgang Fritz Haug, Berlin: Argument Verlag, 1986), thuật ngữ “Kiến trúc thượng tầng”, tập 4.
574. Jean–François Lyotard, một nhà hiện tượng luận và phần nào bị ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx, đã nhận ra điều này trong Postmodernisme – Un rapport du savoir (Paris, 1978).
575. Cuộc tranh luận về vai trò của trí thức trong Đảng Cộng sản vào đầu thế kỷ XX tại Đức đã khiến Đảng Cộng sản Đức phân lìa... Xin tham khảo Kolakowski, Sđd.; và Predrag Vranicki, Geschichte des Marxismus, 2 Tập (Frankfurt a. M.: Suhrkamp, 1972 / 1974), ctr. 251 – 276. Bản dịch của Stanislava Rummel và Vjekoslava Wiedmann từ tiếng Nam Tư, Historija marksizma (Zagreb 1961 / 1971).
576. Trong lịch sử chủ nghĩa cộng sản, cuộc tranh luận về vai trò của giới trí thức đã từng xảy ra ở Đức (chú thích trên), Pháp và Hungary. Kết quả là những người chủ trương vai trò của giới trí thức đã từng hoặc bị ám sát (Rosa Luxemburg), hoặc bị trục xuất khỏi đảng (Karl Kautsky, RogerGaraudy, Gyory Lukács...). Tại Đông Âu vào thập niên 1960s, đa số bị trục xuất khỏi Đảng như Leslev Kolakowski, Predrag Vranicki, Adam Schaff, Pedro Gazovic,...
577. THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr. 179: “Cho nên toàn bộ công trình cấu tạo thế giới (Weltkonstitution) sụp đổ trong sự nhận thấy một sự ngẫu nhiên triệt để... Cùng với nó truyền thống vĩ đại của chủ nghĩa duy tâm đã kết thúc, vì nó tự xóa bỏ mình trong khi thực hiện chính mình”. Cũng xin tham khảo chú thích ở trên.
578. Theo một số bạn hữu của Giáo sư Thảo tại Paris như Tiến sĩ Ngô Mạnh Lan, Tiến sĩ Jean–François Revel (Mémoires – Le voleur dans la maison vide. Paris: Plon, 1997, tr. 124), Giáo sư Thảo vào những năm cuối đời đã “trở lại với hiện tượng luận và chủ thuyết nhân bản thấy trong (tác phẩm)Krisis, và vội vã phát triển quan niệm về Hiện tại sống động của Husserl”. (Lá thư của Ngô Mạnh Lan gửi Revel: “It était revenu à la phénoménologie et à l’humanisme de la Krisis et travaillait d’arrache – pied à développer le concept husserlien de Présent vivant”). Trước khi qua đời, Giáo sư Thảo đã gửi cho ông Vincent von Wroblewsky 3 chương đầu của tập sách ông đang soạn dở dang La Logique du Présent vivant (viết vào năm 1993 tại Paris). Xin tham khảo: THAO, Trân Duc (1993c).
579. Nguyễn Văn Trung, trong Đối Thoại (Houston, 1996). Tựa đề bài viết tôi không nhớ chính xác.
580. Chủ nghĩa Marx–Lenin do Joseph Stalin “khai sinh” vào năm 1927, khi ông đã hoàn toàn nắm vững quyền hành như là người kế vị Lênin (qua đời năm 1924). Theo chủ nghĩa Marx–Lenin này, giới vô sản là một giai cấp cách mạng mang tính chất sinh động và bản chất thực hành (Praxis), có mục đích chiếm quyền và xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa (socialist society), và Đảng Cộng sản như là một vũ khí của họ giúp đạt tới mục đích trên. Trên thực tế, Stalin coi chủ nghĩa Marx–Lenin như là “lý thuyết và chiến lược đặc biệt cho vô sản chuyên chế” (trong Foundations of Leninism), và biến thành một ý thức hệ để hợp pháp hóa vai trò của giới vô sản, dưới sự lãnh đạo của Liên Xô. Xin tham khảo J. Stalin, “Foundations of Leninism” (1934), và “Problems of Leninism”, trong B. Franklin, ed. The Essential Stalin; D. Lane, Leninism: A Sociological Interpretation (1981).
581. Đây là chủ trương của những triết gia như Merleau–Ponty. Spiegelberg nhận xét rất đúng về thái độ của Merleau–Ponty: “Những phương thức biện chứng có thể giúp chúng ta tránh được những khẳng định chưa chín chắn, nhưng không thể làm ta tránh được việc phải trực diện với hiện tượng” (Spiegelberg, ctr. 573 – 74). Jean–Paul Sartre trong tác phẩm Critique de la raison dialectique (Paris: Gallimard, 1969) đã áp dụng hiện tượng luận để tìm lại nền tảng cho chủ thuyết mác-xít. Kết quả một phân tích hiện tượng như vậy khiến Sartre kết luận là chỉ có một chủ nghĩa Marx chân thật củaMarx chứ không thể có chủ nghĩa duy vật biện chứng (như thấy trong Friedrich Engels và những người theo ông).
582. Jean–Paul Sartre, Critique de la raison dialectique, Sđd., Lời nói đầu, tr. I
583. Xin tham khảo MOUNIER, E. (1947). Introduction à l’Existentialisme. Paris: P.U.F.
584. Đặc biệt, với các tác phẩm của Heidegger (Sein und Zeit, 1927), của Sartre (L’être et le néant, 1943). Đối với Sartre, thì thuật từ “chủ nghĩa hiện sinh” có nghĩa là một sự hòa hợp giữa Hiện tượng luận và chủ thuyết hiện sinh mà ông còn gọi là “một nền hữu thể hiện tượng”.
585. Xin tham khảo Trần Thái Đỉnh, Triết học Hiện sinh (Sài Gòn, 1967). Đây là một tập sách giới thiệu và phê bình nền triết học hiện sinh khá nghiêm túc, có tinh chất khoa học, khách quan và tương đối đầy đủ. Sách của Giáo sư Trần Thái Đỉnh thuần túy hàn lâm, không có mùi vị tuyên truyền như nhiều người (vì không đọc) lầm tưởng. Trong tập sách này, tác giả đặc biệt trình bày tư tưởng của Søren Kierkegaard (1813–1855), đại biểu cho nền triết học hiện sinh hữu thần), Friedrich Nietzsche (1844–1900), đại biểu cho nền triết học hiện sinh vô thần) và những người bị ảnh hưởng của hai ông, như Heidegger, Karl Jaspers (Đức, 1883–1969), Sartre, Gabriel Marcel (Pháp, 1889–1973)...
586. THAO, Trân Duc (1951), p. 23. (Bản dịch của chúng tôi).
587. Sartre từng kiêu hãnh gắn liền chủ nghĩa hiện sinh của mình với hiện tượng luận, mặc dù người bạn cũ của ông, Giáo sư Raymond Aron, một nhà xã hội học nổi tiếng của Pháp, đã từng tiết lộ là Sartre chẳng hiểu hiện tượng luận là gì, và cái mà Sartre tự xưng là hiện tượng luận, thực ra là hiện tượng luận theo kiểu của Sartre (Xem ARON, R. (1976). History and The Dialectic of Violence – An Analysis of Sartre’s “Critique de la Raison Dialectique”, bản dịch Anh ngữ của Barry Cooper, New York: Harper & Row, Preface, tr. xii). Khoảng giữa cuối thập niên 1940 – đầu thập niên 1950, ta thấy có một sự thù nghịch giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa hiện sinh. Giới trí thức cộng sản trẻ tuổi coi hiện sinh như là một hình thức của chủ thuyết duy tâm và là tột điểm của sự tha hóa tư sản (décadence bourgoise). Giáo sư Thảo được coi như là một trong những người chủ trương lối nhìn của những nhà trí thức cộng sản trẻ tuổi tại Pháp.
588. Trong Fruehe Schriften, Tập. 1 (Stuttgart, 1962). Ba bản dịch Anh ngữ khác nhau của T.B. Bottomore,Economic and Philosophic Manuscrips of 1844 (New York, 1963), của Martin Milligan (Moscow, 1959), và của Ria Stone (1949). Về nền triết học của “Marx trẻ” xin tham khảo: Trần Văn Toàn, Triết học Karl Marx (Sài Gòn: Nam Sơn, 1965). Đây là một tập sách về Marx rất nghiêm túc xuất bản tại miền Nam.
589. Đối với những nhà mác-xít hiện tượng luận như Maurice Merleau–Ponty, Roger Garaudy, và cả Jean–François Lyotard và có lẽ, một phần nào đó Louis Althusser, thì nhà triết học Marx khác với người cộng sản Marx của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và của Tư bản luận. Riêng Althusser coiMarx như là nhà khoa học trong tác phẩm Tư bản luận. Nói chung, những triết gia trên chủ trương, cái tinh hoa của Marx nằm trong những tác phẩm của người thanh niên Marx, mà trong đó Marx chủ trương là “con người là nguồn gốc của tất cả mọi sự” (man is the root of everything). Giáo sư Spiegelberg nhận xét, tr. 445: “Chính cái loại chủ thuyết nhân bản mác-xít này làm họ phát hiện một lối thông diễn, và sát hợp hiện sinh với mác-xít, như đặc biệt thấy trong các tác phẩm đầu tay của Merleau–Ponty. Nó giúp ta nhận ra một tình huống lịch sử hiện sinh của con người trong cuộc đấu tranh giai cấp”.
590. Trung thực hơn, Giáo sư Trần Thái Đỉnh (trong tập Hiện tượng luận là gì?, Sài Gòn: Thời Mới, 1968) viết về Hiện tượng luận như sau, tr. 16: “Hiện tượng luận là khoa nghiên cứu về những bản chất, và đối với khoa học này thì tất cả mọi vấn đề đều quy về việc xác định những bản chất...”; tr. 19: “Vậy mục đích của Hiện tượng luận là đạt được những bản chất cụ thể, tức hình ảnh trung thực của những kinh nghiệm sống”; tr. 22: “Điều can hệ là: Hiện tượng luận đề cao ý thức chưa phản tỉnh, coi đó là sự gặp gỡ đầu tiên giữa ta và thế giới.”
591. Lối thông diễn sáng tạo này, như Heidegger chủ trương, nhằm tìm ra điều mà tác giả đã nghĩ mà không diễn tả được, hay chưa nghĩ tới, nhưng giúp độc giả nghĩ ra.
592. Xin tham khảo Phần giới thiệu của chúng tôi cho cuốn Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứngcủa Trần Đức Thảo, đang sửa soạn cho bản tái bản.
593. REVEL, J.–F., Mémoires – Le Voleur dans la maison vide, tr. 121.
594. Nguồn: GIANG, Ngô Hương (2013). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách.
595. HERICK, T. (2005).
596. MAJKUT, P. (2003).
597. “Hiện tượng luận đã bắt đầu bằng bản thể học. Ngoài những diễn giải tâm lý học biến cái thực thành một tập hợp các trạng thái ý thức, vấn đề ở chỗ phải quay trở lại với chính các sự vật và tìm thấy lại ý nghĩa của bản thể trong sự phong phú về chân lý của nó” (THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr.31).
598. HEIDEGGER, M. Về thể tính của chân lý. Phạm Công Thiện dịch. Sài Gòn: Nxb Hoàng Đông Phương, 1968, tr. XXV.
599. Sđd., tr. XXV.
600. Sđd., tr. XXIII.
601. THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr.17.
602. Năm 1936, Husserl xuất bản tác phẩm Die Krisis der europäischen Wissenschaften und die transzendentale Phänomenologie: Eine Einleitung in die phänomenologische Philosophie (Sự khủng hoảng của các khoa học châu Âu và Hiện tượng luận tiên nghiệm: Giới thiệu về Triết học tiên nghiệm), chính thức đưa ra viễn cảnh về sự cáo chung của lịch sử triết học phương Tây. Thế nhưng, có thể chính Husserl cũng không nhận ra rằng, ngay từ năm 1845 (nghĩa là khoảng cách về mặt thời gian tính cho đến trước thời điểm Husserl tuyên bố sự cáo chung của tư tương phương Tây đúng 91 năm (1936 – 1845)), K. Marx đã tiên liệu viễn cảnh phá sản ấy của tư tưởng phương Tây, khi ông viết The German Ideology (Hệ tư tưởng Đức) vàTheses on Feuerbach (Luận cương về Feuerbach), trong đó định đề được các học giả trích dẫn nhiều nhất, đáng quan tâm nhất là: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”. Chính cái “cải tạo thế giới” này là “điểm bùng nổ” mạnh mẽ nhất mà K. Marx đặt ra nhằm xác lập lại toàn bộ hệ thống tư tưởng phương Tây, tiên liệu cho một sự phá sản tất yếu của nó. “Cải tạo thế giới” cũng đồng nghĩa với việc loài người sẽ phải bắt đầu một dấu mốc mới của tư tưởng bên trong một thế giới mới được dựng lên, thông qua hoạt động thực tiễn kinh nghiệm. Trong đó, ý niệm về một thế giới mới luôn phải bắt đầu từ sự trăn trở của ý thức kiếm tìm đường hướng khai phá nó. Và, mọi sự trăn trở của ý thức kiếm tìm đường hướng khai phá thế giới mới ấy cần phải được khởi đầu từ cái căn nguyên, cội rễ là tính vật chất ôm chứa trong nó.
603. Ở đây, chúng ta cần phân định rạch ròi giữa hai khái niệm Tính vật chất (materiality) với Vật chất (matter). Tính vật chất là cái làm cho “vật chất” trở nên có nghĩa như một tồn tại trong thế giới, còn vật chất là hình thức biểu hiện một phần nào đó tính vật chất thông qua hoạt động sáng tạo tự do.
604. Sản xuất trong trường hợp này không được xem là hoạt động sáng tạo, vì giai cấp làm thuê đã không được thiết lập thế giới dựa trên nền tảng tính vật chất một cách tự do. Họ bị giai cấp chủ nô cai quản ý hướng tự do cấp nghĩa, dựa trên sự tự do hủy thể hình thức cũ ôm chứa tính vật chất ấy, theo đó, thế giới mà họ kiến lập dựa trên tính vật chất chẳng qua chỉ là thế giới ngụy tạo, xa lạ dựa trên hình thức tưởng như hợp thức của hoạt động sáng tạo. Thế giới mà người lao động tạo ra đó không phải là chân lý, mà chỉ là sự ngụy trang của chân lý, vì thể tính chân lý của thế giới ấy không nằm ở sự tự do chọn lựa phương thức sáng tạo dựa trên cái tiên khởi là tính vật chất, mà, họ làm việc ấy thụ động như một con ong cần mẫn mang mật về theo sự điều phối của con ong Chúa. Và, cái tổ ong ấy là thước đo chuẩn mực do con ong chúa dựng lên, bằng những thủ đoạn “khéo léo” của quyền lực, cũng giống như thế giới loài người do bàn tay người nô lệ tạo dựng, về thực chất, chỉ là hình thức của “sáng tạo” do chủ nô tiến hành theo những “thủ đoạn” của vật linh hoặc thần quyền, chứ không thể xem là quá trình sáng tạo theo ý hướng chủ quan, hoàn toàn tự do của giai cấp bị bóc lột.
605. “Nhưng người ta đi đến không làm rõ được sự khác nhau, bởi vì một lần nữa đây không phải là một hệ thống các tổng hợp trong đó khách thể cuối cùng chỉ là cái tương liên của sự diễn biến các điều tôi đã sống trải, khi chúng kết hợp gắn bó với nhau: nó là sự thống nhất ý niệm được nhắm tới trong phạm vi riêng của tôi” (Trần Đức Thảo. Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Sđd., tr. 99 – 100).
606. “Tính vật chất là tầng cơ bản, nên đời sống động vật được tạo lập trên tính vật chất ấy. Ở đây không chỉ nói đến những động vật thực sự mà cả con người cũng là tồn tại của tự nhiên. Tâm hồn, đối tượng của tâm lý học, là một tầng “được dựa vào” cơ thể, mà nhờ vào mối quan hệ “dựa vào” ấy nó mới được xen vào thế giới không gian – thời gian” (THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr.103 –104).
607. “Bây giờ ta hiểu ý nghĩa của sự hiểu lầm đã đối lập các môn đồ với kẻ học sách vở khi xuất bản tập thứ nhất của tác phẩm “Các ý niệm”, làm ảnh hưởng tai hại đến số phận của trường phái hiện tượng luận. Thí dụ đặc cách về sự tạo lập vật đã làm cho chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm bị coi là phủ định sự tồn tại tuyệt đối của khách thể. Một sự phủ định như vậy xuất hiện là trái với các chủ định sâu xa của học thuyết. Nó làm cho hiện tượng luận xích lại gần với chủ nghĩa phê phán, hơn nữa chưa được gắn bó chặt chẽ, vì ý thức mà ta trở lại là một ý thức nhất thời” (Sđd., tr. 101).
608. Sđd., tr. 105
609. Bản chất là theo cách gọi của chúng tôi, còn Thể tính là theo cách gọi của Phạm Công Thiện. Cả hai cách gọi đều xuất phát từ cách dịch thuật ngữ essence. Trong bài, chúng tôi sử dụng cách gọi bản chất khi đưa ra diễn giải của mình về essence của cái gì đó, và sử dụng cách gọi Thể tính khi đưa ra quan điểm phản biện lại quan điểm của Phạm Công Thiện khi phê phán Trần Đức Thảo. Bản chất/ essence: Nghĩa là cái mà giúp cho sự vật bộc lộ ra là nó để ta có thể hiểu được. Để hiểu được, thì chủ thể nhận thức phải cho sự vật nghĩa, giúp cho nó phơi bày bản chất trước ta như là nó. Vì vậy, bản chất của sự vật là cái nghĩa mà chủ thể cấp cho nó, gán cho nó, và nó trong quan hệ với chủ thể nhận thức là một hành động “chào đón”, “mở ra”, “thu nhận vào”. Nhờ việc cấp nghĩa cho sự vật để sự vật có “ý nghĩa” ấy, thì cũng cùng lúc, chủ thể tự tạo ra “ý nghĩa” của chính mình. Nói ra sự hiểu đúng đắn của mình về sự vật đúng như sự vật “cho ta” (nghĩa là mô tả hiện tượng luận), thì đó là ý nhĩa độc lập, là lập thức, là bản chất của chủ thể được phơi bày ra thế giới.
610. “Các sự vật không tự xác định đối với tôi bằng đặc tính vật chất mà bằng các dạng đã sống trải của chúng, với các tiền đề về giá trị và hành động. Chúng chỉ tồn tại đối với tôi, khi tôi tri giác chúng, với ý nghĩa chúng có đối với cuộc sống thực tế của tôi, và tất cả sự tồn tại tinh thần của chúng là ở nghĩa đó” (Sđd., tr. 104 – 105.)
611. Xem: HEGEL, G. W. F. (2008). Khoa học logic. Hà Nội: Nxb Tri thức.
612. HEIDEGGER, M., Về thể tính của chân lý. Sđd., tr. XXIII.
613. THẢO, Trần Đức [1951] (2004). Sđd., tr.105.
614. Dẫn theo ÍCH, Tam (1969). Sartre và Heidegger trên thảm xanh. Sài Gòn: Nxb Hồng Đức, tr. 216–217.
615. Năm 1927, Heidegger cho xuất bản phần 1 của Sein und Zeit nhưng chỉ giới hạn tới mục thứ 2 của phầnNhững nền tảng phá hủy hiện tượng luận lịch sử hữu thể học trên sự dẫn nhập của khả thể nghi vấn thời tính là: “Hiện hữu hiển thể và thời tính”. Trong đó, mục thứ 3 của phần này: Zeit und Sein/ “Thời gian và Hữu thể” thì vào năm 1962, nghĩa là 35 năm sau lần xuất bản cuốn Sein und Zeit, Heidegger mới đề cập trong một bài diễn thuyết cùng tên. Điều đó cho thấy, kể từ đó đến nay, nó chưa từng được viết ra và chưa từng được xuất bản hay công bố rộng rãi dưới dạng văn bản. Rất có thể Trần Đức Thảo chưa được biết đến bài diễn thuyết này của Heidegger, khi ông cho công bố Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng bằng tiếng Pháp năm 1951 tại nhà Minh Tân. Trong tác phẩm này, Trần Đức Thảo đã tìm ra tính cụ thể của hiện hữu bên trong khái niệm sử tính và thời tínhcủa Heidegger (nghĩa là sau 24 năm khi Hữu thể và Thời gian xuất bản (1927 – 1951)), và củng cố, rồi đi đến khẳng định lý luận ấy trong tác phẩm cuối đời Sự logic của thời Hiện tại sống động (xuất bản năm 1993). Nghĩa là, Trần Đức Thảo đã góp phần hoàn thiện ý tưởng về Thời gian và Hữu thể / Zeit und Sein – phần II tác phẩm Sein und Zeit của Heidegger đúng 66 năm (1927 – 1993)), dù rằng tác phẩm này của Trần Đức Thảo cũng dở dang giống như Hữu thể và thời gian của Heidegger. Nhưng điều này lại chứng minh Trần Đức Thảo không những hiểu Heidegger nói gì, mà ông còn có công bổ sung chính tác phẩm của Heidegger, khi mà nhân loại chưa được biết đến di cảo cuối cùng Thời gian và Hữu thểcủa ông.
616. Theo Đặng Phùng Quân thì “Friedrich–Wilhem von Hermann, người cộng sự của Heidegger trong việc chuẩn bị cho công việc xuất bản Toàn tập GA, đã viết tham luận cho Hội nghị kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Heidegger tổ chức tại Chicago năm 1989, với tiêu đề SuZ và Những vấn đề cơ sở của Hiện tượng luận kể lại khi đưa in tác phẩm SuZ, Heidegger có kèm bản viết Thời gian và Hữu thể cho phân đoạn 3/Dritter Abschnitt, phần 1/Erster Teil nhưng sau đó ông rút lại đoạn văn này, với ý định sẽ khai triển tư tưởng phần này để xuất bản thành tập 2 của SuZ; quá trình ấy là thành quả cơ sở của giáo trình 1927” (Luận về khái niệm Destruktion của Heidegger).
617. THAO, Trân Duc (1993b).
618. Nguyễn Đức Truyến dịch, Nguyễn Trung Kiên hiệu đính. Nguồn: BENSOIST, J. & M. Espagne (2013).
619. Tài liệu tham khảo: CLAESGES, U. (1972); FEDERICI, S. (1970); HABERMAS, J. (1973), (1987); HEIDEGGER, M. (1993); HUSSERL, E. (1976a), (1976b); JANSSEN, P. (2008); LANDGREBE, L. (1977) PERREAU, L. (2000); STOKOE, W. C. (1996); THAO, Tran Duc [1951] (1992); THAO, Trân Duc (1973).
620. Sau khi Hội thảo quốc tế L’itinéraire de Tran Duc Thao: Phénoménologie et transfert culturel [Hành trình của Trần Đức Thảo – Hiện tượng luận và tiếp biến văn hóa] diễn ra tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm vào tháng 5/2012, tôi đã gửi thư tới Giáo sư Masoud P. Tochahi (Đại học Paris III), xin phép sử dụng bài tham luận của ông tại cuộc Hội thảo trên cho cuốn sách này. Một thời gian ngắn sau, ông phản hồi và nói rất vinh dự khi bài tham luận này được giới thiệu rộng rãi tới các độc giả Việt Nam. Giới thiệu bản dịch tiếng Việt bài tham luận này của ông, tôi kỳ vọng sẽ mở ra được mối quan hệ hợp tác trong việc dịch thuật và xuất bản Tổng tập Trần Đức Thảo trong tương lai. (BS)
621. Husserl thường nói về “đời sống thực tiễn trong tính tổng thể của nó”. Xem, ví dụ, HUSSERL, E. [1936] (1976). Die Krisis der europäischen Wissenschaften und die transzendentale Phänomenologie [Sự khủng hoảng của các khoa học châu Âu và triết học tiên nghiệm], 2. Auflage, hrsg. von.Walter Biemel, Haag: Martinus Nijhoff, p. 124.
622. Ibid., p. 51.
623. Ở một đoạn trong Krisis, Husserl đã đề cập đến những khó khăn này: “Một trong những khó khăn lớn của cách tư duy luôn cố gắng khai thác mọi lúc và mọi nơi, ‘sự cấu thành nguyên thủy’, tức thế giới đời sống trước và ngoài khoa học, bao gồm trong bản thân nó toàn bộ đời sống hiện tại (gồm cả đời sống của tư tưởng khoa học) và nuôi dưỡng nó với tư cách nguồn gốc của những hình thái ý nghĩa đã được phát triển – một trong những khó khăn của cách tư duy này, như tôi đã nói, là phải chọn cách nói hồn nhiên về đời sống nhưng cũng phải điều chỉnh nó như một công cụ ở chỗ bằng chứng của các chứng minh đòi hỏi”, Ibid. p. 9 & 68; cũng tham khảo: “Thế giới đời sống”, trong: BENSOIST, J. & V. Gerard (eds.) (2010). Husserl. Paris: Elipses p. 252.
624. Ibid, p. 59.
625. Ibid, p. 34, 51.
626. WALDENFELS, B., “Lebenswelt und zwischen Alltäglichem Unalltäglichem”, trong: Phänomenologie im Widerstreit Zum 50. Todestag Edmund Husserls, HRSG. ch von und O. Jamme Pöggeler, Frankfurt am Main: Suhrkamp, 1989, p. 107.
627. Husserl, Krisis, p. 378, 381.
628. Husserl nói: “Thế giới–đời sống, tập hợp trong bản thân nó một cách tuyệt đối mọi hình thái thực tiễn (ngay cả các khoa học khách quan với tư cách các sự kiện văn hóa trong khi tránh tham gia vào những lợi ích của họ) chắc chắn có liên quan đến tính chủ quan trong sự thay đổi thường xuyên của các tính tương đối. “Husserl, Krisis, tr. 176, fr. p. 197.
629. Ibid.
630. Ibid., o. 183 và 204.
631. Ludwig Landgrebe, “Lebenswelt und Geschichtlichkeit của menschlichen Daseins” [Thế giới đời sống và sử tính trong sự tồn tại của hữu thể người], trong: Phänomenologie und Marxismus [Hiện tượng luận và chủ nghĩa Marx], HRSG. Bernard von Waldenfels a. a, Frankfurt am Main. Suhrkamp 1977, p. 18
632. Trong đoạn này của tác phẩm Logic của các khoa học xã hội, chúng ta tìm thấy một bản tóm tắt về sự phê phán của Habermas: “Tuy nhiên, các nhà hiện tượng luận luôn xuất phát từ kinh nghiệm của thế giới được cảm nhận có tính cá nhân của họ để đạt được, nhờ trừu tượng hóa và khái quát hóa, những hiệu năng của tính chủ quan tạo lập của ý nghĩa. Chúng ta chắc chắn có thể nghiên cứu theo cách này sự hình thành của thế giới được cảm nhận theo tính khái quát trừu tượng của nó. Nhưng kết quả là chúng ta không gặp bất kỳ thế giới được cảm nhận nào mang tính lịch sử và cụ thể, trừ thế giới của chính nhà hiện tượng luận. Chắc chắn, chúng ta có thể tiến hành một mô tả hiện tượng luận vì ở đó chỉ có, theo cách chung, những thế giới được cảm nhận mang tính cá nhân không thể quy giản. Nhưng nhận định trừu tượng này vẫn chưa giúp chúng ta vượt qua hàng rào ngăn cách một mô tả hiện tượng luận về cấu trúc của thế giới được cảm nhận chỉ mang tính xã hội, và sự lo sợ của mọi thế giới được cảm nhận có thể mang tính cá nhân, cho dù đó có thể là thế giới của một cá nhân hay thế giới của một nhóm xã hội. Trong trường hợp này, chúng ta không còn có thể bằng lòng với sự khái quát từ kinh nghiệm cá nhân, mà ở đó Schutz luôn luôn dừng lại, làm một đệ tử tốt của Husserl như ông đã là như vậy”. HABERMAS, J. (1973). Zur Logik der Sozialwissenschaften [Logic của các khoa học xã hội], 3. Auflage, Frankfurt am Main: Suhrkamp, p. 214, 148.
633. Về vấn đề này, Heidegger nhấn mạnh: “Bằng cách này, ông đã được chỉ ra rằng hiện tượng luận đang phải vật lộn với một nghịch lý thường trực mà chúng ta sẽ xem như nghịch lý có nguồn gốc từ cuộc sống tự và cho nó”. Heidegger, Grundprobleme der Phänomenologie [Những vấn đề cơ bản của hiện tượng luận], tr. 2. Cái mà, trái lại, là một cuộc sống tự nó (Leben an sich), Heidegger định nghĩa nó như: “cái gần gũi với chúng ta đến mức chúng ta không thể tương tác với nó một cách biểu cảm và cái mà trong quan hệ với nó chúng ta không còn thậm chí cả khoảng cách để có thể nhìn nó trong “tính tuyệt đối” của nó, và cái khoảng cách mà trong quan hệ với nó là thiếu vì bản thân chúng ta là nó và chúng ta chỉ nhìn chính mình qua cuộc sống, mà chúng ta là, một cuộc sống thuộc về chúng ta (theo cách chỉ đối tượng của hành động), và thông qua những hướng riêng của nó”.Ibid., tr. 29.
634. Ibid., p. 27, 81.
635. Ibid., p. 35.
636. Ibid., p. 42.
637. Ibid., p. 59.
638. Ibid., p. 62.
639. Ibid., p. 64.
640. Heidgger đã đặt câu hỏi một cách triệt để, nếu “ý tưởng của hiện tượng luận như một khoa học về nguồn gốc của đời sống – một khoa học chặt chẽ và triệt để nhất – không mâu thuẫn trong bản thân nó, trong chừng mực như một khoa học chặt chẽ nhất và triệt để nhất về đời sống, đưa đời sống theo cách triệt để nhất vào trong một sự hủy diệt khách thể hóa và khoa học và còn kết thúc theo cách triệt để nhất và bất cẩn nhất…”. Xem Tlđd., tr. 78. Ngoài mâu thuẫn này, Heidegger còn nhấn mạnh hai vấn đề khác hình thành nên hiện tượng luận như một khoa học. Nói cách khác, làm thế nào để thực hiện một khoa học về đời sống khi đời sống này với tư cách là một tổng thể không bao giờ được đưa ra về mặt sự kiện… Trái lại, tất cả các khoa học với sự chuyên môn hóa và tập trung của chúng vào một lĩnh vực cụ thể của đời sống dường như luôn xem nó như một tổng thể. Vì vậy, việc coi đời sống như một tổng thể bởi một khoa học về nguồn gốc là hiện tượng luận có thể là không cần thiết. Để tránh loại vấn đề như vậy, Heidegger nhấn mạnh về mối quan hệ của thế giới của đời sống với nguồn gốc của nó và thực tế là thế giới–đời sống trở thành đối tượng của hiện tượng luận với tư cách cái gì đó “được bắt nguồn” (entspringend) từ một nguồn gốc. Xu hướng này của việc nghiên cứu về nguồn gốc đồng thời ngăn cản sự chồng chéo với những khoa học khác và biện minh cho logic của một khoa học về nguồn gốc.
641. Heidegger, Grundprobleme der Phänomenologie, p. 83.
642. THAO, Trân Duc (1951), p. 6.
643. Landgrebe, “Lebenswelt und Geschichtlichkeit des menschlichen Daseins” [Thế giới–đời sống và sử tính của sự tồn tại người], p. 14.
644. THAO, Trân Duc (1951), p. 7–8.
645. Đoạn này được dùng làm dẫn chứng: “Nếu chúng ta nhớ rằng những hiện thực tâm lý, được xác định trên bình diện cá nhân, có trước sự nhận thức của người khác, tương ứng với kinh nghiệm của đời sống loài vật, chúng ta thấy rằng cái ‚cấu thành siêu nghiệm”, như thể hiện của phần còn lại chính thiên hướng của các phân tích về sự cấu thành trong bản thảo của tác phẩm Ideen II, chỉ làm việc lấy lại trên bình diện trừu tượng của sự cảm nhận, sự biến đổi hiện thực từ vật chất đến cuộc sống, và từ cuộc sống đến tinh thần, được hiểu như là sự tồn tại xã hội”. Tlđd., p. 8.
646. THAO, Trân Duc (1951), p. 238–241.
647. THAO, Trân Duc (1951), p. 9.
648. Tlđd.
649. Đối với mọi cái thuộc về sự đoạn tuyệt, Thảo dường như chưa quyết định. Trong một đoạn văn trong phần giới thiệu Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng, ông khẳng định đã có ý định “hoàn tất các mô tả có chủ ý bằng các phân tích khách quan “nhưng do sự không tương thích” giữa“các dữ liệu thực tế trong ý thức về thực tế của họ” và “cái tuyệt đối mang tính hiện tượng luận của các ý định được cảm nhận”, ông coi nó như là không thể. Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận rằng Thảo vẫn hoàn toàn trung thành với những nguyên tắc của hiện tượng luận khi sử dụng các thuật ngữ có tính kỹ thuật như “tính chủ đích”, “diễn ngôn nội tại”, “cảm nhận”, “hành động”, vv. Xem: THAO, Trân Duc (1951), p. 18; và THAO, Trân Duc (1973), p. 18, 19.
650. THAO, Trân Duc (1951), p. 9.
651. Khi đọc Thảo, chúng ta dần dần gặp những đoạn mà ông nói về triết học một cách khinh miệt: “Vì vậy, các vấn đề truyền thống đã được đề cập đầy đủ trong khuôn khổ của chủ nghĩa Marx và không có lý do gì để ngần ngại rút ra từ những khó khăn kỹ thuật mà chúng ta gặp phải trong hiện tượng luận, những hậu quả hoàn toàn mang tính triết học của chúng” (THAO, Trân Duc (1951), p. 18).
652. THAO, Trân Duc (1951), p. 12; cũng xem, Ibid., p. 16.
653. Tuy nhiên, dần dần Thảo cũng đưa ra những ví dụ không chỉ không tương thích với cái mà ông đã thiết lập như các lĩnh vực nghiên cứu của mình, mà đôi khi chúng cũng tỏ ra chủ quan nhằm làm rõ cái mà ông tìm cách giải thích. Chúng ta có thể đưa ra ví dụ về một thủy thủ, khi đang thoát ra khỏi một cơn bão và tiếp cận bờ biển, “chỉ ngón trỏ vào hướng đất liền,” bởi vì “độ dài bất thường của cuộc hành trình phải chăng đã chia cắt người thủy thủ đang nóng lòng tìm lại đất liền”. Những giải thích này vả chăng cũng không thuyết phục lắm: “Khi bờ biển xuất hiện, cảm xúc làm cho anhhoàn tất cái cử chỉ mà thông thường nó chỉ vừa mới được phác họa. Do đó khi ngoại quan hóa sự vận động, anh ta đã củng cố sự tin chắc có thể cảm nhận được của mình về đối tượng, vì sự tin chắc này chính xác là ở trong cử chỉ được cảm nhận của hành động chỉ cho chính bản thân mình”. Xem: THAO, Trân Duc (1973), p. 33.
654. Ibid., p.12.
655. Ibid., p. 30.
656. Ibid., p. 34.
657. Ibid., p. 39.
658. Việc đọc tác phẩm của Thảo có những khó khăn riêng của nó. Ông trình bày các ý tưởng của mình theo cách xoay vòng, tức là ông không ngại lấy lại một cách không đúng lúc mọi cái mà ông đã xử lý trước đó. Với mọi cái thuộc mối quan hệ từ ý thức đến vật chất và các quan hệ của những cái này với ngôn ngữ, ông cũng nói muộn hơn một chút, nhưng cái cách mà ông bàn về chúng vẫn ít nhiều tương tự. Ibid., p. 49–57.
659. Ibid., p. 34.
660. Ibid., p. 13.
661. Ibid., p. 14.
662. Thảo định nghĩa ý thức theo cách sau: “Vì thế chính bản thân phép biện chứng này nơi sự có đi có lại của dấu hiệu bị biến mất trong hình thức của bản sắc, cái làm nảy sinh cấu trúc của sự cảm nhận mà ở đó hình thành mối quan hệ với bản thân với tư cách là ý thức. Ý thức được thể hiện theo cách đồng nhất như ý thức về đối tượng và ý thức về bản thân. Với tư cách là ý thức về đối tượng, nó là hình ảnh của đối tượng được đặt như ở bên ngoài nó. Với tư cách là ý thức về bản thân, nó là hình ảnh của hình ảnh này hay hình ảnh của bản thân nó trong bản thân nó”. Ibid., p. 25.
663. Ibid., p. 16.
664. Ibid., p. 17.
665. Ibid., p. 18, cũng xem p. 40.
666. Ibid., p. 40–42.
667. Tlđd., tr. 108–109.
668. Ibid., p. 43.
669. Ibid., p. 46.
670. Ibid., p. 49.
671. Ibid., p. 53.
672. Ibid., p. 241.
673. Bài viết nhân dịp xét truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Giáo sư Trần Đức Thảo. Nguồn: NGỌC, Phan (2000). Bản sử dụng ở đây có chỉnh sửa một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
674. Trên thực tế, bản gốc tiếng Pháp của tác phẩm này, có sửa chữa của tác giả, hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Cù Huy Chử & Cù Huy Song Hà. (BS)
675. Năm Freud xuất bản tác phẩm Wandlungen und Symbole der Libido [Những biến thể và tượng trưng của libido]. (BS)
676. Nguồn: THÚY, Đỗ Lai (1996).
677. Nguyễn Trung Kiên lược dịch. Nguồn: FEDERICI, S. (1970).
678. THAO, Trân Duc (1966).
679. THAO, Trân Duc (1969b).
680. Ibid., p. 6 – 7.
681. Ibid.
682. Ibid., p. 7.
683. Ibid., p. 8 – 9.
684. Ibid., p. 11 – 12.
685. Ibid., p. 13.
686. Ibid., p. 14.
687. Ibid., p. 20.
688. Ibid., p. 21.
689. Ibid., p. 23.
690. THAO, Trân Duc (1969a), p. 6.
691. Ibid., p. 9.
692. Ibid., p. 9–10.
693. Ibid., p. 10–15.
694. Đây là thuật ngữ của Trần Đức Thảo mượn của Husserl, cùng với khung khái niệm của Husserl.
695. THAO, Trân Duc (1969a), p. 25.
696. Ibid., p. 36.
697. THAO, Trân Duc (1969b), p. 82.
698. Ibid., p. 36.
699. Nguyễn Trung Kiên dịch. Bài điểm sách; nguồn: BARBIBEAU, J. (1963).
700. THAO, Trân Duc [1973] (1984). Bản gốc: THAO, Trân Duc (1973).
701. A. Spirkin (1918–2004): nhà triết học, tâm lý học và nhân chủng học Xô–viết Ông nghiên cứu chuyên sâu về nguồn gốc của ý thức và tự ý thức, và ngành điều khiển học (cybernetics). Ông là Phó Chủ tịch Hội nghiên cứu Triết học Xô–viết, và thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Xô–viết. (BS)
702. Iakimov, V.P., The Origins of Man [Những nguồn gốc của Con người], Moscow (1964). Spirkin, A., The Origin of Consciousness [Nguồn gốc của Ý thức], Moscow (1960). (Thảo đã sống tại Pháp một vài năm, ở đây ông cũng giới thiệu các tác giả Xô–viết này đến độc giả Pháp).
703. V.P. Iakimov: nhà nhân chủng học Liên Xô nổi tiếng. Ông có nhiều đóng góp quan trọng để xây dựng và phát triển ngành nhân chủng học Xô–viết nói chung và khảo cổ học Xô–viết nói riêng, với nhiều thành tựu quan trọng. (BS)
704. Trong thập niên 1950, Thảo đã viết một vài nghiên cứu chuyên đề về Husserl và Marx, bao gồm tác phẩm Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng (1951). Trong thập niên 1960, ông cố gắng phát triển phương pháp hiện tượng luận, trên cơ sở cố gắng loại bỏ triệt để chủ nghĩa duy tâm của Husserl, để có thể tổng hợp phương pháp này với phép duy vật biện chứng. Cuốn sách này cũng cố gắng hướng đến mục đích đó. Phản ánh lý thuyết của Spirkin về những nguồn gốc của ý thức và ngôn ngữ, và các nghiên cứu về chuyên ngành ký hiệu học và ngôn ngữ học từ mô hình của Ferdinand de Saussure (Cours de Linguistique [Giáo trình ngôn ngữ học], Payot. Paris: 1915), Trần Đức Thảo đã hướng tới một ngành ký hiệu học biện chứng thông qua sự phê phán hiện tượng luận Husserl.
705. Lý thuyết duy vật lịch sử về tự nhận thức dựa trên sự trao đổi qua lại lẫn nhau của các mối quan hệ xã hội; trong hoạt động lao động tập thể, người lao động chỉ ra đối tượng cho nhau trên cơ sở những nỗ lực chung của họ. Mỗi người lần lượt, thậm chí đồng thời, vừa là người nhận chỉ dẫn, vừa là người gửi chỉ dẫn; hắn vừa là người hướng dẫn, vừa là người được hướng dẫn. Nói cách khác, mỗi người nhìn thấy trong người khác một sinh thể tương tự như hắn, thực hiện động tác chỉ dẫn giống hắn, và rõ ràng là hắn nhìn thấy chính mình ở trong người khác, nên cái hình ảnh kéo dài của môi trường xã hội cho phép hắn, khi ở một mình, sử dụng cái nhìn của những người đó – những người đồng thời là một cái tôi khác của hắn, để chỉ ra đối tượng cho chính hắn.
706. SOKOLOV, E.N., Inner Speech and Thought [Tiếng nói bên trong và Tư duy], New York: Plenum (1972). (Sokolov cung cấp một phân tích giải phẫu thần kinh về cơ sở vật chất của ngôn ngữ bên trong).
707. Trong tác phẩm Materialism and Empirio–criticism [Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán] (tr. 51), cảm giác được định nghĩa là hình thức đơn giản nhất của ý thức. Trong tác phẩm “Philosophical Notebooks” [Bút ký triết học] (tr. 182), Lenin giải thích kỹ hơn là: “Ý thức chính là bộ não trong sự vận động tư duy của chúng. Do đó ý thức không chỉ đơn giản là sự vận động sinh hóa. Đó là sự vận động sinh lý thần kinh phức tạp nhất của não bộ cấu thành nên những hình thức của các động tác chỉ dẫn và các dấu hiệu ngôn ngữ, những yếu tố được định hình và phản ánh các hình thái tương tác xã hội của con người”.
708. PIAGET, J. (1976), The Child’s Construction of Reality [Sự xây dựng tính hiện thực ở trẻ em], London: Routledge and Kegan Paul. (Dịch từ tác phẩm: Piaget, J. (1397). La construction du reel chez l’enfant. Neuchatel: Delachaux et Niestle.)
709. Homo faber (Người chế tác) là một khái niệm triết học do Hannah Arendt và Max Scheler hình thành và phát triển, nhằm chỉ những giống ngưAời có khả năng kiểm soát môi trường thông qua các công cụ lao động. [Nguồn: Wikipedia] (ND)
710. Therese Gouin–Décairie (1923): Nhà nghiên cứu tâm lý trẻ em nổi tiếng. Là người chịu ảnh hưởng nhiều bởi Jean Piaget, bà tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Montréal và giảng dạy nhiều năm tại đây. Bà cũng tiến hành nghiên cứu và thực hành tâm lý tại Boston (Mỹ) và Paris (Pháp). Giáo sư Trần Đức Thảo đã tham khảo kết quả nghiên cứu của bà để xây dựng lý thuyết của ông về động tác chỉ dẫn (ND).
711. GOUIN-DÉCARIE,T. [1962] (1964). Intelligence and Affectivity in Early Child–hood [Trí thông minh và Tính dễ xúc động trong thời kỳ thơ ấu của trẻ em]. New York: International University Press. (Nguyên tác: Gouin–Décarie,T. (1962). Intelligence et affectivite chez le jeune enfant; etude experimentale de la notion d’objet chez Jean Piaget et de la relation objectale. Neuchatel: Delachaux et Niestle).
712. Ở người vượn, đó có thể là báo hiệu cho đồng loại về dấu vết của con mồi, hay báo hiệu về sự nguy hiểm đang rình rập… (ND).
713. Phức hợp công cụ Kafuan (Kafuan tool complex): thuật ngữ nhân chủng học, dùng để chỉ loại công cụ đơn giản nhất từ đá cuội, là những viên đá được mài sắc ở một mặt, xuất hiện ở Kỷ nguyên Pleistocene Hạ (kéo dài trong khoảng từ 2,6 triệu năm đến 1,7 triệu năm trước đây). Phức hợp công cụ Kafuan tiến hóa thành Phức hợp công cụ Oldowan (cách đây khoảng 2,5 triệu năm), khi những viên đá cuội được mài sắc ở cả hai mặt. Tên gọi Kafuan và Oldowan bắt nguồn từ tên gọi của các di chỉ khảo cổ học tại miền Nam châu Phi, nơi các bằng chứng khảo cổ học về thời kỳ này được phát hiện: Kafu là tên một con sông ở Uganda, còn Olduwai là tên hẻm núi ở Tanzania. Những thuật ngữ này được nhà khảo cổ học và tự nhiên học người Anh vĩ đại Louis Leakey (1903–1972) đặt ra từ thập niên 1930 sau những phát hiện khảo cổ học mang tính cách mạng của ông về các công cụ lao động của Thời kỳ Đá đẽo, củng cố thêm cho giả thuyết về nguồn gốc và sự phát tích từ châu Phi của loài người (ND).
714. Nguồn: CẨN, Lê Nguyên (2014). Bản sử dụng ở đây có chỉnh sửa một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
715. THAO, Trân Duc (1973). Các trích dẫn liên quan đến quan điểm của tác giả Trần Đức Thảo trong bài viết của chúng tôi đều được lấy trực tiếp từ bản tiếng Pháp và do chúng tôi chuyển dịch sang tiếng Việt.
716. Dẫn theo Lời hậu bạt của nhà nghiên cứu Vasile Dem. Zamfirescu trong cuốn Direck Van Der Sternen: Luận phân tâm văn học: Opedipe vua (De Lotgevallen van Koning Oedipus). Bản tiếng Rumani. Người dịch sang tiếng Rumani: Paul Voicu–Dohotaru. Editura Univers, Bucureşt, 1996, tr. 139.
717. Marthe Robert: Romanul inceputurilor şi începuturile romanului. Bản tiếng Rumani. Người dịch sang tiếng Rumani: Paula Voicu–Dohotaru. Editura Univers, Bucureşti, 1986, tr. 86.
718. THAO, Trân Duc (1973), tr. 248.
719. Albert Jaquart: Con người và gene (Les hommes et leurs genes). Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Ngọc Thuần, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2010, tr. 3.
720. Dẫn theo Lời hậu bạt của nhà nghiên cứu Vasile Dem. Zamfirescu trong cuốn Direck Van Der Sternen: De Lotgevallen van Koning Oedipus. Tlđd., tr. 138.
721. THAO, Trân Duc (1973), tr. 245–340.
722. Tlđd., tr. 263.
723. Tlđd., tr. 296.
724. Tlđd., tr. 302.
725. Tlđd., tr. 307.
726. Tlđd., tr. 308.
727. Tlđd., tr. 309.
728. Tlđd., tr. 314–315.
729. Tlđd., tr. 316.
730. Tlđd., tr. 329.
731. Tlđd., tr. 336.
732. Tlđd., tr. 337.
733. Tlđd., tr. 340.
734. Tlđd., tr. 330.
744. Nguồn: CHỬ, Cù Huy & Cù Huy Song Hà (2011e).
745. Về tác phẩm Hồi ký, chúng tôi đã có lời giới thiệu ngắn và giới thiệu toàn văn trên ba số liên tiếp của Tạp chí Xưa & Nay (cơ quan ngôn luận của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam), từ số 376 (3/2011).
746. Tuyên bố Thượng Hải năm 1972: một văn kiện ngoại giao quan trọng được ký kết giữa Tổng thống Richard Nixon (Hoa Kỳ) và Thủ tướng Chu Ân Lai (Trung Quốc) trong chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Nixon, báo hiệu sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh trong các thập niên tiếp theo. (BS)
747. THẢO, Trần Đức (1978a), (1978b), (1978c), (1979).
748. THẢO, Trần Đức (1991c), (1991d).
749. Marx, Gründrisse der Kritik der Politischen Okonomie (Lời nói đầu của cuốn Phê phán kinh tế chính trị), tr. 391 – 392, bản tiếng Pháp. Trích theo Trần Đức Thảo trong Một hành trình. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1986] (2004), tr. 20.
750. THẢO, Trần Đức [1986] (2004), tr. 25.
751. THẢO, Trần Đức [1986] (2004).
752. Xem: Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp, trong Toàn tập Hồ Chí Minh, tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2000, tr. 350.
753. Marx, Sự khốn cùng của triết học, bản tiếng Pháp, Ed. Giarad, tr. 197. Dẫn theo: THẢO, Trần Đức, Nói rõ thêm một số luận điểm trong cuốn Vấn đề con người và chủ nghĩa “lý luận không có con người”, Tạp chí Giáo dục lý luận, tháng 5/1990, tr. 21.
754. Lenin, Toàn tập, tập 29, Nhà xuất bản Tiến bộ và Nhà xuất bản Sự thật, Mát–xcơ–va và Hà Nội, 1981, tr. 381 (đối chiếu với bản tiếng Nga, tr. 321).
755. Engels, Biện chứng của tự nhiên. Dẫn theo: THẢO, Trần Đức [1986] (2004), tr. 30.
756. THẢO, Trần Đức [1986] (2004), tr. 30 – 32.
757. Lenin, Bút ký triết học, bản tiếng Nga, tr. 203, 227. Đối chiếu với bản tiếng Việt: Lenin toàn tập, tập 29, Nhà xuất bản Tiến bộ, 1981, Hà Nội, tr. 240, 268.
758. Lenin, Bút ký triết học, bản tiếng Nga, tr. 227.
759. Marx, Gründrisse der Kritik der Politischen Okonomie, Lời nói đầu của cuốn Phê phán kinh tế chính trị, tr. 391 – 392, bản tiếng Pháp. Dẫn theo: THẢO, Trần Đức (1989c).
760. Các Mác, Hệ tư tưởng Đức. Bản tiếng Đức, tr. 16. Dẫn theo Trần Đức Thảo, Sự phát sinh của hệ thống lịch sử giống người.
761. Xem: Các Mác, Thư gửi An–nen–cốp. Nguồn: Các Mác và Phri–đrích Engels, Tuyển tập, tập 1. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 786 – 803.
762. C. Mác và Ph. Ăng–ghen, Toàn tập, t. 23. Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 1993, tr. 87.
763. THẢO, Trần Đức (1955b), (1955c).
764. THẢO, Trần Đức (kh. 1963). Sur l’origine de chimpanzés. Hà Nội: Văn bản viết tay.
765. THAO, Trân Duc (1966).
766. THAO, Trân Duc (1969a), (1969b), (1970).
767. THAO, Trân Duc (1973).
768. THẢO, Trần Đức [1986] (2004), tr. 103.
769. Leibniz, Lời tựa cuốn ‘Những tiểu luận mới về lý trí con người’. Tlđd., tr. 103.
770. Engels. Biện chứng của tự nhiên. Bản tiếng Pháp, Ed. Sociales, tr. 174. Trích theo Trần Đức Thảo.
771. Xem: Ăng–ghen, Thư gửi Pi–ốt La–vrô–vích La–vrốp. Nguồn: Các Mác và Phri–đrích Ăng–ghen, Tuyển tập, tập 4. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 598 – 599.
772. Trong những lần chúng tôi đi theo Trần Đức Thảo đến các nhà trẻ ở Hà Nội, Trần Đức Thảo đã có nhận xét như trên. Ông còn giải thích cho chúng tôi, tại sao đứa trẻ chỉ cười rún rẩy khi nhìn thấy chiếc mặt nạ có hình ảnh cái trán và đôi mắt, chứ không cười và rún rẩy khi cái mặt nạ bị che đi cái trán và đôi mắt. Sở dĩ thế vì trong các tập đoàn động vật, từ con bò, và đặc biệt đến con khỉ, khi hoạt động, đặc biệt khi kiếm ăn, thì những con khác chỉ nhận ra đồng loại của mình ở cái trán và đôi mắt, điều ấy trở thành phản xạ mang tính bẩm sinh trong con người. Trần Đức Thảo nói thêm với chúng tôi: Người bảo mẫu thường dỗ đứa trẻ đang khóc bằng cách bế một đứa trẻ khác lên trước mặt nó, lập tức đứa trẻ sẽ trở nên vui vẻ hơn, bởi cái phản xạ bẩm sinh trong nó được thức dậy. Ông nói, điều đó như là sự giao thoa của các luồng ánh sáng trên cái nền của một bức tường, cái phản xạ bẩm sinh được phóng chiếu làm cho tâm lý đứa trẻ trở nên hoạt bát và phong phú.
773. THẢO, Trần Đức [1986] (2004), tr. 112.
774. Một giai đoạn trong Thời kỳ Đồ đá Cũ, cách đây khoảng 1,76 triệu năm. Đây là giai đoạn hình thành Người đứng thẳng (Homo erecta), và sau đó là Người khôn tối cổ (archaic Homo sapiens). Trong giai đoạn này, con người đã bắt đầu biết đứng thẳng và giải phóng hai chi trên để hình thành đôi tay, qua đó biết chế tác dụng cụ thành công cụ. Tên Acheuléen được hình thành từ địa danh Saint–Acheul (vùng ngoại ô của thành phố Amiens (miền Bắc nước Pháp), cách Amiens khoảng 3 km về phía Đông Nam), nơi các bằng chứng khảo cổ về giai đoạn này được phát hiện, với niên đại khoảng 1,4 triệu năm. (BS)
775. THAO, Trân Duc (1966).
776. THẢO, Trần Đức (1969a), (1969b), (1970).
777. THẢO, Trần Đức (1955b), (1955c).
778. THAO, Trân Duc (1973).
779. THAO, Trân Duc (1988c), (1988d).
780. THẢO, Trần Đức (1978a), (1978b), (1978c), (1979).
781. THẢO, Trần Đức (1988a).
782. THẢO, Trần Đức (2004a). Cần nói rõ thêm, với tác phẩm này, Trần Đức Thảo để lại 11 bản thảo. Việc chọn dịch tùy thuộc vào sự tiếp cận bản thảo nào của Nhà xuất bản.
783. Để hoàn thành bài viết này, chúng tôi đã tham khảo các tài liệu của Daniel J. Herman và Trần Tri Vũ.
784. Achille: anh hùng trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật chính trong sử thi Iliad của Homer, là một kiện tướng chạy nhanh. Trong nghịch lý Achille và con rùa của nhà toán học Hy Lạp cổ đại Zeno (kh. 490 – 430), Achille đứng tại điểm A và con rùa đứng tại điểm B. Cùng một lúc, Achille chạy về phía B để bắt con rùa, còn con rùa chạy cùng chiều với Achille trên đường thẳng AB. Để đến được điểm B, Achille phải lần lượt vượt qua một số vô hạn các trung điểm C1, C2,..., Cn,... của các đoạn AB, C1B,..., Cn – 1B,...; việc này không thể làm được trong một khoảng thời gian hữu hạn. Vì vậy, dù Achille có chạy nhanh đến đâu cũng không thể đạt tới điểm B, nên càng không thể đuổi kịp con rùa. Nghịch lý Achille và con rùa là cơ sở để xây dựng khái niệm tổng vô hạn, làm tiền đề để phát triển lý thuyết chuỗi và ngành giải tích. (BS)
785. THẢO, Trần Đức [1993c] (1997).
786. HERMAN, D.J. (1993).
787. THẢO, Trần Đức [1958a] (1995).
788. Có sự khác biệt trong nhịp điệu của thời gian giữa thời gian vật lý, thời gian sinh học, thời gian tâm lý, thời gian văn hóa...
789. VŨ, Trần Tri (2008).
790. Tlđd.
791. Trần Đức Thảo, đã dẫn.
792. THẢO, Trần Đức [1993c] (1997).
793. Nisus: khuynh hướng nỗ lực hiện thực hóa cái mục tiêu đề ra. (BS)
794. Appetitus: khuynh hướng bẩm sinh của một sự vật nhằm giúp chính nó tiếp tục tồn tại và phát triển. (BS)
795. MINH, Hồ Chí (2000). Toàn tập. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia–Sự thật, Tập 9, tr. 589.
796. Bài viết này sử dụng bản dịch tiếng Việt: THẢO, Trần Đức [1993c] (1997).
797. Nguồn: THAO, Trân Duc (1993c).
798. Tonic (hay trương lực, thể chậm), trong sinh lý học, dùng để chỉ trạng thái phản ứng sinh lý chậm. Khái niệm này thường được dùng để đối chọi với trạng thái phản ứng sinh lý nhanh (phasic). Ví dụ, trong giải phẫu, các cơ tonic thì tương phản với các cơ co giật, vốn nhanh hơn và phổ biến hơn. Trong thần kinh học (neurology), các múi thần kinh cảm giác tonic tương phản với các múi thần kinh cảm giác phasic. (Nguồn: Wikipedia) (BS)
799. Phasic (hay pha, thể nhanh), trong sinh lý học, dùng để chỉ trạng thái phản ứng nhanh chóng và mạnh mẽ với kích thích. Phasic có chu kỳ kích thích ngắn và có tính thích ứng nhanh. (Nguồn: Merriam – Webster Dictionary) (BS)
800. Nguồn: LIÊM, Nguyễn Hữu (2004).
801. Hegel, G. F., Philosophy of History. Trans. by J. Sibree. The Colonial Press, 1899.
802. W. Whitman, Democratic Vistas. The Little Library of Liberal Arts.
803. HEGEL, G.W.F., The Phenomenology of Mind. Trans. J.B. Baillie. Humanities Press, 1964. Bản dịch Việt Ngữ của Bùi Văn Nam Sơn từ nguyên bản tiếng Đức, Phanomenologie des Geists, đã được xuất bản ở Việt Nam.
804. MARX, K., A Contribution to the Critique of Hegel’s Philosophy of Right. Trans. & Edited. by J. O’Malley. Cambridge University Press, 1970.
805. CLEON-SKOUSON, W. (1961), The Naked Communist. Riverton, UT: Ensign Publishing.
806. THAO, Trân Duc (1986a). Bản Việt ngữ: THẢO, Trần Đức [1986a] (2004).
807. Sđd.
808. THẢO, Trần Đức [1958a] (1995).
809. THAO, Trân Duc (1986a).
810. Lý Đông A, Huyết Hoa, Nhóm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt, California, 1986.
811. Để có một cái nhìn về lịch sử, chẳng hạn, trên bình diện siêu nghiệm, xin đọc DeMotte, Charles (1977). The Inner Side of History. New York: Source Publications.
812. Nguồn: NGUYỄN, Luân (2013). Bản sử dụng ở đây đã được biên tập một số từ ngữ và thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
813. Arthur M. Schlesinger (1888–1965): nhà sử học Hoa Kỳ, James V. Schall (1928): nhà triết học, nhà văn và linh mục Hoa Kỳ. (BS)
814. Tác giả có một chút nhầm lẫn. Trên thực tế, Trần Đức Thảo sinh tại Thái Bình.
815. “Très brillante, la démonstration de Thao a le mérite immense de faire rentrer l’évolution des idées et des mythes dans l’évolution d’une Histoire profonde, quy est celle de la propriété, ou mieux encore de l’idée de la propriété”. Nguồn: BARTHES, R. (1951a).
816. Nguồn: GIAO, Nguyễn Ngọc (2012)
817. THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr. 18
818. THẢO, Trần Đức (1991b).
819. THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr. 17, 20.
820. THẢO, Trần Đức [1993c] (2012).
821. Tlđd.
822. Tlđd.
823. Nhiều tác giả (1986), Lịch sử phép biện chứng mác-xít, từ khi xuất hiện chủ nghĩa Marx đến giai đoạn Lenin, Nxb. Tiến bộ, Maxcơva.
824. Số liệu thực nghiệm.
825. Tlđd.
826. THẢO, Trần Đức [1993c] (2012).
827. Tlđd.
828. Tlđd.
829. Mác, C. & Ph. Ăng–ghen (1994). Toàn tập, tập 20. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 173 – 174.
830. Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô (1956).
831. LUẬT, Phạm Trọng (2004).
832. THẢO, Trần Đức (1988a).
833. Mác, C. & Ph. Ăng–ghen (1980).Tuyển tập, Tập 1. Hà Nội: Nhà xuất bản Sự thật, tr. 257.
834. THẢO, Trần Đức (1956b).
835. Mác, C. & Ph. Ăng–ghen (1993).Tuyển tập, Tập 5. Hà Nội: Nxb. Sự thật, tr. 164.
836. Mác, C. & Ph. Ăng–ghen (1995 ). Toàn tập, Tập 1. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 100.
837. THAO, Trân Duc (1991f).
838. CHỬ, Cù Huy và Cù Huy Song Hà (2011e).
839. Theo Nguyễn Thanh Giang, khi Phạm Trọng Luật gặp Trần Đức Thảo ở Paris, hỏi về những tác phẩm trước đó của ông, ông chỉ khoát tay và cho xem bản thảo tác phẩm mới. Đó chính là tác phẩm Sự logic của thời Hiện tại sống động. Cũng theo Nguyễn Thanh Giang, năm 1981, ông vô tình nằm điều trị cùng phòng với Giáo sư Trần Đức Thảo tại Bệnh viện Việt – Xô (Trong vụ Nhân văn – Giai phẩm, triết gia thuộc diện “được”… chỉnh huấn về tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phải nhờ sự can thiệp của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông mới được điều trị tại đây): “Cả tuần lễ hầu như không có ai vào thăm ông. Ông nằm thui thủi và thường quay mặt vào tường. Thỉnh thoảng lại giơ bàn tay trái lên, nhìn chằm chằm qua kẽ tay lẩm bẩm một câu tiếng Pháp: “Une goutte d’eau claire est en train de tomber doucement” (Một giọt nước trong suốt đang từ từ rơi). Rồi ông khóc rưng rức, nho nhỏ”.
840. Bài viết này là một ghi chép vội những cảm xúc hình thành ở trong tôi trong quá trình biên soạn cuốn sách này. Do vậy, mong bạn đọc hãy coi bài viết này như là lời gợi mở cho những nghiên cứu so sánh về Jan Patočka và Trần Đức Thảo trong tương lai, đồng thời cũng là một lời gợi ý và sự mong muốn các dịch giả và giới nghiên cứu quan tâm nhiều hơn đến việc dịch và nghiên cứu triết học của Jan Patočka – một trong những nhà triết học tiêu biểu nhất của nền triết học Tiệp Khắc và triết học châu Âu hiện đại.
841. HERMAN, D.J. (1993).
842. THẢO, Trần Đức (1989b).
843. KOJÈVE, A. & Trần Đức Thảo [1948] (2004).
844. THAO, Trân Duc (1948).
845. THẢO, Trần Đức (1956a).
846. THẢO, Trần Đức (1989b).
847. Tlđd.
848. MARX, K. (1844). Ökonomisch – philosophische Manuskripte [Bản thảo kinh tế – triết học]. Nguồn: MARX, K. (1968). Manuscrits de 1844. Présent., trad. et notes de Emile Bottigelli. Paris: Ed. sociales, p. 91. Dẫn theo: THAO, Trân Duc [1946b] (2004).
852. Nguyễn Trung Kiên lược dịch. Nguồn: SPIRE, A. [1993] (2013).
853. Hai ngày sau khi Giáo sư Trần Đức Thảo qua đời, vào ngày Thứ Hai (26/4/1993), báo l’Humanité [Nhân đạo], cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp, đã đăng tin buồn kèm theo một bài báo ngắn về Giáo sư, của nhà báo và nhà triết học mác-xít Arnaud Spire, một nhà báo kỳ cựu trong làng báo chí cánh tả tại Pháp. Bài báo này là một trong những bài đầu tiên, mở đầu một loạt tin, bài trên báo và tạp chí của Pháp và của thế giới (Le Monde, New York Times…) về Giáo sư Trần Đức Thảo sau khi ông mất, trong đó có số chuyên đề về Giáo sư Trần Đức Thảo của tạp chí Les Temps modernes, vào tháng 11/1993, đăng tải ba chương đầu của tác phẩm gồm bốn chương, được Giáo sư hoàn thành vài ngày trước khi mất tại Paris, La Logique du Présent vivant (Sự logic của thời Hiện tại sống động) (ND).
854. Xuân Lộc dịch. Nguồn: JOVARY, J.–P. (1993).
855. Do tình hình chiến tranh thế giới (ND).
856. Hội nghị do Đảng Cộng sản Pháp khởi xướng, bàn về những khuynh hướng mới của chủ nghĩa Marx, đặc biệt là sự ảnh hưởng của luận phân tâm. Từ đây, bắt đầu xuất hiện sự khác biệt trong khuynh hướng chính trị và tư tưởng giữa các nhà triết học mác-xít vàtrí thức cánh tả tại châu Âu. (BS)
857. Nguồn: THI, Nguyễn Đình (1993).
858. Nguồn: GIÀU, Trần Văn (1993).
859. Cao thượng. (BS)
860. Nguồn: TRƯỜNG, Hà Xuân (1993).
861. Nguồn: HIỀN, Nguyễn Đức (1993).
862. Nguồn: CHÚ, Nguyễn Đình (1993).
863. Nguồn: HOÀI, Tô (1992), (1999). Tên bài do người biên soạn tạm đặt. (BS)
864. Nguồn: GIAO, Nguyễn Ngọc (2011). Do khuôn khổ của cuốn sách, bản sử dụng ở đây đã lược bớt một số chi tiết trong nguyên bản. (BS)
865. Françoise Corrèze: nhà dân tộc học và sử học Pháp, người bạn lớn của Việt Nam, người bạn thân thiết của hai Giáo sư Trần Đức Thảo và Nguyễn Khắc Viện. Với tình cảm yêu quý và trân trọng văn hóa, văn học và con người Việt Nam, bà đã cộng tác với nhà văn hóa Hữu Ngọc và nhiều chuyên gia của Việt Nam để giới thiệu văn học, ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam tới độc giả Pháp ngữ. Bà cũng là tác giả của nhiều biên khảo công phu về ba nước Đông Dương. Tác phẩm: Anthologie de la littérature populaire du Viêt – nam (Hợp tuyển văn học dân gian Việt Nam), soạn chung với nhà văn hóa Hữu Ngọc. (BS)
866. Laurent Schwartz (1915–2002): nhà toán học Pháp, giải thưởng Field năm 1950, có nhiều đóng góp lớn cho ngành giải tích toán học. (BS)
867. Georges Boudarel (1926–2003): nhà sử học và quân nhân Pháp. Năm 1949, Boudarel bỏ dạy học triết học ở Đà Lạt để gia nhập Việt Minh, được ông Phạm Ngọc Thạch phân công làm việc tại Địch vận Việt Minh. Sau Hiệp định Genève (1954), ông rời Việt Nam sang Tiệp Khắc một thời gian trước khi trở về Pháp đi học và bảo vệ luận án tiến sĩ sử học về Phan Bội Châu. (BS)
868. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2011a), (2011c), (2011d), (2011e), (2011f) (2011g).
869. Ngũ Huyện Khê: một chi lưu của sông Đuống, khởi nguồn từ núi Tam Đảo. (BS)
870. CHỬ, Cù Huy & Cù Huy Song Hà (2012).
871. Tức ông Phạm Văn Đồng.
872. Xem: Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 4. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, 2000, tr. 387.
873. Nguyễn Duy Trinh: ”Phát triển chế độ dân chủ nhân dân và bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân”, trong đó có đoạn: “Chúng ta cần cải biến tư tưởng và tác phong cũ, đồng thời xem xét chu đáo tình hình chính trị và quan hệ giai cấp trong nước và nước ngoài hiện nay, để mở rộng sinh hoạt dân chủ một cách đúng mức, có lãnh đạo, nhằm phát huy hơn nữa bản chất tốt của chế độ ta” (Tạp chí Học tập, số 10, tháng 10–1956, tr. 29).
874. THẢO, Trần Đức (1989a).
875. THẢO, Trần Đức (1956b).
876. THẢO, Trần Đức (1956c).
877. THẢO, Trần Đức (1958b).
878. Bộ trưởng Bộ Giáo dục.
879. Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục.
880. Tức ông Trường Chinh.
881. Louis Althusser (1918–1990), phụ trách Ban Tuyên huấn của Đảng Cộng sản Pháp.
882. Lucien Sève (1926), phụ trách Nhà xuất bản Xã hội của Đảng Cộng sản Pháp.
883. THAO, Trân Duc [1956a] (1965).
884. Tức quyển Mao Trạch Đông ngữ lục.
885. THẢO, Trần Đức (1964).
886. THẢO, Trần Đức (1991a), (1991b).
887. Gồm các bài: THẢO, Trần Đức (1978a), (1978b), (1978c), (1979).
888. THAO, Trân Duc (1973).
889. THẢO, Trần Đức (1987b).
890. THẢO, Trần Đức (1975b)
891. Tức Trường Chinh.
892. Tức tư duy siêu hình.
893. Tức Cù Huy Chử.
894. THAO, Trân Duc (1966).
895. THAO, Trân Duc (1969a) (1969b), (1970)
896. Roger Garaudy (1964).
897. DŨNG, Hoàng Quốc (2000). ”Đồng chí Phạm Văn Đồng – người bạn lớn của giới trí thức”. Lê Thọ Bìnhghi. Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh, ngày 9/5/2000, tr. 3.
898. Năm 1934, Nguyễn Văn Huyên là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ văn khoa tại Đại học Sorbonne (Paris) với luận án chính “Hát đối đáp nam nữ thanh niên ở An Nam” và luận án phụ “Nhập môn nghiên cứu nhà sàn ở Đông Nam Á”. (Nguồn: Wikipedia) (BS)
899. Ngày 11/7/1993, ít tháng sau khi triết gia Trần Đức Thảo qua đời, nhà thơ Huy Cận đã xúc động viết bài thơ tặng người bạn tâm giao của ông, với tựa đề Nhà triết học và lời đề tặng “Tặng hương hồn Trần Đức Thảo”: “Anh sinh ra ở miền Kinh Bắc, Đất nước thâm trầm nuôi dưỡng anh, Cha ông sông lắng dòng sâu sắc, Suy ngẫm nhân sinh tập đại thành. Cổ kim suy tưởng ôm hành động, Chân lý rèn trong lửa cuộc đời, Thế kỷ hai mươi hồn mở rộng, Gốc xưa nhựa ấm bật cành tươi. Chao ôi dao động, lòng chao đảo, Ai héoNhân văn, xấu kiếp người! Đã có giữa đời Trần Đức Thảo, Người ơi vững gót trụ đất trời. Triết nhân tẩn mấn như con trẻ, Từ tiếng u ơ tìm lại nguồn, Ngôn ngữ lắng trầm nghìn thế hệ, Giọng người đâu phải tiếng chim muông. Triết nhân có phải tăng nguồn sống, Cho mỗi hồn ta, cho thế nhân, Vất vả đường ai, nhưng gió lộng, Nâng chân muôn dặm bước hài văn”. Nguồn: KHUÊ, Phan Ngọc (2014). (BS)
900. Báo Nhân dân, thứ Bảy ngày 26/1/1991, số 13240.
901. Do tôi nhấn mạnh (CHC).
902. Alexandre Kojève (1902–1968) là nhà triết học lớn, đã sáng lập ra trường phái Hegel học ở Pháp. Bài giảng của ông về Hegel được coi là giáo trình chính thức của tất cả các trường Đại học Pháp trong nhiều thập kỷ. A. Kojève bao trùm lên nền triết học Pháp đầu thế kỷ XX. Trần Đức Thảo đã viết bài phê bình công trình về Hegel của Kojève; bởi vậy, mới có cuộc trao đổi thư từ trên. Khi ấy Kojève hơn Trần Đức Thảo 15 tuổi. Tham khảo: KIÊN, Nguyễn Trung (2012).
903. Các Mác. Tư bản – Phê phán khoa kinh tế chính trị. Tập thứ 3, Quyển 3, tr. 437 – 438. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1987.
904. Tiểu sử tự thuật. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1984b).
906. Nguồn: VŨ, Thái (2007). Do khuôn khổ của cuốn sách, bản sử dụng ở đây là bản tóm lược của nguyên bản. (BS)
907. Cái gì có lý, cái ấy tồn tại, cái gì tồn tại, cái ấy có lý. (BS)
908. Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại. (BS)
909. Nguồn: CHÍNH, Nguyễn Đình (2007). Bản sử dụng ở đây có bổ sung một số chi tiết so với nguyên bản. (BS)
910. Nguồn: CHUẨN, Nguyễn Trọng (2013). Bản sử dụng trong cuốn sách này đã được biên tập một số từ ngữ và thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
911. Thư Trần Đức Thảo gửi Hà Xuân Trường ngày 18/1/1989: “Báo cáo về vấn đề Nhân văn”. Những tài liệu này ông Hà Xuân Trường trao lại cho GS. TS. Trương Gia Long, hiện là Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản.
912. THẢO, Trần Đức (1951).
913. Thư Trần Đức Thảo gửi Hà Xuân Trường ngày 18/1/1989, tài liệu đã dẫn.
914. Thư Trần Đức Thảo gửi Hà Xuân Trường ngày 15/6/1989, tài liệu đã dẫn.
915. Tlđd.
916. Thư Trần Đức Thảo gửi Hà Xuân Trường ngày 21/8/1989.
917. Tôi cũng không tiện nêu tên.
918. Thư Trần Đức Thảo gửi Hà Xuân Trường, ngày 15/06/1989: “Báo cáo về vấn đề Nhân văn”. Tài liệu đã dẫn.
919. Ví dụ, vấn đề đánh giá học thuyết Freud; vấn đề nguồn gốc loài người…
920. THẢO, Trần Đức (1984b).
921. Nguồn: HÀ, Thu (2006)..
922. Nguồn: KIÊN, Nguyễn Trung (2007a).
923. Nguồn: KIÊN, Nguyễn Trung (2007b). Bản sử dụng trong cuốn sách này này là bản đầy đủ, và có bổ sung, sửa chữa một số chi tiết so với bản đã công bố. (BS)
924. VŨ, Thái (2007).
925. F. Engels, Biện chứng của tự nhiên (dẫn theo Trần Đức Thảo)
926. Lời Trần Đức Thảo trả lời một phóng viên Pháp, sau khi được hỏi: “Người Đông Dương sẽ làm gì khi quân viễn chinh Pháp đổ bộ?”
927. Theo Kinh Thánh.
928. Theo đài Pháp RFI, sáng 28/4/1993, nhà nước Pháp dự kiến mai táng triết gia Trần Đức Thảo tại Nghĩa trang Père Lachaise tại Paris, nơi yên nghỉ của các danh nhân Pháp; nhưng phía Việt Nam đã yêu cầu hỏa táng và đưa tro về nước. Đến tháng 6/1993, Giáo sư Trần Đức Thảo đã được an táng tại Khu A, Nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội). Nghĩa trang Père Lachaise được thành lập từ năm 1804. Đây cũng là địa danh khép lại bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ của đại văn hào Victor Hugo: Père Lachaise là nơi yên nghỉ của Jean Valjean – người tù khổ sai, chiến binh của Công xã Paris, nhân vật chính của tiểu thuyết. Trên mộ Jean Valjean có đề mấy dòng thơ, mà theo thời gian đã bị “cỏ che, mưa xóa”: Il dort. Quoique le sort fut pour lui bien étrange, Il vivait. Il mourut quand il n’eut plus son ange. La chose simplement d’elle – même arriva, Comme la nuit se fait lorsque le jour s’en va (Người nơi đây yên nghỉ, Thân thế lắm đắng cay, Vẫn cam sống bấy chầy..., Thiên thần một sớm bay, Người chết, đơn giản lắm, Như đêm nối tiếp ngày...) [Rút từ sổ tay của nhà văn Thái Vũ]. (BS)
929. Nguồn: LAN, Hương (2010).
930. Ngày 22 – 23/6/2012, Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm đã tổ chức Hội thảo quốc tế về Giáo sư Trần Đức Thảo, với chủ đề “L’itinéraire de Tran Duc Thao / Phénoménologie et transfert culturel” (Hành trình của Trần Đức Thảo / Hiện tượng luận và Chuyển giao văn hóa). Hội thảo này đã thu hút được nhiều chuyên gia trong ngành triết học và các ngành khoa học xã hội khác tại Pháp, Bỉ và Canada cùng tham dự. Giới thiệu nội dung buổi hội thảo này, tôi hi vọng chúng ta sẽ sớm tập hợp được bản sao của những tham luận tại hội thảo, nhằm tiến hành dịch thuật và xuất bản để giới thiệu với độc giả trong nước trong thời gian gần nhất. Đồng thời, Hội thảo này cũng mở ra cơ hội lớn trong việc thiết lập quan hệ hợp tác Pháp – Việt để xuất bản Tổng tập Trần Đức Thảo trong tương lai. (BS)
931. Giáo sư Jean–François Courtine (sinh năm 1944), là nhà hiện tượng luận và nhà lịch sử triết học. Ông từng giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm (Paris) và là Giám đốc Thư khố Husserl tại Paris từ năm 1987 tới năm 2009. Hiện ông đang giảng dạy về triết học đương đại tại Đại học Paris IV. Email: jean–francois.courtine@paris – sorbonne.fr.
932. Jocelyn Benoist sinh năm 1968, cựu sinh viên trường Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm (Paris), hiện đang giảng dạy triết học tại Đại học Paris 1, và là thành viên của Institut Universitaire de France. Ông hiện đang thỉnh giảng tại Khoa Triết học, Đại học Chicago (Hoa Kỳ). Email: benoist@uchicago.edu.
933. Jérôme Melançon đã bảo vệ luận án tiến sĩ triết học về Maurice Merleau–Ponty, hiện đang giảng dạy triết học tại Đại học Alberta (Canada). Email: jerome. melancon@ augustana.ca.
934. Daniel Hémery là sử gia Pháp, chuyên gia hàng đầu về Đông Dương thời kỳ thuộc địa, hiện đang giảng dạy sử học tại Đại học Paris VII.
935. Philippe Papin sinh năm 1967, là sử gia người Pháp. Hiện ông đang công tác tại Viện Viễn Đông Bác Cổ (Hà Nội).
936. Giáo sư Tiến sĩ Trịnh Văn Thảo sinh năm 1938 tại Sài Gòn. Hiện ông đang giảng dạy sử học và xã hội học tại Đại học tổng hợp Aix–Marseilles.
937. Masoud Pourahmadali Tochahi hiện đang giảng dạy Triết học tại Đại học Paris III. Email: mptochahi@yahoo.fr.
938. Daniel Giovannangeli, quốc tịch Bỉ, sinh tại Sài Gòn. Hiện ông đang giảng dạy triết học tại Đại học Liege và là chuyên gia về triết học của Derrida. Email: D.Giovannangeli@ulg.ac.be.
939. Raoul Moati hiện đang giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm (Paris).
940. Alexandre Feron là nghiên cứu sinh về triết học tại Đại học Paris I, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Renaud Barbaras. Ông nghiên cứu mối quan hệ giữa chủ nghĩa Marx và hiện tượng luận trong triết học Pháp, đặc biệt là về những tương đồng và khác biệt trong tư tưởng triết học của Sartre,Merleau–Ponty và Trần Đức Thảo. Email: Alexandre.Feron@univ–paris1.fr.
941. Perrine Simon – Nahum (sinh năm 1960) là sử gia Pháp, bà là nghiên cứu viên tại Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp, chuyên nghiên cứu về lịch sử đạo Do Thái và cộng đồng người Do Thái tại Pháp. Email: pnahum@ehess.fr.
942. Hoai Huong Nguyen – Aubert hiện đang là giáo sư trợ giảng về văn học châu Á tại Đại học Versailles – Saint Quentin. Bà nghiên cứu chuyên sâu về văn học so sánh, và mối quan hệ văn hóa giữa phương Tây và vùng Viễn Đông. Email: HoaiHuong. Nguyen–Aubert@iut–velizy.uvsq.fr.
943. Michel Espagne (sinh năm 1952) là nhà ngôn ngữ học Pháp. Ông hiện đang giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm (Paris). Ông nghiên cứu chuyên sâu về quá trình chuyển giao văn hóa giữa hai dân tộc Pháp và Đức. Email: michel.espagne @ens.fr.
944. Nguồn: GIAO, Nguyễn Ngọc (2012).
945. Theo Jocelyn Benoist, tạp chí Les Temps modernes không lưu trữ được tài liệu này. Về phía Trần Đức Thảo, trước khi về nước năm 1952, ông đã trao những bản tốc ký cho ông Nguyễn Văn Chỉ; rất tiếc ông bà Nguyễn Văn Chỉ đã từ trần, không có hậu duệ.
946. GIAO, Nguyễn Ngọc (2011).
947. Nguồn: PHƯƠNG, Nguyễn Thụy (2012).
948. Nguồn: ĐẨU, Nguyễn Mạnh (2013). Ngay sau khi Hội thảo khoa học quốc tế “Tư tưởng triết học và giáo dục của Trần Đức Thảo” được tổ chức tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào ngày 7/5/2013, Ban tổ chức Hội thảo đã nhận được rất nhiều thư cảm ơn tới lãnh đạo Nhà trường và khoa Triết học. Để cuốn sách thêm phong phú, người biên soạn trân trọng xin phép Ban Tổ chức Hội thảo và tác giả giới thiệu bài viết này. (BS)
949. Bài phản biện bản thảo Triết gia Trần Đức Thảo: Di cảo, Khảo luận, Kỷ niệm (Nguyễn Trung Kiên sưu tầm và biên soạn). Tên bài do người biên soạn tạm đặt. (BS)
950. Giáo sư Bùi Đăng Duy yêu cầu tôi nên cân nhắc khi lựa chọn hướng nghiên cứu của luận án, theo Giáo sư nghiên cứu về phương Tây không thuận lợi vì một bộ phận các nhà khoa học vẫn cho rằng nghiên cứu về phương Tây là xa xỉ phẩm, không gắn với thực tế.
951. ĐỈNH, Trần Thái (2005), tr. 8.
952. Tố Hữu, Tiễn đưa (Bài thơ viết tặng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tháng 9/1964 trước lúc Đại tướng vào chiến trường miền Nam).
953. Cái gì có lý, cái ấy tồn tại, cái gì tồn tại, cái ấy có lý.
954. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2011a)
955. Xem: ĐỒNG, Lưu Phóng (1994), và: ĐỒNG, Lưu Phóng (2004). Từ những năm 1990, ở Việt Nam đã có chuyển mình tích cực trong nghiên cứu về hiện tượng luận, nhiều luận văn, luận án đã lấy hiện tượng luận làm đề tài như: Nguyễn Trọng Nghĩa (2008), Hiện tượng học của Edmund Husserl và sự hiện diện của nó ở Việt Nam.
956. Trong bản tự thuật 1987, Trần Đức Thảo viết: “Sartre mời tôi trao đổi ý kiến vì ông muốn chứng minh rằng chủ nghĩa hiện sinh rất có thể cùng tồn tại hòa bình với học thuyết Marx. Sartre không hiểu giá trị chủ nghĩa Marx về chính trị và lịch sử xã hội, ngay cả ý nghĩa triết học Marx, ông cũng không hiểu một cách nghiêm túc. Ông đề xuất một sự phân chia khu vực ảnh hưởng. Chủ nghĩa Marx có thẩm quyền chừng mực nào đó về các vấn đề xã hội, còn chỉ có chủ nghĩa hiện sinh mới khả dĩ có giá trị về mặt triết học. Tôi chỉ ra rằng cần hiểu nghiêm túc đầy đủ ý nghĩa triết học của chủ nghĩa Marx. Trong bài nói chuyện thứ 5 về những vấn đề cơ bản của triết học, mối quan hệ giữa ý thức và vật chất đã khai thông sự suy xét một vấn đề chủ yếu. Sartre không biết rõ những điều mới lạ của Husserl. Do đó mà cuộc nói chuyện phải chấm dứt”.
957. Là khái niệm nổi bật của chủ nghĩa hiện sinh và là mục đích hướng tới của chủ nghĩa hiện sinh hướng tới trong quan niệm về con người. Xem: DŨNG, Nguyễn Tiến (1999).
958. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2011a).
959. Tác giả thêm vào.
960. Nguồn: GIÀU, Trần Văn (1993).
961. Lênin đã để lại một nhận xét có tính phương pháp luận:” Chủ nghĩa duy tâm thông minh gần với chủ nghĩa duy vật thông minh hơn chủ nghĩa duy vật ngu xuẩn”. V. I. Lê-nin (1981), Toàn tập. Nxb. Tiến bộ, M., t. 29, tr. 293.
962. “Đừng bao giờ nói là điều không thể vì không ai biết giới hạn tận cùng của khả năng” (William James).
963. Nguồn: CHÚ, Nguyễn Đình (1993).
964. TS. Cù Huy Chử viết: “Trần Đức Thảo không bao giờ tự vừa lòng với những gì ông đã sáng tạo, đã công hiến. Có lẽ vì vậy trong cuộc sống, ít nhiều ông cảm thấy cô đơn”. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2011a).
965. Nguồn: DŨNG, Nguyễn Tiến (2003).
966. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2011a).
967. Nguồn: VŨ, Anh (2013).
Nguồn: KIÊN, Nguyễn Trung (2016). Các tài liệu tham khảo chính: ALEXANDER, J.C. & P. Smith (eds.) (2005); AMERIKS, K. (ed.) (2000); AUDI, R. (1999); BALDWIN, T. (ed.) (2003); BARING, E. (2011); BEANEY, M. (ed.) (2013); BEISER, F.C. (ed.) (1993); BEISER, F.C. (ed.) (2008); BENSUSSAN, G. & G. Labica (1985); BIDET, J. & S. Kouvelakis (eds.) (2008); BIRD, G. (ed.) (2006); BOUNDAS, C.V. (ed.) (2007); BRADATAN, C. & S.A. Oushakine (eds.) (2010); BORCHERT, D.M. (eds.) (2006); BROWN, S. & D. Collinson (eds.) (1995); BROWN, S., et al (eds.) (1998); BUNNIN, N. & E. P. Tsui–James (eds.) (2003); BUNNIN, N. & J. Yu (2004); CARD, C. (ed.) (2003); CARVER, T. (ed.) (1991); CHAMBERLAIN, L. (2007); CHRISTIAN, J. L. (2012) CHỦ, Cù Huy (2007); COLETE, J. (2011); COLLISON, D. & K. Plant (2006); COCHRAN, M. (ed.) (2010); CRAIG, E. (ed.) (2005); DIREK, Z. & L. Lawlor (eds.) (2014); DOSSE, F. [1992] (1997); DOSTAL, R.J. (ed.) (2002); DREYFUS, H.L. & M.A. Wrathall (eds.) (2005), (2006); EMBREE, L., et al (eds.) (1997); EMBREE, L. (2006); FROLOV, I. (ed.) [1967] (1984); GRIFFITHS, A.P. (1987); GUIGNON, C.B. (ed.) (1993); GUTTING, G. (ed.) (2005); GUYER, P. (ed.) (2006); HANNAY, A. & G.D. Marino (eds.) (1998); HONDERICH, T. (ed.) (2005); HOULGATE, S. & M. Baur (eds.) (2011); HUSSERL, E.[1929] (2011); JAMES, I. (2012); JARCZYK, G. & P.-J. Labarrière (1996); KHOA, Lê Xuân (2011); KLEINBERG, E. (2005); LAWLOW, L. (2012); LOEWER, B. & J. Scha er (eds.) (2015); LUT, Phm Trng (2006); LUFT, S. & S. Overgaard (eds.) (2012); MAGNUS, B & K. Higgins (eds.) (1996); MALPAS, S. & P. Wake (eds.) (2006); MARTINICH, A.P. & D. Sosa (eds.) (2001); MILKOV, N. (2003); MORAN, D. (2008); MULLARKEY, J. & B. Lord (eds.) (2009); NADLER, S. (ed.) (2002); NAM, T.Q. (2013); NEU, J. (ed.) (1991); PEARSON, K.A. (ed.) (2006); PEDEN, K. (2014); POIDEVIN, R.L., et al (eds.) (2009); PHƯƠNG, Hunh Nh (2008); PROTEVI, J. (2003); PROUDFOOT, M. & A.R. Lacey (2010); RABATÉ, J.-M. (ed.) (2003); RICKETTS, T. & M. Potter (eds.) (2010); ROCKMORE, T. (1995); RUNES, D. D. (ed.) (1942); RUSH, F.R. (ed.) (2004); QUÂN, ng Phùng (2004), (2010); RUTHERFORD, D. (ed.) (2006); SCHRIFT, A.D. (2006); SCOTT, C.E., et al (eds.) (2001); SHOOK, J.R. & J. Margolis (eds.) (2006); SLUGA, H.D. & D.G. Stern (eds.) (1996); SMITH, D.W. & H. Somers-Hall (eds.) (2012); SMITH, D.W. (2007); SMITH, S.B. (ed.) (2009); SOAMES, S. (2003), (2014); STEWART, J. (2010); STROLL, A. (2000); TYMIENIECKA, A.-T. (ed.) (2009); VANDENABEELE, B. (ed.) (2012); WALL, S. (ed.) (2015); WICKS, R. (2003); WIKIPEDIA (2006–2016); WOHL, R. (1979); WRATHALL, M.A. (2006); WHITE, S.K. (ed.) (1995); WICKS, R. (2003); YOUNG-EISENDRATH, P. & T. Dawson (eds.) (2008); ZALTA, E.N. (ed.) (2002).
Friedrich Nietzsche (1844 – 1900): nhà triết học Đức gốc Ba Lan, đồng thời là nhà phê bình văn hóa, nhà thơ, nhà soạn nhạc, học giả về La-tinh và Hy Lạp. Sinh ra trong gia đình Tin Lành ngoan đạo, sớm mồ côi cha, ông đã phải nếm trải một cuộc đời đầy nhọc nhằn: nghèo túng, cô đơn, bệnh tật, đau khổ, bị phủ định và bị chối từ... Ông chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa bi quan trong triết học của Schopenhauer, kết thân với nhà soạn nhạc vĩ đại Richard Wagner và chịu nhiều ảnh hưởng bởi Wagner. Với tuyên bố “Thượng đế đã chết” nhằm phủ định những nền tảng cơ bản của đạo đức Ki-tô giáo, cho rằng đó là nền đạo đức của kẻ hèn yếu, thù ghét và sợ hãi sức mạnh, sự kiêu hãnh và sự tự khẳng định, Nietzsche đã giúp hồi sinh chủ nghĩa thế tục thời kỳ Khai Sáng trong diễn trình triết học của thế kỷ XX. Ông để lại nhiều tác phẩm gây nhiều tranh cãi về các đề tài tôn giáo, luân lý, triết học, khoa học..., đồng thời tạo ra các khái niệm mới mẻ như ý chí quyền lực,đạo đức chủ nô-nô lệ, siêu nhân... Các tư tưởng triết học chính của ông được tập hợp trong tác phẩm ông xuất bản năm 1883, Also sprach Zarathustra [Zarathustra đã nói như thế ]. Với quan điểm chống chủ nghĩa bài Do Thái và chủ nghĩa dân tộc Đức, ông là một trong những triết gia có ảnh hưởng lớn nhất tới nhiều trường phái, khuynh hướng lớn của triết học hiện đại, đặc biệt là trong truyền thống triết học lục địa như chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hậu hiện đại, luận phân tâm... Nhà triết học Richard Rorty từng tuyên bố: toàn bộ triết học thế kỷ XX là triết học của “kỷ nguyên hậu-Nietzsche”.
Các thông tin về tiểu sử trong phần này chủ yếu được tham khảo từ các nguồn: AUDI, R. (ed.) (1999); BALDWIN, T. (ed.) (2003), BROWN, S., et al (eds.) (1998), HONDERICH, T. (ed.) (2005), và SCHRIFT, A.D. (2006).
Tác phẩm này cùng những tác phẩm quan trọng khác (nguyên bản và bản dịch) đều có thể được tìm thấy trên các Cơ sở dữ liệu sách điện tử miễn phí trên mạng Internet, trong đó phong phú nhất có lẽ là trang Book4You (www.book4you.org). Trang Web này cũng lưu trữ bản dịch tiếng Anh hai tác phẩm của Giáo sư Trần Đức Thảo, Phénoménologie et Matérialisme Dialectique, do Daniel J. Herman và D. V. Morano dịch, với tựa đề Phenomenology and Dialectical Materialism; và tác phẩm Recherches sur l’origine du langage et de la conscience, do Daniel J. Herman và R. L. Armstrong dịch, với tựa đề Investigations into the Origin of Language and Consciousness. Ngoài ra, các tác phẩm được giới thiệu trong bản Biên niên sự kiện này và phần Tài liệu khuyến nghị đọc thêm ở cuối sách cũng được cập nhật thường xuyên trên tài khoản Google Driver của cuốn sách này. (Địa chỉ: drive.google.com, Username: tdthaoreading; Password: 19171993).
Friedrich W. J. Schelling (1775–1854): nhà triết học Đức, bạn học thời đại học, và sau này là người đối đầu về tư tưởng với Hegel. Cuối đời, ông sáng tác nhiều tác phẩm về huyền thoại học và tôn giáo học. Tác phẩm Naturphilosophie [Triết học tự nhiên] của ông đánh dấu bước phát triển quan trọng của chủ nghĩa duy tâm Đức.
Bertrand Russell (1872–1970): nhà triết học, logic học, toán học, sử học, nhà phê bình xã hội và nhà hoạt động chính trị người Anh. Xuất thân trong gia đình quý tộc lâu đời, ông là một trong những người ủng hộ nền hòa bình, tự do dân chủ, giải trừ vũ khí hạt nhân và chống chủ nghĩa đế quốc nổi bật nhất của thế kỷ XX. Chịu ảnh hưởng lớn bởi Gottfried Leibniz, ông được coi là một trong ba trụ cột của truyền thống triết học phân tích, cùng với Gottlob Frege và Ludwig Wittgenstein. Ông cùng với G. E. Moore tham gia tích cực vào “cuộc nổi dậy chống lại chủ nghĩa duy tâm”, để lại ảnh hưởng lớn tới chủ nghĩa thực chứng logic của Nhóm Vienna sau này. Ông xem logic hình thức và khoa học là các công cụ cơ bản của triết học. Các tác phẩm của ông ảnh hưởng sâu rộng tới các ngành triết học về toán học, triết học ngôn ngữ, nhận thức luận, siêu hình học, đạo đức học, logic học, toán học, logic toán, lý thuyết tập hợp, ngôn ngữ học, khoa học máy tính, khoa học nhận thức, trí tuệ nhân tạo... Ông cũng nổi tiếng với những phê phán đối với chủ nghĩa phát-xít và chủ nghĩa toàn trị của Stalin. Ông cùng với Jean–Paul Sartre ngồi ghế chánh án trong phiên tòa xét xử tội ác trong chiến tranh Việt Nam. Ông được trao giải thưởng Nobel văn chương năm 1950 vì các tư tưởng nhân văn và sự đấu tranh cho tự do tư tưởng của con người.
Édouard Le Roy (1870 – 1954): nhà triết học Pháp. Ông nghiên cứu triết học sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ toán học. Là bạn của Teilhard de Chardin và Henri Bergson, ông đã được Bergson chỉ định kế nhiệm chức Chủ nhiệm Khoa Triết học Hy Lạp và La–tinh tại Collège de France. Kế thừa tư tưởng của Bergson, Le Roy đã nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa khoa học và luân lý – những ý tưởng được định hình trong quá trình thảo luận với các nhà khoa học lớn cùng thời với ông như Henri Poincaré và Pierre Duhem. Ông cũng có nhiều đóng góp cho ngành triết học về tôn giáo.
Giusepple Penano (1858 – 1932): nhà toán học và logic học người Ý, tác giả của hơn 200 cuốn sách và công trình nghiên cứu về toán học và logic học. Ông là người đưa ra hệ tiên đề cho dãy số tự nhiên, ngày nay mang tên hệ tiên đề Peano. Ông cũng là người đi tiên phong trong việc truyền bá logic ký hiệu.
Wilhelm Dilthey (1833–1911): nhà sử học, tâm lý học, xã hội học và triết học người Đức, từng làm Chủ nhiệm Khoa Triết học tại Đại học Berlin. Ông sớm nhận ra những hạn chế của việc ứng dụng thực chứng luận trong khoa học xã hội và nhân văn. Ông ủng hộ chủ nghĩa kinh nghiệm và phê phán chủ nghĩa duy tâm. Ông nỗ lực xây dựng phương pháp luận thống nhất cho các khoa học tinh thần, xác lập nên trường phái lịch sử tinh thần, hay triết học văn hóa, vì ông tin rằng phương pháp khoa học tự nhiên không thích hợp với các khoa học xã hội-nhân văn. Theo ông, vì ngôn ngữ là sự diễn tả trọn vẹn nhất về đời sống nội tâm của con người, nên ngôn ngữ nói chung và thông diễn học nói riêng là một công cụ quan trọng nhất của các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Ông có ảnh hưởng lớn đến các nhà triết học hiện sinh thế hệ sau, đặc biệt là Heidegger.
Edmund Husserl (1859–1938): nhà triết học và toán học Đức, gốc Do Thái. Thời trẻ, ông theo học toán học với Karl Weierstrass và triết học với Franz Brentano & Carl Stumpf, bảo vệ luận án tiến sĩ toán tại Đại học Halle, rồi giảng dạy triết học tại các Đại học Göttingen và Freiburg. Thời gian đầu, ông nỗ lực kết hợp toán học với tâm lý học và triết học để tạo ra nền tảng mới, chắc chắn hơn cho toán học. Sau nhiều năm nghiên cứu để tiếp thu tiến bộ và phê phán hạn chế của các ngành toán học, logic học, lý thuyết về tri thức, bản thể luận, tâm lý học mô tả..., tiếp thu triết học Kant và khái niệm ý hướng tính (intentionality) của Franz Brentano, Husserl đã hình thành và phát triển hiện tượng luận (phenomenology), trên cơ sở phê phán chủ nghĩa tâm lý & chủ nghĩa duy sử, cũng như sự đoạn tuyệt với định hướng thực chứng trong khoa học và triết học của thời đại mình, qua đó đưa triết học trở thành một khoa học chính xác, với lời kêu gọi: “Quay trở về với chính sự vật”. Các tác phẩm của Husserl nỗ lực xác định nên cấu trúc lý tưởng và thiết yếu của ý thức, nhằm nhận thức một cách đầy đủ và chính xác nhất về bản chất của tất cả các sự vật, hiện tượng. Ông nỗ lực kết hợp triết học duy chủ thể và triết học duy nghiệm để hoàn thiện hiện tượng luận nhằm khẳng định hai luận đề quan trọng: 1) ý thức bao giờ cũng là ý thức về một cái gì đó; và 2) đối tượng bao giờ cũng là đối tượng cho một ý thức nào đó. Phương pháp của ông là “cho vào ngoặc đơn” các dữ kiện của ý thức bằng cách để lơ lửng mọi tri giác, đặc biệt những tri giác rút tỉa từ “điểm quan sát mang tính tự nhiên chủ nghĩa”. Từ đó, ông kết luận rằng ý thức không có đời sống tách biệt với các đối tượng được nó xem xét. Trong các tác phẩm về sau, ông chuyển hướng sang chủ nghĩa duy tâm và không chấp nhận quan điểm cho rằng các đối tượng hiện hữu bên ngoài ý thức. Phương pháp quy giản hiện tượng luận do ông đề xuất đã trở thành nền tảng để thiết lập các tư tưởng mới trong triết học và logic học hiện đại. Các tư tưởng của ông về tính ý hướngđã góp phần khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa nhị nguyên của Descartes về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Ông xây dựng và hoàn thiện một loạt khái niệm quan trọng của hiện tượng luận như trực giác bản chất, ý thức về thời gian hướng nội, hiện tại sống động, thế giới-đời sống..., qua đó mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới cho triết học và khoa học để thâm nhập sâu hơn vào thế giới tinh thần của con người hiện đại, nắm bắt và mô tả cơ cấu của ý thức cá nhân ở tất cả những hình thức hoạt động thực tiễn đa dạng, và khách quan hóa nó trong đời sống xã hội. Để lại cho hậu thế khoảng 40.000 trang bản thảo, ông trở thành một trong số các nhà triết học vĩ đại có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX, ảnh hưởng sâu đậm đến không chỉ các trường phái, khuynh hướng, trào lưu trong triết học đương đại, mà còn tới tâm lý học phân tích, khoa học nhận thức, trí tuệ nhân tạo... Một số triết gia thế hệ sau chịu ảnh hưởng của ông gồm Heidegger, Fink, E. Lévinas, J.–P. Sartre, Merleau–Ponty, G. Marcel, Trần Đức Thảo…
Alexander Pfänder (1870–1941): nhà hiện tượng luận Đức, một trong những sáng lập viên của Nhóm hiện tượng luận Munich. Chịu ảnh hưởng của Schopenhauer và Nietzsche, ông sử dụng những tiến bộ trong nghiên cứu tâm lý học để phát triển hiện tượng luận theo hướng mới, khác biệt với hiện tượng luận tiên nghiệm của Husserl. Các bài giảng của ông trong nhiều thập niên tại Đại học Munich và các đại học lớn của châu Âu đã góp phần hoàn thiện nền móng cho hiện tượng luận, logic, nhận thức luận cũng như bộ môn tâm lý học hiện tượng luận (phenomenological psychology), và để lại ảnh hưởng đến các triết gia thế hệ sau như H. Spiegelberg, Karl Schuhmann, Paul Ricoeur...
Eduard von Hartmann (1842–1906): nhà triết học Đức. Ông để lại nhiều nghiên cứu giá trị về siêu hình học, đạo đức học và mĩ học. Gọi triết học của mình là chủ nghĩa duy thực tiên nghiệm (transcendental realism), trên tinh thần kế thừa triết học thực chứng củaSchelling, đồng thời phê phán những hạn chế trong siêu hình học của Hegel và Schopenhauer, ông đưa ra nhiều kiến giải mới mẻ về sự tiến hóa của ý thức và vai trò của cái vô thức trong quá trình tiến hóa của loài người, qua đó ảnh hưởng tới tư tưởng của Freud và trường phái tâm lý học Zurich. Cho rằng cái ác là cần thiết cho sự tồn tại, và hạnh phúc của con người là một ảo tưởng không thể đạt được, triết học của ông chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa bi quan.
Max Scheler (1874–1928): nhà triết học đạo đức và triết học xã hội người Đức, gốc Do Thái. Ông giảng dạy triết học tại nhiều trường đại học lớn của Đức và thỉnh giảng tại nhiều nước trên thế giới. Tư tưởng triết học của ông được định hình trên cơ sở tổng hợp những nội dung tiến bộ của đạo đức học, siêu hình học, nhận thức luận, tôn giáo học, xã hội học về tri thức..., qua đó tạo ra dấu ấn lớn trong triết học Đức hiện đại nói riêng và châu Âu nói chung, mặc dù các tác phẩm của ông bị cấm suốt thời kỳ phát-xít Đức lên cầm quyền. Scheler đã tạo dựng những nền tảng quan trọng để Husserl tiếp thu nhằm phát triển hiện tượng luận lên tầm cao mới. Đưa ra những phê phán gay gắt đối với hiện tượng luận của Husserl, nghi ngờ tuyên bố của Husserl cho rằng hiện tượng luận sẽ giúp triết học trở thành một khoa học chính xác, Scheller khẳng định hiện tượng luận của Husserl cần được củng cố bởi các định luật nghiêm ngặt của logic học trước khi trở thành nền tảng cho các khoa học định lượng và khoa học nhân văn. Các quan điểm triết học về đời sống của Scheler (về ý nghĩa của sự hiện hữu làm người, về giá trị và về tình cảm yêu/ghét...), trên tinh thần kế thừa tư tưởng triết học của Plato và đạo đức Thiên Chúa giáo (yêu thương đồng nghĩa với cho đi), đã ảnh hưởng lớn tới các nhà triết học hiện sinh thế hệ sau. Ông cũng để lại nhiều công trình giá trị về các hiện tượng tâm lý của con người (oán giận, xấu hổ, khiêm tốn, lòng sùng kính...), về luân lý trong chính trị, và về bản chất của chủ nghĩa tư bản... Một số công trình cuối đời của ông về nhân chủng triết học(philosophical anthropology) - một bộ môn mà ông chủ xướng, kế thừa những thành tựu lớn của các ngành khoa học như sinh học, tâm lý học, xã hội học... nhằm mô tả tiến trình vĩ đại, tự diễn ra từ từ để hình thành nên sự thống nhất của con người và định mệnh con người trong vũ trụ, đã góp phần khẳng định các giá trị tiến bộ phổ quát của nhân loại, đồng thời phê phán quan điểm cực đoan của Nietzsche về diễn trình tư tưởng của loài người. Husserl từng tuyên bố rằng tất cả các triết gia của thế kỷ XX đều “mắc nợ” với tư tưởng triết học của Scheler.
Karl Vorländer (1860–1928): nhà triết học Đức thuộc trường phái Kant mới Marburg, và là một chuyên gia hàng đầu về triết học Kant. Ông ủng hộ phong trào xã hội chủ nghĩa theo hướng dân chủ xã hội.
Émile Boutroux (1845–1921): nhà triết học Pháp xuất sắc, có nhiều đóng góp trong triết học về khoa học và triết học về tôn giáo. Chịu ảnh hưởng của triết học cổ điển Đức, ông đã phát triển tư tưởng của Kant trong những công trình triết học về khoa học của mình. Ông phản đối chủ nghĩa duy vật trong khoa học, đồng thời kêu gọi sự “hòa giải” giữa khoa học và tôn giáo.
Henri Bergson (1859–1941): nhà triết học, nhà văn Pháp, gốc Do Thái, Giải thưởng Nobel Văn chươngnăm 1927. Sau khi tốt nghiệp thạc sĩ triết học tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm ở tuổi 22, ông giảng dạy triết học một thời gian trước khi bắt đầu khởi thảo một loạt ý tưởng triết học quan trọng. Ông là người khởi xướng “triết học tiến trình”, vốn phản bác những giá trị tĩnh tại và ủng hộ những giá trị của sự vận động, thay đổi và tiến hóa. Ông cũng phát triển thuyết “trực giác”, một luận thuyết ảnh hưởng lớn đến triết học và văn chương. Ông cho rằng sự tiến hóa không đơn giản là quá trình thích ứng cơ học thụ động của các cá thể đối với môi trường sống, mà là một quá trình sáng tạo có định hướng. Việc nắm bắt và hiểu cuộc sống không chỉ dựa vào tư duy logic và phương pháp phân tích lí tính. Theo ông, chỉ có bằng lí hội trực giác mới nắm được hiện thực, phải phân biệt “thời gian toán học” đo bằng đồng hồ và “thời gian trực cảm” (duree) của đời sống nội tâm luôn luôn vận động trong một chỉnh thể thống nhất. Về quan niệm sự sống, ông chủ trương thuyết sức sống, “sự tiến hóa sáng tạo” mà cơ sở là “đà sống” (élan vital). Nhờ William James, các tác phẩm triết học xuất sắc của Bergson bắt đầu được biết đến và đánh giá cao tại Anh và Hoa Kỳ. Bergson đã đưa vào triết học cảm hứng và sự quan tâm đến giá trị và tính duy nhất không thể thay thế của cá nhân con người.
Émile Durkheim (1858 – 1917): nhà xã hội học Pháp, đặt nền móng xây dựng chủ nghĩa chức năng (functionlism) và chủ nghĩa cấu trúc (structuralism), đóng góp lớn cho sự phát triển của xã hội học và nhân chủng học. Những nỗ lực của ông đã giúp xã hội học trở thành một môn khoa học xã hội được chấp nhận trong giới hàn lâm. Ông đã thuyết trình và xuất bản nhiều công trình về các chủ đề như giáo dục, tội phạm,tôn giáo, tự tử và nhiều mặt khác của xã hội.
Lucien Lévy–Bruhl (1857 – 1939): nhà triết học, xã hội học và nhân chủng học người Pháp. Ông để lại nhiều nghiên cứu đặc biệt giá trị về nhân chủng học và dân tộc học thời kỳ nguyên thủy, trong đó có nhiều tác phẩm được đánh giá cao hơn cả Claude Lévi–Strauss. Ông từng cộng tác với nhà xã hội học Émile Durkheim. Ông để lại nhiều ảnh hưởng đến Carl Jung.
Jules de Gaultier (1858 – 1942): nhà triết học Pháp, chịu ảnh hưởng của Schopenhauer và Nietzsche.
Léon Brunschvicg (1869–1944): nhà triết học duy tâm người Pháp. Ông giảng dạy triết học tại Đại học Sorbonne trong giai đoạn 1909–1940. Cùng với Henri Bergson, ông có ảnh hưởng đặc biệt tới triết học Pháp trong khoảng ba thập niên đầu tiên của thế kỷ XX. Những công trình nghiên cứu của ông về triết học của Pascal, Spinoza và Descartes đã đưa chủ nghĩa duy tâm tại Pháp phát triển lên tầm cao mới. Ông cũng có nhiều khảo cứu giá trị trong triết học về khoa học và triết học về tôn giáo.
Sigmund Freud (1856 – 1939): bác sĩ thần kinh và nhà tâm lý học người Áo. Sau khi nghiên cứu về chứng liệt não, chứng mất ngôn ngữ và giải phẫu thần kinh vi mô tại Bệnh viện Đa khoa Vienna, ông bảo vệ luận án tiến sĩ, bắt đầu giảng dạy đại học và xây dựng những nền móng đầu tiên của luận phân tâm. Để hoàn thiện kỹ thuật phân tích tâm lý, một phương pháp lâm sàng để điều trị các bệnh rối loạn tâm thần bằng cách tiến hành các cuộc đối thoại giữa bệnh nhân và nhà phân tâm, Freud đã phát triển nhiều kỹ thuật trị liệu mới mẻ, đặc biệt là kỹ thuật tự do liên tưởng. Việc tái xác lập vai trò của tính dục trong thời kỳ thơ ấu đã giúp ông hoàn thiện khái niệm phức cảm Œdipe - một khái niệm nền tảng của luận phân tâm. Phân tích của ông về giấc mơ như là sự giải tỏa uẩn ức được hình thành bởi các mong muốn chưa được thỏa mãn đã giúp ông xác lập nên các mô thức để phân tích lâm sàng về sự hình thành và cơ chế của hiện tượng dồn nén tâm lý, qua đó giúp ông hoàn thiện lý thuyết về cái vô thức. Ông phát hiện ra sự tồn tại của libido - xung năng tính dục được cấu thành bởi các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội, giúp hình thành tình cảm luyến ái, sự thèm khát nhục dục cũng như các triệu chứng loạn thần kinh chức năng. Ông chia sự phát triển của libido ở người thành năm giai đoạn: 1,5-3 tuổi (khoái cảm khi bú mẹ); 3-5 tuổi (khoái cảm khi trẻ đi đại tiện); 5-7 tuổi (khoái cảm trẻ thơ khi con trai thì yêu mẹ và con gái thì yêu bố); 7-12 tuổi (cảm giác thích những bạn khác giới); sau 12 tuổi (khoái cảm nhục dục). Trong các tác phẩm cuối đời, ông đưa ra nhiều phê phán sắc sảo về tôn giáo và văn hóa. Mặc dù tạo ra nhiều tranh cãi quyết liệt, nhưng luận phân tâm của Freud đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của triết học và khoa học xã hội-nhân văn trong các thập niên sau, và giúp ông trở thành một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX.
FREUD, S. [1900] (2005). Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ. Ngụy Hữu Tâm và cộng sựdịch. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
Carl Jung (1875–1961): bác sĩ tâm thần và nhà tâm lý học trị liệu người Thụy Sĩ. Ông sáng lập trường phái Tâm lý học phân tích, trong đó có nhiều khác biệt so với luận phân tâm của Freud. Khái nệm cốt lõi của tâm lý học phân tích là cá tính hóa - một tiến trình tâm lý tích hợp các mặt đối lập, trong đó có cả hữu thức vàvô thức, đồng thời vẫn duy trì sự độc lập tương đối của các mặt đối lập ấy. Ông coi cá tính hóa đóng vai trò trung tâm trong sự phát triển của con người. Tuy không phải là người đầu tiên nghiên cứu về giấc mơ nhưng ông đã có nhiều phát kiến quan trọng trong lĩnh vực này. Ông xây dựng nhiều khái niệm quan trọng nhưarchétype (cổ mẫu); introvert–extrovert (hướng nội – hướng ngoại), mid–life crisis (khủng hoảng tuổi trung niên)... Các tác phẩm của ông đã ảnh hưởng lớn tới triết học, nhân chủng học, khảo cổ học, văn chương và nghiên cứu tôn giáo.
Harald Høffding (1843-1931): nhà triết học Đan Mạch, chịu ảnh hưởng của Kant, Kierkegaard, Auguste Comte và Herbert Spencer. Ông theo chủ nghĩa vị lợi Anh và ủng hộ chủ nghĩa nhân văn tự do. Các tác phẩm của ông đề cập đến nhiều vấn đề rộng lớn của triết học và tâm lý học. Về nhận thức luận, ông chịu ảnh hưởng của toán học và cơ học cổ điển.
Kazimierz Twardowski (1866–1938): nhà triết học và logic học Ba Lan. Ông từng là học trò của Franz Bretano tại Đại học Vienna trước khi về nước thành lập Trường phái triết học Lvov–Warsaw, với sự tham gia của các nhà triết học hàng đầu như RomanIngarden… Ông đóng góp nhiều trong việc phát triển ngành tâm lý học tại Ba Lan.
Benedetto Croce (1866–1952): nhà triết học duy tâm người Ý. Ông xuất thân trong gia đình Công giáo giàu có và đầy thế lực. Ông chịu ảnh hưởng của Hegel và các nhà duy tâm Đức từ thời trẻ. Ông xem tôn giáo là một thể chế mà qua đó sức mạnh sáng tạo của con người được thể hiện. Ông nỗ lực “hòa giải” những xung đột giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý bằng cách nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm cá nhân. Cho rằng triết học là một khoa học về tinh thần, ông để nhiều khảo cứu giá trị về triết học, logic học, mĩ học và lịch sử. Tư tưởng tự do của ông đã ảnh hưởng lớn đến giới trí thức Ý thế hệ sau, trong đó có Antonio Gramsci.
Aleksey Khomyakov (1804-1860): nhà thần học, triết học và nhà thơ Nga. Theo ông, phương Tây đã thất bại trong việc giải quyết các vấn đề tinh thần của con người bởi nó đề cao cạnh tranh thay vì hợp tác. Tư tưởng của ông ảnh hưởng lớn đến Giáo hội Chính thống giáo Nga và các triết gia, văn nghệ sĩ thế hệ sau như Dostoyevsky, Solovyov. Herzen...
Vasilii Vasil’evich Rozanov (1856-1919): nhà triết học, nhà phê bình tôn giáo và văn hóa người Nga. Ông từng phải nếm trải nhiều đau khổ trong hôn nhân và đời sống gia đình: ông kết hôn với Appolinaria Suslova, hơn ông 24 tuổi và từng là tình nhân của Dostoevsky, và mặc dù không cùng chung sống với Suslova kể từ năm 1887, nhưng vì bà không đồng ý ly dị với ông, nên ông phải cưới người vợ thứ hai, Varvara Butiagina, trong bí mật, và các con của ông với Butiagina không được Nhà thờ Chính thống giáo của Nga thừa nhận. Là một trong số những triết gia tiên phong chống lại chủ nghĩa nhị nguyên của Descartes, ông đề xuất các luận điểm mới mẻ về nhận thức luận trên cơ sở “hòa giải” giữa khoa học và triết học. Ông để lại nhiều tác phẩm giá trị về “siêu hình học về tính dục”, nhấn mạnh các giá trị tinh thần của đời sống tính dục. Các tác phẩm triết học của ông bị quên lãng trong thời gian dài và mới chỉ giành lại được sự quan tâm của cộng đồng triết học kể từ cuối thập niên 1980.
Rosa Luxemburg (1871–1919): nhà triết học mác-xít, nhà kinh tế học và nhà cách mạng người Đức gốc Ba Lan, theo đạo Do Thái. Bà là đảng viên của Đảng Xã hội Dân chủ và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Đức. Thông qua những phê phán sâu sắc đối với chủ nghĩa Marx-Lenin và chủ nghĩa xã hội, bà nỗ lực đưa chủ nghĩa Marx–Lenin theo hướng dân chủ xã hội, qua đó ảnh hưởng lớn đến phong trào cánh tả trên thế giới.
PLATO & XENOPHON (2006). Socrates tự biện. Nguyễn Văn Khoa dịch, tiểu dẫn, chú thích. Hà Nội: Nxb. Tri thức; PLATO (2011). Đối thoại Socratic 1. Nguyễn Văn Khoa dịch, chú giải và dẫn nhập. Hà Nội: Nxb. Tri thức; PLATO (2013). Ngày cuối trong đời Socrates. Đỗ Khánh Hoan dịch. Hà Nội: Nxb. Thế giới & Công ty Sách Alpha.
Paul Deussen (1845–1919): nhà triết học và học giả về phương Đông người Đức. Là học trò của Schopenhauer và bạn của F. Nietzsche, ông đồng thời cũng là chuyên gia hàng đầu về đạo Hindu và ngôn ngữ Sanskrit. Ông có công lớn trong việc truyền bá triết học của Schopenhauer cho các thế hệ sau.
Paul Natorp (1854–1924): nhà triết học và giáo dục học người Đức, thành viên chính của Trường phái Kant mới Marburg, và là một chuyên gia hàng đầu về triết học Plato. Ông có ảnh hưởng lớn đến các nhà hiện tượng luận sau này như Husserl, Cassier…
FREUD, S. [1901] (2002). Bệnh lý học tinh thần trong đời sống hàng ngày. Trần Khang dịch. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Thông tin.
J. M. E. McTaggart (1866 – 1925): nhà siêu hình học duy tâm người Anh, dành gần trọn cuộc đời dạy học tại Trinity College (Cambridge). Ông là một học giả hàng đầu về Hegel và là một trong những nhà triết học duy tâm Anh xuất sắc nhất.
Xavier Léon (1868–1953): nhà triết học người Pháp. Ông để lại nhiều tác phẩm giá trị về lịch sử triết học, đặc biệt là triết học của Fichte.
André Lalande (1867–1963): nhà triết học người Pháp. Ông có nhiều năm giảng dạy tại Đại học Sorbonne và Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Ông có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chủ nghĩa duy lý tại Pháp.
Josiah Royce (1855–1916): nhà triết học duy tâm người Mỹ. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành triết học về toán học và triết học về logic trong thời gian giảng dạy tại Đại học Harvard.
Élie Halévy (1870 – 1937): nhà triết học và nhà sử học về chủ nghĩa tự do người Pháp gốc Do Thái, xuất thân trong gia đình có truyền thống học thuật. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm phố d’Ulm, ông nghiên cứu sâu về siêu hình học và triết học của Plato. Là người ủng hộ nhiệt thành chochủ nghĩa tự do, ông là một trong những triết gia Pháp đầu tiên cảnh báo về chủ nghĩa phát–xít và chủ nghĩa cộng sản.
Georges Palante (1862 –1925): nhà triết học và xã hội học Pháp, ủng hộ chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tinh hoa. Ông từng theo học tại Đại học Sorbonne nhưng bỏ dở việc bảo vệ luận án tiến sĩ. Các tác phẩm của ông đề cập nhiều đến những mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Nietzsche và Freud.
Dmitry Merzehkovsky (1866–1941): nhà tiểu thuyết, nhà thơ, nhà phê bình văn học và nhà tư tưởng tôn giáo người Nga. Ông thành công trong việc thể hiện tư tưởng tôn giáo và triết học (đặc biệt là chủ nghĩa duy tâm) trong các sáng tác văn chương của mình. Cuối đời, ông lên tiếng phản đốichủ nghĩa toàn trị của Stalin. Ông bị gạt sang bên lề trong đời sống văn học Xô–viết và được phục hồi sau khi Liên Xô sụp đổ.
Nicolas Berdyaev (1874 – 1948): nhà triết học Thiên Chúa giáo người Pháp gốc Nga. Ông là một trong những đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh Thiên Chúa giáo. Theo ông, từ khởi thủy, Thượng đế đã sáng tạo ra con người cùng với trạng thái tự do tuyệt đối của nó. Tự do có thể dẫn tới cả cái tốt lẫn cái xấu. Cái xấu xuất hiện khi tự do quay lại chống lại chính nó, và cầm tù con người trong những thứ “xuẩn ngốc” của nghệ thuật, khoa học và tôn giáo – những thứ vốn cấu thành nên các loại thể chế khác nhau như xã hội, nhà nước, quốc gia, giáo hội… Ông chống lại chủ nghĩa duy lý, vì theo ông, mục đích tối hậu của sự tồn tại người là giải phóng và tự giải phóng, thông qua sự minh triết và tình yêu, để đạt tới tự do. Các tác phẩm của ông là vũ khí chống lại những hình thái xã hội không tưởng đầy cạm bẫy của quá khứ và tương lai.
Peter Kropotkin (1842–1921): nhà triết học, sinh vật học, địa lý học, nhà cách mạng và hoạt động xã hội người Nga.
Franz Brentano (1838–1917): nhà triết học và tâm lý học Đức, có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của hiện tượng luận tại Đức. Chịu ảnh hưởng của triết học Aristotle, ông đã giải quyết triệt để vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, và phân biệt các hiện tượng vật lý và các hiện tượng tâm thần. Ông cũng có nhiều đóng góp cho ngành triết học về nhận thức. Brentano đã làm phục sinh khái niệm ý hướng tính thông qua các bài giảng của mình. Tư tưởng triết học của ông đã hình thành nên trường phái Brentano và ảnh hưởng lớn đến thế hệ sau.
Hans Vaihinger (1852-1933): nhà triết học Đức, chuyên gia hàng đầu về triết học Kant, đồng sáng lập tạp chí Kant-Studien [Nghiên cứu Kant] và Annalen der Philosophie [Niên giám triết học]. Ông cho rằng sẽ không thể tìm ra mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Ông chịu ảnh hưởng của tiến hóa luận và xem loài người là “một loài khỉ phải chịu đau khổ bởi mắc chứng hoang tưởng tự đại”.
Ernst Cassirer (1874–1945): nhà triết học Đức, một đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa duy tâm Đức hiện đại. Ông giảng dạy tại Đại học Berlin và Đại học Hamburg trước khi di cư sang Mỹ để giảng dạy tại Đại học Yale và Columbia. Ông có nhiều đóng góp trong triết học về khoa học và triết học về văn hóa, cũng như những phê phán về nhà nước hiện đại. Ông để lại nhiều khảo cứu giá trị về Plato, Descartes, Leibniz, Kant, Rousseau. Toàn tập Cassirer gồm 18 tập đã được xuất bản liên tục trong giai đoạn 1995–2010, tập hợp hơn 120 tác phẩm và nhiều bài nghiên cứu chưa công bố của ông.
Hermann Cohen (1842–1918): nhà triết học Đức gốc Do Thái, được xem là một trong những nhà triết học Do Thái quan trọng nhất của thế kỷ XIX. Là chuyên gia hàng đầu về triết học Kant, ông cũng là một trong những sáng lập viên của Trường phái Kant mới Marburg.
Emil Lask (1875–1915): nhà triết học Đức, một thành viên quan trọng của Trường phái Kant mới. Ông để lại nhiều ảnh hưởng đến Heidegger và Lukács.
Axel Hägerström (1868– 1939): nhà triết học và luật học Thụy Điển. Ông tốt nghiệp tại Đại học Uppsala và giảng dạy tại đây cho đến năm 1933. Ông được coi là người sáng lập trường phái triết học thực chứng Uppsala, chia sẻ nhiều tương đồng với truyền thống triết học phân tích Anh-Mỹ vàchủ nghĩa thực chứng logic của Nhóm Vienna.
Heinrich Rickert (1863–1936): nhà triết học Đức, thành viên chủ chốt của Trường phái Kant mới tại Baden (Baden School of Neo–Kantians). Tư tưởng của ông ảnh hưởng lớn đến Max Weber, Heidegger và Lukács.
Gaston Milhaud (1858-1918): nhà triết học Pháp. Chịu ảnh hưởng bởi Émile Boutroux, ông cùng với một nhóm triết gia Pháp gồm Henri Poincaré, Pierre Duhem, và Édouard Le Roy phản đối sự võ đoán trong khoa học, đồng thời nhấn mạnh vai trò của trực giác và sự ngẫu nhiên trong quá trình xây dựng các lý thuyết khoa học.
Henri Poincaré (1854 – 1912): nhà toán học, vật lý lý thuyết, kỹ sư và triết học về khoa học người Pháp, có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng trong toán học lý thuyết, toán học tôpô, toán lý và cơ học thiên thể.
Alfred Fouillée (1838 – 1912): nhà triết học Pháp, có nhiều nghiên cứu giá trị về lịch sử triết học phương Tây và triết học Pháp.
William James (1842–1910): nhà triết học và tâm lý học người Mỹ, một trong những nhà triết học hàng đầu của Mỹ và được coi là “cha đẻ của ngành tâm lý học Mỹ”. Cùng với, Charles Sanders Peirce và JohnDewey, ông được xem là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa kinh nghiệm cấp tiến. Tư tưởng của ông ảnh hưởng lớn đến nhiều thế hệ triết gia sau này, trong đó có Durkheim, Husserl, Russell, Wittgenstein, Richard Rorty…
Georges Sorel (1847 – 1922): nhà triết học và xã hội học Pháp, nổi tiếng với lý thuyết về chủ nghĩa công đoàn cách mạng, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Marx vào Pháp. Là học trò của Henri Bergson tại Collège de France, ông chịu ảnh hưởng của Proudhon,Marx, và Lenin. Ông cũng tham gia cộng tác với các tạp chí mác-xít và cánh tả đầu tiên của Pháp như L’Ère nouvelle, Le Devenir social, và L’Humanité nouvelle. Những công trình của ông đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chủ nghĩa Marx ở nhiều nước phương Tây và các nước thuộc thế giới thứ ba.
Antonio Labriola (1843–1904): nhà lý thuyết mác-xít người Ý. Tư tưởng của ông cởi mở và hướng về tự do nhiều hơn so với các nhà mác-xít chính thống như Karl Kautsky. Ông có nhiều ảnh hưởng tới các nhà mác-xít và cộng sản Ý thế hệ sau, trong đó có Antonio Gramsci.
Karl Kautsky (1854–1938): nhà triết học, nhà lý thuyết Mác-xít nhà báo và người Đức gốc Séc, theo khuynh hướng dân chủ xã hội. Ông được thừa nhận là đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa Mác chính thống sau khi Engels qua đời, được các học giả mệnh danh là “vị giáo chủ của chủ nghĩa Marx”. Nổi tiếng bởi các cuộc bút chiến sắc sảo với những người Bolshevik, ông công khai phê phán Cách mạng tháng Mười Nga và những người tiến hành cuộc cách mạng này, trong đó có Lenin và Trotsky, đồng thời thể hiện sự bất đồng chính kiến đối với nhà nước Xô-viết. Ông có ảnh hưởng lớn đếnphong trào dân chủ xã hội tại Đức và Đông Âu.
Sergei Bulgakov (1871–1944): nhà thần học Chính thống giáo, triết học và kinh tế học người Nga. Ông chịu ảnh hưởng bởi Schelling, Tolstoy, Dostoyevsky, Solovyov. Lenin gọi triết học của ông là “tự do phản cách mạng”. Năm 1922, ông cùng với hơn 160 trí thức lớn của Nga bị chính phủ Bolshevik của Lênin trục xuất khỏi Liên Xô. Các tác phẩm về thần học và triết học của ông tạo ra sự tranh luận rộng rãi.
Gottlob Frege (1848 – 1925): nhà toán học, logic học và triết học Đức. Ông là người sáng lập ngành logic học hiện đại và gia cố nền móng cho nền tảng của toán học hiện đại, đồng thời là người khai sinh triết học phân tích. Ông cũng có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành triết học về ngôn ngữ.
Johannes Daubert (1877–1947): nhà hiện tượng luận Đức. Ông có nhiều thời gian sinh sống và nghiên cứu triết học tại Monacco. Thời trẻ, ông từng tham dự các bài giảng và thảo luận với Edmund Husserl, được Husserl gửi gắm nhiều kỳ vọng.
Adolf Reinach (1883–1917): nhà triết học Đức, thành viên tiêu biểu của trường phái hiện tượng luận Munich. Ông có nhiều đóng góp cho ngành triết học về luật pháp.
Friedrich Rittelmeyer (1872 – 1938): nhà thần học người Đức, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của Thiên Chúa giáo tại Đức. Xuất thân trong gia đình có truyền thống Thiên Chúa giáo lâu đời, ông chịu ảnh hưởng của triết học Nietzsche và từng cộng tác với Rudolf Steiner.
Charles Renouvier (1815–1903): nhà triết học duy tâm Pháp, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của triết học Pháp. Ông kế thừa triết học của Kant và Leibniz để phát triển quan điểm triết học của mình nhằm bảo vệ tự do của con người.
G. E. Moore (1873 – 1958): nhà triết học Anh, giảng dạy lâu năm tại Đại học Cambridge. Ông được thừa nhận là một trong những nhà sáng lập của truyền thống triết học phân tích, cùng với Russell, Wittgenstein và Frege. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành đạo đức học, nhận thức luận và siêu hình học.
F. C. S. Schiller (1864-1937): nhà triết học Anh gốc Đức, theo chủ nghĩa thực dụng. Ông cho rằng “chân lý” chỉ là sản phẩm của sự sáng tạo của con người, và mọi tri thức của con người đều mang tính chủ quan. Ông ủng hộ thuyết duy ngã, vốn cho rằng con người chỉ có thể hiểu được chính bản thân mình. Luận điểm siêu hình học của ông là sự dung hòa giữa chủ nghĩa duy tâm chủ quan và thuyết tiến hóa. Về cuối đời, ông ủng hộ chủ nghĩa phát-xít, coi đó là một công cụ để tạo ra con người “siêu nhân”.
Charles Sanders Peirce (1839 – 1914): nhà triết học Hoa Kỳ, cha đẻ của chủ nghĩa thực dụng và ngành ký hiệu học. Ông có nhiều đóng góp to lớn cho các ngành logic học, toán học, ký hiệu học, nhận thức luận, triết học về ngôn ngữ, triết học về khoa học và phương pháp luận khoa học. Ông được coi là nhà tư tưởng lỗi lạc và nhà logic học ảnh hưởng nhất tại Hoa Kỳ trong suốt thế kỷ XX.
John Dewey (1859–1952): nhà triết học, tâm lý học và cải cách giáo dục người Mỹ, đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa thực dụng Mỹ, có ảnh hưởng lớn đến giáo dục và cải cách xã hội. Ông cũng để lại nhiều khảo cứu giá trị về siêu hình học, nhận thức luận, đạo đức học, mĩ học, nghệ thuật, logic học. Theo ông, trường học, xã hội dân sự và công luận tự do là các thể chế nền tảng để xây dựng nền dân chủ. Ông khuyến khích các hình thức truyền thông hiệu quả giữa công dân, chuyên gia và chính trị gia để tạo ra đồng thuận trong quá trình lập định chính sách công.
Lev Shestov (1866–1938): nhà triết học hiện sinh người Nga gốc Do Thái. Chịu ảnh hưởng của Dostoyevski và Nietzsche, thời trẻ ông sinh hoạt chung với các trí thức lớn của Nga. Năm 1921 ông di cư sang Pháp và mất tại Paris. Ông từng thảo luận triết học với Husserl và giảng dạy về hiện tượng luận tại Đại học Sorbonne. Các tác phẩm của ông (hiện đang lưu trữ tại Đại học Sorbonne, trong đó có nhiều tác phẩm chưa xuất bản) thể hiện sự chối từ tính duy lý và siêu hình học để đến với chủ nghĩa hư vô.
Max Weber (1864–1920): nhà kinh tế chính trị học và xã hội học Đức, một trong những người sáng lập ngành xã hội học và quản trị công đương đại. Ông là người am tường nền chính trị Đức, từng là cố vấn cho các nhà thương thuyết Đức tại Hòa ước Versailles và tham gia soạn thảo Hiến pháp Weimar. Theo ông, tôn giáo là một trong những nhân tố quan trọng cấu thành sự dị biệt văn hóa giữa phương Đông và phương Tây. Tại phương Tây, đạo Tin Lành khổ hạnh là một trong những nhân tố chính giúp phát triển chủ nghĩa tư bản, hệ thống hành chính, và xã hội dân sự.
WEBER, M. [1905] (2008). Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản. Bùi Văn Nam Sơndịch. Hà Nội: Nxb.. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
Victor Basch (1863 – 1944): nhà triết học người Pháp gốc Hungary, theo đạo Do Thái. Sau khi tốt nghiệp tại Đại học Sorbonne, ông giảng dạy về mĩ học và ngôn ngữ Đức. Những năm trong chiến tranh, ông tham gia các hoạt động chính trị, xã hội theo khuynh hướng cánh tả, bảo vệ nhân quyền và quyền công dân. Khi phát–xít Đức tràn vào Paris, ông đã bị chúng truy lùng và sát hại. Ông để lại một số tác phẩm giá trị về mĩ học Kant và triết học cổ điển Đức.
Célestin Bouglé (1870 – 1940): nhà triết học và xã hội học người Pháp. Ông giảng dạy xã hội học tại Đại học Sorbonne từ năm 1901 cho đến năm 1935 rồi chuyển sang dạy học tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Ông đã nỗ lực “gia cố” nền móng cho xã hội học bằng việc bổ sung tinh thần tự do và yếu tố của nền luân lý thế tục. Là người ủng hộ nhiệt thành cho chủ nghĩa thực chứng theo truyền thống của Aguste Comte, ông còn tham gia nhiều hoạt động xã hội trên tinh thần ủng hộ nền Cộng hòa.
Georgi Plekhanov (1856–1918): nhà cách mạng và lý thuyết mác-xít người Nga, sáng lập phong trào dân chủ xã hội tại Nga. Ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa Mác–xít Nga và một nhà triết học lớn của nước Nga.
DIDEROT, D. [1805] (2006). Cháu ông Rameau. Phùng Văn Tửu dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Ernst Mach (1838 – 1916): nhà vật lý học và triết học Áo. Ông có nhiều ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của chủ nghĩa thực chứng logic và chủ nghĩa thực dụng. Ông phê phán cơ học cổ điển của Newton và tạo nền tảng để hình thành thuyết tương đối của Eisstein.
Karl Joel (1864 – 1934): nhà triết học Đức, giảng dạy nhiều năm tại Đại học Basel. Ông gọi triết học của mình là “chủ nghĩa duy tâm mới” trên cơ sở “đoạn tuyệt” với chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa tự nhiên.
FREUD, S. [1905] 2003. Ba tiểu luận về tính dục. Nguồn: Đỗ Lai Thúy (2003).
Benedetto Croce (1866 – 1952): nhà triết học, sử học và chính trị gia Ý. Các tác phẩm của ông trải rộng trên nhiều đề tài: triết học, mĩ học, sử học. Mặc dù theo chủ nghĩa tự do, nhưng ông phản đối nền thương mại tự do. Ông từng làm Chủ tịch Văn bút Quốc tế (PEN International). Tư tưởng của ông ảnh hương đến các nhà mác-xít thế hệ sau, trong đó có Antonio Gramsci.
George Santayana (1863 – 1952): nhà triết học và nhà văn Hoa Kỳ gốc Tây Ban Nha. Sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ, ông giảng dạy tại Đại học Harvard đến năm 1912 rồi trở về châu Âu và qua đời tại Rome (Italy). Là học trò của William James, tư tưởng của ông có nhiều điểm tương đồng với John Dewey. Mặc dù theo chủ nghĩa tự nhiên, nhưng ông lại xem các tư tưởng tôn giáo là nền tảng của mọi sáng tạo trong văn chương.
James Mark Baldwin (1861 – 1934): nhà triết học và tâm lý học người Mỹ. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của ngành tâm lý học, tâm thần học và lý thuyết tiến hóa.
György Lukács (1885–1971): nhà triết học, mĩ học, lịch sử và phê bình văn học Hungary. Ông sáng lậpchủ nghĩa Marx phương Tây (Western Marxism), và được thừa nhận là một trong những nhà triết học mác-xít ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX. Trong triết học, bên cạnh Hegel, Marx vàEngels, ông còn chịu ảnh hưởng của Plekhanov. Trong mĩ học và văn chương, ông chịu ảnh hưởng của Dostoyevsky. Ông xuất bản nhiều tác phẩm về triết học mác-xít.
Martin Heidegger (1889 – 1976): nhà triết học Đức. Ông từng là học trò và là trợ giảng cho Husserl, sau đó đã kế tục Husserl giảng dạy triết học tại Đại học Freiburg (Đức). Sau khi nghiên cứu triết họcBrentano, ông quyết định tìm hiểu ý nghĩa của khái niệm tồn tại và cấu trúc bản thể của tồn tại người. Ông phân biệt hiện hữu là khác với tồn tại, hiện hữu là một cái gì đó được hình thành và có được bằng một cách nào đó. Bản thân hiện hữu có tính hữu hạn và tính đặc thù. Hiện hữu có nền tảng là tồn tại người. Hiện hữu là đối tượng của các khoa học tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học,…) và các khoa học xã hội nhân văn (sử học, xã hội học, nhân học,…), trong khi đó chỉ có tồn tại người mới là đối tượng của triết học.
Charles Blondel (1876 – 1939): nhà triết học, tâm lý học và tâm lý trị liệu người Pháp. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm phố d’Ulm và là học trò của Lucien Lévy– Bruhl, sau đó giảng dạy về tâm lý học thực nghiệm tại Đại học Strasbourg, chủ nghiệm Bộ môn Tâm lý bệnh học tại đây. Nhiều triết gia lớn thế hệ sau như Emmanuel Lévinas, Maurice Blanchot và Henri Ellenberger đã tham dự các bài giảng của ông.
Maurice Blondel (1861 – 1949): nhà triết học Pháp. Chịu ảnh hưởng của triết học Thiên Chúa giáo, ông đã nỗ lực tổng hợp tư tưởng của Plato với chủ nghĩa thực dụng hiện đại. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm phố d’Ulm, ông giảng dạy triết học và tiếp tục các công trình về triết học tôn giáo.
Han Ryner (1861 – 1938): nhà triết học, nhà báo và nhà hoạt động vì hòa bình người Pháp, chịu ảnh hưởng bởi triết học cổ đại, đặc biệt là chủ nghĩa khắc kỷ. Ryner cho rằng, khi trở nên khôn ngoan, con người sẽ biết cách chấp nhận cái tất yếu, vốn không thể thay đổi hay chống đỡ được. Ông khuyến khích một sự giải phóng “từ bên trong” linh hồn con người, thay vì hướng tới các cuộc cách mạng xã hội tập thể đầy bạo lực. Các tác phẩm của ông rất phong phú và đa dạng, từ triết học, chính trị học đến xã hội học.
Alfred North Whitehead (1861–1947): nhà toán học và triết học Anh, sáng lập trường phái “triết học tiến trình”, qua đó ảnh hưởng đến thần học và hàng loạt các ngành khoa học khác nhau. Ông còn có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành triết học về khoa học. Tác phẩm Principia Mathematicaông viết chung với Bertrand Russell được coi là tác phẩm kinh điển quan trọng bậc nhất của ngành logic toán.
HEGEL, G. W. F. [1807] (2006). Hiện tượng học tinh thần. Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú thích. Hà Nội: Nxb. Văn học.
Roman Ingarden (1893–1970): một tên tuổi lớn của hiện tượng luận tại Ba Lan. Ông có nhiều nghiên cứu về bản thể luận và mĩ học. Ông phản đối chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của Husserl, hướng hiện tượng luận về với bản thể luận.
Edith Stein (1891–1942): nhà triết học Đức gốc Do Thái. Bà bảo vệ luận án tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của Edmund Husserl tại Đại học Göttingen và từng là trợ giảng cho Husserl. Cuối đời, bà theo Dòng tu kín Carmelite và mất trong trại tập trung Auschwitz (Ba Lan) khi phát–xít Đức đưa bà cùng chị gái về đây.
Alexius Meinong (1853 – 1920): nhà triết học Áo, học trò của Franz Brentano, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa kinh nghiệm Anh (British empiricism), nghiên cứu về bản thể luận, triết học về tư duy, triết học về ngôn ngữ và tâm lý học thực nghiệm. Ông ảnh hưởng đến nhiều triết gia thế hệ sau, trong đó có Gilbert Ryle và Russell.
Georg Simmel (1858 – 1918): nhà xã hội học, triết học người Đức. Ông sử dụng cách tiếp cận của trường phái Kant mới để xây dựng nền tảng cho xã hội học Đức. Tư tưởng của ông ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của Trường phái Lý thuyết phê phán Frankfurt.
Carl Stumpf (1848 – 1936): nhà triết học và tâm lý học người Đức, học trò của Franz Bretano. Nhiều học trò của ông trở thành trụ cột của ngành tâm lý học Đức.
Otto Neurath (1882–1945): nhà triết học về khoa học và xã hội học người Áo, thành viên sáng lập của Nhóm Vienna.
Ferdinand de Saussure (1857–1913): nhà ngôn ngữ học Thụy Sỹ. Ý tưởng của ông đã đặt nền tảng cho những thành tựu phát triển của ngành ngôn ngữ học trong thế kỷ XX. Với tác phẩm kinh điển, Cours de linguistique génerale [Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương], ông tạo ra bước ngoặt trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ học. Ông phát hiện bản chất hệ thống của ngôn ngữ và sự quy định lẫn nhau của ngôn ngữ trong một hệ thống. Ông nâng vị trí nghiên cứu ngôn ngữ lên ngang tầm với các lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn khác.
H. L. Mencken (1880 – 1956): người Mỹ gốc Đức, nhà báo, nhà phê bình văn hóa, nhà văn trào phúng và chuyên gia hàng đầu viề tiếng Anh kiểu Mỹ (American English). Ông là nhà văn Mỹ có ảnh hưởng lớn nhất trong nửa đầu thế kỷ XX.
Wilhelm Ostwald (1853–1932): nhà hóa học Đức, Giải thưởng Nobel Hóa học năm 1909. Ông ủng hộ thuyết duy thực, vốn cho rằng nhà khoa học có thể rút ra quy luật từ các sự kiện có thể quan sát.
René Berthelot (1872–1960): nhà triết học Pháp, chịu ảnh hưởng của Plato và Hegel. Ông có nhiều nghiên cứu giá trị về chủ nghĩa thực dụng.
Émile Meyerson (1859– 1933): nhà triết học Pháp gốc Ba Lan. Ông theo chủ nghĩa Kant mới và chống lại chủ nghĩa thực chứng. Ông có nhiều khảo cứu giá trị về nhận thức luận và triết học về khoa học. Ông có nhiều ảnh hưởng tới Kyoré.
Gabriel Marcel (1889–1973): nhà triết học, nhà viết kịch và phê bình âm nhạc người Pháp. Ông đã đưa ra khái niệm chủ nghĩa hiện sinh sau Đại chiến thế giới lần thứ Nhất, dù lúc đó ông còn là một người vô thần. Ông tập trung vào cuộc đấu tranh của cá nhân trong một xã hội công nghệ phi nhân tính. Mặc dù thường được coi là hiện sinh Pháp đầu tiên, ông không liên hệ mình với các nhân vật như Jean–Paul Sartre, thay vì đó ông thích dùng thuật ngữ triết học hiện sinh để xác định tư tưởng riêng của mình. Các bản thảo viết tay của ông hiện được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp ở Paris.
Edward A. Westermarck (1862–1939): nhà triết học và xã hội học Phần Lan, chịu ảnh hưởng của Charles Darwin. Ông có nhiều đóng góp cho sự phát triển của xã hội học tại Anh trong những thập niên đầu thế kỷ XX.
Karl Abraham (1877–1925): nhà luận phân tâm người Đức thuộc “thế hệ thứ hai”, học trò xuất sắc của Sigmund Freud. Ông có nhiều nghiên cứu giá trị về vai trò của tính dục trong sự hình thành nhân cách ở trẻ em.
FREUD, S. [1909] (2002). Phân tích một ca ám sợ ở một bé trai 5 tuổi: Chuyện bé Hans. Lưu Huy Khánh dịch. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
H. A. Prichard (1871 – 1947): nhà triết học Anh, giảng dạy triết học lâu năm tại Đại học Oxford, và là người sáng lập “Trường phái Trực giác Oxford”. Ông có nhiều đóng góp quan trọng về nhận thức luận và luân lý học trên tinh thần của chủ nghĩa duy thực (realism).
Albert Leclere (1867 – 1920): nhà triết học Pháp, quan tâm đến mối quan hệ giữa triết học và tôn giáo. Ông có nhiều nghiên cứu giá trị về lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, về đạo đức học và bản thể luận.
Georges-Henri Luquet (1876-1965): nhà triết học Pháp, bạn học của Bergson và Lucien Lévy-Bruhl tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Các tác phẩm của ông đề cập đến nhiều vấn đề rộng lớn: triết học về khoa học, triết học xã hội, triết học luân lý, tâm lý học nhận thức, nhân chủng học, dân tộc học, lịch sử các tôn giáo, các nền văn hóa và các nền nghệ thuật... Ông sưu tập hơn 1.700 bức tranh của con gái mình vẽ suốt 10 năm kể từ khi cô bé bắt đầu lên bảy tuổi để viết luận án tiến sĩ nghệ thuật học về hội họa ở trẻ em. Ông cũng để lại nhiều khảo cứu giá trị về mĩ thuật thời cổ đại.
Jean Hering (1890-1966): nhà triết học Pháp, có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của hiện tượng luận tại Pháp trong những thập niên đầu thế kỷ XX. ời trẻ, ông nghiên cứu về thần học tại Đại học Strasbourg. Sau đó, ông sang Đức theo học với Husserl, trở thành thành viên chính của Nhóm Göttingen nghiên cứu về hiện tượng luận do Husserl chủ trì.
Dominique Parodi (1870 – 1955): nhà triết học Pháp gốc Ý. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm phố d’Ulm, ông giảng dạy triết học tại nhiều trường trung học nổi tiếng của Paris, tham gia dịch các tác phẩm của George Berkeley sang tiếng Pháp. Ông có nhiều nghiên cứu công phu về triết học chính trị và đạo đức học.
BERKELEY, G. [1710] (2013). Một nghiên cứu về các nguyên tắc nhận thức của con người. Đinh Hồng Phúc dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
Victor Delbos (1862 – 1916): nhà triết học Pháp. Ông giảng dạy tại Đại học Sorbonne. Ông có nhiều nghiên cứu về triết học của Spinoza, Kant và Husserl.
DEWEY, J. [1910] (2013). Cách ta nghĩ. Vũ Đức Anh dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Max Adler (1873 – 1937): nhà triết học xã hội và chính trị gia người Áo, thuộc trường phái mác-xít Áo. Ông nỗ lực tổng hợp các luận đề của triết học mác-xít với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của Kant.
Bernard Bosanquet (1848 – 1923): nhà triết học Anh. Cùng với F. H. Bradley, ông là người ủng hộ nhiệt thành cho chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối, và là đại diện tiêu biểu của “phong trào Hegel mới” tại Anh. Ông nghiên cứu rộng về logic học, siêu hình học, mĩ học và chính trị học. Ông để lại nhiều ảnh hưởng tới các nhà triết học Anh thế hệ sau, trong đó có Russell, Dewey và William James.
Alexandre Koyré (1892 – 1964): nhà triết học và nhà lịch sử khoa học người Pháp gốc Nga. Thời trẻ, ông sang Đức theo học tại Đại học Göttingen, tham dự các bài giảng của Edmund Husserl và David Hilbert. Sau khi tốt nghiệp, ông trở về Paris giảng dạy lịch sử triết học. Ông chia sẻ quan điểm với Gaston Bachelard về tính không liên tục trong lịch sử phát triển của khoa học, đồng thời phê phán cách tiếp cận của chủ nghĩa thực chứng đối với khoa học và lịch sử phát triển của khoa học. Chịu nhiều ảnh hưởng của Bergson, ông được coi là “cây cầu” cho quá trình tiếp biến của hai nềntriết học Pháp và Đức, cũng như giữa tư tưởng triết học của Bergson và Husserl. Ông để lại ảnh hưởng lớn cho tiến trình tiếp nhận hiện tượng luận tại Pháp của các triết gia thế hệ sau, trong đó có A. Kojève, J. Hering, B. Groethuysen, G. Gurvitch...
Ludwig Wittgenstein (1889 – 1951): nhà triết học Áo, có nhiều đóng góp quan trọng trong logic, triết học về toán, triết học tinh thần và triết học về ngôn ngữ. Ông được coi là một trong những nhà triết học quan trọng nhất của thế kỷ XX và một trong những trụ cột của truyền thống triết học phân tích. Trước khi qua đời, cuốn sách duy nhất ông cho xuất bản là Tractatus Logico–Philosophicus (1921). Cuốn Nghiên cứu triết học[Philosophische Untersuchungen], được xuất bản một thời gian ngắn sau khi ông mất, có ảnh hưởng lớn tới triết học phân tích và chủ nghĩa thực chứng logic.
Berdyaev, N. A. [1911] (2016). Triết học của tự do. Đỗ Minh Hợp dịch, Nguyễn Trọng Chuẩn hiệu đính. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Alfred Adler (1870-1937): bác sĩ, nhà tâm lý học trị liệu người Áo, sáng lập trường phái tâm lý học cá nhân. Khởi đầu sự nghiệp với chuyên ngành nhãn khoa, ông được công nhận là một trong ba nhà tâm lý học vĩ đại nhất của thế kỷ XX, cùng với Freud và Jung. Ông cùng Freud xây dựng nền tảng ban đầu cho ngành phân tâm học, và trở thành trụ cột của Trường phái Phân tâm học Vienna. Chịu ảnh hưởng bởi Kant, Nietzsche và Dostoevsky, ông cho rằng phức cảm tự ti (inferiority complex) đóng vai trò chủ yếu trong quá trình phát triển cá tính của mỗi cá nhân. Ông kế thừa khái niệm “ý chí quyền lực” của Nietzsche để phân tích sức mạnh sáng tạo của mỗi cá nhân cải thiện hoàn cảnh của mình.
Charles Andler (1866 – 1933): nhà triết học Pháp, có nhiều nghiên cứu đặc biệt giá trị về triết học Đức, đặc biệt là triết học của Marx và Nietzsche. Ông là một trong những giáo sư hàng đầu về triết học Đức tại Đại học Sorbonne từ năm 1901, và có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Marx vào Pháp.
Julien Benda (1867 – 1956): nhà triết học và nhà văn Pháp gốc Do Thái. Ông nghiên cứu rộng nhiều vấn đề của triết học, đồng thời tham gia viết sách, báo về các vấn đề của châu Âu hiện đại.
Johann Gottfried von Herde (1744 – 1803): nhà triết học, thần học, nhà thơ và phê bình văn học người Đức. Ông là tên tuổi lớn của truyền thống học thuật Đức giai đoạn chuyển tiếp từ Thời kỳ Lãng mạn sang Thời kỳ Cổ điển. Tác phẩm Abhandlung über den Ursprung der Sprache [Luận về nguồn gốc của ngôn ngữ](1772) của ông góp phần quan trọng để hoàn thiện nền móng của ngành ngôn ngữ học.
Tác phẩm này được Beatrice M. Hinkle dịch sang tiếng Anh vào năm 1916 với tựa đề Psychology of the Unconscious: a study of the transformations and symbolisms of the libido, a contribution to the history of the evolution of thought [Tâm lý học của cái vô thức: Nghiên cứu về các quá trình chuyển dịch và các biểu tượng của libido, một đóng góp về lịch sử tiến hóa của tư tưởng].
Carl Siegel (1872 – 1943): nhà toán học và triết học Áo. Ông nghiên cứu rộng về triết học, sử học, phương pháp luận khoa học và nhận thức luận.
“Triết học lục địa” là một tập hợp các truyền thống triết học hình thành và phát triển tại lục địa châu Âu trong thế kỷ XIX và XX. Triết học lục địa ngả theo khuynh hướng “khoa học vạn năng” (scientism), xem khoa học tự nhiên là cách duy nhất hoặc chính xác nhất để hiểu các hiện tượng. Triết học lục địa gồm các trào lưu chính: chủ nghĩa duy tâm Đức, hiện tượng luận, chủ nghĩa hiện sinh và các “biến thể” của nó (như triết học của Kierkegaard và Nietzsche), thông diễn học, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu–cấu trúc, thuyết bình quyền nữ giới Pháp (French femninism), luận phân tâm, lý thuyết phê phán của trường phái Frankfurt, và các trường phái chính của chủ nghĩa Marx phương Tây (Western Marxism).
“Triết học phân tích” là truyền thống triết học phổ quát tại các quốc gia nói tiếng Anh ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhấn mạnh đến sự trong sáng và rõ ràng thông qua các lập luận vốn được hình thành bởi logic hình thức & phân tích ngôn ngữ. Triết học phân tích chịu nhiều ảnh hưởng bởi chủ nghĩa thực chứng logic.
André Falconet (1881 – 1965): nhà triết học Pháp, một trong những chuyên gia hàng đầu về ngôn ngữ và văn chương Đức trong thế hệ ông. Ông để lại nhiều nghiên cứu giá trị về mĩ học và triết học Đức hiện đại.
Giovanni Gentile (1875–1944): nhà triết học duy tâm người Ý, thuộc trường phái Hegel mới. Ông tự coi mình là “triết gia của chủ nghĩa phát–xít”. Ông có nhiều ảnh hưởng trong thời gian nhà độc tài Benito Mussolini lên cầm quyền ở Ý.
FREUD, S. [1913] (2000). Nguồn gốc của văn hóa và tôn giáo: Vật tổ và cấm kỵ. Lương Văn Kế dịch và giới thiệu. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
Jacques Maritain (1882–1973): nhà triết học và thần học Pháp, có nhiều nghiên cứu giá trị về siêu hình học, mĩ học, triết học về khoa học và các vấn đề thần học. Ông từng tham gia soạn thảo Tuyên ngôn toàn cầu về các quyền con người (The Universal Declaration of Human Rights). Ông cũng là người gần gũi với Giáo hoàng Paul VI và Công đồng Vatican II.
WOHL, R. (1979).
SAUSSURE, F. [1915] (1973). Giáo trình ngôn ngữ học đại cương. Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội dịch. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội. Tái bản: SAUSSURE, F. [1916] (2005). Giáo trình ngôn ngữ học đại cương. Cao Xuân Hạo dịch. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.
Antonie Pannekoek (1873 – 1960): nhà lý thuyết mác-xít người Hà Lan. Ông đến với triết học trên nền tảng vững chắc của khoa học tự nhiên, với khuynh hướng cánh tả cấp tiến.
DEWEY, J. [1916] (2008). Dân chủ và giáo dục: một dẫn nhập vào triết lý giáo dục. Phạm Anh Tuấndịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
FREUD, S. [1917] (1970). Phân tâm học nhập môn. Nguyễn Xuân Hiếu dịch. Sài Gòn: Nhà sách Khai Trí. In lại: S. Freud [1917] (2001). Phân tâm học nhập môn. Nguyễn Xuân Hiếu dịch. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
HEGEL, G. W. F. [1817] (2008). Khoa học lôgíc (Bách khoa thư các khoa học triết học I). Bùi Văn Nam Sơn dịch, chú giải. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
MARX, K. [1863] (1959). Tư bản – Phê phán khoa kinh tế chính trị. Hà Nội: Nxb. Sự thật.
Arthur Schopenhauer (1788–1860): nhà siêu hình học vĩ đại người Đức, nổi tiếng với các phê phán về triết học Kant. Các tác phẩm của ông đã giúp củng cố lại nền móng cho đạo đức học, mĩ học, chính trị học, tâm lý học, vào tạo khởi nguồn cho chủ nghĩa hiện sinh. Ông để lại ảnh hưởng sâu đậm về tư tưởng đến các triết gia lớn thế hệ sau, trong đó có Nietzsche, Freud, Wittgenstein…
Ernst Bloch (1885 – 1977): nhà triết học mác-xít người Đức. Ông chịu ảnh hưởng của Hegel và Marx. Ông có nhiều quan hệ học thuật với các thành viên chính của trường phái Lý thuyết phê phán. Ông cũng được xem nhà một trong những nhà không tưởng chủ nghĩa vĩ đại nhất.
Moriz Schilick (1882–1936): nhà triết học Đức, sáng lập chủ nghĩa thực chứng logic. Ông là học trò của Max Planck. Ông kế tục Ernst Mach làm Chủ nhiệm Khoa Triết học tại Đại học Vienna, và là thành viên quan trọng của Nhóm Vienna (cùng với Carnap, Gödel, Neurath...). Ông chống lại tri thức tiên nghiệm và khẳng định rằng chân lý phải được kiểm nghiệm bởi các bằng chứng định lượng.
Louis Lavelle (1883 – 1951): một trong những nhà siêu hình học hàng đầu của Pháp trong thế kỷ XX, có nhiều đóng góp quan trọng trong ngành triết học về tư duy. Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ tại Sorbonne, ông tham gia nhiều sinh hoạt triết học quan trọng tại Paris. Cùng thời với Bergson, nhưng ông tiếp cận với chủ nghĩa duy tâm theo những hướng mới mẻ và độc đáo.
Félicien Challaye (1875 – 1967): nhà triết học Pháp, nhà báo theo khuynh hướng chống chủ nghĩa thực dân. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm phố d’Ulm, ông sang Đức tiếp tục nghiên cứu triết học một thời gian ngắn, rồi bắt đầu chuyến khám phá phương Đông: Ấn Độ, Java, Đông Dương, Ai Cập, Nhật Bản để thu thập tư liệu cho những khảo cứu địa phương rất giá trị, trước khi trở về Pháp giảng dạy triết học. Cuối đời, ông xuất bản một số công trình về tâm lý học và luận phân tâm.
HEGEL, G. W. F. [1821] (2010). Các nguyên lý của triết học pháp quyền hay đại cương pháp quyền tự nhiên và khoa học về nhà nước. Bùi Văn Nam Sơn dịch, chú giải. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
WITTGENSTEIN, L. [1921] (2010). Tractatus Logico–Philosophicus. Cao Dao dịch. Nguồn: talawas blog. URL = <http://www.talawas.org/?p=25042>.
Émile Bréhier (1876 – 1952): nhà triết học, sử học và nhà văn Pháp. Ông nổi tiếng với những công trình về lịch sử triết học Hy Lạp và triết học trung đại. Ông từng giảng dạy triết học tại Đại học Sorbonne. Sau khi Bergson mất, ông được kế thừa ghế Viện sĩ của Bergson tại Viện Hàn lâm về các khoa học luân lý và chính trị.
Nikolai Bukharin (1888–1938): nhà triết học và chính trị gia Nga. Ông là thành viên trong nội các của chính phủ Liên bang Xô–viết thời kỳ đầu. Sau khi Lenin mất, ông bộc lộ sự bất đồng chính kiến với Stalin và sau đó bị thủ tiêu.
Henri Delacroix (1873 – 1937): nhà triết học và tâm lý học Pháp. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành tâm lý học tại Pháp trong giai đoạn sơ kỳ.
Hajime Tanabe (1885–1962): nhà triết học Nhật Bản, thành viên sáng lập của Trường phát triết học Tokyo, cùng với Kitaro Nishida và Keiji Nishitani. Ông từng giảng dạy tại Đại học Đế quốc Nhật Bản (Kyoto Imperial University), cùng Nishida đấu tranh cho quyền tự do học thuật. Là người ủng hộ nhiệt thành cho chủ nghĩa hiện sinh, quan điểm triết học của ông gần gũi với truyền thống triết học lục địa, đặc biệt là Kierkegaard, Nietzsche và Heidegger.
Kitarō Nishida (1870–1975): nhà triết học Nhật Bản xuất sắc, người sáng lập Trường phái triết học Kyoto, và là biểu tượng của tiến trình đối thoại triết học và tôn giáo Đông – Tây. Trong gần 3 thập niên giảng dạy tại Đại học Kyoto, ông đã nỗ lực xây dựng một nền logic thống nhất và phi nhị nguyên, trên cơ sở tích hợp tư tưởng của Thiền tông với logic phương Tây của Aristotle, Kant và Hegel. Ông cũng là người truyền bá hiện tượng luận Husserl tại Nhật Bản. Các tác phẩm của ông được hệ thống hóa trong Toàn tập Nishida (gồm 18 tập).
Shūzō Kuki (1888–1941): nhà triết học Nhật Bản xuất sắc, có nhiều đóng góp quan trọng trong sự phát triển của hiện tượng luận tại Nhật Bản. Trong tác phẩm kinh điển của mình, The Structure of “Iki” (1930), ông đã sử dụng các phân tích hiện tượng luận để phân tích các đặc trưng độc đáo của văn hóa Nhật Bản. Trong thời gian giảng dạy tại Đại học Kyoto, ông đã có nhiều bài giảng và xuất bản nhiều công trình về triết học Đức đương đại, trong đó có tác phẩm nghiên cứu về Martin Heidegger bằng tiếng Nhật đầu tiên.
Leo Robin (1866 – 1947): nhà lịch sử triết học cổ đại, được xem như là “nhà Plato học” hàng đầu tại Pháp. Ông tốt nghiệp Đại học Sorbonne và sau đó giảng dạy triết học tại đây. Ông để lại nhiều công trình nghiên cứu rất chuẩn mực về triết học cổ đại, đồng thời dịch nhiều tác phẩm của Plato sang tiếng Pháp.
Nabert Jean (1881 – 1960): nhà triết học Pháp. Tư tưởng của ông về luân lý và siêu hình học, trên cơ sở phê phán ý thức tiên nghiệm kiểu Kant (conscience transcendantale kantienne), đã để lại nhiều ảnh hưởng đến triết gia thế hệ sau, trong đó có Paul Ricœur.
Henri Gouhier (1898 – 1994): nhà triết học, sử học và phê bình sân khấu người Pháp, chịu ảnh hưởng của truyền thống thần học Thiên Chúa giáo.
Jean–Paul Sartre (1905–1980): nhà triết học, nhà văn, nhà báo Pháp, nhân vật trụ cột của chủ nghĩa hiện sinh tại Pháp. Ông đỗ đầu thạc sĩ triết học tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1929, Simone de Beauvoir đỗ thứ nhì và trở thành bạn đời của ông. Ông từng tuyên bố: “L’homme n’est rien d’autre que ce qu’il se fait” (Con người không là gì ngoài điều con người tự tạo), và coi đó là nguyên lý đầu tiên của chủ nghĩa hiện sinh. Ông tham gia sáng lập tạp chí Les Temps modernes vào năm 1945. Về chính trị, Sartre là biểu tượng của trí thức dấn thân. Đám táng ông quy tụ cả chục ngàn người đưa tiễn. [LUẬT, Phạm Trọng (2004)].
Raymond Aron (1905–1983): nhà triết học, xã hội học, khoa học chính trị và nhà báo Pháp, bạn thân của Jean–Paul Sartre. Ông bảo vệ luận án tiến sĩ sử học tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1930, sau đó giảng dạy xã hội học tại các trường đại học lớn của Pháp từ sau Đại chiến thế giới II. Ông là người có công lớn trong việc đưa xã hội học của Max Weber vào nước Pháp. Ông cũng là nhà báo đầy ảnh hưởng cho hai tờ Le Figaro và L’Express.
Georges Canguilhem (1904–1995): nhà triết học Pháp, có nhiều đóng góp quan trọng cho nhận thức luận và triết học về khoa học, đặc biệt là triết học về sinh học và triết học về y học. Ông là bạn cùng lớp với Jean–Paul Sartre. Ông để lại dấu ấn lớn trong công việc giảng dạy triết học, và ảnh hưởng đến các triết gia thế hệ sau, đặc biệt là Derrida, Foucault và Althusser.
Daniel Lagache (1903–1972): nhà tâm lý học và luận phân tâm tiêu biểu của Pháp. Ông là bạn học của Jean–Paul Sartre và Raymond Aron. Ông làm chủ nhiệm Khoa tâm lý học và trị liệu tâm lý tại Đại học Sorbonne. Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu về Freud tại Pháp.
Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm: thành lập năm 1794, mang theo tinh thần Tự do – Bình đẳng – Bác ái của cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789) và tinh thần Khai sáng, trên cơ sở phát huy triệt để truyền thống tự do học thuật và tự do nghiên cứu. Đây là một trong những trường đại học lâu đời và danh giá nhất của nước Pháp, đào tạo nhiều trí thức lớn và chính khách cho nước Pháp và thế giới. Khoa Triết học của Trường cũng là “cái nôi” đào tạo nhiều nhà triết học lớn cho nước Pháp và thế giới, với những tên tuổi như Jean–Paul Sartre, Raymond Aron, Jean Hyppolite, MauriceMerleau–Ponty, Trần Đức Thảo, Simone Weil, Louis Althusser, Michel Foucault, Pierre Bourdieu…
Décades de Pontigny: cuộc gặp thường niên trong giai đoạn 1910–1914 và 1922–1939, do nhà báo Paul Desjardins tổ chức, trên tinh thần tôn trọng tự do tư tưởng, bàn về nhiều vấn đề lớn của tôn giáo, triết học, văn chương, về giáo dục, nhân quyền…, với sự tham gia của các nhà triết học và nhà văn hàng đầu của Pháp như Andre Gide, François Mauriac, Saint–Exupéry, André Malraux, Raymond Aron, Brunschvicg, Bachelard, Nicolas Berdyaev, Jean–Paul Sartre...
Antonio Gramsci (1891–1937): nhà triết học, xã hội học, nhà văn, chính trị gia và nhà lý thuyết chính trị người Ý. Ông là một trong những nhà tư tưởng mác-xít quan trọng nhất của thế kỷ XX. Ông nổi tiếng với lý thuyết “thống trị về văn hóa” (cultural hegemony), nhằm mô tả nhà nước đã sử dụng các thể chế văn hóa như thế nào để duy trì quyền lực trong các xã hội tư bản.
Leo Trotsky (1879 – 1940): nhà Mác-xít và lý luận cách mạng Bolshevik. Cùng với Lenin, ông là một trong những lãnh đạo của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Ông là một trong những thành viên đầu tiên của Bộ chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô. Sau khi lãnh đạo một cuộc đấu tranh thất bại của pháiCánh Tả đối lập chống lại các chính sách và sự thăng tiến của Joseph Stalin trong thập niên 1920, Trotsky bị đưa ra khỏi Đảng Cộng sản và trục xuất khỏi Liên Xô. Với tư cách người lãnh đạo Đệ Tứ Quốc tế, Trotsky, trong tình trạng bị trục xuất, tiếp tục phản đối chính sáchquan liêu Stalin tại Liên Xô, và cuối cùng bị ám sát tạiMexico bởi một điệp viên Liên Xô.
Helene Deutsch (1884–1982): nhà luận phân tâm người Mỹ gốc Áo, theo đạo Do Thái. Bà là một trong những nhà luận phân tâm “thế hệ thứ hai” đầu tiên chuyên nghiên cứu về tâm lý phụ nữ và tính dục nữ. Bà là học trò và đồng nghiệp của Freud, và cùng ông thành lập Hội Luận phân tâm Vienna.
Bernard Groethuysen (1880 – 1946): nhà triết học và nhà văn Pháp gốc Hà Lan. Thời trẻ, ông sang học tại Ý và Đức, là học trò của Georg Simmel và Wilhelm Dilthey, kết giao với nhiều triết gia lớn và văn sĩ lớn của Pháp như Bergson và Charles Du Bois. Những năm 1920, ông giảng dạy triết học ở Đức rồi trở lại Pháp khi phát–xít Đức lên nắm quyền, với lời tạ từ nổi tiếng: “Intellectuels de tous les pays, unissez–vous!” (Hỡi giới trí thức của tất cả các quốc gia, hãy liên hiệp lại!). Với tri thức uyên bác và tầm nhìn phóng khoáng, ông trở thành một trong những trí thức châu Âu tiêu biểu của nửa đầu thế kỷ XX. Ông có công lớn trong việc dịch các tác phẩm của Goethe và Kafka sang tiếng Pháp. Ông để lại nhiều nghiên cứu giá trị về lịch sử triết học và tư tưởng chính trị thế kỷ XVIII của Montesquieu, Rousseau, Diderot và các nhà Cách mạng Pháp.
Jean Baruzi (1881 – 1953): nhà triết học và lịch sử tôn giáo người Pháp. Ông từng tham gia giảng dạy ở Collège de France. Ông để lại nhiều công trình giá trị về triết học tôn giáo và triết học Trung đại. Jacques Lacan là một học trò xuất sắc của ông.
Pierre Naville (1904–1993): nhà triết học, xã hội học và nhà văn thuộc trường phái siêu thực của Pháp. Xuất thân từ giới thượng lưu, ông ngả theo khuynh hướng mác-xít và gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Sau khi gặp Trotsky, ông ngả theo hướng Tờ–rốt–kít, tham gia sáng lập và cộng tác với nhiều tờ báo và tạp chí cánh tả tại Pháp. Sau chiến tranh, ông cộng tác với nhà xã hội học Pháp Georges Friedmann tại Centre d’études sociologiques (Trung tâm Nghiên cứu Xã hội học), phê phán chủ nghĩa hiện sinh.
Kiyoshi Miki (三木 清, 1897–1945): nhà triết học Nhật Bản. Thời trẻ, ông sang Đức nghiên cứu sâu về các đại biểu thời kỳ đầu của triết học hiện sinh. Sau đó, ông tham gia sinh hoạt triết học với các thành viên của Trường phái triết học Kyoto. Ý tưởng của ông về “Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á” đã bị phát–xít Nhật lợi dụng để biện minh cho hành vi xâm lược các quốc gia láng giềng trong Đại chiến thế giới lần thứ Hai. Do bất đồng chính trị với nhà cầm quyền, ông đã bị bỏ tù và mất trong tù do các điều kiện lao tù khắc nghiệt. Các trí thức Nhật Bản thế hệ sau ca ngợi ông là “nhân vật trung tâm của phong trào nhân văn tại Nhật Bản”.
HEIDEGGER, M. [1927] (1973). Hữu thể và thời gian. Trần Công Tiến dịch, Lê Tôn Nghiêm giới thiệu. Sài Gòn: Quê Hương.
Aleksei F. Losev (1893 – 1988): nhà triết học và lý thuyết văn hóa Nga xuất sắc. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giảng dạy triết học tại nhiều trường đại học, đồng thời chống khuynh hướng toàn trị và giáo điều.
Eugen Fink (1905–1975): nhà triết học Đức, trợ lý của Edmund Husserl, và là đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa duy tâm hiện tượng luận (phenomenological idealism). Ông đề cao vai trò của bản thể luận trong nghiên cứu triết học. Ông đã thực hiện một số thảo luận chuyên đề về triết học với Martin Heidegger và nhiều nhà triết học lớn. Ông có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Husserl trong những năm cuối đời của Husserl.
Herbert Marcuse (1898–1979): nhà triết học, xã hội học và lý thuyết chính trị người Đức, một tên tuổi lớn của trường phái Lý thuyết phê phán Frankfurt, và là gương mặt tiêu biểu của phong trào Cánh tả Mới tại phương Tây. Các tác phẩm của ông đưa ra những cảnh báo về các tác động củachủ nghĩa tư bản và công nghệ hiện đại sẽ làm xói mòn các giá trị nhân văn, nhân bản của xã hội loài người. Những luận điểm này đã ảnh hưởng lớn tới giới trí thức và các nhà hoạt động chính trị trong những thập niên 1960–1970. Tác phẩm tiêu biểu: Eros and Civilization [Thần ái tình và nền văn minh] (1955), One–Dimensional Man [Con người một chiều kích] (1964).
Hans Raichenbach (1891–1953): nhà triết học về khoa học hàng đầu của Đức, có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của chủ nghĩa thực chứng logic, và là thành viên sáng lập của Nhóm Berlin, cùng với Kurt Greling, David Hilbert…
Emmanuel Lévinas (1906–1995): nhà triết học Pháp, gốc Do Thái. Ông là một trong những học trò của Edmund Husserl, và là người dịch tác phẩm của Husserl sang tiếng Pháp. Ông đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình tiếp nhận hiện tượng luận của Husserl và Heidegger tại Pháp từ sau thập niên 1930, đặc biệt là quá trình tiếp xúc với hiện tượng luận của Sartre và Merleau–Ponty. Ông có nhiều nghiên cứu quan trọng về luân lý học, trên tinh thần phê phán những hạn chế của siêu hình học.
Pierre Janet (1859 – 1947): nhà tâm lý học, tâm lý trị liệu và triết học người Pháp. Ông được thừa nhận là một trong ba người sáng lập ngành tâm lý học, cùng với William James và Wilhelm Wundt. Carl Jung từng là học trò và chịu nhiều ảnh hưởng của ông.
Maurice Merleau–Ponty (1908 – 1961): nhà hiện tượng luận xuất sắc người Pháp, học trò và người chịu nhiều ảnh hưởng của Husserl. Ông tốt nghiệp tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1930. Ông quan tâm sâu sắc đến quá trình cấu thành ý nghĩa của sự tồn tại người. Khác với truyền thống lâu đời của triết học phương Tây coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, ông coi cơ thể con người mới là nguồn gốc đích thực của tri thức. Các tư tưởng về hiện tượng luận đầy tính tiên phong được ông trình bày trong các tác phẩm về nghệ thuật, văn chương, ngôn ngữ và chính trị. Ông đọc triết họcMarx từ hồi trẻ và đồng thuận với triết học mác-xít, tuy vẫn giữ sự bất đồng với chủ nghĩa cộng sản. Ông tham gia sáng lập và phụ trách về chính trị cho tờ tạp chí cánh tả Les Temps Modernes cùng với Jean–Paul Sartre và nhiều nhà triết học lớn của Pháp. Ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong một loạt vấn đề quan trọng của hiện tượng luận, triết học về nhận thức, triết học ngôn ngữ…, và qua đó ảnh hưởng lâu dài đến các thế hệ triết gia sau này. Ông có nhiều mối liên hệ về triết học và hoạt động chính trị–xã hội với Giáo sư Trần Đức Thảo trong thời kỳ Giáo sư học tập, nghiên cứu và hoạt động tại Pháp và cộng tác với Les Temps Modernes trong giai đoạn 1942–1951.
Gaston Bachelard (1884–1962): nhà triết học Pháp. Ông đưa ra khái niệm obstacle épistémologiquevà rupture épistémologique, trên tinh thần phê phán chủ nghĩa thực chứng, để chỉ ra sự không liên tục trong các tiến bộ của khoa học. Các công trình nghiên cứu của ông trong lĩnh vực triết học về khoa học và triết học về văn chương đã ảnh hưởng sâu đậm lên các triết gia thế hệ sau này, trong đó có Michel Foucault, Louis Althusser và Jacques Derrida.
Jean Cavaillès (1902–1944): nhà triết học và toán học Pháp. Thời trẻ, ông từng sang Đức theo học Husserl và làm việc chung với nhiều nhà toán học Đức xuất sắc. Ông giảng dạy triết học tại Đại học Sorbonne từ năm 1941. Trong chiến tranh, ông tham gia kháng chiến chống phát–xít Đức xâm lược nước Pháp. Vì các hoạt động kháng chiến, ông đã bị bắt và bỏ tù. Trong tù, ông đã viết tác phẩm Sur la logique et la theorie de la science (Về logic và lý thuyết về khoa học). Ông bị phát–xít Đức sát hại và hi sinh anh dũng vào tháng 2–1944. Hiện nay, tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm có một trung tâm nghiên cứu về lịch sử khoa học và triết học về khoa học mang tên ông.
Wilhelm Reich (1897 – 1957): nhà luận phân tâm Áo, thuộc “thế hệ thứ hai” sau Sigmund Freud. Các tác phẩm của ông ảnh hưởng lớn tới phong trào sinh viên trong thập niên 1960.
Max Horkheimer (1895–1973): nhà triết học và xã hội học Đức, có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của Lý thuyết phê phán (critical theory) và Trường phái Frankfurt. Các nghiên cứu của ông nhấn mạnh đến sự liên kết giữa các cấu trúc và mạng lưới xã hội, cũng như sự ảnh hưởng trở lại của những liên kết này tới hành vi của cá nhân. Ông có nhiều mối liên hệ học thuật với các nhà tư tưởng cùng thời, như Herbert Marcuse, Erich Fromm, Theodor Adorno và Walter Benjamin.
Jean Wahl (1888–1974): nhà triết học Pháp. Ông chịu ảnh hưởng của Henri Bergson, William James vàGeorge Santayana. Ông là một trong những người giới thiệu tư tưởng triết học Hegel vào Pháp từ thập niên 1930, đồng thời là một chuyên gia về Kierkegaard. Ông có nhiều ảnh hưởng đến các nhà triết học lớn của Pháp thế hệ sau, trong đó có Emmanuel Lévinas và Jean–Paul Sartre.
Valentin Voloshinov (1895 – 1936): nhà ngôn ngữ học Nga, có ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực lý thuyết về văn chương và lý thuyết về ý thức hệ mác-xít. Trong tác phẩm quan trọng xuất bản năm 1927 này, ông đã cố gắng tích hợp lĩnh vực ngôn ngữ học với chủ nghĩa Marx, trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Wilhelm von Humboldt và Ferdinand de Saussure, để chỉ ra rằng ngôn ngữ là một thực thể vật chất, một hệ thống ký hiệu mang tính xã hội cao, được hình thành bởi tiến trình tổng hợp liên tục và mang tính sáng tạo, đồng thời là cơ sở để hình thành ý thức. Bên cạnh đó, ngôn ngữ còn là công cụ quan trọng nhất để định hình và bành trước các loại hình ý thức hệ. Tư tưởng của ông đã dự báo sự ra đời của chủ nghĩa hậu cấu trúc nhiều thập niên sau, và ảnh hưởng tới ngành nhân chủng ngôn ngữ học.
Jørgen Jørgensen (1894–1969): nhà triết học Đan Mạch, đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa thực chứng logic. Ông chịu ảnh hưởng của Russell và Carnap.
Étienne Gilson (1884 – 1978): nhà triết học và sử học Pháp. Là một chuyên gia hàng đầu về lịch sử triết học trung đại, ông từng theo học với Victor Delbos, Durkheim và Levy–Bruhl, sau đó giảng dạy về triết học thời kỳ Trung đại tại Sorbonne, Collège de France, Đại học Harvard... Ông bảo vệ sự trong sáng của truyền thống triết học Thiên Chúa giáo trước sự “tấn công” của chủ nghĩa hiện sinh. Ông từng là cố vấn cho Chính phủ Pháp trong Hội nghị San Franciso (1945) thành lập Liên Hợp Quốc.
Martial Gueroult (1891 – 1976): nhà triết học và lịch sử triết học Pháp. Ông có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu về lịch sử triết học. Tốt nghiệp Đại học Sư phạp phố d’Ulm, ông giảng dạy tại Sorbonne rồi chuyển sang làm Chủ nhiệm Bộ môn “Lịch sử và công nghệ của các hệ thống triết học” tại Collège de France. Ông có nhiều kiến giải độc đáo về triết học thời kỳ trung đại và triết học Descartes.
Arthur O. Lovejoy (1873–1962): nhà triết học và lịch sử tri thức người Mỹ, sáng lập ngành lịch sử tư tưởng, nổi tiếng với những phê phán về chủ nghĩa thực dụng.
FREUD, S. [1930] (2009). Cảm giác bất ổn với văn hóa. Lê Thị Kim Tuyến dịch. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
KANT, I. [1781] (2004). Phê phán lý tính thuần túy. Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú thích. Hà Nội: Nxb. Văn học.
Henry Corbin (1903 – 1978): nhà triết học, dịch giả và nhà nghiên cứu phương Đông người Pháp, học giả hàng đầu về Hồi giáo và các tôn giáo vùng Trung Đông. Ông từng sang Đức để trao đổi triết học với Heidegger.
Lucien Barbedette (1890 – 1942): nhà triết học theo chủ nghĩa vô chính phủ người Pháp. Ông có nhiều nghiên cứu giá trị về tâm lý học và triết học thời trung đại.
Emmanuel Mounier (1905–1950): nhà triết học Pháp, thủ lĩnh tinh thần của chủ nghĩa nhân vị tại Pháp, sáng lập viên và giám đốc của tạp chí Espirit. Sau khi tốt nghiệp với thành tích xuất sắc tại Đại học Sorbonne, ông tham gia giảng dạy và viết sách. Tác phẩm The Personalist Manifesto [Tuyên ngôn của chủ nghĩa nhân vị] tạo được ảnh hưởng lớn từ những thập niên 1930. Ông cũng thẳng thắn lên án chủ nghĩa toàn trị và sự dính líu của Vatican vào nền chính trị quốc tế.
Alexandre Kojève (1902–1968): nhà triết học Pháp gốc Nga. Các bài giảng triết học của ông đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các thế hệ triết gia Pháp sau chiến tranh, trong đó có Jean–Paul Sartre,Maurice Merleau–Ponty, Jacques Lacan... Ông còn có đóng góp đặc biệt quan trọng thông qua việc dịch các tác phẩm triết học của Hegel từ tiếng Đức sang tiếng Pháp. [Tham khảo: KIÊN, Nguyễn Trung (2012a)].
Valentino F. Asmus (1894 – 1975): nhà triết học Nga. Ông là một trong số ít các nhà triết học độc lập với trường phái mác-xít chính thống, và duy trì được truyền thống triết học cổ điển châu Âu trong thời kỳ đầu của nền triết học thuật Xô–viết. Các nghiên cứu của ông về triết học Kant được đánh giá cao.
Berdyaev, N. A. [1939] (2015). Con người trong thế giới tinh thần: Trải nghiệm triết học cá biệt luận. Nguyễn Văn Trọng dịch, giới thiệu và chú giải. Hà Nội, Nxb Tri thức.
Otto Fenichel (1897–1946): nhà luận phân tâm người Áo, thuộc thế hệ thứ hai. Ông thuộc trường phái “luận phân tâm mác-xít”, cùng với nhiều thành viên quan trọng khác như Erich Fromm, Wilhelm Reich, Ernst Simmel…
Karl Popper (1902–1994): nhà triết học Anh gốc Áo. Ông được xem là một trong những nhà triết học về khoa học vĩ đại nhất trong thế kỷ XX. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp thử và sai trong quá trình phát triển của khoa học. Ông cũng để lại nhiều nghiên cứu đặc biệt giá trị vềtriết học xã hội và triết học chính trị. Ông là người ủng hộ nhiệt thành cho nền dân chủ tự do, và những nguyên lý về phê bình xã hội của ông đã trở thành nền tảng cho việc xây dựng xã hội mở và đa nguyên.
NIETZSCHE, F. [1885] (1999). Zarathustra đã nói như thế. Trần Xuân Kiêm dịch, Quang Chiến giới thiệu. Hà Nội: Nxb. Văn học (Tủ sách Nghiên cứu).
Alfred Delp (1907 – 1945): nhà nghiên cứu triết học Đức, từng bị đi tù vì lãnh đạo phong trào chống Đức Quốc xã trong những năm chiến tranh.
NIETZSCHE, F. [1886] (2008). Bên kia thiện ác. Nguyễn Tường Văn dịch. Hà Nội: Nxb. Văn hóa thông tin.
Walter Benjamin (1892–1940): nhà triết học, phê bình văn học, phê bình xã hội người Đức, một trong những trụ cột của trường phái Frankfurt. Thông qua việc kết hợp chủ nghĩa duy tâm Đức với chủ nghĩa duy vật lịch sử và huyền thoại Do Thái giáo, ông đã để lại những đóng góp đặc biệt quan trong cho ngành mĩ học và chủ nghĩa Marx tại phương Tây. Benjamin tự tử vào năm 1940 khi cố gắng trốn thoát khỏi phát–xít Đức.
Tham khảo: KIÊN, Nguyễn Trung (2012b).
Anna Freud (1895–1982): nhà luận phân tâm Áo, con gái của Sigmund Freud. Bà có công trong việc ứng luận phân tâm để phân tích tâm lý trẻ em và những nghiên cứu về tầm quan trọng của bản ngã.
Alfred Ayer (1910–1989): nhà triết học Anh, đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa thực chứng logic. Ông giảng dạy logic học trong nhiều năm tại University College London và Đại học Oxford.
FROMM, E. (2012). Phân tâm học và tôn giáo. Lưu Văn Hy dịch. Hà Nội: Nxb. Từ điển Bách khoa.
KANT, I. [1788] (2007). Phê phán lý tính thực hành: Đạo đức học. Bùi Văn Nam Sơn dịch, chú giải. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Bản dịch tiếng Anh của tác phẩm này đã được Nxb. Đại học Northwestern (Mỹ) ấn hành vào năm 1970 (David Carr dịch), bản dịch tiếng Pháp được Nxb. Gallimard (Pháp) ấn hành vào năm 1976 (G. Granel dịch).
Karl Jaspers (1883–1969): nhà triết học và tâm thần học người Đức, có ảnh hưởng lớn đến triết học và tâm thần học hiện đại. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh tại Đức.
SARTRE, J. P. [1938] (1967). Buồn nôn. Phùng Thăng dịch. Sài Gòn: An Tiêm. Tái bản: SARTRE, J. P. [1938] (2008). Buồn nôn. Phùng Thăng dịch. TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Văn hóa Sài Gòn.
BACHELARD, G. [1938] (2009). Sự hình thành tinh thần khoa học: Góp phần luận phân tâm về sự hiểu biết khách quan. Hà Dương Tuấn dịch; Nguyễn Văn Khoa hiệu đính. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Henri Lefebvre (1901–1991): nhà triết học và xã hội học mác-xít người Pháp, nổi tiếng với những phê phán về đời sống thường ngày, và khái niệm kiến tạo không gian xã hội, bên cạnh các tác phẩm về phép biện chứng, về sự tha hóa và những phê phán đối với chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa cấu trúc.
Norbert Guterman (1900–1984): học giả và dịch giả người Pháp, theo đạo Do Thái. Ông cộng tác với nhà lý thuyết mác-xít Henri Lefebvre để dịch sang tiếng Pháp các tác phẩm của Marx thời trẻ. Sau đó, ông di cư sang Mỹ và trở thành biên tập viên của tạp chí cánh tả Monthly Review.
Ludwig Feuerbach (1804–1872): nhà triết học và nhân chủng học người Đức, ảnh hưởng lớn đến Karl Marx và Friedrich Engels. Ông ủng hộ chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa duy vật, đồng thời phê phán những mặt trái của tôn giáo. Ông được coi là một trong những “cây cầu” về tư tưởng giữa Hegel và Marx.
Thư khố Husserl: được thành lập bởi Linh mục Herman Van Breda (1911–1974), một tu sĩ dòng Thánh Francis, khi đó là nghiên cứu sinh tại Viện Triết học Cao cấp Leuven thuộc Đại học Công giáo Louven, tại Thành phố Louven (Bỉ), nơi vợ chồng ông bà Husserl tị nạn chính trị trước sự truy bức của phát–xít Đức. Năm 1938, khi Husserl qua đời, trước mối đe dọa về sự phá hoại của phát–xít Đức đối với di cảo của Husserl, với sự đồng ý của người vợ Husserl và sự cố vấn của Maurice Merleau–Ponty, Breda và cộng sự đã di dời toàn bộ di cảo của Husserl (gồm hơn 40.000 trang bản thảo viết tay của Husserl) về Viện Triết học Cao cấp Leuven, và lưu trữ di cảo của Husserl từ đó cho đến nay. Để làm được việc này, Breda đã phải vận động Thủ tướng Bỉ khi đó là Paul–Henri Spaak để mang di cảo của Husserl từ thành phố Freiburg (Đức) (nơi Husserl sống và làm việc những năm cuối đời) tới Đại sứ quán Bỉ tại Đức rồi vận chuyển về Bỉ theo đường ngoại giao, vượt qua sự kiểm soát của quân đội phát–xít Đức, làm cơ sở để bảo tồn nguyên vẹn di cảo của Husserl và xuất bản Toàn tập Husserl (Husserliana) trong những năm sau chiến tranh, gồm 30 tập, xuất bản liên tục trong giai đoạn 1962–1996, với sự cộng tác đắc lực của Merleau–Ponty, Ludwig Landgrebe, Eugen Fink và Trần Đức Thảo. Họ cũng tham gia vào các hoạt động của Thư khố Husserl trong thời kỳ đầu. Thư khố Husserl ở Paris tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm được thành lập năm 1988, do Jean–François Courtine làm giám đốc. [Nguồn: LUẬT, Phạm Trọng (2004)].
Tạp chí triết học bằng tiếng Pháp xuất bản tại Bỉ, với sự cộng tác và hỗ trợ của Karl Popper và Bertrand Russell.
Jean Hyppolite (1907–1968): nhà triết học Pháp, có công lớn trong việc dịch và truyền bá triết học Hegel vào Pháp. Sau khi tốt nghiệp tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm cùng thời điểm với Jean–Paul Sartre, ông đã tự học tiếng Đức để đọc và sau đó dịch tác phẩm kinh điển của Hegel,Hiện tượng luận Tinh thần, từ tiếng Đức sang tiếng Pháp. Những bài giảng và công trình nghiên cứu về Hegel và Karl Marx của ông tại các trường đại học đã góp phần quan trọng để hình thành nên một thế hệ triết gia Pháp mới, với nhiều tên tuổi lớn, trong đó có Trần Đức Thảo, Michel Foucault, GillesDeleuze, Jacques Derrida và Étienne Balibar.
Nicola Abbagnano (1901-1990): nhà triết học hiện sinh người Ý. Ông ủng hộ chủ nghĩa duy nghiệm. Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi Husserl, Kierkegaard, Heidegger và Jaspers, nhưng tư tưởng triết học của ông có nhiều điểm gần gũi với các nhà triết học hiện sinh Pháp.
BERDYAEV, N. A. [1939] (2015). Con người trong thế giới tinh thần: Trải nghiệm triết học cá biệt luận. Nguyễn Văn Trọng dịch, giới thiệu và chú giải. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
KANT, I. [1790] (2007). Phê phán năng lực phán đoán: Mỹ học và mục đích luận. Bùi Văn Nam Sơndịch, chú giải. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
TOCQUEVILLE, A. [1840] (2007). Nền dân trị Mỹ. Phạm Toàn dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính, giới thiệu. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Marvin Farber (1901 – 1980): nhà triết học Mỹ, có công đầu trong sự phát triển của hiện tượng luận tại lục địa Bắc Mỹ. Ông phụ trách tờ tạp chí Philosophy and Phenomenological Research trong hơn 40 năm.
DESCARTES, R. [1641] (1972). Những suy niệm siêu hình học. Trần Thái Đỉnh dịch và chú giải. Sài Gòn: Ra khơi xuất bản.
Gaston Berger (1896 – 1960): nhà triết học và tương lai học người Pháp sinh tại Senegal, nổi tiếng với nghiên cứu về triết học Husserl. Thời trẻ, sau khi phục vụ quân đội, ông theo học tại Đại học Aix–en–Provence và là học trò của Maurice Blondel, để lại nhiều nghiên cứu giá trị về tâm lý học và tương lai học. Ông có nhiều đóng góp lớn đối với quá trình hiện đại hóa hệ thống đại học Pháp vào những thập niên sau chiến tranh. Ông cũng có vai trò quan trọng trong trao đổi văn hóa giữa Pháp và Hoa Kỳ.
Albert Camus (1913–1960): nhà văn, nhà báo và nhà triết học hiện sinh Pháp. Ông là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của chủ nghĩa hiện sinh trong văn chương. Tiếp thu truyền thống nhân văn của văn chương Pháp và chịu ảnh hưởng của khuynh hướng mác-xít, các tác phẩm của ông thể hiện sự tranh đấu chống lại chủ nghĩa hư vô và bảo vệ tự do của con người, mà tiểu luận L’Homme révolte [Sự nổi loạn của con người] là một minh chứng tiêu biểu. Ông cũng là người bạn vong niên thân thiết của Jean–Paul Sartre. Ông được nhận giải thưởng Nobel Văn chương năm 1957.
THI, Nguyễn Đình: Triết học Nietzsche (1942), Triết học Kant (1942), Triết học Descares (1943), Siêu hình học (1943), Triết học Einstein (1943). Hà Nội: Tân Việt (Tủ sách triết học)
Georges Bataille (1897–1962): nhà triết học và nghiên cứu văn học Pháp. Ông nghiên cứu rộng, từ triết học, xã hội học, kinh tế học, nhân chủng học tới văn chương và lịch sử nghệ thuật. Ông đặc biệt thành công với các tác phẩm nghiên cứu về dâm tính trong văn học. Những nghiên cứu của công về chủ nghĩa duy vật dựa trên kinh nghiệm (thay vì theo hướng duy lý hóa) đã ảnh hưởng lớn đến các triết gia thế hệ sau, đặc biệt là Jacques Derrida.
SARTRE, J. P. [1943] (1968). Hữu thể và hư vô. Sài Gòn: Giao Điểm.
Simone Weil (1909–1943): nhà triết học và nhà hoạt động chính trị người Pháp. Là một thần đồng, bà đã tự nghiên cứu triết học Hy Lạp từ năm 12 tuổi. Khi mới 10 tuổi, bà từng tuyên bố theo chủ nghĩa Bolshevik, và ít năm sau, bà tham gia các phong trào của công nhân. Bà là nữ sinh đầu tiên của Khoa Triết thuộc Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Sau khi tốt nghiệp tại d’Ulm, bà dạy học một thời gian trước khi tự nguyện vào làm công nhân cho tập đoàn ô–tô Renault để hiểu thêm về đời sống công nhân. Bà mất trong chiến tranh vì bệnh lao, để lại sự nghiệp dang dở và niềm thương tiếc sâu sắc. Albert Camus từng ca ngợi bà là “tâm hồn vĩ đại duy nhất của thời đại chúng ta”.
Enzo Paci (1911–1976): nhà triết học Ý. Ông là đại diện tiêu biểu nhất của chủ nghĩa hiện sinh ở Ý. Ông đã truyền bá tư tưởng của nhà triết học của Edmund Husserl và triết học của Jean–Paul Sartre vào nền triết học Ý. Tác phẩm: Esistenzialismo e storicismo [Chủ nghĩa hiện sinh và Chủ nghĩa lịch sử] (1950),Fenomenologia e dialettica [Hiện tượng luận và truyền thống duy vật] (1974)…
Theodor W. Adorno (1903–1969): nhà xã hội học, triết học và âm nhạc học người Đức, nổi tiếng với lý thuyết phê phán xã hội và các tư tưởng về mĩ học. Ông là thành viên chủ chốt của trường phái Frankfurt. Trưởng thành trong những thập niên bùng nổ của chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa thực chứng, ông và cộng sự đã sử dụng các tác phẩm của Hegel, Marx, Freud và truyền thống triết học Đức để phê phán chủ nghĩa phát–xít, xã hội công nghiệp hiện đại và nền văn hóa phương Tây đương đại. Tác phẩm Dialektik der Aufklärung [Biện chứng của Khai sáng] của ông ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cánh tả tại châu Âu.
Friedrich August von Hayek (1899 – 1992): nhà kinh tế học và nhà khoa học chính trị người Anh gốcÁo nổi tiếng. Hayek được biết đến qua lập luận ủng hộ cho chủ nghĩa tư bản trên thị trường tự do. Ông vàGunnar Myrdal nhận Giải thưởng Nobel Kinh tế học năm 1974.
HAYEK, F. A. [1944] (2009). Đường về nô lệ. Phạm Nguyên Trường dịch, Đinh Tuấn Minh hiệu đính, giới thiệu. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
NIETZSCHE, F. [1895] (2011). Kẻ phản Ki–tô: Thử đưa ra một phê bình Ki–tô giáo. Hà Vũ Trọng dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
COMTE, A. [1895] (1993). Các quy tắc của phương pháp xã hội học. Nguyễn Gia Lộc dịch. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.
Simone de Beauvoir (1908–1986): nhà văn, nhà triết học hiện sinh, nhà lý thuyết xã hội theo khuynh hướng mác-xít, nhà hoạt động chính trị người Pháp nổi tiếng. Bà là bạn thân và sau đó là vợ của Jean–Paul Sartre. Tác phẩm của bà rất đa dạng về đề tài và thể loại, nhưng bà thành công nhất với các tiểu thuyết. Tiểu thuyết Les Mandarins (1954), phản ánh vai trò và ảnh hưởng của giới trí thức Pháp trong những năm sau chiến tranh, đã được giải thưởng Prix Goncourt – giải thưởng văn học danh giá của Pháp.
Tạp chí chính trị, văn chương và triết học của Pháp, do Jean–Paul Sartre, Maurice Merleau–Ponty, Ramond Aron và Simone de Beauvoir thành lập năm 1945, quy tụ nhiều trí thức và văn nghệ sĩ hàng đầu của Pháp, bên cạnh bốn sáng lập viên, còn có những tên tuổi như Maurice Merleau–Ponty, Albert Camus, André Malraux, Jean Paulhan… Thời gian đầu, Les Temps modernes ảnh hưởng nhiều bởi chủ nghĩa hiện sinh của Sartre. Đến nay, tạp chí này đã phát hành được gần 600 số thường kỳ và rất nhiều số chuyên đề.
Roger Garaudy (1913–2012): nhà triết học mác-xít người Pháp. Ông tham gia kháng chiến chống lại sự xâm lược nước Pháp của phát–xít Đức trong Đại chiến thế giới II, và bị bắt làm tù binh. Sau chiến tranh, ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, được bầu làm nghị sĩ quốc hội, đại diện cho tiếng nói của Đảng Cộng sản và các lực lượng cánh tả Pháp. Năm 1970, ông rời bỏ Đảng Cộng sản Pháp sau sự kiện Mùa Xuân Praha. Tác phẩm của ông tạo ra tranh luận sôi nổi.
POPPER, K. [1945] 2004. Xã hội mở và những kẻ thù của nó. Nguyễn Quang A dịch. Hà Nội: Tủ sách SOS2.
John Lewis (1889–1976): nhà triết học mác-xít người Anh. Ông nghiên cứu rộng, gồm cả nhân chủng học và tôn giáo. Ông để lại nhiều khảo cứu giá trị về triết học mác-xít. Ông cũng tham gia hoạt động chính trị với tư cách một trí thức cánh tả nhiệt thành.
Søren Kierkegaad (1813–1855): nhà triết học Đan Mạch, người khởi xướng thuyết hiện sinh Ki–tô giáo. Ông là cầu nối giữa triết học Hegel với chủ nghĩa hiện sinh. Ông để lại nhiều nghiên cứu giá trị về bản chất của niềm tin, đạo đức học và thần học Ki–tô giáo, trên cơ sở phê phán triết họcHegel. Triết học hiện sinh của ông được xây dựng trên nền tảng hữu thần, khác với triết học của Nietzsche hay Jean–Paul Sartre vốn được xây dựng trên nền tảng vô thần. Ludwig Wittgenstein ca ngợi ông là “nhà tư tưởng sâu sắc nhất của thế kỷ XIX”.
Georges Friedmann (1902 – 1977): nhà xã hội học Pháp. Ông tham gia kháng chiến và dạy học tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm sau chiến tranh, tiếp nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx và có nhiều liên hệ với Đảng Cộng sản Pháp. Ông là cầu nối giữa xã hội học với truyền thống siêu hình học của triết học Pháp. Ông nhấn mạnh sự khác biệt giữa truyền thông và văn hóa đại chúng.
SARTRE, J. P. [1946] (1968). Hiện sinh – một nhân bản thuyết. Thụ Nhân dịch. Sài Gòn: Thế sự; SARTRE, J. P. [1946] (2015). Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản. Đinh Hồng Phúc dịch dịch. Hà Nội: Nxb Tri thức.
Louis Althusser (1918–1990): nhà triết học Pháp. Ông học và sau dạy tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Gia nhập Đảng Cộng sản Pháp năm 1948, ông là một triết gia uy tín của Đảng. Khi trào lưu cấu trúc (structuralisme) tràn ngập các ngành học thuật Pháp từ thập niên 1960 (Roman Jacobson trong ngôn ngữ học, Roland Barthes trong lý luận văn học, Jacques Lacan trong luận phân tâm, Lévi–Strauss trong nhân chủng học), thì Louis Althusser và học trò của ông, Michel Foucault, cũng thuộc khuynh hướng này. Althusser được xem là đầu đàn của trường phái Marx cấu trúc (marxisme structuraliste), còn Michel Foucault thì rẽ sang hướng khác, khi trường phái cấu trúc nổ thành nhiều mảnh “hậu cấu trúc” vào khoảng những năm 1970. Về mặt tư tưởng, chủ nghĩa Marx cấu trúc được xem là giải đáp cho hai mối nguy đang đe dọa dự án cách mạng xã hội chủ nghĩa lúc ấy:chủ nghĩa kinh nghiệm đang ào ạt trở về trong các khoa học xã hội, và khuynh hướng dân chủ, nhân bản trong phương hướng của các chính đảng tả khuynh. Althusser giết vợ năm 1980, bị giam giữ trong nhà thương điên cho đến khi mất năm 1990. (Nguồn: Phạm Trọng Luật (2004)).
Mikel Dufrenne (1910 – 1995): nhà triết học Pháp, tốt nghiệp Đại học sư phạm phố d’Ulm, từng làm Chủ tịch Hội mĩ học Pháp. Ông làm phong phú truyền thống mĩ học Pháp bằng các nghiên cứu mĩ học dựa trên cách tiếp cận của hiện tượng luận.
Jean–François Lyotard (1924–1998): nhà triết học, xã hội học và lý thuyết văn chương Pháp, xu hướng cánh tả. Ông có đóng góp đặc biệt đối với sự phát triển của chủ nghĩa hậu hiện đại, và sự phân tích những tác động của tính hiện đại tới hoàn cảnh con người. Ông là một trong những triết gia phương Tây tiên phong nghiên cứu về các truyền thống tôn giáo, triết học phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, chủ nghĩa khắc kỷ... Ông cùng Jacques Derrida, Gilles Deleuze thành lập Trường Cao đẳng Triết học quốc tế(International College of Philosophy).
C. Montesquieu [1748] 1996. Tinh thần pháp luật (Trích dịch 166 chương cùng các tiểu dẫn và phụ lục). Hoàng Thanh Đạm dịch. Hà Nội: Nxb. Giáo dục.
MARX, K. & F. Engels. [1848] 1946. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Thép Mới dịch. Hà Nội: Nxb. Sự thật (Tủ sách mác-xít).
A. I. Herzen (1812–1870): nhà tư tưởng và nhà văn Nga, được coi là “cha đẻ của chủ nghĩa xã hội Nga”. Ông lên tiếng tố cáo chế độ nông nô của Nga và bảo vệ mạnh mẽ sự tự do của con người, đặc biệt là tự do tư tưởng.
Tham khảo: KIÊN, Nguyễn Trung (2012a).
Claude Lévi–Strauss (1908–2009): nhà nhân chủng học, dân tộc học và triết học nổi tiếng người Pháp, thường được coi là “cha đẻ nhân chủng học hiện đại”. Ông lập luận rằng, tinh thần “dã man” có cùng cấu trúc như tinh thần “văn minh”, và các đặc điểm con người là như nhau ở mọi nơi. Những quan sát như vậy thể hiện rõ trong tác phẩm kinh điển của ông, Tristes Tropique [Nhiệt đới buồn] (1955). Ông là một trong đại diện tiêu biểu của trường phái cấu trúc luận, ảnh hưởng đến triết học và nhiều ngành khoa học nhân văn khác nhau, trong đó các tác phẩm Race et histoire [Chủng tộc và lịch sử] (1952), Anthropologie structurale [Nhân chủng học cấu trúc luận] (1958) trở thành kinh điển cho nhiều ngành, đặc biệt là nhân chủng học.
Jean Lacroix (1900 – 1986): nhà triết học Pháp. Ông kêu gọi vượt qua những “giới hạn” của chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh để đến với chủ nghĩa nhân cách (personalisme), trong đó đức tin tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoàn thiện thế giới quan và nhân sinh quan.
Cornelius Castoriadis (1922 – 1997): nhà triết học, kinh tế học, luận phân tâm và phê bình xã hội người Pháp gốc Hy Lạp. Ông chịu ảnh hưởng của tư tưởng mác-xít từ khi còn rất trẻ, cũng như tư tưởng của triết học Hy Lạp cổ đại và luận phân tâm của Freud. Ông lên tiếng tố cáo những tội ác của chủ nghĩa toàn trị tại Liên Xô thời Stalin. Các tác phẩm của ông về khuynh hướng tự trị và các thể chế xã hội có ảnh hưởng lớn tới giới học thuật và các nhà hoạt động chính trị.
Guy Debord (1931-1994): nhà lý thuyết Mác-xít, nhà văn và nhà làm phim người Pháp, một trí thức cánh tả tiêu biểu của Pháp giai đoạn sau Chiến tranh. Ông tỏ ý quan ngại sâu sắc đối với sự thống trị của các chính phủ và giới truyền thông trong đời sống thường ngày thông qua sản xuất và tiêu thụ hàng loạt. Chịu ảnh hưởng bởi Marx và Lukác, ông phê phán cả chủ nghĩa tư bản phương Tây lẫn chủ nghĩa cộng sản độc tài tại Đông Âu, cho rằng cả hai thể chế này đều thiếu không gian tự trị dành cho cá nhân. Ông cho rằng sự “tha hóa” của con người đã quay trở lại dưới hình thức mới thông qua “diễn cảnh”, trong đó các mối quan hệ xã hội được “ngụy trang” bởi truyền thông đại chúng, quảng cáo và văn hóa đại chúng.
René Le Senne (1882 – 1954): nhà siêu hình học và tâm lý học người Pháp, có nhiều đóng góp quan trong cho ngành triết học về giá trị và các nghiên cứu về quyền lực tâm linh. Sau khi tốt nghiệp tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm, ông giảng dạy tại Đại học Sorbonne. Kế thừa tư tưởng của Kant và phê phán Bergson, các tác phẩm của ông hướng đến chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối, với phát biểu nổi tiếng: “Je souffre, donc je suis” (Tôi đau khổ, vậy tôi tồn tại).
HERZEN, A. I. [1950] 2102. Từ bờ bên kia. Nguyễn Văn Trọng dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
JASPER, K. [1950] (1960). Triết học nhập môn. Lê Tôn Nghiêm dịch. Huế: Nxb. Đại học. Tái bản: Sài Gòn: Ca Dao, 1974.
Paul Ricœr (1913–2005): nhà triết học Pháp. Ông nổi tiếng với những công trình tích hợp hiện tượng luận vào ngành chú giải học, kế thừa tư tưởng của Martin Heidegger và Hans–Georg Gadamer. Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu về triết học Husserl tại Pháp, và là người dịch tác phẩm của Husserl từ tiếng Đức sang tiếng Pháp. Ông cũng có nhiều đóng góp cho ngành triết học ngôn ngữ. Jacques Derrida đã từng làm phụ tá cho ông.
Éric Weil (1904–1977): nhà triết học người Pháp gốc Đức, chịu ảnh hưởng của khuynh hướng mác-xít. Ông là học trò của nhà triết học Đức Ernst Cassirer. Ông cùng với Georges Bataille và Alexandre Koyré sáng lập tạp chí Critique. Ông có ảnh hưởng lớn đối với sự hình thành của ngành Hegel học tại Pháp vào những thập niên sau chiến tranh. Ông cũng để lại nhiều khảo cứu giá trị về triết học Kant.
Ferdinand Alquié (1906 – 1985): nhà triết học và nhà văn Pháp. Thời trẻ, ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực trong văn chương. Sau khi tốt nghiệp tại Đại học Sorbonne, ông giảng dạy triết học tại Paris. Ông có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của chủ nghĩa siêu thực ở Pháp. Ông cũng để lại nhiều nghiên cứu giá trị về triết học của Descartes, Spinoza và Kant. Gilles Deleuze từng là học trò của ông.
Erich Fromm (1900–1980): nhà tâm lý xã hội, luận phân tâm, xã hội học, triết học nhân văn và nhà dân chủ xã hội người Đức. Ông có nhiều ảnh hưởng đến trường phái “Lý thuyết phê phán Frankfurt”.
FROMM, E. [1950] (1968). Tâm phân học và tôn giáo. Trí Hải dịch. Sài Gòn: Tu thư Đại học Vạn Hạnh.
Fritz Heinemann (1889–1970): nhà triết học Đức, xuất thân trong gia đình Do Thái thượng lưu. Khi phát–xít Đức lên cầm quyền và cấm ông giảng dạy tại các trường đại học của Đức, ông đã di cư sang Pháp và tiếp tục dạy học tại Đại học Sorbonne, kết bạn với Gabriel Marcel và Nicolai Berdyaev. Các tác phẩm của ông là lời phê phán đanh thép đối với chủ nghĩa hiện sinh.
Hannah Arendt (1906–1975): nhà lý thuyết chính trị người Mỹ gốc Đức, học trò của Heidegger. Các tác phẩm của bà đề cập đến bản chất của quyền lực chính trị, chủ nghĩa toàn trị, nền dân chủ trực tiếp và các đề tài quan trọng khác của chính trị học hiện đại.
Sau này, Trần Đức Thảo nói rõ: Ông trở về Việt Nam tham gia kháng chiến là để thấu hiểu chủ nghĩa Marx – Lenin và khắc phục những khuynh hướng phát triển không đúng với tinh thần của Marx, Engels và Lenin, mà ông thấy đã chớm nở từ sau khi tư tưởng Stalin thống trị học thuyết mác-xít, cụ thể là tư tưởng siêu hình, tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp, đối lập một cách siêu hình giữa các hệ thống triết học, giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, không nhận thức được quy luật biện chứng trong sự kế thừa [Nguồn: CHỬ, Cù Huy & Cù Huy Song Hà (2011)].
Yvon Belaval (1908 – 1988): nhà triết học và ngữ văn người Pháp, chuyên gia về Leibniz và triết học thế kỷ XVIII, chịu ảnh hưởng của truyền thống siêu hình học Đức. Ông có đóng góp lớn trong việc phục hồi các bản thảo chưa được xuất bản của Leibniz. Ông để lại nhiều công trình giá trị về triết học của Voltaire, Diderot và Hegel. Ông giảng dạy nhiều năm tại Đại học Lille. Michel Foucault từng làm trợ lý cho ông.
Frantz Fanon (1925–1961): nhà triết học và hoạt động chính trị cấp tiến người Pháp, theo khuynh hướng mác-xít. Ông có nhiều ảnh hưởng trong các nghiên cứu về lý thuyết phê phán, các vấn đề thuộc địa và hậu thuộc địa. Ông lên tiếng mạnh mẽ ủng hộ phong trào giải phóng thuộc địa, đặc biệt là các thuộc địa của Pháp trên toàn thế giới. Ông là một trong những nhà triết học chịu ảnh hưởng của Trần Đức Thảo.
Kuroda Kan’ichi (1927–2006): nhà triết học và lý thuyết xã hội Nhật Bản. Ông chịu ảnh hưởng của triết học mác-xít từ trẻ, sau đó theo học các nhà triết học nổi tiếng như Umemoto Katsumi và Uno Kōzō. Ông phê phán “chủ nghĩa duy vật máy móc” và phát triển lý thuyết riêng về “tính khách quan duy vật biện chứng” (Materialist Subjectivity). Ông để lại nhiều khảo cứu giá trị về lịch sử văn hóa Nhật Bản.
EINSTEIN, A. [1953] (2005). Thế giới như tôi thấy. Đinh Bá Anh, et al dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
Roland Barthes (1915–1980): nhà văn, nhà phê bình và lý luận văn học Pháp. Nghiên cứu của ông trải rộng và ảnh hưởng đến nhiều trường phái, lý thuyết như chủ nghĩa cấu trúc, ký hiệu học, nhân chủng học, chủ nghĩa hậu cấu trúc... Thời trẻ, ông đọc Sartre, Marx, Lénine và Trotsky, sau đó tiếp xúc với ngôn ngữ học cấu trúc (Saussure, Jakobson…) và trở thành đại biểu chính của cấu trúc luận trong văn học. Ông còn hoạt động tích cực trong nhiều lĩnh vực văn hóa khác như sân khấu, báo chí, xuất bản…
BARTHES, R. [1953] (1997). Độ không của lối viết. Nguyên Ngọc dịch và giới thiệu. Hà Nội: Nxb. Hội nhà văn.
Raymond Bayer (1898–1960): nhà triết học Pháp, từng giảng dạy tại Đại học Sorbonne. Ông để lại nhiều nghiên cứu giá trị về mĩ học.
Jacques Lacan (1901–1981): nhà luận phân tâm và tâm lý học trị liệu nổi tiếng người Pháp. Ông phủ định luận điểm vốn vẫn được thừa nhận rộng rãi rằng ngôn ngữ có thể mô tả hiện thực. Với những bài giảng trong giai đoạn 1953–1981, ông đã có nhiều ảnh hưởng tới giới trí thức Pháp trong những thập niên 1960–1970, đặc biệt là các nhà triết học thuộc trường phái hậu cấu trúc, đồng thời thúc đẩy tiến trình tiếp nhận triết học Heidegger tại Pháp. Lý thuyết của ông còn ảnh hưởng tới sự phát triển của xã hội học, văn học và điện ảnh. Ông là một trong những người gây tranh cãi nhất trong lịch sử luận phân tâm.
Guy Besse (1919–2004): nhà triết học mác-xít và chính trị gia người Pháp, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp. Ông tham gia các hoạt động trong phong trào cộng sản tại Pháp từ thời trẻ. Ông từng giảng dạy triết học tại Sorbonne, nghiên cứu tại CNRS và làm giám đốc Édition Sociales(Nhà xuất bản Xã hội). Cùng với Roger Garaudy, ông có nhiều ảnh hưởng đến hoạt động lý luận của Đảng Cộng sản Pháp.
Maurice Caveing (1923): nhà triết học và lịch sử toán học người Pháp. Chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa nhân văn, ông đã đưa ra những kiến giải mới mẻ về lịch sử toán học. Ông từng làm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia (CNRS).
Jules Vuillemin (1920 – 2001): nhà triết học Pháp, có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng cho lý thuyết về tri thức. Ông là bạn thân của Giáo sư Trần Đức Thảo tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm, cùng tốt nghiệp cử nhân triết học với Trần Đức Thảo tại đây vào năm 1943. Ông là chủ nhiệm bộ môn “Triết học về tri thức” tại Collège de France trong giai đoạn 1962–1990, sinh hoạt triết học chung với các đồng nghiệp nổi tiếng như Michel Foucaul và Pierre Bourdieu. Ông là một trong những triết gia Pháp đầu tiên có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành triết học phân tích thông qua việc truyền bá các tác phẩm của Bertrand Russell, Rudolf Carnap và W. v. O. Quine vào nền triết học Pháp.
Johann Gottlieb Fichte (1762–1814): nhà triết học Đức, người sáng lập chủ nghĩa duy tâm Đức trên tinh thần kế thừa di sản triết học Kant. Fichte được xem là “cầu nối” giữa Kant và Hegel. Ông có nhiều nghiên cứu quan trọng về quá trình tự ý thức. Ông được coi là một trong những người hình thành và phát triển chủ nghĩa dân tộc tại Đức.
Henri Arvon (1914–1992): nhà lịch sử tư tưởng người Pháp, viết nhiều tác phẩm về lịch sử của chủ nghĩa vô chính phủ. Ông để lại một số nghiên cứu giá trị về chủ nghĩa Marx, mĩ học mác-xít và các nhà mác-xít Nga. Ông còn có công lớn trong việc truyền bá Phật giáo vào Pháp và châu Âu. Tác phẩm “Le Bouddhisme” [Phật giáo] do ông biên soạn, trong bộ sách Que sais–je? [Tôi biết gì] nổi tiếng, đã được tái bản hơn 20 lần.
Gusav Bergmann (1906 – 1987): nhà triết học Áo. Ông là thành viên của nhóm “Vienna Circle”, vốn ủng hộ mạnh mẽ cho chủ nghĩa thực chứng logic.
Jean Beaufret (1907–1982): nhà triết học Pháp, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền bá triết học Heidegger tại Pháp. Là người rất thành công trong sự nghiệp giảng dạy triết học, ông đã cùng với các sinh viên của mình thảo luận triết học với Heidegger vào những năm sau chiến tranh.
CHARDIN, P. T. C. [1955] (2014). Hiện tượng con người. Đặng Xuân Thảo dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
LÉVI–STRAUSS, C. [1955] 2009. Nhiệt đới buồn. Ngô Bình Lâm dịch; Nguyên Ngọc hiệu đính. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
Sidney Hook (1902 – 1989): nhà triết học Hoa Kỳ thuộc trường phái thực dụng. Ông có nhiều đóng góp trong triết học về lịch sử, triết học về giáo dục và đạo đức học. Ông nổi tiếng với những phê phán về chủ nghĩa toàn trị và chủ nghĩa phát–xít. Ông cũng là thành viên tích cực của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ.
Joachim Ritter (1903–1974): nhà triết học Đức. Là bạn học của Martin Heidegger, ông bảo vệ luận án tiến sĩ triết học năm 1925 dưới sự hướng dẫn của Ernst Cassire. Là một trong những triết gia Đức ảnh hưởng nhất trong những thập niên sau chiến tranh, ông cho rằng “xã hội dân sự” có chức năng “mĩ hóa” các mối quan hệ giữa người với người, giúp giải phóng con người khỏi những ràng buộc của các mối quan hệ xã hội mang tính “truyền thống” để thích ứng với xã hội hiện đại.
POPPER, K. [1957] (2010). Sự nghèo nàn của thuyết sử luận. Chu Lan Đình dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
BATAILLE, G. [1957] (2013). Văn học và cái ác. Phạm Xuân Nguyên dịch. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
Milovan Đilas (1911 – 1995): chính trị gia người Nam Tư, theo khuynh hướng “xã hội chủ nghĩa dân chủ”. Ông hoạt động chính trị tích cực từ trẻ, đi nhiều và giao du với nhiều nhân vật quan trọng của “khối Cộng sản”, trong đó có Stalin.
Elizabeth Anscombe (1919 – 2001): nhà triết học phân tích người Anh. Bà là học trò và là chuyên gia hàng đâu về triết học của Ludwig Wittgenstein. Bà nghiên cứu rộng: triết học về tư duy, triết học về ngôn ngữ, đạo đức học, logic triết học... Trong tác phẩm Intention [Ý hướng tính], bà khẳng định ý hướng tính là cơ sở để chúng ta tự nhận thức về bản thân mình.
Alain Badiou (1937): nhà triết học mác-xít người Pháp, gương mặt tiêu biểu của giới trí thức cánh tả. Ông từng làm Chủ nhiệm Khoa Triết tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Lĩnh vực nghiên cứu triết học của ông trải rộng: từ chủ nghĩa Marx, bản thể luận, đạo đức học đến triết học về toán học… Ông cũng từng là lãnh tụ của L’Organisation Politique, đấu tranh cho quyền lợi của tầng lớp lao động bình dân và người nhập cư.
BARTHES, R. [1958] 2008. Những huyền thoại. Phùng Văn Tửu dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa tri thức Nhân loại).
Raya Dunayevskaya (1910–1987): nhà triết học Mỹ gốc Nga, theo đạo Do Thái. Bà từng làm thư ký cho Leon Trotsky trong thời gian ông bị trục xuất sang Mexico. Bà được xem là người sáng lập chủ nghĩa nhân văn mác-xít tại Mỹ vì có nhiều đóng góp quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Marx nhân văn tại đây.
CHÂU, Nguyễn Nam (1958). Sứ mệnh văn nghệ. Huế: Nxb. Đại học.
Các bài tiêu biểu: Vấn đề giải thoát con người trong Phật Giáo và tư tưởng J.P Sartre (Nguyễn Văn Trung); Thời gian Hiện sinh trong ‘Đoạn Trường Tân Thanh’ (Lê Tuyên); Vài cảm nghĩ về tình cảm phi lý của kẻ lưu đầy (Nguyễn Văn Trung); Từ tri thức phản kháng đến tình liên đới nhân loại (Lê Tuyên); Vị trí trào lưu hiện sinh trong lịch sử Triết học (Trần Văn Toàn); Giới thiệu Triết học Merleau–Ponty (Trần Thái Đỉnh); G. Marcel hay con người là một huyền niệm (Thân Văn Tường); Vấn đề con người trong tư tưởng Karl Jaspers(Lê Tôn Nghiêm); Cuộc đời như một tra hỏi (Nguyễn Văn Trung); KarlJaspers hay là thảm trạng của tri thức trong thân phận con người (Thân Văn Tường); M. Heidegger là triết gia của Hữu thể hay của Hư vô (Thân Văn Tường); Thi ca và triết học (Nguyễn Văn Trung); Yếu tính của tha nhân (Trần Thái Đỉnh); Tôi với người khác (Cung Giũ Nguyên); Tha nhân, thành phần của bản thân tôi (Trần Văn Toàn); Heidegger và bản chất của thi ca (Trần Thái Đỉnh)…
DARWIN, C. [1859] (2009). Nguồn gốc các loài qua con đường chọn lọc tự nhiên hay sự bảo tồn những nòi ưu thế trong đấu tranh sinh tồn. Trần Bá Tín dịch, Nguyễn Duy Long hiệu đính, Bùi Văn Nam Sơngiới thiệu. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
MILL, J. S. [1859] (2005). Bàn về tự do. Nguyễn Văn Trọng dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
Lucien Goldmann (1913–1970): nhà triết học Pháp, sinh tại Rumani, gốc Do Thái. Ông là nhà triết học mác-xít đầy ảnh hưởng, được các nhà triết học cùng thời ca ngợi là “nhà mác-xít tuyệt vời và thông minh nhất của thời đại”, một đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa cấu trúc. Chịu ảnh hưởng của Blaise Pascal, ông tự đánh giá các tác phẩm của mình là mang tính “duy vật” và “nhân bản”.
Gustav Gustavovich Shpet (1879 – 1937): nhà hiện tượng luận người Nga xuất sắc, và nhà bác ngữ(ông thông thạo 17 ngôn ngữ khác nhau). Ông có nhiều nghiên cứu giá trị về triết học, mĩ học và ngôn ngữ Nga. Ông từng là học trò và bạn vong niên của Husserl. Ông đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình tiếp nhận hiện tượng luận tại Nga và Liên Xô. Ông nỗ lực tổng hợp hiện tượng luận của Husserl với triết học Plato và tư tưởng của Chính Thống giáo. Năm 1935, ông bị chính quyền Stalin bắt giam, và trong thời gian lao tù, ông đã hoàn thiện bản dịch tác phẩm Hiện tượng luận tinh thần từ tiếng Đức sang tiếng Nga. Ông bị xử tử năm 1937.
Hans–Georg Gadamer (1900–2002): nhà triết học Đức, một tên tuổi lớn của truyền thống triết học lục địa. Qua tác phẩm Wahrheit und Methode [Chân lý và Phương pháp], ông đã đưa ngành thông diễn học phát triển lên tầm cao mới. Ông cũng phê phán khuynh hướng áp dụng phương pháp luận của khoa học tự nhiên vào các ngành khoa học xã hội và nhân văn.
SA, Nguyên (1960). Quan điểm văn học và triết học. Sài Gòn: Nam Sơn.
Michel Foucault (1926–1984): nhà triết học, lý thuyết xã hội, lịch sử tư tưởng và phê bình văn học nổi tiếng người Pháp. Tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm, ông là học trò của Jean Hyppolite và Louis Althusser. Ông có ảnh hưởng lớn tới triết học và nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau thông qua sự phân tích về các cơ chế sử dụng tri thức như là một công cụ kiểm soát xã hội, những nghiên cứu phê phán về các thể chế xã hội, nhân chủng xã hội học về y khoa, nghiên cứu về các hệ thống nhà tù, và lịch sử giới tính của con người. Ông cũng tham gia nhiều hoạt động chính trị, xã hội với tư cánh một trí thức cánh tả nhiệt thành.
GARAUDY, R. [1961] (1964). Viễn cảnh của con người. Trần Đức Thảo dịch. Bản thảo đánh máy, 426 trang. Ký hiệu biên mục: VV70.01026 – VV70.01027. Hà Nội: Thư viện Quốc gia Việt Nam.
JUNG, C. G. [1961] (1967). Thăm dò tiềm thức. Vũ Đình Lưu dịch. Sài Gòn: Hoàng Phương Đông xuất bản. In lại: Thúy, Đỗ Lai (2004), tr. 101 – 210. Tái bản: JUNG, C. G. [1961] (2007). Thăm dò tiềm thức. Vũ Đình Lưu dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
ROUSSEAU, J. J. [1762] (2008). Émile hay là về giáo dục. Lê Hồng Sâm, Trần Quốc Dương dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới)
Jürgen Habermas (1929): nhà xã hội học và triết học người Đức, nổi tiếng với các đóng góp về thuyết phê phán và chủ nghĩa thực dụng. Ông được biết đến với nghiên cứu khái niệm không gian công trong tác phẩm Strukturwandel der Öffentlichkeit [Sự chuyển dịch cấu trúc của không gian công]. Các tác phẩm của ông tập trung vào cơ sở của lý thuyết xã hội và nhận thức luận, những phân tích về các xã hội tư bản tiên tiến và nền dân chủ, pháp quyền trong phạm vi phát triển văn hóa–xã hội và chính trị đương thời, đặc biệt là chính trị Đức.
Thomas Kuhn (1922–1996): nhà vật lý học, sử học và triết học về khoa học người Mỹ, nổi tiếng với tác phẩm The Structure of Scientific Revolutions [Cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học], tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong nhận thức luận khoa học, trong đó ông đưa ra khái niệm “paradigm shift” (chuyển dịch hệ hình), ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của khoa học xã hội nửa cuối thế kỷ XX.
KUHN, T. S. [1962] 2008. Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học. Chu Lan Đình dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
Lucien Sève (1926): nhà triết học mác-xít nổi tiếng của Pháp. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, phụ trách Nhà xuất bản Xã hội (thuộc Đảng Cộng sản Pháp). Ông chia sẻ nhiều quan điểm triết học với Giáo sư Trần Đức Thảo. Ông có công trong việc giới thiệu tác phẩm Những nghiên cứu về nguồn gốc tiếng nói và ý thức của Giáo sư Trần Đức Thảo cho độc giả Pháp ngữ.
SÈVE, L. [1962] 1967. Triết học hiện đại Pháp và nguồn gốc của nó từ năm 1789 đến nay. Phong Hiềndịch. Hà Nội: Nxb. Khoa học.
Jacques Derrida (1930–2004): nhà triết học Pháp. Ông phát triển lý thuyết phê phán được biết đến là giải cấu trúc (deconstruction). Các tác phẩm của ông, được gọi là hậu cấu trúc luận và gắn với triết học hậu hiện đại, ảnh hưởng lớn tới nhân chủng học, xã hội học, luật học, ký hiệu học, lý thuyết văn học và những nghiên cứu về văn hóa. Ông là nhân vật được bàn luận nhiều trong bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức học, mĩ học, thông diễn học và triết học ngôn ngữ. Các tác phẩm của ông cũng gây ảnh hưởng tới kiến trúc, âm nhạc, phê bình nghệ thuật… Tầm ảnh hưởng rộng lớn khiếnDerrida trở thành một nhân vật văn hóa nổi tiếng.
Gilles Deleuze (1925–1995): nhà triết học Pháp, có nhiều ảnh hưởng lớn trong triết học và các ngành nghệ thuật khác như văn chương, điện ảnh, hội họa. Ông là học trò của các triết gia hàng đầu của Pháp Georges Canguilhem, Jean Hyppolite, Ferdinand Alquié trong thời gian học tập tại Đại học Sorbonne. Các tác phẩm của ông có thể chia làm hai nhóm: các công trình diễn giải tác phẩm của các triết gia lớn và nhà văn lớn (Spinoza, Leibniz, Hume, Kant, Nietzsche, Bergson, Foucault, Proust, Kafka...), và các công trình viết về các khái niệm quan trọng (khác biệt, cảm giác, tâm thần phân liệt, điện ảnh...). Hai tác phẩm lớn của ông, viết chung với Félix Guattari là Capitalism and Schizophrenia: Anti–Oedipus (1972) và A Thousand Plateaus(1980).
DELEUZE, G. [1962] 2010. Nietzsche và triết học. Nguyễn Thị Từ Huy dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
GIÁNG, Bùi (1962). Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại. Sài Gòn: Vĩnh Phước. Tái bản:, Bùi Giáng [1962] (2001). Martin Heidgger và tư tưởng hiện đại: Sartre, Marcel, Camus, Faulkner. Hà Nội: Nxb. Văn học.
Jean–Toussaint Desanti (1914–2002): nhà triết học và toán học Pháp, học trò của Jean Cavaillès, giáo sư tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm và Đại học Sorbonne, và là một trong những chuyên gia hàng đầu về hiện tượng luận Husserl tại Pháp. Ông tham gia kháng chiến chống phát–xít Đức vào năm 1940, gia nhập Đảng Cộng sản Pháp vào năm 1943, và là bạn chiến đấu của André Malraux. Jacques Derrida và Louis Althusser là hai trong nhiều học trò nổi tiếng của ông. Ông là bạn cũ của Giáo sư Trần Đức Thảo trong thập niên 1940 tại Paris, và là người giúp đỡ Giáo sư trong những năm tháng cuối đời của Giáo sư tại Paris.
Ludwig Landgrebe (1902–1991): nhà hiện tượng luận người Áo, từng là trợ lý cho Edmund Husserl, và làm Giám đốc Thư khố Husserl từ năm 1954. Ông chịu ảnh hưởng của Max Scheler nhiều hơn, và có nhiều quan điểm khác biệt với Husserl, thể hiện lập trường triết học gần gũi hơn với chủ nghĩa hiện sinh và siêu hình học.
Hal Draper (1914–1990): nhà triết học và nhà hành động theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa người Mỹ. Ông có nhiều tác phẩm giá trị về lịch sử và ý nghĩa của tư tưởng Karl Marx.
William Alston (1921 – 2009): nhà triết học Mỹ, có nhiều đóng góp lớn cho các ngành triết học ngôn ngữ, nhận thức luận và triết học Thiên Chúa giáo. Ông nhấn mạnh đến vai trò của các trải nghiệm huyền bí trong quá trình nhận thức.
Étienne Balibar (1942): nhà triết học mác-xít người Pháp, học trò của Louis Althusser, tham gia các buổi seminar của Althusser về tác phẩm Tư bản của Marx. Ông có nhiều năm giảng dạy triết học tại Đại học Paris X và các đại học lớn của Pháp. Sau khi Althusser mất, ông được coi như là một trong những nhà triết học mác-xít quan trọng nhất của triết học Pháp đương đại.
CAMUS, A. [1942] (1965). Người xa lạ. Võ Lang dịch. Sài Gòn: Thời Mới.
TOÀN, Trần Văn (1965a). Triết học Karl Marx. Sài Gòn: Nam Sơn xuất bản.
TOÀN, Trần Văn (1965b). Hành trình đi vào triết học. Sài Gòn: Nam Sơn xuất bản.
TOÀN, Trần Văn (1965c). Xã hội và con người. Sài Gòn: Nam Sơn xuất bản.
TOÀN, Trần Văn (1967). Tìm hiểu đời sống xã hội. Sài Gòn: Nam Sơn xuất bản.
THIỆN, Phạm Công (1965). Ý thức mới trong văn nghệ và triết học. Sài Gòn: An Tiêm.
La Pensée: tạp chí đa chuyên ngành uy tín hàng đầu tại Pháp, do một nhóm trí thức cánh tả thành lập năm 1939, gồm Henri Wallon, Frédéric Joliot–Curie (Nobel Vật lý học), Marcel Prenant, Georges Cogniot… Tên đầy đủ của tạp chí này là Tạp chí về Chủ nghĩa duy lý hiện đại, Khoa học, Triết học và Nghệ thuật. Thời gian đầu, tạp chí xuất bản định kỳ 2 tháng một kỳ, sau đó chuyển thành tạp chí hàng quý.
Tiêu biểu là các bài: Lý Chánh Trung, “E. Mounier, con người của đối thoại”, Hành trình số 9, tháng 12/1965; Vũ Đình Lưu, “Nền tảng đạo đức luận của Sartre và Camus”, Văn số 25, Sài Gòn, 1965, tr. 39; Nguyễn Văn Trung, “Sartre trong đời tôi”, Bách Khoa số 267–268, ngày 15/2 và 01/3/1968; số 269–270, ngày 15/3 và 01/4/1968; Nguyễn Trọng Văn, “Những người con hoang của Nguyễn Văn Trung”, Bách Khoa số 264, Sài Gòn, ngày 01/01/1968; Thế Nguyên, “Nghĩ về “văn chương hiện sinh” hay là tính chất “sì–nốp–bít” của xã hội miền Nam”, Nghiên cứu văn học số 6, Sài Gòn, tháng 6/1968.
Mario Tronti (1931): nhà triết học xuất sắc người Ý, tham gia Đảng Cộng sản Ý từ trẻ. Ông có nhiều nghiên cứu giá trị về triết học Hegel và Marx. Các tác phẩm của ông ảnh hưởng lớn đến phong trào công nhân và cánh tả tại Ý.
DEBORD, G. [1967] (2014). Xã hội diễn cảnh. Nguyễn Tùng dịch, chú thích, giới thiệu. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
. Ivan Sviták (1925–1994): nhà triết học và nhà thơ Tiệp Khắc, một gương mặt nổi bật của chủ nghĩa nhân văn mác-xít tại châu Âu. Trong các tác phẩm của mình, ông cố gắng thống nhất triết học với chính trị và văn chương, văn phong gần gũi với chủ nghĩa siêu thực.
ĐỈNH, Trần Thái (1967). Triết học Kant. Sài Gòn: Cơ–sở xuất–bản Phạm Quang Khai. Tái bản: ĐỈNH, Trần Thái [1967] (2005). Triết học Kant. Hà Nội: Nxb. Văn hóa–Thông tin.
THIỆN, Phạm Công (1967a). Im lặng hố thẳm. Sài Gòn: An Tiêm.
THIỆN, Phạm Công (1967a). Hố thẳm của tư tưởng. Sài Gòn: An Tiêm.
THIỆN, Phạm Công (1967c). Ý thức bùng vỡ. Sài Gòn: An Tiêm.
THIỆN, Phạm Công (1967d). Mặt trời không bao giờ có thực. Sài Gòn: An Tiêm.
Nguyễn Văn Trung (1930): giáo sư triết học Việt Nam. Ông là một trong những nhà triết học Việt Nam được đào tạo bài bản. Các tác phẩm tiêu chính: Hành Trình Trí Thức Của Karl Marx (1966), Ca Tụng Thân Xác (1967), Ngôn Ngữ Và Thân Xác (1968)…
TRUNG, Nguyễn Văn (1967). Ca tụng thân xác. Sài Gòn: Nam Sơn xuất bản.
Các bài nghiên cứu về triết học phương Tây trên tạp chí Tư tưởng: “Heidegger và cuộc khủng hoảng của siêu hình học” (H. Hohl): số 1/1967; “Schopenhauer hay con người vô duy” (Huyền Trang Tâm): số 2 & 3/1968; “Thời gian qua Kant, Hegel và Husserl” (Ngô Trọng Anh),“Cách mạng siêu hình học từ Kant đến Heidegger” (Lê Tôn Nghiêm): số 4&5/1968; “Hiện tượng học về Hiện tượng học của Husserl” (Phạm Công Thiện), “Vấn đề thực tại trong hiện tượng học của Husserl” (Ngô Trọng Anh), “Môi trường tiên nghiệm trong hiện tượng học của Husserl về cuối đời” (Lê Tôn Nghiêm): số 1/1969; “Sự thất bại của xã hội học Tây Phương và con đường tư tưởng Việt Nam” (Phạm Công Thiện): số 3/1969; “Vị trí vô thể Heidegger trong tư tưởng Đại thừa” (Ngô Trọng Anh), “Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây Phương” (Lê Tôn Nghiêm), “Từ Heidegger I đến Heidegger II” (Trần Công Tiến); “Sự thất bại toàn diện của Heidegger và con đường tư tưởng Việt Nam (Phê bình Sein Und Zeit-1927 và Zeit Und Sein-1692 của Heidegger)” (Phạm Công Thiện): số 5/1969; “Đẳng thời Lévi-Strauss” (Ngô Trọng Anh), “Sự thất bại của việc giải thích cơ cấu và con đường tư tưởng Việt Nam” (Thích Nguyên Tánh), “Sự thất bại của cơ cấu luận (Phê bình Lévi-Strauss và Jacques Derrida)” (Phạm Công Thiện), “Cơ cấu ngôn ngữ của Michel Foucault” (Tuệ Sỹ): số 6/1969; “Sự vận hành hệ thống Hegel (Bài giảng mở đầu trọn năm dạy về Hegel cho lớp cử nhân triết học Tây phương của Viện Đại học Vạn Hạnh niên khóa 1969-1970)” (Phạm Công Thiện): số 2/1970; “Luận lý thực nghiệm và luận lý nhân minh trong vấn đề nghịch kiến” (Ngô Trọng Anh): số 3/1970 & số 4/1970; “Đức Phật và Nietzsche” (Chơn Hạnh), “Nietzsche và Mật Tông” (Ngô Trọng Anh), “Triết lý giờ Ngọ của Nietzsche trong viễn ảnh một vũ trụ tuần hoàn” (Lê Tôn Nghiêm), “Tiếng hát của Nietzsche một lần trước khi đi vào im lặng trong mười năm cuối cùng” (Phạm Công Thiện): số 5/1970; “Trầm tư về cái chết trong tư tưởng Heidegger và Phật giáo” (Chơn Hạnh): số 1/1971; “Khổ đế Phật giáo và những hoàn cảnh giới hạn trong triết học K. Jaspers” (Lê Mạnh Thát): số 2/1971; “Cuộc tình của Kiekegaard” (Chơn Hạnh): số 5/1971; “Bản thuyết trình về tình yêu trong tư tưởng Kiekegaard” (Lê Tôn Nghiêm): số 8/1971; “Từ dự phóng triết học Husserl đến dự phóng triết học Heidegger” (Trần Công Tiến): số 10/1971; “Vấn đề hóa giải trong tư tưởng Đông Tây” (Ngô Trọng Anh): số 2/1975.
Karel Kosik (1926 – 2003): nhà triết học Tiệp Khắc, thuộc trường phái “Mác-xít mới”. Ông nỗ lực thống nhất hiện tượng luận của Heidegger với những tư tưởng thời trẻ của Marx. Các tác phẩm của ông phê phán gay gắt những mặt trái của xã hội hiện đại trên quan điểm của một trí thức cánh tả.
François Châtelet (1925 – 1985): triết học và tư tưởng chính trị người Pháp. Ông có nhiều năm cộng tác với Michel Foucault và Gilles Deleuze trong các sinh hoạt triết học quan trọng tại Paris. Ông nhấn mạnh vai trò của triết học trong quá trình hình thành tính duy lý của châu Âu hiện đại.
Merab Mamardashvili (1930–1990): nhà triết học Xô–viết gốc Georgia, giảng dạy triết học lâu năm tại Trường Đại học Quốc gia Nga. Chịu ảnh hưởng của triết học cổ điển Đức, ông có nhiều đóng góp cho triết học về nhận thức, về mối quan hệ giữa ý thức, ngôn ngữ và mĩ học… Thông qua hình thức “đối thoại”, ông đã làm sống lại truyền thống Socrates trong các sinh hoạt triết học của nền triết học Xô–viết.
ĐỈNH, Trần Thái (1968a). Triết học hiện sinh. Sài Gòn: Thời Mới.
ĐỈNH, Trần Thái (1968b). Hiện tượng học là gì. Sài Gòn: Thời Mới.
HEIDEGGER, M. (1968). Về thể tính của chân lý. Phạm Công Thiện dịch. Sài Gòn: Nxb. Phương Đông.
TRUNG, Nguyễn Văn (1967). Ngôn ngữ và thân xác. Sài Gòn: Trình bày.
Isaiah Berlin (1909–1997): nhà triết học, lý thuyết chính trị và lịch sử tư tưởng Anh gốc Nga, theo đạo Do Thái. Ông là một cây bút chính luận và nhà thuyết trình xuất sắc, lên tiếng bảo vệ quyền tự do cá nhân và sự đa dạng về giá trị, đồng thời lên án nền độc tài chuyên chế. Ông giảng dạy lý thuyết xã hội và chính trị tại Đại học Oxford. Ông là Chủ tịch Viện Hàn lâm Anh quốc và Chủ tịch Hội nghiên cứu Aristotle. Bài giảng thường niên của ông tại Đại học Oxford vào năm 1958, “Two Concepts of Liberty“ [Hai khái niệm về tự do] đã giúp giới thiệu lại các phương pháp của triết học phân tích trong nghiên cứu triết học chính trị. Ông cũng khuyến khích sự tôn trọng các giá trị khác nhau của con người như là một nền tảng cơ bản để xây dựng một xã hội hòa bình và tự do.
BERLIN, I. [1969] (2014). Bốn tiểu luận về tự do. Nguyễn Văn Trọng dịch. Hà Nội: Tri thức (Tủ sách Tinh hoa).
Ralph Miliband (1924 – 1994): nhà xã hội học Ba Lan, sống và làm việc chủ yếu ở Anh. Cùng với Eric Hobsbawm và Perry Anderson, ông được xem là một trong những nhà khoa học xã hội xuất sắc nhất của truyền thống học thuật mác-xít tại Anh. Ông cũng có vai trò quan trọng trong các hoạt động chính trị của Công Đảng tại Anh.
TRỊ, Lê Thành (1969). Hiện tượng luận về hiện sinh. Sài Gòn: Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa.
QUÂN, Đặng Phùng (1969). Hiện hữu tha nhân với Gabriel Marcel. Sài Gòn: Đêm Trắng.
NIETZSCHE, Friedrich [1888] (1969). Tôi là ai?. Phạm Công Thiện dịch. Sài Gòn: Phạm Hoàng.
Vincent Descombes (1943): nhà triết học Pháp, có nhiều đóng góp trong triết học về ngôn ngữ & triết học về tư duy. Trong tác phẩm Le même et l’autre, ông nhấn mạnh đến sự chuyển dịch trọng tâm nghiên cứu của giới triết học Pháp kể từ thập niên 1960, từ ba “ông vần H”: Hegel, Husserl vàHeidegger, sang “ba bậc thầy của sự nghi ngờ”: Marx, Nietzsche và Freud. Ông nhấn mạnh vai trò của Kojève đối với sự phát triển của triết học Pháp: ông gọi sự phát triển của triết học Pháp kể từ sau thập niên 1930 là “diễn trình hậu-Kojève” (post-Kojèvian discourse), bởi sự ảnh hưởng lớn của chuỗi bài giảng về tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” của Hegel mà Kojève tiến hành tại Paris trong giai đoạn 1933-1939. Ông là thành viên củaSocialisme ou Barbarie, nhóm trí thức cấp tiến theo khuynh hướng chủ nghĩa xã hội tự do.
Jean–François Revel (1924–2006): nhà triết học, nhà văn, nhà báo Pháp nổi tiếng, một người bạn tư tưởng của Giáo sư Trần Đức Thảo. Ông ủng hộ mạnh mẽ cho chủ nghĩa tự do truyền thống và kinh tế học về thị trường tự do trong bối cảnh giới trí thức Pháp bị cuốn vào làn sóng lớn của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa Mao trong những thập niên 1960–1970. Tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm, ông giảng dạy triết học tại nhiều nước trước khi trở lại Pháp, làm Viện trưởng Viện Lịch sử Xã hội. Con trai của ông, Matthieu Ricard, là nhà sinh học xuất sắc trước khi sang Tây Tạng tu tập theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng và trở thành thị giả của Đạt Lai Lạt Ma. Ông và con trai ông cùng xuất bản cuốn sách nổi tiếng, Le moine et le philosophe – Un père et son fils débattent du sens de la vie [Thầy tu và nhà triết học – Cha và con đối thoại về ý nghĩa của cuộc sống] (1997), ghi lại những đối thoại giữa hai cha con, đại diện cho hai thế hệ trí thức Pháp trưởng thành trước và sau Đại chiến thế giới II, bàn về nhiều vấn đề quan trọng của triết học, tôn giáo và quá trình giao thoa tư tưởng Đông–Tây.
MOUNIER, E. [1946] (1970). Những chủ đề hiện sinh. Thụ Nhân dịch. Sài Gòn: Nhị Nùng xuất bản.
NGHIÊM, Lê Tôn (1970a). Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương. Sài Gòn: Lá Bối.
NGHIÊM, Lê Tôn (1970b). Đâu là căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger. Sài Gòn: Trình Bầy.
. Pierre–Félix Guattari (1930–1992): nhà triết học Pháp. Cùng với Gilles Deleuze, ông có nhiều đóng góp quan trọng cho luận phân tâm, thông qua các phẩm viết chung: Capitalism and Schizophrenia (1972), A Thousand Plateaus (1980)...
NGHIÊM, Lê Tôn (1971). Những vấn đề triết học hiện đại. Sài Gòn: Ra Khơi.
TRỊ, Lê Thành (1971). Đường vào triết học. Sài Gòn: Tủ sách Triết học.
SARTRE, J. P. [1947] (1972). Văn học của những tình thế cực đoan. Đỗ Long Vân dịch. Sài Gòn: Tạp chí Trình Bầy, số 42, ngày 02–9–1972.
Jean Baudrillard (1929–2007): nhà xã hội học, triết học, lý thuyết văn hóa và bình luận chính trị người Pháp. Ông là một trong những nhân vật đầy ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hậu cấu trúc. Ông cũng để lại nhiều bình luận chính trị sắc sảo về các vấn đề lớn của thời đại như tác động của công nghệ tới đời sống xã hội, đại dịch HIV/AIDS, nhân bản vô tính, chủ nghĩa khủng bố… Các tư tưởng của ông ảnh hưởng lớn đến thế hệ triết gia Pháp sau chiến tranh, như: Deleuze, Lyotard, Foucault, Derrida, Lacan và Žižek.
Henri Desroches (1914 – 1994): nhà xã hội học, triết học và thần học người Pháp. Xuất thân bình dân, ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx từ trẻ, và đạt được nhiều thành tựu học thuật quan trọng trong ngành xã hội học, đặc biệt là xã hội học tôn giáo.
ĐỈNH, Trần Thái (1973). Biện chứng pháp là gì. Sài Gòn: Văn mới.
Pierre Bourdieu (1930–2002): nhà xã hội học, nhân chủng học, triết học Pháp. Là bạn học cùng lớp triết với Louis Althusser, ông tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm, sau đó giảng dạy tại nhiều trường đại học của Pháp trước khi làm Chủ nhiệm Khoa Xã hội học tại Collège de France. Ông đã tiếp nhận truyền thống phong phú của triết học xã hội, nhân chủng học, xã hội học Pháp và phương Tây từ Pascal, Marx, Durkheim, Weber, Marcel Mauss, Lévi-Strauss, Husserl, Heidegger, Merleau-Ponty, Wittgenstein... để xây dựng các khái niệm mới mẻ như vốn xã hội, vốn văn hóa, vốn biểu tượng, lý thuyết trường… , qua đó đưa ngành xã hội học văn hóa phát triển lên tầm cao mới. Chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cấu trúc, ông có nhiều kiến giải mới mẻ về cách thức qua đó quyền lực được trao truyền, các cấu trúc xã hội được tái sản sinh và trật tự xã hội được duy trì qua các thế hệ. Ông sáng lập tạp chí Actes de la recherche en sciences sociales [Các hoạt động nghiên cứu trong các ngành khoa học xã hội], đưa xã hội học phát triển lên tầm cao mới. Ông và Giáo sư Trần Đức Thảo đã có nhiều trao đổi triết học.
DELEUZE, G. & F. Guattari [1975] (2013). Kafka - Vì một nền văn học thiểu số. Nguyễn Thị Từ Huy dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Anna–Teresa Tymieniecka (1923): nhà triết học người Mỹ gốc Ba Lan. Bà là một trong những nhà hiện tượng luận xuất sắc nhất trong nửa sau của thế kỷ XX. Bà là sáng lập viên và chủ tịch Viện Hiện tượng luận thế giới, đồng thời là biên tập viên chính của chuỗi ấn phẩm Analecta Husserliana, tập hợp các nghiên cứu mới nhất về hiện tượng luận và xuất bản đều đặn từ cuối thập niên 1960 cho tới nay.
Leszek Kołakowski (1927–2009): nhà triết học và lịch sử tư tưởng người Ba Lan. Ông bảo vệ luận án tiến sĩ về Spinoza tại Đại học Warsaw. Ông nổi tiếng với các công trình phân tích phê phán về chủ nghĩa Marx và các công trình về chủ nghĩa Mác trên tinh thần chủ nghĩa nhân văn. Trong các tác phẩm về sau, ông nghiên cứu về các vấn đề tôn giáo. Ông từng tuyên bố: “Chúng ta học lịch sử không phải để biết cách hành xử hay đạt tới thành công, mà để biết chúng ta là ai”.
Perry R. Anderson (1938): nhà sử học và nhà bình luận chính trị người Anh, chuyên gia về lịch sử tri thức, và là gương mặt tiêu biểu của “chủ nghĩa Marx phương Tây”. Ông là em trai của nhà khoa học chính trị Benedict Anderson (1936-2015) - tác giả của công trình nổi tiếng Imagined Communities [Các cộng đồng tưởng tượng]. Ông giảng dạy về lịch sử và xã hội học tại New School for Social Research (New York) và Đại học California ở Los Angeles (Hoa Kỳ), và là biên tập viên chính trong suốt 20 năm của New Left Review, tạp chí học thuật nổi tiếng theo khuynh hướng cánh tả.
Edgar Morin (1924): nhà triết học và xã hội học Pháp gốc Do Thái, và là một trí thức cánh tả nhiệt thành, gia nhập Đảng Cộng sản Phát từ thời trẻ. Ông từng đảm nhiệm Giám đốc nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS). Không chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hậu cấu trúc như các triết gia cùng thời, ông sáng lập trường phái tư duy phức hợp và gây được ảnh hưởng lớn. Tác phẩm của ông, Methode (Phương pháp), gồm 6 tập, xuất bản đều đặn từ năm 1977 đến năm 2004, được hình thành từ những nghiên cứu liên ngành: nhận thức luận, đạo đức học, logic học, sinh học, ngôn ngữ học, nhân chủng học, tâm lý học, lý thuyết thông tin, lý thuyết hệ thống… đã gây tiếng vang lớn và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Trong tác phẩm này, ông kêu gọi xây dựng tư duy phức hợp như là một giải pháp để nhận dạng và giải quyết các vấn đề toàn cầu. Ông kính trọng đạo Phật vì đó là một tôn giáo không có thượng đế. Đối với ông, tư duy là tài sản giá trị nhất của mọi cá nhân và xã hội. Ông đã cống hiến cả cuộc đời vì một châu Âu và một thế giới hòa bình, thịnh thượng, tự do và dân chủ. Ông và Trần Đức Thảo có nhiều trao đổi triết học qua thư từ.
MORIN, E. [1986] (2006). Phương pháp 3: Tri thức về tri thức – Nhân học về tri thức. Lê Diên dịch; Phạm Khiêm Ích biên tập, giới thiệu. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội; MORIN, E. [1991] (2008). Phương pháp 4: Tư tưởng. Chu Tiến Ánh dịch. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội; MORIN, E. [2011] (2015).Phương pháp 5: Nhân loại về nhân loại: Bản sắc nhân loại. Chu Tiến Ánh dịch, Phạm Khiêm Ích biên tập và giới thiệu. Hà Nội: Nxb. Tri thức; MORIN, E. [2004] (2012). Phương pháp 6: Đạo đức học. Chu Tiến Ánh dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
LYOTARD, J. [1979] (2007). Hoàn cảnh hậu hiện đại. Ngân Xuyên dịch; Bùi Văn Sơn Nam hiệu đính.Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
Slavoj Žižek (1949): nhà triết học, phân tâm luận, nhà phê bình văn hóa, học giả Mác-xít và trí thức cánh tả người Slovenia. Ông nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về Hegel và các phân tích về văn hóa đại chúng dựa trên phân tâm học của Lacan. Ông nghiên cứu và giảng dạy về nhiều đề tài, từ triết học, lý thuyết chính trị, lý thuyết văn hóa, phê bình điện ảnh, thần học tới luận phân tâm. Cùng với Althusser, ông phê phán khái niệm “ý thức hệ” của Marx, cho rằng sự phụ thuộc vào “ý thức hệ” sẽ dẫn chúng ta đến nhận thức sai lầm về bản chất con người và tiến trình lịch sử. Ông lên tiếng phê phán chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa tân tự do và ủng hộ Phong trào Cánh tả trên tinh thần cấp tiến. Ông có nhiều bình luận sắc sảo về toàn cầu hóa, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa đa văn hóa, chủ nghĩa Marx... Ông cũng là một trong số rất ít người có hẳn một tạp chí riêng nghiên cứu về tư tưởng của mình ngay khi còn sống, đó là tạp chí International Journal of Žižek Studies. Tạp chí Foreign Policy (Hoa Kỳ) xếp ông vào danh sáng 100 nhà tư tưởng ảnh hưởng nhất thế giới.
Eric Hobsbawn (1917 – 2012): nhà sử học người Anh theo khuynh hướng mác-xít. Ông để lại nhiều tác phẩm giá trị về lịch sử của chủ nghĩa tư bản công nghiệp, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa dân tộc. Về chính trị, ông là một trí thức cánh tả nhiệt thành. Ông là đảng viên kỳ cự của Đảng Cộng sản Anh và là một trong những lãnh tụ của phong trào cộng sản tại các nước Tây Âu. Ông cộng tác lâu năm với nhiều báo và tạp chí cánh tả tại Anh. Ông từng ký tên phản đối cuộc xâm lược Hungary của Liên Xô năm 1956.
Các tác phẩm bằng tiếng Pháp và tiếng Đức tiêu biểu: La crise du mode de production esclavagiste dans L’Empire Romain (Sự khủng hoảng trong phương thức sản xuất của chế độ nô lệ tại Đế chế La Mã); La dialectique générale des forces productives dans le passage d’une formation sociale à une autre plus élevée (Biện chứng tổng quát về các lực lượng sản xuất trong sự chuyển đổi từ một hình thái xã hội đến một hình thái khác cao hơn); Introduction à la genèse de l’Homme (Giới thiệu sự phát sinh loài người); La naissance du premier homme (Sự ra đời của loài người nguyên thủy); Introduction à l’origine de la société, du langage et de la conscience (Giới thiệu về nguồn gốc xã hội, tiếng nói và ý thức); La Formation de l’Homme (Sự hình thành con người); La dialectique de l’aliénation et le développement humain (Biện chứng của sự tha hóa và sự phát triển của con người); La double signification du mouvement révolutionaire (Ý nghĩa kép của phong trào cách mạng); La Méthode de Pensée de Staline (Phương pháp tư tưởng của Staline); Die Bewegung des Zeigens als Konstitution der sinnilichen GewiBheit (Động tác chỉ dẫn – hình thái của cảm quan xác thực)...
RICŒUR, P. [1990] 2002. Chính mình như người khác. Trịnh Văn Tùng tái biên và diễn dịch. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
Marshall Berman (1940 – 2013): nhà triết học, nhà văn Hoa Kỳ theo chủ nghĩa nhân văn mác-xít. Ông ủng hộ chủ nghĩa hiện đại, phê phán chủ nghĩa hậu hiện đại.
Báo cáo đề dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Vũ Hảo, Phó Chủ nhiệm Khoa Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có tiêu đề: “Con người và di sản Trần Đức Thảo trong dòng chảy lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XX”.
Xem: Tài liệu tham khảo.
Les Lettres Françaises: tạp chí văn chương uy tín của Pháp, theo xu hướng cánh tả, thành lập năm 1941, với sự cộng tác và hỗ trợ của nhiều nhà văn, nhà thơ hàng đầu của Pháp, như: Louis Aragon, François Mauriac... Tạp chí này là chuyên san của báo L’Humanité [Nhân đạo], cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp.
Diễn giả là ông Jean–François Poirier, dịch giả, nhà triết học, nhà văn, chuyên gia về triết học Đức và Pháp, và ông Jean–Pierre Han, nhà phê bình văn học và sân khấu.
BENOIST, Jocelyn & Michel Espagne (2013). L’itinéraire de Tran Duc Thao: Phénoménologie et transfert culturel. Paris: Armand Colin.
CHÚ, Nguyễn Đình, et al (2015).
Danh sách này được sắp xếp theo thứ tự Alphabet của họ tên. Do thời gian có hạn, tôi chưa tra cứu được các tác giả và dịch giả: Cao Tôn, Kiến Văn, Trần Văn Nam và Xuân Lộc. Kính mong nhận được sự lượng thứ và chỉ giáo của các tác giả, dịch giả và bạn đọc gần xa. (BS)
1. Tác phẩm Recherches sur l’Origine du Langage et de la Conscience được dịch giả Đoàn Văn Chúc dịch sang tiếng Việt, với tựa đề: Tìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thức [THẢO, Trần Đức (1973 (1996)]). Tuy nhiên, sau khi đọc các Báo cáo (I, II) của Giáo sư Trần Đức Thảo gửi Trung ương về tác phẩm này, thì tôi thấy rằng, chữ Langage trong nguyên bản tiếng Pháp phải được dịch là tiếng nói. Vì vậy, tên đúng của tác phẩm này trong tiếng Việt phải là: Những nghiên cứu về nguồn gốc tiếng nói và ý thức. Từ đây, mỗi khi đề cập đến tên tiếng Việt của tác phẩm ấy, tôi sẽ sử dụng cái tên này, còn khi đề cập đến bản dịch tiếng Việt cụ thể của dịch giả Đoàn Văn Chúc, thì tôi sẽ sử dụng lại tên cũ của dịch giả. (BS)
2. Tôi in nghiêng (NTC).
3. KANT, I. [1781] (2004). Phê phán lý tính thuần túy. Bùi Văn Nam Sơn dịch. Hà Nội: Nxb Văn học, tr. 1176.
4. HƯNG, Phạm Thành (2013).
5. “The ideas of economists and political philosophers, both when they are right and when they are wrong, are more powerful than is commonly understood. Indeed the world is ruled by little else” (KEYNES, J. M. (1936). The General Theory of Employment, Interest and Money. Cambridge, UK: Cambridge University Press, p. 204).
6. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1984b). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
7. Tác giả có chút nhầm lẫn. Trên thực tế, Edmund Husserl mất năm 1938. (BS)
8. Nước Pháp được giải phóng khỏi phát-xít Đức vào mùa Thu năm 1944. (BS)
9. Tác phẩm Erfahrung und Urteil: Untersuchungen zur Genealogie der Logik [Kinh nghiệm và phán đoán: Những nghiên cứu về niên đại học của logic] của Husserl, được xuất bản năm 1939, sau khi Husserl qua đời. (BS)
10. Husserl tự phân loại các bản thảo của mình thành năm nhóm, được xếp từ Nhóm A đến Nhóm E, trong đó Nhóm D gồm các bản thảo cuối đời, đề cập nhiều đến vấn đề “primordiale Konstitution” (kiến tạo nguyên thủy). (BS)
11. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1982). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
12. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1987a). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
13. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1989a). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
14. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1989b). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
15. Năm Stalin xuất bản tác phẩm Диалектический материализм и исторический материализм [Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử]. (BS)
16. Người Khéo (homo habilis) tồn tại trong khoảng thời gian cách đây từ 2,3 triệu tới 1,4 triệu năm, thể tích não bộ tăng dần từ 530 cm[3][sup] tới 660 cm[3][sup]. Người Khôn (homo sapiens) xuất hiện cách đây khoảng 600.000 – 400.000 năm, thể tích não bộ tăng dần từ 1.100 cm[3][sup] tới 1.400 cm[3][sup]. Người Tinh Khôn (homo sapiens sapiens) xuất hiện cách đây khoảng 200.000 năm, thể tích não bộ tăng dần từ 1.000 cm[3][sup] tới 1.850 cm[3][sup]. (BS)
17. Phạm Trọng Luật dịch. Nguồn: THAO, Trân Duc [1946b] (2004).
18. Thuật ngữ phénoménologie được Giáo sư Trần Đức Thảo dịch là hiện tượng luận, luận hiện tượng, hiện tượng học... Tuy nhiên, sau khi đọc kỹ di cảo của Giáo sư và trao đổi với các chuyên gia, tôi thấy cách dịch thuật ngữ này thành hiện tượng luận là chính xác hơn cả, vì phénoménolgie, trước hết và quan trọng nhất, là một cách lập luận về hiện tượng, để qua đó mở ra con đường mới cho nhận thức (Từ điển bách khoa Britannica Encyclopedia định nghĩa hiện tượng luận như là một phương pháp mô tả và phân tích ý thức để qua đó triết học cố gắng trở thành một khoa học chính xác). Vì vậy, từ đây về sau, trừ khi thuật ngữ hiện tượng học xuất hiện trong các tác phẩm tiếng Việt của Giáo sư Trần Đức Thảo, còn lại đều được biên tập thành hiện tượng luận. (BS)
19. Trần Đức Thảo rất kín đáo về việc tiếp thu chủ nghĩa Marx. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề khó trả lời. Một giáo sư Mỹ viết về ông khẳng định Trần Đức Thảo đã từng gia nhập Đảng Cộng sản Pháp trong thập niên 1940 [FEDERICI, S. (1970)]. Dù thông tin trên đúng hay không, Đảng Cộng sản Pháp đương nhiên là nơi đã đào tạo rất nhiều trí thức theo chủ nghĩa Marx tại đây, trong số đó hẳn cũng có Trần Đức Thảo.
20. BARTHES, R. (1951b).
21. NAVILLE, P. (1947). Marx ou Husserl. Nguồn: Les Conditions de la Liberté. Paris: Ed. du Sagittaire, pp. 162–167.
22. MARX, K. [1844] (1968). Manuscrits de 1844. Présent., trad. et notes de Emile Bottigelli. Paris: Ed. sociales, p. 91.
23. Sđd., tr. 93.
24. Đây là từ đã nhảy mất trong nguyên bản. Bản dịch của Laura Lafargue mà Trần Đức Thảo sử dụng ghi là “art”, theo bản in của K. Kautsky; bản dịch sau của Maurice Husson và Gilbert Badia ghi là “mythologie”, và giải thích là dựa trên bản in ở Moscou (1939). Chúng tôi cũng nghĩ rằng “mythologie” đúng hơn, vì mấy câu kế tiếp đều nêu danh các vị thần Hy Lạp. Nguồn: MARX, K. (1957), Contribution à la Critique de l’Economie Politique [Góp phần phê phán kinh tế chính trị học]. Trad. de l’allemand par Maurice Husson et Gilbert Badia. Paris: Ed. sociales, p. 174.
25. Sđd., tr. 174
26. Sđd., tr. 175
27. Tất nhiên, không nên lẫn lộn sự hưởng thụ cái tuyệt đối do con người sản sinh ra một cách ý thức với tình cảm thụ động về tính đồng nhất chung chung của vạn vật. Ở một nơi như Ấn Độ, thứ cảm thức sau tương ứng với loại trình độ kỹ thuật lạc hậu và bất lực, không làm chủ nổi thiên nhiên phong phú (Chú thích của Trần Đức Thảo).
28. Phạm Trọng Luật dịch. Nguồn: THAO, Trân Duc [1949a] (2004).
29. Phê phán giấc ngủ giáo điều của Đảng Cộng sản Pháp, Sartre viết năm 1956: “Đã đến lúc [tư duy vô sản] phải lật ngược các triết thuyết tư sản cuối cùng, giải thích nó, phá vỡ cái vỏ ngoài để sáp nhập phần tinh túy bên trong. Còn chờ đợi gì? Người duy nhất ở Pháp đã thử đấu tranh với đối phương trên lãnh địa của nó là Trần Đức Thảo...; người duy nhất ở châu Âu đã thử giải thích nguyên nhân của các trào lưu tư tưởng hiện đại là Lukács, nhà cộng sản Hungary mà tác phẩm mới nhất cũng chưa được phiên dịch..”. (SARTRE, J.–P. (1956). “Le Réformisme et les Fétiches”. Les Temps modernes, n° 122, pp. 1153–1164). Nói về Sartre với Phan Huy Đường, Trần Đức Thảo cho rằng: “Sartre là nhà triết học duy nhất đã đặt ra những câu hỏi đáng đặt” (ĐẠO, Trần [1993] (2004)).
30. Descartes phân biệt hai thực thể: vật hữu tri (res cogitans) và vật hữu hình (res corporex). Thuộc tính chính của vật hữu tri là tư duy, của vật hữu hình là quảng tính hay hậu lượng (étendue). Vì tất cả những phẩm chất khác ở mỗi thực thể đều là thứ yếu nên gọi là phẩm chất hàng hai. Từ sau Locke, phẩm chất hàng một chỉ những thuộc tính khách quan gắn liền với vật thể (quảng tính, hình thể, vận động), trong khi phẩm chất hàng hai chỉ tồn tại nhờ và cho chủ thể nhận thức (màu sắc, mùi, vị...).
31. Dasein: hữu thể, một khái niệm cơ bản trong triết học hiện sinh của Martin Heidegger. (BS)
32. Summum jus, summa injuria = comble de justice, comble d’injustice: người ta có thể gây ra nhiều bất công khi áp dụng luật pháp một cách quá khắt khe.
33. Trần Đức Thảo nhắc đến một luận điểm trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản – một luận điểm có ý nghĩa rất quan trọng trong sự chuyển dịch của ông từ hiện tượng luận sang chủ nghĩa duy vật biện chứng, định hướng sự phát triển của tư tưởng triết học và sự dấn thân chính trị của ông: “Vào thời kỳ mà cuộc đấu tranh giai cấp đi đến lúc quyết định, thì quá trình tan rã bên trong tầng lớp thống trị, bên trong toàn bộ xã hội cũ mang một tính chất mạnh mẽ và triệt để đến mức một bộ phận của tầng lớp thống trị sẽ tự rời bỏ giai cấp mình và liên kết với tầng lớp, với giai cấp cách mạng, tầng lớp nắm giữ tương lai trong tay họ… Cũng tương tự như trước đây, một bộ phận quý tộc chuyển qua giai cấp tư sản, ngày nay cũng tương tự như vậy, một bộ phận tư sản sẽ chuyển qua giai cấp vô sản. Đặc biệt hơn, một bộ phận những nhà tư tưởng tư sản với sức mạnh công việc của mình, họ có thể nổi lên do am hiểu về lý luận toàn bộ quá trình vận động của lịch sử”. (MARX, K., & F. Engels (1848), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1984b)). (BS)
34. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1950b] (2013). Bản sử dụng ở đây đã được sửa chữa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BT)
35. Từ đây trở đi, các chữ trong ngoặt vuông do triethoc.edu.vn thêm vào cho rõ nghĩa.
36. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1956e] (2005). Bản sử dụng ở đây đã được sửa chữa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. Do khuôn khổ của cuốn sách, nên bản sử dụng ở đây chỉ công bố một phần của tác phẩm này. Bản đầy đủ sẽ được công bố trong Tổng tập Trần Đức Thảo. (BS)
37. Tài liệu [B].
38. Bản A.
39. trường quan sát. (BS)
40. Bản A.
41. Tài liệu [B].
42. Tài liệu [B].
243. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1977b). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
460. Nguồn: TRUYỀN, Triệu Tử (2011). Do khuôn khổ của cuốn sách, bản sử dụng ở đây có lược bớt một số ý nhỏ, và chỉnh sửa một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
461. RICŒUR, P., “Sur la phénoménologie”, Esprit, 12/1952, p. 827. Cao Việt Dũng trích dịch trong bài viết tưởng niệm triết gia Trần Đức Thảo của Michel Kail trên tờ Les Temps modernes số 568, tháng 11/1993, năm thứ 49. Như vậy là có cấp bậc, và niềm tin của Trần Đức Thảo được đặt dứt khoát nơi chủ nghĩa Marx chứ không phải trên hiện tượng luận: ngay cả khi được trình bày trong sáng như trong suốt phần một của tác phẩm, hiện tượng luận vẫn là bất cập; trái lại chủ nghĩa Marx thì hoàn chỉnh và chỉ nhận từ hiện tượng luận một thứ thiết bị kỹ thuật. Thật ra, đây là một hành trình: hiện tượng luận trao đuốc thiêng lại cho chủ nghĩa Marx cùng với loại từ vựng cho phép nó mô tả sự vận động của ý thức và những huyền thoại của Lịch Sử (trích bài điểm sách của Roland Barthes, đăng trên Combat, ngày 11/10/1951, và in lại trong Roland Barthes toàn tập, quyển 1, 1993, tr. 107. Bản dịch của Phạm Trọng Luật). Jean–François Revel đã chỉ trích Patrick Kéchichian vì đã viết Trần Đức Thảo là triết gia mác-xít đăng trên Le Monde des livre, lúc Trần Đức Thảo từ trần, lẽ ra phải viết: “Ông ấy là nhà hiện tượng luận”...
462. Nguyên lý bất định là một nguyên lý nguyên nhân quan trọng của cơ học lượng tử, do Werner Heisenberg đưa ra, phát biểu rằng người ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác.
463. “Nhưng chúng tôi còn xin nói một điều nữa cho ổn và cho đầy đủ: có bạn sẽ hỏi rằng hiện tượng luận có phải là một chủ thuyết đúng không... và các nhà trí thức dùng phương pháp hiện tượng luận để diễn giảng, để mô tả... như vậy có đúng không... Vậy chúng tôi chỉ còn có thể mạn phép trả lời thế này: hiện tượng luận là một chủ thuyết triết học mới nhất của cả nền triết học thế giới, hợp thời thượng và nhiều tính chất cách mạng nhất – đã vượt gần hết tất cả các hệ thống cổ điển, thì tất nhiên nó đúng và chân xác hơn hết với cái nghĩa là giữa lúc mà các hệ thống duy lý (trong đó có duy tâm) và kể cả duy vật và hai hệ thống duy thực và duy nghiệm truyền thống – xin nói – truyền thống – làm căn bản triết lý cho chính khoa học, đã không đóng đầy đủ và trọn vai trò nhận thức của họ – kể cả nhận thức khung cảnh cũng bị hiện tượng luận vượt: khoa học đây là các khoa học và những thuyết về khoa học lý (epistémologie) đã quy định ra chủ nghĩa khoa học “scientisme” trước đây chẳng hạn”. (Tam Ích, Văn học hiện tượng luận có phải là văn học khiêu dâm không?. Tạp chí Văn, 1967).
464. “Trái với hai phái duy tâm và duy thực truyền thống đã siêu cực hóa (extrapolation) sự nhận thức, hiện tượng luận chủ trương rằng Ý thức bao giờ cũng là ý thức về một cái gì. (La conscience est toujours la consience de quelque chose). Nói một cách khác, ở hiện tượng luận, giữa khái niệm chủ thể và đối tượng có một tương quan giao hỗ (corrélation). Ý thức chủ quan gọi là noème, đối tượng ý thức là noèse – và sự tương quan giao hỗ gọi là “corrélat noé – tico – noématique”. Thực ra, hiện tượng luận cũng có chứa một mẩu màu sắc duy tâm chủ quan của Berkeley, Fichte hay Vương Dương Minh – chính Merleau–Ponty đôi khi cũng ngờ ngợ rằng trên một phương diện nào đó, ông duy tâm hay duy ngã (solipsisme)?” (Tam Ích, tài liệu đã dẫn).
519. Phạm Trọng Luật dịch và chú thích. Nguồn: BARTHES, R. [1951] (2004).
520. Trong số các bài điểm sách về tác phẩm trên của Trần Đức Thảo, đây là bài ngắn mà sát nhất, đăng trênCombat, ngày 11/10/1951, và in lại trong Roland Barthes Toàn tập, quyển 1, 1993, tr. 107.
521. Mỗi sinh vật là trung tâm của những chuỗi vận động và hành vi liên tục. Hành vi mới nối tiếp hành vi cũ, và ý thức xuất hiện đúng vào lúc hành vi cũ vừa khởi hiện đã bị hành vi mới lấn át. Chính những phác thảo vận động bị trấn áp này tạo nên ý thức như dữ kiện nghiệm trải. Như thế, nghiệm sinh luôn luôn trễ hơn hành vi thực sự một bước. Ý thức luôn luôn chạy theo hiện thực, bởi vì sự thật là hiện thực quy định ý thức chứ ý thức không quy định hiện thực.
735. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2011b).
736. THẢO, Trần Đức (1954c).
737. THẢO, Trần Đức (1955a).
738. THẢO, Trần Đức (1956d).
739. THAO, Trân Duc (1973) Bản dịch tiếng Việt: THẢO, Trần Đức [1973] (1996).
740. THẢO, Trần Đức (1990). Thư gửi Lucien Sève (1–11–1990). Bản thảo viết tay, tiếng Pháp. Trần Đức Tùng dịch.
741. Cái mình sinh thức là con người cá thể cá nhân – nhân cách cụ thể đang trực tiếp lao động sản xuất trong đời sống thực tế.
742. THAO, Trân Duc (1946a)
743. Báo Nhân dân, thứ Bảy, ngày 26 tháng 1 năm 1991.
849. Tặng các con, với trọn vẹn tình thương yêu của Ba Mẹ. Hi vọng thế hệ các con sẽ được sống trong một thế giới của Hòa bình, Tự do, Dân chủ, Nhân văn, Nhân bản, Khoan dung, Tiến bộ và Khai sáng. (LV)
850. “Ja! Ich weiß, woher ich stamme! Ungesättigt gleich der Flamme, glühe und verzehr’ ich mich. Licht wird alles, was ich fasse, Kohle alles, was ich lasse: Flamme bin ich sicherlich!” (Trần Thanh Hà dịch)
851. “Szabadság, szerelem! E kettő kell nekem. Szerelmemért föláldozom. Az életet, Szabadságért föláldozom, Szerelmemet”. (Xuân Diệu dịch)
905. Nguồn: HƯNG, Phạm Thành & Trần Ngọc Hà (2006).
Nguồn: THÀNH, Nguyễn Đức (2016).
Một phần trong số các tài liệu tham khảo này đang được cập nhật lên tài khoản oogle Drive của cuốn sách này. (Địa chỉ truy cập: drive.google.com; Username: tdthaoreading; Password: 19171993).
43. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1956a). Bài báo nổi tiếng này của Giáo sư Trần Đức Thảo được công bố trên Tập san Đại học (Văn khoa) năm 1956. Gần 10 năm sau, theo gợi ý của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, bài báo này đã được Giáo sư Trần Đức Thảo dịch sang tiếng Pháp. Sau đó, đích thân ông Phạm Văn Đồng, theo đường ngoại giao, đã gửi đăng bản dịch tiếng Pháp này trên tạp chí La Pensée, tạp chí triết học uy tín lớn của Pháp. Việc đăng bản dịch này trên La Pensée đánh dấu sự trở lại của Giáo sư Trần Đức Thảo với nền triết học Pháp và thế giới, sau 15 năm “bặt vắng”. (Bài báo cuối cùng Giáo sư công bố trên tạp chí Pháp trước khi trở về Việt Nam tham gia kháng chiến chống Pháp là bài: Le Origines de la Reduction Phénoménologique chez Husserl [Nguồn gốc của phépquy giản hiện tượng luận ở Husserl], tóm tắt bản luận án cao học của ông). Việc làm này của ông Phạm Văn Đồng có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó là tiền đề để Giáo sư tiếp tục công bố các nghiên cứu mới của mình về nguồn gốc của tiếng nói và ý thức, cũng trên tạp chí La Pensée, và kết tinh lại thành tác phẩm Recherches sur l’origine du langage et de la conscience [Những nghiên cứu về nguồn gốc tiếng nói và ý thức] (1973), do Éditions Sociale (Nhà xuất bản Xã hội của Đảng Cộng sản Pháp) xuất bản. Bên cạnh đó, sự kiện này cũng cho thấy tình bạn đẹp đẽ, sự cảm thông sâu sắc, và sự “gạt đỡ” của Thủ tướng Phạm Văn Đồng dành cho Giáo sư. Ngoài ra, thông qua phần phê phán Hegel, chúng ta cũng bắt nhận được những dự cảm ban đầu của Trần Đức Thảo đối với sự phôi thai đầu tiên của một loạt những tư tưởng lớn được ông cụ thể hóa trong các tác phẩm sau này: sự hình thành con người, sở hữu thời khởi nguyên, biện chứng của quá trình chuyển dịch từ Tự nhiên lên Văn hóa, đặc biệt là biện chứng của quá trình tiến hóa của sự sống – một trăn trở lớn của Trần Đức Thảo, được ông cụ thể hóa trong hai tác phẩm cuối đời, Rercherches Dialectiques (Những nghiên cứu về các mối liên hệ biện chứng), và La Logique du Présent Vivant (Sự logic của thời Hiện tại sống động). (BS)
44. MARX, K. Tư Bản Luận. Bài của bản in lần thứ hai.
45. ENGELS, F. Ludwig Fuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức. II
46. ENGELS, F. Cuốn “Góp phần phê phán kinh tế chính trị học” của Karl Marx. II
47. MARX, K. Tư Bản Luận. Bài của bản in lần thứ hai.
48. Những đoạn giới thiệu dưới đây in bằng chữ ngả, vì viết theo quan điểm duy tâm của Hegel. Trong ấy chúng tôi cũng có thêm một vài danh từ cụ thể cho dễ hiểu. Để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi sẽ phê phán từng bước, tuy như thế phần nào cũng có mất liên tục.
49. HEGEL, G.W.F [1807] (1937). Phanomenologie des Geistes [Hiện tượng luận của Tinh Thần]. Leipzig: Herausgegeben von J. Hoffmeister, p. 139.
50. Sđd., tr. 139.
51. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1955d). Bản sử dụng ở đây đã được hiệu đính lại dựa trên những sửa chữa của tác giả, và chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
52. Tác phẩm Ludwig Feuerbach und der Ausgang der klassischen deutschen Philosophie (Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức) (1886). (BS)
53. Những chữ trong ngoặc vuông được người biên soạn thêm vào để làm rõ thêm ý của tác giả. (BS)
54. chân giả. (BS)
55. bọt bể = bọt biển, nước bể = nước biển, v.v… (BS)
56. rướn mình trong. (BS)
57. trường quan sát. (BS)
58. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1955c). Bản sử dụng trong sách này đã được hiệu đính lại dựa trên những sửa chữa của tác giả. (BS)
59. Các tua để giúp cho tế bào chuyển động. (BS)
60. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1973] (2015).
61. Bản dịch tiếng Việt tác phẩm kinh điển xuất bản năm 1973 này của Giáo sư Trần Đức Thảo là một nỗ lực to lớn của dịch giả Đoàn Văn Chúc. Tuy vậy, do sự khác biệt về ngôn ngữ và văn phong của dịch giả đối với đông đảo bạn đọc ngày nay, nên bản sử dụng ở đây có hiệu đính một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung, đồng thời điều chỉnh một chút về văn phong để nhất quán với hình thức của toàn bộ cuốn sách, trên cơ sở đối chiếu với bản gốc [THAO, Trân Duc (1973)] và bản dịch tiếng Anh [THAO, Tran Duc [1973] (1984)]. Mọi sai sót về chuyên môn có thể có trong bản sử dụng ở đây đều thuộc về trách nhiệm của người biên soạn. (BS)
62. MARX: Tư bản, Editions Sociales (E.S.), Paris, L 1.1, t. 1, tr. 181.
63. IAKIMOV, V.P. U istokov chelovechestva [Les Origines de l’humanité]. Moscow, 1964.
64. ENGELS, F. (1975). Dialectique de la nature. Paris: Editions Sociales, p. 175. [Ngô Minh Tuấn dịch, URL = <http://www.marxist.com/what–makes–us–human–vi.htm>]. (BS)
65. Boulenger: Les singes, Payot, Paris, p. 41.
66. Người vượn (préhominiens): giống vượn đã thành người nhưng chưa hoàn toàn mất tính vượn, rất gần với con người hiện nay, song chưa hoàn toàn như con người hiện nay, gồm cả người vượn Java (pithécanthrope) và người vượn Bắc Kinh (sinathrope). (ND)
67. V. P. Iakimov, đã dẫn.
68. Tlđd.
69. “L’homme se voit lui–même tout d’abord dans l’autre homme comme dans un miroir”. Marx: Le Capital. E. S., Paris, t. 1, p. 67, note 2.
70. Một loài tinh tinh ở Trung Phi. (BS)
71. Kohler: L’intelligence des singes supérieures (Trí thông minh của những con khỉ cao cấp), Paris, 1927, tr. 303 – 304.
72. N.A.Tikh, trong A.Spirkine: “Origine de la conscience,” Moscow, 1950, note. Công trình nguyên tác (tiếng Nga) của N.A.Tikh đã được xuất bản trong luận văn tiến sĩ của ông, lưu trữ tại Viện Pavlov (Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô), Maxkova, 1950, 36 trang.
73. Kohler, Sđd., tr. 274.
74. Tức cái đã từng trải qua. (ND)
75. Marx, La Capital, E. S., L. 1, p. 67, Note 2.
76. Sự miêu tả này chỉ có giá trị đầy đủ trong những điều kiện ban đầu của quá trình tiến hóa lên loài Người, hoặc sự thai nghén của giống Homo (người). Trong phần thứ hai của Kỷ nhân sinh, tức “Quá trình tiến hóa thành Người” (sapientiation) hoặc sự hình thànhNgười Khôn (homo sapiens), sự vận động mang tính hướng nội, để sau đó mang những hình thức vô cùng phức tạp.
77. Kohler, Sđd., tr. 269 – 270.
78. “simple conscience grégaire”, hay “conscience moutonnière”. Marx–Engels: L’idéologie allemande, E.S., 1972, tr. 64.
79. Marx, Sđd., tr. 50.
80. Marx, “Gia đình thần thánh”.
81. Marx, “L’idéologie allemande” (Hệ tư tưởng Ðức), E.S., tr. 59.
82. “Die Produktion der Ideen, Vorstellungen, des Bewusstseins ist zunächst unmittelbar verflochten in die materielle Tätigkeit und den materiellen Verkehr der Menschen, ist Sprache des wirklichen Lebens. Das Vorstellen, Denken, der geistige Verkehr der Menschen erscheinen hier noch als direkter Ausfluss ihres materiellen Verhaltens”.
83. Marx, Tư bản, E.S., t. 1, tr. 66.
84. Marx, Sđd., tr. 92, chú thích.
85. ‘The Works of B. Franklin‘, edited by Sparks. Boston, 1836, v.II, p. 267
86. Marx, Sđd., t. 23, tr. 65, chú thích 17a. Chúng tôi nhấn mạnh.
87. Marx, Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị. E. S., tr. 33.
88. A. Sirkine: “Nguồn gốc của ý thức” (tiếng Nga), Moscow, 1950.
89. signification tendancielle.
90. milieu immanent.
91. Lénine: Oeuvres. E.S., t. 14, “Matérialisme et empiriocriticisme”, tr. 50.
92. Marx: “Grundisse der Kritik der politischen Ekonomie,” Dietz–Verlag, Berlin, 1953, tr. 390.
93. l’ensemble verbal.
94. Kant: Kritik der reinen Vernunft (Phê phán lý tính thuần túy), Reclam, Leipzig, tr. 209.
95. Lénine: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, tr. 152.
96. Lénine, Sđd., tr. 152.
97. Lénine, Sđd., tr. 91.
98. Lénine, Sđd., tr. 253.
99. Marx, Sđd.
100. Marx: Hệ tư tưởng Ðức, tiếng Pháp, E. S., tr. 59.
101. Engels, Phép biện chứng của tự nhiên, E. S., tr. 43, tiếng Pháp.
102. Engels, Chống Dühring, E.S., tr. 393, tiếng Pháp.
103. Lénine toàn tập, t. 38, Bút ký triết học, bản dịch tiếng Pháp. E.S., tr. 172.
104. Engels, Phép biện chứng của tự nhiên, tr. 383. Chống Dühring.
105. Engels, Sđd., tr. 41, tiếng Pháp.
106. Marx, Góp phần phê phán kinh tế, chính trị học. E.S. tr.150, tiếng Pháp.
107. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1973] (2015).
108. Bản dịch tiếng Việt tác phẩm kinh điển xuất bản năm 1973 này của Giáo sư Trần Đức Thảo là một nỗ lực to lớn của dịch giả Đoàn Văn Chúc. Tuy vậy, do sự khác biệt về ngôn ngữ và văn phong của dịch giả đối với đông đảo bạn đọc ngày nay, nên bản sử dụng ở đây có hiệu đính một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung, đồng thời điều chỉnh một chút về văn phong để nhất quán với hình thức của toàn bộ cuốn sách, trên cơ sở đối chiếu với bản gốc [THAO, Trân Duc (1973)] và bản dịch tiếng Anh [THAO, Tran Duc [1973] (1984)]. Mọi sai sót về chuyên môn có thể có trong bản sử dụng ở đây đều thuộc về trách nhiệm của người biên soạn. (BS)
109. Tam giác Œdipe: một thuật ngữ phân tâm của Freud, chỉ mối quan hệ tay ba: con trai có “ham muốn tính dục” với mẹ và “ghét” bố, con gái có “ham muốn tính dục” với bố và “ghét” mẹ, hệ quả của phức cảm Œdipe, phát triển mạnh ở trẻ em thời kỳ 3 – 5 tuổi, tương ứng với sự phát triển của loài người trong Kỷ nguyên Chellean, với sự ra đời của Người Khéo (homo habilis) cùng sự chế tác các công cụ lao động và những hình thái lao động tập thể đầu tiên. (BS)
110. André Green. [Nguồn tài liệu không được trích dẫn đầy đủ]. Green là tác giả của tác phẩm Le discourse vivant: la conception psychanalytique de l’affect (Paris: Presses universitaires de France, 1973), và Un Œil en trop, le complexe Œdipe dans la tragedie (Paris: Editions de minuit, 1969).
111. Thèrèse Gouin–Decarie: “Intelligenece et affeectivité chez le jeune enfant: estude experimentale de la notion d’object chez Jean Piaget et de la relation objectale”. (Neuchâte: Delachaux et Niestlé, 1962), p. 111.
112. FREUD, S. (1969), p. 126.
113. Ibid., p. 130.
114. Ibid., p. 125.
115. Ibid., p. 83.
116. ENGELS, Friedrich [1884] (1971), pp. 43 – 43.
117. Ibid., p. 43.
118. Ibid., p. 44.
119. ENGELS, F. [1883] (1971), p. 174.
120. Toàn tập, t. 46, p. 232.
121. Ibid., t. 33, p. 10.
122. Thời kỳ thứ nhất của tiền sử, đặc định bởi sự xuất hiện và phát triển của công nghệ chế tác đá, và bởi nền kinh tế săn bắt. Thời Đá cũ kéo dài từ kỉ thứ 4 (3 triệu năm) đến Thống Holocène (thiên niên kỷ thứ X) được chia làm 3 kỳ, sơ kỳ, trung kỳ, và hậu kỳ, tùy theo trình độ phức tạp của công cụ. Đá cũ hậu kỳ được đánh dấu bằng sự xuất hiện của Người Khôn (Homo sapiens) và sự sản xuất những đồ vật có tính cách nghệ thuật. (ND)
123. Xem thư mục và phân tích các quan niệm trong Séménov: “Nhân loại đã ra đời như thế nào” (tiếng Nga) (Moscou), tr. 18–33.
124. Moustérien, một dạng văn hóa của thời Đá cũ trung kỳ, đặc định bởi những mũi lao hình tam giác và những cái nạo làm từ những mảnh tước sửa sang một mặt (70.000 đến 30.000 năm trước CN). (ND)
125. Ris và Wirm, kỳ đóng băng thứ 3 và thứ 4 (cuối cùng) của kỷ Đệ tứ ở châu Âu– alpin mà kỷ Đệ tứ của tuổi Trái Đất được đặc trưng bởi bốn kỳ sông băng lớn, cùng sự xuất hiện và tiến hóa của loài người. (ND)
126. BOURDIER, F. (1967), pp. 193, 195, 215.
127. ENGELS, Friedrich [1884] (1971), p. 63.
128. SPENCER, B. & F.J. Gillen [1899] (1966). The Native Tribes of Central Australia. New York, NY: Dover, pp. 60 ff.
129. Để đơn giản hóa trong trình bày, chúng tôi không nói đến quy tắc chỉ là nupa những chị em do các anh của mẹ sinh hay do các chị của bố sinh ra.
130. Séménov: “Nhân loại đã ra đời như thế nào” (tiếng Nga) (Moscou), tr. 130.
131. VAOLIS, Henri V. “The social life of early man: the evidence of skeletons”. Nguồn: WASHBURN, S. L. (1961). Social Life of Early Man. Chicago: Aldine. tr. 225, bảng 4.
132. Ngược lại, hình như rất khó sử dụng các sưu tập của thời Đá cũ sơ kỳ. Sự hợp thành của sưu tập Người vượn Bắc Kinh, 10 đàn ông cho 3 đàn bà, không thể tương ứng với hiện trạng dân số vào thời điểm đó, bởi người ta không thấy được trong những điều kiện như thế, làm thế nào mà các nhóm có thể tái sinh sản một cách bình thường. Còn như sưu tập Ngang–dong, 4 đàn ông cho 6 đàn bà, thì theo ý kiến chung, nó đại diện, cho những tàn dư của tục ăn thịt người mang tính nghi thức. Königswald coi trầm tích ấy có thể được so sánh với những bàn thờ đầu lâu nay còn thấy ở Mélanésie. Dù thế nào, cũng chắc chắn, như chúng tôi sẽ chỉ ra ở sau, sự mất cân đối dân số giữa các giới, được nhận thấy ở thời kỳ Moustérien, đã tồn tại trong thời Đá cũ sơ kỳ.
133. Xem: VAOLIS, Henri V., Tlđd., tr. 224, bảng 3.
134. Xem Boriskowsky: “Les problèmes de la genèse de la cociété humaine et les découvertes archeologiques de ces dix derniéres années”, trong: “Les idées léninistes dans l’étude de l’histoire de la societe prinitive, l’eselavagiste et le féodalisme” (tiếng Nga), Moscou, tr. 72.
135. ENGELS, F. [1884] (1971), p. 40.
136. SPENCER, B. & F.J. Gillen [1899] (1966), pp. 558–559.
137. Xem: Sherwood Larned Washburn: “Tools and Human Evolution”, và John Napier: “The Antiquity of Human Walking”. Nguồn: LAUGHLIN, W.S & R.H. Osborne (1967).
138. Người ta chia ra phôi (embryon) và thai (fcetus); ở người sau ba tháng thụ tinh, phôi mới thành thai, nghĩa là mang hình hài của giống người, và nó giữ như thế đến khi ra đời. (ND)
139. John Napier: “The Antiquity of Human Walking”. Nguồn: LAUGHLIN, W.S & R.H. Osborne (1967), p. 126.
140. Oldoway (hoặc Olduvai) thuộc xứ Tanzania (Đông Phi), ở gần hồ Eyasi, nơi phong phú về hóa thạch tiền sử. Những hài cốt cổ nhất cách đây trên 1 triệu năm (tầng 1– horizon 1) mà nhà khảo cổ học người Anh Leakey (1903 – 1972) đã tìm thấy (1959) là Zinjathrope và Homo Habilien, cách đây 1.750.000 năm và 1.850.000 năm. (ND)
141. VAOLIS, H.V., “The social life of early man: the evidence of skeletons”. Nguồn: WASHBURN, S.L. (1961), đã dẫn, pp. 223 – 228.
142. Di chỉ Chelléen thuộc tỉnh Seine & Marne (Đông thành phố Paris) có khu di chỉ tiền sử thuộc thời Đá cũ. (ND)
143. M. D. Leakey, trong tạp chí Nature, 1966, t. 210, số 5035. Hình in lại chiếc rìu nguyên sơ trong tập 212, số 5062, trang 579 (trong bài báo của bà Leakey: ‘Primitive Artefacts from Kanapoi Valley’).
144. Acheuléen, Saint–Acheul, thuộc ngoại vi tỉnh Amiens, Pháp, là một diện mạo văn hóa chính của thời Đá cũ sơ kỳ, được đặc trưng bởi rìu sắc hai mặt đều đặn được ghè đẽo bằng dụng cụ kim loại mềm (pereuteur tendre). (ND)
145. Tất cả phần này, xin xem Séménov, Sđd., tr. 191– 195.
146. Người vượn Java (Pithécanthrope) giống cổ nhất lùi về tới 1,9 triệu năm, mới nhất 100.000 năm. Nằm trong nhóm archanthropien hóa thạch của thời Pleistocène–trung, nói chung thuộc giống Người đứng thẳng (Homo erectus) nói riêng gồm: người vượn Java, người vượn Bắc Kinh, Người vượn Đại Tây dương và người Manuer (một làng thuộc Odenwald, Đức, năm 1907, người ta phát hiện một hàm dưới người có thể so sánh với người vượn Java, cũng gọi là người Heidelberg (Pléistocène cũ). (ND)
147. Alberto C. Blanc, “Some evidence for the ideologies of early man”. Nguồn: WASHBURN, S.L. (1961), đã dẫn, p. 133.
148. FREUD, S. (1969). p. 118.
149. ABRAHAM, K. (1966). Oeuvres completes; t. II: Développement de la libido, formation du caractère, étude cliniques. Paris: Payot, pp. 103–104.
150. BOURDIER, F. (1967), p. 174.
151. ABRAHAM, K. (1966), Ibid., p. 115.
152. Neanderthal, khu di chỉ Đá cũ trung kỳ ở Đức, người ta tìm thấy ở đây loại hình Homo Sapiens (Người Khôn), néandersthalien là một di chủng. (ND)
153. Về phương diện phát sinh loài Người, sự cấm dục áp đặt vào thanh niên Néanderthailien đã có thể tạo thuận lợi cho thuyết “thanh niên luận” (le “juvénisme”), trong đó nhiều tác giả thấy đó là một trong những lý do của sự chuyển từ một số hình thức Néanderthalien tiến bộ sang Người Khôn (Homo sapiens): “Nếu những đặc điểm của hình thức ấu thơ đã tồn tại dai dẳng trong tuổi già, bằng hình thái học hàm dưới và hình thái não bộ của nó, đứa trẻ Néanderthalien của La Chaise hẳn sẽ có một số điểm tương đồng nào đó với người hiện đại” (J. Piveteau, nguồn: BOURDIER, F. (1967), p. 206). Tất nhiên, cũng giống như sự trụy thai, thanh niên luận đã chỉ có thể đóng vai trò gia tốc, bởi động lực chủ yếu của sự Người hóa, hay sự hình thành giống Người Khôn (Homo sapiens), tất nhiên là sự phát triển của lao động và tiếng nói.
154. Vallois, Sđd., tr. 230.
155. Ibid., p. 244.
156. LAPLANCHE, J. & J. –B. Pontalis (1967), p. 76.
157. STREHLOW, Carl, Die Arunta unf loritfa–stamme in Zentral–Australien, IV, Teil, I Abteilung, tr. 10–12.
158. SPENCER, B. & F.J. Gillen [1899] (1966), p. 246.
159. Ibid., pp. 398–399
160. FREUD, S. (1969), p. 119.
161. Ibid., p.127.
162. Ibid., p. 117.
163. Ibid.., p. 121.
164. Ibid., p. 130.
165. Ibid., p. 122.
166. Ibid., p. 131, 122.
167. ‘Aurignaciennes’ (tên riêng bắt nguồn từ tên của một cái hang tại Aurignac, Haute-Garonne, Pháp) chỉ giai đoạn sơ khai nhất của nghệ thuật tượng hình thời cổ đại tại châu Âu, ví dụ như, hội họa của thời Đá cũ hậu kỳ, khoảng 30.000 năm trước Công nguyên. ‘Vénus’ là thuật ngữ của lịch sử nghệ thuật tượng hình, dùng để chỉ các tượng phụ nữ nhỏ của thời kỳ này. Kể từ khi những bức tượng nhỏ này, với phần ngực và bụng được nhô cao lên (trong một số trường hợp, bức tượng được bắt đầu từ phần eo lưng), thì người ta cho rằng, ‘Vénus’, biểu tượng của sự mắn đẻ ở phụ nữ, được sử dụng như hình ảnh của một nữ thần. [Nguồn: Mục từ ‘Prehistory’, Encyclopedia of World Art (New York: McGraw-Hill, 1966)].
168. SPENCER, B. & F.J. Gillen [1899] (1966), pp. 388–420.
169. KABO, Vladimir Rafailovich (1969). L’origine et l’histoire ancienne des premiers habitants de l’Australie (Tiếng Nga). Moscow, 1969.
170. Đạo Chaman: một tín ngưỡng chuyển thông với các linh hồn bằng những thuật nhập định và lên đồng (gọi hồn) được quy vào các thực hành ma thuật, ngày nay còn thấy ở một số vùng thuộc Bắc Á và Bắc Mỹ. (BS)
171. Freud, “Abrége de psychanalyse” (Giản yếu luận phân tâm).
172. Freud, “Neue Folge der Vorlesungen für Einführung in die Psychoanalyse”. Nguồn: LAPLANCHE, J. & J. –B. Pontalis (1967). p. 362.
173. Sigmund Freud, ‘Some Psychical Consequences of the Anatomical Distinction between the Sexes’, p. 250.
174. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1975b). Bản sử dụng ở đây đã được hiệu đính lại dựa trên những sửa chữa của tác giả, và chỉnh sửa một số lỗi đánh máy. (BS)
175. THAO, Trân Duc (1973).
176. THẢO, Trần Đức [1973] (1996).
177. Introduction à la genèse de l’Homme (Giới thiệu về sự phát sinh loài người). La naissance du premier homme (Nguồn gốc của loài người nguyên thủy).
178. Drei Abhandlungen zur Sexualtheorie (1905), một tác phẩm quan trọng Sigmund Freud, đã được dịch sang tiếng Việt với nhan đề Ba tiểu luận về tính dục. (BS)
179. Nhưng trẻ em được quá nuông chiều, thì đã đi đến những đòi hỏi quá đáng, không thể thỏa mãn được, do đấy mà trở thành bất mãn, tự ái, tự ty, tự cao. Trong gia đình, quan hệ giữa anh chị em ở tuổi nhi đồng có khi lại quan trọng hơn là quan hệ với cha mẹ.
180. Tư bản, trong Marx–Engels Werke, T. 23, tr. 193. Dietz–Verlag, Berlin.
181. Phạm Trọng Luật dịch. Trích dịch từ tiểu luận De la phénoménologie à la dialectique matérialiste de la conscience (1) [Từ hiện tượng luận đến biện chứng duy vật của ý thức (1)]. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1974] (2004). (Các chú thích đều là của người dịch). (BS)
182. SAUSSURE, F. de (1967). Cours de linguistique générale. Publié par Charles Bally et Albert Sechehaye, avec la collab. de Albert Riedlinger. Paris: Payot. Được xây dựng từ giáo trình của Saussure trong ba năm học (1906–1911), và xuất bản năm 1915, sau khi tác giả mất hai năm.
183. Thuật ngữ signe [sign] trong tiếng Pháp có thể được dịch là ký hiệu trong nghĩa hẹp [như trong signe linguistique = ký hiệu ngôn ngữ] hoặc biểu hiệu hay dấu hiệu trong nghĩa rộng. Ở đây, dựa trên ngữ cảnh, signe sẽ được dịch bằng từ trước hay các từ sau, tùy mức độ từ hẹp nhất đến rộng nhất. Theo Saussure, signe luôn luôn gồm có hai mặt mà ông gọi là signifiant [signifier] và signifié [signified] (xem chú thích số 02 [tr. 260] bên dưới), được kết hợp trong một quan hệ “độc đoán”. Về điểm này, đối với nhà ngôn ngữ học Emile Benveniste, nếu signifiant và signifié có quan hệ bất khả phân như mặt phải và mặt trái của một tờ giấy theo chính thí dụ của Saussure, thì quan hệ giữa hai yếu tố này không thể nào là “độc đoán”, mà phải được xem là tất yếu (làm gì có một tờ giấy chỉ có mặt phải, không có mặt trái!). Nói cách khác, Saussure đã lẫn lộn quan hệ giữa hai mặt của ký hiệu với quan hệ giữa ký hiệu với vật quy chiếu [référent = referent], bởi vì đúng thật là không có một quan hệ thiết yếu nào giữa âm hoặc từ chó với con chó ngoài đời, khi người Pháp gọi cùng một sinh vật này là chien, người Anh là dog, người Đức là Hund, v.v...
184. Trong tiếng Pháp, verbal chỉ tất cả những gì được diễn đạt bằng ngôn từ hơn là bằng các dấu hiệu khác, tuy langage verbal thường được dịch chính xác nhưng hạn hẹp là ngôn ngữ nói. Ở đây, vì verbal còn thường được dùng kèm với nhiều từ khác nữa, để có thể dịch nhất quán tất cả các trường hợp trên, chúng tôi thử nghiệm dịch là âm từ, để có thêm ngoài ngôn ngữ âm từ (ngôn ngữ được xây dựng bằng lời nói và chữ viết, trên âm vị và từ vị), các cụm từ khác như khác biệt âm từ [différenciations verbales], ký hiệu âm từ[signes verbaux], ý nghĩa âm từ [signification verbale], cấu trúc âm từ [structure verbale], v.v...
185. Sémiologie [semiology] thường được dịch là triệu chứng học trong bối cảnh y học, và ký hiệu học trong ngôn ngữ học. Ở đây, chúng tôi sử dụng lại từ dịch đã trở thành quen thuộc là ký hiệu học chung cho cả hai trường hợp. Sau Saussure, nhưng xuất phát từ dự án sémiologie của ông, còn xuất hiện một môn học khác mang tên là sémiotique [semiotics, dù đôi khi vẫn còn tiếp tục được gọi là sémiologie]. Từ chối cho ký hiệu âm từ quy chế ưu đãi (giống như Trần Đức Thảo ở đây), bộ môn này lấy mọi phương thức biểu nghĩa làm đối tượng (thời trang, văn học, huyền thoại, văn bản, v.v…), do đó, tùy sở thích của mỗi tác giả, cũng phát triển theo nhiều chiều hướng khác nhau.
186. Symboles [symbols] có thể được dịch là ký hiệu như trong ký hiệu hóa học hay biểu trưng như trong biểu trưng của công lý. Ở đây, để đầy đủ, chúng tôi dùng cả hai.
187. Signifiant, signifié thường được dịch là cái biểu đạt và cái được biểu đạt, tuy đôi khi cũng có người dùng cái lập (tạo) nghĩa và cái thụ nghĩa. Ở đây, để tránh sự lặp lại, chúng tôi dùng cả hai. Mặt khác, quan niệm của Saussure về signifiant, và về ký hiệu ngôn ngữ như sự kết hợp giữa một signifiant với một signifié không phải là không đặt vấn đề. Ký hiệu ngôn ngữ nói đây có phải là từ chăng? Trong trường hợp này, nếu lấy thí dụ ở tiếng Pháp chẳng hạn, phải xem hai signifiants khác nhau như cheval và chevaux là biểu hiện của cùng một từ như table và tables chăng? Nó có thể là đơn vị nhỏ hơn từ như tiền tố néo– [tân–] chăng, bởi vì tiển tố này cũng kết hợp một signifiant với một signifié như mọi ký hiệu khác? Nó có thể là từ sáp nhập như au (à le) và aux (à les) chăng, khi cùng một signifiant bất khả phân này lại tương ứng với hai signifiés, nghĩa là phải kết hợp với hai khái niệm khác nhau?
188. “Dans la langue, comme dans tout système sémiologique, ce quy distingue un signe, voilà tout ce quy le constitue” (Saussure, Sđd., tr. 168). Đối với Saussure, ngôn ngữ âm từ là một hệ thống ký hiệu, và ký hiệu không phải là vật thể, mà là quan hệ: trong một trạng thái ngôn ngữ, tất cả tùy thuộc vào những quan hệ (hoặc đối lập, hoặc khác biệt, hoặc kết hợp) giữa các ký hiệu âm từ hay đơn vị ngôn ngữ. Trong quá trình tạo câu chẳng hạn, một đơn vị ngôn ngữ (âm hay từ) chỉ có thể được nhận diện bởi sự khác biệt với nó của những đơn vị đi trước hay đi sau trên trục ngữ đoạn [syntagmatique = syntagmatic, trục phân bố vị trí các đơn vị], và bởi những đơn vị có thể hoán vị với nó trên trục ngữ hình [paradigmatique = paradigmatic, trục chọn lựa giữa các đơn vị cùng tập hợp]. “Tôi yêu em” chỉ có nghĩa chính xác nếu người nghe phân biệt được “yêu” với “tôi” và “em” trong đoạn âm thanh này và trên các vị trí này (bởi vì “tôi yêu em” khác với “em yêu tôi”, và “yêu em tôi”), đồng thời biết rằng “yêu” khác với “thương”, “mến”, “thích”, “ưa”, “quý”,… trong cùng tập hợp “tình cảm tích cực” chẳng hạn.
189. Signification [signification, meaning] và sens [meaning, significance] đều được dịch là nghĩa hay ý nghĩa, mặc dù hai từ này thường được phân biệt hơn là sử dụng như từ đồng nghĩa trong tiếng Pháp. Ở Saussure, không có định nghĩa rõ ràng về sens, và từ này có thể được tiếp cận, hoặc như kết quả của một sự cắt xén (từ một dòng tư tưởng, một mảng chữ viết hay một khối âm thanh còn bất định) hay một hiện tượng kết hợp, hoặc như một giá trị xuất phát từ hệ thống ngôn ngữ. Ở các nhà ngữ học khác (Leonard Bloomfield, Zellig S. Harris, Stephen Ullmann, André Martinet...), sự phân biệt cũng không thống nhất. Do đó, cách đối lập phổ biến nhất hiện nay trong bối cảnh ngôn ngữ học có lẽ vẫn là: a) hoặc nhìn nhận hai loại quan hệ khác nhau, và xem signification như thuộc về quan hệ biểu đạt [rapport de signification, xuất phát từ sự đối lập giữa các từ vựng trong cùng một hệ thống ngôn ngữ], còn sens như thuộc về quan hệ chỉ định [rapport de désignation, xuất phát từ liên hệ giữa ký hiệu với vật quy chiếu bên ngoài]; b) hoặc chấp nhận thông kiến xem signification như ý nghĩa của một từ, khác với sens là ý nghĩa của một đoạn văn hay một văn bản.
190. “Prenons d’abord la signification telle qu’on se la représente et telle que nous l’avons figurée... Elle n’est... que la contre–partie de l’image auditive” (Saussure, Sđd., tr. 158). Ở đây, chúng tôi mạn phép dịch contre–partie là mặt trái, vì Saussure thường dùng hình ảnh mặt phải và mặt trái của một tờ giấy để diễn tả tính bất khả phân của hai yếu tố cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong ký hiệu ngôn ngữ.
191. Langage và langue [language] đều được dịch là ngôn ngữ, còn parole [speech] là lời nói. Trong tiếng Pháp, langage vừa chỉ khả năng đặc thù của con người là khả năng giao tiếp hay hiệp thông bằng một hệ thống ký hiệu âm từ, vừa chỉ bất kỳ một hệ thống ký hiệu nào đã được xã hội quy tắc hóa (ngôn ngữ của người câm điếc chẳng hạn), trong đó có các hệ thống ký hiệu âm từ riêng của mỗi cộng đồng dân tộc gọi là langue. Như vậy langage [ngôn ngữ theo nghĩa rộng], với tư cách là một đặc tính chung của loài người, xuất phát từ khả năng biểu trưng của con người, và bao gồm hai bộ phận: langue [tiếng nói hay ngôn ngữ theo nghĩa hẹp] và parole [lời nói]. Langue là một sản phẩm xã hội, là cái phần của langage tồn tại trong ý thức của mọi thành viên thuộc một cộng đồng ngôn ngữ nhất định, là tổng số những dấu ấn do thực tiễn xã hội để lại trong trí óc của mỗi cá nhân qua vô số hành vi ngôn ngữ cụ thể. Trái lại, parole là phần ngôn ngữ được vận dụng thực sự bởi mỗi cá nhân, là phần hành vi ngôn ngữ cụ thể ở mỗi người.
192. “Thật ra, kinh tế chính trị học thông tục chỉ lý thuyết hóa và hệ thống hóa những biểu thị của các tác nhân sản xuất còn bị tù túng trong quan hệ sản xuất tư sản, và biện hộ cho loại ý tưởng này. Do đó, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi nó cảm thấy hoàn toàn thoải mái trong chính cái phần ngoại hiện tha hóa của những quan hệ kinh tế ấy – điều hiển nhiên là phi lý và cực kỳ mâu thuẫn, bởi vì nếu phần ngoại hiện với bản chất của sự vật chẳng khác gì nhau thì có khoa học cũng bằng thừa! Vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi kinh tế chính trị học thông tục cảm thấy hoàn toàn tự nhiên ở đây, và những ràng buộc bên trong càng bị che giấu kỹ bao nhiêu, thì các quan hệ bên ngoài này càng có vẻ hiển nhiên đối với nó bấy nhiêu, đồng thời trở thành quan hệ hiện hành trong cách biểu thị thông thường của người đời về kinh tế” (MARX, K. Le Capital. Livre troisième: le procès d’ensemble de la production capitaliste. Paris: Ed. sociales, 1950–1960. Q. 8, tr. 196).
193. craindre: sợ hãi; redouter: vô cùng sợ hãi. (BS)
194. “Một mặt, Destutt de Tracy nói rõ ràng rằng những sự vật cấu thành của cải biểu hiện phần lao động đã tạo ra chúng; mặt khác, ông lại cho rằng hai loại giá trị khác nhau của chúng (giá trị sử dụng và giá trị trao đổi) đều được rút ra từ giá trị của lao động. Như vậy, ông rơi xuống trình độ tầm thường của kinh tế [chính trị] thông tục, khi nó chấp nhận trước giá trị của một thứ hàng hóa (lao động, chẳng hạn) để xác định giá trị của những món hàng khác” (MARX, K. Le Capital. Livre premier: le développement de la production capitaliste. Paris: Ed. sociales, 1950–1960. Q. 1, tr. 92).
195. “Xin lưu ý một lần dứt khoát rằng: tôi gọi là kinh tế chính trị học cổ điển bất cứ thứ kinh tế nào, từ William Petty trở đi, tìm cách thâm nhập vào cái tổng thể hiện thực và mật thiết của những quan hệ sản xuất trong xã hội tư sản, tương phản với thứ kinh tế chỉ dừng lại trên những biểu hiện bên ngoài là kinh tế thông tục. Để thỏa mãn nhu cầu riêng và phổ biến một cách dung tục những hiện tượng thô lậu nhất, thứ kinh tế sau không ngừng nhai đi nhá lại những tư liệu đã được soạn thảo trước nó, rồi tự giới hạn như các nhà thông thái rởm vào việc dựng thành hệ thống, đồng thời tôn xưng như chân lý vĩnh cửu, loại ảo tưởng mà giai cấp tư sản ưa thả vào thế giới của hắn, cái thế giới [coi như] tốt đẹp nhất có thể tồn tại” (MARX, K. Le Capital. Livre premier: le développement de la production capitaliste. Paris: Ed. sociales, 1950–1960. Q. 1, tr. 83).
196. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1993c] (2013). Các chú thích là của người dịch. Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
197. Những chữ trong ngoặc vuông được dịch giả thêm vào để làm rõ ý của tác giả. (BS)
198. Tức khi bước sang khoa học xã hội, nhân văn.
199. Khoảnh khắc là mấu chốt của quan điểm thời gian của Aristotle. Khoảnh khắc phân chia dòng chuyển động, thành trước và sau. Mặt khác, hai khoảnh khắc, một trước một sau, cho ra một khoảng thời gian, có thể đo lường được bằng một con số.
200. Vì muốn có “trở thành”, phải có chuyển động.
201. Husserl, C2I – 1932–1933. Dẫn bởi: THAO, Trân Duc (1951), p. 143, Note.
202. Thuyết nhân quả, trong dạng đơn giản nhất của nó, quan niệm những tương quan theo một đường thẳng, theo kiểu: “vì có A, nên có B”. Nó có thể trở thành phức tạp hơn một chút: “vì có A, hay A’, nên có B”. Tuy nhiên, ít khi nào hệ quả lại không tác động ngược lại trên nguyên nhân, theo mô hình: “A cho ra B, B cho ra A’, A’ cho ra B’ v.v..”. dẫn đến “nhân quả xoay tròn”, trong thực tế là những vòng xoắn ốc. Nếu các “vòng” ấy có thể tự xoay chuyển, bất chấp những yếu tố khác, thì người ta có một “hệ thống nhân quả”. Nhưng nếu hệ thống phải chịu ảnh hưởng của những yếu tố bất định do môi trường, hoàn cảnh bên ngoài,... ảnh hưởng vào, thì hệ thống nhân quả ấy trở thành phức biến (mà không thành một hệ thống lớn hơn, với nhiều yếu tố hơn, vì các yếu tố vừa nêu được coi như “bất định”, đi ngược lại với tính “phân định”, phải có, của “nhân quả”).
203. Yếu tố “môi trường, hoàn cảnh” nói trong chú thích trên.
204. Theo Sartre, l’Etre en soi – hiện hữu tự thân – là sự hiện hữu bị quy định: cây xoài chỉ có thể “làm” cây xoài, Đạt Lai Lạt Ma “làm” Đạt Lai Lạt Ma,... nên cũng có thể được dịch là “hiện hữu thường hữu”, với ý nghĩa nó bị gò bó không thể thay đổi. L’Etre pour soi – hiện hữu vị kỷ, còn có thể được dịch là “hiện hữu tự hữu”, tức là sự hiện hữu do “tôi” chọn lựa, như Đạt Lai Lạt Ma có thể chọn nhảy rock, mặc dù nhảy rock không thuộc về “hiện hữu tự thân” của một Đạt Lai Lạt Ma. L’Etre pour l’autre – hiện hữu vị tha – là sự hiện hữu tùy thuộc vào người khác, vì cái nhìn của người khác ngăn cản tôi làm những gì tôi chọn lựa (Sartre: “địa ngục là kẻ khác”), hay vì cái nhìn của họ phản chiếu lại hình ảnh về tôi mà tôi muốn họ nhận thấy (Ricœur), hay vì ý thức nhân bản chính là ý thức trách nhiệm đối với tha nhân (“nhân bản qua tha nhân” – Lévinas), nên cần sự đối diện với một tha nhân cụ thể để hiện hữu. Trong một dịp khác tôi sẽ khai triển những ứng dụng đối với Sự logic của thời Hiện tại sống động trong các vấn đề được nêu lên trong đoạn này.
205. Khoa học là “thực tế có giá trị tổng quát”. Thí dụ như định luật Boyle Mariotte: P x V = hằng lượng. Định luật này áp dụng cho tất cả các chất hơi, ở bất cứ đâu, bất kể đang hiện hữu, đã hiện hữu, hay sẽ hiện hữu. “Xe mình hết xăng” cũng là một thực tế, nhưng nó chỉ áp dụng cho một trường hợp cá biệt (xe mình), vào một thời điểm giới hạn, nên không thể là “khoa học”. “Thực tế khoa học” là một thực tế không hiện hữu. Vì không có gì hiện hữu được trong tổng quát. Mọi sự vật cụ thể đều hiện hữu tại một nơi chốn, trong một thời gian rõ rệt. Mặt khác, cách nhìn tổng quát không cho phép phân tích tường tận một hiện hữu cá biệt, nên trên quan điểm của khoa học, thì hiện hữu là cái không thể định nghĩa được một cách toàn diện: “Omne individuum ineffabile”. Vấn nạn này đưa đến một khó khăn khác, khi buộc phải công nhận là người ta đạt đến quy luật khoa học với giá trị tổng quát của nó bằng sự quan sát các trường hợp cá biệt. Tức là đi từ hiện hữu đến không hiện hữu, từ cái “không thể là khoa học” (vì tính cá biệt), để xây dựng nền tảng của khoa học (mang tính tổng quát)!
206. Logic hình thức, mô tả “hình thức” tư duy làm sao cho đúng đắn, chứ không nhằm vào những đối tượng cụ thể của tư duy. Nó như một loại “văn phạm” của tư duy. Văn phạm không cần biết anh nói lời yêu thương hay mắng chửi. Nhưng, trong mọi trường hợp, anh đều phải tuân theo những quy luật của nó. Logic tiên nghiệm nhằm vào những phạm trù tàng ẩn đằng sau các nhận thức thông thường. Khi nói “con ngựa trắng lớn” thì đằng sau đó, đã phải có sẵn khái niệm động vật với những phân chia theo loài, giống,... đồng thời với khái niệm về tính chất (lớn, trắng). Nếu tôi nói “một con ngựa trắng trong nhiều con ngựa đen” thì đằng sau đã phải có sẵn các khái niệm đơn vị, số ít, số nhiều, cá thể, toàn thể,... Tức là đối với những cảm nhận thông thường thì các khái niệm ấy đã được “nghiệm” trước (tiên nghiệm). Ở đây, Husserl tách khỏi quan điểm của triết học thời ông, đặc biệt là quan điểm của Kant, khi ông từ chối xem logic hình thức như tự nó không có đối tượng (chỉ có hình thức, không có nội dung), cũng như phủ nhận việc cho là logic tiên nghiệm chỉ có đối tượng là các phạm trù biểu trưng cho những gì có thể “nghiệm” được bằng cảm quan. Husserl cho rằng logic hình thứccó thể có đối tượng là những khái niệm thuần túy. Ta thử lấy công thức: “A cho ra B, vậy phải chăng không B cho ra không A?”. Tức là ta đã biến công thức này thành một đối tượng logic, có thể phân tích, sử dụng cách này, cách kia, mặc dù nó chỉ là khái niệm thuần túy. Mặt khác, logic tiên nghiệmkhông chỉ là vận dụng những “phạm trù biểu tượng cho thực tại” nữa, mà là đạt đến những khái niệm trừu tượng qua tư duy logic. Nói cách khác, logic tiên nghiệm, đối với Kant, là đưa các phạm trù biểu tượng cho thực tế vào logic hình thức để giới hạn logic hình thức trong thực tại. Còn đối vớiHusserl thì logic tiên nghiệm là nền tảng để đi lên phạm trù khái niệm từ logic hình thức. Trước một khái niệm, thay vì đặt câu hỏi “đối với tôi nó biểu tượng cho cái gì trong thực tế” (tức từ khái niệm “đi xuống” thực tại), Husserl tự hỏi: “tôi hiểu nó như thế nào?” (tức đặt vấn đề ý nghĩa thay vì biểu tượng, cũng là “đi lên” một khái niệm cao hơn, “tiên nghiệm” hơn). Logic tiên nghiệm, như thế, không tách biệt với logic hình thức, mà là khởi điểm của logic hình thức. Để rồi, với “logic Hình Thức và Tiên Nghiệm”, người ta có thể “hiểu” tự thân sự vật qua một sự “hiểu biết cảm thông” như sẽ được bàn đến ở phần sau.
207. “Individualité” (tính cá thể) khi được dùng để chỉ một hiện hữu cụ thể, thì được dịch là tính cá thể. Vì khi ấy, cái “tính” được nhìn qua “thể”, và dùng cái “thể” này để tượng trưng cho nó. Cũng tương tự như chữ “personnalité” (cá tính của một người) được dịch là “nhân vật” khi chỉ những con người cụ thể (“personnalités” politiques = “nhân vật” chính trị).
208. Thu nạp các chất dinh dưỡng để cá thể sinh học có thể hóa thành chính nó.
209. Giữa chức năng tồn đọng và chức năng hướng đến tương lai.
210. “Vẫn còn hiện hữu” vì vẫn giữ những đặc tính của nó.
211. Nisus: khuynh hướng nỗ lực hiện thực hóa cái mục tiêu đề ra. (BS)
212. Appetitus: khuynh hướng bẩm sinh của một sự vật nhằm giúp chính nó tiếp tục tồn tại và phát triển. Appetitus có nguồn gốc Ấn–Âu: “pete–” có nghĩa là “lao tới”. (BS)
213. “Hiểu biết cảm thông” – “Connaissance compréhensive” – là hiểu biết xây dựng trên trực giác, chú trọng vào sự cảm thông, thay vì giải thích. Vấn đề của nó không phải là nhận biết các dữ kiện mà là cảm thông ý nghĩa của các dữ kiện ấy. Khi đã được hấp thụ đúng mức, thì “biện chứng sinh học hội nhập thời gian” ảnh hưởng như một phương pháp “tiên nghiệm” (xem chú thích (2), tr. 132) nâng các dữ kiện sinh học lên trình độ ý nghĩa, có thể cảm thông trực tiếp, mà không cần phải phân giải bằng trí năng nữa.
214. Tức là duy trì những đặc tính đủ để người ta vẫn nhận ra “nó là nó”.
215. “Nó là nó”, nhưng cũng “không còn là nó”, cho phép sự tiến hóa thành những sinh vật mới, phát triển hơn.
216. Thu nạp chất dinh dưỡng để biến hóa thành chính nó.
217. Bằng các chất dinh dưỡng lấy từ môi trường.
218. Như con sứa.
219. Sự thống nhất của cặp mâu thuẫn “tồn đọng – hướng tới tương lai” bao giờ cũng thể hiện thực tại, tức cái hiện trạng trong lúc này. Trong trường hợp sinh vật mà ta đang quan sát, cái “hiện trạng lúc này” ấy là sự co thắt. Hiện trạng ấy tổng hợp hai “tiến trình chuyển biến bao hàm đối nghịch”, do sự phân chia cấu trúc “thần kinh – cơ bắp” của nó thành hai loại, trương lực và từng kỳ. Tương tự như thế, sự đối kháng giữa hai phạm trù “tồn đọng” và “hướng hướng tới tương lai” triệt tiêu cái thực tại vừa nói, tức sự co thắt, để cho ra giai đoạn thư giãn, nghỉ ngơi, như Trần Đức Thảo sẽ nói tiếp ở câu sau.
220. “Tự thân” (corps propre), là một khái niệm được mô tả ra bởi một số triết gia như Merleau–Ponty (Phénoménologie de la Perception), để chỉ hình ảnh chủ quan của thân thể. Nó tạo ra cảm giác “chính mình”, “là mình”, “tự mình” cùng với những gì “mình” có thể làm, hay có thể cảm nhận.
221. Gọi là “hình ảnh thần kinh”.
222. Chứ không phải vào hình ảnh của chuột.
223. Vì không có thực.
224. Vì vượt ra ngoài giới hạn bản thân.
225. Tương đương với “khoảng miệng” của trẻ nhỏ.
226. Chỉ hiện hữu nơi con người.
227. Như Trần Đức Thảo đã phân tích trong nhiều tài liệu, ở trẻ em, tiếng gọi, rồi tiếng nói bên ngoài kích thích sự hình thành của tiếng nói bên trong. Tiếng nói bên trong được lập lại rồi khai triển thành ý thức. Với sự ý thức qua tiếng nói bên trong ấy, những cảm giác được ý thức, được trừu tượng hóa, đồng thời với ý muốn, chủ ý hành động,... Con vật chỉ có “cảm giác bản thân”, để phân biệt những gì “thuộc về nó” và “không phải nó”. Cảm giác về “nó” là cảm giác về một sự vật cụ thể, cũng như cảm giác đối với những sự vật “không phải nó”. Ở con người thì khả năng trừu tượng hóa làm cho ý thức của hắn không chỉ hướng đến sự vật hay cảm giác cụ thể mà vượt lên phạm trù trừu tượng. Thí dụ con vật chỉ ham muốn một sự vật cụ thể, như thức ăn, đối tượng giao hợp,... Trong khi đó, con người, trong sự ham muốn thực sự “người” của mình, thì ham muốn một hình ảnh chủ quan của đối tượng mà mình ham muốn, hoặc ham muốn chính sự ham muốn, như huy chương, bằng cấp, nhà to, xe đẹp, vì chúng chứa đựng sự ham muốn của người khác, hay khi giao hợp, thì muốn đối tượng cũng ham muốn giao hợp với mình... Trong điều kiện ấy, ý thức bản ngã nơi con người cũng hướng vào một “cái tôi” trừu tượng, được cấu tạo qua một “câu chuyện” được thường xuyên cập nhật, mà mình tự kể với mình, đồng thời thể hiện hình ảnh mà mình muốn người khác nhận biết nơi mình. Ý thức, như thế, bắt buộc phải có ngôn ngữ. Xem (tiếng Pháp):http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=167&kind=20 (đoạn “conscience et langage”).
228. Được ý thức, qua “tiếng nói bên trong”.
229. Tính chủ thể ở động vật được hình thành qua tập hợp cảm giác, trực giác, bản năng, của nó. Ở con người tính chủ thể bao hàm thêm tất cả những gì hắn “biết”, qua kinh nghiệm, học hỏi, suy tư, v.v... và qua những gì hắn dự phóng cho tương lai. Ngôn ngữ ở đây cũng đóng một vai trò then chốt, qua chức năng truyền đạt các hiểu biết, suy nghĩ và kinh nghiệm, cũng như xây dựng các dự phóng... Như Marx đã nhận xét: sự khác biệt giữa một kiến trúc sư kém cỏi nhất và con ong tài ba nhất, là người kiến trúc sư xây dựng công trình của mình trong trí óc, trước khi thực hiện nó trong thực tế. Chúng ta cũng đã nhận xét rằng con người luôn tự kể “tiểu sử” của mình, một tiểu sử không ngừng được phóng chiếu vào tương lai (“tôi là người sẽ...”), với những cập nhật đều đặn. Tính chủ thể nơi con người thể hiện qua ý thức mình là nhân vật chính của “tiểu sử” ấy.
230. Hylè là chất liệu của cảm giác, trước khi nó được cảm giác, để rồi, từ cảm giác, trở thành tri giác. Husserl đã có những do dự quanh vấn nạn làm thế nào để Hylè trở thành tri giác (sự kết hợp giữa Hylè và Morphè – hình thái). Sau cùng, quan điểm của ông là khi hội nhập thời gian, thì, cùng với sự vận động của thời gian qua mâu thuẫn tồn đọng và áp lực hướng đến tương lai, Hylè tự nó mang tính năng khích động cơ thể, đưa đến sự bổ túc các cảm giác đã nhận được bằng những tư thế nối tiếp nhau để tiếp tục nhận được những cảm giác mới về cùng một sự vật. Như một người vừa đi quanh một bức tượng, vừa nghiêng đầu để nhìn nó dưới nhiều khía cạnh. Đồng thời với những tư thế này, hệ thần kinh liên tục tổng hợp những cảm giác thu nhận được, dựa vào quá khứ, và hướng đến tương lai, làm thành một dòng tri giác. Như thế, Hylè, tức chất liệu của cảm nhận, tự nó hướng đến Morphe, hình thái. Mỗi cảm giác tự nó mang những phương tiện để được nhận thức đầy đủ hơn, và trong mỗi sự vật được cảm nhận trực tiếp đã có sẵn động lực để liên kết chúng thành một tập hợp hình ảnh hiểu được, “cảm thông được”, của thế giới.
231. Như Hylè, nó mang trong nó động lực tự bổ sung và hướng đến hành động.
232. Tương tự như “khoảng chân – tua” nơi loài Ruột Khoang, cho ra “vùng phụ cận” ở các trình độ tiến hóa cao hơn, trò chơi phân định một khoảng trống trung gian giữa “trong” và “ngoài” một cá thể. Cá thể ấy có khả năng tác động trên khoảng trống này, như thể thuộc về nó, mặc dù khoảng trống kia vẫn được cảm nhận như bên ngoài nó. Trong trò chơi, nó tác động trên những sự vật trung gian, để tăng cường cảm giác hiệu năng của nó trên khoảng trung gian vừa nói. Điều này cũng làm gia tăng cảm giác tự thân của nó, và là một bước tiến hóa dẫn đến việc phát triển các “trung gian thực dụng”, vẫn để tăng cường hiệu năng tác động trên “vùng phụ cận”, thường trùng hợp với khoảng trung gian của trò chơi. Các “trung gian thực dụng” ấy là các công cụ lấy trực tiếp từ thiên nhiên, trước khi tiến lên giai đoạn dụng cụ được chế tác.
233. Lời Cuối: Chỉ trong vài trang, chúng ta đã đi qua một quãng đường dài với Trần Đức Thảo. Khởi đầu bằng một phương pháp lý luận, ông dẫn chúng ta “hội nhập thời gian”, để hiểu được sự chuyển động của một hiện hữu trong thời gian. Rồi ông đưa chúng ta vào trong mỗi hiện hữu, để chỉ ra cá tính của nó, luôn tồn đọng, dù không ngừng chuyển biến, bất kể nó là một hạt cát, một sinh vật, hay toàn vũ trụ. Sau hết, vì hiện hữu mang tiềm năng kết hợp với những hiện hữu khác, làm thành những cá thể phức hợp, những hệ thống bao gồm nhiều tầng lớp, từ con sứa đến xã hội loài người, nên Trần Đức Thảo mời gọi chúng ta quay về quá khứ, tìm hiểu bản thân của tính kết hợp, qua những nền tảng đơn sơ nhất của nó. Từ thời buổi xa xưa ấy, những trang sử ly kỳ của Thiên Nhiên được lật nhanh, cho đến sự xuất hiện của xã hội tính và nhân tính, vạch ra một tiến trình từ sự co thắt cho đến các hành vi được ý thức nơi mỗi người chúng ta. Sự logic của thời Hiện tại sống động đã là ánh sáng chiếu soi cho chúng ta trên suốt con đường ấy, khiến chúng ta có được một cái nhìn nhất quán về lịch sử của Thiên Nhiên từ nguyên thủy cho đến hiện tại, với tất cả nhưng gì con người đã, và sẽ, biết được.
234. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1989c). Bản sử dụng ở đây đã sửa chữa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
235. Di chỉ khảo cổ học nổi tiếng ở miền Tây nước Pháp. (BS)
236. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1991b). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
237. Xem Ph. Ăng–ghen: Chống Đuy–rinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959, tr. 35–37.
238. Xem Ph. Ăng–ghen, Sách đã dẫn, tr. 36.
239. Chú thích của người biên tập: Tiếp sau phần hình thể cộng sản nguyên thủy, tác giả đã phân tích những nấc thang tiến hóa của lịch sử phát triển loài người. Vì khung khổ bài báo có hạn, rất tiếc chúng tôi không đăng được phần đó. Mong tác giả và bạn đọc thể tất. Dưới đây là phần tiếp.
240. Mác: Tư bản, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, Q1, T3, tr. 351–352.
241. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1977a). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
242. Trưng thu và cống nạp. (BS)
244. Hoàng Tuấn Anh dịch. Dịch từ nguyên bản tiếng Anh. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1947b] (2012). Bản sử dụng ở đây có biên tập một số chữ, và sửa chữa một số lỗi đánh máy của nguyên bản. (BS)
245. Giáo sư Trần Đức Thảo là nhà triết học lớn. Bên cạnh đó, với lòng yêu nước nồng nàn, ông còn là một nhà trí thức dấn thân chính trị từ khi còn rất trẻ. Năm 1944, khi mới 27 tuổi, ông đã được bầu làm Tổng Phái đoàn của người Đông Dương ở Pháp (Délégation générale des Indochinois en France), phụ trách nghiên cứu các vấn đề chính trị. Trên cương vị này, bên cạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, ông còn diễn thuyết, viết báo và vận động chính trị cho nền độc lập và dân chủ ở Đông Dương, hướng cuộc đấu tranh dành độc lập dân tộc theo hướng dân chủ–xã hội. Bài báo tiếng Anh này phản ánh tinh thần của bài báo tiếng Pháp của Giáo sư, Sur l’Indochine [Về Đông Dương]. Bài báo tiếng Pháp này được viết trong 4 tháng tại xà lim ở nhà tù Prison de la Santé (tháng 9–12/1945), sau khi ông bị bắt vì các phát ngôn ủng hộ nền độc lập ở Đông Dương, sau đó được đăng trên tạp chí Les Temps modernes, diễn đàn của giới triết học và trí thức cánh tả tại Pháp, do Maurice Merleau–Ponty, Jean–Paul Sartre, Raymond Aron và Simone de Beauvoir chủ trương. (BS)
246. Nay là Sri Lanka (ND).
247. Nguyễn Trung Kiên dịch. Nguồn: HERMAN, Daniel J. [1997] (2013). Tên bài do người dịch tạm đặt. Người dịch xin cảm ơn sự chỉ dẫn quý báu của Giáo sư Trần Hữu Dũng, Tiến sĩ Cù Huy Chử, Luật sư Cù Huy Song Hà và Tiến sĩ Nguyễn An Nguyên để bản dịch này được hoàn thiện. Đây là bài giới thiệu cho bản dịch tiếng Anh của Daniel J. Herman, Dialectical logic as the General logic of Temporalization [Logic biện chứng như là logic tổng quát của vận động thời gian], sau đó được tác giả sửa chữa và công bố trong The Encyclopedia of Phenomenology [EMBREE, Lester, et al (1997)]. Bản gốc tiếng Pháp của bài nghiên cứu này của Giáo sư Trần Đức Thảo là: La dialectique logique comme dialectique générale de la temporalisation. Đây là chương 2 của tác phẩm La Logique du Présent vivant [Sự logic của thời Hiện tại sống động] (1993), gồm 4 chương, của Giáo sư Trần Đức Thảo. Tác phẩm này, cùng với tác phẩm Recherches Dialectiques [Những nghiên cứu về các mối liên hệ biện chứng] (1992), là hai tác phẩm cuối đời do Giáo sư Trần Đức Thảo viết tại Paris, Cộng hòa Pháp. Hai tác phẩm cuối đời này đã đưa sự nghiệp nghiên cứu và sáng tạo triết học của Giáo sư Trần Đức Thảo lên tới đỉnh cao, và khẳng được định triết học của ông là chủ nghĩa duy vật biện chứng nhân bản, đúng như mơ ước ông gửi gắm trong bản Hồi ký Triết học (1989): “Trên cơ sở tiếng gọi của cái hình ảnh xã hội bên trong, ý thức cá nhân tự gọi bản thân mình, qua đó xác định sự đòi hỏiđạo đức trong hành động, chân lý trong nhận thức, và thẩm mĩ trong sự hoàn thành các quá trình sống động và sinh thức... Ý thức chuyển hóa thế giới tự nhiên thành một thế giới có tính Người, có giá trị đối với con người”. (ND)
248. Tài liệu tham khảo: CAVEING, M. (1974); LYOTARD, J.-F. (1992); RICŒUR, P. (1974); ROUSSET, B. (1984); THAO, Trân Duc (1946b), (1948), (1950b), [1951] (1971), [1951] (1970), [1951] 1986), [1956a] (1965), (1966b), (1969a), (1969b), (1970), [1985f] (1986), (1986a), (1992a), [1992c] (1995), (1992e), [1992e] (1995), (1993a).
249. THAO, Trân Duc (1951), (1986a).
250. Xem Phụ lục A [THAO, Trân Duc (1992a)].
251. HUSSER, E. (1936). Die Krisis der europäischen Wissenschaften und die transzendentale Phänomenologie: Eine Einleitung in die phänomenologische Philosophie [Sự khủng hoảng của các ngành khoa học tại châu Âu và Hiện tượng luận tiên nghiệm: Giới thiệu về Triết học tiên nghiệm] (ND)
252. THAO, Trân Duc (1991c).
253. THAO, Trân Duc (1973), [1973] (1984).
254. “Tiếng nói của đời sống thực tế” là một thuật ngữ của Karl Marx. “Sự sản xuất những ý kiến, những ý tưởng, sự sản xuất ý thức lúc đầu là trực tiếp quấn quyện trong hoạt động vật chất mà trong những quan hệ vật chất của những con người, trong tiếng nói của đời sống thực tế (Sprache des wirklichen Lebens).Ý tưởng, tư duy, những quan hệ tinh thần của người ta ở đấy là còn xuất hiện theo lối như toát ra từ cử chỉ vật chất của họ” (MARX, K., Hệ tư tưởng Đức, Dietz–Verlag, tr. 22) [Nguồn: THẢO, Trần Đức (1989b)] (ND).
255. Ví dụ như hòn đá (ND).
256. Ví dụ như hòn đá mài (ND).
257. Sự phân biệt này đã bị Jane Goodall, người sử dụng những khái niệm này mà không kèm trích dẫn, bác bỏ hoàn toàn. Không nên ngạc nhiên! Được đào tạo trong chuyên ngành của mình, bà đã được thừa hưởng không chỉ các nghiên cứu nhân chủng học của Thảo mà còn các nghiên cứu của Köehler. Nhiều năm trước, Köehler, trong một thí nghiệm mang tính kinh điển của mình, đã chỉ ra rằng khỉ không đuôi không có khả năng tự diễn đạt cho mình về một đối tượng vắng mặt, do đó nó không có khả năng suy nghĩ, nếu suy nghĩ phải tồn tại ít nhất là một khoảng cách giữa người suy nghĩ và đối tượng được suy nghĩ.
258. THẢO, Trần Đức, “Một hành trình ”, đã dẫn.
259. Năm 1968 được mở đầu với sự kiện Mùa xuân Praha, khi vào ngày 5 tháng Giêng, Alexander Dubček được bầu làm Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, mở đầu quá trình ngắn ngủi nhằm tự do hóa chính trị, cải cách dân chủ và phi tập trung hóa nền kinh tế tại Tiệp Khắc, và kéo dài đến ngày 21 tháng Tám, khi Liên Xô và các nước đồng minh trong Khối Vác–sa–va xâm lược Tiệp Khắc nhằm ngăn chặn các cải cách cấp tiếp này. (Nguồn: Wikipedia) (ND)
260. Daniel J. Herman có chút nhầm lẫn. Trên thực tế, Trần Đức Thảo trở lại Paris vào tháng Ba năm 1991 (ND).
261. THAO, Trân Duc [1992c] (1993).
262. Bao gồm: 1. Quy luật đồng nhất (cái gì tồn tại thì tồn tại); 2. Quy luật không mâu thuẫn (cái gì không tồn tại thì không tồn tại); 3. Quy luật loại trừ cái thứ ba (cái gì vừa là A, vừa không phải là A, thì không có cái thứ ba) (ND).
263. Heraclitus (kh. 535 duy vật của Hy Lạp cổ đại, được coi là ông tổ của phép biện chứng. Những tư tưởng biện chứng của ông rất sâu sắc, tuy vậy cách thức thể hiện lại rất phức tạp và khó hiểu. Dưới con mắt của Heraclitus, mọi sự vật trong thế giới của chúng ta luôn luôn thay đổi, vận động, phát triển không ngừng. Thế giới như một dòng chảy, cứ trôi đi mãi. Từ đó, ông đưa ra luận điểm nổi tiếng: “Không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Không có gì thường xuyên biến đổi như một dòng sông nhưng cũng không có gì ổn định như dòng sông. Bởi khi nó vận động cũng là khi nó đứng im. Nói cách khác, tính biến đổi của dòng sông không loại trừ sự đứng im, tức là cái mà nhờ đó dòng sông là xác định, ổn định và bất biến. Heraclitus đã tiếp cận được với những tư tưởng rất cơ bản của phép biện chứng. Ông nói: “Trong cùng một dòng sông ấy chúng ta lội xuống và không lội xuống, chúng ta có và không có”. Đó chính là những tư tưởng về mối liên hệ phổ biến của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (ND).
264. THAO, Trân Duc [1992a] (1993).
265. Thảo đã quên mất Bergson, người đã phân biệt giữa thời gian của cái đồng hồ với thời gian thực, mà rõ ràng là đã chịu ảnh hưởng bởi Husserl.
266. Đây là luận điểm triết học rất quan trọng của Trần Đức Thảo. Luận điểm này còn nguyên giá trị thời sự đối với quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền và phát triển xã hội dân sự trong các nước chuyển đổi, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam. Bên cạnh đó, luận đề triết học này còn tạo ra những nhận thức mới để thúc đẩy tiến trình “hòa hợp” và “hòa giải” giữa các quốc gia và dân tộc đang phải sống trong sự chia rẽ và hận thù bởi các di sản của quá khứ. (ND)
267. THAO, Trân Duc (1993a).
268. Đây là một thành tựu triết học rất quan trọng của Trần Đức Thảo. Ông đã sử dụng phép biện chứng của Hegel để loại bỏ yếu tố siêu hình trong khái niệm thời gian của Aristotle, và nội dung duy tâm trong khái niệm các khoảnh khắc bất động của Husserl. Qua đó, Trần Đức Thảo đã phát triển khái niệm sự vận động của các khoảnh khắc trên tinh thần của chủ nghĩa duy vật biện chứng, và sử dụng khái niệm đó để diễn giải quá trình phát triển biện chứng của lịch sử tự nhiên, xã hội và ý thức, ngôn ngữ của con người – một quá trình phát triển từ thú tính đến nhân tính sang sử tính (Phan Huy Đường). Sự diễn giải đó được thể hiện trong hai tác phẩm cuối đời của Trần Đức Thảo: Recherches Dialectiques, và La Logique du Présent vivant. Hai tác phẩm này, bên cạnh việc tạo cảm hứng cho các thế hệ sau kế thừa và phát triển các thành tựu triết học của Trần Đức Thảo, còn khẳng định vị trị quan trọng của ông trong triết học phương Tây hiện đại. (ND)
269. Nguyễn Đức Truyến lược dịch, Nguyễn Trung Kiên biên tập. Nguồn: FÉRON, A. (2014a).
270. Với các thông tin về tiểu sử, chúng tôi dựa trên hai văn bản tự thuật của Trần Đức Thảo, THAO, Trân Duc [1984b] (1993), Lời nói đầu [THAO, Trân Duc (1986a)], và nghiên cứu của Daniel Hemery [HÉMERY, D. (2013)]; một văn bản được đăng lại trong: BENSOIST, J. & M. Espagne (2013); và THAO, Trinh Van (2004).
271. Cùng năm với Louis Althusser.
272. Sau đây là lời bình của Jean Cavaillès: “Ông Thảo đã đọc tất cả các tác phẩm đã xuất bản của Husserl, một số chưa được công bố, và những lời bình luận quan trọng. Bản thân công trình của ông là một trong những nghiên cứu bằng tiếng Pháp tốt nhất về Husserl và cao hơn hẳn trình độ của bằng tốt nghiệp thông thường. Nó cho thấy những kiến thức rất phong phú và một tư duy triết học sâu sắc” [ISRAËL, S. (2005)]. Khóa luận này được lưu hành rộng rãi trong các sinh viên Trường ENS vào thời điểm đó và đã có ảnh hưởng lớn đến cách tiếp nhận hiện tượng luận ở Pháp. Xin chỉ nêu những cái tên nổi bật như Jacques Derrida, Lyotard, Bourdieu, và cả Louis Althusser.
273. ISRAËL, Stéphane, Ibid., Chương 2.
274. Trong bài báo của mình, Sur l’Indochine [Về Đông Dương], Trần Đức Thảo gợi lên hiện trạng của phần tử “tinh hoa” trí thức: ”... thành viên cấp thấp [của cộng đồng Pháp], người mà, nhờ một ân sủng đặc biệt, được đối xử như một thành viên cao cấp và do đó phải có một lòng biết ơn sâu sắc đối với quyền lực chi phối cộng đồng [...] thay vì sử dụng nó, thì trái lại, người ta đã làm cho tranh thủ nó để trục lợi... Bằng một ân sủng của quyền lực, anh ta đã được nâng đỡ từ giai cấp bị trị lên giai cấp thống trị; từ đó trở đi, anh ta là một thành viên của nó và ý định quay trở về với những người bị bóc lột là phản quốc”. (THAO, Trân Duc (1946a), pp. 896–897).
275. Sau đoạn văn được trích dẫn trong ghi chép trên đây, Trần Đức Thảo khẳng định: “Nhưng người Annam, ở chân trời riêng của mình, chỉ có thể tự xem mình như một công dân của Việt Nam. [...] Từ bỏ đồng bào của mình vì lợi ích cá nhân chính là định nghĩa về khái niệm phản quốc”. (Ibid., p. 897).
276. Ví dụ đó là sự lựa chọn của Phạm Duy Khiêm (vào trường ENS vào năm 1931, đậu thạc sĩ, ông được huy động vào năm 1939 và trở thành đại sứ của Tổng thống Diệm từ 1955–1957). So sánh giữa Phạm Duy Khiêm và Trần Đức Thảo: xem bài viết của Daniel Hemery và công trình của Trịnh Văn Thảo.
277. Ibid., p. 890.
278. Chúng tôi dựa trên các thông tin của Daniel Hemery trong bài viết của ông được trích dẫn ở trên.
279. Cũng vào thời điểm này, ông đã gặp Daniel Guérin và Pierre Naville.
280. Xem các bài được đăng lại trong tác phẩm của Merleau-Ponty, Sens et non sens [Có nghĩa và vô nghĩa].
281. THAO, Trân Duc (1986a), p. 6.
282. Ibid.
283. ANDERSON, P. (1977).
284. THAO, Trân Duc (1946b), cũng như một số văn bản khác bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, luôn sẵn có trên trang Web: studies.info/TDThao/
285. Văn bản đầu tiên này là một phần của một cuộc tranh luận được tổ chức bởi Revue internationale về mối quan hệ giữa chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh. Người ta còn thấy có sự đóng góp của Jean Domarchi, Pierre Naville và Merleau–Ponty.
286. l’expérience antéprédicative.
287. Contribution à la critique del’économie politique,”Introduction de 1857” [Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, “Lời nói đầu, 1857”], p. 175.
288. “Tính ưu việt của nền kinh tế không thủ tiêu được tính xác thực của các kiến trúc thượng tầng, mà trả nó về với nguồn gốc thực sự của nó trong sự tồn tại được trải nghiệm. Các kiến tạo ý thức hệ đều có liên hệ với phương thức sản xuất, không phải vì chúng phản ánh nó – đó là một điều vô nghĩa, mà đơn giản chỉ vì chúng tạo lập được ý nghĩa của chúng từ một kinh nghiệm tương ứng, nơi các giá trị “tâm linh” không được tái hiện nhưng được trải nghiệm và cảm nhận, và tất cả những kinh nghiệm đặc thù đều tham gia vào trong kinh nghiệm tổng thể của con người trong thế giới. Vì nó luôn được định nghĩa tại mỗi thời điểm trong những đường nét chung nhất của nó, qua các quan hệ kinh tế đang tồn tại và một sự thay đổi trong các quan hệ này sẽ kéo theo một sự tái cấu trúc của tổng thể, nên khi cho rằng sự vận động của lịch sử, xét cho cùng, luôn được quy chiếu vào các điều kiện của đời sống vật chất. Mỗi tình trạng mới của kỹ thuật đều ám chỉ đến một “văn hóa” mới, không phải là cái văn hóa này phải phản ánh nó, mà vì vì nó chỉ có thể đích thực là văn hóa nếu nó thể hiện những trực giác ban đầu mà những điều kiện sống mới tiết lộ”. [THAO, Trân Duc (1946b), p. 4].
289. “Bài viết Về Đông Dương của tôi đã được viết trong xà lim, nơi tôi bị giam một mình trong nhà tù Santé. Tôi đã sử dụng thời gian rỗi bắt buộc để kiểm tra ý thức của tôi về hiện tượng luận. Bài viết của tôi là theo chủ nghĩa hiện sinh”. (THAO, Trân Duc [1984b] (1993), p. 148).
290. THAO, Trân Duc (1946a), p. 898 (nhấn mạnh của chúng tôi). Trước đó, Thảo đã lưu ý trong bài viết: “Ý nghĩa của những tồn tại có trước các lý lẽ, mà nhờ chúng người ta có thể biện minh cho nó. Khái niệm về trách nhiệm không có nghĩa gì ngoài một cộng đồng mà hiện tại người ta đang thuộc về nó. Người ta không thể thuyết phục được ai đó gia nhập vào một cộng đồng bởi vì tất cả những lý do mà người ta có thể đưa ra để giải thích về điều đó đều tiền giả định rằng anh ta đã tham gia vì nó. Cái dự án được hình thành trước anh ta, như thể có một ý nghĩa cho anh ta, chỉ có thể nhằm vào cộng đồng, trong đó anh ta cảm thấy mình tồn tại. Một cảm giác như vậy xác định chính bản chất của sự tồn tại của anh ta, việc anh ta sống cho bản thân mình, chính là điều nếu không có nó anh ta sẽ không tồn tại” (p. 897).
291. Ibid., pp. 885–886.
292. Ibid., p. 900.
293. Les faits [Các sự kiện], p. 362. Một câu chuyện tương tự: “Trong chốn riêng tư, Thảo nói với chúng tôi: ‘Tất cả các bạn đều là những cái tôi – bình đẳng siêu nghiệm’. Ông luôn mỉm cười, nhưng chân lý thật sâu sắc!” (ALTHUSSER, L. (1992), p. 201).
294. Trong tạp chí Les Temps Modernes, số 19, tháng 3/1947, với chuyên đề: “Hồ sơ về Đông Dương”, bao gồm chủ yếu một bài viết của Merleau–Ponty (“SOS Indochine”), một bài viết của Trần Đức Thảo [THAO, Trân Duc (1947a)], và bài viết của Claude Lefort (Les pays coloniaux: analyse structurelle et stratégie révolutionnaire [Các nước thuộc địa: phân tích cấu trúc và chiến lược cách mạng]).
295. THAO, Trân Duc (1947c). Đây cũng là bài viết cuối cùng về Đông Dương mà ông công bố trên tạp chí Les Temps Modernes; bài viết sau về vấn đề này sẽ được công bố trên tạp chí La Pensée.
296. Chúng ta phải nhớ rằng chính là vào thời điểm này mà nhóm Les Temps Modernes, và nhất là Sartre và Merleau–Ponty, khởi xướng việc xây dựng Tập hợp Dân chủ cách mạng (RDR), phong trào tập hợp một số nhân vật theo khuynh hướng tờ-rốt-kít và mong muốn trở thành một “con đường thứ ba” mang tính cách mạng giữa Liên Xô và Hoa Kỳ.
297. “Phần thứ hai của Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng (1951) đã đi đến một bế tắc mà tôi hy vọng tìm thấy con đường dẫn đến các giải pháp trong cách mạng Việt Nam” [THAO, Trân Duc (1986a), p. 1].
298. Sự công thức hóa của tính chính thống triết học được thực hiện trong tác phẩm của Stalin, Matérialisme dialectique etmatérialisme historique [Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử] (1937). Về vấn đề này, tham khảo: LABICA, G. (1984). Le Marxisme–léninisme. Paris: Bruno Huisman.
299. GOUARNÉ, I. (2013).
300. THAO, Trân Duc (1986a).
301. THAO, Trân Duc (1948).
302. Cũng phải nhắc đến vai trò của sự thất bại trong năm cuộc đối thoại của Thảo với Jean–Paul Sartre trong quá trình này về mối quan hệ giữa chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh.
303. Đó là điều mà Vincent Descombes đã chỉ ra. Tham khảo: DESCOMBES, V. (1979).
304. Phần đầu tiên là một trong những trình bày sáng tỏ nhất về triết học của Husserl, trong đó ông phân tích sự phát triển biện chứng trong tư tưởng của ông này và chỉ ra sự cần thiết phải vượt qua quan điểm hiện tượng luận đến chủ nghĩa duy vật biện chứng.
305. Marx, IA, p. 42–43.
306. Ibid., p. 51.
307. Tôi sử dụng từ “ý thức”, nhưng phải chú ý rằng tùy theo loại sinh vật, thuật ngữ này có một ý nghía rất khác biệt. Con cá không có ý thức về thế giới cùng cách với các động vật có vú, và nhất là với con người.
308. Về chủ đề này, xem bài viết của Jocelyn Benoist, “Une première naturalisation de laphénoménologie?” [Một sự tự nhiên hóa đầu tiên của hiện tượng luận?]. Nguồn: BENSOIST, J. & M. Espagne (2013), pp. 25–46. (Bài thuyết trình này có thể truy cập theo địa chỉ: http://savoirs.ens.fr/expose.php?id=830).
309. THAO, Trân Duc [1984b] (1993).
310. THAO, Trân Duc (1986a) p. 1
311. Trong giai đoạn này của cuộc đời ông, chúng tôi chỉ có những thông tin rất không đầy đủ. Chúng tôi đã sử dụng các văn bản tự truyện của Trần Đức Thảo (đã đề cập ở trên), kể cả tham luận của Philippe Papin trong hội thảo chuyên đề về Trần Đức Thảo (http://savoirs.ens.fr/expose.php?id=832); trong tài liệu: “Itinéraire II. Les exils intérieurs”, nguồn: BENSOIST, J. & M. Espagne (2013); tác phẩm của Trịnh Văn Thảo (trích dẫn ở trên); và bài viết của McHale, nguồn: McHALE, S. (2002).
312. Khu vực phía bắc của Hà Nội, được dùng làm căn cứ địa cho Việt Minh.
313. Một công trình đã được công bố theo ghi chép về các bài giảng của các sinh viên của ông năm 1955 Ông lấy lại những nét lớn trong một tác phẩm mà ông đã công bố. bằng tiếng Việt ở Paris năm 1950, Triết lý đã đi đến đâu. Về vấn đề này, xem các công trình của Trịnh Văn Thảo.
314. Không có bài viết nào trong số này được dịch [sang tiếng Pháp].
315. Oliver Todd (1929): nhà văn và nhà báo Pháp cánh tả, theo khuynh hướng tờ-rốt-kít, chịu ảnh hưởng bởi truyền thống triết học phân tích, từng cộng tác với nhóm Temps Modernes của Jean-Paul Sartre. (BS)
316. THAO, Trân Duc (1966), p. 4.
317. THAO, Trân Duc (1974).
318. Ibid.
319. THAO, Trân Duc (1965).
320. THAO, Trân Duc (1973), p. 13.
321. Xuất bản ở Éditions sociales năm 1973 [THAO, Trân Duc (1973)]. Ông đăng lại các bài viết đã được xuất bản trong tạp chí La Pensée (1966–1970), và một nghiên cứu chưa được công bố về mối quan hệ giữa phân tâm luận và chủ nghĩa Marx.
322. Đây có lẽ là lý do tại sao Althusser, khi đọc những bài viết trong La Pensée, đã nhận xét rằng, Trần Đức Thảo, qua sự quan tâm của ông về nguồn gốc và sự hình thành ý thức, vẫn chịu ảnh hưởng của Husserl”. (ALTHUSSER, L. (1992), p. 362)
323. Marx, IA, p. 50.
324. Ibid..
325. Tác phẩm này nhằm chống lại Althusser và thông qua ông này chống lại tư tưởng Mao–ít và phái Khmer đỏ.
326. THAO, Trân Duc (1986b).
327. Có thể xem về chủ đề này qua nhân chứng Thierry Marchaisse trong văn bản của ông, Tombeau sur la mort de Trần Đức Thảo (Nguồn: BENSOIST, J. & M. Espagne (2013),pp. 254–257).
328. THAO, Trân Duc [1993b] (1993), pp. 154–168.
329. Nguồn: LUẬT, Phạm Trọng (2004). Do khuôn khổ của cuốn sách, bản sử dụng ở đây có lược bớt một số chi tiết trong nguyên bản, và biên tập một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
330. Đây chủ yếu là bài tưởng niệm Trần Đức Thảo đã đăng trên Hợp Lưu,số 79 (10-11/2004). Vì phải tôn trọng thời hạn nộp bài để kịp ra báo, tôi đã để lại một vài sai sót, xin thành thật cáo lỗi cùng quý độc giả. Những sơ suất ấy nay đã được khắc phục; tôi cũng nhân tiện bổ túc bài viết ở một vài đoạn trước đây không kịp triển khai (về phức cảm Œdipe, về một số biên khảo của tác giả từ thời Đổi mới năm 1986 đến cuối đời). Và xin xác định thêm: vì triết gia còn là “kẻ lạ” đối với phần lớn người Việt, bài Tổng quan này sẽ nghiêng về phần trình bày hơn là bình luận các trước tác của ông. Mặt khác, Trần Đức Thảo là một tác giả không dễ đọc: về tư tưởng, ông vừa là nhà hiện tượng luận, vừa là nhà duy vật biện chứng; lập luận của ông lại được xây dựng trên những kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau (triết học, tâm lý học, nhân chủng học, sử học, sinh học…), và trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng vượt xa khả năng của kẻ viết bài này. Dù hết sức cố gắng, chắc chắn là tôi đã không thể hiểu hết, do đó, có thể cũng vẫn còn không ít sai sót chưa nhìn thấy ở đây. Rất mong được sự trợ giúp của quý độc giả, hầu sửa sai cho lần cập nhật sau, hoặc khi có dịp trở lại trên các vấn đề đã được trình bày trong bài.
331. THAO, Trân Duc [1984b] (1993).
332. Aristote (1992). Ethique de Nicomaque. Jean Voilquin dịch, đề tựa và chú giải. Paris: GF-Flammarion, p. 230.
333. QUYẾN, Nguyễn (2002).
334. Về thuật ngữ triết học nói chung, thứ tiếng Việt của Trần Đức Thảo trong tác phẩm “Triết lý đã đi đến đâu?” ngày nay không còn ai dùng, và bản thân tác giả cũng đã tiến hóa nhanh chóng sau khi về nước. Ở đây, chúng tôi ưu tiên dùng thuật ngữ của Trần Đức Thảo, trong trường hợp dùng thuật ngữ khác, cũng sẽ ghi lại từ ông dùng trong ngoặc […] nếu biết. Riêng về hiện tượng học, trong khi chưa nhận được bản dịch tiếng Việt của Hiện tượng luận và Chủ nghĩa Duy vật Biện chứng,chúng tôi chủ yếu dựa trên trước tác của Cao Xuân Huy (Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu. Nguyễn Huệ Chi soạn, chú thích, giới thiệu. Hà Nội: NXB. Văn Học, 1995). Bởivì, theo sự ghi chú ở trang 173 của tác phẩm này, thì “Chương viết về Husserl và hiện tượng học (Phần thứ nhất, tr. 150-174) là tóm tắt theo sách “Phénoménologie et Matérialisme Dialectique” [THAO, Trân Duc (1951)]. Mặt khác, bên cạnh các từ sử dụng, chúng tôi cũng ghi lại trong ngoặc […] thuật ngữ của Trung Hoa hay những tác giả khác nếu có. Thí dụ: quy giản [réduction = hoàn nguyên (Trung Hoa), dẫn thoái (Cao Xuân Huy)], giảm trừ (Đặng Phùng Quân)], chú thị [visée, Cao Xuân Huy].
335. Hiroshima University, Hiroshima (Nhật Bản). URL = http://home.hiroshima-u.ac.jp/orient/VSD.xls.
336. Jean Cavaillès (1903-1944). Triết gia và nhà toán học Pháp. Ông đỗ đầu vào Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1923, đậu thạc sĩ triết học năm 1927, từ năm 1929 đến năm 1935, ông làm phụ đạo [répétiteur] tại đây. Được học bổng của Viện Rockefeller năm 1930, ông có dịp sang Đức nhiều lần để chuẩn bị luận án, và chứng kiến tận mắt những hành động ghê tởm của chế độ quốc xã. Là giáo sư trung học tại Amiens (1936), ông trình luận án toán học năm 1938, rồi làm phó giáo sư [maître de conférences] môn triết học và logic học tại Đại học Strasbourg. Trong chiến tranh, ông là trung úy bộ binh. Ông bị bắt năm 1940, song trốn thoát về được Clermont-Ferrand, nơi Đại học Strasbourg lánh nạn, để tiếp tục dạy học. Được bổ nhiệm giáo sư tại Sorbonne năm 1941, ông rời Clermont-Ferrand về Paris, tiếp tục vừa dạy học vừa hoạt động kháng chiến bí mật. Bị bắt lần đầu tháng 9 năm 1942, ông vượt ngục sang London gặp tướng De Gaulle. Bị bắt lần thứ nhì tháng 8 năm 1943, ông bị Đức Quốc xã xử bắn vào tháng 2 năm 1944. Về học thuật, Jean Cavaillès còn để lại nhiều tác phẩm rất giá trị trong lĩnh vực chuyên môn của ông: Nhận xét quanh Lý thuyết trừu tượng về Tập hợp [Remarques sur la Théorie Abstraite des Ensembles, 1938], Tiểu luận về Nền tảng của Toán học [Essai sur le Fondement des Mathématiques, 1938], Siêu hạn và Liên Tục [Transfini et Continu, 1938], Về Logic học và Lý thuyết về Khoa học [Sur la Logique et la Théorie de la Science, 1947].
337. THAO, Trân Duc (1950a), pp. 128-142.
338. Ba lối quy giản: ở Descartes (trở về chủ thể tư duy, để từ tính bất khả hoặc của cái tôi tư duy ấy, song song với tính hiếu chân của Thượng Đế, xác lập sự tồn tại của ngoại giới); ở Kant (trở về với chủ thể như môi trường của của mọi kinh nghiệm, để từ những cái khuôn tiên thiên ở chủ thể, xác lập tính khách quan và tính khả tri của thế giới hiện tượng) và ở Husserl (trở về với ý thức của chủ thể, như luôn luôn là ý thức về một đối tượng nào đó, để xác lập đồng thời trong cùng một chú thị trực quan [visée intuitive], cả chủ thể lẫn đối tượng của ý thức). Tất nhiên, “cái tôi tư duy” củaDescartes và “cái chủ thể thuần túy” của hiện tượng luận cũng không nhất thiết phải hoàn toàn trùng hợp (Ibid., pp. 128-138).
339. Ibid., p. 139.
340. THAO, Trân Duc (1946b).
341. Ibid., p. 174.
342. LYOTARD, J.–F. (1999), pp. 112-115.
343. THAO, Trân Duc (1974). pp. 37-42.
344. Ibid., p. 37.
345. “Tiếng nói của đời sống thực tế” là một thuật ngữ của Karl Marx. “Sự sản sinh ra những ý tưởng, biểu tượng và ý thức trước hết đã hòa lẫn một cách trực tiếp và mật thiết vào sinh hoạt và trao đổi vật chất giữa những con người, nó là tiếng nói của đời sống thực tế. Mọi biểu tượng, ý tưởng, trao đổi trí thức giữa con người với nhau cũng hiện ra, ngay cả ở đây, như xuất phát trực tiếp từ hành vi vật chất của họ”. Nguồn:MARX, K. & F. Engels [1846] (1975), L’Idéologie Allemande. Paris: Ed. sociales, p. 50. (BS)
346. THAO, Trân Duc (1974), p. 38.
347. Alexandre Kojève (1902-1968). Triết gia Pháp gốc Nga. Ông theo học tại Đại học Heidelberg (Đức), trình luận án năm 1931 dưới sự hướng dẫn của Karl Jaspers, về Triết lý Tôn giáo của Vladimir Solovyov(một triết gia tôn giáo Nga chịu ảnh hưởng sâu đậm của Hegel). Đổi quốc tịch, ông định cư tại Paris và hướng dẫn một lớp nghiên cứu chuyên đề về Hegel tại École Pratique des Hautes Études từ 1933 đến 1939. Được xuất bản dưới tựa đề Introduction à la Lecture de Hegel (1947), loạt bài giảng của ông đã ảnh hưởng sâu đậm lên giới trí thức và triết học Pháp đương thời cũng như thuộc thế hệ sau (như Sartre, Merleau-Ponty, Lacan, Bataille, Althusser, Queneau, Aron, Breton…). Qua Léo Strauss và bản dịch Introduction to the Reading of Hegel (1969), tư tưởng của Kojève còn lan sang nhiều nhà tư tưởng Hoa Kỳ, đặc biệt là Allan Bloom và Francis Fukuyama. Sau Đại chiến thế giới Hai,Kojève trở thành công chức cao cấp tại Bộ Kinh Tế, và đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc thương thuyết quốc tế của Pháp, cho đến khi mất năm 1968. Tiếp tục viết về triết học, ông còn để lại nhiều tác phẩm khác (phần lớn chỉ được xuất bản sau khi qua đời), về: các triết gia tiền Socrate,Kant, ảnh hưởng của Ki-tô Giáo đến khoa học phương Tây và chủ nghĩa cộng sản, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, v.v… Có thể liệt kê: Lịch Sử Biện Giải về Triết Lý Đa Thần [Essai d’une Histoire Raisonnée de la Philosophie Païenne, 1968-1973]; Kant (1973); Phác Thảo về Một Hiện Tượng Luận Pháp Lý [Esquisse d’une Phénoménologie du Droit, 1981]; Bạo Quyền và Minh Đạo [Tyrannie et Sagesse, 1983] ; Khái Niệm, Thời Gian và Biểu Văn [Le Concept, le Temps et le Discours ; 1990]; Quyết Định Luận trong Vật Lý Học Cổ Điển và Vật Lý Học Hiện Đại [L’Idée du Déterminisme dans la Physique Classique et dans la Physique Moderne, 1990]; Ý Niệm về Quyền Uy [La Notion de l’Autorité, 2004]…
348. JARCZYK, G. & P.-J. Labarrière (1996), p. 29.
349. Maurice Merleau-Ponty (1908-1961). Triết gia Pháp. Ông đỗ vào Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1924, đỗ thạc sĩ triết học năm 1930. Ông là giáo sư triết học cấp trung học ở Chartres, rồi làm phụ đạo tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Ông đỗ tiến sĩ Văn khoa với 2 tác phẩm quan trọng Cấu trúc của Hành vi [La Structure du Comportement, 1942] và Hiện tượng luận về Nhận thức [La Phénoménologie de la Perception, 1945]. Cũng trong năm này, cùng với Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir, sáng lập tạp chí Les Temps Modernes mà ông rời bỏ năm 1952 sau 7 năm cộng tác đắc lực. Ông là giáo sư triết tại Đại học Lyon (1945 – 1948), rồi môn tâm lý trẻ em và khoa sư phạm ở Đại học Sorbonne (1949 - 1952). Cuối cùng, ông là người trẻ nhất được cử giữ ghế giáo sư triết tại Collège de France từ 1952 cho đến khi mất vì bệnh tim năm 1961. Tác phẩm của ông, ngoài 2 tựa đề kể trên, còn có Cuộc phiêu lưu của Biện chứng pháp [Les Aventures de la Dialectique, 1945], Nghĩa và Vô nghĩa (Sens et Non-Sens, 1948]), Dấu hiệu [(Signes, 1960], Hữu hình và Vô hình [Le Visible et l’Invisible, 1964].
350. THAO, Trân Duc (1948).
351. Ibid., p. 492.
352. KOJÈVE, A. & Trân Duc Thao [1948] (1990).
353. Ibid., p. 134.
354. Jean-Paul Sartre (1905-1980). Triết gia, nhà văn, nhà báo Pháp. Ông đỗ vào Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1924, là bạn đồng song với Raymond Aron, Paul Nizan và Maurice Merleau-Ponty; đỗ đầu thạc sĩ triết học năm 1929, Simone de Beauvoir đỗ thứ nhì và trở thành bạn đời của ông. Ông được bổ nhiệm giáo sư tại Havre (1931), rồi Viện Berlin [Institut de Berlin, 1933]. Ông bị động viên năm 1940, bị bắt và vượt ngục năm 1941. Ông kết bạn với Albert Camus từ năm 1944, đến khi tác phẩm Người Nổi Loạn [L’Homme Révolté] của Camus ra đời và bị Sartre cùng nhóm Les Temps Modernes đả kích dữ dội, hai bên đoạn tuyệt năm 1952. Tạp chí Les Temps Modernes được sáng lập năm 1945, với sự cộng tác đắc lực của Merleau-Ponty, nhưng sau đó hai bên cũng chia tay (1954). Về chính trị, ông là biểu tượng của trí thức dấn thân: Sartre đã hợp tác với nhật báo La Gauche (1948) và với Đảng Cộng sản Pháp (1950-1968); ký ”Tuyên Ngôn 121” về quyền bất phục tùng (trước lệnh động viên sang Algérie, 1960); đỡ đầu tuần báo Nouvel Observateur cùng với Pierre Mendès France (1964); ủng hộ cuộc nổi dậy của sinh viên (1968); lập thông tấn xã Libération với Maurice Clavel và nhận làm chủ nhiệm tờ báo cực tả đã bị đóng cửa Libération (1973); cùng với Raymond Aron, bạn đồng song đồng thời là địch thủ chính trị chính của ông (1976). Mất ngày 15/4/1980 tại Bệnh viện Broussais, đám táng ông quy tụ cả chục ngàn người đưa tiễn. Về triết học, Sartre để lại những tác phẩm chính sau đây: Trí tưởng tượng [Imagination, 1936], Phác thảo một Lý thuyết về Cảm xúc [Esquisse d’une Théorie de l’Emotion, 1939], Ảo tượng [L’Imaginaire, 1940], Hữu thể và Hư vô [L’Être et le Néant, 1939-1943], Chủ nghĩa hiện sinh là một Chủ nghĩa nhân bản [L’Existentialisme est un Hummanisme, 1946], Vấn đề Phương pháp [Question de Méthode, 1957], Phê phán Lý trí biện chứng I [Critique de la Raison Dialectique I, 1957-1960], Phê phán Lý trí biện chứng II [Critique de la Raison Dialectique II, chưa hoàn tất, 1985]… Về văn học, ông cũng để lại một sự nghiệp đồ sộ, với cao điểm là Giải Nobel mà ông từ chối năm 1964: Buồn nôn [La Nausée, 1938], Bức tường [Le Mur, 1939], Ruồi nhặng [Les Mouches, 1943], Xử kín [Huis Clos, 1944], Những ngả đường tự do [Les Chemins de la Liberté, 1945], Không mộ phần [Morts sans Sépulture, 1946], Con điếm kính cẩn [La Putain Respectueuse, 1946], Baudelaire (1947), Những bàn tay bẩn [Les Mains Sales, 1948], Chết trong tâm hồn [La Mort dans l’ Âme, 1949], Ác quỷ và Thượng đế [Le Diable et le Bon Dieu, 1951], Saint-Genet (1952), Nekrassov (1956), Nekrassov (1956), Những kẻ giam thân ở Altona [Les Séquestrés d’Altona,1960], Từ ngữ [Les Mots, 1963], Thằng ngu trong nhà [L’Idiot de la Famille, 1971-1972], v.v…
355. THAO, Trân Duc (1949).
356. Ibid., p. 322.
357. MICKUNAS, Algis. Marxisme. Nguồn: EMBREE, Lester, et al (1997), pp. 435-439.
358. STALIN, I. V. (1971).
359. Louis Althusser (1918-1990). Triết gia Pháp, sinh tại Alger. Ông học và sau dạy tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Gia nhập Đảng Cộng sản Pháp năm 1948, ông là một triết gia uy tín của Đảng. Mặt khác, khi trào lưu cấu trúc [structuralisme] tràn ngập các ngành học thuật Pháp từ khoảng 1960 (Roman Jacobson trong ngôn ngữ học, Roland Barthes trong lý luận văn học, Jacques Lacan trong phân tâm học, Levi-Strauss trong nhân chủng học), thì Louis Althusser và học trò của ông, Michel Foucault, cũng thuộc khuynh hướng này. Althusser được xem là đầu đàn của trường phái Marx cấu trúc [marxisme structuraliste], còn Michel Foucault thì rẽ sang hướng khác, khi trường phái cấu trúc nổ thành nhiều mảnh “hậu cấu trúc” khoảng 1970. Về mặt tư tưởng, chủ nghĩa Marx cấu trúc được xem là giải đáp cho hai mối nguy đang đe dọa dự án cách mạng xã hội chủ nghĩa lúc ấy: chủ nghĩa kinh nghiệm đang ào ạt trở về trong các khoa học xã hội, và khuynh hướng dân chủ, nhân bản trong phương hướng của các chính đảng tả khuynh. Althusser giết vợ năm 1980, và bị giam giữ trong nhà thương điên cho đến khi mất năm 1990, để lại một số tác phẩm: Vì Marx [Pour Marx, 1965], Đọc Tư bản luận [Lire le Capital, đồng tác giả, 1965], Lênin và Triết học & Marx và Lênin trước Hegel [Lénine et la Philosophie & Marx et Lénine devant Hegel, 1969], Trả lời John Lewis [Réponse à John Lewis, 1973]…
360. “Vì thế, như đã viết trong bài tựa quyển “Pour Marx”, tôi không có ai là bậc thầy thực sự trong triết học hết, không có sư phụ nào cả trừ Thảo, nhưng ông lại sớm bỏ chúng tôi để về Việt Nam…”. Nguồn: ALTHUSSER, L. (1992), p. 172.
361. ALTHUSSER, L. (1973), p. 33.
362. THẢO, Trần Đức (1989), tr. 105-106.
363. Nói thật tóm tắt, nét độc đáo của phương thức sản xuất Á Châu nằm ở sự lệ thuộc của người lao động vào nhà nước, nghĩa là vào “giai cấp quan lại”, xuất phát từ sự thiết yếu của những công trình xây dựng lực lượng sản xuất quá lớn (như hệ thống dẫn thủy), và sự thiếu vắng của chế độ tư hữu đất đai. Ở Liên Xô, các cuộc tranh luận gay cấn về đề tài này kéo dài cho đến năm 1931, sau đó cả khái niệm lẫn mọi tranh luận liên hệ đều bị xóa bỏ từ năm 1938. Ở Trung Hoa, từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1928), khái niệm trên cũng đã được thay thế bằng thuật ngữ “quan liêu phong kiến” (bureaucratie féodale). Xem: Mode de Production Asiatique. Nguồn: ENSUSSAN, Gérald & Georges Labica (1985), pp. 592-595.
364. Trên thực tế, một công trình nghiên cứu cụ thể về hình thái kinh tế xã hội của Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX đã dẫn đến sự bác bỏ cả 2 mô hình lý thuyết nói trên. Nguồn: KHÔI, Lê Thành (1973).
365. Về chế độ phong kiến, ông Lê Thành Khôi đã kết luận:”Tóm lại, theo ý chúng tôi, không thể gọi Việt Nam xưa là “phong kiến”, do sự thiếu vắng của chế độ chư hầu và cấp đất, của loại tổ chức xã hội và chính trị đặt trên một mạng lưới lệ thuộc cá nhân và sự chia chác quyền hành giữa vô số lãnh chúa” (Ibid., p. 133). Về phương thức sản xuất châu Á, ông viết: ”Để kết luận, những sửa đổi cần phải mang đến cho khái niệm “phương thức sản xuất châu Á”[nếu áp dụng vào trường hợp Việt Nam]nhiều và thiết yếu đến nỗi, theo chúng tôi, tốt hơn nên từ bỏ nó và lập ra một khái niệm khác, khi nào sự phân tích các xã hội ngoài châu Âu đã đủ sâu để cho phép” (Ibid., p. 140).
366. THẢO, Trần Đức (1954a), tr. 33.
367. THẢO, Trần Đức (1956d), tr. 40.
368. Được đề xuất lần đầu tiên bởi nhà động vật học Đức Ernst Haeckel (1834-1919) vào thế kỷ XIX, ”quy luật tóm thâu” [loi de récapitulation] hay ”quy luật tái lặp” [loi de répétition] cho rằng sự phát triển của cá thể thật ra chỉ là sự tóm tắt quá trình phát triển của chủng loại. Vẫn còn được phổ biến cho đến nay như một giả định phong phú, “quy luật” trên cũng thường là đối tượng của không ít nghi hoặc và chất vấn khoa học.
369. “Tôi thú thực vẫn chưa hiểu nổi những biến cố của sự tiến hóa xã hội thời Đồ đá đã được ghi lại trong di sản chủng loại của loài người như thế nào để sinh ra ở đứa bé những phức cảm như đã được đề cập. Tôi hy vọng rằng tác giả sẽ cho chúng ta những giải thích chi tiết hơn về các hiện tượng này, chưa sáng tỏ lắm đối với loại không-chuyên gia như tôi”. Nguồn: HAUDRICOURT, A. (1974). Câu hỏi chung không chỉ cho Trần Đức Thảo mà cho cả Haeckel, Engels lẫn Freud này, triết gia đã thử trả lời trong Formation de l’Homme (THAO, Trân Duc (1986a), pp. 12-16). Xin nhường việc đánh giá giải đáp của ông lại cho các chuyên gia di truyền học.
370. THAO, Trân Duc (1973), p. 340.
371. FEDERICI, S. (1970).
372. HERMAN, D.J. [1993] (1997), p. 704.
373. THAO, Trân Duc (1986a) pp. 4-5.
374. Ibid., p. 5.
375. Khái niệm “luyến ái” được đề cập đến ở đây xuất phát từ nhà tâm lý học trẻ em John Bowlby (1907-1990); trở thành học thuyết vững vàng từ năm 1958, nó được xây dựng trên sự quyến luyến tự nhiên của đứa bé với bà mẹ (hay kẻ thế chỗ), rồi từ đó lan sang những người thân cận, trước khi phát triển theo tuổi dưới những dạng khác (trai gái). Theo những người chủ trương, đây là một nhu cầu sinh lý bẩm sinh chứ không phải thứ phát, nghĩa là không xuất phát từ sự luyện tập mà được ghi khắc trong sự cấu tạo con người; nói cách khác, đây là một nhu cầu xã hội tự nhiên vì nó xuất hiện ngay từ đầu đời.
376. CAVING, M. (1974).
377. THÚY, Đỗ Lai (1996), tr. 18.
378. ĐƯỜNG, Phan Huy (1993).
379. THAO, Tran Duc [1992f] (1995).
380. HERMAN, D.J. [1993] (1997), p. 707.
381. THAO, Trân Duc [1992a] (1993).
382 THAO, Trân Duc [1992c] (1993).
383. THAO, Trân Duc [1993a] (1993).
384 THAO, Trân Duc (1993b)
385. THAO, Trân Duc (1986a), p. 6.
386. Trong phần ghi chú, ông đã trích dẫn tác phẩm của Richard Leakey, Yves Coppens… và những công trình nghiên cứu khác của Peter Andrews, Marcel Blanc, Jerold M. Lowenstein, Brigitte Senut, Tobias, Tim White… đăng trên các tạp chí chuyên môn như Anthropologie, Archeologia, La Recherche, Science News, trong khoảng 1980-1984…
387. Theo Charles Darwin, bốn đặc tính sau của giống Homo đã xuất hiện cùng một lúc: sự đi đứng trên hai chân, sự chế tác công cụ, sự thu nhỏ răng nanh, và sự phát triển của não bộ.
388. MARX, K. (1976). Théories sur la plus-value. Paris: Ed. socialiales, Q. 3, p. 579.
389. MARX, K. & F. Engels [1846] (1975).
390. THAO, Trân Duc (1986a), p. 27.
391. MARX, K. [1867] (1950).
392. HUOT, Jean-Louis, et al (1990). Naissance des Cités. Paris: Nathan.
393. THAO, Tran Duc [1992e] (1995).
394. THAO, Trân Duc (1984a).
395. “Theologic học của Hegel, bước chuyển từ lượng sang phẩm được thực hiện qua trung giới kép của cái hạn định và cái siêu hạn(…)Hạn định là sự hợp nhất trực tiếp của phẩm và lượng, nó là “cái lượng tử phẩm chất tiên khởi với tư cách là cái tức thời, nghĩa là thứ lượng tử gắn liền với một sự hiện diện hay một phẩm chất”. Khía cạnh kép này của hạn định dẫn đến hệ quả là, một mặt, những xác định về lượng của một sự vật có thể biến thiên mà không gây thay đổi gì về phẩm, nhưng mặt khác, sự tăng hay giảm bất kỳ này cũng có một giới hạn mà sự vượt qua sẽ làm thay đổi cả phẩm chất”. (Ibid., pp. 80-81).
396. THAO, Trân Duc (1991e).
397. Ở Hegel, ”hiện thực” [Realität, réalité] chỉ bất kỳ một dạng hình ngoại hiện nào, trong khi ”thực hiệu” [Wirklichkeit, effectivité] chỉ giai đoạn sự tồn tại và lý do tồn tại của cái hiện thực ấy đã được thống nhất biện chứng bởi Lý trí. Vì thế, ”cái thực hiệu là cái hợp lý” và ”cái hợp lý là cái thực hiệu” (mọi hiện thực chân thật đều chỉ là những biểu hiện, một giai đoạn phát triển của Lý trí; những biểu hiện tất yếu của Lý trí sớm muộn gì rồi cũng phải thành hiện thực).
398. THAO, Trân Duc (1992b), p. 24.
399. Henri Wallon (1879-1962). Triết gia, nhà tâm lý, nhà tâm thần bệnh học, nhà giáo, nhà chính trị Pháp. Ông chịu ảnh hưởng của Lucien Lévy-Bruhl về dân tộc học trước khi chuyên về tâm lý trẻ em. Sau luận án tiến sĩ về trẻ hiếu động năm 1925, ông dựng lên Phòng Xét nghiệm Sinh-Tâm lý Trẻ em. Trở thành Giám đốc Viện Tâm lý, Ðại học Paris, ông lập ra tạp chí Trẻ Em năm 1948. Ðiều khiển Ủy ban Cải tổ Giáo dục với Paul Langevin, ông là đồng tác giả của dự án Langevin-Wallon năm 1945. Về lý thuyết, bài bác học thuyết Freud và phương pháp nội quan trong tâm lý học, ông dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng và sự quan sát ở phòng bệnh để xác định điều kiện cho một khoa học khách quan về ý thức và sự phát triển tâm lý của trẻ em. Sự nghiệp của ông được xem như thuộc ngành tâm sinh lý học mà cốt lõi là sự so sánh các giai đoạn phát triển ở trẻ em bình thường và những bế tắc hay bất cập ở trẻ em tật bệnh.
400. THAO, Trân Duc (1992g).
401. Jean-François Revel (1924). Triết gia Pháp. Đỗ vào Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1943. Sau khi đỗ thạc sĩ triết học, ông đã dạy học ở nhiều nơi trên đất Pháp cũng như ở nước ngoài, nhưng rời đại học năm 1963 để theo viết văn và viết báo. Sau khi cộng tác với nhiều nhà xuất bản (René Julliard, Jean-Jacques Pauvert, Robert Laffont), ông làm giám đốc tờ tuần báo Express trong 4 năm (1978-1981); từ 1982 viết thời luận cho Le Point, đồng thời cộng tác với nhiều đài phát thanh (Europe 1, RTL). Jean-François Revel được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp năm 1997. Bạn đồng song với Trần Đức Thảo, ông xem ông Thảo là nhà hiện tượng học và là “một triết gia thuần túy, theo nghĩa là người không bao giờ tự hỏi về tính đúng hay sai của một triết thuyết” (“c’était un pur philosophe, en ce sens qu’il ne se demandait jamais si une philosophie était vraie ou fausse”). Khi Trần Đức Thảo mất, ông đả kích Patrick Kéchichian, cho rằng tác giả này đã không làm phận sự khi gọi ông Thảo (trong phụ trang của nhật báo Le Monde về sách mới) là triết gia mác-xít.
402. HERMAN, D.J. [1993] (1997), p. 707.
403. Nguồn: QUÂN, Đặng Phùng (1994). Do khuôn khổ của cuốn sách, bản sử dụng ở đây có lược bớt một số chi tiết trong nguyên bản, và biên tập một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
404. Sartre, J. P. Question de méthode (collection Idées, tr. 26).
405. Auguste Cornu (1888–1981): nhà lịch sử tư tưởng người Pháp, học giả đầu tiên về chủ nghĩa Marx tại Pháp. Các công trình của ông về những tác phẩm của Marx và Engels thời trẻ đã tạo ra tranh luận sâu rộng trong những thập niên 1960. Bản luận án của ông tại Đại học Sorbonne mang tên: “Karl Marx l’homme et l’oeuvre de l’hégélianisme au matérialisme historique” [Karl Marx: con người và tác phẩm về chủ nghĩa duy vật biện chứng kiểu Hegel]. (BS)
406. THAO, Trân Duc (1951).
407. MARCUSE, H. (1928). Beitrage zu einer Phanomenologie des historischen Materialismus. Berlin: Philosophische Hefte.
408. Sđd., tr. 5.
409. MERLEAU-PONTY, M. Humanisme et Terreur (bản tiếng Anh, tr. 153).
410. THAO, Trân Duc (1948)
411. HUSSERL, E. Ideen I, tr. 139, dẫn trong PMD, tr. 8.
412. PMD, tr. 296 – 7.
413. Sđd., tr. 51.
414. Sđd., tr. 228.
415. Sđd., tr. 227.
416. Sđd., tr. 247.
417. Sđd., tr. 238.
418. Sđd., tr. 256 và 262.
419. Sđd., tr. 266.
420. Sđd., tr. 286.
421. Sđd., tr. 306.
422. THAO, Trân Duc (1973).
423. ROLC, tr. 35.
424. Khi dẫn đoạn văn của Lenin trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Trần Ðức Thảo nhấn mạnh ở từ “những dấu chỉ”, và ghi chú bản dịch tiếng Pháp lần thứ tư của Editions Sociales đã từng dùng từ chứng cớ (témoignage) thay từ dấu chỉ(les indications), cho nên ông đã chua thêm tiếng Nga pokasaniiam ở nguyên tác. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên chú ý là những bản dịch chính thức của nhà xuất bản ngoại văn Liên Xô đều dùng từ chứng cớ. Xem bản tiếng Anh: “Acceptance or rejection of the concept matter is a question of the confidence man places in the evidence of this sense organs, a question of the source of our knowledge” (Materialism and Empirio–criticism [ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán], tr. 114), bản tiếng Tây Ban Nha: “El admitir o rechazar el concepto de materia es un problema de confianza del hombre en el testimonio de sus órganos de los sentidos, es la cuestión del origin de nuestro conscimiento” (Obras escogidas. Tomo IV, tr. 119).
425. THAO, Tran Duc (1973), p. 76.
426. ENGELS, F (1971). Dialectique de la nature [Biện chứng của tự nhiên]. Paris: Editions Sociales, p. 18.
427. THAO, Tran Duc (1973), p. 96 bắt nguồn từ khái niệm “khả năng biểu đạt cảm xúc” của Hegel trong Hiện tượng luận về tinh thần, hình thái nguyên ủy của ý thức, hay mục tiêu định hướng của “cái này”.
428. Ibid, p. 123.
429. Ibid, p. 123.
430. MARX, K. Manuscrits de 1848, ES, p. 63.
431. THAO, Tran Duc (1973), p. 257.
432. SAFOUAN, M. (1968). De la structure en psychanalyse in Qu’est ce que le strucuralisme?. Paris: Editions du Seuil, p. 241.
433. DELEUZE, G. & F. Guattari, L’Anti–Œdipe, Editions de Minuit 1972; X. phê phán tác phẩm này trong: QUÂN, Ðặng Phùng (1974). Triết học và văn chương. Sài Gòn: Lửa Thiêng, tr. 181–197.
434. THAO, Tran Duc (1973), pp. 263 – 265.
435. Ibid., pp. 268 – 269.
436. FREUD, S. La vie sexuelle, P.U.F., tr. 118.
437. THAO, Tran Duc (1973), p. 297. Trần Ðức Thảo dẫn chứng Forrer đã phát hiện trong di tích thời Acheuléen ở Burbach, những nửa mảnh răng ở hàm trước của loài trâu nước có hình dạng dương vật, và theo ông nếu giả thuyết của ông đúng thì những răng hình dương vật này có thể do những bà nội trợ mang theo người vào thời kỳ này như tín hiệu của sự cấm đoán tính dục yên ổn cho họ trong công tác phục vụ cộng đồng.
438. Ibid, p. 301
439. Ibid., p. 331.
440. Ibid., p. 335.
441. Ibid., p. 340.
442. THAO, Tran Duc (1951), pp. 94 – 95.
443. Ibid., tr. 318.
444. Ibid., tr. 319.
445. THAO, Tran Duc (1973), p. 295.
446. PIAGET, J. Le structuralisme, P.U.F. 1968
447. HABERMAS, J., Zur Rekonstruktion des Historischen Materialismus, Suhrkamp Verlag 1976, PACI, E.,Funzione delle Scienze e Significato dell’Uomo, bản dịch tiếng Anh 1972.
448. Xem thêm Triết lý đã đi đến đâu của Trần Ðức Thảo; luận điểm này là thái độ chung của người cộng sản dưới thời Stalin, chẳng hạn Lukács, Die Zerstorung der Vernunft, Gesamtausgabe Bd 9. Trong Vorwort 1967, lời mở đầu tác phẩm Geschichte und Klassenbewusstsein (1923), Lukács có thái độ cởi mở như khi ông coi giữa Heidegger và ông, vấn đề đi trước và ảnh hưởng không đáng quan tâm mà quan trọng là sự tha hóa của con người là vấn đề then chốt của thời đại đối với mọi nhà tư tưởng tư sản cũng như vô sản.
449. X. Phê phán hệ tư tưởng mác-xít.
450. Herder, Abhandlung uber den Ursprung der Sprache (1772).
451. LÉVI–STRAUSS, C. Mythologiques. Le Cru et le Cuit.
452. THAO, Tran Duc (1973), pp. 150 – 151. Trần Ðức Thảo chú thích ico maka sang tiếng Pháp là Enco laitvà câu nói đúng cú pháp là: “encore du lait”.
453. THAO, Tran Duc (1951), p. 365 và THAO, Tran Duc (1973), p. 339.
454. Nguồn: TÔN, Cao (2005). Bản sử dụng ở đây đã được biên tập một số từ ngữ và thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
455. LYOTARD, J. F. (1954). La phénoménologie. Paris: Presses univertaires de France.
456. THAO, Trân Duc (1951).
457. Lời nói đầu. THẢO, Trần Đức (1988a).
458. THẢO, Trần Đức (1989b).
459. QUÂN, Đặng Phùng. P. Ricœur, nhà hiện tượng luận của đầu thế kỷ XX, talawas, 24/8/2005.
465. Nguồn: QUANG, Trần Ngọc (2015).
466. Nguồn: AMTÔ, Giôdép A. (1985). Lời phán quyết về Việt Nam: Tiếng nói của một công dân. Hà Nội: Nxb. Quân đội nhân dân.
467. Là năm Robert Langlands 36 tuổi, vừa được công nhận giáo sư tại viện IAS.
468. Nguồn: TÂM, Nguyễn Đức (2015). Nhân đọc: Sự logic của thời Hiện tại sống động (Trần Đức Thảo);Những bước tiến hóa của hệ thần kinh (Trần Đức Thảo); Chống Dühring (F. Engels); The Tao of Physics (F. Capra).
469. Tài liệu tham khảo chính: ĂNG-GHEN, Ph. (1976); ĂNG-GHEN, Ph. (1991); BAAREN, T.V. (2002); CAPRA, F. (1991); CAPRA, F. [1991] (1999); CẦN, Nguyễn Duy (1992); CẦN, Nguyễn Duy (1996); CHÍNH, Doãn (2003); CHÍNH, Đào & Đoan Nghiêm (2006); COOMARASWAMY, A. K. (1999); DŨNG, Hoàng (1999); DURANT, W. [1926] (1994); DURANT, W. [1930] (2003; ĐẠT LAI LẠT MA XIV [2005] (2007); ĐẠT LAI LẠT MA XIV (2008); ĐÀN, Nguyễn Đức (1998); ĐỈNH, Trần Thái (2005a); ĐỈNH, Trần Thái (2005b); ĐỈNH, Trần Thái (2007); ĐỊNH, Phan Quang (2008); GREENE, B. (2006); GUNARATANA, B.H. (2007a); GUNARATANA, B.H. (2007b); HẢI, Nguyễn Ngọc (2002); HALL, D.G.E. (1997); HAWKING, S. (1991); HAWKING, S. [1991] (2008); HIẾU, Minh (1999); HUY, Lê Tuấn (2006); HUY, Nguyễn Hoàng (2002); HỮU, Nguyễn Khắc, et al (2005); KÌ, Hoàng Thọ & Trương Thiện Văn (2007); KIM, Trần Trọng (2002); KHEMA, A. (2007); LÃO TỬ (1998); LAWHEAD, W.F. (2012); LÊ, Nguyễn Hiến (1994); LIÊN, Trần Duy (2008); LỰC, Thích Duy (1999); MÁC, C. & Ph. Ăng-ghen (1977); MERTON, T., et al (2008); MINH, Hà Thúc (1996a); MINH, Hà Thúc (1996b); MONGAITƠ, A.L. (1977);NGUYÊN, Mộng Bồi (1998); NHIỀU TÁC GIẢ (2004); NINH, Lương, et al (2004); NINH, Vũ Dương & Nguyễn Văn Hồng (2004); PHƯƠNG, Hoàng (1996); REDDING, P. (2006); SANH, Nguyễn Xuân (2007); SÂYDAW, Pa-auk (2006); SHIK, A.Y. (2002); SON, Dam Thanh, et al (2011); SUSSKIN, Leonard (2010); THI, Nguyễn Văn(biên dịch) (2001); THIỆN, Thích Chơn (2010); THIỆN, Thích Tâm (2000); THUẬN, Trịnh Xuân (2006); TỐ, Ngô Tất (1957); TRANG TỬ (1992); TUẤN, Lý Minh (2005); TỪ, Thích Thanh (2004); UGAROV, V. A. (1979); URQUAHART, C. (2009);ƯỚC, Nguyễn (2009); VIVEKANANDA, S. (2000); Гегель, Вильгельм Георг фридрих (1972); Гегель, Вильгельм Георг фридрих (1975).
470. Nhòe lượng tử: vì một lượng tử khi vận động có thể vận động được theo nhiều quỹ đạo cùng một lúc, vì nó vừa là “hạt” vừa là “sóng”, tính chất “sóng” của nó hiện ra thì lúc nó vận động là thành ra một bước sóng, tức là đến nhiều nơi cùng một lúc, tùy người quan sát quan sát ở tư thế nào, trạng thái nào mà có thể nhìn thấy nó theo cách nào, bắt được nó như thế nào, nó hiện ra như thế nào, chứ không dứt khoát là nhìn thấy một hình nhất định có tính “định xứ” như ta thấy một cuốn sách trên bàn, v.v… Ví dụ như sự vận động và xuất hiện của electron trên H. 5 (H.5a và H.5b). Một lượng tử cứ như “nhòe” ra, chứ không rõ ràng như các vật ta thường thấy.
471. “Chống Duhrinh”. Nguồn: Tuyển tập Mác - Ăng-ghen. Hà Nội: NXB. Sự thật, 1983, t. 5, tr. 73.
472. Tlđd, tr. 77.
473. Tlđd.
474. Tlđd, tr. 71 - 72.
475. Tlđd, tr. 71.
476. Tlđd.
477. Vận động enblock: Là tất cả vận động xảy ra cùng một lúc, không tuần tự từ cái này rồi đến cái kia theo thời gian, không có quan hệ nhân quả theo thời gian (vì trong môi trường đó thời gian = 0), giống như ta: trong một cuộc họp chẳng hạn, người thì báo cáo, người thì nghe, người thì đang đọc báo, người thì lại đang nói chuyện riêng, chẳng liên quan gì với nhau, không có quan hệ nhân quả theo thời gian, như sáng dậy ta rửa mặt rồi mới ăn sáng, rồi mới đi làm, v.v...
478. Tlđd, tr. 80.
479. Quanta năng lượng: năng lượng truyền đi không phải thành dòng liên tục mà là từng đợt, như đợt sóng, mỗi đợt người ta gọi là một bó sóng, tức là một portion hay một mồi. Tức là năng lượng truyền đi vừa có tính chất sóng lại vừa có tính chất hạt. Một quanta là một “lượng tử” (chữ quanta do A.Einstein đặt ra). Tóm lại, một quanta năng lượng là một “lượng tử năng lượng”, ví dụ sóng ánh sáng truyền đi là các lượng tử ánh sáng hay quanta ánh sáng truyền đi.
480. Alaxander Friedmann (1888 – 1925): nhà toán học Nga - Liên Xô.
481. Liên tục Dedekin: Thuật ngữ “liên tục Dedekin” do tác giả bài này đặt ra để nói về lý thuyết của Dedekin. Dedekin chứng minh trục số toán học mà chúng ta đang dùng là liên tục từ âm vô cực đến dương vô cực, gồm các số hữu tỷ và các số vô tỷ. Tác giả bài này gọi sự liên tục ấy là “liên tục Dedekin” – có tính triết học. Tuy nhiên tùy cách nhìn mà con người thấy “vũ trụ liên tục” - “liên tục kiểu Dedekin” (cách nói của tác giả) – “ liên tục theo cách nhìn của Đức Phật, hoặc “vũ trụ đứt đoạn” - “đứt đoạn kiểu cổ Hy Lạp” (cách nói của tác giả) - theo cách nhìn của Democritus - cổ Hy Lạp.
482. Không gian Calabi-Yau: Con người chỉ cảm nhận được có 3 chiều không gian x, y, z, các chiều không gian này duỗi ra. Còn hiện tại người ta đã tìm ra được thêm 7 chiều không gian nữa, các chiều này không duỗi ra mà cuộn tròn lại một điểm, cái không gian 10 chiều cuộn tròn lại này gọi làkhông gian Calabi-Yau (Calabi-Yau manifold). Eugenio Calabi (1932) là nhà toán học người Mỹ gốc Ý; Shing-Tung Yau (1949) là nhà toán học người Mỹ gốc Trung Quốc.
483. Lỗ sâu đục: hay lỗ giun, tức là lỗ chui từ chiều không gian này sang chiều không gian khác, thuật ngữ khoa học chính thức là “quantum tunnel” (đường hầm lượng tử). Trong môi trường của không gian Calabi-Yau, năng lượng vận động với tốc độ rất cao, đục xuyên từ chiều không gian này sang chiều không gian khác thành các “đường hầm lượng tử” mà thường khi người ta cứ gọi là “lỗ sâu đục” hay “lỗ giun”, tiếng Anh là “worm hole”.
484. Thời gian Plank: Có hai thứ Plank là thời gian Plank và không gian Plank. Không gian Plank là kích thước không gian (độ dài) bằng 10-35 cm. Còn thời gian Plank là đoạn thời gian ngắn nhất, bằng 10-44 giây.
485. Thí nghiệm giả tưởng EPR: đây chỉ là một thí nghiệm giả tưởng để lấy làm ví dụ mà giải thích, chứ không phải thí nghiệm làm thật, của Einstein, Podolski và Rosen: Giả sử có 2 hạt làm thành 1 cặp, trong đó một cái quay xuôi, một cái quay ngược, khi đưa 2 hạt đó ra xa cách nhau rất xa (xa vô cực) nhưng khi 1 hạt đổi chiều quay ngược lại thì hạt kia cũng tức thì đổi chiều quay ngược lại để cho cái cặp 2 hạt ấy là luôn quay ngược chiều nhau. Như vậy khi một hạt đổi chiều quay thì cứ như có thông tin từ nó đến hạt kia ngay tức thì thì hạt kia mới biết mà đổi chiều, nhưng khoảng cách vô cực thì hóa ra thông tin bay với tốc độ vô cực, lớn hơn tốc độ ánh sáng? Sai với thuyết tương đối là tốc độ V của bất kỳ vật nào cũng không thể lớn hơn tốc độ ánh sáng C. Nếu quả thật xảy ra thế thì là vì “cả vũ trụ chỉ có một điểm” và “dung thông với nhau” chứ không phải vũ trụ là rộng mênh mông như ta thấy. Thí nghiệm giả tưởng này là cái ví dụ đầu tiên cho thấy vũ trụ làliên hoàn - dung thông không phải có khoảng cách như ta vẫn thấy, vẫn đo đạc được. Đó là điều (nghịch lý) mà Einstein đã không nhận ra khi bị thuyết tương đối của chính mình ánh ảnh và giữ chặt lại, chỉ có sau này dần dần người ta mới hiểu ra.
486. Vũ trụ song song: Hiện tại có người cho rằng có nhiều vũ trụ sinh ra và tồn tại song song với nhau chứ không phải tất cả chỉ có một vũ trụ của chúng ta mà ta thường thấy. Từ lý thuyết về sự hình thành vũ trụ là từ Big Bang sinh ra vũ trụ, vậy thì có thể sinh ra nhiều vũ trụ và chúng tồn tại song song bên nhau chứ không phải chỉ sinh ra duy nhất vũ trụ của chúng ta. Kinh Phật nói: “Vũ trụ nhiều như cát sông Hằng”.
487. Tấm lưới Indra: trong kinh Hoa Nghiêm có nhắc đến hình ảnh “tấm lưới Indra”: Trên bầu trời Đế Thích có một tấm lưới gọi là “tấm lưới Indra”, dệt toàn các hạt ngọc. Các hạt ngọc bố trí sao cho một hạt có trong tất cả các hạt, mà tất cả các hạt lại có trong một hạt. Hình ảnh này là để chứng tỏ: không gian bằng 0, tất cả không gian chỉ là một không điểm, tất cả vũ trụ lồng vào nhau tại một điểm mà thôi, không có cái này nằm cạnh cái kia như trong vũ trụ của ta.
488. Từ đây các câu nói của các nhà vật lý, các thiền sư được trích từ tác phẩm The Tao of physics của Fritjof Capra.
489. David Bohm (1917 – 1992): một trong những nhà vật lý lý thuyết người Mỹ ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX. Ông có những đóng góp quan trọng cho lý thuyết lượng tử, tâm lý học não bộ và triết học về tư duy, đồng thời có những đóng góp đột phá cho lý thuyết vũ trụ toàn ảnh. Mô hình vũ trụ toàn ảnh mà ông xây dựng cho phép hiểu được một loạt những điều bí ẩn trong vật lý, trong thần giao cách cảm (telepathy), tiên tri (precognition), sự thống nhất con người và vũ trụ (oneness), động học tâm lý (psychokinesis),... (BS)
490. Điểm kỳ dị: Hồi đầu có người (Stephen Hawking, v.v...) nói rằng ở tâm hố đen có một điểm đặc biệt gọi là “điểm kỳ dị” nơi do trọng trường lớn vô cực mà không gian co về = 0, thời gian co về = 0. Tại đây mọi lý thuyết khoa học hết giá trị, không thể biết được qua bên kia cái điểm ấy là gì, không thể lý giải tiếp cho bên kia điểm này, không thể liên hệ sang thế giới khác qua điểm này. Về sau ý này thay đổi dần. Theo tác giả bài này thì ngay từ đầu đã cảm thấy rằng “điểm kỳ dị” chỉ là ảo giác trên phương trình toán của thuyết tương đối mà thôi, cũng giống như nhiều trường hợp khác (qua 2 điểm chỉ có thể vẽ được 1 đường thẳng, v.v...), chứ không có thật, hố đen không thể kết thúc một chách “chết cứng lạnh buốt” như vậy, nó phải liên thông – liên kết sang các miền khác, ví dụ theo con đường qua “môi trường lượng tử” sang “VŨ TRỤ LƯỢNG TỬ” vượt ra ngoài logic của “thuyết tương đối” của A. Einstein.
491. Richard Phillips Feynman (1918 – 1988, nhà vật ký người Mỹ gốc Do Thái, nhận Giải thưởng Nobel vật lý năm 1965.
492. SUSSKIN, L. (2010), tr. 391.
493. SON, Dam Thanh, et al (2011).
494. Quark gluon plasma: là trạng thái vật chất chỉ có các hạt quark và chất kết dính (gluon - chất lầy nhầy dạng keo). Lý thuyết của Đàm Thanh Sơn và một số nhà vật lý học khác gọi đó là “độ nhớt của hố đen”.
495. Alfred Korzybski (1879 – 1950): học giả độc lập người Mỹ gốc Ba Lan, phát triển một ngành riêng được gọi là ngữ nghĩa học tổng quát (general sematics). Ông khẳng định rằng những hiểu biết của con người về thế giới bị giới hạn bởi cả bộ não của con người lẫn các loại hình ngôn ngữ mà con người phát triển để mô tả thế giới ấy; và do vậy, con người không thể nắm bắt được thực tại giống như nó đang hiện hữu, bởi những gì chúng ta biết được đã bị bộ não của chúng ta “lọc bớt”, do khả năng giới hạn của bộ não khi “phản ánh” hiện thực khách quan. (BS).
496. Nguồn: KIÊN, Nguyễn Trung (2012).
497. Chân Phương dịch. Nguồn: KOJÈVE, A. & Trần Đức Thảo [1948)] (2004).
498. Trần Đức Thảo muốn nhấn mạnh đến sự sụp đổ của chủ nghĩa phát–xít, sự thất bại của chủ nghĩa thực dân cũng như sự trỗi dậy của chủ nghĩa đế quốc, với những thay đổi mang tính tất yếu trong sự phát triển của các khuynh hướng, trường phái và trào lưu triết học tại Pháp sau chiến tranh. (BS)
499. THẢO, Trần Đức (1989b).
500. THAO, Trân Duc (1948).
501. THAO, Trân Duc (1951).
502. Sự ý thức sâu sắc này được Trần Đức Thảo thể hiện rõ hơn ở bài báo nổi tiếng của ông xuất bản tại Hà Nội năm 1956: “Hạt nhân duy lý” trong triết học Hegel [THẢO, Trần Đức (1956a)]. Bản dịch tiếng Pháp của bài báo này được công bố trên tờ La Pensée năm 1965 [THAO, Trân Duc [1956a] (1965)], ít năm trước khi Kojève qua đời.
503. HUSSERL, E. [1936] (1970).
504. MAJKUT, P. (2003).
505. VŨ, Trần Tri (2008).
506. THAO, Trân Duc (1946a).
507. Ibid.
508. “Il fallait mettre la vie en accord avec la philosophie, accomplir un acte réel quy réponde aux conclusions théoriques de mon livre”. THAO, Trân Duc [1984b] (1993). Tác phẩm mà ông nói đến ở đây chính là Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng(1951). (BS)
509. Nguồn: TÔN, Cao (2005).
510. Die Krisis der europäischen Wissenschaften und die transzendentale Phänomenologie: Eine Einleitung in die phänomenologische Philosophie [Sự khủng hoảng của các khoa học châu Âu và triết học tiên nghiệm: Giới thiệu về hiện tượng luận tiên nghiệm] (1936).
511 ĐOÀN, Trần Văn (2004).
512. CHỬ, Cù Huy & Cù Huy Song Hà (2011c).
513. Ý kiến của nhà văn Nguyễn Đình Chính trong các trao đổi về triết học Trần Đức Thảo với tác giả [Nguồn: CHÍNH, Nguyễn Đình (2007)].
514. HERMAN, Daniel J. [1997] (2013).
515. Chữ dùng đầy hóm hỉnh của Phạm Trọng Luật.
516. ALTHUSSER, L. (1982), p. 172.
517. Nguồn: NAM, Trần Văn (2013). Bản sử dụng ở đây có lược bỏ một số chi tiết của nguyên bản, và biên tập một số chữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
518. Trọn tập sách “Triết Lý Đã Đi Đến Đâu?” có thể tìm đọc trong “triethoc.com.vn”.
522. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2010).
523. THẢO, Trần Đức (1989b).
524. THAO, Trân Duc (1951).
525. THAO, Trân Duc (1948).
526. Tham khảo: KIÊN, Nguyễn Trung (2012a).
527. THẢO, Trần Đức [1986b] (2004), tr. 110 – 111.
528. THẢO, Trần Đức (1956a).
529. THẢO, Trần Đức (1955b), (1955c).
530. THẢO, Trần Đức (1973). Tác phẩm này đã được Trần Đức Thảo sửa chữa rất nhiều. Đây là tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ (Đợt II), năm 2000.
531. THAO, Trân Duc (1991c), (1992b)
532. THAO, Trân Duc (1993c).
533. Nguồn: TUẤN, Nguyễn Anh (2011). Do khuôn khổ của cuốn sách, bản sử dụng ở đây có lược bỏ một số chi tiết nhỏ, đồng thời chỉnh sửa một số thuật ngữ và từ vựng để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
534. Johann Heinrich Lambert (1728 – 1777): nhà triết học, toán học, vật lý học và thiên văn học người Đức, nổi tiếng với công trình chứng minh tính vô tỷ của số π. Qua tác phẩm New Organon [Bộ công cụ mới](1764), ông đã đề ra các quy tắc để phân biệt tính chủ thể và tính khách thể, làm nền tảng để hình thành những ý tưởng đầu tiên về hiện tượng luận. (BS)
535. THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr. 86.
536. Sđd., tr. 176.
537. Sđd., tr. 111.
538. Sđd., tr. 32 – 33.
539. Sđd., tr. 35.
540. Sđd., tr. 48.
541. Sđd., tr. 60.
542. Sđd., tr. 73 – 74.
543. Sđd., tr. 75.
544. Sđd., tr. 76.
545. Sđd., tr. 71.
546. Sđd., tr. 84.
547. Sđd., tr. 89 – 90.
548. Sđd., tr. 50
549. Sđd., tr. 54.
550. Sđd., tr. 157.
551. Kaarlo Hintikka (1929 – 2015): nhà triết học và logic học Phần Lan. (BS)
552. Sđd., tr. 98.
553. Sđd., tr. 105.
554. Sđd., tr. 107.
555. Sđd., tr. 108.
556. Sđd., tr. 16.
557. Sđd., tr. 16 – 17.
558. Nguồn: ĐOÀN, Trần Văn (2004). Bản sử dụng ở đây có lược bớt vài chi tiết, và chỉnh sửa một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn cuốn sách. (BS)
559. “Hiện tượng luận tại Việt Nam” vốn là bài báo cáo khoa học viết bằng Anh ngữ hoàn tất vào tháng 8.2004 (Phenomenology in Vietnam –A Panaromic Review). Thực ra, vào năm 1983, dịp Hội Nghị Quốc Tế lần Thứ Nhất tại Viễn Ðông về Hiện tượng luận (ÐH Ðông Hải, Ðài Trung, Ðài Loan), tôi đã nhận lời mời của Tập san Nghiên cứu Phenomenological Information (Boston) viết một tiểu luận ngắn về hiện tượng luận tại Trung Hoa và Việt Nam, nhằm bổ túc vào tập The Phenomenological Movement của Giáo sư Herbert Spiegelberg (ÐH Washington, St. Louis). Nhưng vì thiếu tài liệu, nên không thể hoàn tất. Năm 2003, tại Ðại hội Triết học Thế giới lần thứ XXI tại Istanbul, Giáo sư Tiến sĩ Anna–Teresa Tymieniecka (Chủ tịch Viện Hiện tượng luận Quốc tế, Boston), chủ biên kho tài liệu nghiên cứu Hiện tượng luận Husserliana, mời tôi như là một thành viên danh dự của Ban Tổ chức (Honorary Organizer) Hội nghị Quốc tế về Hiện tượng luận tại ÐH Oxford, tháng 7 năm 2004. Bà cũng đề nghị tôi trình bày Hiện tượng luận tại Viễn Ðông cho toàn thể hội nghị. Dịp này buộc tôi phải đọc lại các tác phẩm của các Giáo sư Trần Ðức Thảo, Trần Thái Ðỉnh, Lương Kim Ðịnh, Cao Xuân Huy, Lê Tôn Nghiêm, Vũ Kim Chính và của vài vị mà gần đây tôi mới biết hay để ý đến như Tiến sĩ Ðặng Phùng Quân, Trần Công Tiến và cả Giáo sư Nguyễn Văn Trung. Ðặc biệt, Khoa Triết học (Ðại học Khoa học xã Hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) ủy thác chúng tôi hiệu đính lại bản dịch Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng của Giáo sư Trần Ðức Thảo. Dịp này, người viết đã tìm hiểu thêm về triết gia họ Trần. Tác giả chân thành cảm tạ Tiến sĩ Trịnh Trí Thức (Chủ nhiệm, Khoa Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), Giáo sư, Viện sĩ Dương Thụ Tử (Viện Hàn lâm Khoa Trung Hoa, Hiệu Trưởng ÐH Hoa Trung) và Giáo sư, Tiến sĩ Âu Dương Khang (Phó Hiệu trưởng ÐH Hoa Trung), cũng như Giáo sư, Tiến sĩ Tymieniecka đã có nhã ý tạo cơ hội giúp chúng tôi hoàn tất bài viết.
560. THAO, Trân Duc (1951), phần “La méthode phénoménologique et son contenu effectivement réel”. Bản dịch Việt ngữ: THẢO, Trần Đức [1951] (2004). (Nhà xuất bản Minh Tân do một nhóm Việt kiều tại Pháp xuất bản cách sách của Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo,...) Tập sách này vốn gồm hai phần chính. Phần thứ nhất về hiện tượng luận, vốn là luận án Tốt nghiệp Sư phạm (agrégation) được tác giả viết quãng năm 1941–1943, đệ trình năm 1943 tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm, và được giới học giả chú ý một cách đặc biệt. Phần thứ hai về Biện chứng Duy vật được viết vào quãng năm 1948–1949, sau 5 cuộc “gặp gỡ” (chứ không phải tranh luận, débates) với Jean–Paul Sartre. G.S. Thảo tự thuật trong Niên biểu: “Sartre đã mời tôi đến những cuộc gặp gỡ này...”, “Trong năm cuộc gặp gỡ tôi đã chỉ cho ông rằng chính xác là phải coi trọng chủ nghĩa Marx cả về triết học”. [THẢO, Trần Đức [1984b] (1993)].
561. Spiegelberg, ctr. 431 – 32.
562. Do chúng tôi dịch.
563. Về phương pháp, ta thấy trong Chương 1, phần 1 về “Kỹ thuật biến hóa” (La technique de la variation), pp. 23 – 27. Và rất miễn cưỡng, pp. 34 – 38, vể “Trở lại Chủ thể” (Le retour du sujet). Về sự khám phá phương pháp giản hóa, giản lược, truy nguyên (réduction), pp. 51 – 66; và về mô tả hiện tượng luận (la description phénoménologique), pp. 160 – 163.
564. Đây có lẽ là một loại “hiện tượng luận” của Pháp, đặc biệt của Jean–Paul Sartre thời đó. Giáo sư Thảo khi phê bình hiện tượng luận, ông nhầm lẫn với chủ nghĩa hiện sinh (existentialisme) của Sartre. Chủ nghĩa hiện sinh của Sartre đã dùng lối miêu tả, diễn tả (descriptive) để phân tích những dữ kiện (données) của hiện thể (existence), và đứng khựng lại ở giai đoạn này.
565. Trần Đức Thảo, tr. 6: “Việc duyệt xét kỹ lưỡng bản thảo chứng tỏ một cách rõ rệt rằng những phân tích cụ thể thật ra đã đi theo một đường hướng không hợp với những nguyên lý thuần lý thuyết, mà chính ở trong lòng của những lý thuyết này những phân tích cụ thể từng được phát triển ra” (bản dịch của chúng tôi). Về điểm này, ta thấy Giáo sư Thảo theo Karl Marx (Luận đề về Feuerbach, Luận đề 11) khi chỉ trích giới triết học tư sản “chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau”. Họ quên cái điểm chính yếu, đó là triết học phải cụ thể và thực tiễn nhằm “cải tạo thế giới.”
566. Maurice Merleau–Ponty, người được coi như là một triết gia hiện tượng luận sáng giá nhất của Pháp. Cùng với Trần Đức Thảo, Merleau–Ponty từng nghiên cứu tại Thư khố Husserl tại ĐH Louvain (Bỉ), và được Giáo sư Léo Van Breda (một linh mục dòng Phan Sinh), Giám đốc Thư khố, ủy thác thành lập Thư khố Husserl ở Pháp. Merlaeu–Ponty đã cổ động giới trí thức Pháp ký bản kiến nghị yêu cầu chính phủ Pháp phóng thích Giáo sư Thảo khỏi nhà ngục vào tháng Chạp năm 1945). Giáo sư Thảo bị chính quyền Pháp bắt giam quãng 3 tháng vì “tội” đấu tranh dành độc lập cho Việt Nam và chống thực dân Pháp.
567. THAO, Trân Duc, Préface, p. 19: “Cependant nous avons cru utile de donner dans la première partie de cette ouvrage des études purement phénoménologiques et largement dépassées...”
568. Bắt chước ngôn ngữ và cách diễn tả đầy tính châm biếm của Karl Marx (trong Die Heilige Familie [Gia đình thần thánh]), Trần Đức Thảo viết, tr. 19: “Dans le marxisme la philosophie bourgeoise trouve la forme de sa suppression: mais la suppression enveloppe le mouvement même de ce dont elle est supression, en tant qu’elle leréalise en le supprimant”. (Chính trong chủ thuyết mác-xít mà nền triết học tư sản mới nhận ra cái hình dạng của sự tự áp bức: tuy nhiên sự áp bức (này) bao gồm quá trình sinh hoạt, ngay cả của chính cái quá trình mà sự áp bức thuộc về chính nó, (và như vậy nó) tự tạo ra mình bằng cách đàn áp mình). (Bản dịch của chúng tôi)
569. LUKÁS, G. (1922). Geschichte und Klassenbewusstsein. Bản Anh ngữ của Livingstone: History and Class Consciousness [Lịch sử và ý thức giai cấp] (Cambridge: MIT Press, 1971), phần 2:” What is Orthodox Marxism?”.
570. Xin tham khảo KOLAKOWSKI, L. (1978). The Main Currents of Marxism (Oxford: Oxford University Press), Tập 3, chương 7, ctr. 253 vtth. Ảnh hưởng của Lukács trên trường phái Frankfurt và những triết gia như Ernst Bloch... Các chương sau, đặc biệt chương thứ năm.
571. Ta biết, lối giải thích Marx theo hệ thống của Hegel, hay ngược lại, từng là một trào lưu bắt nguồn từ nhà triết học người Pháp gốc Nga Alexandre Kojève (1902–1968) với những bài giảng về Hegel tại Học viện Cao đẳng (École des Hautes Études) vào những năm 1933–1939. Xin tham khảo: KOJÈVE, A., Introduction à la Lecture de Hégel [Giới thiệu về Bài giảng Hegel] (Paris: Gallimard, 1947). Bản dịch Anh ngữ của James H. Nichols, Jr.: Introduction to the Reading of Hegel (New York: Cornell University Press, 1980). Kojève là người đầu tiên đã đọc Hegel theo lối nhìn của Heidegger, cũng như đọc Marx theo lối nhìn của Hegel. Ông gây được một ảnh hưởng sâu rộng trên những người chủ trương hai tập san nghiên cứu Les Temps modernes(Merleau–Ponty, Sartre, Trần Đức Thảo), và L’Esprit (Emmanuel Mounier, Maurice Nédoncelle, và cả Paul Ricœur). Trần Đức Thảo, theo lời yêu cầu của Merleau–Ponty, đã viết một bài điểm sách của Kojève đăng trên Les Temps modernes (1948). Với bài này, theo lời tự thuật của mình (1984), Trần Đức Thảo đã nhìn ra sự thiếu sót của hiện tượng luận, và định cho ông chiều hướng theo Marx.
572. Tác phẩm: GARAUDY, R. (1961). Perspectives de l’homme [Viễn cảnh của con người]. (Paris: P.U.F.), được Giáo sư Trần Đức Thảo dịch sang tiếng Việt theo lời đề nghị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. (BS)
573. Hai câu dẫn trên trích lại từ tập Tự điển Phê phán về Chủ nghĩa Marx (Kritisches Woerterbuch des Marxismus, chb. bản Đức ngữ: Wolfgang Fritz Haug, Berlin: Argument Verlag, 1986), thuật ngữ “Kiến trúc thượng tầng”, tập 4.
574. Jean–François Lyotard, một nhà hiện tượng luận và phần nào bị ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx, đã nhận ra điều này trong Postmodernisme – Un rapport du savoir (Paris, 1978).
575. Cuộc tranh luận về vai trò của trí thức trong Đảng Cộng sản vào đầu thế kỷ XX tại Đức đã khiến Đảng Cộng sản Đức phân lìa... Xin tham khảo Kolakowski, Sđd.; và Predrag Vranicki, Geschichte des Marxismus, 2 Tập (Frankfurt a. M.: Suhrkamp, 1972 / 1974), ctr. 251 – 276. Bản dịch của Stanislava Rummel và Vjekoslava Wiedmann từ tiếng Nam Tư, Historija marksizma (Zagreb 1961 / 1971).
576. Trong lịch sử chủ nghĩa cộng sản, cuộc tranh luận về vai trò của giới trí thức đã từng xảy ra ở Đức (chú thích trên), Pháp và Hungary. Kết quả là những người chủ trương vai trò của giới trí thức đã từng hoặc bị ám sát (Rosa Luxemburg), hoặc bị trục xuất khỏi đảng (Karl Kautsky, RogerGaraudy, Gyory Lukács...). Tại Đông Âu vào thập niên 1960s, đa số bị trục xuất khỏi Đảng như Leslev Kolakowski, Predrag Vranicki, Adam Schaff, Pedro Gazovic,...
577. THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr. 179: “Cho nên toàn bộ công trình cấu tạo thế giới (Weltkonstitution) sụp đổ trong sự nhận thấy một sự ngẫu nhiên triệt để... Cùng với nó truyền thống vĩ đại của chủ nghĩa duy tâm đã kết thúc, vì nó tự xóa bỏ mình trong khi thực hiện chính mình”. Cũng xin tham khảo chú thích ở trên.
578. Theo một số bạn hữu của Giáo sư Thảo tại Paris như Tiến sĩ Ngô Mạnh Lan, Tiến sĩ Jean–François Revel (Mémoires – Le voleur dans la maison vide. Paris: Plon, 1997, tr. 124), Giáo sư Thảo vào những năm cuối đời đã “trở lại với hiện tượng luận và chủ thuyết nhân bản thấy trong (tác phẩm)Krisis, và vội vã phát triển quan niệm về Hiện tại sống động của Husserl”. (Lá thư của Ngô Mạnh Lan gửi Revel: “It était revenu à la phénoménologie et à l’humanisme de la Krisis et travaillait d’arrache – pied à développer le concept husserlien de Présent vivant”). Trước khi qua đời, Giáo sư Thảo đã gửi cho ông Vincent von Wroblewsky 3 chương đầu của tập sách ông đang soạn dở dang La Logique du Présent vivant (viết vào năm 1993 tại Paris). Xin tham khảo: THAO, Trân Duc (1993c).
579. Nguyễn Văn Trung, trong Đối Thoại (Houston, 1996). Tựa đề bài viết tôi không nhớ chính xác.
580. Chủ nghĩa Marx–Lenin do Joseph Stalin “khai sinh” vào năm 1927, khi ông đã hoàn toàn nắm vững quyền hành như là người kế vị Lênin (qua đời năm 1924). Theo chủ nghĩa Marx–Lenin này, giới vô sản là một giai cấp cách mạng mang tính chất sinh động và bản chất thực hành (Praxis), có mục đích chiếm quyền và xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa (socialist society), và Đảng Cộng sản như là một vũ khí của họ giúp đạt tới mục đích trên. Trên thực tế, Stalin coi chủ nghĩa Marx–Lenin như là “lý thuyết và chiến lược đặc biệt cho vô sản chuyên chế” (trong Foundations of Leninism), và biến thành một ý thức hệ để hợp pháp hóa vai trò của giới vô sản, dưới sự lãnh đạo của Liên Xô. Xin tham khảo J. Stalin, “Foundations of Leninism” (1934), và “Problems of Leninism”, trong B. Franklin, ed. The Essential Stalin; D. Lane, Leninism: A Sociological Interpretation (1981).
581. Đây là chủ trương của những triết gia như Merleau–Ponty. Spiegelberg nhận xét rất đúng về thái độ của Merleau–Ponty: “Những phương thức biện chứng có thể giúp chúng ta tránh được những khẳng định chưa chín chắn, nhưng không thể làm ta tránh được việc phải trực diện với hiện tượng” (Spiegelberg, ctr. 573 – 74). Jean–Paul Sartre trong tác phẩm Critique de la raison dialectique (Paris: Gallimard, 1969) đã áp dụng hiện tượng luận để tìm lại nền tảng cho chủ thuyết mác-xít. Kết quả một phân tích hiện tượng như vậy khiến Sartre kết luận là chỉ có một chủ nghĩa Marx chân thật củaMarx chứ không thể có chủ nghĩa duy vật biện chứng (như thấy trong Friedrich Engels và những người theo ông).
582. Jean–Paul Sartre, Critique de la raison dialectique, Sđd., Lời nói đầu, tr. I
583. Xin tham khảo MOUNIER, E. (1947). Introduction à l’Existentialisme. Paris: P.U.F.
584. Đặc biệt, với các tác phẩm của Heidegger (Sein und Zeit, 1927), của Sartre (L’être et le néant, 1943). Đối với Sartre, thì thuật từ “chủ nghĩa hiện sinh” có nghĩa là một sự hòa hợp giữa Hiện tượng luận và chủ thuyết hiện sinh mà ông còn gọi là “một nền hữu thể hiện tượng”.
585. Xin tham khảo Trần Thái Đỉnh, Triết học Hiện sinh (Sài Gòn, 1967). Đây là một tập sách giới thiệu và phê bình nền triết học hiện sinh khá nghiêm túc, có tinh chất khoa học, khách quan và tương đối đầy đủ. Sách của Giáo sư Trần Thái Đỉnh thuần túy hàn lâm, không có mùi vị tuyên truyền như nhiều người (vì không đọc) lầm tưởng. Trong tập sách này, tác giả đặc biệt trình bày tư tưởng của Søren Kierkegaard (1813–1855), đại biểu cho nền triết học hiện sinh hữu thần), Friedrich Nietzsche (1844–1900), đại biểu cho nền triết học hiện sinh vô thần) và những người bị ảnh hưởng của hai ông, như Heidegger, Karl Jaspers (Đức, 1883–1969), Sartre, Gabriel Marcel (Pháp, 1889–1973)...
586. THAO, Trân Duc (1951), p. 23. (Bản dịch của chúng tôi).
587. Sartre từng kiêu hãnh gắn liền chủ nghĩa hiện sinh của mình với hiện tượng luận, mặc dù người bạn cũ của ông, Giáo sư Raymond Aron, một nhà xã hội học nổi tiếng của Pháp, đã từng tiết lộ là Sartre chẳng hiểu hiện tượng luận là gì, và cái mà Sartre tự xưng là hiện tượng luận, thực ra là hiện tượng luận theo kiểu của Sartre (Xem ARON, R. (1976). History and The Dialectic of Violence – An Analysis of Sartre’s “Critique de la Raison Dialectique”, bản dịch Anh ngữ của Barry Cooper, New York: Harper & Row, Preface, tr. xii). Khoảng giữa cuối thập niên 1940 – đầu thập niên 1950, ta thấy có một sự thù nghịch giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa hiện sinh. Giới trí thức cộng sản trẻ tuổi coi hiện sinh như là một hình thức của chủ thuyết duy tâm và là tột điểm của sự tha hóa tư sản (décadence bourgoise). Giáo sư Thảo được coi như là một trong những người chủ trương lối nhìn của những nhà trí thức cộng sản trẻ tuổi tại Pháp.
588. Trong Fruehe Schriften, Tập. 1 (Stuttgart, 1962). Ba bản dịch Anh ngữ khác nhau của T.B. Bottomore,Economic and Philosophic Manuscrips of 1844 (New York, 1963), của Martin Milligan (Moscow, 1959), và của Ria Stone (1949). Về nền triết học của “Marx trẻ” xin tham khảo: Trần Văn Toàn, Triết học Karl Marx (Sài Gòn: Nam Sơn, 1965). Đây là một tập sách về Marx rất nghiêm túc xuất bản tại miền Nam.
589. Đối với những nhà mác-xít hiện tượng luận như Maurice Merleau–Ponty, Roger Garaudy, và cả Jean–François Lyotard và có lẽ, một phần nào đó Louis Althusser, thì nhà triết học Marx khác với người cộng sản Marx của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và của Tư bản luận. Riêng Althusser coiMarx như là nhà khoa học trong tác phẩm Tư bản luận. Nói chung, những triết gia trên chủ trương, cái tinh hoa của Marx nằm trong những tác phẩm của người thanh niên Marx, mà trong đó Marx chủ trương là “con người là nguồn gốc của tất cả mọi sự” (man is the root of everything). Giáo sư Spiegelberg nhận xét, tr. 445: “Chính cái loại chủ thuyết nhân bản mác-xít này làm họ phát hiện một lối thông diễn, và sát hợp hiện sinh với mác-xít, như đặc biệt thấy trong các tác phẩm đầu tay của Merleau–Ponty. Nó giúp ta nhận ra một tình huống lịch sử hiện sinh của con người trong cuộc đấu tranh giai cấp”.
590. Trung thực hơn, Giáo sư Trần Thái Đỉnh (trong tập Hiện tượng luận là gì?, Sài Gòn: Thời Mới, 1968) viết về Hiện tượng luận như sau, tr. 16: “Hiện tượng luận là khoa nghiên cứu về những bản chất, và đối với khoa học này thì tất cả mọi vấn đề đều quy về việc xác định những bản chất...”; tr. 19: “Vậy mục đích của Hiện tượng luận là đạt được những bản chất cụ thể, tức hình ảnh trung thực của những kinh nghiệm sống”; tr. 22: “Điều can hệ là: Hiện tượng luận đề cao ý thức chưa phản tỉnh, coi đó là sự gặp gỡ đầu tiên giữa ta và thế giới.”
591. Lối thông diễn sáng tạo này, như Heidegger chủ trương, nhằm tìm ra điều mà tác giả đã nghĩ mà không diễn tả được, hay chưa nghĩ tới, nhưng giúp độc giả nghĩ ra.
592. Xin tham khảo Phần giới thiệu của chúng tôi cho cuốn Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứngcủa Trần Đức Thảo, đang sửa soạn cho bản tái bản.
593. REVEL, J.–F., Mémoires – Le Voleur dans la maison vide, tr. 121.
594. Nguồn: GIANG, Ngô Hương (2013). Bản sử dụng ở đây đã được chỉnh sửa một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách.
595. HERICK, T. (2005).
596. MAJKUT, P. (2003).
597. “Hiện tượng luận đã bắt đầu bằng bản thể học. Ngoài những diễn giải tâm lý học biến cái thực thành một tập hợp các trạng thái ý thức, vấn đề ở chỗ phải quay trở lại với chính các sự vật và tìm thấy lại ý nghĩa của bản thể trong sự phong phú về chân lý của nó” (THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr.31).
598. HEIDEGGER, M. Về thể tính của chân lý. Phạm Công Thiện dịch. Sài Gòn: Nxb Hoàng Đông Phương, 1968, tr. XXV.
599. Sđd., tr. XXV.
600. Sđd., tr. XXIII.
601. THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr.17.
602. Năm 1936, Husserl xuất bản tác phẩm Die Krisis der europäischen Wissenschaften und die transzendentale Phänomenologie: Eine Einleitung in die phänomenologische Philosophie (Sự khủng hoảng của các khoa học châu Âu và Hiện tượng luận tiên nghiệm: Giới thiệu về Triết học tiên nghiệm), chính thức đưa ra viễn cảnh về sự cáo chung của lịch sử triết học phương Tây. Thế nhưng, có thể chính Husserl cũng không nhận ra rằng, ngay từ năm 1845 (nghĩa là khoảng cách về mặt thời gian tính cho đến trước thời điểm Husserl tuyên bố sự cáo chung của tư tương phương Tây đúng 91 năm (1936 – 1845)), K. Marx đã tiên liệu viễn cảnh phá sản ấy của tư tưởng phương Tây, khi ông viết The German Ideology (Hệ tư tưởng Đức) vàTheses on Feuerbach (Luận cương về Feuerbach), trong đó định đề được các học giả trích dẫn nhiều nhất, đáng quan tâm nhất là: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”. Chính cái “cải tạo thế giới” này là “điểm bùng nổ” mạnh mẽ nhất mà K. Marx đặt ra nhằm xác lập lại toàn bộ hệ thống tư tưởng phương Tây, tiên liệu cho một sự phá sản tất yếu của nó. “Cải tạo thế giới” cũng đồng nghĩa với việc loài người sẽ phải bắt đầu một dấu mốc mới của tư tưởng bên trong một thế giới mới được dựng lên, thông qua hoạt động thực tiễn kinh nghiệm. Trong đó, ý niệm về một thế giới mới luôn phải bắt đầu từ sự trăn trở của ý thức kiếm tìm đường hướng khai phá nó. Và, mọi sự trăn trở của ý thức kiếm tìm đường hướng khai phá thế giới mới ấy cần phải được khởi đầu từ cái căn nguyên, cội rễ là tính vật chất ôm chứa trong nó.
603. Ở đây, chúng ta cần phân định rạch ròi giữa hai khái niệm Tính vật chất (materiality) với Vật chất (matter). Tính vật chất là cái làm cho “vật chất” trở nên có nghĩa như một tồn tại trong thế giới, còn vật chất là hình thức biểu hiện một phần nào đó tính vật chất thông qua hoạt động sáng tạo tự do.
604. Sản xuất trong trường hợp này không được xem là hoạt động sáng tạo, vì giai cấp làm thuê đã không được thiết lập thế giới dựa trên nền tảng tính vật chất một cách tự do. Họ bị giai cấp chủ nô cai quản ý hướng tự do cấp nghĩa, dựa trên sự tự do hủy thể hình thức cũ ôm chứa tính vật chất ấy, theo đó, thế giới mà họ kiến lập dựa trên tính vật chất chẳng qua chỉ là thế giới ngụy tạo, xa lạ dựa trên hình thức tưởng như hợp thức của hoạt động sáng tạo. Thế giới mà người lao động tạo ra đó không phải là chân lý, mà chỉ là sự ngụy trang của chân lý, vì thể tính chân lý của thế giới ấy không nằm ở sự tự do chọn lựa phương thức sáng tạo dựa trên cái tiên khởi là tính vật chất, mà, họ làm việc ấy thụ động như một con ong cần mẫn mang mật về theo sự điều phối của con ong Chúa. Và, cái tổ ong ấy là thước đo chuẩn mực do con ong chúa dựng lên, bằng những thủ đoạn “khéo léo” của quyền lực, cũng giống như thế giới loài người do bàn tay người nô lệ tạo dựng, về thực chất, chỉ là hình thức của “sáng tạo” do chủ nô tiến hành theo những “thủ đoạn” của vật linh hoặc thần quyền, chứ không thể xem là quá trình sáng tạo theo ý hướng chủ quan, hoàn toàn tự do của giai cấp bị bóc lột.
605. “Nhưng người ta đi đến không làm rõ được sự khác nhau, bởi vì một lần nữa đây không phải là một hệ thống các tổng hợp trong đó khách thể cuối cùng chỉ là cái tương liên của sự diễn biến các điều tôi đã sống trải, khi chúng kết hợp gắn bó với nhau: nó là sự thống nhất ý niệm được nhắm tới trong phạm vi riêng của tôi” (Trần Đức Thảo. Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Sđd., tr. 99 – 100).
606. “Tính vật chất là tầng cơ bản, nên đời sống động vật được tạo lập trên tính vật chất ấy. Ở đây không chỉ nói đến những động vật thực sự mà cả con người cũng là tồn tại của tự nhiên. Tâm hồn, đối tượng của tâm lý học, là một tầng “được dựa vào” cơ thể, mà nhờ vào mối quan hệ “dựa vào” ấy nó mới được xen vào thế giới không gian – thời gian” (THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr.103 –104).
607. “Bây giờ ta hiểu ý nghĩa của sự hiểu lầm đã đối lập các môn đồ với kẻ học sách vở khi xuất bản tập thứ nhất của tác phẩm “Các ý niệm”, làm ảnh hưởng tai hại đến số phận của trường phái hiện tượng luận. Thí dụ đặc cách về sự tạo lập vật đã làm cho chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm bị coi là phủ định sự tồn tại tuyệt đối của khách thể. Một sự phủ định như vậy xuất hiện là trái với các chủ định sâu xa của học thuyết. Nó làm cho hiện tượng luận xích lại gần với chủ nghĩa phê phán, hơn nữa chưa được gắn bó chặt chẽ, vì ý thức mà ta trở lại là một ý thức nhất thời” (Sđd., tr. 101).
608. Sđd., tr. 105
609. Bản chất là theo cách gọi của chúng tôi, còn Thể tính là theo cách gọi của Phạm Công Thiện. Cả hai cách gọi đều xuất phát từ cách dịch thuật ngữ essence. Trong bài, chúng tôi sử dụng cách gọi bản chất khi đưa ra diễn giải của mình về essence của cái gì đó, và sử dụng cách gọi Thể tính khi đưa ra quan điểm phản biện lại quan điểm của Phạm Công Thiện khi phê phán Trần Đức Thảo. Bản chất/ essence: Nghĩa là cái mà giúp cho sự vật bộc lộ ra là nó để ta có thể hiểu được. Để hiểu được, thì chủ thể nhận thức phải cho sự vật nghĩa, giúp cho nó phơi bày bản chất trước ta như là nó. Vì vậy, bản chất của sự vật là cái nghĩa mà chủ thể cấp cho nó, gán cho nó, và nó trong quan hệ với chủ thể nhận thức là một hành động “chào đón”, “mở ra”, “thu nhận vào”. Nhờ việc cấp nghĩa cho sự vật để sự vật có “ý nghĩa” ấy, thì cũng cùng lúc, chủ thể tự tạo ra “ý nghĩa” của chính mình. Nói ra sự hiểu đúng đắn của mình về sự vật đúng như sự vật “cho ta” (nghĩa là mô tả hiện tượng luận), thì đó là ý nhĩa độc lập, là lập thức, là bản chất của chủ thể được phơi bày ra thế giới.
610. “Các sự vật không tự xác định đối với tôi bằng đặc tính vật chất mà bằng các dạng đã sống trải của chúng, với các tiền đề về giá trị và hành động. Chúng chỉ tồn tại đối với tôi, khi tôi tri giác chúng, với ý nghĩa chúng có đối với cuộc sống thực tế của tôi, và tất cả sự tồn tại tinh thần của chúng là ở nghĩa đó” (Sđd., tr. 104 – 105.)
611. Xem: HEGEL, G. W. F. (2008). Khoa học logic. Hà Nội: Nxb Tri thức.
612. HEIDEGGER, M., Về thể tính của chân lý. Sđd., tr. XXIII.
613. THẢO, Trần Đức [1951] (2004). Sđd., tr.105.
614. Dẫn theo ÍCH, Tam (1969). Sartre và Heidegger trên thảm xanh. Sài Gòn: Nxb Hồng Đức, tr. 216–217.
615. Năm 1927, Heidegger cho xuất bản phần 1 của Sein und Zeit nhưng chỉ giới hạn tới mục thứ 2 của phầnNhững nền tảng phá hủy hiện tượng luận lịch sử hữu thể học trên sự dẫn nhập của khả thể nghi vấn thời tính là: “Hiện hữu hiển thể và thời tính”. Trong đó, mục thứ 3 của phần này: Zeit und Sein/ “Thời gian và Hữu thể” thì vào năm 1962, nghĩa là 35 năm sau lần xuất bản cuốn Sein und Zeit, Heidegger mới đề cập trong một bài diễn thuyết cùng tên. Điều đó cho thấy, kể từ đó đến nay, nó chưa từng được viết ra và chưa từng được xuất bản hay công bố rộng rãi dưới dạng văn bản. Rất có thể Trần Đức Thảo chưa được biết đến bài diễn thuyết này của Heidegger, khi ông cho công bố Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng bằng tiếng Pháp năm 1951 tại nhà Minh Tân. Trong tác phẩm này, Trần Đức Thảo đã tìm ra tính cụ thể của hiện hữu bên trong khái niệm sử tính và thời tínhcủa Heidegger (nghĩa là sau 24 năm khi Hữu thể và Thời gian xuất bản (1927 – 1951)), và củng cố, rồi đi đến khẳng định lý luận ấy trong tác phẩm cuối đời Sự logic của thời Hiện tại sống động (xuất bản năm 1993). Nghĩa là, Trần Đức Thảo đã góp phần hoàn thiện ý tưởng về Thời gian và Hữu thể / Zeit und Sein – phần II tác phẩm Sein und Zeit của Heidegger đúng 66 năm (1927 – 1993)), dù rằng tác phẩm này của Trần Đức Thảo cũng dở dang giống như Hữu thể và thời gian của Heidegger. Nhưng điều này lại chứng minh Trần Đức Thảo không những hiểu Heidegger nói gì, mà ông còn có công bổ sung chính tác phẩm của Heidegger, khi mà nhân loại chưa được biết đến di cảo cuối cùng Thời gian và Hữu thểcủa ông.
616. Theo Đặng Phùng Quân thì “Friedrich–Wilhem von Hermann, người cộng sự của Heidegger trong việc chuẩn bị cho công việc xuất bản Toàn tập GA, đã viết tham luận cho Hội nghị kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Heidegger tổ chức tại Chicago năm 1989, với tiêu đề SuZ và Những vấn đề cơ sở của Hiện tượng luận kể lại khi đưa in tác phẩm SuZ, Heidegger có kèm bản viết Thời gian và Hữu thể cho phân đoạn 3/Dritter Abschnitt, phần 1/Erster Teil nhưng sau đó ông rút lại đoạn văn này, với ý định sẽ khai triển tư tưởng phần này để xuất bản thành tập 2 của SuZ; quá trình ấy là thành quả cơ sở của giáo trình 1927” (Luận về khái niệm Destruktion của Heidegger).
617. THAO, Trân Duc (1993b).
618. Nguyễn Đức Truyến dịch, Nguyễn Trung Kiên hiệu đính. Nguồn: BENSOIST, J. & M. Espagne (2013).
619. Tài liệu tham khảo: CLAESGES, U. (1972); FEDERICI, S. (1970); HABERMAS, J. (1973), (1987); HEIDEGGER, M. (1993); HUSSERL, E. (1976a), (1976b); JANSSEN, P. (2008); LANDGREBE, L. (1977) PERREAU, L. (2000); STOKOE, W. C. (1996); THAO, Tran Duc [1951] (1992); THAO, Trân Duc (1973).
620. Sau khi Hội thảo quốc tế L’itinéraire de Tran Duc Thao: Phénoménologie et transfert culturel [Hành trình của Trần Đức Thảo – Hiện tượng luận và tiếp biến văn hóa] diễn ra tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm vào tháng 5/2012, tôi đã gửi thư tới Giáo sư Masoud P. Tochahi (Đại học Paris III), xin phép sử dụng bài tham luận của ông tại cuộc Hội thảo trên cho cuốn sách này. Một thời gian ngắn sau, ông phản hồi và nói rất vinh dự khi bài tham luận này được giới thiệu rộng rãi tới các độc giả Việt Nam. Giới thiệu bản dịch tiếng Việt bài tham luận này của ông, tôi kỳ vọng sẽ mở ra được mối quan hệ hợp tác trong việc dịch thuật và xuất bản Tổng tập Trần Đức Thảo trong tương lai. (BS)
621. Husserl thường nói về “đời sống thực tiễn trong tính tổng thể của nó”. Xem, ví dụ, HUSSERL, E. [1936] (1976). Die Krisis der europäischen Wissenschaften und die transzendentale Phänomenologie [Sự khủng hoảng của các khoa học châu Âu và triết học tiên nghiệm], 2. Auflage, hrsg. von.Walter Biemel, Haag: Martinus Nijhoff, p. 124.
622. Ibid., p. 51.
623. Ở một đoạn trong Krisis, Husserl đã đề cập đến những khó khăn này: “Một trong những khó khăn lớn của cách tư duy luôn cố gắng khai thác mọi lúc và mọi nơi, ‘sự cấu thành nguyên thủy’, tức thế giới đời sống trước và ngoài khoa học, bao gồm trong bản thân nó toàn bộ đời sống hiện tại (gồm cả đời sống của tư tưởng khoa học) và nuôi dưỡng nó với tư cách nguồn gốc của những hình thái ý nghĩa đã được phát triển – một trong những khó khăn của cách tư duy này, như tôi đã nói, là phải chọn cách nói hồn nhiên về đời sống nhưng cũng phải điều chỉnh nó như một công cụ ở chỗ bằng chứng của các chứng minh đòi hỏi”, Ibid. p. 9 & 68; cũng tham khảo: “Thế giới đời sống”, trong: BENSOIST, J. & V. Gerard (eds.) (2010). Husserl. Paris: Elipses p. 252.
624. Ibid, p. 59.
625. Ibid, p. 34, 51.
626. WALDENFELS, B., “Lebenswelt und zwischen Alltäglichem Unalltäglichem”, trong: Phänomenologie im Widerstreit Zum 50. Todestag Edmund Husserls, HRSG. ch von und O. Jamme Pöggeler, Frankfurt am Main: Suhrkamp, 1989, p. 107.
627. Husserl, Krisis, p. 378, 381.
628. Husserl nói: “Thế giới–đời sống, tập hợp trong bản thân nó một cách tuyệt đối mọi hình thái thực tiễn (ngay cả các khoa học khách quan với tư cách các sự kiện văn hóa trong khi tránh tham gia vào những lợi ích của họ) chắc chắn có liên quan đến tính chủ quan trong sự thay đổi thường xuyên của các tính tương đối. “Husserl, Krisis, tr. 176, fr. p. 197.
629. Ibid.
630. Ibid., o. 183 và 204.
631. Ludwig Landgrebe, “Lebenswelt und Geschichtlichkeit của menschlichen Daseins” [Thế giới đời sống và sử tính trong sự tồn tại của hữu thể người], trong: Phänomenologie und Marxismus [Hiện tượng luận và chủ nghĩa Marx], HRSG. Bernard von Waldenfels a. a, Frankfurt am Main. Suhrkamp 1977, p. 18
632. Trong đoạn này của tác phẩm Logic của các khoa học xã hội, chúng ta tìm thấy một bản tóm tắt về sự phê phán của Habermas: “Tuy nhiên, các nhà hiện tượng luận luôn xuất phát từ kinh nghiệm của thế giới được cảm nhận có tính cá nhân của họ để đạt được, nhờ trừu tượng hóa và khái quát hóa, những hiệu năng của tính chủ quan tạo lập của ý nghĩa. Chúng ta chắc chắn có thể nghiên cứu theo cách này sự hình thành của thế giới được cảm nhận theo tính khái quát trừu tượng của nó. Nhưng kết quả là chúng ta không gặp bất kỳ thế giới được cảm nhận nào mang tính lịch sử và cụ thể, trừ thế giới của chính nhà hiện tượng luận. Chắc chắn, chúng ta có thể tiến hành một mô tả hiện tượng luận vì ở đó chỉ có, theo cách chung, những thế giới được cảm nhận mang tính cá nhân không thể quy giản. Nhưng nhận định trừu tượng này vẫn chưa giúp chúng ta vượt qua hàng rào ngăn cách một mô tả hiện tượng luận về cấu trúc của thế giới được cảm nhận chỉ mang tính xã hội, và sự lo sợ của mọi thế giới được cảm nhận có thể mang tính cá nhân, cho dù đó có thể là thế giới của một cá nhân hay thế giới của một nhóm xã hội. Trong trường hợp này, chúng ta không còn có thể bằng lòng với sự khái quát từ kinh nghiệm cá nhân, mà ở đó Schutz luôn luôn dừng lại, làm một đệ tử tốt của Husserl như ông đã là như vậy”. HABERMAS, J. (1973). Zur Logik der Sozialwissenschaften [Logic của các khoa học xã hội], 3. Auflage, Frankfurt am Main: Suhrkamp, p. 214, 148.
633. Về vấn đề này, Heidegger nhấn mạnh: “Bằng cách này, ông đã được chỉ ra rằng hiện tượng luận đang phải vật lộn với một nghịch lý thường trực mà chúng ta sẽ xem như nghịch lý có nguồn gốc từ cuộc sống tự và cho nó”. Heidegger, Grundprobleme der Phänomenologie [Những vấn đề cơ bản của hiện tượng luận], tr. 2. Cái mà, trái lại, là một cuộc sống tự nó (Leben an sich), Heidegger định nghĩa nó như: “cái gần gũi với chúng ta đến mức chúng ta không thể tương tác với nó một cách biểu cảm và cái mà trong quan hệ với nó chúng ta không còn thậm chí cả khoảng cách để có thể nhìn nó trong “tính tuyệt đối” của nó, và cái khoảng cách mà trong quan hệ với nó là thiếu vì bản thân chúng ta là nó và chúng ta chỉ nhìn chính mình qua cuộc sống, mà chúng ta là, một cuộc sống thuộc về chúng ta (theo cách chỉ đối tượng của hành động), và thông qua những hướng riêng của nó”.Ibid., tr. 29.
634. Ibid., p. 27, 81.
635. Ibid., p. 35.
636. Ibid., p. 42.
637. Ibid., p. 59.
638. Ibid., p. 62.
639. Ibid., p. 64.
640. Heidgger đã đặt câu hỏi một cách triệt để, nếu “ý tưởng của hiện tượng luận như một khoa học về nguồn gốc của đời sống – một khoa học chặt chẽ và triệt để nhất – không mâu thuẫn trong bản thân nó, trong chừng mực như một khoa học chặt chẽ nhất và triệt để nhất về đời sống, đưa đời sống theo cách triệt để nhất vào trong một sự hủy diệt khách thể hóa và khoa học và còn kết thúc theo cách triệt để nhất và bất cẩn nhất…”. Xem Tlđd., tr. 78. Ngoài mâu thuẫn này, Heidegger còn nhấn mạnh hai vấn đề khác hình thành nên hiện tượng luận như một khoa học. Nói cách khác, làm thế nào để thực hiện một khoa học về đời sống khi đời sống này với tư cách là một tổng thể không bao giờ được đưa ra về mặt sự kiện… Trái lại, tất cả các khoa học với sự chuyên môn hóa và tập trung của chúng vào một lĩnh vực cụ thể của đời sống dường như luôn xem nó như một tổng thể. Vì vậy, việc coi đời sống như một tổng thể bởi một khoa học về nguồn gốc là hiện tượng luận có thể là không cần thiết. Để tránh loại vấn đề như vậy, Heidegger nhấn mạnh về mối quan hệ của thế giới của đời sống với nguồn gốc của nó và thực tế là thế giới–đời sống trở thành đối tượng của hiện tượng luận với tư cách cái gì đó “được bắt nguồn” (entspringend) từ một nguồn gốc. Xu hướng này của việc nghiên cứu về nguồn gốc đồng thời ngăn cản sự chồng chéo với những khoa học khác và biện minh cho logic của một khoa học về nguồn gốc.
641. Heidegger, Grundprobleme der Phänomenologie, p. 83.
642. THAO, Trân Duc (1951), p. 6.
643. Landgrebe, “Lebenswelt und Geschichtlichkeit des menschlichen Daseins” [Thế giới–đời sống và sử tính của sự tồn tại người], p. 14.
644. THAO, Trân Duc (1951), p. 7–8.
645. Đoạn này được dùng làm dẫn chứng: “Nếu chúng ta nhớ rằng những hiện thực tâm lý, được xác định trên bình diện cá nhân, có trước sự nhận thức của người khác, tương ứng với kinh nghiệm của đời sống loài vật, chúng ta thấy rằng cái ‚cấu thành siêu nghiệm”, như thể hiện của phần còn lại chính thiên hướng của các phân tích về sự cấu thành trong bản thảo của tác phẩm Ideen II, chỉ làm việc lấy lại trên bình diện trừu tượng của sự cảm nhận, sự biến đổi hiện thực từ vật chất đến cuộc sống, và từ cuộc sống đến tinh thần, được hiểu như là sự tồn tại xã hội”. Tlđd., p. 8.
646. THAO, Trân Duc (1951), p. 238–241.
647. THAO, Trân Duc (1951), p. 9.
648. Tlđd.
649. Đối với mọi cái thuộc về sự đoạn tuyệt, Thảo dường như chưa quyết định. Trong một đoạn văn trong phần giới thiệu Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng, ông khẳng định đã có ý định “hoàn tất các mô tả có chủ ý bằng các phân tích khách quan “nhưng do sự không tương thích” giữa“các dữ liệu thực tế trong ý thức về thực tế của họ” và “cái tuyệt đối mang tính hiện tượng luận của các ý định được cảm nhận”, ông coi nó như là không thể. Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận rằng Thảo vẫn hoàn toàn trung thành với những nguyên tắc của hiện tượng luận khi sử dụng các thuật ngữ có tính kỹ thuật như “tính chủ đích”, “diễn ngôn nội tại”, “cảm nhận”, “hành động”, vv. Xem: THAO, Trân Duc (1951), p. 18; và THAO, Trân Duc (1973), p. 18, 19.
650. THAO, Trân Duc (1951), p. 9.
651. Khi đọc Thảo, chúng ta dần dần gặp những đoạn mà ông nói về triết học một cách khinh miệt: “Vì vậy, các vấn đề truyền thống đã được đề cập đầy đủ trong khuôn khổ của chủ nghĩa Marx và không có lý do gì để ngần ngại rút ra từ những khó khăn kỹ thuật mà chúng ta gặp phải trong hiện tượng luận, những hậu quả hoàn toàn mang tính triết học của chúng” (THAO, Trân Duc (1951), p. 18).
652. THAO, Trân Duc (1951), p. 12; cũng xem, Ibid., p. 16.
653. Tuy nhiên, dần dần Thảo cũng đưa ra những ví dụ không chỉ không tương thích với cái mà ông đã thiết lập như các lĩnh vực nghiên cứu của mình, mà đôi khi chúng cũng tỏ ra chủ quan nhằm làm rõ cái mà ông tìm cách giải thích. Chúng ta có thể đưa ra ví dụ về một thủy thủ, khi đang thoát ra khỏi một cơn bão và tiếp cận bờ biển, “chỉ ngón trỏ vào hướng đất liền,” bởi vì “độ dài bất thường của cuộc hành trình phải chăng đã chia cắt người thủy thủ đang nóng lòng tìm lại đất liền”. Những giải thích này vả chăng cũng không thuyết phục lắm: “Khi bờ biển xuất hiện, cảm xúc làm cho anhhoàn tất cái cử chỉ mà thông thường nó chỉ vừa mới được phác họa. Do đó khi ngoại quan hóa sự vận động, anh ta đã củng cố sự tin chắc có thể cảm nhận được của mình về đối tượng, vì sự tin chắc này chính xác là ở trong cử chỉ được cảm nhận của hành động chỉ cho chính bản thân mình”. Xem: THAO, Trân Duc (1973), p. 33.
654. Ibid., p.12.
655. Ibid., p. 30.
656. Ibid., p. 34.
657. Ibid., p. 39.
658. Việc đọc tác phẩm của Thảo có những khó khăn riêng của nó. Ông trình bày các ý tưởng của mình theo cách xoay vòng, tức là ông không ngại lấy lại một cách không đúng lúc mọi cái mà ông đã xử lý trước đó. Với mọi cái thuộc mối quan hệ từ ý thức đến vật chất và các quan hệ của những cái này với ngôn ngữ, ông cũng nói muộn hơn một chút, nhưng cái cách mà ông bàn về chúng vẫn ít nhiều tương tự. Ibid., p. 49–57.
659. Ibid., p. 34.
660. Ibid., p. 13.
661. Ibid., p. 14.
662. Thảo định nghĩa ý thức theo cách sau: “Vì thế chính bản thân phép biện chứng này nơi sự có đi có lại của dấu hiệu bị biến mất trong hình thức của bản sắc, cái làm nảy sinh cấu trúc của sự cảm nhận mà ở đó hình thành mối quan hệ với bản thân với tư cách là ý thức. Ý thức được thể hiện theo cách đồng nhất như ý thức về đối tượng và ý thức về bản thân. Với tư cách là ý thức về đối tượng, nó là hình ảnh của đối tượng được đặt như ở bên ngoài nó. Với tư cách là ý thức về bản thân, nó là hình ảnh của hình ảnh này hay hình ảnh của bản thân nó trong bản thân nó”. Ibid., p. 25.
663. Ibid., p. 16.
664. Ibid., p. 17.
665. Ibid., p. 18, cũng xem p. 40.
666. Ibid., p. 40–42.
667. Tlđd., tr. 108–109.
668. Ibid., p. 43.
669. Ibid., p. 46.
670. Ibid., p. 49.
671. Ibid., p. 53.
672. Ibid., p. 241.
673. Bài viết nhân dịp xét truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Giáo sư Trần Đức Thảo. Nguồn: NGỌC, Phan (2000). Bản sử dụng ở đây có chỉnh sửa một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
674. Trên thực tế, bản gốc tiếng Pháp của tác phẩm này, có sửa chữa của tác giả, hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Cù Huy Chử & Cù Huy Song Hà. (BS)
675. Năm Freud xuất bản tác phẩm Wandlungen und Symbole der Libido [Những biến thể và tượng trưng của libido]. (BS)
676. Nguồn: THÚY, Đỗ Lai (1996).
677. Nguyễn Trung Kiên lược dịch. Nguồn: FEDERICI, S. (1970).
678. THAO, Trân Duc (1966).
679. THAO, Trân Duc (1969b).
680. Ibid., p. 6 – 7.
681. Ibid.
682. Ibid., p. 7.
683. Ibid., p. 8 – 9.
684. Ibid., p. 11 – 12.
685. Ibid., p. 13.
686. Ibid., p. 14.
687. Ibid., p. 20.
688. Ibid., p. 21.
689. Ibid., p. 23.
690. THAO, Trân Duc (1969a), p. 6.
691. Ibid., p. 9.
692. Ibid., p. 9–10.
693. Ibid., p. 10–15.
694. Đây là thuật ngữ của Trần Đức Thảo mượn của Husserl, cùng với khung khái niệm của Husserl.
695. THAO, Trân Duc (1969a), p. 25.
696. Ibid., p. 36.
697. THAO, Trân Duc (1969b), p. 82.
698. Ibid., p. 36.
699. Nguyễn Trung Kiên dịch. Bài điểm sách; nguồn: BARBIBEAU, J. (1963).
700. THAO, Trân Duc [1973] (1984). Bản gốc: THAO, Trân Duc (1973).
701. A. Spirkin (1918–2004): nhà triết học, tâm lý học và nhân chủng học Xô–viết Ông nghiên cứu chuyên sâu về nguồn gốc của ý thức và tự ý thức, và ngành điều khiển học (cybernetics). Ông là Phó Chủ tịch Hội nghiên cứu Triết học Xô–viết, và thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Xô–viết. (BS)
702. Iakimov, V.P., The Origins of Man [Những nguồn gốc của Con người], Moscow (1964). Spirkin, A., The Origin of Consciousness [Nguồn gốc của Ý thức], Moscow (1960). (Thảo đã sống tại Pháp một vài năm, ở đây ông cũng giới thiệu các tác giả Xô–viết này đến độc giả Pháp).
703. V.P. Iakimov: nhà nhân chủng học Liên Xô nổi tiếng. Ông có nhiều đóng góp quan trọng để xây dựng và phát triển ngành nhân chủng học Xô–viết nói chung và khảo cổ học Xô–viết nói riêng, với nhiều thành tựu quan trọng. (BS)
704. Trong thập niên 1950, Thảo đã viết một vài nghiên cứu chuyên đề về Husserl và Marx, bao gồm tác phẩm Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng (1951). Trong thập niên 1960, ông cố gắng phát triển phương pháp hiện tượng luận, trên cơ sở cố gắng loại bỏ triệt để chủ nghĩa duy tâm của Husserl, để có thể tổng hợp phương pháp này với phép duy vật biện chứng. Cuốn sách này cũng cố gắng hướng đến mục đích đó. Phản ánh lý thuyết của Spirkin về những nguồn gốc của ý thức và ngôn ngữ, và các nghiên cứu về chuyên ngành ký hiệu học và ngôn ngữ học từ mô hình của Ferdinand de Saussure (Cours de Linguistique [Giáo trình ngôn ngữ học], Payot. Paris: 1915), Trần Đức Thảo đã hướng tới một ngành ký hiệu học biện chứng thông qua sự phê phán hiện tượng luận Husserl.
705. Lý thuyết duy vật lịch sử về tự nhận thức dựa trên sự trao đổi qua lại lẫn nhau của các mối quan hệ xã hội; trong hoạt động lao động tập thể, người lao động chỉ ra đối tượng cho nhau trên cơ sở những nỗ lực chung của họ. Mỗi người lần lượt, thậm chí đồng thời, vừa là người nhận chỉ dẫn, vừa là người gửi chỉ dẫn; hắn vừa là người hướng dẫn, vừa là người được hướng dẫn. Nói cách khác, mỗi người nhìn thấy trong người khác một sinh thể tương tự như hắn, thực hiện động tác chỉ dẫn giống hắn, và rõ ràng là hắn nhìn thấy chính mình ở trong người khác, nên cái hình ảnh kéo dài của môi trường xã hội cho phép hắn, khi ở một mình, sử dụng cái nhìn của những người đó – những người đồng thời là một cái tôi khác của hắn, để chỉ ra đối tượng cho chính hắn.
706. SOKOLOV, E.N., Inner Speech and Thought [Tiếng nói bên trong và Tư duy], New York: Plenum (1972). (Sokolov cung cấp một phân tích giải phẫu thần kinh về cơ sở vật chất của ngôn ngữ bên trong).
707. Trong tác phẩm Materialism and Empirio–criticism [Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán] (tr. 51), cảm giác được định nghĩa là hình thức đơn giản nhất của ý thức. Trong tác phẩm “Philosophical Notebooks” [Bút ký triết học] (tr. 182), Lenin giải thích kỹ hơn là: “Ý thức chính là bộ não trong sự vận động tư duy của chúng. Do đó ý thức không chỉ đơn giản là sự vận động sinh hóa. Đó là sự vận động sinh lý thần kinh phức tạp nhất của não bộ cấu thành nên những hình thức của các động tác chỉ dẫn và các dấu hiệu ngôn ngữ, những yếu tố được định hình và phản ánh các hình thái tương tác xã hội của con người”.
708. PIAGET, J. (1976), The Child’s Construction of Reality [Sự xây dựng tính hiện thực ở trẻ em], London: Routledge and Kegan Paul. (Dịch từ tác phẩm: Piaget, J. (1397). La construction du reel chez l’enfant. Neuchatel: Delachaux et Niestle.)
709. Homo faber (Người chế tác) là một khái niệm triết học do Hannah Arendt và Max Scheler hình thành và phát triển, nhằm chỉ những giống ngưAời có khả năng kiểm soát môi trường thông qua các công cụ lao động. [Nguồn: Wikipedia] (ND)
710. Therese Gouin–Décairie (1923): Nhà nghiên cứu tâm lý trẻ em nổi tiếng. Là người chịu ảnh hưởng nhiều bởi Jean Piaget, bà tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Montréal và giảng dạy nhiều năm tại đây. Bà cũng tiến hành nghiên cứu và thực hành tâm lý tại Boston (Mỹ) và Paris (Pháp). Giáo sư Trần Đức Thảo đã tham khảo kết quả nghiên cứu của bà để xây dựng lý thuyết của ông về động tác chỉ dẫn (ND).
711. GOUIN-DÉCARIE,T. [1962] (1964). Intelligence and Affectivity in Early Child–hood [Trí thông minh và Tính dễ xúc động trong thời kỳ thơ ấu của trẻ em]. New York: International University Press. (Nguyên tác: Gouin–Décarie,T. (1962). Intelligence et affectivite chez le jeune enfant; etude experimentale de la notion d’objet chez Jean Piaget et de la relation objectale. Neuchatel: Delachaux et Niestle).
712. Ở người vượn, đó có thể là báo hiệu cho đồng loại về dấu vết của con mồi, hay báo hiệu về sự nguy hiểm đang rình rập… (ND).
713. Phức hợp công cụ Kafuan (Kafuan tool complex): thuật ngữ nhân chủng học, dùng để chỉ loại công cụ đơn giản nhất từ đá cuội, là những viên đá được mài sắc ở một mặt, xuất hiện ở Kỷ nguyên Pleistocene Hạ (kéo dài trong khoảng từ 2,6 triệu năm đến 1,7 triệu năm trước đây). Phức hợp công cụ Kafuan tiến hóa thành Phức hợp công cụ Oldowan (cách đây khoảng 2,5 triệu năm), khi những viên đá cuội được mài sắc ở cả hai mặt. Tên gọi Kafuan và Oldowan bắt nguồn từ tên gọi của các di chỉ khảo cổ học tại miền Nam châu Phi, nơi các bằng chứng khảo cổ học về thời kỳ này được phát hiện: Kafu là tên một con sông ở Uganda, còn Olduwai là tên hẻm núi ở Tanzania. Những thuật ngữ này được nhà khảo cổ học và tự nhiên học người Anh vĩ đại Louis Leakey (1903–1972) đặt ra từ thập niên 1930 sau những phát hiện khảo cổ học mang tính cách mạng của ông về các công cụ lao động của Thời kỳ Đá đẽo, củng cố thêm cho giả thuyết về nguồn gốc và sự phát tích từ châu Phi của loài người (ND).
714. Nguồn: CẨN, Lê Nguyên (2014). Bản sử dụng ở đây có chỉnh sửa một số thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
715. THAO, Trân Duc (1973). Các trích dẫn liên quan đến quan điểm của tác giả Trần Đức Thảo trong bài viết của chúng tôi đều được lấy trực tiếp từ bản tiếng Pháp và do chúng tôi chuyển dịch sang tiếng Việt.
716. Dẫn theo Lời hậu bạt của nhà nghiên cứu Vasile Dem. Zamfirescu trong cuốn Direck Van Der Sternen: Luận phân tâm văn học: Opedipe vua (De Lotgevallen van Koning Oedipus). Bản tiếng Rumani. Người dịch sang tiếng Rumani: Paul Voicu–Dohotaru. Editura Univers, Bucureşt, 1996, tr. 139.
717. Marthe Robert: Romanul inceputurilor şi începuturile romanului. Bản tiếng Rumani. Người dịch sang tiếng Rumani: Paula Voicu–Dohotaru. Editura Univers, Bucureşti, 1986, tr. 86.
718. THAO, Trân Duc (1973), tr. 248.
719. Albert Jaquart: Con người và gene (Les hommes et leurs genes). Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Ngọc Thuần, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2010, tr. 3.
720. Dẫn theo Lời hậu bạt của nhà nghiên cứu Vasile Dem. Zamfirescu trong cuốn Direck Van Der Sternen: De Lotgevallen van Koning Oedipus. Tlđd., tr. 138.
721. THAO, Trân Duc (1973), tr. 245–340.
722. Tlđd., tr. 263.
723. Tlđd., tr. 296.
724. Tlđd., tr. 302.
725. Tlđd., tr. 307.
726. Tlđd., tr. 308.
727. Tlđd., tr. 309.
728. Tlđd., tr. 314–315.
729. Tlđd., tr. 316.
730. Tlđd., tr. 329.
731. Tlđd., tr. 336.
732. Tlđd., tr. 337.
733. Tlđd., tr. 340.
734. Tlđd., tr. 330.
744. Nguồn: CHỬ, Cù Huy & Cù Huy Song Hà (2011e).
745. Về tác phẩm Hồi ký, chúng tôi đã có lời giới thiệu ngắn và giới thiệu toàn văn trên ba số liên tiếp của Tạp chí Xưa & Nay (cơ quan ngôn luận của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam), từ số 376 (3/2011).
746. Tuyên bố Thượng Hải năm 1972: một văn kiện ngoại giao quan trọng được ký kết giữa Tổng thống Richard Nixon (Hoa Kỳ) và Thủ tướng Chu Ân Lai (Trung Quốc) trong chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Nixon, báo hiệu sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh trong các thập niên tiếp theo. (BS)
747. THẢO, Trần Đức (1978a), (1978b), (1978c), (1979).
748. THẢO, Trần Đức (1991c), (1991d).
749. Marx, Gründrisse der Kritik der Politischen Okonomie (Lời nói đầu của cuốn Phê phán kinh tế chính trị), tr. 391 – 392, bản tiếng Pháp. Trích theo Trần Đức Thảo trong Một hành trình. Nguồn: THẢO, Trần Đức [1986] (2004), tr. 20.
750. THẢO, Trần Đức [1986] (2004), tr. 25.
751. THẢO, Trần Đức [1986] (2004).
752. Xem: Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp, trong Toàn tập Hồ Chí Minh, tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2000, tr. 350.
753. Marx, Sự khốn cùng của triết học, bản tiếng Pháp, Ed. Giarad, tr. 197. Dẫn theo: THẢO, Trần Đức, Nói rõ thêm một số luận điểm trong cuốn Vấn đề con người và chủ nghĩa “lý luận không có con người”, Tạp chí Giáo dục lý luận, tháng 5/1990, tr. 21.
754. Lenin, Toàn tập, tập 29, Nhà xuất bản Tiến bộ và Nhà xuất bản Sự thật, Mát–xcơ–va và Hà Nội, 1981, tr. 381 (đối chiếu với bản tiếng Nga, tr. 321).
755. Engels, Biện chứng của tự nhiên. Dẫn theo: THẢO, Trần Đức [1986] (2004), tr. 30.
756. THẢO, Trần Đức [1986] (2004), tr. 30 – 32.
757. Lenin, Bút ký triết học, bản tiếng Nga, tr. 203, 227. Đối chiếu với bản tiếng Việt: Lenin toàn tập, tập 29, Nhà xuất bản Tiến bộ, 1981, Hà Nội, tr. 240, 268.
758. Lenin, Bút ký triết học, bản tiếng Nga, tr. 227.
759. Marx, Gründrisse der Kritik der Politischen Okonomie, Lời nói đầu của cuốn Phê phán kinh tế chính trị, tr. 391 – 392, bản tiếng Pháp. Dẫn theo: THẢO, Trần Đức (1989c).
760. Các Mác, Hệ tư tưởng Đức. Bản tiếng Đức, tr. 16. Dẫn theo Trần Đức Thảo, Sự phát sinh của hệ thống lịch sử giống người.
761. Xem: Các Mác, Thư gửi An–nen–cốp. Nguồn: Các Mác và Phri–đrích Engels, Tuyển tập, tập 1. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 786 – 803.
762. C. Mác và Ph. Ăng–ghen, Toàn tập, t. 23. Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 1993, tr. 87.
763. THẢO, Trần Đức (1955b), (1955c).
764. THẢO, Trần Đức (kh. 1963). Sur l’origine de chimpanzés. Hà Nội: Văn bản viết tay.
765. THAO, Trân Duc (1966).
766. THAO, Trân Duc (1969a), (1969b), (1970).
767. THAO, Trân Duc (1973).
768. THẢO, Trần Đức [1986] (2004), tr. 103.
769. Leibniz, Lời tựa cuốn ‘Những tiểu luận mới về lý trí con người’. Tlđd., tr. 103.
770. Engels. Biện chứng của tự nhiên. Bản tiếng Pháp, Ed. Sociales, tr. 174. Trích theo Trần Đức Thảo.
771. Xem: Ăng–ghen, Thư gửi Pi–ốt La–vrô–vích La–vrốp. Nguồn: Các Mác và Phri–đrích Ăng–ghen, Tuyển tập, tập 4. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 598 – 599.
772. Trong những lần chúng tôi đi theo Trần Đức Thảo đến các nhà trẻ ở Hà Nội, Trần Đức Thảo đã có nhận xét như trên. Ông còn giải thích cho chúng tôi, tại sao đứa trẻ chỉ cười rún rẩy khi nhìn thấy chiếc mặt nạ có hình ảnh cái trán và đôi mắt, chứ không cười và rún rẩy khi cái mặt nạ bị che đi cái trán và đôi mắt. Sở dĩ thế vì trong các tập đoàn động vật, từ con bò, và đặc biệt đến con khỉ, khi hoạt động, đặc biệt khi kiếm ăn, thì những con khác chỉ nhận ra đồng loại của mình ở cái trán và đôi mắt, điều ấy trở thành phản xạ mang tính bẩm sinh trong con người. Trần Đức Thảo nói thêm với chúng tôi: Người bảo mẫu thường dỗ đứa trẻ đang khóc bằng cách bế một đứa trẻ khác lên trước mặt nó, lập tức đứa trẻ sẽ trở nên vui vẻ hơn, bởi cái phản xạ bẩm sinh trong nó được thức dậy. Ông nói, điều đó như là sự giao thoa của các luồng ánh sáng trên cái nền của một bức tường, cái phản xạ bẩm sinh được phóng chiếu làm cho tâm lý đứa trẻ trở nên hoạt bát và phong phú.
773. THẢO, Trần Đức [1986] (2004), tr. 112.
774. Một giai đoạn trong Thời kỳ Đồ đá Cũ, cách đây khoảng 1,76 triệu năm. Đây là giai đoạn hình thành Người đứng thẳng (Homo erecta), và sau đó là Người khôn tối cổ (archaic Homo sapiens). Trong giai đoạn này, con người đã bắt đầu biết đứng thẳng và giải phóng hai chi trên để hình thành đôi tay, qua đó biết chế tác dụng cụ thành công cụ. Tên Acheuléen được hình thành từ địa danh Saint–Acheul (vùng ngoại ô của thành phố Amiens (miền Bắc nước Pháp), cách Amiens khoảng 3 km về phía Đông Nam), nơi các bằng chứng khảo cổ về giai đoạn này được phát hiện, với niên đại khoảng 1,4 triệu năm. (BS)
775. THAO, Trân Duc (1966).
776. THẢO, Trần Đức (1969a), (1969b), (1970).
777. THẢO, Trần Đức (1955b), (1955c).
778. THAO, Trân Duc (1973).
779. THAO, Trân Duc (1988c), (1988d).
780. THẢO, Trần Đức (1978a), (1978b), (1978c), (1979).
781. THẢO, Trần Đức (1988a).
782. THẢO, Trần Đức (2004a). Cần nói rõ thêm, với tác phẩm này, Trần Đức Thảo để lại 11 bản thảo. Việc chọn dịch tùy thuộc vào sự tiếp cận bản thảo nào của Nhà xuất bản.
783. Để hoàn thành bài viết này, chúng tôi đã tham khảo các tài liệu của Daniel J. Herman và Trần Tri Vũ.
784. Achille: anh hùng trong thần thoại Hy Lạp, nhân vật chính trong sử thi Iliad của Homer, là một kiện tướng chạy nhanh. Trong nghịch lý Achille và con rùa của nhà toán học Hy Lạp cổ đại Zeno (kh. 490 – 430), Achille đứng tại điểm A và con rùa đứng tại điểm B. Cùng một lúc, Achille chạy về phía B để bắt con rùa, còn con rùa chạy cùng chiều với Achille trên đường thẳng AB. Để đến được điểm B, Achille phải lần lượt vượt qua một số vô hạn các trung điểm C1, C2,..., Cn,... của các đoạn AB, C1B,..., Cn – 1B,...; việc này không thể làm được trong một khoảng thời gian hữu hạn. Vì vậy, dù Achille có chạy nhanh đến đâu cũng không thể đạt tới điểm B, nên càng không thể đuổi kịp con rùa. Nghịch lý Achille và con rùa là cơ sở để xây dựng khái niệm tổng vô hạn, làm tiền đề để phát triển lý thuyết chuỗi và ngành giải tích. (BS)
785. THẢO, Trần Đức [1993c] (1997).
786. HERMAN, D.J. (1993).
787. THẢO, Trần Đức [1958a] (1995).
788. Có sự khác biệt trong nhịp điệu của thời gian giữa thời gian vật lý, thời gian sinh học, thời gian tâm lý, thời gian văn hóa...
789. VŨ, Trần Tri (2008).
790. Tlđd.
791. Trần Đức Thảo, đã dẫn.
792. THẢO, Trần Đức [1993c] (1997).
793. Nisus: khuynh hướng nỗ lực hiện thực hóa cái mục tiêu đề ra. (BS)
794. Appetitus: khuynh hướng bẩm sinh của một sự vật nhằm giúp chính nó tiếp tục tồn tại và phát triển. (BS)
795. MINH, Hồ Chí (2000). Toàn tập. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia–Sự thật, Tập 9, tr. 589.
796. Bài viết này sử dụng bản dịch tiếng Việt: THẢO, Trần Đức [1993c] (1997).
797. Nguồn: THAO, Trân Duc (1993c).
798. Tonic (hay trương lực, thể chậm), trong sinh lý học, dùng để chỉ trạng thái phản ứng sinh lý chậm. Khái niệm này thường được dùng để đối chọi với trạng thái phản ứng sinh lý nhanh (phasic). Ví dụ, trong giải phẫu, các cơ tonic thì tương phản với các cơ co giật, vốn nhanh hơn và phổ biến hơn. Trong thần kinh học (neurology), các múi thần kinh cảm giác tonic tương phản với các múi thần kinh cảm giác phasic. (Nguồn: Wikipedia) (BS)
799. Phasic (hay pha, thể nhanh), trong sinh lý học, dùng để chỉ trạng thái phản ứng nhanh chóng và mạnh mẽ với kích thích. Phasic có chu kỳ kích thích ngắn và có tính thích ứng nhanh. (Nguồn: Merriam – Webster Dictionary) (BS)
800. Nguồn: LIÊM, Nguyễn Hữu (2004).
801. Hegel, G. F., Philosophy of History. Trans. by J. Sibree. The Colonial Press, 1899.
802. W. Whitman, Democratic Vistas. The Little Library of Liberal Arts.
803. HEGEL, G.W.F., The Phenomenology of Mind. Trans. J.B. Baillie. Humanities Press, 1964. Bản dịch Việt Ngữ của Bùi Văn Nam Sơn từ nguyên bản tiếng Đức, Phanomenologie des Geists, đã được xuất bản ở Việt Nam.
804. MARX, K., A Contribution to the Critique of Hegel’s Philosophy of Right. Trans. & Edited. by J. O’Malley. Cambridge University Press, 1970.
805. CLEON-SKOUSON, W. (1961), The Naked Communist. Riverton, UT: Ensign Publishing.
806. THAO, Trân Duc (1986a). Bản Việt ngữ: THẢO, Trần Đức [1986a] (2004).
807. Sđd.
808. THẢO, Trần Đức [1958a] (1995).
809. THAO, Trân Duc (1986a).
810. Lý Đông A, Huyết Hoa, Nhóm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt, California, 1986.
811. Để có một cái nhìn về lịch sử, chẳng hạn, trên bình diện siêu nghiệm, xin đọc DeMotte, Charles (1977). The Inner Side of History. New York: Source Publications.
812. Nguồn: NGUYỄN, Luân (2013). Bản sử dụng ở đây đã được biên tập một số từ ngữ và thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
813. Arthur M. Schlesinger (1888–1965): nhà sử học Hoa Kỳ, James V. Schall (1928): nhà triết học, nhà văn và linh mục Hoa Kỳ. (BS)
814. Tác giả có một chút nhầm lẫn. Trên thực tế, Trần Đức Thảo sinh tại Thái Bình.
815. “Très brillante, la démonstration de Thao a le mérite immense de faire rentrer l’évolution des idées et des mythes dans l’évolution d’une Histoire profonde, quy est celle de la propriété, ou mieux encore de l’idée de la propriété”. Nguồn: BARTHES, R. (1951a).
816. Nguồn: GIAO, Nguyễn Ngọc (2012)
817. THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr. 18
818. THẢO, Trần Đức (1991b).
819. THẢO, Trần Đức [1951] (2004), tr. 17, 20.
820. THẢO, Trần Đức [1993c] (2012).
821. Tlđd.
822. Tlđd.
823. Nhiều tác giả (1986), Lịch sử phép biện chứng mác-xít, từ khi xuất hiện chủ nghĩa Marx đến giai đoạn Lenin, Nxb. Tiến bộ, Maxcơva.
824. Số liệu thực nghiệm.
825. Tlđd.
826. THẢO, Trần Đức [1993c] (2012).
827. Tlđd.
828. Tlđd.
829. Mác, C. & Ph. Ăng–ghen (1994). Toàn tập, tập 20. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 173 – 174.
830. Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô (1956).
831. LUẬT, Phạm Trọng (2004).
832. THẢO, Trần Đức (1988a).
833. Mác, C. & Ph. Ăng–ghen (1980).Tuyển tập, Tập 1. Hà Nội: Nhà xuất bản Sự thật, tr. 257.
834. THẢO, Trần Đức (1956b).
835. Mác, C. & Ph. Ăng–ghen (1993).Tuyển tập, Tập 5. Hà Nội: Nxb. Sự thật, tr. 164.
836. Mác, C. & Ph. Ăng–ghen (1995 ). Toàn tập, Tập 1. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. 100.
837. THAO, Trân Duc (1991f).
838. CHỬ, Cù Huy và Cù Huy Song Hà (2011e).
839. Theo Nguyễn Thanh Giang, khi Phạm Trọng Luật gặp Trần Đức Thảo ở Paris, hỏi về những tác phẩm trước đó của ông, ông chỉ khoát tay và cho xem bản thảo tác phẩm mới. Đó chính là tác phẩm Sự logic của thời Hiện tại sống động. Cũng theo Nguyễn Thanh Giang, năm 1981, ông vô tình nằm điều trị cùng phòng với Giáo sư Trần Đức Thảo tại Bệnh viện Việt – Xô (Trong vụ Nhân văn – Giai phẩm, triết gia thuộc diện “được”… chỉnh huấn về tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phải nhờ sự can thiệp của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông mới được điều trị tại đây): “Cả tuần lễ hầu như không có ai vào thăm ông. Ông nằm thui thủi và thường quay mặt vào tường. Thỉnh thoảng lại giơ bàn tay trái lên, nhìn chằm chằm qua kẽ tay lẩm bẩm một câu tiếng Pháp: “Une goutte d’eau claire est en train de tomber doucement” (Một giọt nước trong suốt đang từ từ rơi). Rồi ông khóc rưng rức, nho nhỏ”.
840. Bài viết này là một ghi chép vội những cảm xúc hình thành ở trong tôi trong quá trình biên soạn cuốn sách này. Do vậy, mong bạn đọc hãy coi bài viết này như là lời gợi mở cho những nghiên cứu so sánh về Jan Patočka và Trần Đức Thảo trong tương lai, đồng thời cũng là một lời gợi ý và sự mong muốn các dịch giả và giới nghiên cứu quan tâm nhiều hơn đến việc dịch và nghiên cứu triết học của Jan Patočka – một trong những nhà triết học tiêu biểu nhất của nền triết học Tiệp Khắc và triết học châu Âu hiện đại.
841. HERMAN, D.J. (1993).
842. THẢO, Trần Đức (1989b).
843. KOJÈVE, A. & Trần Đức Thảo [1948] (2004).
844. THAO, Trân Duc (1948).
845. THẢO, Trần Đức (1956a).
846. THẢO, Trần Đức (1989b).
847. Tlđd.
848. MARX, K. (1844). Ökonomisch – philosophische Manuskripte [Bản thảo kinh tế – triết học]. Nguồn: MARX, K. (1968). Manuscrits de 1844. Présent., trad. et notes de Emile Bottigelli. Paris: Ed. sociales, p. 91. Dẫn theo: THAO, Trân Duc [1946b] (2004).
852. Nguyễn Trung Kiên lược dịch. Nguồn: SPIRE, A. [1993] (2013).
853. Hai ngày sau khi Giáo sư Trần Đức Thảo qua đời, vào ngày Thứ Hai (26/4/1993), báo l’Humanité [Nhân đạo], cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp, đã đăng tin buồn kèm theo một bài báo ngắn về Giáo sư, của nhà báo và nhà triết học mác-xít Arnaud Spire, một nhà báo kỳ cựu trong làng báo chí cánh tả tại Pháp. Bài báo này là một trong những bài đầu tiên, mở đầu một loạt tin, bài trên báo và tạp chí của Pháp và của thế giới (Le Monde, New York Times…) về Giáo sư Trần Đức Thảo sau khi ông mất, trong đó có số chuyên đề về Giáo sư Trần Đức Thảo của tạp chí Les Temps modernes, vào tháng 11/1993, đăng tải ba chương đầu của tác phẩm gồm bốn chương, được Giáo sư hoàn thành vài ngày trước khi mất tại Paris, La Logique du Présent vivant (Sự logic của thời Hiện tại sống động) (ND).
854. Xuân Lộc dịch. Nguồn: JOVARY, J.–P. (1993).
855. Do tình hình chiến tranh thế giới (ND).
856. Hội nghị do Đảng Cộng sản Pháp khởi xướng, bàn về những khuynh hướng mới của chủ nghĩa Marx, đặc biệt là sự ảnh hưởng của luận phân tâm. Từ đây, bắt đầu xuất hiện sự khác biệt trong khuynh hướng chính trị và tư tưởng giữa các nhà triết học mác-xít vàtrí thức cánh tả tại châu Âu. (BS)
857. Nguồn: THI, Nguyễn Đình (1993).
858. Nguồn: GIÀU, Trần Văn (1993).
859. Cao thượng. (BS)
860. Nguồn: TRƯỜNG, Hà Xuân (1993).
861. Nguồn: HIỀN, Nguyễn Đức (1993).
862. Nguồn: CHÚ, Nguyễn Đình (1993).
863. Nguồn: HOÀI, Tô (1992), (1999). Tên bài do người biên soạn tạm đặt. (BS)
864. Nguồn: GIAO, Nguyễn Ngọc (2011). Do khuôn khổ của cuốn sách, bản sử dụng ở đây đã lược bớt một số chi tiết trong nguyên bản. (BS)
865. Françoise Corrèze: nhà dân tộc học và sử học Pháp, người bạn lớn của Việt Nam, người bạn thân thiết của hai Giáo sư Trần Đức Thảo và Nguyễn Khắc Viện. Với tình cảm yêu quý và trân trọng văn hóa, văn học và con người Việt Nam, bà đã cộng tác với nhà văn hóa Hữu Ngọc và nhiều chuyên gia của Việt Nam để giới thiệu văn học, ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam tới độc giả Pháp ngữ. Bà cũng là tác giả của nhiều biên khảo công phu về ba nước Đông Dương. Tác phẩm: Anthologie de la littérature populaire du Viêt – nam (Hợp tuyển văn học dân gian Việt Nam), soạn chung với nhà văn hóa Hữu Ngọc. (BS)
866. Laurent Schwartz (1915–2002): nhà toán học Pháp, giải thưởng Field năm 1950, có nhiều đóng góp lớn cho ngành giải tích toán học. (BS)
867. Georges Boudarel (1926–2003): nhà sử học và quân nhân Pháp. Năm 1949, Boudarel bỏ dạy học triết học ở Đà Lạt để gia nhập Việt Minh, được ông Phạm Ngọc Thạch phân công làm việc tại Địch vận Việt Minh. Sau Hiệp định Genève (1954), ông rời Việt Nam sang Tiệp Khắc một thời gian trước khi trở về Pháp đi học và bảo vệ luận án tiến sĩ sử học về Phan Bội Châu. (BS)
868. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2011a), (2011c), (2011d), (2011e), (2011f) (2011g).
869. Ngũ Huyện Khê: một chi lưu của sông Đuống, khởi nguồn từ núi Tam Đảo. (BS)
870. CHỬ, Cù Huy & Cù Huy Song Hà (2012).
871. Tức ông Phạm Văn Đồng.
872. Xem: Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 4. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, 2000, tr. 387.
873. Nguyễn Duy Trinh: ”Phát triển chế độ dân chủ nhân dân và bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân”, trong đó có đoạn: “Chúng ta cần cải biến tư tưởng và tác phong cũ, đồng thời xem xét chu đáo tình hình chính trị và quan hệ giai cấp trong nước và nước ngoài hiện nay, để mở rộng sinh hoạt dân chủ một cách đúng mức, có lãnh đạo, nhằm phát huy hơn nữa bản chất tốt của chế độ ta” (Tạp chí Học tập, số 10, tháng 10–1956, tr. 29).
874. THẢO, Trần Đức (1989a).
875. THẢO, Trần Đức (1956b).
876. THẢO, Trần Đức (1956c).
877. THẢO, Trần Đức (1958b).
878. Bộ trưởng Bộ Giáo dục.
879. Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục.
880. Tức ông Trường Chinh.
881. Louis Althusser (1918–1990), phụ trách Ban Tuyên huấn của Đảng Cộng sản Pháp.
882. Lucien Sève (1926), phụ trách Nhà xuất bản Xã hội của Đảng Cộng sản Pháp.
883. THAO, Trân Duc [1956a] (1965).
884. Tức quyển Mao Trạch Đông ngữ lục.
885. THẢO, Trần Đức (1964).
886. THẢO, Trần Đức (1991a), (1991b).
887. Gồm các bài: THẢO, Trần Đức (1978a), (1978b), (1978c), (1979).
888. THAO, Trân Duc (1973).
889. THẢO, Trần Đức (1987b).
890. THẢO, Trần Đức (1975b)
891. Tức Trường Chinh.
892. Tức tư duy siêu hình.
893. Tức Cù Huy Chử.
894. THAO, Trân Duc (1966).
895. THAO, Trân Duc (1969a) (1969b), (1970)
896. Roger Garaudy (1964).
897. DŨNG, Hoàng Quốc (2000). ”Đồng chí Phạm Văn Đồng – người bạn lớn của giới trí thức”. Lê Thọ Bìnhghi. Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh, ngày 9/5/2000, tr. 3.
898. Năm 1934, Nguyễn Văn Huyên là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ văn khoa tại Đại học Sorbonne (Paris) với luận án chính “Hát đối đáp nam nữ thanh niên ở An Nam” và luận án phụ “Nhập môn nghiên cứu nhà sàn ở Đông Nam Á”. (Nguồn: Wikipedia) (BS)
899. Ngày 11/7/1993, ít tháng sau khi triết gia Trần Đức Thảo qua đời, nhà thơ Huy Cận đã xúc động viết bài thơ tặng người bạn tâm giao của ông, với tựa đề Nhà triết học và lời đề tặng “Tặng hương hồn Trần Đức Thảo”: “Anh sinh ra ở miền Kinh Bắc, Đất nước thâm trầm nuôi dưỡng anh, Cha ông sông lắng dòng sâu sắc, Suy ngẫm nhân sinh tập đại thành. Cổ kim suy tưởng ôm hành động, Chân lý rèn trong lửa cuộc đời, Thế kỷ hai mươi hồn mở rộng, Gốc xưa nhựa ấm bật cành tươi. Chao ôi dao động, lòng chao đảo, Ai héoNhân văn, xấu kiếp người! Đã có giữa đời Trần Đức Thảo, Người ơi vững gót trụ đất trời. Triết nhân tẩn mấn như con trẻ, Từ tiếng u ơ tìm lại nguồn, Ngôn ngữ lắng trầm nghìn thế hệ, Giọng người đâu phải tiếng chim muông. Triết nhân có phải tăng nguồn sống, Cho mỗi hồn ta, cho thế nhân, Vất vả đường ai, nhưng gió lộng, Nâng chân muôn dặm bước hài văn”. Nguồn: KHUÊ, Phan Ngọc (2014). (BS)
900. Báo Nhân dân, thứ Bảy ngày 26/1/1991, số 13240.
901. Do tôi nhấn mạnh (CHC).
902. Alexandre Kojève (1902–1968) là nhà triết học lớn, đã sáng lập ra trường phái Hegel học ở Pháp. Bài giảng của ông về Hegel được coi là giáo trình chính thức của tất cả các trường Đại học Pháp trong nhiều thập kỷ. A. Kojève bao trùm lên nền triết học Pháp đầu thế kỷ XX. Trần Đức Thảo đã viết bài phê bình công trình về Hegel của Kojève; bởi vậy, mới có cuộc trao đổi thư từ trên. Khi ấy Kojève hơn Trần Đức Thảo 15 tuổi. Tham khảo: KIÊN, Nguyễn Trung (2012).
903. Các Mác. Tư bản – Phê phán khoa kinh tế chính trị. Tập thứ 3, Quyển 3, tr. 437 – 438. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1987.
904. Tiểu sử tự thuật. Nguồn: THẢO, Trần Đức (1984b).
906. Nguồn: VŨ, Thái (2007). Do khuôn khổ của cuốn sách, bản sử dụng ở đây là bản tóm lược của nguyên bản. (BS)
907. Cái gì có lý, cái ấy tồn tại, cái gì tồn tại, cái ấy có lý. (BS)
908. Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại. (BS)
909. Nguồn: CHÍNH, Nguyễn Đình (2007). Bản sử dụng ở đây có bổ sung một số chi tiết so với nguyên bản. (BS)
910. Nguồn: CHUẨN, Nguyễn Trọng (2013). Bản sử dụng trong cuốn sách này đã được biên tập một số từ ngữ và thuật ngữ để thống nhất với nội dung của toàn bộ cuốn sách. (BS)
911. Thư Trần Đức Thảo gửi Hà Xuân Trường ngày 18/1/1989: “Báo cáo về vấn đề Nhân văn”. Những tài liệu này ông Hà Xuân Trường trao lại cho GS. TS. Trương Gia Long, hiện là Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản.
912. THẢO, Trần Đức (1951).
913. Thư Trần Đức Thảo gửi Hà Xuân Trường ngày 18/1/1989, tài liệu đã dẫn.
914. Thư Trần Đức Thảo gửi Hà Xuân Trường ngày 15/6/1989, tài liệu đã dẫn.
915. Tlđd.
916. Thư Trần Đức Thảo gửi Hà Xuân Trường ngày 21/8/1989.
917. Tôi cũng không tiện nêu tên.
918. Thư Trần Đức Thảo gửi Hà Xuân Trường, ngày 15/06/1989: “Báo cáo về vấn đề Nhân văn”. Tài liệu đã dẫn.
919. Ví dụ, vấn đề đánh giá học thuyết Freud; vấn đề nguồn gốc loài người…
920. THẢO, Trần Đức (1984b).
921. Nguồn: HÀ, Thu (2006)..
922. Nguồn: KIÊN, Nguyễn Trung (2007a).
923. Nguồn: KIÊN, Nguyễn Trung (2007b). Bản sử dụng trong cuốn sách này này là bản đầy đủ, và có bổ sung, sửa chữa một số chi tiết so với bản đã công bố. (BS)
924. VŨ, Thái (2007).
925. F. Engels, Biện chứng của tự nhiên (dẫn theo Trần Đức Thảo)
926. Lời Trần Đức Thảo trả lời một phóng viên Pháp, sau khi được hỏi: “Người Đông Dương sẽ làm gì khi quân viễn chinh Pháp đổ bộ?”
927. Theo Kinh Thánh.
928. Theo đài Pháp RFI, sáng 28/4/1993, nhà nước Pháp dự kiến mai táng triết gia Trần Đức Thảo tại Nghĩa trang Père Lachaise tại Paris, nơi yên nghỉ của các danh nhân Pháp; nhưng phía Việt Nam đã yêu cầu hỏa táng và đưa tro về nước. Đến tháng 6/1993, Giáo sư Trần Đức Thảo đã được an táng tại Khu A, Nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội). Nghĩa trang Père Lachaise được thành lập từ năm 1804. Đây cũng là địa danh khép lại bộ tiểu thuyết Những người khốn khổ của đại văn hào Victor Hugo: Père Lachaise là nơi yên nghỉ của Jean Valjean – người tù khổ sai, chiến binh của Công xã Paris, nhân vật chính của tiểu thuyết. Trên mộ Jean Valjean có đề mấy dòng thơ, mà theo thời gian đã bị “cỏ che, mưa xóa”: Il dort. Quoique le sort fut pour lui bien étrange, Il vivait. Il mourut quand il n’eut plus son ange. La chose simplement d’elle – même arriva, Comme la nuit se fait lorsque le jour s’en va (Người nơi đây yên nghỉ, Thân thế lắm đắng cay, Vẫn cam sống bấy chầy..., Thiên thần một sớm bay, Người chết, đơn giản lắm, Như đêm nối tiếp ngày...) [Rút từ sổ tay của nhà văn Thái Vũ]. (BS)
929. Nguồn: LAN, Hương (2010).
930. Ngày 22 – 23/6/2012, Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm đã tổ chức Hội thảo quốc tế về Giáo sư Trần Đức Thảo, với chủ đề “L’itinéraire de Tran Duc Thao / Phénoménologie et transfert culturel” (Hành trình của Trần Đức Thảo / Hiện tượng luận và Chuyển giao văn hóa). Hội thảo này đã thu hút được nhiều chuyên gia trong ngành triết học và các ngành khoa học xã hội khác tại Pháp, Bỉ và Canada cùng tham dự. Giới thiệu nội dung buổi hội thảo này, tôi hi vọng chúng ta sẽ sớm tập hợp được bản sao của những tham luận tại hội thảo, nhằm tiến hành dịch thuật và xuất bản để giới thiệu với độc giả trong nước trong thời gian gần nhất. Đồng thời, Hội thảo này cũng mở ra cơ hội lớn trong việc thiết lập quan hệ hợp tác Pháp – Việt để xuất bản Tổng tập Trần Đức Thảo trong tương lai. (BS)
931. Giáo sư Jean–François Courtine (sinh năm 1944), là nhà hiện tượng luận và nhà lịch sử triết học. Ông từng giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm (Paris) và là Giám đốc Thư khố Husserl tại Paris từ năm 1987 tới năm 2009. Hiện ông đang giảng dạy về triết học đương đại tại Đại học Paris IV. Email: jean–francois.courtine@paris – sorbonne.fr.
932. Jocelyn Benoist sinh năm 1968, cựu sinh viên trường Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm (Paris), hiện đang giảng dạy triết học tại Đại học Paris 1, và là thành viên của Institut Universitaire de France. Ông hiện đang thỉnh giảng tại Khoa Triết học, Đại học Chicago (Hoa Kỳ). Email: benoist@uchicago.edu.
933. Jérôme Melançon đã bảo vệ luận án tiến sĩ triết học về Maurice Merleau–Ponty, hiện đang giảng dạy triết học tại Đại học Alberta (Canada). Email: jerome. melancon@ augustana.ca.
934. Daniel Hémery là sử gia Pháp, chuyên gia hàng đầu về Đông Dương thời kỳ thuộc địa, hiện đang giảng dạy sử học tại Đại học Paris VII.
935. Philippe Papin sinh năm 1967, là sử gia người Pháp. Hiện ông đang công tác tại Viện Viễn Đông Bác Cổ (Hà Nội).
936. Giáo sư Tiến sĩ Trịnh Văn Thảo sinh năm 1938 tại Sài Gòn. Hiện ông đang giảng dạy sử học và xã hội học tại Đại học tổng hợp Aix–Marseilles.
937. Masoud Pourahmadali Tochahi hiện đang giảng dạy Triết học tại Đại học Paris III. Email: mptochahi@yahoo.fr.
938. Daniel Giovannangeli, quốc tịch Bỉ, sinh tại Sài Gòn. Hiện ông đang giảng dạy triết học tại Đại học Liege và là chuyên gia về triết học của Derrida. Email: D.Giovannangeli@ulg.ac.be.
939. Raoul Moati hiện đang giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm (Paris).
940. Alexandre Feron là nghiên cứu sinh về triết học tại Đại học Paris I, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Renaud Barbaras. Ông nghiên cứu mối quan hệ giữa chủ nghĩa Marx và hiện tượng luận trong triết học Pháp, đặc biệt là về những tương đồng và khác biệt trong tư tưởng triết học của Sartre,Merleau–Ponty và Trần Đức Thảo. Email: Alexandre.Feron@univ–paris1.fr.
941. Perrine Simon – Nahum (sinh năm 1960) là sử gia Pháp, bà là nghiên cứu viên tại Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp, chuyên nghiên cứu về lịch sử đạo Do Thái và cộng đồng người Do Thái tại Pháp. Email: pnahum@ehess.fr.
942. Hoai Huong Nguyen – Aubert hiện đang là giáo sư trợ giảng về văn học châu Á tại Đại học Versailles – Saint Quentin. Bà nghiên cứu chuyên sâu về văn học so sánh, và mối quan hệ văn hóa giữa phương Tây và vùng Viễn Đông. Email: HoaiHuong. Nguyen–Aubert@iut–velizy.uvsq.fr.
943. Michel Espagne (sinh năm 1952) là nhà ngôn ngữ học Pháp. Ông hiện đang giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm (Paris). Ông nghiên cứu chuyên sâu về quá trình chuyển giao văn hóa giữa hai dân tộc Pháp và Đức. Email: michel.espagne @ens.fr.
944. Nguồn: GIAO, Nguyễn Ngọc (2012).
945. Theo Jocelyn Benoist, tạp chí Les Temps modernes không lưu trữ được tài liệu này. Về phía Trần Đức Thảo, trước khi về nước năm 1952, ông đã trao những bản tốc ký cho ông Nguyễn Văn Chỉ; rất tiếc ông bà Nguyễn Văn Chỉ đã từ trần, không có hậu duệ.
946. GIAO, Nguyễn Ngọc (2011).
947. Nguồn: PHƯƠNG, Nguyễn Thụy (2012).
948. Nguồn: ĐẨU, Nguyễn Mạnh (2013). Ngay sau khi Hội thảo khoa học quốc tế “Tư tưởng triết học và giáo dục của Trần Đức Thảo” được tổ chức tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào ngày 7/5/2013, Ban tổ chức Hội thảo đã nhận được rất nhiều thư cảm ơn tới lãnh đạo Nhà trường và khoa Triết học. Để cuốn sách thêm phong phú, người biên soạn trân trọng xin phép Ban Tổ chức Hội thảo và tác giả giới thiệu bài viết này. (BS)
949. Bài phản biện bản thảo Triết gia Trần Đức Thảo: Di cảo, Khảo luận, Kỷ niệm (Nguyễn Trung Kiên sưu tầm và biên soạn). Tên bài do người biên soạn tạm đặt. (BS)
950. Giáo sư Bùi Đăng Duy yêu cầu tôi nên cân nhắc khi lựa chọn hướng nghiên cứu của luận án, theo Giáo sư nghiên cứu về phương Tây không thuận lợi vì một bộ phận các nhà khoa học vẫn cho rằng nghiên cứu về phương Tây là xa xỉ phẩm, không gắn với thực tế.
951. ĐỈNH, Trần Thái (2005), tr. 8.
952. Tố Hữu, Tiễn đưa (Bài thơ viết tặng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tháng 9/1964 trước lúc Đại tướng vào chiến trường miền Nam).
953. Cái gì có lý, cái ấy tồn tại, cái gì tồn tại, cái ấy có lý.
954. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2011a)
955. Xem: ĐỒNG, Lưu Phóng (1994), và: ĐỒNG, Lưu Phóng (2004). Từ những năm 1990, ở Việt Nam đã có chuyển mình tích cực trong nghiên cứu về hiện tượng luận, nhiều luận văn, luận án đã lấy hiện tượng luận làm đề tài như: Nguyễn Trọng Nghĩa (2008), Hiện tượng học của Edmund Husserl và sự hiện diện của nó ở Việt Nam.
956. Trong bản tự thuật 1987, Trần Đức Thảo viết: “Sartre mời tôi trao đổi ý kiến vì ông muốn chứng minh rằng chủ nghĩa hiện sinh rất có thể cùng tồn tại hòa bình với học thuyết Marx. Sartre không hiểu giá trị chủ nghĩa Marx về chính trị và lịch sử xã hội, ngay cả ý nghĩa triết học Marx, ông cũng không hiểu một cách nghiêm túc. Ông đề xuất một sự phân chia khu vực ảnh hưởng. Chủ nghĩa Marx có thẩm quyền chừng mực nào đó về các vấn đề xã hội, còn chỉ có chủ nghĩa hiện sinh mới khả dĩ có giá trị về mặt triết học. Tôi chỉ ra rằng cần hiểu nghiêm túc đầy đủ ý nghĩa triết học của chủ nghĩa Marx. Trong bài nói chuyện thứ 5 về những vấn đề cơ bản của triết học, mối quan hệ giữa ý thức và vật chất đã khai thông sự suy xét một vấn đề chủ yếu. Sartre không biết rõ những điều mới lạ của Husserl. Do đó mà cuộc nói chuyện phải chấm dứt”.
957. Là khái niệm nổi bật của chủ nghĩa hiện sinh và là mục đích hướng tới của chủ nghĩa hiện sinh hướng tới trong quan niệm về con người. Xem: DŨNG, Nguyễn Tiến (1999).
958. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2011a).
959. Tác giả thêm vào.
960. Nguồn: GIÀU, Trần Văn (1993).
961. Lênin đã để lại một nhận xét có tính phương pháp luận:” Chủ nghĩa duy tâm thông minh gần với chủ nghĩa duy vật thông minh hơn chủ nghĩa duy vật ngu xuẩn”. V. I. Lê-nin (1981), Toàn tập. Nxb. Tiến bộ, M., t. 29, tr. 293.
962. “Đừng bao giờ nói là điều không thể vì không ai biết giới hạn tận cùng của khả năng” (William James).
963. Nguồn: CHÚ, Nguyễn Đình (1993).
964. TS. Cù Huy Chử viết: “Trần Đức Thảo không bao giờ tự vừa lòng với những gì ông đã sáng tạo, đã công hiến. Có lẽ vì vậy trong cuộc sống, ít nhiều ông cảm thấy cô đơn”. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2011a).
965. Nguồn: DŨNG, Nguyễn Tiến (2003).
966. Nguồn: CHỬ, Cù Huy (2011a).
967. Nguồn: VŨ, Anh (2013).
Nguồn: KIÊN, Nguyễn Trung (2016). Các tài liệu tham khảo chính: ALEXANDER, J.C. & P. Smith (eds.) (2005); AMERIKS, K. (ed.) (2000); AUDI, R. (1999); BALDWIN, T. (ed.) (2003); BARING, E. (2011); BEANEY, M. (ed.) (2013); BEISER, F.C. (ed.) (1993); BEISER, F.C. (ed.) (2008); BENSUSSAN, G. & G. Labica (1985); BIDET, J. & S. Kouvelakis (eds.) (2008); BIRD, G. (ed.) (2006); BOUNDAS, C.V. (ed.) (2007); BRADATAN, C. & S.A. Oushakine (eds.) (2010); BORCHERT, D.M. (eds.) (2006); BROWN, S. & D. Collinson (eds.) (1995); BROWN, S., et al (eds.) (1998); BUNNIN, N. & E. P. Tsui–James (eds.) (2003); BUNNIN, N. & J. Yu (2004); CARD, C. (ed.) (2003); CARVER, T. (ed.) (1991); CHAMBERLAIN, L. (2007); CHRISTIAN, J. L. (2012) CHỦ, Cù Huy (2007); COLETE, J. (2011); COLLISON, D. & K. Plant (2006); COCHRAN, M. (ed.) (2010); CRAIG, E. (ed.) (2005); DIREK, Z. & L. Lawlor (eds.) (2014); DOSSE, F. [1992] (1997); DOSTAL, R.J. (ed.) (2002); DREYFUS, H.L. & M.A. Wrathall (eds.) (2005), (2006); EMBREE, L., et al (eds.) (1997); EMBREE, L. (2006); FROLOV, I. (ed.) [1967] (1984); GRIFFITHS, A.P. (1987); GUIGNON, C.B. (ed.) (1993); GUTTING, G. (ed.) (2005); GUYER, P. (ed.) (2006); HANNAY, A. & G.D. Marino (eds.) (1998); HONDERICH, T. (ed.) (2005); HOULGATE, S. & M. Baur (eds.) (2011); HUSSERL, E.[1929] (2011); JAMES, I. (2012); JARCZYK, G. & P.-J. Labarrière (1996); KHOA, Lê Xuân (2011); KLEINBERG, E. (2005); LAWLOW, L. (2012); LOEWER, B. & J. Scha er (eds.) (2015); LUT, Phm Trng (2006); LUFT, S. & S. Overgaard (eds.) (2012); MAGNUS, B & K. Higgins (eds.) (1996); MALPAS, S. & P. Wake (eds.) (2006); MARTINICH, A.P. & D. Sosa (eds.) (2001); MILKOV, N. (2003); MORAN, D. (2008); MULLARKEY, J. & B. Lord (eds.) (2009); NADLER, S. (ed.) (2002); NAM, T.Q. (2013); NEU, J. (ed.) (1991); PEARSON, K.A. (ed.) (2006); PEDEN, K. (2014); POIDEVIN, R.L., et al (eds.) (2009); PHƯƠNG, Hunh Nh (2008); PROTEVI, J. (2003); PROUDFOOT, M. & A.R. Lacey (2010); RABATÉ, J.-M. (ed.) (2003); RICKETTS, T. & M. Potter (eds.) (2010); ROCKMORE, T. (1995); RUNES, D. D. (ed.) (1942); RUSH, F.R. (ed.) (2004); QUÂN, ng Phùng (2004), (2010); RUTHERFORD, D. (ed.) (2006); SCHRIFT, A.D. (2006); SCOTT, C.E., et al (eds.) (2001); SHOOK, J.R. & J. Margolis (eds.) (2006); SLUGA, H.D. & D.G. Stern (eds.) (1996); SMITH, D.W. & H. Somers-Hall (eds.) (2012); SMITH, D.W. (2007); SMITH, S.B. (ed.) (2009); SOAMES, S. (2003), (2014); STEWART, J. (2010); STROLL, A. (2000); TYMIENIECKA, A.-T. (ed.) (2009); VANDENABEELE, B. (ed.) (2012); WALL, S. (ed.) (2015); WICKS, R. (2003); WIKIPEDIA (2006–2016); WOHL, R. (1979); WRATHALL, M.A. (2006); WHITE, S.K. (ed.) (1995); WICKS, R. (2003); YOUNG-EISENDRATH, P. & T. Dawson (eds.) (2008); ZALTA, E.N. (ed.) (2002).
Friedrich Nietzsche (1844 – 1900): nhà triết học Đức gốc Ba Lan, đồng thời là nhà phê bình văn hóa, nhà thơ, nhà soạn nhạc, học giả về La-tinh và Hy Lạp. Sinh ra trong gia đình Tin Lành ngoan đạo, sớm mồ côi cha, ông đã phải nếm trải một cuộc đời đầy nhọc nhằn: nghèo túng, cô đơn, bệnh tật, đau khổ, bị phủ định và bị chối từ... Ông chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa bi quan trong triết học của Schopenhauer, kết thân với nhà soạn nhạc vĩ đại Richard Wagner và chịu nhiều ảnh hưởng bởi Wagner. Với tuyên bố “Thượng đế đã chết” nhằm phủ định những nền tảng cơ bản của đạo đức Ki-tô giáo, cho rằng đó là nền đạo đức của kẻ hèn yếu, thù ghét và sợ hãi sức mạnh, sự kiêu hãnh và sự tự khẳng định, Nietzsche đã giúp hồi sinh chủ nghĩa thế tục thời kỳ Khai Sáng trong diễn trình triết học của thế kỷ XX. Ông để lại nhiều tác phẩm gây nhiều tranh cãi về các đề tài tôn giáo, luân lý, triết học, khoa học..., đồng thời tạo ra các khái niệm mới mẻ như ý chí quyền lực,đạo đức chủ nô-nô lệ, siêu nhân... Các tư tưởng triết học chính của ông được tập hợp trong tác phẩm ông xuất bản năm 1883, Also sprach Zarathustra [Zarathustra đã nói như thế ]. Với quan điểm chống chủ nghĩa bài Do Thái và chủ nghĩa dân tộc Đức, ông là một trong những triết gia có ảnh hưởng lớn nhất tới nhiều trường phái, khuynh hướng lớn của triết học hiện đại, đặc biệt là trong truyền thống triết học lục địa như chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hậu hiện đại, luận phân tâm... Nhà triết học Richard Rorty từng tuyên bố: toàn bộ triết học thế kỷ XX là triết học của “kỷ nguyên hậu-Nietzsche”.
Các thông tin về tiểu sử trong phần này chủ yếu được tham khảo từ các nguồn: AUDI, R. (ed.) (1999); BALDWIN, T. (ed.) (2003), BROWN, S., et al (eds.) (1998), HONDERICH, T. (ed.) (2005), và SCHRIFT, A.D. (2006).
Tác phẩm này cùng những tác phẩm quan trọng khác (nguyên bản và bản dịch) đều có thể được tìm thấy trên các Cơ sở dữ liệu sách điện tử miễn phí trên mạng Internet, trong đó phong phú nhất có lẽ là trang Book4You (www.book4you.org). Trang Web này cũng lưu trữ bản dịch tiếng Anh hai tác phẩm của Giáo sư Trần Đức Thảo, Phénoménologie et Matérialisme Dialectique, do Daniel J. Herman và D. V. Morano dịch, với tựa đề Phenomenology and Dialectical Materialism; và tác phẩm Recherches sur l’origine du langage et de la conscience, do Daniel J. Herman và R. L. Armstrong dịch, với tựa đề Investigations into the Origin of Language and Consciousness. Ngoài ra, các tác phẩm được giới thiệu trong bản Biên niên sự kiện này và phần Tài liệu khuyến nghị đọc thêm ở cuối sách cũng được cập nhật thường xuyên trên tài khoản Google Driver của cuốn sách này. (Địa chỉ: drive.google.com, Username: tdthaoreading; Password: 19171993).
Friedrich W. J. Schelling (1775–1854): nhà triết học Đức, bạn học thời đại học, và sau này là người đối đầu về tư tưởng với Hegel. Cuối đời, ông sáng tác nhiều tác phẩm về huyền thoại học và tôn giáo học. Tác phẩm Naturphilosophie [Triết học tự nhiên] của ông đánh dấu bước phát triển quan trọng của chủ nghĩa duy tâm Đức.
Bertrand Russell (1872–1970): nhà triết học, logic học, toán học, sử học, nhà phê bình xã hội và nhà hoạt động chính trị người Anh. Xuất thân trong gia đình quý tộc lâu đời, ông là một trong những người ủng hộ nền hòa bình, tự do dân chủ, giải trừ vũ khí hạt nhân và chống chủ nghĩa đế quốc nổi bật nhất của thế kỷ XX. Chịu ảnh hưởng lớn bởi Gottfried Leibniz, ông được coi là một trong ba trụ cột của truyền thống triết học phân tích, cùng với Gottlob Frege và Ludwig Wittgenstein. Ông cùng với G. E. Moore tham gia tích cực vào “cuộc nổi dậy chống lại chủ nghĩa duy tâm”, để lại ảnh hưởng lớn tới chủ nghĩa thực chứng logic của Nhóm Vienna sau này. Ông xem logic hình thức và khoa học là các công cụ cơ bản của triết học. Các tác phẩm của ông ảnh hưởng sâu rộng tới các ngành triết học về toán học, triết học ngôn ngữ, nhận thức luận, siêu hình học, đạo đức học, logic học, toán học, logic toán, lý thuyết tập hợp, ngôn ngữ học, khoa học máy tính, khoa học nhận thức, trí tuệ nhân tạo... Ông cũng nổi tiếng với những phê phán đối với chủ nghĩa phát-xít và chủ nghĩa toàn trị của Stalin. Ông cùng với Jean–Paul Sartre ngồi ghế chánh án trong phiên tòa xét xử tội ác trong chiến tranh Việt Nam. Ông được trao giải thưởng Nobel văn chương năm 1950 vì các tư tưởng nhân văn và sự đấu tranh cho tự do tư tưởng của con người.
Édouard Le Roy (1870 – 1954): nhà triết học Pháp. Ông nghiên cứu triết học sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ toán học. Là bạn của Teilhard de Chardin và Henri Bergson, ông đã được Bergson chỉ định kế nhiệm chức Chủ nhiệm Khoa Triết học Hy Lạp và La–tinh tại Collège de France. Kế thừa tư tưởng của Bergson, Le Roy đã nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa khoa học và luân lý – những ý tưởng được định hình trong quá trình thảo luận với các nhà khoa học lớn cùng thời với ông như Henri Poincaré và Pierre Duhem. Ông cũng có nhiều đóng góp cho ngành triết học về tôn giáo.
Giusepple Penano (1858 – 1932): nhà toán học và logic học người Ý, tác giả của hơn 200 cuốn sách và công trình nghiên cứu về toán học và logic học. Ông là người đưa ra hệ tiên đề cho dãy số tự nhiên, ngày nay mang tên hệ tiên đề Peano. Ông cũng là người đi tiên phong trong việc truyền bá logic ký hiệu.
Wilhelm Dilthey (1833–1911): nhà sử học, tâm lý học, xã hội học và triết học người Đức, từng làm Chủ nhiệm Khoa Triết học tại Đại học Berlin. Ông sớm nhận ra những hạn chế của việc ứng dụng thực chứng luận trong khoa học xã hội và nhân văn. Ông ủng hộ chủ nghĩa kinh nghiệm và phê phán chủ nghĩa duy tâm. Ông nỗ lực xây dựng phương pháp luận thống nhất cho các khoa học tinh thần, xác lập nên trường phái lịch sử tinh thần, hay triết học văn hóa, vì ông tin rằng phương pháp khoa học tự nhiên không thích hợp với các khoa học xã hội-nhân văn. Theo ông, vì ngôn ngữ là sự diễn tả trọn vẹn nhất về đời sống nội tâm của con người, nên ngôn ngữ nói chung và thông diễn học nói riêng là một công cụ quan trọng nhất của các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Ông có ảnh hưởng lớn đến các nhà triết học hiện sinh thế hệ sau, đặc biệt là Heidegger.
Edmund Husserl (1859–1938): nhà triết học và toán học Đức, gốc Do Thái. Thời trẻ, ông theo học toán học với Karl Weierstrass và triết học với Franz Brentano & Carl Stumpf, bảo vệ luận án tiến sĩ toán tại Đại học Halle, rồi giảng dạy triết học tại các Đại học Göttingen và Freiburg. Thời gian đầu, ông nỗ lực kết hợp toán học với tâm lý học và triết học để tạo ra nền tảng mới, chắc chắn hơn cho toán học. Sau nhiều năm nghiên cứu để tiếp thu tiến bộ và phê phán hạn chế của các ngành toán học, logic học, lý thuyết về tri thức, bản thể luận, tâm lý học mô tả..., tiếp thu triết học Kant và khái niệm ý hướng tính (intentionality) của Franz Brentano, Husserl đã hình thành và phát triển hiện tượng luận (phenomenology), trên cơ sở phê phán chủ nghĩa tâm lý & chủ nghĩa duy sử, cũng như sự đoạn tuyệt với định hướng thực chứng trong khoa học và triết học của thời đại mình, qua đó đưa triết học trở thành một khoa học chính xác, với lời kêu gọi: “Quay trở về với chính sự vật”. Các tác phẩm của Husserl nỗ lực xác định nên cấu trúc lý tưởng và thiết yếu của ý thức, nhằm nhận thức một cách đầy đủ và chính xác nhất về bản chất của tất cả các sự vật, hiện tượng. Ông nỗ lực kết hợp triết học duy chủ thể và triết học duy nghiệm để hoàn thiện hiện tượng luận nhằm khẳng định hai luận đề quan trọng: 1) ý thức bao giờ cũng là ý thức về một cái gì đó; và 2) đối tượng bao giờ cũng là đối tượng cho một ý thức nào đó. Phương pháp của ông là “cho vào ngoặc đơn” các dữ kiện của ý thức bằng cách để lơ lửng mọi tri giác, đặc biệt những tri giác rút tỉa từ “điểm quan sát mang tính tự nhiên chủ nghĩa”. Từ đó, ông kết luận rằng ý thức không có đời sống tách biệt với các đối tượng được nó xem xét. Trong các tác phẩm về sau, ông chuyển hướng sang chủ nghĩa duy tâm và không chấp nhận quan điểm cho rằng các đối tượng hiện hữu bên ngoài ý thức. Phương pháp quy giản hiện tượng luận do ông đề xuất đã trở thành nền tảng để thiết lập các tư tưởng mới trong triết học và logic học hiện đại. Các tư tưởng của ông về tính ý hướngđã góp phần khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa nhị nguyên của Descartes về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Ông xây dựng và hoàn thiện một loạt khái niệm quan trọng của hiện tượng luận như trực giác bản chất, ý thức về thời gian hướng nội, hiện tại sống động, thế giới-đời sống..., qua đó mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới cho triết học và khoa học để thâm nhập sâu hơn vào thế giới tinh thần của con người hiện đại, nắm bắt và mô tả cơ cấu của ý thức cá nhân ở tất cả những hình thức hoạt động thực tiễn đa dạng, và khách quan hóa nó trong đời sống xã hội. Để lại cho hậu thế khoảng 40.000 trang bản thảo, ông trở thành một trong số các nhà triết học vĩ đại có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX, ảnh hưởng sâu đậm đến không chỉ các trường phái, khuynh hướng, trào lưu trong triết học đương đại, mà còn tới tâm lý học phân tích, khoa học nhận thức, trí tuệ nhân tạo... Một số triết gia thế hệ sau chịu ảnh hưởng của ông gồm Heidegger, Fink, E. Lévinas, J.–P. Sartre, Merleau–Ponty, G. Marcel, Trần Đức Thảo…
Alexander Pfänder (1870–1941): nhà hiện tượng luận Đức, một trong những sáng lập viên của Nhóm hiện tượng luận Munich. Chịu ảnh hưởng của Schopenhauer và Nietzsche, ông sử dụng những tiến bộ trong nghiên cứu tâm lý học để phát triển hiện tượng luận theo hướng mới, khác biệt với hiện tượng luận tiên nghiệm của Husserl. Các bài giảng của ông trong nhiều thập niên tại Đại học Munich và các đại học lớn của châu Âu đã góp phần hoàn thiện nền móng cho hiện tượng luận, logic, nhận thức luận cũng như bộ môn tâm lý học hiện tượng luận (phenomenological psychology), và để lại ảnh hưởng đến các triết gia thế hệ sau như H. Spiegelberg, Karl Schuhmann, Paul Ricoeur...
Eduard von Hartmann (1842–1906): nhà triết học Đức. Ông để lại nhiều nghiên cứu giá trị về siêu hình học, đạo đức học và mĩ học. Gọi triết học của mình là chủ nghĩa duy thực tiên nghiệm (transcendental realism), trên tinh thần kế thừa triết học thực chứng củaSchelling, đồng thời phê phán những hạn chế trong siêu hình học của Hegel và Schopenhauer, ông đưa ra nhiều kiến giải mới mẻ về sự tiến hóa của ý thức và vai trò của cái vô thức trong quá trình tiến hóa của loài người, qua đó ảnh hưởng tới tư tưởng của Freud và trường phái tâm lý học Zurich. Cho rằng cái ác là cần thiết cho sự tồn tại, và hạnh phúc của con người là một ảo tưởng không thể đạt được, triết học của ông chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa bi quan.
Max Scheler (1874–1928): nhà triết học đạo đức và triết học xã hội người Đức, gốc Do Thái. Ông giảng dạy triết học tại nhiều trường đại học lớn của Đức và thỉnh giảng tại nhiều nước trên thế giới. Tư tưởng triết học của ông được định hình trên cơ sở tổng hợp những nội dung tiến bộ của đạo đức học, siêu hình học, nhận thức luận, tôn giáo học, xã hội học về tri thức..., qua đó tạo ra dấu ấn lớn trong triết học Đức hiện đại nói riêng và châu Âu nói chung, mặc dù các tác phẩm của ông bị cấm suốt thời kỳ phát-xít Đức lên cầm quyền. Scheler đã tạo dựng những nền tảng quan trọng để Husserl tiếp thu nhằm phát triển hiện tượng luận lên tầm cao mới. Đưa ra những phê phán gay gắt đối với hiện tượng luận của Husserl, nghi ngờ tuyên bố của Husserl cho rằng hiện tượng luận sẽ giúp triết học trở thành một khoa học chính xác, Scheller khẳng định hiện tượng luận của Husserl cần được củng cố bởi các định luật nghiêm ngặt của logic học trước khi trở thành nền tảng cho các khoa học định lượng và khoa học nhân văn. Các quan điểm triết học về đời sống của Scheler (về ý nghĩa của sự hiện hữu làm người, về giá trị và về tình cảm yêu/ghét...), trên tinh thần kế thừa tư tưởng triết học của Plato và đạo đức Thiên Chúa giáo (yêu thương đồng nghĩa với cho đi), đã ảnh hưởng lớn tới các nhà triết học hiện sinh thế hệ sau. Ông cũng để lại nhiều công trình giá trị về các hiện tượng tâm lý của con người (oán giận, xấu hổ, khiêm tốn, lòng sùng kính...), về luân lý trong chính trị, và về bản chất của chủ nghĩa tư bản... Một số công trình cuối đời của ông về nhân chủng triết học(philosophical anthropology) - một bộ môn mà ông chủ xướng, kế thừa những thành tựu lớn của các ngành khoa học như sinh học, tâm lý học, xã hội học... nhằm mô tả tiến trình vĩ đại, tự diễn ra từ từ để hình thành nên sự thống nhất của con người và định mệnh con người trong vũ trụ, đã góp phần khẳng định các giá trị tiến bộ phổ quát của nhân loại, đồng thời phê phán quan điểm cực đoan của Nietzsche về diễn trình tư tưởng của loài người. Husserl từng tuyên bố rằng tất cả các triết gia của thế kỷ XX đều “mắc nợ” với tư tưởng triết học của Scheler.
Karl Vorländer (1860–1928): nhà triết học Đức thuộc trường phái Kant mới Marburg, và là một chuyên gia hàng đầu về triết học Kant. Ông ủng hộ phong trào xã hội chủ nghĩa theo hướng dân chủ xã hội.
Émile Boutroux (1845–1921): nhà triết học Pháp xuất sắc, có nhiều đóng góp trong triết học về khoa học và triết học về tôn giáo. Chịu ảnh hưởng của triết học cổ điển Đức, ông đã phát triển tư tưởng của Kant trong những công trình triết học về khoa học của mình. Ông phản đối chủ nghĩa duy vật trong khoa học, đồng thời kêu gọi sự “hòa giải” giữa khoa học và tôn giáo.
Henri Bergson (1859–1941): nhà triết học, nhà văn Pháp, gốc Do Thái, Giải thưởng Nobel Văn chươngnăm 1927. Sau khi tốt nghiệp thạc sĩ triết học tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm ở tuổi 22, ông giảng dạy triết học một thời gian trước khi bắt đầu khởi thảo một loạt ý tưởng triết học quan trọng. Ông là người khởi xướng “triết học tiến trình”, vốn phản bác những giá trị tĩnh tại và ủng hộ những giá trị của sự vận động, thay đổi và tiến hóa. Ông cũng phát triển thuyết “trực giác”, một luận thuyết ảnh hưởng lớn đến triết học và văn chương. Ông cho rằng sự tiến hóa không đơn giản là quá trình thích ứng cơ học thụ động của các cá thể đối với môi trường sống, mà là một quá trình sáng tạo có định hướng. Việc nắm bắt và hiểu cuộc sống không chỉ dựa vào tư duy logic và phương pháp phân tích lí tính. Theo ông, chỉ có bằng lí hội trực giác mới nắm được hiện thực, phải phân biệt “thời gian toán học” đo bằng đồng hồ và “thời gian trực cảm” (duree) của đời sống nội tâm luôn luôn vận động trong một chỉnh thể thống nhất. Về quan niệm sự sống, ông chủ trương thuyết sức sống, “sự tiến hóa sáng tạo” mà cơ sở là “đà sống” (élan vital). Nhờ William James, các tác phẩm triết học xuất sắc của Bergson bắt đầu được biết đến và đánh giá cao tại Anh và Hoa Kỳ. Bergson đã đưa vào triết học cảm hứng và sự quan tâm đến giá trị và tính duy nhất không thể thay thế của cá nhân con người.
Émile Durkheim (1858 – 1917): nhà xã hội học Pháp, đặt nền móng xây dựng chủ nghĩa chức năng (functionlism) và chủ nghĩa cấu trúc (structuralism), đóng góp lớn cho sự phát triển của xã hội học và nhân chủng học. Những nỗ lực của ông đã giúp xã hội học trở thành một môn khoa học xã hội được chấp nhận trong giới hàn lâm. Ông đã thuyết trình và xuất bản nhiều công trình về các chủ đề như giáo dục, tội phạm,tôn giáo, tự tử và nhiều mặt khác của xã hội.
Lucien Lévy–Bruhl (1857 – 1939): nhà triết học, xã hội học và nhân chủng học người Pháp. Ông để lại nhiều nghiên cứu đặc biệt giá trị về nhân chủng học và dân tộc học thời kỳ nguyên thủy, trong đó có nhiều tác phẩm được đánh giá cao hơn cả Claude Lévi–Strauss. Ông từng cộng tác với nhà xã hội học Émile Durkheim. Ông để lại nhiều ảnh hưởng đến Carl Jung.
Jules de Gaultier (1858 – 1942): nhà triết học Pháp, chịu ảnh hưởng của Schopenhauer và Nietzsche.
Léon Brunschvicg (1869–1944): nhà triết học duy tâm người Pháp. Ông giảng dạy triết học tại Đại học Sorbonne trong giai đoạn 1909–1940. Cùng với Henri Bergson, ông có ảnh hưởng đặc biệt tới triết học Pháp trong khoảng ba thập niên đầu tiên của thế kỷ XX. Những công trình nghiên cứu của ông về triết học của Pascal, Spinoza và Descartes đã đưa chủ nghĩa duy tâm tại Pháp phát triển lên tầm cao mới. Ông cũng có nhiều khảo cứu giá trị trong triết học về khoa học và triết học về tôn giáo.
Sigmund Freud (1856 – 1939): bác sĩ thần kinh và nhà tâm lý học người Áo. Sau khi nghiên cứu về chứng liệt não, chứng mất ngôn ngữ và giải phẫu thần kinh vi mô tại Bệnh viện Đa khoa Vienna, ông bảo vệ luận án tiến sĩ, bắt đầu giảng dạy đại học và xây dựng những nền móng đầu tiên của luận phân tâm. Để hoàn thiện kỹ thuật phân tích tâm lý, một phương pháp lâm sàng để điều trị các bệnh rối loạn tâm thần bằng cách tiến hành các cuộc đối thoại giữa bệnh nhân và nhà phân tâm, Freud đã phát triển nhiều kỹ thuật trị liệu mới mẻ, đặc biệt là kỹ thuật tự do liên tưởng. Việc tái xác lập vai trò của tính dục trong thời kỳ thơ ấu đã giúp ông hoàn thiện khái niệm phức cảm Œdipe - một khái niệm nền tảng của luận phân tâm. Phân tích của ông về giấc mơ như là sự giải tỏa uẩn ức được hình thành bởi các mong muốn chưa được thỏa mãn đã giúp ông xác lập nên các mô thức để phân tích lâm sàng về sự hình thành và cơ chế của hiện tượng dồn nén tâm lý, qua đó giúp ông hoàn thiện lý thuyết về cái vô thức. Ông phát hiện ra sự tồn tại của libido - xung năng tính dục được cấu thành bởi các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội, giúp hình thành tình cảm luyến ái, sự thèm khát nhục dục cũng như các triệu chứng loạn thần kinh chức năng. Ông chia sự phát triển của libido ở người thành năm giai đoạn: 1,5-3 tuổi (khoái cảm khi bú mẹ); 3-5 tuổi (khoái cảm khi trẻ đi đại tiện); 5-7 tuổi (khoái cảm trẻ thơ khi con trai thì yêu mẹ và con gái thì yêu bố); 7-12 tuổi (cảm giác thích những bạn khác giới); sau 12 tuổi (khoái cảm nhục dục). Trong các tác phẩm cuối đời, ông đưa ra nhiều phê phán sắc sảo về tôn giáo và văn hóa. Mặc dù tạo ra nhiều tranh cãi quyết liệt, nhưng luận phân tâm của Freud đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của triết học và khoa học xã hội-nhân văn trong các thập niên sau, và giúp ông trở thành một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX.
FREUD, S. [1900] (2005). Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ. Ngụy Hữu Tâm và cộng sựdịch. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
Carl Jung (1875–1961): bác sĩ tâm thần và nhà tâm lý học trị liệu người Thụy Sĩ. Ông sáng lập trường phái Tâm lý học phân tích, trong đó có nhiều khác biệt so với luận phân tâm của Freud. Khái nệm cốt lõi của tâm lý học phân tích là cá tính hóa - một tiến trình tâm lý tích hợp các mặt đối lập, trong đó có cả hữu thức vàvô thức, đồng thời vẫn duy trì sự độc lập tương đối của các mặt đối lập ấy. Ông coi cá tính hóa đóng vai trò trung tâm trong sự phát triển của con người. Tuy không phải là người đầu tiên nghiên cứu về giấc mơ nhưng ông đã có nhiều phát kiến quan trọng trong lĩnh vực này. Ông xây dựng nhiều khái niệm quan trọng nhưarchétype (cổ mẫu); introvert–extrovert (hướng nội – hướng ngoại), mid–life crisis (khủng hoảng tuổi trung niên)... Các tác phẩm của ông đã ảnh hưởng lớn tới triết học, nhân chủng học, khảo cổ học, văn chương và nghiên cứu tôn giáo.
Harald Høffding (1843-1931): nhà triết học Đan Mạch, chịu ảnh hưởng của Kant, Kierkegaard, Auguste Comte và Herbert Spencer. Ông theo chủ nghĩa vị lợi Anh và ủng hộ chủ nghĩa nhân văn tự do. Các tác phẩm của ông đề cập đến nhiều vấn đề rộng lớn của triết học và tâm lý học. Về nhận thức luận, ông chịu ảnh hưởng của toán học và cơ học cổ điển.
Kazimierz Twardowski (1866–1938): nhà triết học và logic học Ba Lan. Ông từng là học trò của Franz Bretano tại Đại học Vienna trước khi về nước thành lập Trường phái triết học Lvov–Warsaw, với sự tham gia của các nhà triết học hàng đầu như RomanIngarden… Ông đóng góp nhiều trong việc phát triển ngành tâm lý học tại Ba Lan.
Benedetto Croce (1866–1952): nhà triết học duy tâm người Ý. Ông xuất thân trong gia đình Công giáo giàu có và đầy thế lực. Ông chịu ảnh hưởng của Hegel và các nhà duy tâm Đức từ thời trẻ. Ông xem tôn giáo là một thể chế mà qua đó sức mạnh sáng tạo của con người được thể hiện. Ông nỗ lực “hòa giải” những xung đột giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý bằng cách nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm cá nhân. Cho rằng triết học là một khoa học về tinh thần, ông để nhiều khảo cứu giá trị về triết học, logic học, mĩ học và lịch sử. Tư tưởng tự do của ông đã ảnh hưởng lớn đến giới trí thức Ý thế hệ sau, trong đó có Antonio Gramsci.
Aleksey Khomyakov (1804-1860): nhà thần học, triết học và nhà thơ Nga. Theo ông, phương Tây đã thất bại trong việc giải quyết các vấn đề tinh thần của con người bởi nó đề cao cạnh tranh thay vì hợp tác. Tư tưởng của ông ảnh hưởng lớn đến Giáo hội Chính thống giáo Nga và các triết gia, văn nghệ sĩ thế hệ sau như Dostoyevsky, Solovyov. Herzen...
Vasilii Vasil’evich Rozanov (1856-1919): nhà triết học, nhà phê bình tôn giáo và văn hóa người Nga. Ông từng phải nếm trải nhiều đau khổ trong hôn nhân và đời sống gia đình: ông kết hôn với Appolinaria Suslova, hơn ông 24 tuổi và từng là tình nhân của Dostoevsky, và mặc dù không cùng chung sống với Suslova kể từ năm 1887, nhưng vì bà không đồng ý ly dị với ông, nên ông phải cưới người vợ thứ hai, Varvara Butiagina, trong bí mật, và các con của ông với Butiagina không được Nhà thờ Chính thống giáo của Nga thừa nhận. Là một trong số những triết gia tiên phong chống lại chủ nghĩa nhị nguyên của Descartes, ông đề xuất các luận điểm mới mẻ về nhận thức luận trên cơ sở “hòa giải” giữa khoa học và triết học. Ông để lại nhiều tác phẩm giá trị về “siêu hình học về tính dục”, nhấn mạnh các giá trị tinh thần của đời sống tính dục. Các tác phẩm triết học của ông bị quên lãng trong thời gian dài và mới chỉ giành lại được sự quan tâm của cộng đồng triết học kể từ cuối thập niên 1980.
Rosa Luxemburg (1871–1919): nhà triết học mác-xít, nhà kinh tế học và nhà cách mạng người Đức gốc Ba Lan, theo đạo Do Thái. Bà là đảng viên của Đảng Xã hội Dân chủ và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Đức. Thông qua những phê phán sâu sắc đối với chủ nghĩa Marx-Lenin và chủ nghĩa xã hội, bà nỗ lực đưa chủ nghĩa Marx–Lenin theo hướng dân chủ xã hội, qua đó ảnh hưởng lớn đến phong trào cánh tả trên thế giới.
PLATO & XENOPHON (2006). Socrates tự biện. Nguyễn Văn Khoa dịch, tiểu dẫn, chú thích. Hà Nội: Nxb. Tri thức; PLATO (2011). Đối thoại Socratic 1. Nguyễn Văn Khoa dịch, chú giải và dẫn nhập. Hà Nội: Nxb. Tri thức; PLATO (2013). Ngày cuối trong đời Socrates. Đỗ Khánh Hoan dịch. Hà Nội: Nxb. Thế giới & Công ty Sách Alpha.
Paul Deussen (1845–1919): nhà triết học và học giả về phương Đông người Đức. Là học trò của Schopenhauer và bạn của F. Nietzsche, ông đồng thời cũng là chuyên gia hàng đầu về đạo Hindu và ngôn ngữ Sanskrit. Ông có công lớn trong việc truyền bá triết học của Schopenhauer cho các thế hệ sau.
Paul Natorp (1854–1924): nhà triết học và giáo dục học người Đức, thành viên chính của Trường phái Kant mới Marburg, và là một chuyên gia hàng đầu về triết học Plato. Ông có ảnh hưởng lớn đến các nhà hiện tượng luận sau này như Husserl, Cassier…
FREUD, S. [1901] (2002). Bệnh lý học tinh thần trong đời sống hàng ngày. Trần Khang dịch. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Thông tin.
J. M. E. McTaggart (1866 – 1925): nhà siêu hình học duy tâm người Anh, dành gần trọn cuộc đời dạy học tại Trinity College (Cambridge). Ông là một học giả hàng đầu về Hegel và là một trong những nhà triết học duy tâm Anh xuất sắc nhất.
Xavier Léon (1868–1953): nhà triết học người Pháp. Ông để lại nhiều tác phẩm giá trị về lịch sử triết học, đặc biệt là triết học của Fichte.
André Lalande (1867–1963): nhà triết học người Pháp. Ông có nhiều năm giảng dạy tại Đại học Sorbonne và Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Ông có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chủ nghĩa duy lý tại Pháp.
Josiah Royce (1855–1916): nhà triết học duy tâm người Mỹ. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành triết học về toán học và triết học về logic trong thời gian giảng dạy tại Đại học Harvard.
Élie Halévy (1870 – 1937): nhà triết học và nhà sử học về chủ nghĩa tự do người Pháp gốc Do Thái, xuất thân trong gia đình có truyền thống học thuật. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm phố d’Ulm, ông nghiên cứu sâu về siêu hình học và triết học của Plato. Là người ủng hộ nhiệt thành chochủ nghĩa tự do, ông là một trong những triết gia Pháp đầu tiên cảnh báo về chủ nghĩa phát–xít và chủ nghĩa cộng sản.
Georges Palante (1862 –1925): nhà triết học và xã hội học Pháp, ủng hộ chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tinh hoa. Ông từng theo học tại Đại học Sorbonne nhưng bỏ dở việc bảo vệ luận án tiến sĩ. Các tác phẩm của ông đề cập nhiều đến những mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Nietzsche và Freud.
Dmitry Merzehkovsky (1866–1941): nhà tiểu thuyết, nhà thơ, nhà phê bình văn học và nhà tư tưởng tôn giáo người Nga. Ông thành công trong việc thể hiện tư tưởng tôn giáo và triết học (đặc biệt là chủ nghĩa duy tâm) trong các sáng tác văn chương của mình. Cuối đời, ông lên tiếng phản đốichủ nghĩa toàn trị của Stalin. Ông bị gạt sang bên lề trong đời sống văn học Xô–viết và được phục hồi sau khi Liên Xô sụp đổ.
Nicolas Berdyaev (1874 – 1948): nhà triết học Thiên Chúa giáo người Pháp gốc Nga. Ông là một trong những đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh Thiên Chúa giáo. Theo ông, từ khởi thủy, Thượng đế đã sáng tạo ra con người cùng với trạng thái tự do tuyệt đối của nó. Tự do có thể dẫn tới cả cái tốt lẫn cái xấu. Cái xấu xuất hiện khi tự do quay lại chống lại chính nó, và cầm tù con người trong những thứ “xuẩn ngốc” của nghệ thuật, khoa học và tôn giáo – những thứ vốn cấu thành nên các loại thể chế khác nhau như xã hội, nhà nước, quốc gia, giáo hội… Ông chống lại chủ nghĩa duy lý, vì theo ông, mục đích tối hậu của sự tồn tại người là giải phóng và tự giải phóng, thông qua sự minh triết và tình yêu, để đạt tới tự do. Các tác phẩm của ông là vũ khí chống lại những hình thái xã hội không tưởng đầy cạm bẫy của quá khứ và tương lai.
Peter Kropotkin (1842–1921): nhà triết học, sinh vật học, địa lý học, nhà cách mạng và hoạt động xã hội người Nga.
Franz Brentano (1838–1917): nhà triết học và tâm lý học Đức, có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của hiện tượng luận tại Đức. Chịu ảnh hưởng của triết học Aristotle, ông đã giải quyết triệt để vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, và phân biệt các hiện tượng vật lý và các hiện tượng tâm thần. Ông cũng có nhiều đóng góp cho ngành triết học về nhận thức. Brentano đã làm phục sinh khái niệm ý hướng tính thông qua các bài giảng của mình. Tư tưởng triết học của ông đã hình thành nên trường phái Brentano và ảnh hưởng lớn đến thế hệ sau.
Hans Vaihinger (1852-1933): nhà triết học Đức, chuyên gia hàng đầu về triết học Kant, đồng sáng lập tạp chí Kant-Studien [Nghiên cứu Kant] và Annalen der Philosophie [Niên giám triết học]. Ông cho rằng sẽ không thể tìm ra mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Ông chịu ảnh hưởng của tiến hóa luận và xem loài người là “một loài khỉ phải chịu đau khổ bởi mắc chứng hoang tưởng tự đại”.
Ernst Cassirer (1874–1945): nhà triết học Đức, một đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa duy tâm Đức hiện đại. Ông giảng dạy tại Đại học Berlin và Đại học Hamburg trước khi di cư sang Mỹ để giảng dạy tại Đại học Yale và Columbia. Ông có nhiều đóng góp trong triết học về khoa học và triết học về văn hóa, cũng như những phê phán về nhà nước hiện đại. Ông để lại nhiều khảo cứu giá trị về Plato, Descartes, Leibniz, Kant, Rousseau. Toàn tập Cassirer gồm 18 tập đã được xuất bản liên tục trong giai đoạn 1995–2010, tập hợp hơn 120 tác phẩm và nhiều bài nghiên cứu chưa công bố của ông.
Hermann Cohen (1842–1918): nhà triết học Đức gốc Do Thái, được xem là một trong những nhà triết học Do Thái quan trọng nhất của thế kỷ XIX. Là chuyên gia hàng đầu về triết học Kant, ông cũng là một trong những sáng lập viên của Trường phái Kant mới Marburg.
Emil Lask (1875–1915): nhà triết học Đức, một thành viên quan trọng của Trường phái Kant mới. Ông để lại nhiều ảnh hưởng đến Heidegger và Lukács.
Axel Hägerström (1868– 1939): nhà triết học và luật học Thụy Điển. Ông tốt nghiệp tại Đại học Uppsala và giảng dạy tại đây cho đến năm 1933. Ông được coi là người sáng lập trường phái triết học thực chứng Uppsala, chia sẻ nhiều tương đồng với truyền thống triết học phân tích Anh-Mỹ vàchủ nghĩa thực chứng logic của Nhóm Vienna.
Heinrich Rickert (1863–1936): nhà triết học Đức, thành viên chủ chốt của Trường phái Kant mới tại Baden (Baden School of Neo–Kantians). Tư tưởng của ông ảnh hưởng lớn đến Max Weber, Heidegger và Lukács.
Gaston Milhaud (1858-1918): nhà triết học Pháp. Chịu ảnh hưởng bởi Émile Boutroux, ông cùng với một nhóm triết gia Pháp gồm Henri Poincaré, Pierre Duhem, và Édouard Le Roy phản đối sự võ đoán trong khoa học, đồng thời nhấn mạnh vai trò của trực giác và sự ngẫu nhiên trong quá trình xây dựng các lý thuyết khoa học.
Henri Poincaré (1854 – 1912): nhà toán học, vật lý lý thuyết, kỹ sư và triết học về khoa học người Pháp, có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng trong toán học lý thuyết, toán học tôpô, toán lý và cơ học thiên thể.
Alfred Fouillée (1838 – 1912): nhà triết học Pháp, có nhiều nghiên cứu giá trị về lịch sử triết học phương Tây và triết học Pháp.
William James (1842–1910): nhà triết học và tâm lý học người Mỹ, một trong những nhà triết học hàng đầu của Mỹ và được coi là “cha đẻ của ngành tâm lý học Mỹ”. Cùng với, Charles Sanders Peirce và JohnDewey, ông được xem là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa kinh nghiệm cấp tiến. Tư tưởng của ông ảnh hưởng lớn đến nhiều thế hệ triết gia sau này, trong đó có Durkheim, Husserl, Russell, Wittgenstein, Richard Rorty…
Georges Sorel (1847 – 1922): nhà triết học và xã hội học Pháp, nổi tiếng với lý thuyết về chủ nghĩa công đoàn cách mạng, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Marx vào Pháp. Là học trò của Henri Bergson tại Collège de France, ông chịu ảnh hưởng của Proudhon,Marx, và Lenin. Ông cũng tham gia cộng tác với các tạp chí mác-xít và cánh tả đầu tiên của Pháp như L’Ère nouvelle, Le Devenir social, và L’Humanité nouvelle. Những công trình của ông đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chủ nghĩa Marx ở nhiều nước phương Tây và các nước thuộc thế giới thứ ba.
Antonio Labriola (1843–1904): nhà lý thuyết mác-xít người Ý. Tư tưởng của ông cởi mở và hướng về tự do nhiều hơn so với các nhà mác-xít chính thống như Karl Kautsky. Ông có nhiều ảnh hưởng tới các nhà mác-xít và cộng sản Ý thế hệ sau, trong đó có Antonio Gramsci.
Karl Kautsky (1854–1938): nhà triết học, nhà lý thuyết Mác-xít nhà báo và người Đức gốc Séc, theo khuynh hướng dân chủ xã hội. Ông được thừa nhận là đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa Mác chính thống sau khi Engels qua đời, được các học giả mệnh danh là “vị giáo chủ của chủ nghĩa Marx”. Nổi tiếng bởi các cuộc bút chiến sắc sảo với những người Bolshevik, ông công khai phê phán Cách mạng tháng Mười Nga và những người tiến hành cuộc cách mạng này, trong đó có Lenin và Trotsky, đồng thời thể hiện sự bất đồng chính kiến đối với nhà nước Xô-viết. Ông có ảnh hưởng lớn đếnphong trào dân chủ xã hội tại Đức và Đông Âu.
Sergei Bulgakov (1871–1944): nhà thần học Chính thống giáo, triết học và kinh tế học người Nga. Ông chịu ảnh hưởng bởi Schelling, Tolstoy, Dostoyevsky, Solovyov. Lenin gọi triết học của ông là “tự do phản cách mạng”. Năm 1922, ông cùng với hơn 160 trí thức lớn của Nga bị chính phủ Bolshevik của Lênin trục xuất khỏi Liên Xô. Các tác phẩm về thần học và triết học của ông tạo ra sự tranh luận rộng rãi.
Gottlob Frege (1848 – 1925): nhà toán học, logic học và triết học Đức. Ông là người sáng lập ngành logic học hiện đại và gia cố nền móng cho nền tảng của toán học hiện đại, đồng thời là người khai sinh triết học phân tích. Ông cũng có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành triết học về ngôn ngữ.
Johannes Daubert (1877–1947): nhà hiện tượng luận Đức. Ông có nhiều thời gian sinh sống và nghiên cứu triết học tại Monacco. Thời trẻ, ông từng tham dự các bài giảng và thảo luận với Edmund Husserl, được Husserl gửi gắm nhiều kỳ vọng.
Adolf Reinach (1883–1917): nhà triết học Đức, thành viên tiêu biểu của trường phái hiện tượng luận Munich. Ông có nhiều đóng góp cho ngành triết học về luật pháp.
Friedrich Rittelmeyer (1872 – 1938): nhà thần học người Đức, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của Thiên Chúa giáo tại Đức. Xuất thân trong gia đình có truyền thống Thiên Chúa giáo lâu đời, ông chịu ảnh hưởng của triết học Nietzsche và từng cộng tác với Rudolf Steiner.
Charles Renouvier (1815–1903): nhà triết học duy tâm Pháp, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của triết học Pháp. Ông kế thừa triết học của Kant và Leibniz để phát triển quan điểm triết học của mình nhằm bảo vệ tự do của con người.
G. E. Moore (1873 – 1958): nhà triết học Anh, giảng dạy lâu năm tại Đại học Cambridge. Ông được thừa nhận là một trong những nhà sáng lập của truyền thống triết học phân tích, cùng với Russell, Wittgenstein và Frege. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành đạo đức học, nhận thức luận và siêu hình học.
F. C. S. Schiller (1864-1937): nhà triết học Anh gốc Đức, theo chủ nghĩa thực dụng. Ông cho rằng “chân lý” chỉ là sản phẩm của sự sáng tạo của con người, và mọi tri thức của con người đều mang tính chủ quan. Ông ủng hộ thuyết duy ngã, vốn cho rằng con người chỉ có thể hiểu được chính bản thân mình. Luận điểm siêu hình học của ông là sự dung hòa giữa chủ nghĩa duy tâm chủ quan và thuyết tiến hóa. Về cuối đời, ông ủng hộ chủ nghĩa phát-xít, coi đó là một công cụ để tạo ra con người “siêu nhân”.
Charles Sanders Peirce (1839 – 1914): nhà triết học Hoa Kỳ, cha đẻ của chủ nghĩa thực dụng và ngành ký hiệu học. Ông có nhiều đóng góp to lớn cho các ngành logic học, toán học, ký hiệu học, nhận thức luận, triết học về ngôn ngữ, triết học về khoa học và phương pháp luận khoa học. Ông được coi là nhà tư tưởng lỗi lạc và nhà logic học ảnh hưởng nhất tại Hoa Kỳ trong suốt thế kỷ XX.
John Dewey (1859–1952): nhà triết học, tâm lý học và cải cách giáo dục người Mỹ, đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa thực dụng Mỹ, có ảnh hưởng lớn đến giáo dục và cải cách xã hội. Ông cũng để lại nhiều khảo cứu giá trị về siêu hình học, nhận thức luận, đạo đức học, mĩ học, nghệ thuật, logic học. Theo ông, trường học, xã hội dân sự và công luận tự do là các thể chế nền tảng để xây dựng nền dân chủ. Ông khuyến khích các hình thức truyền thông hiệu quả giữa công dân, chuyên gia và chính trị gia để tạo ra đồng thuận trong quá trình lập định chính sách công.
Lev Shestov (1866–1938): nhà triết học hiện sinh người Nga gốc Do Thái. Chịu ảnh hưởng của Dostoyevski và Nietzsche, thời trẻ ông sinh hoạt chung với các trí thức lớn của Nga. Năm 1921 ông di cư sang Pháp và mất tại Paris. Ông từng thảo luận triết học với Husserl và giảng dạy về hiện tượng luận tại Đại học Sorbonne. Các tác phẩm của ông (hiện đang lưu trữ tại Đại học Sorbonne, trong đó có nhiều tác phẩm chưa xuất bản) thể hiện sự chối từ tính duy lý và siêu hình học để đến với chủ nghĩa hư vô.
Max Weber (1864–1920): nhà kinh tế chính trị học và xã hội học Đức, một trong những người sáng lập ngành xã hội học và quản trị công đương đại. Ông là người am tường nền chính trị Đức, từng là cố vấn cho các nhà thương thuyết Đức tại Hòa ước Versailles và tham gia soạn thảo Hiến pháp Weimar. Theo ông, tôn giáo là một trong những nhân tố quan trọng cấu thành sự dị biệt văn hóa giữa phương Đông và phương Tây. Tại phương Tây, đạo Tin Lành khổ hạnh là một trong những nhân tố chính giúp phát triển chủ nghĩa tư bản, hệ thống hành chính, và xã hội dân sự.
WEBER, M. [1905] (2008). Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản. Bùi Văn Nam Sơndịch. Hà Nội: Nxb.. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
Victor Basch (1863 – 1944): nhà triết học người Pháp gốc Hungary, theo đạo Do Thái. Sau khi tốt nghiệp tại Đại học Sorbonne, ông giảng dạy về mĩ học và ngôn ngữ Đức. Những năm trong chiến tranh, ông tham gia các hoạt động chính trị, xã hội theo khuynh hướng cánh tả, bảo vệ nhân quyền và quyền công dân. Khi phát–xít Đức tràn vào Paris, ông đã bị chúng truy lùng và sát hại. Ông để lại một số tác phẩm giá trị về mĩ học Kant và triết học cổ điển Đức.
Célestin Bouglé (1870 – 1940): nhà triết học và xã hội học người Pháp. Ông giảng dạy xã hội học tại Đại học Sorbonne từ năm 1901 cho đến năm 1935 rồi chuyển sang dạy học tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Ông đã nỗ lực “gia cố” nền móng cho xã hội học bằng việc bổ sung tinh thần tự do và yếu tố của nền luân lý thế tục. Là người ủng hộ nhiệt thành cho chủ nghĩa thực chứng theo truyền thống của Aguste Comte, ông còn tham gia nhiều hoạt động xã hội trên tinh thần ủng hộ nền Cộng hòa.
Georgi Plekhanov (1856–1918): nhà cách mạng và lý thuyết mác-xít người Nga, sáng lập phong trào dân chủ xã hội tại Nga. Ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa Mác–xít Nga và một nhà triết học lớn của nước Nga.
DIDEROT, D. [1805] (2006). Cháu ông Rameau. Phùng Văn Tửu dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Ernst Mach (1838 – 1916): nhà vật lý học và triết học Áo. Ông có nhiều ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của chủ nghĩa thực chứng logic và chủ nghĩa thực dụng. Ông phê phán cơ học cổ điển của Newton và tạo nền tảng để hình thành thuyết tương đối của Eisstein.
Karl Joel (1864 – 1934): nhà triết học Đức, giảng dạy nhiều năm tại Đại học Basel. Ông gọi triết học của mình là “chủ nghĩa duy tâm mới” trên cơ sở “đoạn tuyệt” với chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa tự nhiên.
FREUD, S. [1905] 2003. Ba tiểu luận về tính dục. Nguồn: Đỗ Lai Thúy (2003).
Benedetto Croce (1866 – 1952): nhà triết học, sử học và chính trị gia Ý. Các tác phẩm của ông trải rộng trên nhiều đề tài: triết học, mĩ học, sử học. Mặc dù theo chủ nghĩa tự do, nhưng ông phản đối nền thương mại tự do. Ông từng làm Chủ tịch Văn bút Quốc tế (PEN International). Tư tưởng của ông ảnh hương đến các nhà mác-xít thế hệ sau, trong đó có Antonio Gramsci.
George Santayana (1863 – 1952): nhà triết học và nhà văn Hoa Kỳ gốc Tây Ban Nha. Sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ, ông giảng dạy tại Đại học Harvard đến năm 1912 rồi trở về châu Âu và qua đời tại Rome (Italy). Là học trò của William James, tư tưởng của ông có nhiều điểm tương đồng với John Dewey. Mặc dù theo chủ nghĩa tự nhiên, nhưng ông lại xem các tư tưởng tôn giáo là nền tảng của mọi sáng tạo trong văn chương.
James Mark Baldwin (1861 – 1934): nhà triết học và tâm lý học người Mỹ. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của ngành tâm lý học, tâm thần học và lý thuyết tiến hóa.
György Lukács (1885–1971): nhà triết học, mĩ học, lịch sử và phê bình văn học Hungary. Ông sáng lậpchủ nghĩa Marx phương Tây (Western Marxism), và được thừa nhận là một trong những nhà triết học mác-xít ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX. Trong triết học, bên cạnh Hegel, Marx vàEngels, ông còn chịu ảnh hưởng của Plekhanov. Trong mĩ học và văn chương, ông chịu ảnh hưởng của Dostoyevsky. Ông xuất bản nhiều tác phẩm về triết học mác-xít.
Martin Heidegger (1889 – 1976): nhà triết học Đức. Ông từng là học trò và là trợ giảng cho Husserl, sau đó đã kế tục Husserl giảng dạy triết học tại Đại học Freiburg (Đức). Sau khi nghiên cứu triết họcBrentano, ông quyết định tìm hiểu ý nghĩa của khái niệm tồn tại và cấu trúc bản thể của tồn tại người. Ông phân biệt hiện hữu là khác với tồn tại, hiện hữu là một cái gì đó được hình thành và có được bằng một cách nào đó. Bản thân hiện hữu có tính hữu hạn và tính đặc thù. Hiện hữu có nền tảng là tồn tại người. Hiện hữu là đối tượng của các khoa học tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học,…) và các khoa học xã hội nhân văn (sử học, xã hội học, nhân học,…), trong khi đó chỉ có tồn tại người mới là đối tượng của triết học.
Charles Blondel (1876 – 1939): nhà triết học, tâm lý học và tâm lý trị liệu người Pháp. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm phố d’Ulm và là học trò của Lucien Lévy– Bruhl, sau đó giảng dạy về tâm lý học thực nghiệm tại Đại học Strasbourg, chủ nghiệm Bộ môn Tâm lý bệnh học tại đây. Nhiều triết gia lớn thế hệ sau như Emmanuel Lévinas, Maurice Blanchot và Henri Ellenberger đã tham dự các bài giảng của ông.
Maurice Blondel (1861 – 1949): nhà triết học Pháp. Chịu ảnh hưởng của triết học Thiên Chúa giáo, ông đã nỗ lực tổng hợp tư tưởng của Plato với chủ nghĩa thực dụng hiện đại. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm phố d’Ulm, ông giảng dạy triết học và tiếp tục các công trình về triết học tôn giáo.
Han Ryner (1861 – 1938): nhà triết học, nhà báo và nhà hoạt động vì hòa bình người Pháp, chịu ảnh hưởng bởi triết học cổ đại, đặc biệt là chủ nghĩa khắc kỷ. Ryner cho rằng, khi trở nên khôn ngoan, con người sẽ biết cách chấp nhận cái tất yếu, vốn không thể thay đổi hay chống đỡ được. Ông khuyến khích một sự giải phóng “từ bên trong” linh hồn con người, thay vì hướng tới các cuộc cách mạng xã hội tập thể đầy bạo lực. Các tác phẩm của ông rất phong phú và đa dạng, từ triết học, chính trị học đến xã hội học.
Alfred North Whitehead (1861–1947): nhà toán học và triết học Anh, sáng lập trường phái “triết học tiến trình”, qua đó ảnh hưởng đến thần học và hàng loạt các ngành khoa học khác nhau. Ông còn có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành triết học về khoa học. Tác phẩm Principia Mathematicaông viết chung với Bertrand Russell được coi là tác phẩm kinh điển quan trọng bậc nhất của ngành logic toán.
HEGEL, G. W. F. [1807] (2006). Hiện tượng học tinh thần. Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú thích. Hà Nội: Nxb. Văn học.
Roman Ingarden (1893–1970): một tên tuổi lớn của hiện tượng luận tại Ba Lan. Ông có nhiều nghiên cứu về bản thể luận và mĩ học. Ông phản đối chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của Husserl, hướng hiện tượng luận về với bản thể luận.
Edith Stein (1891–1942): nhà triết học Đức gốc Do Thái. Bà bảo vệ luận án tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của Edmund Husserl tại Đại học Göttingen và từng là trợ giảng cho Husserl. Cuối đời, bà theo Dòng tu kín Carmelite và mất trong trại tập trung Auschwitz (Ba Lan) khi phát–xít Đức đưa bà cùng chị gái về đây.
Alexius Meinong (1853 – 1920): nhà triết học Áo, học trò của Franz Brentano, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa kinh nghiệm Anh (British empiricism), nghiên cứu về bản thể luận, triết học về tư duy, triết học về ngôn ngữ và tâm lý học thực nghiệm. Ông ảnh hưởng đến nhiều triết gia thế hệ sau, trong đó có Gilbert Ryle và Russell.
Georg Simmel (1858 – 1918): nhà xã hội học, triết học người Đức. Ông sử dụng cách tiếp cận của trường phái Kant mới để xây dựng nền tảng cho xã hội học Đức. Tư tưởng của ông ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của Trường phái Lý thuyết phê phán Frankfurt.
Carl Stumpf (1848 – 1936): nhà triết học và tâm lý học người Đức, học trò của Franz Bretano. Nhiều học trò của ông trở thành trụ cột của ngành tâm lý học Đức.
Otto Neurath (1882–1945): nhà triết học về khoa học và xã hội học người Áo, thành viên sáng lập của Nhóm Vienna.
Ferdinand de Saussure (1857–1913): nhà ngôn ngữ học Thụy Sỹ. Ý tưởng của ông đã đặt nền tảng cho những thành tựu phát triển của ngành ngôn ngữ học trong thế kỷ XX. Với tác phẩm kinh điển, Cours de linguistique génerale [Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương], ông tạo ra bước ngoặt trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ học. Ông phát hiện bản chất hệ thống của ngôn ngữ và sự quy định lẫn nhau của ngôn ngữ trong một hệ thống. Ông nâng vị trí nghiên cứu ngôn ngữ lên ngang tầm với các lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn khác.
H. L. Mencken (1880 – 1956): người Mỹ gốc Đức, nhà báo, nhà phê bình văn hóa, nhà văn trào phúng và chuyên gia hàng đầu viề tiếng Anh kiểu Mỹ (American English). Ông là nhà văn Mỹ có ảnh hưởng lớn nhất trong nửa đầu thế kỷ XX.
Wilhelm Ostwald (1853–1932): nhà hóa học Đức, Giải thưởng Nobel Hóa học năm 1909. Ông ủng hộ thuyết duy thực, vốn cho rằng nhà khoa học có thể rút ra quy luật từ các sự kiện có thể quan sát.
René Berthelot (1872–1960): nhà triết học Pháp, chịu ảnh hưởng của Plato và Hegel. Ông có nhiều nghiên cứu giá trị về chủ nghĩa thực dụng.
Émile Meyerson (1859– 1933): nhà triết học Pháp gốc Ba Lan. Ông theo chủ nghĩa Kant mới và chống lại chủ nghĩa thực chứng. Ông có nhiều khảo cứu giá trị về nhận thức luận và triết học về khoa học. Ông có nhiều ảnh hưởng tới Kyoré.
Gabriel Marcel (1889–1973): nhà triết học, nhà viết kịch và phê bình âm nhạc người Pháp. Ông đã đưa ra khái niệm chủ nghĩa hiện sinh sau Đại chiến thế giới lần thứ Nhất, dù lúc đó ông còn là một người vô thần. Ông tập trung vào cuộc đấu tranh của cá nhân trong một xã hội công nghệ phi nhân tính. Mặc dù thường được coi là hiện sinh Pháp đầu tiên, ông không liên hệ mình với các nhân vật như Jean–Paul Sartre, thay vì đó ông thích dùng thuật ngữ triết học hiện sinh để xác định tư tưởng riêng của mình. Các bản thảo viết tay của ông hiện được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp ở Paris.
Edward A. Westermarck (1862–1939): nhà triết học và xã hội học Phần Lan, chịu ảnh hưởng của Charles Darwin. Ông có nhiều đóng góp cho sự phát triển của xã hội học tại Anh trong những thập niên đầu thế kỷ XX.
Karl Abraham (1877–1925): nhà luận phân tâm người Đức thuộc “thế hệ thứ hai”, học trò xuất sắc của Sigmund Freud. Ông có nhiều nghiên cứu giá trị về vai trò của tính dục trong sự hình thành nhân cách ở trẻ em.
FREUD, S. [1909] (2002). Phân tích một ca ám sợ ở một bé trai 5 tuổi: Chuyện bé Hans. Lưu Huy Khánh dịch. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
H. A. Prichard (1871 – 1947): nhà triết học Anh, giảng dạy triết học lâu năm tại Đại học Oxford, và là người sáng lập “Trường phái Trực giác Oxford”. Ông có nhiều đóng góp quan trọng về nhận thức luận và luân lý học trên tinh thần của chủ nghĩa duy thực (realism).
Albert Leclere (1867 – 1920): nhà triết học Pháp, quan tâm đến mối quan hệ giữa triết học và tôn giáo. Ông có nhiều nghiên cứu giá trị về lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, về đạo đức học và bản thể luận.
Georges-Henri Luquet (1876-1965): nhà triết học Pháp, bạn học của Bergson và Lucien Lévy-Bruhl tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Các tác phẩm của ông đề cập đến nhiều vấn đề rộng lớn: triết học về khoa học, triết học xã hội, triết học luân lý, tâm lý học nhận thức, nhân chủng học, dân tộc học, lịch sử các tôn giáo, các nền văn hóa và các nền nghệ thuật... Ông sưu tập hơn 1.700 bức tranh của con gái mình vẽ suốt 10 năm kể từ khi cô bé bắt đầu lên bảy tuổi để viết luận án tiến sĩ nghệ thuật học về hội họa ở trẻ em. Ông cũng để lại nhiều khảo cứu giá trị về mĩ thuật thời cổ đại.
Jean Hering (1890-1966): nhà triết học Pháp, có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của hiện tượng luận tại Pháp trong những thập niên đầu thế kỷ XX. ời trẻ, ông nghiên cứu về thần học tại Đại học Strasbourg. Sau đó, ông sang Đức theo học với Husserl, trở thành thành viên chính của Nhóm Göttingen nghiên cứu về hiện tượng luận do Husserl chủ trì.
Dominique Parodi (1870 – 1955): nhà triết học Pháp gốc Ý. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm phố d’Ulm, ông giảng dạy triết học tại nhiều trường trung học nổi tiếng của Paris, tham gia dịch các tác phẩm của George Berkeley sang tiếng Pháp. Ông có nhiều nghiên cứu công phu về triết học chính trị và đạo đức học.
BERKELEY, G. [1710] (2013). Một nghiên cứu về các nguyên tắc nhận thức của con người. Đinh Hồng Phúc dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
Victor Delbos (1862 – 1916): nhà triết học Pháp. Ông giảng dạy tại Đại học Sorbonne. Ông có nhiều nghiên cứu về triết học của Spinoza, Kant và Husserl.
DEWEY, J. [1910] (2013). Cách ta nghĩ. Vũ Đức Anh dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Max Adler (1873 – 1937): nhà triết học xã hội và chính trị gia người Áo, thuộc trường phái mác-xít Áo. Ông nỗ lực tổng hợp các luận đề của triết học mác-xít với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của Kant.
Bernard Bosanquet (1848 – 1923): nhà triết học Anh. Cùng với F. H. Bradley, ông là người ủng hộ nhiệt thành cho chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối, và là đại diện tiêu biểu của “phong trào Hegel mới” tại Anh. Ông nghiên cứu rộng về logic học, siêu hình học, mĩ học và chính trị học. Ông để lại nhiều ảnh hưởng tới các nhà triết học Anh thế hệ sau, trong đó có Russell, Dewey và William James.
Alexandre Koyré (1892 – 1964): nhà triết học và nhà lịch sử khoa học người Pháp gốc Nga. Thời trẻ, ông sang Đức theo học tại Đại học Göttingen, tham dự các bài giảng của Edmund Husserl và David Hilbert. Sau khi tốt nghiệp, ông trở về Paris giảng dạy lịch sử triết học. Ông chia sẻ quan điểm với Gaston Bachelard về tính không liên tục trong lịch sử phát triển của khoa học, đồng thời phê phán cách tiếp cận của chủ nghĩa thực chứng đối với khoa học và lịch sử phát triển của khoa học. Chịu nhiều ảnh hưởng của Bergson, ông được coi là “cây cầu” cho quá trình tiếp biến của hai nềntriết học Pháp và Đức, cũng như giữa tư tưởng triết học của Bergson và Husserl. Ông để lại ảnh hưởng lớn cho tiến trình tiếp nhận hiện tượng luận tại Pháp của các triết gia thế hệ sau, trong đó có A. Kojève, J. Hering, B. Groethuysen, G. Gurvitch...
Ludwig Wittgenstein (1889 – 1951): nhà triết học Áo, có nhiều đóng góp quan trọng trong logic, triết học về toán, triết học tinh thần và triết học về ngôn ngữ. Ông được coi là một trong những nhà triết học quan trọng nhất của thế kỷ XX và một trong những trụ cột của truyền thống triết học phân tích. Trước khi qua đời, cuốn sách duy nhất ông cho xuất bản là Tractatus Logico–Philosophicus (1921). Cuốn Nghiên cứu triết học[Philosophische Untersuchungen], được xuất bản một thời gian ngắn sau khi ông mất, có ảnh hưởng lớn tới triết học phân tích và chủ nghĩa thực chứng logic.
Berdyaev, N. A. [1911] (2016). Triết học của tự do. Đỗ Minh Hợp dịch, Nguyễn Trọng Chuẩn hiệu đính. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Alfred Adler (1870-1937): bác sĩ, nhà tâm lý học trị liệu người Áo, sáng lập trường phái tâm lý học cá nhân. Khởi đầu sự nghiệp với chuyên ngành nhãn khoa, ông được công nhận là một trong ba nhà tâm lý học vĩ đại nhất của thế kỷ XX, cùng với Freud và Jung. Ông cùng Freud xây dựng nền tảng ban đầu cho ngành phân tâm học, và trở thành trụ cột của Trường phái Phân tâm học Vienna. Chịu ảnh hưởng bởi Kant, Nietzsche và Dostoevsky, ông cho rằng phức cảm tự ti (inferiority complex) đóng vai trò chủ yếu trong quá trình phát triển cá tính của mỗi cá nhân. Ông kế thừa khái niệm “ý chí quyền lực” của Nietzsche để phân tích sức mạnh sáng tạo của mỗi cá nhân cải thiện hoàn cảnh của mình.
Charles Andler (1866 – 1933): nhà triết học Pháp, có nhiều nghiên cứu đặc biệt giá trị về triết học Đức, đặc biệt là triết học của Marx và Nietzsche. Ông là một trong những giáo sư hàng đầu về triết học Đức tại Đại học Sorbonne từ năm 1901, và có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Marx vào Pháp.
Julien Benda (1867 – 1956): nhà triết học và nhà văn Pháp gốc Do Thái. Ông nghiên cứu rộng nhiều vấn đề của triết học, đồng thời tham gia viết sách, báo về các vấn đề của châu Âu hiện đại.
Johann Gottfried von Herde (1744 – 1803): nhà triết học, thần học, nhà thơ và phê bình văn học người Đức. Ông là tên tuổi lớn của truyền thống học thuật Đức giai đoạn chuyển tiếp từ Thời kỳ Lãng mạn sang Thời kỳ Cổ điển. Tác phẩm Abhandlung über den Ursprung der Sprache [Luận về nguồn gốc của ngôn ngữ](1772) của ông góp phần quan trọng để hoàn thiện nền móng của ngành ngôn ngữ học.
Tác phẩm này được Beatrice M. Hinkle dịch sang tiếng Anh vào năm 1916 với tựa đề Psychology of the Unconscious: a study of the transformations and symbolisms of the libido, a contribution to the history of the evolution of thought [Tâm lý học của cái vô thức: Nghiên cứu về các quá trình chuyển dịch và các biểu tượng của libido, một đóng góp về lịch sử tiến hóa của tư tưởng].
Carl Siegel (1872 – 1943): nhà toán học và triết học Áo. Ông nghiên cứu rộng về triết học, sử học, phương pháp luận khoa học và nhận thức luận.
“Triết học lục địa” là một tập hợp các truyền thống triết học hình thành và phát triển tại lục địa châu Âu trong thế kỷ XIX và XX. Triết học lục địa ngả theo khuynh hướng “khoa học vạn năng” (scientism), xem khoa học tự nhiên là cách duy nhất hoặc chính xác nhất để hiểu các hiện tượng. Triết học lục địa gồm các trào lưu chính: chủ nghĩa duy tâm Đức, hiện tượng luận, chủ nghĩa hiện sinh và các “biến thể” của nó (như triết học của Kierkegaard và Nietzsche), thông diễn học, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu–cấu trúc, thuyết bình quyền nữ giới Pháp (French femninism), luận phân tâm, lý thuyết phê phán của trường phái Frankfurt, và các trường phái chính của chủ nghĩa Marx phương Tây (Western Marxism).
“Triết học phân tích” là truyền thống triết học phổ quát tại các quốc gia nói tiếng Anh ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhấn mạnh đến sự trong sáng và rõ ràng thông qua các lập luận vốn được hình thành bởi logic hình thức & phân tích ngôn ngữ. Triết học phân tích chịu nhiều ảnh hưởng bởi chủ nghĩa thực chứng logic.
André Falconet (1881 – 1965): nhà triết học Pháp, một trong những chuyên gia hàng đầu về ngôn ngữ và văn chương Đức trong thế hệ ông. Ông để lại nhiều nghiên cứu giá trị về mĩ học và triết học Đức hiện đại.
Giovanni Gentile (1875–1944): nhà triết học duy tâm người Ý, thuộc trường phái Hegel mới. Ông tự coi mình là “triết gia của chủ nghĩa phát–xít”. Ông có nhiều ảnh hưởng trong thời gian nhà độc tài Benito Mussolini lên cầm quyền ở Ý.
FREUD, S. [1913] (2000). Nguồn gốc của văn hóa và tôn giáo: Vật tổ và cấm kỵ. Lương Văn Kế dịch và giới thiệu. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
Jacques Maritain (1882–1973): nhà triết học và thần học Pháp, có nhiều nghiên cứu giá trị về siêu hình học, mĩ học, triết học về khoa học và các vấn đề thần học. Ông từng tham gia soạn thảo Tuyên ngôn toàn cầu về các quyền con người (The Universal Declaration of Human Rights). Ông cũng là người gần gũi với Giáo hoàng Paul VI và Công đồng Vatican II.
WOHL, R. (1979).
SAUSSURE, F. [1915] (1973). Giáo trình ngôn ngữ học đại cương. Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội dịch. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội. Tái bản: SAUSSURE, F. [1916] (2005). Giáo trình ngôn ngữ học đại cương. Cao Xuân Hạo dịch. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.
Antonie Pannekoek (1873 – 1960): nhà lý thuyết mác-xít người Hà Lan. Ông đến với triết học trên nền tảng vững chắc của khoa học tự nhiên, với khuynh hướng cánh tả cấp tiến.
DEWEY, J. [1916] (2008). Dân chủ và giáo dục: một dẫn nhập vào triết lý giáo dục. Phạm Anh Tuấndịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
FREUD, S. [1917] (1970). Phân tâm học nhập môn. Nguyễn Xuân Hiếu dịch. Sài Gòn: Nhà sách Khai Trí. In lại: S. Freud [1917] (2001). Phân tâm học nhập môn. Nguyễn Xuân Hiếu dịch. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
HEGEL, G. W. F. [1817] (2008). Khoa học lôgíc (Bách khoa thư các khoa học triết học I). Bùi Văn Nam Sơn dịch, chú giải. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
MARX, K. [1863] (1959). Tư bản – Phê phán khoa kinh tế chính trị. Hà Nội: Nxb. Sự thật.
Arthur Schopenhauer (1788–1860): nhà siêu hình học vĩ đại người Đức, nổi tiếng với các phê phán về triết học Kant. Các tác phẩm của ông đã giúp củng cố lại nền móng cho đạo đức học, mĩ học, chính trị học, tâm lý học, vào tạo khởi nguồn cho chủ nghĩa hiện sinh. Ông để lại ảnh hưởng sâu đậm về tư tưởng đến các triết gia lớn thế hệ sau, trong đó có Nietzsche, Freud, Wittgenstein…
Ernst Bloch (1885 – 1977): nhà triết học mác-xít người Đức. Ông chịu ảnh hưởng của Hegel và Marx. Ông có nhiều quan hệ học thuật với các thành viên chính của trường phái Lý thuyết phê phán. Ông cũng được xem nhà một trong những nhà không tưởng chủ nghĩa vĩ đại nhất.
Moriz Schilick (1882–1936): nhà triết học Đức, sáng lập chủ nghĩa thực chứng logic. Ông là học trò của Max Planck. Ông kế tục Ernst Mach làm Chủ nhiệm Khoa Triết học tại Đại học Vienna, và là thành viên quan trọng của Nhóm Vienna (cùng với Carnap, Gödel, Neurath...). Ông chống lại tri thức tiên nghiệm và khẳng định rằng chân lý phải được kiểm nghiệm bởi các bằng chứng định lượng.
Louis Lavelle (1883 – 1951): một trong những nhà siêu hình học hàng đầu của Pháp trong thế kỷ XX, có nhiều đóng góp quan trọng trong ngành triết học về tư duy. Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ tại Sorbonne, ông tham gia nhiều sinh hoạt triết học quan trọng tại Paris. Cùng thời với Bergson, nhưng ông tiếp cận với chủ nghĩa duy tâm theo những hướng mới mẻ và độc đáo.
Félicien Challaye (1875 – 1967): nhà triết học Pháp, nhà báo theo khuynh hướng chống chủ nghĩa thực dân. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm phố d’Ulm, ông sang Đức tiếp tục nghiên cứu triết học một thời gian ngắn, rồi bắt đầu chuyến khám phá phương Đông: Ấn Độ, Java, Đông Dương, Ai Cập, Nhật Bản để thu thập tư liệu cho những khảo cứu địa phương rất giá trị, trước khi trở về Pháp giảng dạy triết học. Cuối đời, ông xuất bản một số công trình về tâm lý học và luận phân tâm.
HEGEL, G. W. F. [1821] (2010). Các nguyên lý của triết học pháp quyền hay đại cương pháp quyền tự nhiên và khoa học về nhà nước. Bùi Văn Nam Sơn dịch, chú giải. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
WITTGENSTEIN, L. [1921] (2010). Tractatus Logico–Philosophicus. Cao Dao dịch. Nguồn: talawas blog. URL = <http://www.talawas.org/?p=25042>.
Émile Bréhier (1876 – 1952): nhà triết học, sử học và nhà văn Pháp. Ông nổi tiếng với những công trình về lịch sử triết học Hy Lạp và triết học trung đại. Ông từng giảng dạy triết học tại Đại học Sorbonne. Sau khi Bergson mất, ông được kế thừa ghế Viện sĩ của Bergson tại Viện Hàn lâm về các khoa học luân lý và chính trị.
Nikolai Bukharin (1888–1938): nhà triết học và chính trị gia Nga. Ông là thành viên trong nội các của chính phủ Liên bang Xô–viết thời kỳ đầu. Sau khi Lenin mất, ông bộc lộ sự bất đồng chính kiến với Stalin và sau đó bị thủ tiêu.
Henri Delacroix (1873 – 1937): nhà triết học và tâm lý học Pháp. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành tâm lý học tại Pháp trong giai đoạn sơ kỳ.
Hajime Tanabe (1885–1962): nhà triết học Nhật Bản, thành viên sáng lập của Trường phát triết học Tokyo, cùng với Kitaro Nishida và Keiji Nishitani. Ông từng giảng dạy tại Đại học Đế quốc Nhật Bản (Kyoto Imperial University), cùng Nishida đấu tranh cho quyền tự do học thuật. Là người ủng hộ nhiệt thành cho chủ nghĩa hiện sinh, quan điểm triết học của ông gần gũi với truyền thống triết học lục địa, đặc biệt là Kierkegaard, Nietzsche và Heidegger.
Kitarō Nishida (1870–1975): nhà triết học Nhật Bản xuất sắc, người sáng lập Trường phái triết học Kyoto, và là biểu tượng của tiến trình đối thoại triết học và tôn giáo Đông – Tây. Trong gần 3 thập niên giảng dạy tại Đại học Kyoto, ông đã nỗ lực xây dựng một nền logic thống nhất và phi nhị nguyên, trên cơ sở tích hợp tư tưởng của Thiền tông với logic phương Tây của Aristotle, Kant và Hegel. Ông cũng là người truyền bá hiện tượng luận Husserl tại Nhật Bản. Các tác phẩm của ông được hệ thống hóa trong Toàn tập Nishida (gồm 18 tập).
Shūzō Kuki (1888–1941): nhà triết học Nhật Bản xuất sắc, có nhiều đóng góp quan trọng trong sự phát triển của hiện tượng luận tại Nhật Bản. Trong tác phẩm kinh điển của mình, The Structure of “Iki” (1930), ông đã sử dụng các phân tích hiện tượng luận để phân tích các đặc trưng độc đáo của văn hóa Nhật Bản. Trong thời gian giảng dạy tại Đại học Kyoto, ông đã có nhiều bài giảng và xuất bản nhiều công trình về triết học Đức đương đại, trong đó có tác phẩm nghiên cứu về Martin Heidegger bằng tiếng Nhật đầu tiên.
Leo Robin (1866 – 1947): nhà lịch sử triết học cổ đại, được xem như là “nhà Plato học” hàng đầu tại Pháp. Ông tốt nghiệp Đại học Sorbonne và sau đó giảng dạy triết học tại đây. Ông để lại nhiều công trình nghiên cứu rất chuẩn mực về triết học cổ đại, đồng thời dịch nhiều tác phẩm của Plato sang tiếng Pháp.
Nabert Jean (1881 – 1960): nhà triết học Pháp. Tư tưởng của ông về luân lý và siêu hình học, trên cơ sở phê phán ý thức tiên nghiệm kiểu Kant (conscience transcendantale kantienne), đã để lại nhiều ảnh hưởng đến triết gia thế hệ sau, trong đó có Paul Ricœur.
Henri Gouhier (1898 – 1994): nhà triết học, sử học và phê bình sân khấu người Pháp, chịu ảnh hưởng của truyền thống thần học Thiên Chúa giáo.
Jean–Paul Sartre (1905–1980): nhà triết học, nhà văn, nhà báo Pháp, nhân vật trụ cột của chủ nghĩa hiện sinh tại Pháp. Ông đỗ đầu thạc sĩ triết học tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1929, Simone de Beauvoir đỗ thứ nhì và trở thành bạn đời của ông. Ông từng tuyên bố: “L’homme n’est rien d’autre que ce qu’il se fait” (Con người không là gì ngoài điều con người tự tạo), và coi đó là nguyên lý đầu tiên của chủ nghĩa hiện sinh. Ông tham gia sáng lập tạp chí Les Temps modernes vào năm 1945. Về chính trị, Sartre là biểu tượng của trí thức dấn thân. Đám táng ông quy tụ cả chục ngàn người đưa tiễn. [LUẬT, Phạm Trọng (2004)].
Raymond Aron (1905–1983): nhà triết học, xã hội học, khoa học chính trị và nhà báo Pháp, bạn thân của Jean–Paul Sartre. Ông bảo vệ luận án tiến sĩ sử học tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1930, sau đó giảng dạy xã hội học tại các trường đại học lớn của Pháp từ sau Đại chiến thế giới II. Ông là người có công lớn trong việc đưa xã hội học của Max Weber vào nước Pháp. Ông cũng là nhà báo đầy ảnh hưởng cho hai tờ Le Figaro và L’Express.
Georges Canguilhem (1904–1995): nhà triết học Pháp, có nhiều đóng góp quan trọng cho nhận thức luận và triết học về khoa học, đặc biệt là triết học về sinh học và triết học về y học. Ông là bạn cùng lớp với Jean–Paul Sartre. Ông để lại dấu ấn lớn trong công việc giảng dạy triết học, và ảnh hưởng đến các triết gia thế hệ sau, đặc biệt là Derrida, Foucault và Althusser.
Daniel Lagache (1903–1972): nhà tâm lý học và luận phân tâm tiêu biểu của Pháp. Ông là bạn học của Jean–Paul Sartre và Raymond Aron. Ông làm chủ nhiệm Khoa tâm lý học và trị liệu tâm lý tại Đại học Sorbonne. Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu về Freud tại Pháp.
Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm: thành lập năm 1794, mang theo tinh thần Tự do – Bình đẳng – Bác ái của cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789) và tinh thần Khai sáng, trên cơ sở phát huy triệt để truyền thống tự do học thuật và tự do nghiên cứu. Đây là một trong những trường đại học lâu đời và danh giá nhất của nước Pháp, đào tạo nhiều trí thức lớn và chính khách cho nước Pháp và thế giới. Khoa Triết học của Trường cũng là “cái nôi” đào tạo nhiều nhà triết học lớn cho nước Pháp và thế giới, với những tên tuổi như Jean–Paul Sartre, Raymond Aron, Jean Hyppolite, MauriceMerleau–Ponty, Trần Đức Thảo, Simone Weil, Louis Althusser, Michel Foucault, Pierre Bourdieu…
Décades de Pontigny: cuộc gặp thường niên trong giai đoạn 1910–1914 và 1922–1939, do nhà báo Paul Desjardins tổ chức, trên tinh thần tôn trọng tự do tư tưởng, bàn về nhiều vấn đề lớn của tôn giáo, triết học, văn chương, về giáo dục, nhân quyền…, với sự tham gia của các nhà triết học và nhà văn hàng đầu của Pháp như Andre Gide, François Mauriac, Saint–Exupéry, André Malraux, Raymond Aron, Brunschvicg, Bachelard, Nicolas Berdyaev, Jean–Paul Sartre...
Antonio Gramsci (1891–1937): nhà triết học, xã hội học, nhà văn, chính trị gia và nhà lý thuyết chính trị người Ý. Ông là một trong những nhà tư tưởng mác-xít quan trọng nhất của thế kỷ XX. Ông nổi tiếng với lý thuyết “thống trị về văn hóa” (cultural hegemony), nhằm mô tả nhà nước đã sử dụng các thể chế văn hóa như thế nào để duy trì quyền lực trong các xã hội tư bản.
Leo Trotsky (1879 – 1940): nhà Mác-xít và lý luận cách mạng Bolshevik. Cùng với Lenin, ông là một trong những lãnh đạo của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Ông là một trong những thành viên đầu tiên của Bộ chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô. Sau khi lãnh đạo một cuộc đấu tranh thất bại của pháiCánh Tả đối lập chống lại các chính sách và sự thăng tiến của Joseph Stalin trong thập niên 1920, Trotsky bị đưa ra khỏi Đảng Cộng sản và trục xuất khỏi Liên Xô. Với tư cách người lãnh đạo Đệ Tứ Quốc tế, Trotsky, trong tình trạng bị trục xuất, tiếp tục phản đối chính sáchquan liêu Stalin tại Liên Xô, và cuối cùng bị ám sát tạiMexico bởi một điệp viên Liên Xô.
Helene Deutsch (1884–1982): nhà luận phân tâm người Mỹ gốc Áo, theo đạo Do Thái. Bà là một trong những nhà luận phân tâm “thế hệ thứ hai” đầu tiên chuyên nghiên cứu về tâm lý phụ nữ và tính dục nữ. Bà là học trò và đồng nghiệp của Freud, và cùng ông thành lập Hội Luận phân tâm Vienna.
Bernard Groethuysen (1880 – 1946): nhà triết học và nhà văn Pháp gốc Hà Lan. Thời trẻ, ông sang học tại Ý và Đức, là học trò của Georg Simmel và Wilhelm Dilthey, kết giao với nhiều triết gia lớn và văn sĩ lớn của Pháp như Bergson và Charles Du Bois. Những năm 1920, ông giảng dạy triết học ở Đức rồi trở lại Pháp khi phát–xít Đức lên nắm quyền, với lời tạ từ nổi tiếng: “Intellectuels de tous les pays, unissez–vous!” (Hỡi giới trí thức của tất cả các quốc gia, hãy liên hiệp lại!). Với tri thức uyên bác và tầm nhìn phóng khoáng, ông trở thành một trong những trí thức châu Âu tiêu biểu của nửa đầu thế kỷ XX. Ông có công lớn trong việc dịch các tác phẩm của Goethe và Kafka sang tiếng Pháp. Ông để lại nhiều nghiên cứu giá trị về lịch sử triết học và tư tưởng chính trị thế kỷ XVIII của Montesquieu, Rousseau, Diderot và các nhà Cách mạng Pháp.
Jean Baruzi (1881 – 1953): nhà triết học và lịch sử tôn giáo người Pháp. Ông từng tham gia giảng dạy ở Collège de France. Ông để lại nhiều công trình giá trị về triết học tôn giáo và triết học Trung đại. Jacques Lacan là một học trò xuất sắc của ông.
Pierre Naville (1904–1993): nhà triết học, xã hội học và nhà văn thuộc trường phái siêu thực của Pháp. Xuất thân từ giới thượng lưu, ông ngả theo khuynh hướng mác-xít và gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Sau khi gặp Trotsky, ông ngả theo hướng Tờ–rốt–kít, tham gia sáng lập và cộng tác với nhiều tờ báo và tạp chí cánh tả tại Pháp. Sau chiến tranh, ông cộng tác với nhà xã hội học Pháp Georges Friedmann tại Centre d’études sociologiques (Trung tâm Nghiên cứu Xã hội học), phê phán chủ nghĩa hiện sinh.
Kiyoshi Miki (三木 清, 1897–1945): nhà triết học Nhật Bản. Thời trẻ, ông sang Đức nghiên cứu sâu về các đại biểu thời kỳ đầu của triết học hiện sinh. Sau đó, ông tham gia sinh hoạt triết học với các thành viên của Trường phái triết học Kyoto. Ý tưởng của ông về “Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á” đã bị phát–xít Nhật lợi dụng để biện minh cho hành vi xâm lược các quốc gia láng giềng trong Đại chiến thế giới lần thứ Hai. Do bất đồng chính trị với nhà cầm quyền, ông đã bị bỏ tù và mất trong tù do các điều kiện lao tù khắc nghiệt. Các trí thức Nhật Bản thế hệ sau ca ngợi ông là “nhân vật trung tâm của phong trào nhân văn tại Nhật Bản”.
HEIDEGGER, M. [1927] (1973). Hữu thể và thời gian. Trần Công Tiến dịch, Lê Tôn Nghiêm giới thiệu. Sài Gòn: Quê Hương.
Aleksei F. Losev (1893 – 1988): nhà triết học và lý thuyết văn hóa Nga xuất sắc. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giảng dạy triết học tại nhiều trường đại học, đồng thời chống khuynh hướng toàn trị và giáo điều.
Eugen Fink (1905–1975): nhà triết học Đức, trợ lý của Edmund Husserl, và là đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa duy tâm hiện tượng luận (phenomenological idealism). Ông đề cao vai trò của bản thể luận trong nghiên cứu triết học. Ông đã thực hiện một số thảo luận chuyên đề về triết học với Martin Heidegger và nhiều nhà triết học lớn. Ông có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Husserl trong những năm cuối đời của Husserl.
Herbert Marcuse (1898–1979): nhà triết học, xã hội học và lý thuyết chính trị người Đức, một tên tuổi lớn của trường phái Lý thuyết phê phán Frankfurt, và là gương mặt tiêu biểu của phong trào Cánh tả Mới tại phương Tây. Các tác phẩm của ông đưa ra những cảnh báo về các tác động củachủ nghĩa tư bản và công nghệ hiện đại sẽ làm xói mòn các giá trị nhân văn, nhân bản của xã hội loài người. Những luận điểm này đã ảnh hưởng lớn tới giới trí thức và các nhà hoạt động chính trị trong những thập niên 1960–1970. Tác phẩm tiêu biểu: Eros and Civilization [Thần ái tình và nền văn minh] (1955), One–Dimensional Man [Con người một chiều kích] (1964).
Hans Raichenbach (1891–1953): nhà triết học về khoa học hàng đầu của Đức, có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của chủ nghĩa thực chứng logic, và là thành viên sáng lập của Nhóm Berlin, cùng với Kurt Greling, David Hilbert…
Emmanuel Lévinas (1906–1995): nhà triết học Pháp, gốc Do Thái. Ông là một trong những học trò của Edmund Husserl, và là người dịch tác phẩm của Husserl sang tiếng Pháp. Ông đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình tiếp nhận hiện tượng luận của Husserl và Heidegger tại Pháp từ sau thập niên 1930, đặc biệt là quá trình tiếp xúc với hiện tượng luận của Sartre và Merleau–Ponty. Ông có nhiều nghiên cứu quan trọng về luân lý học, trên tinh thần phê phán những hạn chế của siêu hình học.
Pierre Janet (1859 – 1947): nhà tâm lý học, tâm lý trị liệu và triết học người Pháp. Ông được thừa nhận là một trong ba người sáng lập ngành tâm lý học, cùng với William James và Wilhelm Wundt. Carl Jung từng là học trò và chịu nhiều ảnh hưởng của ông.
Maurice Merleau–Ponty (1908 – 1961): nhà hiện tượng luận xuất sắc người Pháp, học trò và người chịu nhiều ảnh hưởng của Husserl. Ông tốt nghiệp tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm năm 1930. Ông quan tâm sâu sắc đến quá trình cấu thành ý nghĩa của sự tồn tại người. Khác với truyền thống lâu đời của triết học phương Tây coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, ông coi cơ thể con người mới là nguồn gốc đích thực của tri thức. Các tư tưởng về hiện tượng luận đầy tính tiên phong được ông trình bày trong các tác phẩm về nghệ thuật, văn chương, ngôn ngữ và chính trị. Ông đọc triết họcMarx từ hồi trẻ và đồng thuận với triết học mác-xít, tuy vẫn giữ sự bất đồng với chủ nghĩa cộng sản. Ông tham gia sáng lập và phụ trách về chính trị cho tờ tạp chí cánh tả Les Temps Modernes cùng với Jean–Paul Sartre và nhiều nhà triết học lớn của Pháp. Ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong một loạt vấn đề quan trọng của hiện tượng luận, triết học về nhận thức, triết học ngôn ngữ…, và qua đó ảnh hưởng lâu dài đến các thế hệ triết gia sau này. Ông có nhiều mối liên hệ về triết học và hoạt động chính trị–xã hội với Giáo sư Trần Đức Thảo trong thời kỳ Giáo sư học tập, nghiên cứu và hoạt động tại Pháp và cộng tác với Les Temps Modernes trong giai đoạn 1942–1951.
Gaston Bachelard (1884–1962): nhà triết học Pháp. Ông đưa ra khái niệm obstacle épistémologiquevà rupture épistémologique, trên tinh thần phê phán chủ nghĩa thực chứng, để chỉ ra sự không liên tục trong các tiến bộ của khoa học. Các công trình nghiên cứu của ông trong lĩnh vực triết học về khoa học và triết học về văn chương đã ảnh hưởng sâu đậm lên các triết gia thế hệ sau này, trong đó có Michel Foucault, Louis Althusser và Jacques Derrida.
Jean Cavaillès (1902–1944): nhà triết học và toán học Pháp. Thời trẻ, ông từng sang Đức theo học Husserl và làm việc chung với nhiều nhà toán học Đức xuất sắc. Ông giảng dạy triết học tại Đại học Sorbonne từ năm 1941. Trong chiến tranh, ông tham gia kháng chiến chống phát–xít Đức xâm lược nước Pháp. Vì các hoạt động kháng chiến, ông đã bị bắt và bỏ tù. Trong tù, ông đã viết tác phẩm Sur la logique et la theorie de la science (Về logic và lý thuyết về khoa học). Ông bị phát–xít Đức sát hại và hi sinh anh dũng vào tháng 2–1944. Hiện nay, tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm có một trung tâm nghiên cứu về lịch sử khoa học và triết học về khoa học mang tên ông.
Wilhelm Reich (1897 – 1957): nhà luận phân tâm Áo, thuộc “thế hệ thứ hai” sau Sigmund Freud. Các tác phẩm của ông ảnh hưởng lớn tới phong trào sinh viên trong thập niên 1960.
Max Horkheimer (1895–1973): nhà triết học và xã hội học Đức, có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của Lý thuyết phê phán (critical theory) và Trường phái Frankfurt. Các nghiên cứu của ông nhấn mạnh đến sự liên kết giữa các cấu trúc và mạng lưới xã hội, cũng như sự ảnh hưởng trở lại của những liên kết này tới hành vi của cá nhân. Ông có nhiều mối liên hệ học thuật với các nhà tư tưởng cùng thời, như Herbert Marcuse, Erich Fromm, Theodor Adorno và Walter Benjamin.
Jean Wahl (1888–1974): nhà triết học Pháp. Ông chịu ảnh hưởng của Henri Bergson, William James vàGeorge Santayana. Ông là một trong những người giới thiệu tư tưởng triết học Hegel vào Pháp từ thập niên 1930, đồng thời là một chuyên gia về Kierkegaard. Ông có nhiều ảnh hưởng đến các nhà triết học lớn của Pháp thế hệ sau, trong đó có Emmanuel Lévinas và Jean–Paul Sartre.
Valentin Voloshinov (1895 – 1936): nhà ngôn ngữ học Nga, có ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực lý thuyết về văn chương và lý thuyết về ý thức hệ mác-xít. Trong tác phẩm quan trọng xuất bản năm 1927 này, ông đã cố gắng tích hợp lĩnh vực ngôn ngữ học với chủ nghĩa Marx, trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Wilhelm von Humboldt và Ferdinand de Saussure, để chỉ ra rằng ngôn ngữ là một thực thể vật chất, một hệ thống ký hiệu mang tính xã hội cao, được hình thành bởi tiến trình tổng hợp liên tục và mang tính sáng tạo, đồng thời là cơ sở để hình thành ý thức. Bên cạnh đó, ngôn ngữ còn là công cụ quan trọng nhất để định hình và bành trước các loại hình ý thức hệ. Tư tưởng của ông đã dự báo sự ra đời của chủ nghĩa hậu cấu trúc nhiều thập niên sau, và ảnh hưởng tới ngành nhân chủng ngôn ngữ học.
Jørgen Jørgensen (1894–1969): nhà triết học Đan Mạch, đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa thực chứng logic. Ông chịu ảnh hưởng của Russell và Carnap.
Étienne Gilson (1884 – 1978): nhà triết học và sử học Pháp. Là một chuyên gia hàng đầu về lịch sử triết học trung đại, ông từng theo học với Victor Delbos, Durkheim và Levy–Bruhl, sau đó giảng dạy về triết học thời kỳ Trung đại tại Sorbonne, Collège de France, Đại học Harvard... Ông bảo vệ sự trong sáng của truyền thống triết học Thiên Chúa giáo trước sự “tấn công” của chủ nghĩa hiện sinh. Ông từng là cố vấn cho Chính phủ Pháp trong Hội nghị San Franciso (1945) thành lập Liên Hợp Quốc.
Martial Gueroult (1891 – 1976): nhà triết học và lịch sử triết học Pháp. Ông có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu về lịch sử triết học. Tốt nghiệp Đại học Sư phạp phố d’Ulm, ông giảng dạy tại Sorbonne rồi chuyển sang làm Chủ nhiệm Bộ môn “Lịch sử và công nghệ của các hệ thống triết học” tại Collège de France. Ông có nhiều kiến giải độc đáo về triết học thời kỳ trung đại và triết học Descartes.
Arthur O. Lovejoy (1873–1962): nhà triết học và lịch sử tri thức người Mỹ, sáng lập ngành lịch sử tư tưởng, nổi tiếng với những phê phán về chủ nghĩa thực dụng.
FREUD, S. [1930] (2009). Cảm giác bất ổn với văn hóa. Lê Thị Kim Tuyến dịch. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
KANT, I. [1781] (2004). Phê phán lý tính thuần túy. Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú thích. Hà Nội: Nxb. Văn học.
Henry Corbin (1903 – 1978): nhà triết học, dịch giả và nhà nghiên cứu phương Đông người Pháp, học giả hàng đầu về Hồi giáo và các tôn giáo vùng Trung Đông. Ông từng sang Đức để trao đổi triết học với Heidegger.
Lucien Barbedette (1890 – 1942): nhà triết học theo chủ nghĩa vô chính phủ người Pháp. Ông có nhiều nghiên cứu giá trị về tâm lý học và triết học thời trung đại.
Emmanuel Mounier (1905–1950): nhà triết học Pháp, thủ lĩnh tinh thần của chủ nghĩa nhân vị tại Pháp, sáng lập viên và giám đốc của tạp chí Espirit. Sau khi tốt nghiệp với thành tích xuất sắc tại Đại học Sorbonne, ông tham gia giảng dạy và viết sách. Tác phẩm The Personalist Manifesto [Tuyên ngôn của chủ nghĩa nhân vị] tạo được ảnh hưởng lớn từ những thập niên 1930. Ông cũng thẳng thắn lên án chủ nghĩa toàn trị và sự dính líu của Vatican vào nền chính trị quốc tế.
Alexandre Kojève (1902–1968): nhà triết học Pháp gốc Nga. Các bài giảng triết học của ông đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các thế hệ triết gia Pháp sau chiến tranh, trong đó có Jean–Paul Sartre,Maurice Merleau–Ponty, Jacques Lacan... Ông còn có đóng góp đặc biệt quan trọng thông qua việc dịch các tác phẩm triết học của Hegel từ tiếng Đức sang tiếng Pháp. [Tham khảo: KIÊN, Nguyễn Trung (2012a)].
Valentino F. Asmus (1894 – 1975): nhà triết học Nga. Ông là một trong số ít các nhà triết học độc lập với trường phái mác-xít chính thống, và duy trì được truyền thống triết học cổ điển châu Âu trong thời kỳ đầu của nền triết học thuật Xô–viết. Các nghiên cứu của ông về triết học Kant được đánh giá cao.
Berdyaev, N. A. [1939] (2015). Con người trong thế giới tinh thần: Trải nghiệm triết học cá biệt luận. Nguyễn Văn Trọng dịch, giới thiệu và chú giải. Hà Nội, Nxb Tri thức.
Otto Fenichel (1897–1946): nhà luận phân tâm người Áo, thuộc thế hệ thứ hai. Ông thuộc trường phái “luận phân tâm mác-xít”, cùng với nhiều thành viên quan trọng khác như Erich Fromm, Wilhelm Reich, Ernst Simmel…
Karl Popper (1902–1994): nhà triết học Anh gốc Áo. Ông được xem là một trong những nhà triết học về khoa học vĩ đại nhất trong thế kỷ XX. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp thử và sai trong quá trình phát triển của khoa học. Ông cũng để lại nhiều nghiên cứu đặc biệt giá trị vềtriết học xã hội và triết học chính trị. Ông là người ủng hộ nhiệt thành cho nền dân chủ tự do, và những nguyên lý về phê bình xã hội của ông đã trở thành nền tảng cho việc xây dựng xã hội mở và đa nguyên.
NIETZSCHE, F. [1885] (1999). Zarathustra đã nói như thế. Trần Xuân Kiêm dịch, Quang Chiến giới thiệu. Hà Nội: Nxb. Văn học (Tủ sách Nghiên cứu).
Alfred Delp (1907 – 1945): nhà nghiên cứu triết học Đức, từng bị đi tù vì lãnh đạo phong trào chống Đức Quốc xã trong những năm chiến tranh.
NIETZSCHE, F. [1886] (2008). Bên kia thiện ác. Nguyễn Tường Văn dịch. Hà Nội: Nxb. Văn hóa thông tin.
Walter Benjamin (1892–1940): nhà triết học, phê bình văn học, phê bình xã hội người Đức, một trong những trụ cột của trường phái Frankfurt. Thông qua việc kết hợp chủ nghĩa duy tâm Đức với chủ nghĩa duy vật lịch sử và huyền thoại Do Thái giáo, ông đã để lại những đóng góp đặc biệt quan trong cho ngành mĩ học và chủ nghĩa Marx tại phương Tây. Benjamin tự tử vào năm 1940 khi cố gắng trốn thoát khỏi phát–xít Đức.
Tham khảo: KIÊN, Nguyễn Trung (2012b).
Anna Freud (1895–1982): nhà luận phân tâm Áo, con gái của Sigmund Freud. Bà có công trong việc ứng luận phân tâm để phân tích tâm lý trẻ em và những nghiên cứu về tầm quan trọng của bản ngã.
Alfred Ayer (1910–1989): nhà triết học Anh, đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa thực chứng logic. Ông giảng dạy logic học trong nhiều năm tại University College London và Đại học Oxford.
FROMM, E. (2012). Phân tâm học và tôn giáo. Lưu Văn Hy dịch. Hà Nội: Nxb. Từ điển Bách khoa.
KANT, I. [1788] (2007). Phê phán lý tính thực hành: Đạo đức học. Bùi Văn Nam Sơn dịch, chú giải. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Bản dịch tiếng Anh của tác phẩm này đã được Nxb. Đại học Northwestern (Mỹ) ấn hành vào năm 1970 (David Carr dịch), bản dịch tiếng Pháp được Nxb. Gallimard (Pháp) ấn hành vào năm 1976 (G. Granel dịch).
Karl Jaspers (1883–1969): nhà triết học và tâm thần học người Đức, có ảnh hưởng lớn đến triết học và tâm thần học hiện đại. Ông có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh tại Đức.
SARTRE, J. P. [1938] (1967). Buồn nôn. Phùng Thăng dịch. Sài Gòn: An Tiêm. Tái bản: SARTRE, J. P. [1938] (2008). Buồn nôn. Phùng Thăng dịch. TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Văn hóa Sài Gòn.
BACHELARD, G. [1938] (2009). Sự hình thành tinh thần khoa học: Góp phần luận phân tâm về sự hiểu biết khách quan. Hà Dương Tuấn dịch; Nguyễn Văn Khoa hiệu đính. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Henri Lefebvre (1901–1991): nhà triết học và xã hội học mác-xít người Pháp, nổi tiếng với những phê phán về đời sống thường ngày, và khái niệm kiến tạo không gian xã hội, bên cạnh các tác phẩm về phép biện chứng, về sự tha hóa và những phê phán đối với chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa cấu trúc.
Norbert Guterman (1900–1984): học giả và dịch giả người Pháp, theo đạo Do Thái. Ông cộng tác với nhà lý thuyết mác-xít Henri Lefebvre để dịch sang tiếng Pháp các tác phẩm của Marx thời trẻ. Sau đó, ông di cư sang Mỹ và trở thành biên tập viên của tạp chí cánh tả Monthly Review.
Ludwig Feuerbach (1804–1872): nhà triết học và nhân chủng học người Đức, ảnh hưởng lớn đến Karl Marx và Friedrich Engels. Ông ủng hộ chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa duy vật, đồng thời phê phán những mặt trái của tôn giáo. Ông được coi là một trong những “cây cầu” về tư tưởng giữa Hegel và Marx.
Thư khố Husserl: được thành lập bởi Linh mục Herman Van Breda (1911–1974), một tu sĩ dòng Thánh Francis, khi đó là nghiên cứu sinh tại Viện Triết học Cao cấp Leuven thuộc Đại học Công giáo Louven, tại Thành phố Louven (Bỉ), nơi vợ chồng ông bà Husserl tị nạn chính trị trước sự truy bức của phát–xít Đức. Năm 1938, khi Husserl qua đời, trước mối đe dọa về sự phá hoại của phát–xít Đức đối với di cảo của Husserl, với sự đồng ý của người vợ Husserl và sự cố vấn của Maurice Merleau–Ponty, Breda và cộng sự đã di dời toàn bộ di cảo của Husserl (gồm hơn 40.000 trang bản thảo viết tay của Husserl) về Viện Triết học Cao cấp Leuven, và lưu trữ di cảo của Husserl từ đó cho đến nay. Để làm được việc này, Breda đã phải vận động Thủ tướng Bỉ khi đó là Paul–Henri Spaak để mang di cảo của Husserl từ thành phố Freiburg (Đức) (nơi Husserl sống và làm việc những năm cuối đời) tới Đại sứ quán Bỉ tại Đức rồi vận chuyển về Bỉ theo đường ngoại giao, vượt qua sự kiểm soát của quân đội phát–xít Đức, làm cơ sở để bảo tồn nguyên vẹn di cảo của Husserl và xuất bản Toàn tập Husserl (Husserliana) trong những năm sau chiến tranh, gồm 30 tập, xuất bản liên tục trong giai đoạn 1962–1996, với sự cộng tác đắc lực của Merleau–Ponty, Ludwig Landgrebe, Eugen Fink và Trần Đức Thảo. Họ cũng tham gia vào các hoạt động của Thư khố Husserl trong thời kỳ đầu. Thư khố Husserl ở Paris tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm được thành lập năm 1988, do Jean–François Courtine làm giám đốc. [Nguồn: LUẬT, Phạm Trọng (2004)].
Tạp chí triết học bằng tiếng Pháp xuất bản tại Bỉ, với sự cộng tác và hỗ trợ của Karl Popper và Bertrand Russell.
Jean Hyppolite (1907–1968): nhà triết học Pháp, có công lớn trong việc dịch và truyền bá triết học Hegel vào Pháp. Sau khi tốt nghiệp tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm cùng thời điểm với Jean–Paul Sartre, ông đã tự học tiếng Đức để đọc và sau đó dịch tác phẩm kinh điển của Hegel,Hiện tượng luận Tinh thần, từ tiếng Đức sang tiếng Pháp. Những bài giảng và công trình nghiên cứu về Hegel và Karl Marx của ông tại các trường đại học đã góp phần quan trọng để hình thành nên một thế hệ triết gia Pháp mới, với nhiều tên tuổi lớn, trong đó có Trần Đức Thảo, Michel Foucault, GillesDeleuze, Jacques Derrida và Étienne Balibar.
Nicola Abbagnano (1901-1990): nhà triết học hiện sinh người Ý. Ông ủng hộ chủ nghĩa duy nghiệm. Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi Husserl, Kierkegaard, Heidegger và Jaspers, nhưng tư tưởng triết học của ông có nhiều điểm gần gũi với các nhà triết học hiện sinh Pháp.
BERDYAEV, N. A. [1939] (2015). Con người trong thế giới tinh thần: Trải nghiệm triết học cá biệt luận. Nguyễn Văn Trọng dịch, giới thiệu và chú giải. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
KANT, I. [1790] (2007). Phê phán năng lực phán đoán: Mỹ học và mục đích luận. Bùi Văn Nam Sơndịch, chú giải. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
TOCQUEVILLE, A. [1840] (2007). Nền dân trị Mỹ. Phạm Toàn dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính, giới thiệu. Hà Nội: Nxb. Tri thức.
Marvin Farber (1901 – 1980): nhà triết học Mỹ, có công đầu trong sự phát triển của hiện tượng luận tại lục địa Bắc Mỹ. Ông phụ trách tờ tạp chí Philosophy and Phenomenological Research trong hơn 40 năm.
DESCARTES, R. [1641] (1972). Những suy niệm siêu hình học. Trần Thái Đỉnh dịch và chú giải. Sài Gòn: Ra khơi xuất bản.
Gaston Berger (1896 – 1960): nhà triết học và tương lai học người Pháp sinh tại Senegal, nổi tiếng với nghiên cứu về triết học Husserl. Thời trẻ, sau khi phục vụ quân đội, ông theo học tại Đại học Aix–en–Provence và là học trò của Maurice Blondel, để lại nhiều nghiên cứu giá trị về tâm lý học và tương lai học. Ông có nhiều đóng góp lớn đối với quá trình hiện đại hóa hệ thống đại học Pháp vào những thập niên sau chiến tranh. Ông cũng có vai trò quan trọng trong trao đổi văn hóa giữa Pháp và Hoa Kỳ.
Albert Camus (1913–1960): nhà văn, nhà báo và nhà triết học hiện sinh Pháp. Ông là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của chủ nghĩa hiện sinh trong văn chương. Tiếp thu truyền thống nhân văn của văn chương Pháp và chịu ảnh hưởng của khuynh hướng mác-xít, các tác phẩm của ông thể hiện sự tranh đấu chống lại chủ nghĩa hư vô và bảo vệ tự do của con người, mà tiểu luận L’Homme révolte [Sự nổi loạn của con người] là một minh chứng tiêu biểu. Ông cũng là người bạn vong niên thân thiết của Jean–Paul Sartre. Ông được nhận giải thưởng Nobel Văn chương năm 1957.
THI, Nguyễn Đình: Triết học Nietzsche (1942), Triết học Kant (1942), Triết học Descares (1943), Siêu hình học (1943), Triết học Einstein (1943). Hà Nội: Tân Việt (Tủ sách triết học)
Georges Bataille (1897–1962): nhà triết học và nghiên cứu văn học Pháp. Ông nghiên cứu rộng, từ triết học, xã hội học, kinh tế học, nhân chủng học tới văn chương và lịch sử nghệ thuật. Ông đặc biệt thành công với các tác phẩm nghiên cứu về dâm tính trong văn học. Những nghiên cứu của công về chủ nghĩa duy vật dựa trên kinh nghiệm (thay vì theo hướng duy lý hóa) đã ảnh hưởng lớn đến các triết gia thế hệ sau, đặc biệt là Jacques Derrida.
SARTRE, J. P. [1943] (1968). Hữu thể và hư vô. Sài Gòn: Giao Điểm.
Simone Weil (1909–1943): nhà triết học và nhà hoạt động chính trị người Pháp. Là một thần đồng, bà đã tự nghiên cứu triết học Hy Lạp từ năm 12 tuổi. Khi mới 10 tuổi, bà từng tuyên bố theo chủ nghĩa Bolshevik, và ít năm sau, bà tham gia các phong trào của công nhân. Bà là nữ sinh đầu tiên của Khoa Triết thuộc Đại học Sư phạm phố d’Ulm. Sau khi tốt nghiệp tại d’Ulm, bà dạy học một thời gian trước khi tự nguyện vào làm công nhân cho tập đoàn ô–tô Renault để hiểu thêm về đời sống công nhân. Bà mất trong chiến tranh vì bệnh lao, để lại sự nghiệp dang dở và niềm thương tiếc sâu sắc. Albert Camus từng ca ngợi bà là “tâm hồn vĩ đại duy nhất của thời đại chúng ta”.
Enzo Paci (1911–1976): nhà triết học Ý. Ông là đại diện tiêu biểu nhất của chủ nghĩa hiện sinh ở Ý. Ông đã truyền bá tư tưởng của nhà triết học của Edmund Husserl và triết học của Jean–Paul Sartre vào nền triết học Ý. Tác phẩm: Esistenzialismo e storicismo [Chủ nghĩa hiện sinh và Chủ nghĩa lịch sử] (1950),Fenomenologia e dialettica [Hiện tượng luận và truyền thống duy vật] (1974)…
Theodor W. Adorno (1903–1969): nhà xã hội học, triết học và âm nhạc học người Đức, nổi tiếng với lý thuyết phê phán xã hội và các tư tưởng về mĩ học. Ông là thành viên chủ chốt của trường phái Frankfurt. Trưởng thành trong những thập niên bùng nổ của chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa thực chứng, ông và cộng sự đã sử dụng các tác phẩm của Hegel, Marx, Freud và truyền thống triết học Đức để phê phán chủ nghĩa phát–xít, xã hội công nghiệp hiện đại và nền văn hóa phương Tây đương đại. Tác phẩm Dialektik der Aufklärung [Biện chứng của Khai sáng] của ông ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cánh tả tại châu Âu.
Friedrich August von Hayek (1899 – 1992): nhà kinh tế học và nhà khoa học chính trị người Anh gốcÁo nổi tiếng. Hayek được biết đến qua lập luận ủng hộ cho chủ nghĩa tư bản trên thị trường tự do. Ông vàGunnar Myrdal nhận Giải thưởng Nobel Kinh tế học năm 1974.
HAYEK, F. A. [1944] (2009). Đường về nô lệ. Phạm Nguyên Trường dịch, Đinh Tuấn Minh hiệu đính, giới thiệu. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
NIETZSCHE, F. [1895] (2011). Kẻ phản Ki–tô: Thử đưa ra một phê bình Ki–tô giáo. Hà Vũ Trọng dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức (Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới).
COMTE, A. [1895] (1993). Các quy tắc của phương pháp xã hội học. Nguyễn Gia Lộc dịch. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.
Simone de Beauvoir (1908–1986): nhà văn, nhà triết học hiện sinh, nhà lý thuyết xã hội theo khuynh hướng mác-xít, nhà hoạt động chính trị người Pháp nổi tiếng. Bà là bạn thân và sau đó là vợ của Jean–Paul Sartre. Tác phẩm của bà rất đa dạng về đề tài và thể loại, nhưng bà thành công nhất với các tiểu thuyết. Tiểu thuyết Les Mandarins (1954), phản ánh vai trò và ảnh hưởng của giới trí thức Pháp trong những năm sau chiến tranh, đã được giải thưởng Prix Goncourt – giải thưởng văn học danh giá của Pháp.
Tạp chí chính trị, văn chương và triết học của Pháp, do Jean–Paul Sartre, Maurice Merleau–Ponty, Ramond Aron và Simone de Beauvoir thành lập năm 1945, quy tụ nhiều trí thức và văn nghệ sĩ hàng đầu của Pháp, bên cạnh bốn sáng lập viên, còn có những tên tuổi như Maurice Merleau–Ponty, Albert Camus, André Malraux, Jean Paulhan… Thời gian đầu, Les Temps modernes ảnh hưởng nhiều bởi chủ nghĩa hiện sinh của Sartre. Đến nay, tạp chí này đã phát hành được gần 600 số thường kỳ và rất nhiều số chuyên đề.
Roger Garaudy (1913–2012): nhà triết học mác-xít người Pháp. Ông tham gia kháng chiến chống lại sự xâm lược nước Pháp của phát–xít Đức trong Đại chiến thế giới II, và bị bắt làm tù binh. Sau chiến tranh, ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, được bầu làm nghị sĩ quốc hội, đại diện cho tiếng nói của Đảng Cộng sản và các lực lượng cánh tả Pháp. Năm 1970, ông rời bỏ Đảng Cộng sản Pháp sau sự kiện Mùa Xuân Praha. Tác phẩm của ông tạo ra tranh luận sôi nổi.
POPPER, K. [1945] 2004. Xã hội mở và những kẻ thù của nó. Nguyễn Quang A dịch. Hà Nội: Tủ sách SOS2.
John Lewis (1889–1976): nhà triết học mác-xít người Anh. Ông nghiên cứu rộng, gồm cả nhân chủng học và tôn giáo. Ông để lại nhiều khảo cứu giá trị về triết học mác-xít. Ông cũng tham gia hoạt động chính trị với tư cách một trí thức cánh tả nhiệt thành.
Søren Kierkegaad (1813–1855): nhà triết học Đan Mạch, người khởi xướng thuyết hiện sinh Ki–tô giáo. Ông là cầu nối giữa triết học Hegel với chủ nghĩa hiện sinh. Ông để lại nhiều nghiên cứu giá trị về bản chất của niềm tin, đạo đức học và thần học Ki–tô giáo, trên cơ sở phê phán triết họcHegel. Triết học hiện sinh của ông được xây dựng trên nền tảng hữu thần, khác với triết học của Nietzsche hay Jean–Paul Sartre vốn được xây dựng trên nền tảng vô thần. Ludwig Wittgenstein ca ngợi ông là “nhà tư tưởng sâu sắc nhất của thế kỷ XIX”.
Georges Friedmann (1902 – 1977): nhà xã hội học Pháp. Ông tham gia kháng chiến và dạy học tại Đại học Sư phạm phố d’Ulm sau chiến tranh, tiếp nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx và có nhiều liên hệ với Đảng Cộng sản Pháp. Ông là cầu nối giữa xã hội học với truyền thống siêu hình học của triết học Pháp. Ông nhấn mạnh sự khác biệt giữa truyền thông và văn hóa đại chúng.
SARTRE, J. P. [1946] (1968). Hiện sinh – một nhân bản thuyết. Thụ Nhân dịch. Sài Gòn: Thế sự; SARTRE, J. P. [1946] (2015). Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản. Đinh Hồng Phúc dịch dịch. Hà Nội: Nxb Tri thức.
Danh sách này được sắp xếp theo thứ tự Alphabet của họ tên. Do thời gian có hạn, tôi chưa tra cứu được các tác giả và dịch giả: Cao Tôn, Kiến Văn, Trần Văn Nam và Xuân Lộc. Kính mong nhận được sự lượng thứ và chỉ giáo của các tác giả, dịch giả và bạn đọc gần xa. (BS)
(1) Trong nguyên văn tiếng Trung là “Hạ ca”, cách gọi này thường dùng để chỉ tôn trọng trong các bậc đàn anh, chính vì thế khi Phúc Sinh nghe thấy liền có cảm giác Hạ Trường Ninh là xã hội đen (BTV)
(2) Vương Hy Phượng, còn gọi là Phượng ớt – một nhân vật nổi tiếng sắc sảo, ghe gớm trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần (BTV)
(3) Thím Tường Lâm là nhân vật trong truyện ngắn Lễ cầu phúc của Lỗ Tấn (BTV)
(1) Trong hệ thống giáo dục Trung Quốc có một trường dạy cho những người trưởng thành. Đối tượng đến học là những người đã thành niên nhưng chưa có đầy đủ kiến thức của các cấp. Trường này dạy đủ trình độ các cấp như cao đẳng, đại học, thạc sĩ (BTV)
(2) Tôm chân mềm: Chỉ người nhát gan (BTV)
(1) Nạp Tây: Một dân tộc thiểu số ở vùng Lệ Giang, sống chủ yếu ở khu vực thành cổ của thành phố Lệ Giang, tỉnh Vân Nam (BTV)
(2) Đào Tiềm (365-427) từng than rằng: “Ngã khởi năng vị ngũ đầu mễ chiết yêu” (Sao ta lại có thể vì năm đấu gạo mà chịu khom lưng). Người đời sau dùng điểm này để chỉ việc người quân tử không chịu vì lợi lộc mà luồn cúi kẻ tiểu nhân, có quyền thế, hoặc con người luôn phải canh cánh nỗi lo cơm áo gạo tiền (BTV)
(3) Biện Hòa: Xưa nước Sở có người tên Biện Hòa, tìm được viên đá ngọc quý bèn dâng cho Sở Lệ Vương, Lệ Vương đưa cho thợ làm ngọc xem, thợ nói: “chỉ là đá”. Vương bèn sai chặt chân trái Hòa. Lệ Vương mất, Hòa lại dâng lên Vũ Vương, Vũ Vương đưa cho thợ làm ngọc, lại nói rằng: “chỉ là đá”. Vũ Vương sai người chặt chân phải của Hòa. Vũ Vương chết, Văn Vương kế vị, Hòa ôm đá ngọc đến chân núi Sở khóc ba ngày ba đêm, lệ cạn mà chảy ra máu. Văn Vương nghe thấy, sai người hỏi nguyên do, bèn cho thợ làm ngọc xem kỹ, gia công được kho báu, bèn cho đặt là Ngọc Biện Hòa. Về sau, những viên ngọc tuyêt thế đều được gọi là ngọc Biện Hòa (BTV)
(4) Thổ ty: Chức quan thể tập của thủ lĩnh các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc thời Nguyên, Minh, Thanh; ở Việt Nam thời trước cách mạng tháng Tám (BTV)
(1) Trích trong sách Liệt tử, thiên Hoàng đế, có nghĩa là: Ai coi trọng bề ngoài thì nội tâm nhất định sẽ kém cỏi (ND)
(1) Trích trong “ Thư gửi Trần Bá Chi” của Khưu Trì (464-508, tác gia thời Nam Bắc Triều) dịch nghĩa: Mùa xuân tháng ba, cỏ cây Giang Nam tươi tốt, hoa cỏ sinh sôi, bầy oanh chao liệng (BTV)
(2) Trà viên thường có hia loại, một là nơi trồng trà, hai là nơi uống trà giải trí. Trà viên ở trong truyện bao gồm cả hai hình thức trên (BTV)
(3) Trích trong bài từ Thoa đầu phong của Lục Du, nghĩa là: Đôi tay xinh đẹp của nàng nâng chén rượu ngon. Bài từ được làm khi Lục Du và người vợ bị bắt ép phải ly biệt là Đường Uyển trùng phùng ở vườn thẩm, ông đề bài từ lên tường, Đường Uyển cũng họa lại một bài, không lâu sau nàng u uất mà chết (BTV)
(4) Thâu đắc phù sinh bán nhật nhàn: Câu thơ trong bài Đề Hạc Lâm tự bích (Đề trên tường chùa Hạc Lâm) của nhà thơ đời Đường, Lý Thiệp, nghĩa câu thơ là giải thoát bản thân khỏi sự phiền não, buồn chán để bản thân tới một nơi thoát tục, tu dưỡng tâm hồn (ND)
(1) Trích trong sách Mạch Tử, thiên Cáo Tử thứ mười lăm, có nghĩa là: Phàm những người nhận nhiệm vụ của trời ban thì bản thân phải chịu vất vả, tôi rèn tâm chí trước tiên (ND)
(2) Super Boy: Một cuộc thi giọng hát hay dành cho nam giới của đài truyền hình Hồ Nam, tổ chức hai năm một lần (ND)
(1) Những trợ từ trong Hán văn cổ (BTV)
(2) Ba Y: Trong tiếng của dân tộc Duy Ngô Nhĩ và Kazakhstan có nghĩa là tài chủ, chỉ những người tiêu tiền (ND)
(3) Túy Ông đình ký: Một bài văn nổi tiếng của Âu Dương tu (BTV)
(4) Effendi: Một nhâ vật nổi tiếng thông minh, tài trí trong truyền thuyết của dân tộc Đột Quyết ở Tân Cương (BTV)
(1) Lúc này tình cảm và cách nhìn nhận của Ninh Phúc Sinh đối với Hạ Trường Ninh có sự thay đổi, nên người dịch cũng thay đổi ngôi thứ ba (ND)
(1) Là ép thành từng bánh hình tròn (BTV)
(1) Trong tiếng Trung, cụm từ “ăn đậu phụ” còn chỉ hành vi thân mật nam và nữ (BTV)
(1)Nghĩa là sau khi thất bại liền cảm thấy bất lực. Sau này dùng để chỉ tính cách mạnh mẽ, ương ngạnh trở nên dịu dàng, mềm mỏng (ND)
(1) Trong tiếng Trung, từ “cố lên” có nghĩa đen là “thêm dầu”(BTV)
(2) Diệt Tuyệt sư thái: Chưởng môn phái Nga My trong tiểu thuyết Ỷ Thiên Đồ Long Ký của Kim Dung. Trong ngôn ngữ giới trẻ Trung Quốc phụ nữ được gọi là Diệt Tuyệt sư thái thường có học vị Tiến sĩ, tính tình nghiêm khắc (BTV)
(3) Đê Tô Công là một trong mười cảnh đẹp của Tây Hồ. Con đê rộng ba mươi sáu mét, phong cảnh rất đẹp (ND)
(4) Đôn Hoàng: Là một thị xã thuộc thành phố Tửu Tuyền, tỉnh Cam Túc (ND)
(5) Tả quyển là những sách vở còn lại ở di chỉ Đôn Hoàng. Tục văn hay còn gọi là thông tục văn, thường là những sáng tác thơ, văn, ca phú (ND)
(6) Đàn từ: Một hình thức nghệ thuật dân gian vừa hát vừa nói, lưu hành ở các tỉnh miền Nam, Trung Quốc vào thời Thanh (ND)
(1) Em Lâm: Ý chỉ Lâm Đại Ngọc, một nhân vật trong tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng là tri âm tri kỷ của Giả Bảo Ngọc (ND)
(2) Châu Bát Bì: Là một địa chủ ác bá, một nhân vật phản diện điển hình dưới ngòi bút của nhà văn nổi tiếng Cao Ngọc Bảo, tên thật là Châu Xuân Phú (ND)
(1) Câu thơ của Ngô Xương Thạc – bậc thầy về thư pháp, kim thạch thời cận đại; nghĩa là “hoa mai mười dặm thơm cả biển thuyết, giữa chốn đầy hoa mai, tựa mình như nhành lan” (BTV)
(2) Ninh Phúc Sinh xở xiên dáng vẻ Chanh Đa giống như Phan Kim Liên chờ Tây Môn Khánh (BTV)
(3) Hoàng phong vĩ hậu châm, tối độc phụ nhân tâm: Ong vàng kim châm sau đuôi, còn ác độc nhất chính là trái tim phụ nữ (ND)
(4) Vương Bảo Xuyến, nhân vật thời cổ đại, là con gái của tể tướng Vương Doãn dưới triều Đường ý Tông, không nghe lời cha mẹ dạy, lấy Tiết Quý Bình nghèo khó. Sau khi bị đuổi ra khỏi nhà, Tiết Quý Bình xung quân, Vương Bảo Xuyến một mình sống khổ cực suốt mười tám năm ờ Hàn Dao. Sau này Tiết Quý Bình trở thành quan lớn trong triều đã đón Vương Bảo Xuyến về phủ, nhưng nàng chỉ hưởng cuộc sống hạnh phúc đúng mười tám ngày thì chết (BTV)
(5) Chữ bằng do hai bộ nhục tạo thành, ở đây Hạ Trường Ninh chơi chũ, nhục có nghĩa là thịt (ND)
(1) Bàn giặt quần áo: trước đây khi chồng có lỗi với vợ thường bị vợ phạt quỳ trước bàn giặt quần áo
(1) Tahiti: Tahiti là đảo lớn nhất của của Polynésie thuộc Pháp, nằm ở phía nam Thái Bình Dương. Đây là trung tâm kinh tế văn hóa và chính trị của Polynésie thuộc Pháp (ND)
(1) Cho tôm vào rượu, tôm sẽ say cho đến chết (ND)
(1) Câu chuyện về ngư phủ và vị thần trong Nghìn lẻ một đêm (BTV)
(2) Rượu nước hai: Rượu nước đầu là loại 75 độ, rượu nước hai có nồng độ nhẹ hơn
(3) Trong tiếng Trung từ “mất mặt” có nghĩa là không biết xấu hổ, không có thể diện, nghĩa mặt chữ là “ đánh mất mặt” vì thế Phúc Sinh mới mắng Hạ Trường Ninh là đồ không cần mặt mũi, không cần da (BTV)
(1) Ngụ ý câu này là: Phật là bậc đại từ, đại bi và đại năng, là đấng giác ngộ, vì thế đâu cần nén hương của con người. Trong trường hợp này, Ninh Phúc Sinh vừa tự cổ vũ bản thân, vừa thầm mắng Ngũ Nguyệt Vy không xứng để cô phải tranh giành (BTV).
Quasimodo: Anh gù trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris, còn được biết đến với tên “Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà”.
Hai nữ minh tinh nổi tiếng của thập niên 80, 90 thế kỷ trước.
Hai người phụ nữ được biết đến với gương mặt không mấy xinh đẹp.
Nê và Nghê là hai từ đồng âm.
Nam uống hoócmon và chuyển đổi giới tính thành nữ.
“Ăn dấm” còn có nghĩa bóng là “ghen”.
“Trường hận ca” của Bạch Cư Dị.
Vong Xuyên: dòng sông dưới Địa ngục.
Gia, nghĩa gốc là ông, ở đây dùng để chỉ người có địa vị cao.
Dùng thủ đoạn phi pháp đối phó với chuyện phi pháp.
Người mặc áo xanh.
Đệm cói.
Cái bóng, ở đây ý chỉ về cái bóng đã xuất hiện bên Tinh Hồn lúc mới tới thế giới này.
Phòng ngách, phòng bên.
Kẻ biết võ.
Nam chính trong bộ phim “Bá Vương Biệt Cơ”, thủa nhỏ Trình Điệp Y bị bán tới đoàn kịch, trưởng đoàn đã đào tạo Trình Điệp Y thành hoa đán (diễn viên nam đóng vai nữ trong kinh kịch).
Vật dụng trong thư phòng: Giấy, nghiên, bút, mực.
Bài thơ “Oán tình” của Lý Bạch, Tản Đà dịch.
Một tổ hợp gồm nhà, sân, vườn.
Loại cây song tử diệp ở miền Đông Bắc, Trung Quốc.
Ông ngoại.
Trích đoạn trong bài “Liên vũ độc ẩm” của Đào Uyên Minh.
Tử khí đông lai nghĩa là “Mây tía từ phía đông đến”, mây tía chỉ sự may mắn phúc trạch.
Câu này ám chỉ những người con trai chuyên sống dựa dẫm vào con gái, là một câu mang nghĩa xấu.
Người điên.
Cách gọi anh em thân thiết trong nhà.
Con do chính thất sinh ra.
Tiểu di: Dì út.
Chỗ ngồi đặc biệt sang trọng.
Con trai của thân vương hay con trai của Thái tử cũng đều gọi là “Thế tử”.
Y phục thêu hình con rắn dùng cho các vị thân vương, hoàng tử.
Trang phục hoàng cung.
Cây ngọc đón gió.
Trúng tiếng sét ái tình.
Mãng bào tứ trảo: Áo bào thêu hình mãng xà bốn vuốt, biểu thị cho địa vị thân vương.
Trước đây Vĩnh Dạ xưng hô không rõ giới tính là dụng ý của tác giả.
Mình chàng đi xuống sông. Vĩnh Dạ có trăng song hành.
Đình xây giữa hồ.
Loại côn trùng có độc.
“Hồng” trong “hồng bài”, “quan” trong “tiểu quan”, “hồng quan” được hiểu là nam kỹ có địa vị nhất.
Hồng Hạnh là một nhân vật thời cổ đại của Trung Quốc đã trèo tường ra ngoài ngoại tình.
Người không có con là bất hiếu với tổ tiên.
Người bỏ tiền ra thuê.
Tiểu đình nằm cách cổng thành mười dặm.
Thái tử phi tương lai.
Trích bài thơ “Giang tuyết” của Liễu Tông Nguyên.
Miếng ngọc tròn, ở giữa rỗng như đồng xu, từ tầm hướng ra có một khe hổng.
Chữ “phẩm” 品
Thiệp ghi ngày tháng năm sinh.
Chữ Tù: 囚
Chữ Khốn: 困 (nghĩa là “nhốt”).
Bằng 1/10 của một đấu.
Cầm sống: Vẫn chuộc lại được; Cầm chết: bán đứt.
Người thuê mình.
Y phục ngày xưa thường có nhiều lớp, trung y là lớp áo mặc ở giữa.
Dịch nghĩa: Ráng chiều rơi xuống, cùng cánh cò đơn chiếc đều bay.
Cúng tế vào mùa thu.
Những vật tổ được coi như biểu tượng của một gia đình hoặc một tộc người.
Kim kê độc lập: Một thế võ mà người thi triển co một chân, đứng trên một chân.
Y phục mang lại sự may mắn.
Nhân vật Lỗ Chí Thâm trong Thủy Hử.
Lầu Hái Sao.
Thời phong kiến, họ đặt ra thất xuất đối với một người vợ để bó buộc người phụ nữ trong khuôn khổ gia đình. Thất xuất gồm có: Không con, tà dâm, không thờ cha mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông, bị bệnh khó chữa.
Mình chàng đi xuống sông. Vĩnh Dạ có trăng song hành.
Mãng phục: Một thứ phẩm phục, trên áo thêu như rồng nhưng kém rồng một vuốt.
Chữ ‘hồi’: 回
Nơi ngắm mặt trời lặn.
Cách gọi trang trọng.
Lều bày tỏ lòng hiếu kính với Tiên hoàng dành cho các quan.
Ngõ phía Đông.
Nơi giặt quần áo.
Non-player character.
Viết tắt của Personal Handy-phone System.
Nhân vật địa chủ ác bá trong tác phẩm “Gà gáy lúc nửa đêm” của nhà văn nổi tiếng Trung Quốc Cao Ngọc Bảo.
Âm người Trung Quốc dịch ra từ chữ Coca-cola.
Âm người Trung Quốc dịch ra từ chữ Pepsi.
Dân lấy việc ăn uống làm trọng.
Người Trung Quốc hay ví ngực người phụ nữ với đậu phụ.
Pethidine Hydrochloride : thuốc giảm đau tổng hợp, có tính chất giống morphin, nhưng Pethidine có tác dụng nhanh hơn và thời gian tác dụng ngắn hơn so với morphin.
Một dự án công ích xã hội do hội Thanh Cơ Trung Quốc khởi xướng, giúp đỡ các em nhỏ thất học ở những vùng nghèo khó được quay lại trường học, xây dựng nên Tiểu học Hy vọng, cải thiện điều kiện học tập cho trẻ em.
Audrey Hepburn (1929-1993) : diễn viên điện ảnh huyền thoại của những thập niên 1950, 1960, bà thường được xem là một trong những phụ nữ đẹp nhất thế kỷ 20.
Cindy Crawford (20/2/1966): người mẫu nổi tiếng của Mỹ.
Thương hiệu Fast food nổi tiếng ở Bắc Kinh.
Richard Clayderman: (28/12/1953 - ): Nhà diễn tấu đàn dương cầm nổi tiếng người Pháp.
Ý là đôi mắt thâm quầng giống như gấu trúc.
Một khu du lịch nổi tiếng ở đảo Hải Nam, Trung Quốc.
Hãng thời trang nam cao cấp nổi tiếng của Ý.
Trong tiếng Hán, âm đọc hai chữ “Chương Ngự” và “cá mực” gần giống nhau, nên đã có sự nhầm lẫn.
Huyết áp cao, mỡ trong máu cao, đường trong nước tiểu cao.
Trong tiếng Hán, chữ co-la được phiên âm thành chữ “khả lạc”, cho nên, chỉ cần nghe tên Khả Lạc, mọi người đều liên tưởng ngay đến co-la.
Đông Dương, còn được gọi là bán đảo Trung-Ấn (Indochine) là khu vực Đông Nam Á lục địa, gồm: (1) Đông Dương thuộc Anh: Miến Điện, Mã Lai; (2) Xiêm; (3) Đông Dương thuộc Pháp (Đông Pháp): Việt Nam, Ai Lao, Cao Miên. Tên “Xứ Đông Dương” thường được dùng để chỉ Đông Dương thuộc Pháp. (HĐ)
2. Nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao, từng là: - Tham tán Công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp - Đại sứ Việt Nam tại Singapour - Đại sứ Việt Nam tại UNESCO và Tổ chức quốc tế Pháp ngữ.
1. Émile Chautemps (1850-1918): người giữ một số cương vị quan trọng trong chính phủ Pháp bấy giờ, bao gồm chức Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp năm 1895.
2. Armand Rousseau (1835-1896): Toàn quyền Đông Dương. Năm 1871 Rousseau bước chân vào chính trị, ông làm Ủy viên Hội đồng chung của cảng Brest (1871-1895), Thứ trưởng Công nghiệp (30/1-7/8/1882; dưới thời Thủ tướng C. de Freycinet), Chủ tịch Quốc hội (1883-1894), Thứ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc Địa (28/4-9/11/1885, dưới thời chính phủ Henri Brisson), Ủy viên Hội đồng Nhà nước (1885-1896), Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa (1895-1896), Toàn quyền Đông Dương (12/1894-12/1896). Ông mất ở Hà Nội khi còn đương nhiệm Toàn quyền Đông Dương (10/12/1896).
3. Finistère là một tỉnh của Pháp, thuộc vùng hành chính Bretagne, tỉnh lỵ Quimper.
4. Alexandre-Félix-Joseph Ribot (1842-1923): bốn lần giữ chức Thủ tướng Pháp (các nhiệm kỳ: 12/1892-4/1893, 1/1895-11/1895, 9/6/1914-13/6/1914, 3/1917-9/1917). * Các chú thích của tác giả sẽ được ghi tắt ‘(TG)’, của dịch giả sẽ được ghi tắt ‘(DG)’, của người hiệu đính sẽ được ghi tắt ‘(HĐ)’ ở cuối chú thích, các chú thích còn lại là của nhóm biên tập OMEGA-Alpha Books.
5. Léon Victor Auguste Bourgeois (1851 -1925): kế nhiệm Ribot làm Thủ tướng Pháp từ tháng 11/1895-4/1896.
6. Pierre-Paul Guieysse (1841-1914): Bộ trưởng Thuộc địa trong nội các của Léon Bourgeois (1895-1896).
7. Charles Camille Julien Krantz (1848-1924): Bộ trưởng Công chính, Bộ trưởng Chiến tranh (5/1893-6/1893) trong nội các của Charles Dupuy (1898-1899).
8. Étienne Antoine Guillaume Richaud (1841-1889): từng giữ chức Chánh văn phòng của Bộ trưởng Bộ Thương mại và Thuộc địa, Tổng đốc Ấn Độ thuộc Pháp. Đầu năm 1888, ông được Chính phủ Pháp điều sang Đông Dương để tạm thời giữ chức Thống sứ Bắc Kỳ trước khi được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương vào tháng 4/1888 thay cho Ernest Constans. Ngày 25/5/1889 ông được triệu hồi về nước. Khi tới vịnh Bengale, ông bị dịch tả và chết trên boong tàu Caledonia.
9. Paul Bert (1833-1886): nhà động vật học, sinh lý học người Pháp. Ông là nhà khoa học nổi tiếng, đã từng giữ chức Bộ trưởng Giáo dục của Pháp (1881-1882). Đầu năm 1886, ông được bổ nhiệm làm Toàn quyền Lưỡng kỳ (Bắc – Trung) tại Đông dương và mất tháng 11 cùng năm vì bệnh kiết lỵ.
10. Palais Bourbon là tên thường gọi của tòa nhà Quốc hội Pháp hiện nay, công trình nằm bên bờ sông Seine, thuộc Quận 7 thành phố Paris. Được nữ Công tước Louise Françoise de Bourbon - con gái vua Louis XIV - cho xây dựng từ năm 1722, Palais Bourbon tiếp tục được người cháu nội là Hoàng thân Louis V Joseph de Bourbon-Condé mở rộng trong nhiều năm. Tới thời kỳ Cách mạng Pháp, cung điện được chọn làm trụ sở của quốc hội và giữ vai trò này hầu như liên tục đến tận ngày nay.
11. André Lebon (1859-1938): Bộ trưởng Thương mại, Công nghiệp và Bưu chính (1/1895-10/1895), Bộ trưởng Thuôc địa (1896-1898).
12. Điện Élysée (tiếng Pháp: Palais de l’Élysée) là dinh Tổng thống Cộng hòa Pháp, nhiệm sở chính thức của tổng thống kể từ khi bắt đầu nền Đệ nhị Cộng hòa Pháp vào năm 1848. Nó nằm ở số 55 phố Faubourg-Saint-Honoré, gần đại lộ Champs-Élysées phía quảng trường Concorde, thuộc quận 8 thành phố Paris.
13. Raymond Poincaré (1860-1934): Chính khách Pháp, năm lần giữ chức Thủ tướng và là Tổng thống Đệ tam cộng hòa Pháp (18 /2/1913- 18/2/1920). Ông thuộc Liên minh dân chủ.
14. Paul Delombre (1848-1933): Luật sư, Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp, Bưu chính (1898-1899).
15. Louis Adolphe Cochery (1819-1900): Thượng nghị sĩ Pháp.
16. Étienne Clémentel (1864-1936): Thượng nghị sĩ người Pháp, Bộ trưởng Thuộc địa (1905-1906).
17. Félix Jules Méline (1838-1925): Thủ tướng Pháp (1896-1898).
18. Emmanuel Arène (1856-1908): Chính khách kiêm nhà văn người Pháp.
19. Jean Louis Barthou (1862-1934): Thủ tướng Pháp (3/1913-9/1913).
20. Georges Leygues (1857-1933): Thủ tướng Pháp kiêm Bộ trưởng Ngoại giao (1920-1921).
21. Léon Victor Auguste Bourgeois (1851-1925): Thủ tướng Pháp (1895-1896).
22. Eugène Henri Brisson (1835-1912): hai lần giữ chức Thủ tướng Pháp (1885-1886 và 6/1898-11/1898).
23. Fernand Faure (1853-1929): Nghị sĩ Quốc hội Pháp, Thượng nghị sĩ Pháp thời Đệ tam Cộng hòa.
24. Henri Maurice Berteaux (1852-1911): Bộ trưởng Quốc phòng Pháp (1904-1905).
25. Pierre Adolphe Émile Maruéjouls (1835-1908): từng giữ chức Bộ trưởng một số bộ trong thời Đệ tam Cộng hòa.
26. Charles Dupuy (1851-1923): ba lần giữ chức Thủ tướng Pháp (4/1893-12/1893, 1894-1895 và 1898-1899).
27. Một xã thuộc địa phận Asine vùng Picardy, miền Bắc nước Pháp.
28. Nguyên văn: ‘coloniaux’, ở đây chỉ giới quân sự và dân sự người Pháp đã từng làm việc, sinh sống tại thuộc địa.
29. Montmartre và La Madeleine là hai địa điểm đều ở Paris. Câu này hàm ý thuyền trưởng Malaval thông thạo và thường xuyên đi lại trên tuyến hàng hải viễn dương Marseille – Yokohama (Nhật Bản) cũng như người dân Paris đi dạo từ Montmartre đến quảng trường La Madeleine.
30. Dặm biển (hải lý), 1 hải lý = 1,852 cây số.
31. Eo giữa đảo Corse của Pháp ở phía Bắc và đảo Sardinia của Ý ở phía Nam. (DG)
32. Sémillante: một tháp làm bằng đá, được dựng lên để tưởng nhớ thảm họa đắm tàu Sémillante của Pháp. Năm 1855, con tàu chiến Sémillante của Pháp chở 600 binh lính đã gặp phải một trận bão lớn khiến tàu va vào đá, khiến toàn bộ binh lính trên tàu thiệt mạng.
33. Tác phẩm L’agonie de la Sémillante (tạm dịch: Sémillante hấp hối) của văn hào Pháp Alphonse Daudet (1840-1897).
34. Eo biển nằm giữa một bên là thành phố Mesina trên đảo Sicily của Ý ở phía tây và một bên là thành phố Reggio Calabria cũng của Ý trên đất liền ở phía đông. (DG)
35. Sicile: tên tiếng Anh là Sicily.
36. Núi lửa ở phía đông bắc đảo Sicile. (DG)
37. Homer (khoảng thế kỷ VIII trước công nguyên): là một trong những nhà thơ Hy Lạp cổ đại, tác giả của hai tác phẩm Illiad và Odyssey nổi tiếng thế giới..
38. Hai quái vật trong thần thoại Hy Lạp chuyên hút nước biển vào rồi phun ra những xoáy nước mạnh, gây nguy hiểm cho thuyền bè qua lại.
39. Chỉ Napoléon Bonaparte trong chiến dịch Ai Cập giai đoạn 1798-1801. (DG)
40. Khi tác giả viết cuốn hồi ký này, Ai Cập đang là thuộc địa của Anh. (DG)
41. Cảng, đồng thời là mỏm cực Bắc của Tunisia ở Bắc Phi trông ra Địa Trung Hải. (DG)
42. Thuộc địa của Anh ở mỏm cực Nam Tây Ban Nha, trông sang châu Phi. (DG)
43. Crète có nhiều dân tộc và nhiều tôn giáo. (DG)
44. Được cổ vũ bởi thành công của kênh đào Suez, người Pháp, dưới sự chỉ huy của Ferdinand de Lesseps, đã bắt đầu xây dựng một kênh đào ngang mực nước biển thông qua tỉnh Panama vào ngày 1/1/1880. Năm 1893, sau khi đã thực hiện một khối lượng công việc lớn, người Pháp đã phải từ bỏ kế hoạch của mình do bệnh tật và khó khăn, thiệt hại lớn về nhân lực cũng là một trong các yếu tố chính của thất bại này: ước tính có tới 22.000 công nhân đã chết trong thời gian xây dựng công trình này (1881-1889).
45. Charles de Freycinet (1828-1923): bốn lần giữ chức Thủ tướng của Pháp (1879-1880, 1882-1882, 1886-1886 và 1990-1992), hai lần giữ chức Bộ trưởng Bộ Chiến tranh (1888-1893 và 1898-1899). Sự kiện kênh Suez rơi vào tay Anh và Pháp mất dần quyền kiểm soát kênh diễn biến như sau: Kênh Suez được xây dựng từ năm 1859 tới năm 1869 bằng vốn của các công ty tư nhân Pháp. Kết thúc công trình, Ai Cập nắm giữ 44% giá trị, phần còn lại do 21.000 người Pháp cùng nắm giữ. Năm 1875, Ai Cập bán phần của mình cho Anh. Năm 1882, Anh đưa quân đội đến đóng trên các bờ kênh, chiếm được quyền kiểm soát kênh đào này. (DG)
46. Tức Chủ tịch Công ty Kênh đào Suez. (DG)
47. Chỉ Biển Đỏ vì biển này dài và hẹp như một con lạch.
48. Vịnh thuộc Pháp ở Đông Phi; bờ vịnh phía bắc có thành phố Tadjoura, bờ phía nam có thành phố Djibouti. (DG)
49. Trên lãnh thổ Ethiopie. (DG)
50. Abyssinie hay Đế quốc Ethiopie là tên gọi một quốc gia xưa mà lãnh thổ nay là Eritrea và nửa Bắc của Ethiopie ở Đông Phi. Abyssinie cũng là tên cổ xưa của nước Ethiopie hiện nay. (DG)
51. Nguyên văn ‘le roi Ménélick’: tức Hoàng đế Menelik Đệ nhị của Ethiopia (1844-1913), người đã mở mang bờ cõi Ethiopia và kiến lập đế chế mới, năm 1896 ông chiến thắng Ý ở Eritria và Ý buộc phải ký hiệp ước công nhận độc lập và chủ quyền toàn vẹn của Ethiopia. Ở chương 5 tác giả giải thích quan điểm của người Pháp lúc bấy giờ chỉ gọi những người cai trị của những dân tộc thuộc địa hoặc nhược tiểu ở các châu lục khác là vua (roi), không gọi là Hoàng đế (empereur).
52. Djibouti nằm bên Biển Đỏ, do đó trông ra đường hàng hải đi qua kênh đào Suez.
53. Mũi cực đông của “Sừng châu Phi” thuộc Somalia. (DG)
54. Đảo trong vịnh Aden và thuộc Nam Yemen. (DG)
55. Cape Comorin (tên cũ), nay là Kanyakumari, điểm cực nam của bán đảo Ấn Độ.
56. Tức Sri Lanka ngày nay.
57. Nguyên văn ‘La mer de Chine’ (Biển Trung Hoa hoặc Biển Nam Trung Hoa): địa danh cũ chỉ Biển Đông; ngày nay Việt Nam gọi là Biển Đông, nhiều nước khác gọi là Biển Đông Nam Á.
58. Eo biển nằm giữa bán đảo Mã Lai và đảo Sumatra của Indonesia.
59. Tức Thái Lan.
60. Tức Hong Kong.
61. Tức Bangkok.
62. Các Thuộc địa Eo biển: chỉ một nhóm các thuộc địa của Anh ở Đông Nam Á, được thành lập vào năm 1826 bao gồm 4 khu định cư riêng biệt là Malacca, Dinding, Penang và Singapour.
63. Thời Paul Doumer, người ta chưa phân biệt Đông Bắc Á và Đông Nam Á mà gọi chung là Đông Á.
64. Nguyên văn ‘Poulo-Condore’: còn gọi là đảo Côn Lôn hoặc Côn Đảo, một quần đảo ngoài khơi bờ biển Nam Kỳ.
65. Nguyên văn: ‘Cap Saint-Jacques’ (Mũi Saint Jacques) là tên người Pháp đặt cho Vũng Tàu từ năm 1775 khi tàu thuyền của Bồ Đào Nha và Pháp bắt đầu ra vào vùng biển Vũng Tàu để buôn bán, trao đổi hàng hóa. Người Pháp nói ‘au Cap Saint-Jacques’, tức là ‘ở Mũi Saint Jacques’ hoặc nói tắt là ‘au Cap’, dân ta đọc trại cụm ‘au Cap’ thành tên Ô Cấp.
66. Nguyên văn: 'Ti-Ouane'. Theo Trương Vĩnh Ký, đây là núi Tùy Vân, tức Thùy Vân (mây rủ), nay gọi là núi Minh Đạm, thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Núi nằm ở bờ biển, thuộc huyện Long Điền, cách thành phố Vũng Tàu 30km về phía Đông Bắc, nơi có bãi tắm Long Hải.
67. Nay gọi là núi Dinh Cố.
68. Tên cũ của Bãi Trước, Vũng Tàu.
69. Nguyên văn ‘administrateur’ (quan cai trị): ở đây chỉ quan chức người Pháp đứng đầu một hạt, một tỉnh. Sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (1862) và ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1867), thực dân Pháp xóa bỏ cách phân chia địa giới hành chính cũ của triều Nguyễn. Lúc đầu Pháp gọi département thay cho phủ, gọi arrondissement thay cho huyện. Tuy nhiên, các cấp hành chính dưới cấp huyện thì vẫn được giữ nguyên như thời nhà Nguyễn độc lập là hai cấp: cấp tổng (tiếng Pháp là canton) và cấp làng xã (cấp tổng còn được duy trì tới tận năm 1945). Khoảng năm 1868, Nam Kỳ có 27 inspection (tiếng Việt gọi là “hạt thanh tra”, “địa hạt thanh tra”, “khu thanh tra” hay “tiểu khu thanh tra”, do Thanh tra cai trị). Về sau, inspection đổi thành arrondissement (tiếng Việt gọi là “hạt tham biện”, “khu tham biện” hay “hạt”). Đứng đầu arrondissement là administrateur, tiếng Việt gọi là Chánh tham biện. Dinh hành chính gọi là Tòa Tham biện nhưng dân cũng quen gọi là Tòa Bố (giống như dinh quan Bố chánh của nhà Nguyễn). Tham biện dưới quyền Phó Toàn quyền đóng ở Sài Gòn. Sau nữa “hạt” được đổi thành “tỉnh”, và chức Tham biện đổi thành Chủ tỉnh [Tỉnh trưởng] (Chef-province hay Chef de la province).
70. Nguyên văn ‘Lieutenant-Gourverneur’. Chức Thống đốc Nam Kỳ bị hủy bỏ theo sắc lệnh ngày 12-4-1888, thay thế bằng chức Phó Toàn quyền (Lieutenant-Gouverneur), trực tiếp đặt dưới quyền và thay mặt Toàn quyền Đông Dương, đặc trách cai trị xứ Nam Kỳ. (Sài Gòn là trụ sở thứ hai của Phủ Toàn quyền Đông Dương, sau Hà Nội). Tuy nhiên, trong dân gian vẫn thường quen gọi là ngài “Thống đốc Nam Kỳ”.
71. Xuồng tam bản giống như ghe câu, nhưng lớn hơn, có bốn bơi chèo, dùng để chuyên chở nhẹ, thường sử dụng để đi lại trên sông rạch. Tam bản xuất xứ từ tiếng Hoa “sàn băn” (tam bản = 3 tấm ván ghép), người Pháp phiên âm thành “sampan”.
72. Nguyên văn: Résident-Maire (Công sứ hoặc Đốc lý), tương đương với chức thị trưởng; cơ cấu chính quyền ở nước ta thời Đông dương thuộc Pháp được mô tả như sau: Đứng đầu hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn là viên Thị trưởng người Pháp (Maire). Hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng tại Bắc Kỳ cùng thành phố Tourane (Đà Nẵng) tại Trung Kỳ, đứng đầu là viên Đốc lý người Pháp (Résident-maire). Bên cạnh viên Thị trưởng hay Đốc lý là Hội đồng thành phố (Conseil Municipal) đối với thành phố loại I hoặc Ủy hội thành phố (Commission Municipale) đối với thành phố loại II. Thành viên của Hội đồng hoặc Ủy hội gồm cả người Pháp lẫn người Việt; Hội đồng thành phố Sài Gòn được lập năm 1869, Ủy hội thành phố Chợ Lớn lập năm 1879, Hội đồng thành phố Hà Nội và Hải Phòng lập năm 1888 và Ủy hội thành phố Tourane lập năm 1908.
73. Tức Thủ đô Phnom Penh của Campuchia.
74. Tức Myanmar.
75. Tức Lào.
76. Trấn Ninh: là đất của Lào, có thời là lãnh thổ phiên thuộc của Đại Việt thời Hậu Lê và thời Nguyễn.
77. Ngày nay gọi là Vịnh Bắc Bộ.
78. Tức sông Hàn (nguyên tác dùng tên Tourane, tên gọi của Đà Nẵng thời Pháp thuộc.)
79. Chỉ các dân tộc của các quốc gia trong vùng Đông Nam Á.
80. Ngụ ý các cố vấn Pháp giúp Gia Long thống nhất đất nước. (DG)
81. Tác giả thêm tính từ “mới” để phân biệt với Đông Dương trước khi thuộc Pháp. (DG)
82. Đảo của Pháp trong Địa Trung Hải. (DG)
83. Nơi này người Pháp gọi là đồi Hài cốt (Ossuaire), còn người dân địa phương gọi là nghĩa trang Y Pha Nho (Tây Ban Nha). Nghĩa trang nằm trên một quả đồi nhỏ gần cảng Tiên Sa thuộc bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng ngày nay.
84. Chỉ Đệ nhị Đế chế dưới thời Napoléon III. (DG)
85. Quân cảng bờ tây bắc nước Pháp. (DG)
86. Mũi cực nam của châu Phi. (DG)
87. Nguyên văn: 'absinthe', một loại rượu mùi có nguồn gốc từ Thụy Sĩ.
88. Norodom (1834-1904), còn có tên là Ang Vody (Norodom là tên hiệu khi lên ngôi), là vua Campuchia từ năm 1860 đến năm 1904.
89. Các tài liệu khác đều ghi 'Doudart de Lagrée'. (HĐ)
90. Hòa Mộc: một địa điểm bên bờ sông Lô cách thành Tuyên Quang vài dặm đường về phía đông nam. Trận Hòa Mộc năm 1885 là cuộc chiến quyết liệt trong cuộc chiến Pháp – Thanh, trong trận này quân Thanh vây hãm thành Tuyên Quang hơn một tháng trời, khiến Pháp phải kéo quân tới giải vây. Tuy bị thiệt hại nặng do bị quân Thanh tấn công, song cuối cùng quân Pháp đã phá vỡ được vòng vây và củng cố được vị trí chiến lược của mình ở khu vực sông Lô.
91. Bấy giờ là thời vua Quang Tự, Thanh Đức Tông nhà Thanh.
92. Đây chỉ trận đánh Trấn Nam Quan trong chiến tranh Pháp-Thanh, xảy ra ngày 23-24/3/1885, trong đó quân Pháp đại bại. (HĐ)
93. Jules François Camille Ferry (1832-1893): hai lần giữ chức Thủ tướng Pháp (9/1880-11/1881 và 2/1883-4/1885).
94. Chỉ việc Pháp không hoàn toàn làm chủ được Bắc Kỳ do sự chiếm cứ các vùng núi phía Bắc bởi các toán quân Cờ Đen, Cờ Vàng…
95. Auguste Jean Marie Pavie (1847-1925): là công chức dân sự thuộc địa người Pháp, nhà thám hiểm và nhà ngoại giao, người đóng vai trò trọng yếu trong việc thiết lập quyền kiểm soát của Pháp tại Lào trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ XIX. Pavie trở thành Phó công sứ Pháp tại Luang Prabang năm 1885, và cuối cùng là Thống đốc và Đặc nhiệm Toàn quyền Pháp tại Lào.
96. Tức Quảng Châu Loan. (HĐ)
97. Đất có thể chia ra thành hai lớp tổng quát hay tầng: tầng đất bề mặt, là lớp trên cùng nhất, ở đó phần lớn các loại rễ cây, vi sinh vật và sinh vật khác cư trú, và tầng đất cái, tầng này nằm sâu hơn và thông thường dày đặc, chặt hơn cũng như ít các chất hữu cơ hơn.
98. Đóng tại địa điểm mà nay là Xí nghiệp liên hợp Ba Son. Năm 1774, Nguyễn Ánh chiếm lại Sài Gòn. Song song với việc xây thành Bát Quái (Quy thành - 1790), Nguyễn Ánh đã cho lập xưởng Chu Sư (Thủy xưởng). Đến những năm đầu thế kỷ XIX xưởng đã mở rộng thành một công trường thủ công lớn là nơi sản xuất, sửa chữa mọi loại chiến hạm, nơi đặt lò đúc các hạng súng lớn nhỏ bằng đồng hay bằng gang, nơi tập trung hàng nghìn công nhân với nhiều ngành chuyên môn khác nhau. Năm 1861 Pháp chiếm Sài Gòn. Ngày 28/4/1863 chính phủ Pháp đã ký quyết định chính thức thành lập Thủy xưởng Ba Son, đặt trực thuộc Bộ Hải quân Pháp. Vì tầm quan trọng của xưởng này, năm 1884 chính phủ Pháp cho xây dựng thêm một ụ tàu lớn nữa để làm căn cứ sửa chữa tàu cho các hạm đội quân Pháp ở vùng Viễn Đông.
99. Công nho: do đọc trại chữ “công nhu” là quỹ dành cho việc chung, nhu cầu chung của làng, tức là công quỹ làng xã.
100. Dải đất nhô lên giữa sông.
101. Nguyên văn ‘tirailleurs annamites’ (lính khố đỏ An Nam): lính khố đỏ là lực lượng vũ trang của chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương, dùng người bản xứ làm quân đội chính quy trong việc đánh dẹp. Danh từ “lính khổ đỏ” xuất phát từ quân phục của nhóm này gồm quần áo chẽn, nón dẹp (sau đổi nón chóp) và dải thắt lưng màu đỏ buộc ở bụng, đầu dải buông thõng ở bẹn giống như cái khố nên người dân Việt mới gọi là “khố đỏ” tuy thực tế người lính mặc quần chứ không phải khố. Lực lượng lính khố đỏ phân theo địa phương gồm lính khố đỏ Nam Kỳ, lính khố đỏ Bắc Kỳ (tirailleurs tonkinois) và lính khố đỏ Cao Miên (tirailleurs cambodgiens). Ngoài ra, thời bấy giờ còn có lính khố xanh (milicien à ceinture bleu, garde provincial) và lính khố vàng (milicien à ceinture jaune, garde royal à Hué) với nhiệm vụ bảo vệ an ninh, tuần tra. Lính khố xanh đóng ở các tỉnh, còn lính khố vàng đóng ở kinh đô Huế, lính khố lục canh gác phủ, huyện. Lính khố đỏ và lính khố xanh được gọi chung là lính tập.
102. Nguyên văn “Grand Phu Lang Giang” (“Phu Lang Giang Đại nhân”). Một số tên riêng và địa danh trong sách này bị phiên âm từ tiếng Việt ra tiếng Pháp không chính xác đã được căn cứ vào ngữ cảnh để chuyển ngữ ngược lại tiếng Việt. Ngữ cảnh dưới đây cho thấy nhân vật này chính là Phan Thanh Giản.
103. Thường được gọi là “ba tỉnh miền Đông”.
104. Thường được gọi là “ba tỉnh miền Tây”.
105. Nguyên văn ‘les chefs de canton’. Bộ máy hành chính từ cấp tỉnh trở xuống thời phong kiến được mô tả như sau: Đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (mỗi người phụ trách hai, ba tỉnh và chuyên trách một tỉnh) và Tuần phủ (dưới Tổng đốc, chỉ phụ trách một tỉnh). Giúp việc có Bố chánh sứ ti lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát sứ ti lo về an ninh, luật pháp. Phụ trách về quân sự có chức lãnh binh. Tất cả các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trực tiếp bổ nhiệm. Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã. Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống thuộc về quyền tự trị của dân. Người dân tự lựa chọn lấy người của mình cử ra quản trị mọi việc tại địa phương được quan tỉnh sở tại duyệt y. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một chánh tổng (cai tổng) và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch (Kỳ mục) của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng.
106. Trong những di sản văn hóa do triều Nguyễn để lại, có một loại cổ vật có giá trị lịch sử, mỹ thuật và văn hóa rất cao, được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau, được gọi chung là thẻ bài. Từ tên chung là thẻ bài, tùy theo chất liệu làm nên chiếc thẻ mà có sự phân biệt là: kim bài (bài bằng vàng), ngân bài (bài bằng bạc), mộc bài (bài bằng gỗ), thạch bài (bài bằng đá)…; hay tùy theo công năng của từng chiếc thẻ mà gọi là: bội bài (bài để đeo), tín bài (bài làm tín vật), lệnh bài (bài giao việc)… Những thẻ bài này là vật dụng đặc biệt, dùng để ghi công hay để phân biệt danh tính, phẩm hàm, địa vị, chức phận của các hạng quý tộc, quan binh thời Nguyễn. Khởi thủy, vua Gia Long (1802-1820) cấp cho các quan trong Cơ Mật Viện một ngân bài (bài bằng bạc) để ra vào Đại nội. Năm 1834, vua Minh Mạng (1820-1841) bắt đầu cho làm các thẻ bài bằng vàng, gọi là kim bài, có đề bốn chữ Hán: Cơ Mật Đại Thần để ban cho các quan lại cấp cao được sung vào Cơ Mật Viện. Tùy theo chức tước và phận sự, các thẻ bài do triều Nguyễn ban cho các quan được làm bằng vàng, bằng bạc mạ vàng hay bằng bạc. Từ năm Thành Thái thứ 16 (1906) trở đi, quan lại văn võ từ hàm thất phẩm trở lên nhận thẻ bài làm bằng ngà, từ thất phẩm trở xuống nhận thẻ bài làm bằng sừng trâu. (Nguồn: Bài Trang sức của quyền uy và ân thưởng của Trần Đức Anh Sơn đăng trên Trần Đức Anh Sơn’s Cultural History and Scholarship Blog).
107. Trần Bá Lộc (1839-1899): là tay sai đắc lực của thực dân Pháp trong việc đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân ở miền Nam Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX. Trong số những người bản xứ cộng tác với Pháp, viên Toàn quyền Paul Doumer ưu ái Bá Lộc hơn hết. Chính quyền Bảo hộ của Pháp biết tên này tàn ác song vẫn trọng dụng để thi hành sách lược dùng người bản xứ trị người bản xứ. Chức Tổng đốc Thuận Khánh là do Lộc tiếm xưng rồi Pháp thuận cho, nhưng sau khi đàn áp xong những cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và Nam Kỳ, chức danh này của Lộc bị thay bằng chức Tổng đốc danh dự Cái Bè (một huyện phía Tây tỉnh Tiền Giang). Sĩ phu Nam Kỳ vô cùng bỉ báng tên này, dù y có công trong việc làm hệ thống kênh đào ở Đồng Tháp Mười khiến việc giao thương nông sản hàng hóa dễ dàng và tăng cường khả năng tiêu nước vào mùa lũ.
108. Chức quan đứng đầu bộ máy cai trị một quận ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc.
109. Nguyên văn ‘Phủ’, ‘Huyện’: cách gọi tắt các chức vụ này. Tri phủ đứng đầu một phủ, Tri huyện đứng đầu một huyện.
110. Nguyên văn ‘Chevalier de la Légion d’honneur’: Bắc đẩu Bội tinh là huân chương cao quý nhất của Pháp do Napoléon Bonaparte đặt ra, gồm năm hạng: hạng nhất là Grand-croix de la Légion d’honneur (Đại Thập Tự), hạng nhì là Grand officier de la Légion d’honneur (Đại sĩ quan), hạng ba là Commandeur de la Légion d’honneur (Chỉ huy), hạng tư là Officier de la Légion d’honneur (Sĩ quan), hạng năm là Chevalier de la Légion d’honneur (Hiệp sĩ).
111. Nhân vật khổng lồ phàm ăn trong cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Pháp F. Rabelais (1494-1553).
112. Nguyên văn ‘reinette grise’: giống táo màu nâu nhạt, quả nhỏ, hương vị thơm ngon nổi tiếng, có xuất xứ từ Anh, được trồng ở nhiều nước châu Âu.
113. Đá ong.
114. Nguyên văn: ‘Les Moïs’ (nôm na là người Mọi, tức người Thượng): chỉ những tộc dân sinh sống tại Miền Thượng, sau này cũng gọi là Cao nguyên Trung Phần, hay Tây Nguyên, gồm những nhóm sắc tộc bản địa như Ba Na, Jarai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông…
115. Trước đây từ Sài Gòn vào Chợ Lớn có hai đường bộ: Một là “route haute” có nghĩa là “đường cao”, dân chúng gọi là đường trên, nay là Lý Tự Trọng và Nguyễn Trãi. Hai là “route basse” có nghĩa là “đường thấp”, dân chúng gọi là đường dưới, nay là đường Võ Văn Kiệt.
116. Nay là Xô viết Nghệ Tĩnh, Nguyễn Thị Minh Khai và Hùng Vương.
117. Tức Đỗ Hữu Vị (1883-1916): con trai út của Tổng đốc Phương, một phi công người Việt phục vụ trong Quân đội Pháp. Nhiều tài liệu cho rằng Đỗ Hữu Vị “là người Việt Nam đầu tiên lái máy bay chiến đấu”.
118. Vào thời này Nam Kỳ thịnh hành hai loại hình sân khấu là đờn ca tài tử và hát bội (hát tuồng).
119. Nguyên văn ‘Petchili’: Bắc Trực Lệ, một địa danh của Trung Hoa. Trực Lệ nghĩa là “trực tiếp bị kiểm soát”, biểu thị cho vùng đất nằm dưới quyền kiểm soát trực tiếp của triều đình trung ương Trung Hoa. Trực Lệ được thành lập từ thời nhà Minh, vào thời điểm kinh đô còn nằm ở Nam Kinh dọc Trường Giang. Năm 1403, Minh Thành Tổ dời đô về Bắc Bình, sau đó đổi tên thành Bắc Kinh. Khu vực Bắc Trực Lệ, giản xưng là “Bắc Trực” bao gồm lãnh thổ đại bộ phận tỉnh Hà Bắc và một phần nhỏ các tỉnh Hà Nam, Sơn Đông, cùng Bắc Kinh và Thiên Tân ngày nay. Ngược lại, khu vực quanh Nam Kinh được gọi là Nam Trực Lệ, giản xưng là “Nam Trực” bao gồm Thượng Hải, Giang Tô và An Huy hiện nay.
120. Bộ com-lê đuôi tôm của nam giới.
121. Nay là trụ sở Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh, đường Hàm Nghi, Quận 1.
122. Nay là Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.
123. Nay là Sở Giao thông Vận tải tại góc đường Pasteur-Lý Tự Trọng.
124. Trong ngữ cảnh này được hiểu là Bộ trưởng Thuộc địa.
125. Một lãnh thổ trực thuộc liên bang (Union Territory) của Ấn Độ. Đây là một vùng thuộc địa cũ của Pháp. Vào tháng 12 năm 2006, vùng này đổi tên chính thức từ Pondicherry thành tên gốc tiếng địa phương là Puducherry, có nghĩa là Làng Mới.
126. Đường bộ.
127. Tức Dinh Thống đốc.
128. Chúng tôi cố gắng bảo toàn phong cách của tác giả bằng cách giữ nguyên lời tự nhận mình là một con bạc tinh quái (partenaire malin). (DG)
129. Tức một năm trước khi Paul Doumer được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương.
130. Trước khi là nghị sĩ Nam Kỳ, ông này là Thống đốc dân sự đầu tiên của Nam Kỳ.
131. Tên ông này được đặt cho công viên nay là Công trường Quách Thị Trang, trước chợ Bến Thành.
132. Đô đốc Émile de La Bédollière (1838-1901): quân nhân Pháp, giữ chức vụ Chuẩn Đô đốc trong giai đoạn 1893-1899. Tuy nhiên, trong giai đoạn này ông từng làm chỉ huy Sư đoàn Hải quân Viễn Đông và đảm nhiệm vai trò quyền Đô đốc trên chiến hạm Bayard.
133. Nelson (1758-1805), Đô đốc Anh đã thắng nhiều trận hải chiến chống hải quân của Napoléon. Ông tử trận trong trận hải chiến cuối cùng ở Trafalgar năm 1805.
134. Các pháo đài Vauban là 12 công trình phòng thủ do Nguyên soái Sébastien Le Prestre de Vauban, nhà công trình sư quân sự lỗi lạc của Pháp thiết kế vào nửa cuối thế kỷ XVII, nằm dọc theo biên giới nước Pháp. Vua Gia Long và các vua Nguyễn sau này đã học tập cách xây thành Vauban kiểu mới này từ người Pháp.
135. Nay là đảo Long Châu.
136. Lạch ở phía đông đảo Cát Bà.
137. Typhon (tiếng Anh: Typhoon): bão lớn Thái Bình Dương, là tên gọi chung những xoáy thuận nhiệt đới hình thành và phát triển ở vùng tây bắc Thái Bình Dương, một trong những trung tâm bão của trái đất; typhon chỉ loại bão có cường độ rất mạnh. Từ typhon có nguồn gốc từ tiếng Hán là “đài phong” hoặc từ touffon của tiếng Ba Tư (nghĩa là bão lớn); một vài nước khác trong khu vực Thái Bình Dương cũng có từ phát âm tương tự để chỉ loại bão này, người châu Âu gọi typhon hoặc typhoon là phỏng theo phiên âm của từ này (cũng như từ tsunami của Nhật); vì xuất xứ của từ typhon như vậy nên trong cuốn này nó được giữ nguyên không dịch.
138. Tên cảng Hải Khẩu theo hệ ngôn ngữ Á-Phi.
139. Tức vụ chiêm .
140. Tức vụ mùa.
141. Như nguyên văn, có thể là Vạn Chài (Đồ Sơn, Hải Phòng).
142. Nguyên văn “Pakhoi”.
143. Jean Marie Antoine de Lanessan: Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1891-1894.
144. Thuộc địa phận tỉnh Hải Dương.
145. Đây là Phủ Toàn quyền cũ gần bờ sông, nằm trên địa điểm ngày nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. (HĐ)
146. Nguyên văn ‘évêque in partibus’: Giám mục hiệu toà là Giám mục không có giáo phận. Chính xác hơn, vị Giám mục này đứng đầu một giáo phận chỉ có trên danh nghĩa, thường là một thành phố cổ đã từng có tòa Giám mục, vì lý do nào đó nay không còn. Giám mục hiệu toà thường thực hiện nhiệm vụ là một Giám mục phụ tá. Trong Công giáo Rôma, Giám mục hiệu tòa nếu không là Giám mục phụ tá thì thường là sứ thần Tòa thánh hoặc người đứng đầu một cơ quan trong Giáo triều.
147. Nguyên văn ‘d’Excellence’: Đức ông hoặc Ngài; là cách gọi những người có tước vị cao như bộ trưởng, đại sứ, tổng giám mục… Hoàng Cao Khải (1850-1933) là nhà văn, nhà sử học và là đại thần thời vua Thành Thái triều Nguyễn. Hoàng Cao Khải được thăng chức Khâm sai Kinh lược Bắc Kỳ, tước phong Duyên Mậu quận công (1890). Năm 1897, Nha Kinh lược Bắc Kỳ bị bãi bỏ, Hoàng Cao Khải được điều về Huế lãnh chức Thượng thư Bộ Binh và làm Phụ chính đại thần cho vua Thành Thái, hàm Thái tử Thái phó, Văn minh điện Đại học sĩ. Như vậy, Hoàng Cao Khải là viên Kinh lược sứ Bắc Kỳ cuối cùng của triều Nguyễn. Hoàng Cao Khải nổi tiếng là nhân vật thân Pháp, năm 1884 Pháp chiếm Bắc Kỳ, trong khi các phong trào chống Pháp nổi dậy Hoàng Cao Khải đã bắt tay với Pháp để đàn áp các phong trào này, điển hình là cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy.
148. Trên thực tế, người Bồ Đào Nha tuy có buôn bán, nhưng không đặt thương điếm ở Kẻ Chợ (Hà Nội). (HĐ)
149. Đại La, còn có các tên gọi khác là Đại La thành, Thành Đại La, La Thành, là tên gọi trước đây của Hà Nội trong hai thế kỷ VIII và IX. Dalila còn là tên một phụ nữ đẹp nổi tiếng trong Kinh Thánh.
150. Nay là hồ Hoàn Kiếm.
151. Nay là phố Tràng Tiền.
152. Vườn hoa Paul Bert, vườn hoa Chí Linh, nay là vườn hoa Lý Thái Tổ.
153. Nguyên văn “Résident général”: Chức vụ Tổng Trú sứ Trung-Bắc Kỳ (Résident général de l’Annam et du Tonkin) được đặt ra để thay mặt cho Chính phủ Pháp chủ trì mọi công việc đối ngoại của triều đình Việt Nam ở cả Bắc và Trung Kỳ. Tiếng Việt vào thời điểm Hòa ước Quý Mùi, 1883 được ký kết không quen dùng “trú sứ” hay “lưu trú quan” để dịch chữ résident, nhân lại sẵn có chữ consul nên mới gọi viên chức ấy là “công sứ”. Chức vụ này cũng thường được gọi ngắn gọn là “Tổng sứ” hay gọi là “Toàn quyền Lưỡng Kỳ” hoặc “Toàn quyền Trung-Bắc Kỳ”. Năm 1885, tướng Philippe Marie André Roussel de Courcy được cử sang Việt Nam với quyền hạn cai quản cả Bắc lẫn Trung Kỳ. Năm sau đó, Paul Bert được cử sang kế nhiệm. Trong dân gian, người ta thường gọi là Toàn quyền Paul Robert. Năm 1887 khi Liên bang Đông Dương hình thành thì chức vụ Toàn quyền Đông Dương được lập nên, nắm toàn quyền cai quản cả Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cao Miên; tới năm 1889 chức vụ Tổng sứ Trung Kỳ-Bắc Kỳ bị bãi bỏ. Trước đó, vào năm 1886, chức vụ Thống sứ Bắc Kỳ (Résident supérieur du Tonkin) và Khâm sứ Trung Kỳ (Résident supérieur de l’Annam) được đặt ra, khi đó còn dưới quyền trực tiếp của Tổng Trú sứ.
154. Nguyên văn: 'Rue des Cercueils'. Chính là phố Lò Sũ xưa kia chuyên đóng và bán áo quan (còn được gọi là Hàng Sũ), thế nhưng đền thờ nghề sũ trên phố lại thờ ông tổ nghề mộc và nghề rèn. Sở dĩ như vậy vì những người thợ sũ đều xuất thân từ nghề mộc và nghề rèn. Dân phường Hàng Sũ phần lớn từ làng Liễu Viên, Phương Dực (Thường Tín, Hà Tây cũ) đến thành Thăng Long cách đây hơn 200 năm. Tuy nhiên, nghề hàng sũ trên phố nay không còn, chỉ còn lại tên gọi mà thôi.
155. Nguyên văn 'nielleurs', từ này từ điển cho nghĩa “thợ khảm men huyền”, một loại thợ chạm hoặc dát vàng bạc.
156. Nguyên văn 'bois de fer', dịch chữ là “gỗ sắt”; ở Việt Nam có nhóm gỗ được gọi là tứ thiết gồm bốn loại gỗ quý và cứng như sắt là đinh, lim, sến, táu. Gỗ trắc còn có tên gọi là cẩm lai, không nằm trong hàng tứ thiết, tuy nó là một loại gỗ quý ở Nam Kỳ; không hiểu vì sao tác giả lại mô tả đồ chạm khảm của Bắc Kỳ được làm trên nền gỗ trắc, vì thời đó Bắc Kỳ thịnh hành gỗ gụ, đồ gỗ truyền thống thường được gọi chung là sập gụ tủ chè.
157. Chỉ xã Kiêu Kỵ trước thuộc phủ Thuận Thành, Bắc Ninh, nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội.
158. Các kỳ thi Nho học ở Việt Nam thời bấy giờ gồm thi Hương, thi Hội và thi Đình. Thi Hương là cấp thấp nhất, được tổ chức ở một số vùng, thi Hương có bốn kỳ: kỳ I: kinh nghĩa, thư nghĩa; kỳ II: chiếu, chế, biểu; kỳ III: thơ phú; kỳ IV: văn sách. Thi qua ba kỳ thì đỗ Tú tài (trước 1828 gọi là Sinh đồ), thường mỗi khoa lấy đỗ 72 người. Tuy có tiếng thi đỗ nhưng thường không được bổ dụng. Thi qua cả bốn kỳ thì đỗ Cử nhân (trước 1828 gọi là Hương cống). Thường mỗi khoa lấy đỗ 32 người, được bổ dụng làm quan nhỏ ở các địa phương, sau dần dần mới được thăng lên các chức cao hơn.
159. Kỳ Đồng tên thật là Nguyễn Văn Cẩm (1875-1929), người làng Trung Lập, phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên nay là xã Văn Cẩm, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông vốn có tư chất thông minh từ nhỏ lại được cha, là nhà nho giỏi, dạy dỗ. Ông được chính phủ Pháp cấp học bổng sang học Trường trung học Alger, tốt nghiệp Tú tài khoa học và văn chương. Ông có lẽ là người Việt đầu tiên đỗ Tú tài Pháp. Ở chương VII, tác giả sẽ nói rõ thêm về nhân vật này.
160. Độc giả có thể hình dung cảnh dựng lều thi của các sĩ tử qua đoạn văn này trong cuốn Lều chõng của Ngô Tất Tố: “... Vân Hạc mừng quá, chàng vội đeo các đồ đạc lại chỗ gần lều Khắc Mẫn. Nhanh nhảu, Khắc Mẫn đỡ bộ lều chõng trên vai Vân Hạc xuống đất. Cởi hết mấy nuộc dây chằng, thày lấy sáu chiếc gọng lều cắm làm hai hàng, để cho Vân Hạc vít những đầu gọng sâu vào các ống ròng rọc. Rồi một người trải áo lều lợp lên, một người đem đôi áo tơi che kín hai đầu. Bốn phía góc lều đã được Khắc Mẫn đóng bốn cái cọc nho nhỏ và neo bốn chiếc gọng lều vào đó, cho khi có gió, lều khỏi lay chuyển. Vân Hạc liền đem cái chõng kê vào trong lều, rồi chàng sang lều Khắc Mẫn, giở bộ đá lửa đánh lửa hút thuốc...'
161. Thống sứ Bắc Kỳ: là viên chức người Pháp đứng đầu xứ bảo hộ Bắc Kỳ dưới thời Pháp thuộc. Chức vị này được lập ra vào năm 1886 (Thống sứ Paulin Vial) để điều hành việc cai trị Bắc Kỳ.
162. Sau khi thí sinh đỗ kỳ thi Hương năm sau mới được dự thi kỳ thi Hội. Thi đỗ khóa thi Hội rồi mới được phép dự thi Đình. Kỳ thi Hội cũng có bốn kỳ như thi Hương. Khoa thi này được gọi là “Hội thi Cử nhân” hoặc “Hội thi Cống sĩ” (các Cử nhân, Cống sĩ, tức là người đã đỗ thi Hương ở các địa phương, tụ hội lại ở kinh đô để thi) do đó gọi là thi Hội. Trước năm 1442 thí sinh đỗ cả 4 kỳ được công nhận là trúng cách thi Hội, nhưng không có học vị gì. Nếu không tiếp tục thi Đình thì vẫn chỉ có học vị Hương cống hoặc Cử nhân. Chỉ sau khi thi Đình, người trúng cách thi Hội mới được xếp loại đỗ và mới được công nhận là có học vị các loại Tiến sĩ. Chính thức từ năm 1442 trở đi thí sinh đỗ thi Hội mới có học vị Tiến sĩ (tức Thái học sinh, dân gian gọi là ông Nghè). Người đỗ đầu khoa thi Hội gọi là Hội nguyên.
163. Nguyên văn: 'celui qui en faisait fonctions': người thực hiện những chức năng của vị Thống sứ, ý nói quyền Thống sứ hoặc một quan chức được Thống sứ ủy nhiệm. (HĐ)
164. Đồng bạc Đông dương (tiếng Pháp: piastre): đơn vị tiền tệ người Pháp cho phát hành và lưu thông tại Đông Dương thuộc Pháp trong thời gian từ năm 1885 đến năm 1954. Tiền Đông Dương gồm các đơn vị: piastre-đồng, cent (xen) hoặc centime (xăng-tim) – xu và sapèque-kẽm. Một đồng piastre bằng 100 xăng-tim (xu), một xăng-tim bằng 2-6 đồng kẽm (đồng trinh) tùy theo triều đại.
165. Để tách Bắc Kỳ khỏi quyền kiểm soát trực tiếp của triều đình Huế, người Pháp ép vua Đồng Khánh ra chỉ dụ lập Nha Kinh lược sứ Bắc Kỳ vào tháng 6/1886; tháng 2/1888 khánh thành trụ sở Nha (nay là Thư viện Quốc gia ở phố Tràng Thi, Hà Nội). Về danh nghĩa, đứng đầu Nha này là viên Kinh lược sứ Bắc Kỳ của triều đình nhà Nguyễn nhưng trên thực tế, quyền lực thuộc về Thống sứ Bắc Kỳ của người Pháp. Tháng 7/1897 vua Thành Thái bãi bỏ Nha này và quyền lực của Kinh Lược sứ Bắc Kỳ được chuyển giao cho Thống sứ Bắc Kỳ; Hoàng Cao Khải là viên Kinh lược sứ cuối cùng của Nha này.
166. Nguyên văn tiếng La-tinh “modus vivendi”: hòa ước tạm thời, tạm ước.
167. Cửa Thuận An, trước còn được gọi là cửa Eo, cửa Nộn, là một cửa biển quan trọng ở Trung Kỳ thuộc tỉnh Thừa Thiên. Cửa này là thủy lộ chính thông sông Hương qua phá Tam Giang ra biển Đông. Vì là nút giao thông nối liền vùng cận duyên và lưu vực sông Hương, cửa Thuận An đóng vai trò trọng yếu đối với cố đô Huế về mặt chiến lược, thương mại, cũng như kinh tế.
168. Ngụ ý trận Trấn Hải Thành (1883), quân triều đình thất thủ trước sự tấn công của quân Pháp, nhiều tướng lĩnh và quân sĩ triều đình đã anh dũng hy sinh trong trận chiến này, trong đó có Trần Thúc Nhẫn, Nguyễn Trung, Lê Chuẩn, Lâm Hoành...
169. Khâm sứ Trung Kỳ (tiếng Pháp: Résident supérieur de l’Annam) là viên chức người Pháp đại diện cho chính quyền bảo hộ ở Trung Kỳ dưới thời Pháp thuộc. Trên danh nghĩa viên chức này không nắm quyền nội trị nhưng thực chất là Khâm sứ Trung Kỳ điều hành việc cai trị. Trước năm 1887 theo Hòa ước Giáp Tuất 1874 thì Pháp được quyền bổ nhiệm một Công sứ (Trú sứ) (résident) ở Huế.
170. Lính của triều đình Huế.
171. Ernest Albert Brière là Khâm sứ Trung Kỳ giai đoạn 1891-1897.
172. Nguyên văn ministre plénipotentiaire, thường được dịch là ‘Đặc sứ’ hoặc hiện nay là ‘đại sứ đặc mệnh toàn quyền’; trước năm 1887, chức danh này được gọi là Tổng Trú sứ; sau năm 1887 chức danh này được gọi là Khâm sứ.
173. Nơi các vua Nguyễn thiết triều, tiếp kiến sứ giả các nước.
174. Nhiều sự kiện diễn ra trong khoảng thời gian này có liên quan đến điều tác giả đề cập ở đây, nổi bật là việc triều đình nhà Nguyễn ký với Pháp Hòa ước Quý Mùi (25/8/1883) hay còn gọi là Hòa ước Harmand, chấp thuận chế độ Bảo hộ của Pháp ở An Nam, và Trận Kinh thành Huế (5/7/1885) do Tôn Thất Thuyết chỉ huy quân triều đình đánh vào lực lượng Pháp nhưng thất bại.
175. Tức Tuy Lý Vương Miên Trinh (Nguyễn Phúc Thư, 1820-1897), ông là con thứ 11 của vua Minh Mạng. Năm 1889, Thành Thái nguyên niên, ông được cử làm Ðệ nhất Phụ chính thân thần.
176. Nguyễn Trọng Hợp (1820-1902) là danh thần triều Nguyễn. Ông đỗ Tiến sĩ khóa Ất Sửu (1865), làm quan dưới bảy đời vua từ Tự Đức đến Thành Thái, giữ các chức từ Tri phủ đến chức Kinh lược Bắc Kỳ (1886), Thượng thư Bộ Lại (1887), Tổng tài Quốc sử quán, Đại thần Cơ Mật viện, Văn Minh Đại học sĩ, Phụ chính Đại thần của vua Thành Thái (1889-1897).
177. Đây là 36 bài thơ được dịch từ tập Tây tra thi thảo, gồm 68 bài thơ, của Nguyễn Trọng Hợp làm trong khi đi sứ Pháp, vịnh phong cảnh cửa biển Cần Thơ, Singapour, Colombo, Hồng Hải, Kênh đào Suez, Paris, xem mặt trời mọc v.v.. Ba mươi sáu bài này được dịch sang tiếng Pháp và in ở Hà Nội năm 1897.
178. Nguyên tác viết ‘Dinh-Hoan-Chi-Luoc’, có thể là cuốn dư địa chí Doanh Hoàn Chí lược. Cuốn sách về địa lý thế giới này được biên soạn vào năm thứ 28 (Kỷ Dậu, 1849), niên hiệu Đạo Quang, triều vua Thanh Tuyên tông (Mân Ninh, 1821-1851), in vào đời vua Quang Tự nhà Thanh (1875-1909), Trung Hoa.
179. Những bài thơ này trích trong tập Tây tra thi thảo đã được dịch ra tiếng Pháp và được tác giả trích dẫn ở đây; tuy vậy bản dịch tiếng Pháp đã chuyển những bài thất ngôn tứ tuyệt này thành những bài thơ sáu câu, Alpha Books đã tra cứu và dịch nghĩa từ nguyên bản tiếng Hán. Tài liệu tham khảo: Nguyễn Trọng Hợp, Tây tra thi thảo, Sách in năm 1884. Ký hiệu: VHv 1411, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
180. Clovis I (466-511): Vua của Vương quốc Frank có lãnh thổ bao trùm Tây Âu. Năm 486, sau chiến thắng Syagrius trong trận Soissons, sự thống trị của Clovis I mở rộng ra toàn miền bắc xứ Gaule. Thập niên 490, lãnh địa của Clovis mở rộng thêm về phía Địa Trung Hải. Năm 508 ông lấy Paris làm kinh đô của vương quốc mình.
181. Nguyên văn ‘chasse de Truong-Duong’, năm 32 trước Công nguyên là năm Hán Thành đế trị vì.
182. La Phù là một trong thập đại danh sơn của Trung Hoa, thuộc địa phận huyện Bác La, Huệ Châu, bên bờ Đông giang, miền trung tỉnh Quảng Đông. Núi này có nhiều cảnh đẹp, được xem là chốn thần tiên thường giáng hạ.
183. Tiếng Pháp những cây thuộc họ tre như trúc, tre, nứa, vầu... đều gọi chung là bambou, nhưng theo truyền thống văn hóa phương Đông thì cây trúc mới là biểu tượng của người quân tử; tuy vậy, do đoạn dưới có liên quan với đoạn này lại đề cập đến cây tre theo cách gọi chung của người Pháp nên chỗ này được để là tre.
184. Nguyên văn ‘Namty’: sông Nậm Thi hay sông Ngưu, Trung Hoa gọi là sông Nam Khê, hợp lưu với sông Hồng tại Hà Khẩu, Lào Cai.
185. Nguyễn Thân (1840-?) là võ quan nhà Nguyễn, người gốc Quảng Ngãi, con của Nguyễn Tấn, một võ quan thời Tự Đức. Sau này Nguyễn Thân trở thành một tướng lĩnh quan trọng dưới triều Đồng Khánh, và là cộng sự đắc lực của thực dân Pháp vào những năm cuối thế kỷ XIX tại Việt Nam, nổi tiếng với công trạng đánh dẹp các cuộc nổi dậy sau 1885. Nguyễn Thân bị các chí sĩ của ta thời đó, nhất là Phan Bội Châu, phê phán rất kịch liệt vì tội đánh lại đồng chủng, đồng bào.
186. Cuộc tấn công của Tôn Thất Thuyết vào quân Pháp, được sử sách ghi lại như sau: Đêm 22 rạng 23 tháng 5 âm lịch (tức ngày 4, 5 tháng 7 năm 1885), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, vì thấy người Pháp khinh mạn vua mình như vậy, nên quyết định ra tay trước: đem quân tấn công trại binh của Pháp ở đồn Mang Cá. Đến sáng thì quân Pháp phản công, quân triều Nguyễn thua chạy, rời bỏ Kinh thành Huế. Tôn Thất Thuyết vào cung cấp báo việc giao chiến trong đêm và mời vị Hoàng đế trẻ Hàm Nghi cùng Tam cung lên đường.
187. Tức Lê Trung Đình (1863-1885), hiệu Long Cang, là một chí sĩ yêu nước đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Quảng Ngãi trong phong trào Cần Vương.
188. Tức Nguyễn Tự Tân (1848-1885) là Phó quản lực lượng hương binh trong phong trào Cần Vương tại Quảng Ngãi.
189. Mai Xuân Thưởng (1860-1887), lúc nhỏ tên là Phạm Văn Siêu, là sĩ phu và là lãnh tụ phong trào kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định.
190. Chức của Trần Bá Lộc trước khi được thăng lên Tổng đốc; nhờ đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ, Trần Bá Lộc được thăng các chức: Tri phủ (1867), Đốc phủ sứ (1868), Tổng đốc Thuận Khánh (24 tháng 7 năm 1886).
191. Tức Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887), có sách ghi là Nguyễn Hiệu, tục gọi Hường Hiệu, là một chí sĩ và là một lãnh tụ trong phong trào Cần Vương tại Quảng Nam.
192. Jules Georges Piquet (1839-1923) là một chính trị gia người Pháp. Ông từng là Toàn quyền Đông Dương, thời gian tại vị từ 3/5/1889 đến 18/4/1891. Ngoài ra, ông còn làm Toàn quyền ở vùng Ấn Độ thuộc Pháp, thời gian tại vị từ năm 1888 đến 1889.
193. Séraphin Hector: Khâm sứ Trung Kỳ giai đoạn 1889-1891.
194. Phan Đình Phùng (1847-1895): hiệu Châu Phong, là nho sĩ, nhà thơ và là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) trong phong trào Cần Vương chống Pháp ở cuối thế kỷ XIX.
195. Nguyễn Thân được phong tước Diên Lộc Quận công.
196. Nguyên văn ‘premier ministre’. Ở đây chỉ “Thượng thư Bộ Lại”, nhưng trong tiểu sử Nguyễn Thân không thấy ghi việc này.
197. Thành Thái (1879-1954) hay Nguyễn Phúc Bửu Lân (Nguyễn Phúc Chiêu) là vị Hoàng đế thứ 10 của triều đại nhà Nguyễn, tại vị từ 1889 đến 1907. Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân nổi tiếng là ba vị vua yêu nước, chống Pháp. Ông từng bị lưu đày sang đảo Réunion (châu Phi).
198. Tức vua Dục Đức – Nguyễn Cung Tông (1852-1883), vị Hoàng đế thứ năm của nhà Nguyễn. Ông là con của Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y được Tự Đức chọn làm người kế vị; ông lên ngôi theo di chiếu, nhưng các quan Phụ chính là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết dâng tờ hạch lên Hoàng Thái hậu Từ Dụ hạch tội Dục Đức, rồi nhân đó tống giam ông, bỏ đói ông đến chết. Chỉ lên ngôi mấy ngày nên ông còn chưa kịp đặt niên hiệu, Dục Đức chỉ là tên gọi nơi ông ở là Dục Đức đường. Sau này con ông là Hoàng đế Thành Thái đã truy tôn phụ hoàng là Cung Tông Huệ Hoàng đế.
199. Theo sử gia Phạm Văn Sơn, thì đang khi vua Dục Đức hết sức đau đớn vì đói khát, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã sai người giết vua bằng thuốc độc vì sợ để lâu sẽ sinh biến (Việt sử tân biên, quyển 5, tập thượng, 1962).
200. Ở đây có lẽ tác giả đề cập đến Victor Olivier de Puymanel (1768-1799), còn có tên là Nguyễn Văn Tín, ông là một sĩ quan công binh và hải quân, một nhà phiêu lưu người Pháp, người có một vai trò khá quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Ông đóng vai trò chủ chốt trong việc người Pháp giúp hiện đại hóa lực lượng của Nguyễn Ánh. Tuy vậy đến nay, vai trò của Olivier trong việc xây dựng kinh thành Huế vẫn là một chủ đề gây tranh cãi.
201. Thường gọi là quần lá tọa.
202. Đàn Nam Giao triều Nguyễn được xây dựng ở xã Dương Xuân, về phía nam của kinh thành Huế, nay thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế.
203. Đàn hình vuông mà tác giả nói đến chính là Phương Đàn, đàn hình tròn được gọi là Viên Đàn.
204. Nơi nhà vua thanh tịnh trai giới trước khi hành lễ tế Nam Giao, đó là một tổng thể kiến trúc khép kín nằm ở góc tây nam của khuôn viên đàn Nam Giao.
205. Nghi Thiên Chương Hoàng hậu (1810-1902), hay Từ Dụ hoàng Thái hậu. Bà tại vị như một bà hoàng đức cao vọng trọng nhất của triều đình Huế trong vòng 55 năm.
206. Lệ Thiên Anh Hoàng hậu (1828-1903) húy là Vũ Thị Duyên, con của Thái Tử Thái Bảo, Đông Các Đại học sĩ, kiêm quản Quốc Tử Giám sự vụ Vũ Xuân Cẩn. Bà thường được gọi với hiệu Trang Ý Hoàng Thái hậu hoặc Khiêm Hoàng hậu.
207. Chính là Từ Minh Huệ Hoàng hậu Phan Thị Điều (1855-1906), người huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, con gái của Phù Quốc công Phan Đình Bình.
208. Gavroche là nhân vật trong cuốn tiểu thuyết Những người khốn khổ của Victor Hugo, điển hình cho những cậu bé lang thang đường phố, láu lỉnh, phóng túng.
209. Lăng Minh Mạng hay Hiếu Lăng do vua Thiệu Trị cho xây dựng, nằm trên núi Cấm Khê.
210. Dịch nguyên văn chú thích của tác giả dưới bức ảnh này: ‘Un tombeau d’empereur à Hue’; tuy vậy công trình trong ảnh trông giống Chủa Thiên Mụ.
211. Khu sân có tượng đá này gọi là Bái Đình, lát bằng gạch Bát Tràng, không phải bằng đá.
212. Đây chính là Bi Đình có bia “Thánh đức thần công” bằng đá xanh ghi bài văn bia của vua Thiệu Trị viết về tiểu sử và công đức của vua cha, nằm trên Phụng Thần Sơn.
213. Tức Triều Thành Thái. (HĐ)
214. Tức là Thần Đạo, trục trung tâm của các công trình trong lăng.
215. Tức Đại Hồng Môn.
216. Tức Bửu Thành, đây là một ngọn đồi thông hình tròn có tường thành bao quanh, sâu bên dưới là mộ vua.
217. Nguyên văn: ‘route mandarin’. Tức đường cái quan hay đường thiên lý, cũng có khi gọi là đường quan lộ, hay đường quan báo là một con đường dài chạy từ miền Bắc Việt Nam đến miền Nam Việt Nam, chủ yếu đắp vào đầu thế kỷ XIX.
218. Một hòn đảo tưởng tượng trong Gulliver du ký của Jonathan Swift. Hàm ý người lính An Nam nhỏ bé như người tí hon. (DG)
219. Bờ biển phía đông vùng Trung Hải thuộc Pháp.
220. Nouvelle-Calédonie là thuộc địa của Pháp tại châu Đại Dương. Đối với người Việt, từ thời Pháp thuộc, Nouvelle-Calédonie còn được gọi là Tân Thế giới.
221. Eo biển Manche là một đoạn eo biển dài thuộc Đại Tây Dương xen giữa đảo Anh và bờ biển phía bắc của Pháp, liền với Bắc Hải.
222. Tức đảo Lý Sơn.
223. Nguyên văn: ‘Baie de Hon-Kohe’. Ngày nay thuộc vịnh Vân Phong (Khánh Hòa).
224. Hiện nay là cảng Vân Phong (Khánh Hòa).
225. Alexandre Émile Jean Yersin (1863-1943): bác sĩ y khoa, nhà vi khuẩn học, và nhà thám hiểm người Pháp gốc Thụy Sĩ. Ông là người khám phá cao nguyên Lâm Viên và vạch ra một con đường bộ từ Trung Kỳ sang Cao Miên, cũng là người thành lập và là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Y Đông Dương (tiền thân của Đại học Y Hà Nội).
226. Khi chưa có người Việt định cư, người Chăm gọi vùng đất này là “Hamu Lithít” – “Hamu” là xóm ruộng bằng, “Lithít” là ở gần biển. Khi bắt đầu có người Việt định cư, vẫn chưa ai có ý định đặt ngay cho vùng đất này một tên gọi mới bằng tiếng Việt. Lâu dần, âm cuối “Lithít” lại được gắn liền với âm “Phan” tách từ phiên âm của tên hai vùng Phan Rang, Phan Rí và Phan Tiết (tên gọi cũ) và sau này người ta gọi chuẩn với cái tên Phan Thiết.
227. Louis Vuillaume: tức Cố Đề cha sở nhà thờ Tấn Tài (Phan Rang) giai đoạn 1885-1889.
228. Đơn vị đo lường Trung Quốc, tương đương với khoảng 60 ki-lô-gam. (TG)
229. Nguyên văn: “des Khas”. Người Kháng, còn gọi là Xá Khao, Quảng Lâm, là dân tộc cư trú tại bắc Việt Nam và Ai Lao. Họ nói tiếng Kháng, là ngôn ngữ thuộc ngữ chi Khơ Mú của ngữ tộc Môn-Khmer.
230. Battambang: thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Battambang, Campuchia, phiên âm tiếng Việt là Bát-tam-bang hoặc Bát-đom-boong. Sử Việt thế kỷ XIX gọi tỉnh này là Bát Tầm Bôn.
231. Angkor là tên thường gọi của một khu vực tại Cao Miên đã từng là kinh đô của Đế quốc Khơ-me và đã phát triển rực rỡ vào khoảng thế kỷ IX đến thế kỷ XV. Từ “Angkor” xuất phát từ tiếng Phạn nagara và có nghĩa là “thành phố”.
232. Nguyên gốc tiếng Pháp: Indo-Chine, nghĩa là Ấn-Trung (Ấn Độ - Trung Hoa). (DG)
233. Biển Hồ Cao Miên: một hệ thống kết hợp giữa hồ và sông có tầm quan trọng to lớn đối với Cao Miên. Đây là hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á. Trong sách này dùng Biển Hồ để chỉ vùng hợp lưu giữa các con sông còn Tonlé-sap là tên một dòng sông.
234. Vào mùa mưa bắt đầu từ tháng Sáu, thay vì sông Tonlé-sap rút nước từ hồ ra sông Mê Kông thì sông chảy ngược dòng, tiếp nước vào hồ khiến mực nước hồ dâng cao và tăng diện tích hồ. Đến tháng Mười thì nước hồ lại rút xuống và theo sông Tonlé-sap đổ ra sông Mê Kông.
235. Sông Bassac hay sông Ba Thắc là cách gọi theo tiếng Khơ-me. Ở Việt Nam gọi sông Bassac là sông Hậu và sông Mỹ Tho là sông Tiền, còn sông Mỹ Tho ở Việt Nam lại chỉ là một nhánh của sông Tiền.
236. Từ năm 1887, đại diện Pháp ở Cao Miên được gọi là Khâm sứ Cao Miên.
237. Một trò chơi kiểu xổ số được sinh ra ở An Nam, nhưng trở nên phổ biến ở Cao Miên: Chủ trò làm một tấm ván, hay tấm thảm, với tên tiếng Hoa của 36 loài thú khác nhau: hổ, khỉ, rắn, công… Cùng lúc, chủ trò treo giữa phòng chơi một tấm bảng có ghi tên một loại thú, được phủ kín. Người chơi đặt cược trên một hoặc nhiều tên loài thú. Khi tất cả các tên đã được đặt kín, chủ trò công bố tên loài thú ghi trên tấm bảng, và người thắng giành được gấp nhiều lần giá trị đặt cược. (DG)
238. Tên bài Quốc ca Pháp.
239. Ở Cao Miên, cả nam và nữ thường dùng một miếng vải hình chữ nhật dài khoảng ba mét và rộng một mét quấn quanh eo, phần đuôi ở hai đầu sẽ được thắt vào với nhau ở giữa hai chân rồi được cố định bởi một thắt lưng bằng kim loại, được gọi là sampot. Sampot gần giống với một chiếc quần hơn là váy.
240. Một loại đăng ten được làm bằng tay, phổ biến ở Pháp từ thế kỷ XVII, đặc biệt thường được sản xuất từ vùng Chantilly.
241. Một loại hộp quay tay tạo ra một giai điệu được thiết lập từ trước, mỗi hộp nhạc chỉ có thể phát ra một vài giai điệu nhất định.
242. Ý nói các điệu múa này diễn lại những tích trong sử thi Ramayana của Ấn Độ.
243. Chỉ hoàng thân Sisowath, sau trở thành nhà vua Cao Miên (trị vì: 1904 – 1927). Do việc tranh chấp cung đình, Sisowath đã bị anh trai của mình là vua Norodom trục xuất ra nước ngoài. Sau với sức ép của người Pháp, Norodom đã phải dàn hòa với Sisowath, phong tước hiệu cho em mình là Obbareach (Obbarach) có quyền kế vị. Xem: Sakou Samoth, Hommes et histoire du Cambodge, Paris 2012, p.233. (HĐ)
244. Nguyên văn: 'Excursions et Reconnaissance’.
245. Nguyên văn: L’Archaeological Survey.
246. Nguyên văn: Linguistic Survey.
247. Java (tiếng Indonesia: Jawa): đảo lớn nhất của Indonesia, hiện nay là đảo có mật độ dân số cao nhất toàn cầu, nơi sinh sống của 60% dân số nước này.
248. James Darmesteter, Ngữ văn học và khai thác thuộc địa, đăng trên báo Critique et Politique [Phân tích và chính trị] (TG).
249. Dự thảo về điều lệ được chuẩn bị bởi ngài Barth, Bréal và Sénart, được thỏa thuận với Doumer, và được duyệt bởi Viện Hàn lâm vào ngày 9/12/1898, trở thành nghị định từ 15/12/1898. (TG)
250. Xiêm Riệp: hay Siem Reap, tỉnh lỵ ở tây bắc Cao Miên. Địa danh này theo tiếng Miên nghĩa là “Xiêm bại trận”.
251. Kompong Chnang (tiếng Việt: Công-pông Chơ-năng): một tỉnh miền Trung của Campuchia.
252. Một quận thuộc Berlin, Đức.
253. Rama V: hay Chulalongkorn Đại vương (tên hoàng gia: Phra Chula Chomklao Chaoyuhua, 1853-1910), vị vua thứ năm của nhà Chakri trong lịch sử Thái Lan. Ông được xem là một trong những ông vua kiệt xuất của vương quốc Xiêm La và cũng được thần dân gọi là “Đức vua vĩ đại kính yêu”.
254. Hay Savannakhet (tiếng Việt: Xa Vẳn Na Khẹt): một tỉnh thuộc miền Trung của Ai Lao. Ngày nay có thể từ Quảng Trị đi qua đường 9 để đến Savannakhet.
255. Một hệ thác rất lớn có dạng hẻm vực dài 150 cây số ở hữu ngạn của đoạn trung lưu sông Mê Kông chảy qua Thái Lan.
256. Hay Luangprabang: một tỉnh ở Bắc Lào, phiên âm kiểu Việt Nam là Luông Pra Băng, Luông Pha Băng hay Luổng Phạ Bang; phiên âm Latinh kiểu phương Tây: Luang Prabang hay Louangphrabang).
257. Năm 1904 tỉnh này đổi tên thành Sơn La.
258. Một đảo thuộc tỉnh Chăm Pa Sắc (Champasack) ở tây nam Lào.
259. Hay còn gọi là sông Mun, một nhánh của sông Mê Kông ở Thái Lan.
260. Một huyện (mường) thuộc tỉnh Champasack ở hạ Lào.
261. Nhà trường Athénée ở Rome (La Mã cổ đại). (HĐ)
262. Đây là một câu thơ nổi tiếng mô tả cảnh rạng đông trong tác phẩm Odyssey của Homère. (HĐ)
263. Cao nguyên Boloven thuộc tỉnh Champasack ngày nay.
264. Hay còn gọi là sông Dôn, một sông nhánh của Mê Kông.
265. Một vùng ở Nam Lào ngày nay, cách Viên Chăn khoảng 435 cây số về phía đông nam.
266. Saravane: hay thành phố Salavan, tỉnh lỵ của tỉnh Salavan ở miền Nam Lào.
267. Có thể hiểu là Bộ trưởng Bộ Thuộc địa.
268. Quảng Châu Loan: là vùng đất ở miền nam Trung Hoa, thuộc tỉnh Quảng Đông. Đây từng là một lãnh thổ thuộc Liên bang Đông Dương.
269. Xem các báo cáo của ông Paul Doumer, đính kèm các biên bản phiên họp ngày 28 tháng Ba và 29 tháng Sáu, và báo cáo của ông Camille Krantz, trong biên bản phiên họp ngày 27 tháng Mười hai năm 1895. (TG)
270. Một công ty xây dựng của Pháp, tiền thân là công ty Daydé do Henri Daydé (1847-1924) thành lập, năm 1880 công ty này có tên là Pillé&Daydé, năm 1882 đổi tên thành Daydé&Pillé, cuối cùng năm 1903 lấy tên lại thành Daydé.
271. Nguyên văn ‘caisson’: một cấu trúc dạng thùng hoặc khối hộp lớn, kín nước, dùng để thi công các hạng mục dưới nước như xây cầu, đóng tàu...
272. Tức cầu Long Biên.
273. Tức cầu Tràng Tiền
274. Đây là công ty Société de Construction Levallois-Perret, do Maurice Koechlin làm Giám đốc điều hành. Tiền thân của nó là công ty Compagnie des Etablissements Eiffel.
275. Tức cầu Hàm Rồng.
276. Trên thực tế, dự án này không được thực hiện. (HĐ)
277. Nguyên văn: ‘l’îlot de l’Observatoire’ (Đảo nhỏ đài Quan sát), nay thuộc cảng Tiên Sa. (HĐ)
278. Sự kiện Fachoda (Fashoda): Chính sách bành trướng thuộc địa theo chiều ngang Đông–Tây của Pháp xung đột với chính sách bành trướng thuộc địa theo chiều dọc Bắc–Nam của Anh và điểm tập trung sự xung đột là Sudan. Năm 1894, Pháp cử quân tới chiếm Fachoda ở thượng lưu sông Nil làm xứ bảo hộ của mình. Anh liền hậu thuẫn cho một lực lượng bản xứ Sudan chống lại quân Pháp. Chiến tranh gần như sắp nổ ra. Sau đó, Pháp buộc phải nhượng bộ và từ bỏ Đông Phi.
279. Vụ Dreyfus là một cuộc xung đột chính trị–xã hội nghiêm trọng trong nền Đệ tam cộng hòa Pháp vào cuối thế kỷ XIX, xoay quanh cáo buộc tội phản quốc đối với Đại úy Alfred Dreyfus, một người Pháp gốc Alsace theo Do Thái giáo, người mà cuối cùng được tuyên bố vô tội. Nó đã khuấy đảo xã hội Pháp một cách sâu sắc trong suốt 12 năm (1895-1906), trong đó hầu như toàn thể các giới trong xã hội Pháp chia thành hai phe ủng hộ Dreyfus (dreyfusard) và chống Dreyfusard (anti-dreyfusard) và dẫn đến nhiều hệ lụy với nước Pháp về sau.
280. Pursat: một tỉnh của Campuchia, còn phiên âm là Puốc-xát, hay Phúc-túc theo sử cũ thời nhà Nguyễn. Bản đồ thời nhà Nguyễn còn gọi đây là trấn Gò Sặt.
281. Hay Át Ta Pư, một tỉnh ở đông nam Lào ngày nay.
282. Khorat: Cao nguyên Khorat hay Cò Rạt nằm ở phía Đông Bắc của Thái Lan.
283. Nay là Nghi Tân, Tứ Xuyên.
284. Kampot là một tỉnh phía nam Campuchia, thời Nguyễn còn gọi là Cần-bột.
285. Một tỉnh cũ của Việt Nam được thành lập vào năm 1831 và là một trong 13 tỉnh được thành lập sớm nhất ở Bắc Kỳ. Năm 1884, quân Pháp đánh chiếm thành Hưng Hóa, sau đó cắt đặt lại tỉnh này. Năm 1903, tỉnh này được đổi tên thành tỉnh Phú Thọ.
286. Đề Kiều: tên thật là Hoàng Văn Thúy (1855-1915), người Hưng Hóa. Ông thuộc về những người đầu tiên tham gia phong trào Cần Vương và cũng nằm trong những người cuối cùng hạ giáo.
287. Hoàng Hoa Thám (1836-1913): còn gọi là Đề Dương, Đề Thám hay Hùm xám Yên Thế, là người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống Pháp (1884-1913).
288. Đây chính là giai đoạn hòa hoãn lần thứ hai của nghĩa quân Đề Thám (1897-1909) để chuẩn bị lực lượng và mở rộng căn cứ, địa bàn hoạt động. Đến năm 1908, Đề Thám chỉ đạo vụ Hà Thành đầu độc nổi tiếng. Khởi nghĩa Yên Thế chấm dứt năm 1913.
289. Thuộc Hải Nam.
290. Sự kiện đáng lưu ý nhất của nhà Thanh trước 1897 là Chiến tranh Trung - Nhật (1894-1895).
291. Còn gọi là Chiến tranh Nhật-Thanh (theo cách gọi ở Nhật Bản), hay Chiến tranh Giáp Ngọ (theo cách gọi cũ ở Trung Hoa), là một cuộc chiến tranh giữa Đại Thanh và Đế quốc Nhật Bản diễn ra từ 1/8/1894 đến 17/5/1895. Cuộc chiến tranh này đã trở thành biểu tượng về sự suy yếu của nhà Thanh và chứng tỏ sự thành công của quá trình hiện đại hóa do công cuộc Minh Trị duy tân mang lại so với Phong trào Dương vụ ở Trung Hoa. Kết quả chủ yếu của cuộc chiến này là việc chuyển dịch sự chi phối khu vực châu Á từ Trung Hoa sang Nhật Bản và là một đòn chí mạng vào nhà Thanh và truyền thống cổ truyền Trung Hoa.
292. Mãn Châu Lý: nay là một thành phố cấp huyện thuộc Nội Mông. Năm 1901, tuyến đường sắt Viễn Đông Trung Hoa được hoàn thành theo thỏa thuận của Hiệp ước mật Trung-Nga năm 1896, kết nối Siberi, Mãn Châu, và Viễn Đông Nga. Một điểm dân cư sau đó được hình thành quanh ga Manchzhuriya, điểm dừng đầu tiên tại Mãn Châu với những người Nga.
293. Hải chiến cảng Lữ Thuận nổ ra giữa Hải quân Đế quốc Nga và Hải quân Đế quốc Nhật (1904). Cảng Lữ Thuận hay Lữ Thuận Khẩu Khu thuộc tỉnh Liêu Ninh, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày nay.
294. Năm 1898, chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ bùng nổ, kết quả là Tây Ban Nha đã mất nốt những thuộc địa cuối cùng của mình là Philippines, Guam ở châu Á và Cuba, Puerto Rico ở biển Caribbean.
295. Vào năm 1900, ở Trung Hoa, có Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn hay Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn (1899-1901). Tháng 6 năm 1900, quân Nghĩa Hòa chiếm đóng Bắc Kinh và giết 230 người ngoại quốc. Hàng chục nghìn tín đồ Cơ Đốc giáo Trung Hoa, gồm Công giáo và Tin Lành đều bị giết, phần lớn tại hai tỉnh Sơn Đông và Sơn Tây, như là một phần hẹ quả của cuộc nổi dậy. Chính quyền của Từ Hy Thái hậu tỏ ra bất lực khi các nhà ngoại giao và binh sĩ cũng như thường dân nước ngoài và một vài tín đồ Cơ Đốc giáo người Hoa phải rút lui vào các tòa Công sứ và cầm cự 55 ngày cho đến khi liên quân 8 nước gửi 20.000 quân tới giải cứu. Liên quân đánh bại quân chính quy nhà Thanh, chiếm đóng Bắc Kinh ngày 14 tháng 8, giải vây khu lãnh sự, tiếp đó cướp phá Bắc Kinh và các khu vực lân cận, hành quyết các tù binh tình nghi là thành viên Nghĩa Hòa bị bắt.
(1) Dụng tâm lương khổ: thành ngữ, ý muốn nói đến việc lao tâm khổ tứ, chịu khó suy nghĩ về chuyện gì đó.
(1) BA: người quản lý.
(1) Thành ngữ “thêu hoa trên gấm”: ý chỉ việc làm thừa thãi.
(2) Estée Lauder và Shiseido là hai nhãn hiệu mỹ phẩm nổi tiếng của Mỹ và Nhật Bản.
(3) Đổng sự: thành viên hội đồng quản trị.
(4) Sữa tươi tưới lên đầu: nguyên văn là “thế hồ quán đỉnh”, trong Phật giáo chỉ sự giác ngộ một cách triệt để.
(5) Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn: là thuyết trong Phật giáo, có nghĩa là: Trên trời, dưới đất chỉ một mình ta mà thôi.
(1) Tổng giám tài vụ: tiếng Anh là CFO, trong tiếng Việt là giám đốc tài chính.
(1) Brunch: bữa ăn giữa bữa sáng và bữa trưa.
(2) CBD viết tắt của từ Central Business District, khu trung tâm hành chính và thương mại của một quốc gia hay một thành phố.
(3) Bộ phim này có tên là _Cuộc sống tươi đẹp (Life is beautiful),_ tác phẩm điện ảnh kinh điển của Ý năm 1998. Phim đoạt ba giải Oscar và năm mươi hai giải thưởng khác.
(1) Thế thái viêm lương: lòng người thay đổi, thói đời đen bạc.
CBD: viết tắt của Central business district. Ngày nay, CBD được hiểu là khu vực có xu hướng phát triển mang tính chuyên môn hóa cao, là trung tâm bán lẻ, trung tâm thương vụ, trung tâm dịch vụ và cũng là trung tâm văn hóa, hành chính, thông tin…
(1) Đập nồi dìm thuyền có nghĩa “quyết đánh đến cùng”, dựa theo điển tích: Hạng Vũ đem quân đi đánh Cự Lộc, sau khi qua sông, ông ra lệnh dìm hết thuyền, đập vỡ hết nồi niêu để binh sĩ thấy không có đường lui, phải quyết tâm đánh thắng.
(1) Kì kinh bát mạch: Theo người xưa, bốn khí dương từ trên đi xuống (thiên khí) và bốn khí âm (địa khí) từ dưới đi lên, tám dòng khí hóa trên giao lưu qua cơ thể con người, tạo thành tám kinh, gọi là “kỳ kinh bát mạch”. Kỳ kinh bát mạch gồm: Nhâm mạch, Đốc mạch, Dương duy mạch, Âm duy mạch, Dương kiều (kiểu) mạch, Âm kiều (kiểu) mạch, Xung mạch và Đái (Đới) mạch. Trong tám mạch, trừ hai mạch Nhâm và Đốc có huyệt riêng, còn sáu mạch khác không có huyệt riêng, có thể dùng một số huyệt của các kinh chính (huyệt hội với tám mạch) để điều hòa mạch khí của sáu mạch này.
(1) Long Island là một hòn đảo nằm ở phía đông nam New York, Hoa Kỳ.
(2) Cửa hàng flagship: Trong lĩnh vực thời trang, flagship có vai trò như một lời tuyên ngôn và thể hiện rõ nhất tính cách thương hiệu. Flagship thường có mặt bằng rộng hơn hẳn các cửa hàng trong cùng hệ thống. Bên cạnh việc bán hàng, vai trò quan trọng hơn của flagship chính là thể hiện sức mạnh, cá tính thương hiệu qua show window, trưng bày sản phẩm, hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, kiến trúc nội, ngoại thất…
(1) Địa lão thiên hoang: dài đằng đẵng.