Tro Tàn Của Angela

Lượt đọc: 927 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

Một tuần sau chúng tôi tới thị trấn Moville thuộc hạt Donegal. Tại đó, gia đình tôi bất xe đi Belfast rồi từ Belfast, chúng tôi lại chuyển xe đi Toome ở hạt Antrim. Chiếc xe dừng trước một cửa hàng và gia đình tôi xuống ở đó. Chúng,tôi quốc bộ chừng hai dặm để tới được căn nhà của ông bà nội McCount. Trời vẫn còn lờ mờ hơi đêm, bình minh đang le lói trên quả đồi phía trước.

Bố vất vả bế hai thằng bé sinh đôi trên tay còn chúng chỉ biết khóc lóc vì đói. Mẹ tôi cứ đi được vài bước lại phải dừng để nghỉ trên những bức tường đá bên đường. Cứ mỗi lần như vậy, cả nhà cũng phải dừng theo mẹ, chúng tôi ngồi bên bà ngắm bầu trời đang ửng đỏ bỗng chuyển sang xanh. Chim chóc trên cành bắt đầu đua nhau ríu rít, líu lo đủ các giọng. Khi mặt trời lên, chúng tôi chợt trông thấy những sinh vật tha thẩn giữa cánh đồng, nhìn chằm chằm vào chúng tôi. Malachy hỏi bố: “Bố trông kìa, cái gì thế bố? .

- Bò đấy con trai ạ.

- Bò là gì hả bố?

- Bò là bò, con trại ạ.

Chúng tôi lại rảo bước trên con đường, trời mỗi lúc một sáng. Và kìa, phía xa lại có thêm những sinh vật khác trông đến buồn cười, tất cả chúng đều màu xám.

Malachy lại hỏi bố: “Cái gì thế hả bố?”.

Cừu con trai ạ. Cừu là gì hả bố? Bố tôi nhìn chằm chằm vào thằng bé rồi quát: “Bao giờ con mới thôi hỏi han lung tung như thế hả? Cừu là cừu, bò là bò, còn cái đống đằng kia là dê. Dê là dê. Dê cho sữa, cừu cho len, bò thì cho mọi thứ. Con còn định hỏi những cái tên khỉ gió nữa hay thôi?”.

Malachy kêu lên thảng thốt vì sợ bởi bố chẳng bao giờ nói với nó như thế, chưa bao giờ bố nặng lời với chúng tôi. Ông có thể dựng chúng tôi dậy vào nửa đêm và bắt chúng tôi phải thề sẽ chết vì Ailen nhưng chưa bao giờ bố quát lên như vừa rồi. Malachy chạy nhào vào lòng mẹ, bà an ủi nó: “Thôi nào, thôi nào cục cưng của mẹ, nín đi con yêu. Chắc tại bố đã mệt vì phải bế hai em con. Con phải hiểu không phải lúc nào bố cũng sẵn sàng trả lời hết tất cả các câu hỏi nhất là khi phải mang hai em trên tay đi khắp thế giới như thế này”.

Bố đặt hai đứa bé xuống bên cạnh rồi dang tay ra phía Malachy. Hai thằng bé bèn khóc váng lên còn Malachy thì níu chặt lấy mẹ nức nở. Bò thì rống thống thiết, cừu kêu ông ộc, dê thì be be. Trong lúc mọi thứ đang trở nên hỗn loạn thì tiếng còi ô tô cắt ngang tất cả. Một người đàn ông thò cổ ra khỏi ô tô kêu lên: “Lạy Chúa lòng lành, các người làm gì trên đường giờ này trong buổi sáng Phục sinh thế kia?”.

Bố tôi cũng chào lại: “Con chào Cha”.

Cha à? - Tôi thốt lên - Ông ấy là bố của bố à? Mẹ chặn tôi ngay lập tức: “Đừng có hỏi bố con thêm một câu nào nữa”.

Bố trả lời thắc mắc của tôi: “Không, ông ấy là linh mục”.

Malachy lại tiếp tục: “Linh mục là cái...”, nhưng mẹ tôi đã kịp đưa tay lên bịt mồm thằng bé.

Vị linh mục có bộ tóc bạc trắng và cái cổ áo cũng trắng. Ông nói: “Các người định đi đâu thế kia?”.

Bố nói: “Chúng con đang trên đường đến gia đình nhà McCourts ở Moneyglass”. Và thế là vị linh mục tốt bụng cho cả nhà tôi đi nhờ xe. Ông biết gia đình ấy, và rằng họ đều là những con chiên ngoan đạo, là người tốt cả. Ông hy vọng sẽ thấy cả gia đình tôi ở lễ Mixa, đặc biệt là mấy cậu bé người Mỹ này, những đứa trẻ đáng thương không biết linh mục là gì. Ông ra dấu ban phép cho chúng tôi.

Về đến nhà, mẹ định mở cổng cho mấy bố con vào nhưng bố vội la lên: “Không, không, không phải đường ấy. Đừng đi cổng trước. Cửa trước chỉ dùng cho các Cha hoặc phục vụ cho nhà có đám thôi”.

Thế là chúng tôi lại lục tục kéo nhau đi một vòng quanh nhà để chui vào cửa bếp. Bố đẩy cửa bước vào, và đó, người đang ngồi nhấm nháp trà trong một cái ca lớn chính là ông nội McCourt của tôi, còn bà nội McCourt thì có vẻ như đang đun nấu cái gì đó trên bếp.

Ôi, chúng nó về rồi này - ông thốt lên. Vâng, chúng con đã về đây - bố vui vẻ đến bên ông. Bố chỉ vào mẹ tôi và nói: Đây là Angela - Ông quay sang mẹ: “Trông con có vẻ mệt rồi đấy, Angela”. Chẳng thấy bà nói gì, chỉ quan sát chúng tôi rồi lại quay sang cái chảo đang xèo xèo trên bếp. Ông dẫn chúng tôi qua bếp tới căn phòng lớn, trong đó có kê một chiếc bàn dài và xếp nhiều ghế chung quanh. Ông bảo chúng tôi: “Ngồi đi các con, trà nhé. Các con có thích bánh kếp không?”.

Malachy hỏi ngay: “Bánh kếp là gì hả bố?”.

Bố cười vui vẻ: “Là bánh trứng sữa đấy con trai ạ. Bánh trứng sữa ở đây được trộn với khoai tây”.

Ông nói: “Nhà mình có nhiều trứng đấy. Chủ nhật hôm nay là ngày lễ Phục sinh, cho nên các con có thể ăn bao nhiêu trứng thỏa thích, cứ lấy chừng nào không còn tay mà cầm nữa thì thôi”.

Chúng tôi uống trà và ăn bánh kếp với trứng luộc, sau đó tất cả mọi người đều tỏ ra mệt và buồn ngủ. Tôi tỉnh dậy trên giường, thấy bên cạnh mình là Malachy và hai đứa em. Bố mẹ tôi đang nằm trên một chiếc giường khác cạnh cửa sổ. Chúng tôi đang ở đâu thê này? Trời đã xẩm tối. Đây không phải trên khoang tàu. Mẹ thở đều đều còn bố thì ngáy như còi tàu. Tôi nhỏm dậy và kéo tay bố: “Bố, con buồn tè quá”. Bố bảo tôi cứ dùng cái bô đi tiểu.

-Cái gì hả bố?

-Ở dưới gầm giường ấy con trai, lấy cái bô đi tiểu. Bà con vẫn bỏ hoa hồng và cây trinh nữ hái trong thung lũng vào đó. Cứ tè vào đấy đi con trai.

Tôi thực sự ngạc nhiên và muốn hỏi xem ông đang nói gì với tôi vậy. Cho dù là tôi có mót đến mấy, nhưng bảo tôi tè vào một cái bô đầy hoa hồng và trinh nữ thì cứ kỳ kỳ thế nào ấy. Ở đại lộ Classon, nơi bác Leibowitz vẫn ngồi hát ông ổng trong phòng vệ sinh trong khi chúng tôi nhảy nhót vì mót tè ngoài cửa không có thứ đó.

Giờ lại đến lượt Malachy muốn dùng cái bò đi tiểu, nhưng nó còn muốn ngồi lên đấy nữa. Bố nói: “Không, không như thê được đâu con trai. Con phải ra ngoài”. Và bố cũng bảo tôi phải ra ngoài nếu muốn ngồi. Bố dẫn chúng tôi xuống gác, qua căn phòng lớn nơi ông nội đang ngồi đọc sách bên lò sưởi còn bà nội thì gà gật trên chiếc ghế tựa. Ngoài trời đã tối hẳn, tuy nhiên ánh sáng trăng cũng đủ để rọi đường cho mấy bố con tôi. Bố mở cửa một căn nhà nhỏ xíu, tôi thấy bên trong có một cái ghế thủng một lỗ lớn ở giữa. Bố chỉ cho tôi và Malachy cách ngồi lên cái ghế đó, cách chùi mông bằng những miếng báo được cắt ra vuông vức và ghim lên tường. Sau đó bố bảo Malachy và tôi đứng đợi bên ngoài, đóng cửa lại và bắt đầu rặn ầm ầm. Trăng sáng quá, tôi trông xuống cánh đồng phía dưới và nhìn thấy mấy thứ mà bố gọi là bò và cừu. Phân vân, tôi tự hỏi không biết tại sao chúng không về nhà.

Trong nhà đã xuất hiện thêm một số người cùng ông bà nội tôi. Bố bảo với chúng tôi: “Đây là các cô, cô Emily, cô Nora, cô Maggie còn đây là cô Vera. Cô Eva đang ở Ballymena với lũ trẻ, giống như các con vậy”. Các cô của chúng tôi không giống như bác Leibowitz hay cô Minnie MacAdorey, họ chỉ gật đầu chứ không thấy ôm hôn hay mỉm cười với bọn tôi. Mẹ bước vào phòng với hai thằng bé trên tay, các cô cũng chỉ gật đầu một lần nữa.

Bà nội quay vào bếp và chẳng mấy chốc chúng tôi có bánh mì với xúc xích và trà nóng. Người duy nhất nói trên bàn ăn là Malachy. Nó chỉ thìa vào các cô và hỏi tên mọi người một lần nữa. Khi mẹ bảo nó phải trật tự và ăn nốt phần xúc xích của mình thì mắt nó đã chứa chan. Cô Nora thấy vậy bèn xích lại gần để an ủi thằng bé. Cô nói: “Được rồi, được rồi cháu cưng”. Tôi không hiểu tại sao mọi người đều nói “được rồi, được rồi” mỗi khi Malachy khóc. Tôi tự hỏi “được rồi, được rồi” nghĩa là gì.

Bố lên tiếng phá vỡ bầu không khí im lặng vẫn bao trùm quanh bàn ăn: “ơ Mỹ thật kinh khủng”. Bà tiếp lời ngay lập tức: “Oi chao, tao cũng biết điều đó, trên báo họ vẫn nói đấy. Nhưng sao mọi người bảo ngài Roosevelt là một người giỏi giang kia mà. Nếu còn ở bên ấy, chưa biết chừng mày đã kiếm được việc rồi ấy chứ”.

Bố lắc đầu tỏ ý phản đôi nhưng bà vẫn tiếp tục: “Tao không biết rồi đây mày sẽ làm gì Malachy ạ. Mọi chuyện ở đây còn tồi tệ và khó khăn hơn bên Mỹ nhiều đấy. Ởđâu cũng không có việc, Chúa mới biết, tao cũng không lấy đâu thêm chỗ cho sáu người trong cái nhà này”.

Bố nói: “Con nghĩ có thể kiếm việc dưới mấy cái trang trại. Gia đình con chỉ cần một chỗ nghỉ nhỏ thôi mà mẹ”.

-Mày xem lúc này còn ở được vào đâu nữa có chứ? - bà tỏ vẻ bực bội - Thế còn gia đình mày, bản thân mày sẽ sống bằng cái gì?

-Con nghĩ, trước mắt có thể xin trợ cấp thất nghiệp.

-Con không thể vừa bước chân xuống một con tàu từ Mỹ về mà xin trợ cấp thất nghiệp được - ông nội lên tiếng - họ sẽ buộc con phải đợi, mà trong lúc đợi thì sống bằng gì?”.

Bố chẳng nói gì nữa còn mẹ chỉ biết nhìn chằm chằm vào tường.

-Mày nên chuyển tới vùng Tự do con ạ - bà nội tỏ ra trầm ngâm - Dublin là nơi đủ lớn để mày có thể kiếm được việc làm, kể cả tìm việc làm ngoài trang trại cũng có.

-Mà hình như con cũng có tiền ở IRA thì phải - ông nội như chợt nhớ ra điều gì - con đã thực hiện nghĩa vụ của mình và hình như người ta đang hỗ trợ cho cựu chiến binh ở vùng Tự do đấy. Con có thể tới Dublin yêu cầu được giúp đỡ. Bố mẹ có thể cho con vay tiền xe tới Dublin. Hai đứa bé có thể ngồi trên lòng, như vậy là tiết kiệm được hai vé.

- Ôi chao - bố thốt lên, còn mẹ vẫn ngồi nhìn bất động vào tường với đôi mắt ngấn nước.

Sau khi ăn xong, chúng tôi trở về giường và sáng hôm sau, khi ngủ dậy nom mọi người đều rất buồn. Không lâu sau khi thức dậy, có người đánh xe đến chở chúng tôi xuống con đường hôm trước, dẫn đến cửa hàng mà bố mẹ tôi gửi hành lý ở đó. Họ nâng hành lý của chúng tôi lên nắp xe khách còn chúng tôi thì lục tục kéo nhau vào trong. Bố bảo chúng tôi sẽ đi Dublin. Malachy hỏi bố: “Dublin là gì?” nhưng không ai trả lời nó. Bố trông ra những cánh đồng hai bên đường và nói cho tôi hay đó là nơi mà Cuchulain hay đi dạo. Tôi hỏi ông chỗ Cuchulain đánh quả bóng vào mõm con chó là ở đâu, ông bảo tôi còn độ vài dặm nữa là tới.

Malachy hét lên: “Xem kìa, xem kìa”, và chúng tôi cùng quay ra. Đó là một dải nước lớn màu bạc lưng chừng trời, bố bảo đó là vịnh Neagh, cái hồ lớn nhất của Ailen, cũng tại cái hồ này, Cuchulain vẫn tắm sau mỗi trận đánh lớn. Chắc Cuchulain phải nóng lắm nên khi ông đằm mình xuống hồ, nước hồ sôi lên ùng ục và sưởi ấm cho cả mấy vùng xung quanh tới mấy ngày liền. Một ngày nào đó, tất cả chúng tôi sẽ quay về và cùng tắm trong hồ như Cuchulain từng làm. Chúng tôi sẽ câu cá và lươn rồi rán trên chảo, như thế có vẻ không giống kiểu Cuchulain làm cho lắm, ông hay tóm cả nắm cho vào họng rồi nuốt chửng, theo bồ thì ăn lươn rất bổ vì nó nhiều chất.

-Đúng không hả bố?

-Chứ lại không à!

Mẹ không trông ra ngoài cửa sổ ngắm Vịnh Neagh. Bà áp má vào đầu Oliver và nhìn chăm chăm lên nóc xe.

Không lâu sau, chiếc xe lăn bánh vào một thành phố với những dãy nhà cao tầng, ô tô và xe ngựa kéo nhộn nhịp trên đường, mọi người tấp nập đi lại trên phố bằng đủ mọi phương tiện. Malachy tỏ vẻ phấn khích: “Bố nhìn kìa, bố nhìn kìa, kia chẳng phải là cái xích đu trên sân chơi sao? Con muốn thấy Freddie Leibowitz”.

-Ôi con trai, đây là Dublin chứ không phải là đại lộ Classon. Con đang ở Ailen, cách New York xa lắm”.

Khi chiếc xe dừng hẳn, hành lý được dỡ xuống, chúng tôi ngồi bệt xuống bên đường. Bố bảo mẹ có thể ngồi trên ghế băng ở nhà chờ trong khi ông đi gặp vài người của IRA ở chỗ mà người ta vẫn gọi là Terenure. Ông bảo chúng tôi rằng có phòng vệ sinh dành cho nam giới ở bến xe, ông sẽ đi không lâu và sẽ có tiền, khi trở về sẽ có đồ ăn cho cả nhà. Ông bảo tôi đi với ông nhưng mẹ nói: “Không, em cần nó ở đây giúp”. Nhưng khi bố bảo rằng: “Anh cần nó giúp anh một tay mang tiền về”, thì mẹ bật cười và nói: “Được rồi, đi với ông bô của con đi”.

Ông bô! Như vậy có nghĩa mẹ đang trong trạng thái vui vẻ. Nếu mẹ nói “bố của con” thì có nghĩa mẹ không được vui.

Bố nắm tay tôi lôi đi khiến tôi phải liên tục rảo bước mới theo kịp. Ông đi bộ rất nhanh, từ bến xe đến Terenure là một quãng đường dài, tôi luôn hy vọng lúc nào đó ông sẽ đứng lại để bế tôi lên theo cái cách mà ông vẫn làm với hai đứa em lúc ở Toome. Nhưng ông cứ nhảy cẫng lên mà đi và chẳng hề nói câu nào ngoại trừ việc hỏi đường tới Terenure. Bây giờ chúng tôi phải tìm cho được ông Charles Heggarty ở IRA. Một người đàn ông che một mắt bằng dải băng màu hồng nói rằng chúng tôi đã đến đúng phố, Charlie Heggarty hiện ở số nhà mười bốn. “Cái gã trời đánh thánh vật”, người đàn ông nói với bố, “tôi đoán rằng anh từng phục vụ cho hắn. Bố thốt lên: “Ôi, sao ông biết, đúng là tôi từng như vậy”. Chẳng chút ngập ngừng, người đàn ông nói luôn với bố: “Tôi cũng vậy đấy, và tất cả những gì tôi có là mất một mắt, còn tiền trợ cấp thì không đủ để nuôi một con chim yến”.

-Nhưng cuối cùng thì Ailen cũng được giải phóng đấy thôi - bố nói vẻ hân hoan, “chẳng phải tuyệt lắm sao?

-Tự do cái đít lợn - người đàn ông tỏ ra hằn học - tôi cho ràng chúng ta nên quay về với nước Anh thì hơn. Dẫu sao cũng chúc anh may mắn được toại nguyện.

Một người phụ nữ ra mở cửa: “Tôi e rằng ông Heggarty đang bận”, bà ta nói với bố. Bố bảo rằng ông vừa mới đi bộ tới đây từ giữa Dublin cùng với đứa con nhỏ, trong khi đó vợ ông cùng với ba đứa trẻ vẫn dạng đợi ngoài bến xe, và rằng nếu như ông Heggarty có bận thật thì chúng tôi sẽ đợi ngoài bậu cửa.

Một lúc sau người phụ nữ trở lại và cho bố biết ông Heggarty có thể dành ít phút tiếp bố và dẫn bố con tôi vào. Ông Heggarty đang ngồi sau chiếc bàn kê cạnh chiếc lò sưởi rực rỡ. Ông ta bắt đầu: “Tôi có thể giúp gì được cho anh?”. Bố đứng đối diện với cái bàn và nói: “Tôi vừa từ Mỹ về cùng với vợ và bốn đứa con nhỏ. Chúng tôi chẳng có gì. Tôi từng chiến đấu trong Lực lượng - Tác chiến - Độc lập trong thời gian chiến tranh và giờ đây tôi hy vọng ông có thể giúp đỡ tôi trong lúc khốn khó này”.

Ông Heggarty hỏi tên bố rồi lật giở từng trang giấy của một quyển sổ lớn đặt trên bàn. Ông ta lắc đầu: “Không thấy, không thấy hồ sơ có lưu anh từng chiến đấu ở đây”.

Bố bắt đầu một bài diễn văn dài lê thê. Bố kể cho Heggarty nghe mình đã chiến đấu như thế nào, ở đâu, vào thời điểm nào và làm sao phải lén trốn khỏi Ailen chỉ bởi giải thưởng về cái đầu của ông, và cái cách mà ông vẫn dạy cho các con mình lòng yêu nước ra sao.

Ông Heggarty nói ông rất lấy làm tiếc nhưng ông ta không thể vung tiền ra cho bất kỳ ai tự xưng rằng mình từng chiến đấu cho Ailen. Bố quay sang nói với tôi: “Hãy nhớ kỹ điều này nhé Francis. Đây là một nước Ailen mới. Cái con người nhỏ bé ngồi trên chiếc ghế bé nhỏ kia với mấy cái mẩu giấy lộn đó. Đấy là tất cả những gì mà những người như bố đã không tiếc cả tính mạng của mình để chiến đấu. Chúa ơi!”.

Ông Heggarty nói ông sẽ tiếp tục nghiên cứu để có thể giải quyết cho bố khoản tiền bồi thường chiến tranh, và nếu có gì mới, chắc chắn ông ta sẽ thông báo cho bố. Ông ta sẽ cho chúng tôi tiền vé xe để quay trở về thành phố. Bố nhìn chăm chăm vào mấy đồng tiền trong tay ông ta và nói: “Liêu ông có thể thêm vào đó cho thành một khoản đủ mua một lít bia được không?”.

-Ô, vậy ra anh muốn kiếm tiền để bia rượu phải không?

-Một lít bia thì cũng chẳng đủ đâu...

-Anh sẽ đi bộ cả chục dặm đường để trở về và bắt thằng bé cũng phải đi bộ như anh chỉ vì anh muốn bia rượu phải không?

-Đã có ai chết vì đi bộ bao giờ đâu.

-Tôi muốn anh cút ngay ra khỏi cái nhà này - ông Heggary quát lên - nếu không tôi sẽ gọi bảo vệ tới, và anh có thể tin chắc rằng anh đừng có hòng trông chờ gì ở tôi nữa. Chúng tôi không có thừa tiền để nuôi cái đồ nghiện ngập như anh.

Bóng đêm đổ xuống các con phô của Dublin. Trẻ con nô đùa với nhau dưới ánh điện đường, các bà mẹ bắt đầu thò cổ ra ngoài cửa sổ gọi bọn trẻ về, mùi nấu nướng bốc lên từ khắp nơi, qua các khung cửa sổ, chúng tôi trông thấy người ta ngồi quanh những chiếc bàn, ăn uống vui vẻ. Tôi cảm thấy mệt và đói, tới lúc đó tôi muôn được bồ bế lắm nhưng tôi biết nếu nói với bố cũng vò ích qua nét mặt đanh và buồn của ông. Tôi vẫn để tay trong tay bố và gắng theo kịp ông cho tới khi về tới bến xe, nơi mẹ và các em tôi vẫn đang đợi.

Kia rồi, mẹ tôi và ba đứa em, họ đang ngủ mê mệt trên ghế băng. Khi bố nói với mẹ rằng không lấy được tiền, bà lắc đầu buồn bã khóc nấc lên: “Chúa ơi, con biết làm sao bây giờ?”. Một người đàn ông trong bộ đồng phục màu xanh tiến lại gần và hỏi mẹ: “Có việc gì thế?” Bố cho ông ta hay rằng gia đình chúng tôi đang kẹt ở bến xe này, chúng tôi không có tiền và cũng chẳng có chỗ nào để nghỉ còn lũ trẻ thì đang đói. Người đàn ông nói rằng ông ta sắp sửa hết phiên trực, ông sẽ dẫn chúng tôi đến đồn cảnh sát, nơi mà ông sẽ báo cáo giao ca, và thử xem xem họ có thể giúp gì được chúng tôi.

Người đàn ông trong bộ đồng phục nói chúng tôi có thể gọi ông ta là nhân viên an ninh, đấy là cách mà mọi người vẫn gọi cảnh sát ở Ailen. Ông ta hỏi chúng tôi xem ở Mỹ người ta gọi cảnh sát là gì, ngay lập tức Malachy thốt lên: “Cớm”. Người đàn ông vỗ nhẹ lên đầu thằng bé và bảo nó quả là một thằng Mỹ con thông minh.

Ồ đồn cảnh sát, viên hạ sĩ cho hay chúng tôi có thể qua đêm trong đồn. Ông rất lấy làm tiếc nhưng tất cả những gì ông ta có chỉ là sàn nhà mà thôi. Đó là ngày thứ Năm và xà lim thì giam đầy những kẻ say xỉn, quậy phá trong các quán bar.

Mấy người bảo vệ tỏ ra săn sóc gia đình tôi, họ cho chúng tôi trà nóng và bánh mì mỏng phết bơ với mứt. Chỉ chừng đó thôi cũng khiến anh em chúng tôi sướng phát điên, chạy nhảy quanh đồn. Các tay bảo vệ ở đó đều nhận xét chúng tôi là những nhóc người Mỹ rất đáng yêu và họ muốn đưa chúng tôi về nhà nhưng tôi nói “không”, Malachy nói “không” và cả hai đứa sinh đôi cũng nói “không”. “Không, không”, và thế là cả toán cảnh sát trong đồn đều cười phá lên.

Viên hạ sĩ cho mẹ tôi mượn một cái chăn để bà có thể nằm thoải mái trên chiếc ghế băng. Còn chúng tôi thì nằm cả dưới sàn nhà. Bố ngồi dựa lưng vào tường, hai mắt mở trừng trừng dưới chóp mũ. Ông đang hút thuốc sau khi được viên hạ sĩ mời mấy điếu. Người bảo vệ nói với bố rằng ông ấy là người ở Ballymena trên miền bắc và thế là hai người bắt đầu hàn huyên về những người họ biết ở đó và một số nơi khác như Cushendall và Toome. Ông ta nói rằng một ngày nào đó, khi nhận được tiền trợ cấp, ông ấy sẽ dọn đến ở bên bờ vịnh Neagh, hằng ngày sẽ đánh cá ngoài vịnh. “Lươn nữa, ở đấy nhiều lươn lắm. Chúa ơi, sao tôi thích cái món lươn chiên đến thế cơ chứ?”, ông ta tỏ vẻ hào hứng. Tôi thỏ thẻ hỏi bố: “Có phải ông ấy là Cuchulain không hả bố?” Và thế là người bảo vệ cười lăn lộn cho đến lúc mặt ông ta chuyển sang mầu đỏ: “A, cha mẹ ơi, anh có nghe thấy không? Thằng cha này lại muốn biết xem tôi có phải là Cuchulain không cơ đấy. Một thằng Mỹ con nhưng lại biết tất cả về Cuchulain”.

Bố trả lời tôi: “Không, ông ấy không phải là Cuchulain đâu con nhưng ông ấy là người tốt sống và đánh cá ở bên vịnh Neagh”.

Bố lắc người tôi: “Dậy, Francis, dậy. Có cái gì đó ồn ào trong đồn”. Một cậu vừa dọn sàn nhà vừa hát:

Ai cũng biết em khao khát nụ hôn anh,

Yêu là thế và chẳng cần suy tính Phải vậy chăng khi anh là duy nhất Đến bên em và hãy yêu em...

Tôi nói với anh ấy rằng đó là bài hát của mẹ và anh ta không nên hát nữa nhưng anh ấy chỉ rít một hơi thuốc và rảo bước đi thẳng. Tôi cứ đứng tần ngần ra đó, băn khoăn không hiểu tại sao mọi người cứ hát lẫn lộn bài hát của nhau như thế.

Mẹ ngồi trên ghế băng với chiếc khăn len quấn quanh người. Một người phụ nữ với mái tóc xám mang đến cho mẹ cốc trà nóng, vỗ về: “Ôn rồi, tôi là vợ viên trưởng đồn đấy, ông ấy nhà tôi bảo chị cần được giúp đỡ. Chị có dùng món trứng la-coóc không?”.

Mẹ chậm rãi lắc đầu trả lời: “Không, cảm ơn bà”.

- A, không được, tôi thấy chị dùng một ít sẽ khá hơn đấy.

Nhưng mẹ vẫn lắc đầu còn tôi thì thực sự ngạc nhiên không hiểu tại sao bà lại từ chối món trứng la-cóc trong khi đã từ lâu chẳng có gì vào bụng.

-Thôi được rồi, một ít bánh mì nướng vậy nhé và cái gì đó cho bọn trẻ với ông bố tội nghiệp của chúng, - bà vợ viên hạ sĩ quả quyết.

Bà ấy quay trở lại căn phòng khác rồi không lâu sau xuất hiện với trà và bánh mì. Bố uống trà nhưng không ăn bánh mà nhường cả cho chúng tôi. Mẹ trông thấy bèn khuyên bố: “Anh đừng có thế mà, vì Chúa, rồi cả nhà sẽ ra sao nếu anh lả đi vì đói”. Bố vẫn lắc đầu và hỏi bà vợ viên hạ sĩ xem liệu ông có thể xin bà mấy điếu thuốc nếu bà có không? Bà ta mang thuốc đến cho bố rồi quay sang báo cho mẹ biết, những người bảo vệ trong đồn đang quyên góp tiền cho chúng tôi mua vé xe lửa đi Limerick. Họ sẽ cho ô tô đón chúng tôi và hành lý đến ga Kingsbridge và sau độ ba, bốn giờ, chúng tôi sẽ có mặt ở Limerick.

Mẹ đưa tay ra ôm ghì lấy bà vợ viên hạ sĩ. “Chúa phù hộ bà, ông nhà cùng toàn thể đội bảo vệ ở đây”, mẹ nói trong nỗi xúc động, “nếu không có mọi người giúp thì chúng tôi chẳng biết sẽ ra sao. Chúa ơi, nếu quả thật còn có dịp, chúng tôi sẽ trở lại nơi đây để cảm ơn mọi người”.

-Đó chỉ là một vài chuyện nhỏ nhặt nhất mà chúng tôi có thể làm cho anh chị và các cháu, - vợ viên hạ sĩ cũng tỏ ra xúc động không kém, - đây chẳng phải là những đứa trẻ đáng yêu nhất trên thế gian này hay sao, và tôi cũng là người ở Cork, tôi biết lắm chứ, ở Dublin mà không một xu dính túi sao được.

Bố ngồi ở đầu kia chiếc ghế, lặng lẽ hút thuốc và nhấp trà nóng. Ông cứ ngồi đúng một tư thế như vây cho tới khi ô tô tới đưa chúng tôi qua các con phố ở Dublin. Bố để nghị người lái xe nếu không quá bất tiện, mong ông ghé qua Bưu điện Trung tâm. Người lái xe hỏi bố tôi có phải ông muốn gửi thư ở đó, nhưng bố bảo không phải, ông nghe nói người ta mới dựng một bức tượng để tưởng nhớ Cuchulain, người anh hùng đã hy sinh vào năm 1916 và ông muốn chỉ cho con trai của mình thấy, cậu bé rất ngưỡng mộ Cuchulain.

Người lái xe nói ông chẳng biết Cuchulain là ai nhưng cũng không vấn đề gì nếu dừng lại một chút. Có thể ông sẽ xem thử cuộc bạo động đã thay đổi Bưu điện Trung tâm như thế nào.

Mẹ ngồi lại bên trong xe trong khi chúng tôi theo chân người lái xe vào trong Bưu điện. “Ông ấy kia kìa”, ông ta quay lại nói với chúng tôi, “Cuchulain của các vị đấy”.

Và tôi xúc động đến nỗi suýt khóc bởi cuối cùng cũng được chiêm ngưỡng Cuchulain, ông ấy đứng đó trên chiếc bệ ngay trong sảnh lớn của Bưu điện Trung tâm. Ông được làm bằng vàng và có mái tóc dài, đầu ông trong tư thế ngẩng cao và có một con chim lớn đậu trên vai.

Người lái xe lên tiếng: “Nào, thế tóm lại thì ông ta là ai hả? Cái gã kia làm gì với mớ tóc dài thượt và con chim trên vai thế? A, nếu ông không lấy làm ngại, phiền ông cho tôi biết người ta đã làm gì với ông ấy vào năm 1916 vậy?”.

Bố thong thả trả lời: “Cuchulain đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng trong trận chiến khốc liệt ở vùng Easter Week. Kẻ thù của ông sợ đến nỗi không dám đến gần xác ông, cho đến khi chúng chắc chắn rằng ông đã chết khi trông thấy con chim đậu trên người ông và bất đầu uống máu ri ra từ những vết thương của ông”.

- Ô, vậy thì đó chắc hẳn là một ngày rất buồn của người Ailen rồi, - người lái xe nhận xét, - người ta nhờ một con chim mới biết được rằng ông ta đã chết hay chưa. Tôi nghĩ chúng ta nên lên đường thôi, nếu không muộn tàu đi Limerick mất.

Bà vợ viên hạ sĩ nói bà ta sẽ gửi một bức điện cho bà ngoại ra đón chúng tôi ở Limerick và ở đó, bà ngoại sẽ ra đón ở sân ga. Bà ngoại có mái tóc trắng, hai mắt bà trông có vẻ kèm nhèm, bà quấn trên vai một chiếc khăn choàng màu đen. Bà đứng như một bức tượng, không hề nở một nụ cười khi trông thấy chúng tôi. Bà ngoại không cười với mẹ tôi, chẳng cười với bất cứ ai, ngay cả khi Malachy nở một nụ cười lớn với hàm răng trắng đẹp của nó, bà vẫn dửng dưng. Mẹ chỉ vào bố giới thiệu: “Đây là Malachy mẹ ạ”. Bà ngoại gật đầu rồi quay đi nơi khác. Bà gọi hai cậu bé đang chơi quanh quẩn trên sân ga, trả cho mỗi đứa ít tiền lẻ để chúng xách hành lý cho gia đình tôi. Mấy thằng bé tóc tai trọc lốc, mũi dãi thò lò và đi chân đất. Chúng tôi đi theo họ dọc theo những con phô của Limerick. Tôi hỏi mẹ tại sao mấy anh kia không có tóc, mẹ nói họ cạo trọc đầu như thế thì chấy rận mới không có chỗ ẩn náu. Malachy nghe lỏm được bèn hỏi luôn mẹ xem chấy rận là cái gì? Mẹ lại phải lòng vòng giải thích cho nó mãi mới chịu yên. Bà ngoại xem chừng có vẻ nổi cáu, bà bảo mẹ con nó có thôi ngay đi không, nói chuyện theo cái kiểu gì vậy? Mấy cậu bé cười nói, huýt sáo và nhảy nhót suốt dọc đường cứ như thể là họ có giầy dưới chân vậy. Điệu bộ của họ khiến bà phát càu nhàu: “Chúng mày có im ngay không, cái kiểu ở đâu cứ cười nói ầm ĩ lên như thế, không chừng lại làm đổ tung tóe hành lý người ta ra đấy”. Và thê là các cậu bé lại đi đứng một cách trật tự, không cười đùa nhảy nhót, chúng tôi theo chân họ bước qua công viên, nơi có những hàng cột lớn với những bức tượng được đặt ở chính giữa và những thảm cỏ xanh mướt đến lóa mắt.

Bố bế trên tay hai cậu em sinh đói của tôi còn mẹ một tay xách túi một tay dắt Malachy. Cứ mỗi khi mẹ dừng lại để thở, bà ngoại lại hỏi mẹ: “Mày vẫn hút thuốc đấy à? Rồi mày sẽ chết vì thuốc thôi con ạ. ỞLimerick này có quá nhiều đứa bị viêm phổi vì thuốc lá rồi đấy”.

Có hàng trâm bông hoa đủ màu sắc khác nhau được trồng dọc theo lối mòn trong công viên khiến hai thằng em sinh đôi của chúng tôi tỏ ra phấn khích. Chúng không ngớt chỉ trỏ và hít mũi chùn chụt khiến cả nhà không nhịn được cười, chỉ trừ có bà ngoại ra, bà lặng lẽ kéo tấm khăn chùm kín đầu. Bố dừng lại, đặt hai đứa em xuống đường để chúng có thể ngắm hoa gần hơn. Bố nói “hoa” và thế là chúng nó cứ chạy tới chạy lui xung quanh, bắt chước cũng nói từ “hoa” theo bố. Một trong những cậu bé xách hành lý mướn thốt lên: “Chúa ơi, chúng nó là người Mỹ à?” và mẹ trả lời: “Đúng đấy, tất cả bọn nó đều được sinh ra ở New York”. Cậu bé quay sang nói với bạn: “Trời đất, chúng nó là người Mỹ cả đấy mày ạ”. Hai thằng nhỏ cùng đặt hành lý xuống đất rồi nhìn chằm chằm vào chúng tôi cho tới khi bà ngoại lên tiếng: “Các người không có ý định đứng ngắm hoa ngắm cỏ rồi lại trố mắt nhìn nhau cả ngày đấy chứ?” Và thế là tất cả chúng tôi lại tiếp tục lên đường, ra khỏi công viên, dẫn xuống một lối hẹp và rẽ sang một đường khác, nhà bà ngoại nằm ở đó.

Có một dãy nhà nhỏ nằm bên đường và nhà bà ngoại là một trong những căn nhà đó. Bếp của bà ánh lên màu đen bóng của những đổ đun nấu cùng với một ngọn lửa đỏ bập bùng trong lò sưởi. Trong phòng ăn kê một chiếc bàn dọc theo tường dưới khung cửa sổ nhỏ, trên tường gắn một chiếc tủ chứa tách chén, chai lọ. Chiếc tủ tường luôn được khóa cẩn thận và bà luôn để chìa khóa trong ví bởi không ai trong nhà được phép sử dụng bất cứ thứ gì trong đó trừ khi trong nhà có ai đó chết hoặc trở về từ nước ngoài hay cùng lắm là có Cha xứ đến chơi.

Trên tường còn treo một bức tranh vẽ hình một người đàn ông với những lọn tóc dài nâu óng và đôi mắt buồn. Ông ta chỉ tay vào ngực mình, nơi đó có một trái tim rất lớn đang bùng cháy trong lửa. Mẹ cho chúng tôi hay, đó chính là Trái tim linh thiêng của Chúa Jesus. Tôi không hiểu sao tim ông ta lại có thể bốc cháy dữ dội đến thế và tại sao lại không đổ nước vào đó. Bà ngoại tỏ ra không mấy hài lòng, bà bảo chúng tôi chẳng còn biết gì đến tôn giáo truyền thống. Mẹ có ý thanh minh với bà rằng ở Mỹ mọi chuyện đều khác. Bà nói rằng ai cũng phải biết tới sự tích này, không thể có gì biện minh trước mọi sự thờ ơ với nó.

Dưới bức tranh vẽ hình người đàn ông với trái tim bốc cháy là một cái giá đựng một chiếc cốc thủy tinh màu đỏ, trong đó là một ngọn nến lung linh và cạnh nó là một bức tượng nhỏ. Mẹ nói đó là Chúa Jesus lúc nhỏ, Chúa hài nhi trong Máng cỏ. Mẹ bảo nếu chúng tôi có muốn gì, cứ cầu nguyện với Ngài.

Malachy chẳng ngần ngừ gì, hỏi mẹ ngay lập tức: “Mẹ, con sẽ bảo ông ấy rằng con đang đói...”. Và ngay lập tức mẹ đưa tay lên môi ra dấu yên lặng.

Bà đi lại pha trà trong bếp, miệng không ngớt cằn nhằn và bảo mẹ cắt bánh mì nhưng đừng cắt quá mỏng. Mẹ ngôi xuống bàn ăn với hơi thở trở nên nặng nề, trả lời bà rằng mẹ sẽ cắt bánh trong mấy phút nữa. Bố cầm dao lên và bắt đầu xắt bánh mì, tất cả đều có thể thấy vẻ không hài lòng của bà. Bà nhìn bố cau mày nhưng không nói gì, ngay cả khi bố cắt những lát bánh mỏng tang.

Không có đủ ghê cho tất cả mọi người nên tôi và Malachy phải ngồi ăn bánh với trà nóng trên bậc cầu thang. Bố và mẹ ngồi bên bàn ăn còn bà thì ngồi dưới ảnh Chúa với tách trà của mình. Bà bắt đầu lên tiếng: “Thề có Chúa, tôi biết làm gì với mấy người bây giờ. Trong cái nhà này không còn chỗ cho các người, dù chỉ là một người”.

Malachy nhại lại giọng ê a của bà “e, e” và bắt đầu rúc rích cười, tôi cũng nói “e, e” và hai thằng em cũng bắt đầu “e, e”, tất cả chúng tôi đều cười rất thoải mái, thoải mái dến nỗi không nhét nổi bánh mì vào miệng nữa.

Bà nhìn chúng trừng trừng: “Chúng bay cười cái gì? Chẳng có gì đáng cười trong cái nhà này cả. Chúng bay nên cư xử cho phải phép trước khi tao dạy cho mỗi đứa một bài học”.

Bà vẫn không thôi cái giọng ê a của mình còn Malachy thì dường như không thể dừng lại được nữa, nó cười như nắc nẻ, bắn cả bánh mì ra ngoài, mặt nó đỏ lựng lên trông thật lạ.

Bố phải gắt lên: “Malachy và tất cả chúng mày, có thôi ngay đi không”. Nhưng Malachy không thể, nó vẫn cười ngay cả khi bố gọi nó: “Lại đây, lại đây”. Bố cầm hai bàn tay của nó đưa lên rồi phát vào đó mấy cái.

- Con có hứa là sẽ ngoan không hả?

Mắt Malachy đã ngán ngấn nước, nó khẽ gật đầu: “Con hứa”. Thằng bé có vẻ sợ thực sự vì từ trước đến giờ, chưa một lần bố nghiêm khắc với nó như vậy. Bố bảo nó: “Hãy là một cậu bé ngoan xem nào, ra kia ngồi với anh con”, rồi bố thả hai tay thằng bé xuống, xoa đầu nó một cách âu yếm.

Đêm hôm đó, chị gái của mẹ, bác Aggie trở về nhà từ nhà máy may. Bác cũng có vóc người cao lớn như chị em nhà McNamara với bộ tóc màu lửa cháy. Bác đi một chiếc xe đạp rất to thẳng vào trong căn phòng nhỏ sau bếp rồi quẳng ở đó, đi sang bếp dùng bữa tôi. Bác sống với bà bởi vì bác vừa cãi nhau với chồng, bác Pa Keating, người thường nói với bác trong cơn say rằng: “Cô đúng là đồ bò cái béo như lợn, sao còn chưa cút về nhà với mẹ”. Đó chính là lý do mà bà ngoại bảo với mẹ rằng không còn chỗ cho chúng tôi trong nhà bà. Bác sống ở đây với bà cùng bác tôi, bác Pat, người vẫn thường đi khắp thành phố bán báo.

Bác Aggie tỏ vẻ càu nhàu khi bà nói rằng tối nay mẹ sẽ ngủ cùng bác. Bà không bằng lòng, gọi bác ra mắng: “Mày có im ngay không. Chỉ có một đêm thôi, mày chẳng chết được đâu. Nếu không thích thì cứ về với thằng chồng mày. Đấy mới là chỗ của mày chứ không phải cứ về ăn vạ tao thế này. Lạy chúa Jesus, lạy Đức mẹ và cả thánh Joseph nữa, hay nhìn cái nhà này xem, mày, thằng Pat và cả con Angela với đống “tài sản” mà nó kéo từ Mỹ về nữa. Liệu chúng mày có định cho tao sống yên ổn nốt mấy năm cuối đời không đấy hả?”.

Bác trải áo khoác xuống sàn nhà trong căn phòng nhỏ phía sau còn chúng tôi thì nằm đó cùng với chiếc xe đạp của bác. Bố nằm tạm trên chiếc ghế kê trong bếp sau khi đã đưa chúng tôi đi vệ sinh ở sân sau. Khi chỉ còn lại bóng đêm yên tĩnh, hai đứa em tôi lại bắt đầu khóc vì lạnh.

Khi trời sáng, bác Aggie bước qua chỗ chúng tôi để lấy xe đạp đi làm, bác nói với chúng tôi: “Chúng mày làm ơn dịch sang một bên? Chúng mày có định tránh đường cho bác đi không thì bảo?”.

Khi bác đã đi khỏi, Malachy vẫn cứ lải nhải: “Chúng mày làm ơn dịch sang một bên? Chúng mày có định tránh đường cho bác đi không thì bảo?” Tôi có thể nghe thấy tiếng bố cười ngoài bếp cho tới khi bà xuất hiện trên bậc thang, khi đó bố buộc phải bảo Malachy trật tự.

Ngày hôm đói bà và mẹ đi ra ngoài, họ tìm được một căn phòng với đầy đủ đồ dùng sinh hoạt trên phố Windmill, nơi hai vợ chồng bác Aggie có một căn hộ. Bà trả tiền nhà cho mẹ, mười shilling cho hai tuần. Bà còn cho mẹ tiền đi chợ, cho chúng tôi mượn một cái ấm đun nước, một cái nồi, một cái chảo rán, mấy con dao và vài cái thìa, mấy lọ mứt nhưng để dùng vào việc uống trà, một cái chăn và một cái gối. Bà nói rằng đó là tất cả những gì bà có thể chu cấp cho chúng tôi trong khả năng của bà, và bố phải nhấc mông lên mà đi kiếm tiền trợ cấp thất nghiệp, tới hội từ thiện thánh Paul hoặc tìm một tổ chức cứu tế nào đó.

Căn phòng có một chiếc lò sưởi nhỏ, chúng tôi có thể dùng nó để đun nước pha trà hoặc luộc trứng chừng nào kiếm được tiền. Chúng tôi còn có một chiếc bàn, ba cái ghế và một cái giường, mẹ nói đó là chiếc giường lớn nhất mà mẹ từng thấy. Cả nhà tôi cảm thấy vô cùng sung sướng trên chiếc giường vào tối đó vì đã hoàn toàn kiệt sức sau mấy đêm ngủ dưới đất ở Dublin và ở nhà bà ngoại. Sáu người trên một chiếc giường, không thành vấn đề, chúng tôi vẫn lấy làm thích thú, được bên nhau, không còn ở bên bà hay với những người cảnh sát nữa, Malachy có thể nói “e, e” thỏa thích còn chúng tôi thì muốn cười bao lâu tùy ý.

Bố và mẹ nằm phía đầu giường, Malachy và tôi nằm phía cuối, còn chừa ra chỗ nào thì tùy hai đứa em út của tôi lựa chọn. Malachy lại khiến chúng tôi phải cười một phen. “E, e, e” nó cứ nói liên mồm, rồi “ôi, ôi, ôi”. Và thê rồi chúng tôi thiếp đi lúc nào không hay. Tiếng thở đều đều của mẹ báo cho chúng tôi biết bà đang ngủ say. Dưới ánh trăng vằng vặc, tôi nhìn lên phía đầu giường thấy bố vẫn đang thức trong khi Oliver đang khóc trong mơ, bố trườn về phía nó dỗ dành: “Bố thương, bố thương con trai, ngủ ngoan đi con..”.

Ngay sau đó Eugene ngồi bật dậy khóc thét: “A, a, mẹ ơi, mẹ ơi”. Bố cũng nhỏm dậy với nó: “Gì thế, gì thế con trai?” Eugene vẫn tiếp tục khóc và bố phải bế nó lên tay, quay ra phía đèn khí gas để nựng thằng bé. Tôi trông thấy rõ những con bọ chét bám đầy trên da thịt chúng tôi. Chúng tôi vừa đánh vừa đập, tìm mọi cách xua đuổi lũ bọ nhưng chỉ làm chúng nhảy từ người này sang người khác, chạy hết chỗ này đến chỗ khác trên người, khiến chúng tôi khó chịu vô cùng. Mấy đứa chúng tôi gãi đến bật máu. Chúng tôi nhảy dựng lên trên giường, hai đứa em sinh đôi la hét váng nhà, mẹ thì mệt mỏi rên ri: “Lạy Chúa, sao chúng con khổ thế này!”. Bố pha một ít nước muối vào một bình đựng mứt rồi chấm nhẹ lên người chúng tôi. Nước muối khiến chúng tôi thấy xót nhưng ông nói chỉ một lúc nữa mọi người sẽ thấy dễ chịu hơn.

Mẹ ngồi bên lò sưởi với hai đứa nhỏ đặt trên lòng. Bố cởi bớt áo rồi lôi đệm ra khỏi giường, đem ra tận ngoài đường. Ông đun đầy một ấm nước sôi, sau đó dựng chiếc đệm lên sát tường, dùng giầy đập cật lực. Bố luôn mồm bảo tôi phải rót nước sôi xuống sàn nhà, vào những chỗ mà bọ chét rơi xuống. Trăng ở Limerick sáng đến nỗi tôi có thể trông thấy vài mảnh trăng sóng sánh dưới nước, tôi ước sao mình có thể xúc được một ít trăng ra ngoài nhưng làm sao có thể làm được điều đó với một đống bọ chét nhảy lổm nhổm dưới chân. Bố vẫn tiếp tục dùng giày đánh vào đệm còn tôi phải chạy vòng ra sân sau để lấy thêm nước đổ vào nồi và ấm. Mẹ bảo: “Hãy nhìn con xem, giày tất ướt sũng ra thế kia, rồi con lại ốm lăn ra đấy. Còn bố mày nữa, chân đất thế kia thì viêm phổi mất thôi”.

Một người đàn ông đi xe đạp tới , dừng lại và hỏi bố tại sao phải nện cái đệm ra trò như thế. “Lạy Đức mẹ, tôi chưa từng nghe ai nói phải diệt bọ chét như thế này”, ông ta thốt lên. “Nếu cứ nhảy lên chẳng khác gì bọ chét như ông thì người ta phải nhảy đến gần mặt trăng may ra mới giết được đám bọ chét trên cái đệm kia”, người đàn ông bắt đầu giảng giải, “cách tốt nhất là ông nên đem đệm đặt lại vào giường, nhưng nhớ phải lộn ngược mặt lại, làm như thế khiến bọn chúng sẽ trở nên lú lẫn, chúng sẽ không biết mình đang ở đâu, và tất cả những gì chúng có thể làm là cắn vào đệm hoặc cắn chí lẫn nhau. Cách tốt nhất đấy”, ông ta khẳng định, “sau khi chúng cắn người xong, chúng sẽ bị bấn loạn, như ông thấy đấy, bởi lúc đó trong bọ chét cũng có mùi máu người, như vậy chúng sẽ không phân biệt được nữa, sẽ phát điên lên đấy. Bọ chét là loài khát máu nhất mà tôi thấy, tôi biết mấy cái này rành lắm”, ông ta hỉ hả, “chẳng là tôi sinh ra và lớn lên ở Limerick, dưới khu Ailen ấy, ở đấy nhiều bọ chét lắm, lúc nào cũng bu đầy trên mũi giày và sẵn sàng đàm đạo với ông về lịch sử của Ailen. Chúc ông may mắn. Tôi đứng đây cũng phải cẩn thận lắm, nếu có mấy con nhảy lên quần áo tôi thì chẳng khác gì tôi rước chúng về nhà. Bọn này sinh sôi nảy nở còn nhanh hơn cả đạo Hindu ấy chứ”.

Bố vội vàng hỏi: “Cảm phiền ông cho tôi xin một điếu thuốc?”.

- Thuốc lá hả? A, vâng, dĩ nhiên, có đấy ông ạ. Đây, mời ông. Cái khoản này khiến tôi thấy yếu đi nhiều. Ông biết đấy, vẫn cái chứng ho khan chết tiệt. Tôi ho dữ đến nỗi có lần suýt ngã xe cơ đấy. Tôi có thể hình dung được rõ từng bước đi của căn bệnh trong mỗi mạch máu của mình, cứ thế chẳng mấy chốc mà chúng ăn mất cả cái đầu tôi ý chứ”.

Ông ta đánh một que diêm châm thuốc rồi lại đưa cho bố tôi. “Dĩ nhiên”, ông ta tiếp tục, “ông cũng dễ nhiễm chứng ho khan lắm đấy, một khi đã sinh sống ở Limerick này bởi đây vẫn được coi như thủ đô của lao phổi, mà lao phổi sẽ dẫn đến viêm phổi thôi. Nếu tất cả những người bị viêm phổi đều lăn ra chết thì Limerick sẽ trở thành một thị trấn ma, tuy nhiên tôi vẫn chưa bị viêm phổi đâu nhé. Không phải, cái chứng ho khan này chỉ là sự hiện hữu của nước Đức”. Dừng lại một lát, kéo một hơi thuốc lá, rồi rũ rượi trong cơn ho khan, người đàn ông lại tiếp tục một cách khó nhọc: “Chúa ơi, bỏ quá cho con chứ, nếu cứ thê này thì con đến chết mất. Được rồi, bây giờ tôi sẽ để anh tập trung giải quyết cái đệm, nhớ những gì tôi dặn nhé, quan trọng nhất là phải làm cho lũ bọ chét con bị mất phương hướng”.

Ông ta loạng choạng nhảy lên xe đạp, mồm vẫn ngậm điếu thuốc, những cơn ho khan vẫn chẳng hề có ý định buông tha, chúng khiến ông ấy vừa đi vừa lảo đảo. Bố nói với tôi rằng người Limerick quả là lắm mồm. “Nào con trai, giúp bố một tay đem đệm vào, để xem đêm nay chúng ta có ngủ thêm được tí nào không?”.

Mẹ vẫn ngồi yên cạnh lò sưởi với hai thằng nhỏ ngủ tít trên lòng, còn Malachy đang thu mình, tựa lên chân mẹ trên sàn nhà. Mẹ hỏi bố: “Anh vừa nói chuyện với ai ngoài đấy? Nghe giọng có vẻ giống Pa Keating, chồng của chị Aggie lắm. Em có thể nhận ra qua những cơn ho khan của anh ấy. Anh ấy bị nhiễm bệnh từ bên Pháp hồi còn chiến tranh, trong một lần hít phải khí gas”.

Chúng tôi ngủ vùi trong suốt thời gian còn lại. Tỉnh dậy vào buổi sáng , tôi có thể thấy được buổi dạ tiệc của lũ bọ chét, da thịt chúng tôi đỏ ửng vì những vết cắn của bọ chét và trắng bợt với những vết gãi dài.

Trong lúc mẹ pha trà và nướng bánh mì, bố một lần nữa lại chấm nước muối cho chúng tôi vào những chỗ bị cắn. Xong việc, bố lôi đệm ra ngoài sân sau. Một ngày rét mướt như thế này, chắc chắn lũ bọ sẽ bị chết cóng và đến tối, chúng tôi sẽ được ngủ một cách yên ổn.

Vài ngày sau, khi chúng tôi có vẻ ổn định trong ngôi nhà mới, đột nhiên bố lay tôi khỏi giấc ngủ: “Dậy, dậy, Francis. Mặc quần áo vào rồi chạy đến nhà bác Aggie mau. Mẹ con cần bác giúp. Nhanh lên con trai”.

Mẹ đang rên rỉ trên giường, sắc mặt bà trắng bệch. Bố đã đặt Malachy cùng hai thằng út ngồi bệt dưới sàn nhà cạnh lò sưởi đã tắt ngấm. Tôi chạy một mạch dọc theo con phố và gõ cửa nhà bác Aggie cho tới lúc bác Pa Keating ra mở cửa, ho khan và càu nhàu: “Cái gì nữa đây, cái gì thế?”.

-Mẹ cháu đang rên la trên giường, cháu nghĩ mẹ cháu ốm nặng rồi.

Giờ lại đến lượt bác Aggie cằn nhằn: “Các người chẳng được cái tích sự gì từ khi ở Mỹ về, chỉ được cái rắc rối là giỏi”.

-Để cho thằng bé yên Aggie, nó mới chỉ là đứa trẻ. Nó chỉ biết làm những gì người lớn bảo thôi.

Bác Aggie bảo bác Pa trở về giường bởi bác còn phải đi làm vào buổi sáng, không giống những người từ miền Bắc kia mà bác không muốn nhắc tới. Bác vội xua tay: “Không không, anh phải đi. Hình như Angela thực sự cần chúng ta giúp”.

Bố khẽ bảo tôi phải ngồi yên đó với các em. Tôi chẳng hiểu chuyện gì đang xảy đến với mẹ bởi ai cũng chỉ thì thào rất khẽ, nhưng cũng vừa đủ cho tôi nghe thấy bác Aggie nói với bác Pa rằng mẹ đã mất đứa bé. Bác bảo bác Pa ra ngoài gọi xe cứu thương. Aggie còn bảo mẹ rằng mẹ có thể nhận xét nọ kia về Limerick nhưng xe cứu thương ở đây thì lúc nào cũng sẵn. Bác Aggie không hể nói nửa lời với bố tôi, thậm chí không buồn nhìn bố dù chỉ một cái.

Malachy tỏ vẻ sợ hãi: “Bố, mẹ ốm phải không?”.

- À, mẹ sẽ khỏe lại thôi con trai ạ. Mẹ cần phải đến bác sĩ một lúc.

Tôi không hiểu mẹ mất đứa trẻ nào vì tất cả chúng tôi đều có mặt ở đây, một hai ba bốn đứa chúng tôi, chẳng thấy thêm đứa nào để mất, và tại sao họ không thể nói cho chúng tôi hay mẹ bị làm sao. Bác Pa đã về, xe cứu thương chạy ngay phía sau bác. Mấy người nhảy xuống đặt mẹ tôi lên cáng rồi mang mẹ lên xe, tôi trông thấy rõ những vệt máu chảy từ giường theo lối chân họ lên xe. Malachy từng tự cắn vào lưỡi chảy máu và con chó trên đường cũng bị chảy máu rồi chết. Tôi rất muốn hỏi bố xem liệu mẹ có ra đi mãi mãi như em gái Margaret của chúng tôi không, nhưng bố đã lên xe cùng mẹ, còn hỏi bác Aggie thì chắc chắn chẳng ích gì, có khi còn bị bác bợp vào đầu cho. Bác Aggie cẩn thận lau sạch vết máu rồi dặn chúng tôi phải ở yên trên giường tới lúc nào bố về.

Lúc đó vào quãng nửa đêm, bôn anh em chúng tôi đều cảm thấy ấm áp trên giường, rồi mấy đứa ngủ lúc nào không biết cho tới khi bố về nhà thông báo cho chúng tôi biết mẹ đã ổn, đang được điều trị trong bệnh viện và chẳng mấy chốc sẽ về với bố con chúng tôi.

Sau đó, bố tới trung tâm Giới thiệu việc làm để xem có cơ hội nào không. Tuy nhiên, ở Limerick này sẽ không có cơ may việc làm cho những người đến từ miền Bắc Ailen.

Về đến nhà, bố nói với mẹ rằng chúng tôi sẽ được trợ cấp mười chín shilling một tuần. Mẹ bảo với chừng ấy tiền, chỉ vừa đủ cho chúng tôi không bị chết đói. Trông mẹ thật buồn, bà thở than: “Mười chín shilling cho sáu người nhà ta? Còn ít ơn bôn đôla bên Mỹ, làm sao chúng ta có thế tồn tại với số tiền trợ cấp ít ỏi như vậy? Chúng ta sẽ làm gì để trả hai tuần tiền nhà bây giờ? Nếu tiền thuê nhà là năm shilling một tuần, chúng ta sẽ có mười bôn shilling để mua thực phẩm và quần áo, may ra mua được ít than để đun nước pha trà!”.

Bố lắc đầu, nhấp một ngụm trà đựng trong bình mứt, nhìn chăm chăm ra ngoài cửa và huýt sáo điệu Những cậu bé Wexford. Malachy và Oliver vỗ tay nhảy nhót quanh phòng, chúng khiến bố cảm thấy khó xử không biết nên tiếp tục huýt sáo hay nên cười vì như mọi người biết đấy, có ai vừa huýt sáo vừa cười được bao giờ đâu. Bố phải dừng huýt sáo để cười, xoa đầu Oliver rồi lại liếp tục huýt sáo. Mẹ cũng cười, nhưng nụ cười của mẹ chỉ thoảng qua rất nhanh, sau đó bà lại nhìn chàm chú vào đống tro. Qua ánh mắt và khóe miệng trễ xuống của mẹ, tôi thấy bà đang lo lắng biết bao.

Ngày hôm sau, mẹ bảo bố ở nhà trông hai thằng út rồi dẫn tôi và Malachy đến hội Bảo trợ thánh Paul. Chúng tôi đứng xếp hàng cùng với những người phụ nữ choàng khăn đen. Họ hỏi tên chúng tôi và cười với chúng tôi trong khi nói chuyện. Họ bảo nhau: “Lạy Chúa, mọi người có nghe thấy mấy chú nhỏ người Mỹ nói chuyện không đấy?”. Và họ cũng lấy làm thắc mắc tại sao mẹ trông xinh xắn trong bộ áo váy của Mỹ như vậy mà lại phải đi xin đồ cứu tế bởi những người nghèo thực sự ở Limerick sẽ khó có thể chấp nhận việc mấy thằng nhỏ người Mỹ này tranh mất bánh mì từ miệng con cái họ.

Mẹ giải thích với họ rằng cái áo này mẹ được một người chị em họ tặng ở Brooklyn. rằng bố không có việc làm và mẹ còn hai đứa nhỏ nữa ở nhà, hai thằng bé sinh đôi. Những người phụ nữ xung quanh đều tỏ ra xúc động, họ sụt sịt rồi quấn chặt khăn lại và nói họ cũng có những khó khăn riêng. Mẹ bảo rằng gia đình tôi phải rời khỏi nước Mỹ bởi mẹ không thể chịu đựng nổi kế từ sau sự ra đi của đứa em gái tôi. Mấy người lại một phen nữa sụt sùi nhưng lần này là do mẹ tôi đã khóc thành tiếng. Một vài người nào đó nói rằng họ cũng mất đứa con nhỏ của mình, và đó là điều tồi tệ nhất xảy ra trên thế giới này .

Tất cả họ đều khóc thật ngon lành cho đến khi có người phụ nữ tóc đỏ mang một chiếc hộp nhỏ đi vòng quanh. Mỗi người đều nhặt một thứ gì đó trong chiếc hộp, kẹp giữa các ngón tay rồi nhét vào mũi. Bỗng một phụ nữ trẻ có vẻ khó chịu bèn hắt hơi khiến bà tóc đỏ cười phá lên: “A, ha, thấy rồi nhé Biddy. Đã bảo chưa đủ tư cách hít thuốc lá bột mà lị. Lại đây các cháu, mấy thằng Mỹ con, có muốn thử không?” Bà ta xoa một dúm chất bột màu nâu lên mũi chúng tôi và chuyện gì đến sẽ đến, cả hai thằng thi nhau hắt hơi khiến những bà đang khóc lóc mếu máo cũng phải ngừng lại mà cười rũ rượi tới mức họ phải dùng khăn choàng để lau khô mắt. Mẹ bảo chúng tôi: “Tốt đấy con ạ, nó làm chúng mày nhạy cảm hơn”.

Người phụ nữ trẻ có tên Biddy nói với mẹ rằng chúng tôi là hai đứa trẻ đáng yêu. Cô ấy chỉ vào Malachy mà nói: “Thằng bé có bộ tóc xoăn vàng óng này chẳng phải rực rỡ lắm sao? Nó sẽ trở thành một minh tinh màn bạc sánh vai với Shirley Temple ấy chứ”. Và Malachy mỉm cười rạng rỡ khiến cả hàng người xôn xao bàn tán.

Người đàn bà có thuốc lá bột quay sang bảo mẹ: “Thưa bà, tôi không muốn chen ngang nhưng theo tôi, bà nên ngồi xuống thì hơn vì tôi nghe nói bà vừa sảy thì phải”.

Một người phụ nữ khác tỏ vẻ lo lắng: “Ấy chớ, đừng, họ không thích thế đâu”.

-Ai không thích kia?

-À, Nora Molloy, hội Cứu tế không muốn chúng ta ngồi khi xếp hàng. Họ muốn tất cả chúng ta đều phải đứng dựa vào tường để tỏ sự kính trọng.

-Mấy cái con mẹ vớ vẩn, sợ đếch gì, - Nora tỏ vẻ phẫn nộ, - ngồi xuống đi bà, bà cứ ngồi lên cái bậc này này, tôi sẽ ngồi ngay cạnh bà và nếu như có đứa nào dại dột mà ý kiến với chả ý cọt, tôi sẽ cho nó lật mặt ngay, tôi dám lắm đấy. À, bà có hút thuốc không?

-Tôi có hút nhưng không có thuốc ở đây, - mẹ nhẹ nhàng trả lời Nora.

Nora móc trong tạp dề ra một điếu thuốc, bẻ làm đôi rồi mời mẹ một nửa.

Người phụ nữ ban nãy tỏ ra lo lắng giờ càng sốt sắng hơn: “Họ cũng không thích chúng ta hút thuốc đâu. Họ bảo mỗi điếu thuốc các người hút là móc bánh mì trong miệng bọn trẻ ra. Ngài Quinlivan trong kia phản đối kịch liệt chuyên này đấy. Ông ấy bảo nếu các vị có tiền hút thuốc thì cũng đủ tiền mua thức ăn rồi còn gì”.

-Quinlivan cái con khỉ, cái đồ con hoang suốt ngày nhãn nhở. Chẳng lẽ lão lại ghen với mấy cái hơi thuốc của chúng tao à? Thuốc lá là cái thú vui duy nhất của chúng tao trên cái cõi đời này đấy.

Có tiếng kẹt cửa ở cuối gian sảnh rồi xuất hiện một người đàn ông: “Có ai trong số các cô cần giày cho con cái không?”.

Các bà các cô nhao nhao, tranh nhau giơ tay lên cao: “Tôi, tôi cần”.

-Ờ, thế mà lại hết sạch giầy rồi cơ đấy. Tháng sau các cô quay lại nhé.

-Nhưng thằng Mikey nhà tôi cần giày để đi học.

-Đã bảo là hết tiệt rồi mà.

-Nhưng ngoài trời rét căm căm thế kia cơ mà ông Quinlivan.

-Hết giày rồi. Tôi bó tay đấy. Cái gì thê kia? Ai hút thuốc lá đấy?

-Tôi đây, - Nora vẩy điếu thuốc rồi rít nó đến hơi cuối cùng.

-Mỗi một hơi thuốc cô rít vào...

-Tôi biết, - Nora chen lời, - là tôi móc bánh mì từ miệng bọn trẻ nhà tôi ra chứ gì?

-Cô láo quá đấy. Cô sẽ không nhận được một xu ở đây đâu!

-Thật à? Được thôi ông Quinlivan, nếu  đây không có gì dành cho tôi, tôi biết mình sẽ lấy được ở đâu.

-Cô đang nói cái quái gì thế?

-Tôi sẽ đến hội phái Giáo hữu. Họ sẽ làm từ thiện cho tôi.

Ông Quinlivan bước về phía Nora, chỉ tay vào cô và gào lên: “Cô có biết chúng tôi có những gì không hả? Chúng tôi chỉ có xúp để cứu đói. Trong khi những người theo đạo Tin lành cứ đi vòng vòng để dụ dỗ các con Chiên ngoan đạo rằng nếu từ bỏ tín ngưỡng của mình và theo đạo Tin lành, họ sẽ có nhiều xúp hơn trong dạ dày. Chúa cứu giúp chúng con, một vài người Thiên chúa giáo đã ăn xúp của họ, những kẻ báng bổ thánh thần như thế chắc chắn sẽ bị đày xuống tầng sâu nhất của địa ngục. Và cả cô nữa, nếu cô mà mò đến Hội phái Giáo hữu, cô sẽ đánh mất linh hồn của mình và mất luôn cả phần xúp của bọn trẻ đấy”.

-Thế thì ông phải có trách nhiệm với chúng tôi chứ, có đúng thế không?

Ông ta nhìn chằm chằm vào cô, cô cũng nhìn lại. Đôi mắt ông ta lướt sang một người phụ nữ khác, cô này đang đưa lay lên bụm miệng cười.

-Sung sướng cái nỗi gì mà cười? - Quinlivan hét lên đầy bực tức.

-À, không có gì thưa ông Quinlivan. Thề có Chúa.

-Tôi nói với các vị lần cuối, không còn giày, - ông ta đùng đùng quay vào, sập cửa đánh rầm một cái.

Từng người từng người một được gọi vào trong phòng. Khi Nora bước ra, cô cười rất tươi, vẫy vẫy một mẩu giấy trên tay: “Giày đấy. Những ba đôi cho bọn trẻ nhà tôi cơ. Cứ đem hội phái Giáo hữu ra dọa thì đến cái quần đùi mấy lão ấy cũng phải cởi ra ý chứ!”.

Đến lượt mẹ được gọi vào, bà dẫn cả tôi và Malachy vào theo. Chúng tôi đứng trước một cái bàn lớn, ở đó có ba người đàn ông ngồi phỏng vấn. Có vẻ như ông Quinlivan định mở mồm ra hỏi thì người ngồi giữa lên tiếng trước: “Đủ rồi Quinlivan. Nêu chúng tôi cứ để mặc mọi chuyện cho ông xử lý thì dân nghèo ở Limerick họ chẳng đổ xô sang đạo Tin lành ráo”.

Thế rồi ông ta lại quay sang mẹ và thắc mắc không biết mẹ lấy đâu ra cái áo khoác màu đỏ đẹp đến thế. Mẹ lại giải thích như vừa giải thích cho các bà ngoài kia, và khi nhắc đến cái chết của Margaret, vai mẹ rung lên vì xúc động. Mẹ nói lời xin lỗi với mấy người ngồi ở đó, vì rằng mẹ đã khóc như thế bởi sự việc cũng mới xảy ra được vài tháng và cho đến bây giờ mẹ cũng không biết con bé được chôn ở đâu, hay thậm chí mẹ còn không đến được lễ rửa tội cho con bé do kiệt sức sau khi sinh nở và nuôi nấng đến bốn đứa con trai, mẹ không còn đủ sức để đến nhà thờ làm lễ rửa tội và trái tim mẹ như muốn tan vỡ mỗi khi nghĩ đến Margaret sẽ phải ở Limbo mãi mãi, mỗi khi nghĩ đến việc con bé sẽ không bao giờ còn được trông thấy gia đình của nó, dẫu chúng tôi có ở trên thiên đường, dưới địa ngục hay nơi luyện ngục đi nữa.

Ông Quinlivan mang chiếc ghế của mình lại cho mẹ: “Thật ái ngại quá thưa bà, mời bà ngồi tạm xuống đây. Vâng, mời bà”.

Hai người kia ngồi nhìn lên mặt bàn rồi lại nhìn lên trần nhà. Người ngồi giữa bảo mẹ rằng ông ta sẽ phát cho mẹ thẻ mua hàng mỗi tuần để mẹ có thể mua thực phẩm ở cửa hiệu McGrath trên phố Pamell. Ở đó có trà, đường, bột mì, bơ, sữa và ngoài ra còn có thẻ mua than riêng ở ngoài bãi than Sutton trên đường Dock.

Người thứ ba nãy giờ mới lên tiếng: “Dĩ nhiên, không phải tuần nào bà cũng có thể có được những thứ đó, thưa bà. Chúng tôi sẽ thường xuyên đến thăm gia đình để đảm bảo rằng gia đình bà thực sự cần tới sự giúp đỡ này. Đó là nguyên tắc, thưa bà, tuy nhiên chúng tôi cũng sẽ xem xét những yêu cầu của bà”.

Mẹ quệt tay áo lên mặt để lau khô nước mắt rồi nhận lấy thẻ mua hàng. Thực sự xúc động, mẹ nói lời cảm om tới mấy người: “Chúa phù hộ cho lòng tốt của các vị”. Cả ba người đều gật đầu rồi nhìn xuống mặt bàn, nhìn lên trần nhà và nhìn vào tường, rốt cuộc họ cũng hắng giọng gọi người phụ nữ tiếp theo.

Nhũng người phụ nữ còn lại ở ngoài đều khuyên mẹ: “Khi bà đến cửa hàng McGrath, bà nên để mắt tới con mụ lừa đảo ấy, kiểu gì nó cũng tìm cách bớt xén của bà. Mụ ta hay lèn giấy vào đĩa cân, sau đó xoay nó vào phía trong khuất sau quầy để bà không thấy được mụ ta đưa bao nhiêu lên cân. Bằng cách đó mụ có thể điều chỉnh trọng lượng của món hàng bao nhiêu cũng được, nếu bà may mắn thì nhận được một nửa số mình cần. Nhưng mụ ta còn có tranh Đức mẹ đồng trinh và Trái tim Chúa Jesus treo đầy cửa hàng, hay mụ cũng có thể quỳ gối ngày này qua ngày khác trong nhà thờ thánh Joseph, lải nhải những câu kinh vô hồn như một kẻ tử vì đạo chân chính vậy. Đúng là cái đồ chó cái”.

Nora bảo mẹ: “Tôi sẽ đi cùng bà, tôi cũng có thẻ mua hàng ở chỗ con mụ ấy. Mụ ta sẽ không qua được mắt tôi nếu có ý định lừa gạt bà”.

Cô ấy dẫn chúng tôi đến cửa hàng tạp phẩm trên phố Pamell. Người đàn bà đứng sau quầy tỏ ra rất lịch thiệp với cái áo khoác của Mỹ mẹ mặc trên người cho đến khi mẹ chìa ra tấm thẻ mua hàng có dấu của hội Cứu tế thánh Paul. Bà ta bắt đầu cao giọng: “Tôi không biết các người làm gì ở đây vào cái giờ này trong ngày. Tôi không bao giờ bán từ thiện trước sáu giờ tối. Nhưng đây là lần đầu của chị, coi như tôi phá lệ giúp chị một lần”.

Bà ta quay sang Nora hỏi dò: “Bà cũng có thẻ mua hàng hả?”.

-Không, tôi chỉ là bạn giúp đỡ gia đình tội nghiệp này trong lần đầu tiên họ đi mua hàng của hội Cứu tế thòi.

Bà bán hàng lót mẩu giấy báo xuống đĩa cân rồi trút bột mì xuống từ một cái bao lớn. Được một lát, bà ta dừng lại rồi ngẩng đầu lên: “Đủ rồi đấy, một pao bột mì”.

-Tôi không cho là thế, - Nora phản đối, - chỉ một nhúm thế kia mà bảo là một pao à?

Mặt mụ ta đột ngột đỏ bừng, giận dữ nhìn Nora: “Bà định buộc tội tôi đấy à?”.

-Ô, không đâu thưa bà McGrath, - Nora nhỏ nhẹ, - tôi chỉ cho rằng có cái gì đó không ổn trong cái cách mà bà ấn vào mép đĩa cân như thế kia, tội nghiệp cho bà không trông thấy mảnh báo bà lèn vào lòi cả ra ngoài kia kìa. A, Chúa chứng giám. Một phụ nữ như bà sẵn sàng quỳ cả ngày trước Đức mẹ Đồng trinh đúng là mang lại nguồn cảm hứng cho chúng tôi. Kìa, có phải tiền của bà rơi dưới đất không đấy?

Bà McGranth lùi ngay lại đằng sau, ngay lập tức cái kim trên bàn cân nhảy loạn cả lên. “Tiền nào, tiền nào cơ?” bà ta hỏi luôn mồm cho đến khi ngước nhìn lên Nora, bà ta mới hiểu mình đã bị mắc lỡm. Nora cười thật thoải mái: “Vẫn cái mánh bịp bợm cũ rích. Hình như có sơ suất gì đó, thưa bà. Chỗ bà đổ ra chỉ non nửa pao thôi đấy”.

-Cái cân này khiến tôi gặp nhiều rắc rối quá đi mất, - McGranth càu nhàu.

-Cứ cho là như thế, - Nora không để cho mụ yên.

-Nhưng thề trước Chúa, lương tâm của tôi luôn trong sạch.

-Tôi cũng tin như vậy, - Nora mỉa mai, - bà có biết đâu đâu người ta cũng ngưỡng mộ về sự trong sạch của bà không?

-Tôi vẫn luôn phấn đấu trở thành một con chiên ngoan đạo.

-Phấn đấu à? - Bà chỉ cần phấn đấu có tí ti mà đã nổi tiếng là người có trái tim nhân hậu lắm rồi đấy. Tôi tự hỏi không biết bà còn vài viên kẹo cho hai thiên thần này không nhỉ?

-Ư hừm, tôi không phải là triệu phú, nhưng được rồi...

-Chúa phù hộ bà, bà McGrath ạ, tôi biết mình đòi hỏi hơi nhiều nhưng bà xem có thể cho tôi vài điếu thuốc được chứ?

-Trời đất, bà biết đấy, thuốc không nằm trong danh mục mua hàng. Tôi không phải ở đây để cung cấp những đồ xa xỉ.

-Nếu bà biết cư xử hơn, chắc chắn tôi sẽ không bỏ qua lòng tốt của bà trước ban trị sự hội Cứu tế thánh Paul đâu.

-Được rồi, được rồi, - Mc Grath vội vàng thò tay vào tủ, - Chỉ duy nhất lần này thôi nhé.

-Chúa phù hộ bà, - Nora thong thả nhận mấy điếu thuốc, - tôi rất lấy làm tiếc vì cái cân gây cho bà quá nhiều phiền phức.

Trên đường về, chúng tôi ghé vào công viên People, ngồi nghỉ trên ghế băng. Trong khi Malachy và tôi say sưa mút kẹo thì mẹ với cô Nora vừa hút thuốc lá vừa tán gẫu với nhau. Khói thuốc khiến cho Nora lên một cơn ho khan, cô bảo mẹ rằng thuốc lá trước sau gì cũng giết chết cô, và rằng gia đình cô đã có tiền sử bệnh viêm phổi, chẳng có ai sống được đến tuổi già cả. Dẫu sao cô vẫn muốn ở Limerick, bởi mọi người có thể nhòm ngó khắp nơi và điều đầu tiên họ nhận ra là có rất ít người có tóc xám. Hình như những ai tóc xám đều nằm cả dưới huyệt hoặc đã vượt Đại Tây Dương sang bên kia làm công nhân đường tàu hay lang thang khắp nơi với bộ quân phục cảnh sát trên người.

- Bà là người may mắn đấy, bà còn biết đó biết đây, mở mang tầm mắt. Ôi, Chúa ơi, tôi dám đổi mọi thứ để được nhìn thấy New York lắm, mọi người cứ đi lại nhộn nhịp trên đường lớn mà chẳng phải lo lắng gì. Ôi, không, tôi phải sang đó mất thôi. Những quán rượu bên đó đầy sức hấp dẫn phải không bà? Năm mười bảy tuổi, tôi từng mê mẩn Peter Molloy, nhà vô địch về uống bia. Trước đây tôi dại dột lắm bà ạ. Những ai lớn lên ở Limerick này đều dại dột cả. Cái gì cũng tỏ ra hiểu biết, cái gì cũng lao vào. Tôi dám cược với bà rằng chúng ta đều trở thành mẹ trước khi kịp làm đàn bà. Ở đây thì chẳng có gì ngoài mưa liên miên, còn các bà già thì suốt ngày lẩm nhẩm kinh rôze. Có phải bán răng đi để sang được Mỹ, hay thậm chí sang Anh thôi, tôi cũng làm. Cái nhà vô địch về bia ấy, lúc nào cũng phải xin tiền trợ cấp, mỗi khi anh ta uống vào lại khiến tôi như muốn phát điên, chỉ muốn chạy đến khu điều dưỡng cho yên ổn.

Cô Nora rút điếu thuốc ra khỏi mồm rồi bụm mồm ho một trận rũ rượi đến nỗi người cô cứ nảy lên từng đợt, giữa mỗi cơn ho, cô lại thì thào “Jesus, Jesus”. Khi cơn ho qua đi, cô bảo mẹ rằng mình phải về nhà uống thuốc. Cô dặn mẹ: “Tôi sẽ gặp lại bà tuần tới, vẫn ở hội Bảo trợ thánh Paul. Nếu bà có khó khăn gì, xin bà đừng ngại, cứ nhắn cho tôi, ngoài khu Vize ấy. Bà cứ hỏi vợ của Peter Molloy, nhà vô địch bia là được”.

Eugene ngủ ngon lành, mình đắp chiếc áo choàng của bố. Bố đang ngồi bên lò sưởi với Oliver trong lòng. Tôi không hiểu tại sao bố lại đi kể chuyện Cuchulain cho Oliver nghe. Bố biết rằng chuyện Cuchulain là của tôi cơ mà. Nhưng khi trông thấy Oliver, tôi không còn quan tâm đến chuyện đó nữa. Hai má nó đỏ hồng, nó nhìn chăm chú vào đống tro trong lò sưởi, và tôi có thể thấy nó chẳng quan tâm gì đến chuyện Cuchulain cả. Mẹ đặt tay lên trán nó. “Hình như con đang sốt phải không anh?” - Mẹ hỏi bố, - “ước gì em có nhánh hành, em sẽ luộc với sữa và hạt tiêu. Cách tốt để hạ sốt đấy. Nhưng ngay cả khi có hành chăng nữa, em biết lấy gì để đun sữa đây? Chúng ta cần than để đun nấu”.

Mẹ đưa bố thẻ mua than ở đường Road. Bố dắt tôi theo nhưng ngoài trời đã tối và tất cả các sân than đều đóng cửa.

-Làm sao bây giờ hả bố?

-Bố không biết con trai ạ.

Phía đằng trước, tôi trông thấy có những người phụ nữ và trẻ con đang lúi húi nhặt than vãi dọc đường.

-Bố, kìa bố, than đấy.

-Ồ, không con trai. Chúng ta không nên nhặt nhạnh như thế. Ta đâu phải ăn mày hả con.

Về đến nhà, bố nói với mẹ rằng các sân than đều đóng cửa, chúng tôi chỉ có thể uống sữa và ăn bánh mì tối nay. Nhưng khi tôi kể cho mẹ nghe về những người nhặt than trên đường, mẹ trao ngay Eugene cho bố.

Bà kiếm một chiếc túi rồi dắt tôi và Malachy theo. Bên kia đường Dock có một vệt gì đó rất lớn, tối màu với những tia sáng lóng lánh. Mẹ bảo chúng tôi đó là sông Shannon. Mẹ nói hồi còn ở Mỹ, điều mẹ nhớ nhất ở nhà là sông Shannon. Sông Hudon cũng thật đáng yêu nhưng Shannon còn biết hát nữa. Tôi chẳng nghe thấy tiếng hát nào nhưng mẹ nói rằng mẹ vẫn luôn nghe thấy và điều đó khiến mẹ thấy hạnh phúc. Những người khác đã đi khỏi đường Dock, chúng tôi bắt đầu mót than vãi từ những chiếc xe tải. Mẹ bảo hai đứa tôi gom tất cả những thứ gì có thể cháy được, than, củi, bìa các-tông hay giấy. Mẹ còn nói cứt ngựa cháy rất tốt, nhưng chúng tôi chưa đến mức phải như vậy. Khi chiếc túi đã gần đầy, mẹ bảo chúng tôi đã đến lúc phải đi kiếm ít hành cho Oliver. Malachy nói nó sẽ tìm cho mẹ một cây nhưng bà đã bảo nó: “Không, con trai. Con sẽ không tìm được hành trên đường như than hay củi đâu. Phải vào cửa hàng mới có”.

Ngay khi nó trông thấy một cửa hàng, nó gào toáng lên: “Đằng kia, đằng kia mẹ ơi” rồi chạy biến tới đó.

-Hằn, hằn, - nó hổn hển, - hằn cho Oliver nào.

Mẹ chạy theo vào cửa hàng và nói với người bán hàng đứng sau quầy: “Tôi xin lỗi”. Người phụ nữ thốt lên: “Chúa ơi, sao trông như thiên thần thế này. Thằng bé có phải là người Mỹ không?”.

Mẹ gật đầu và người phụ nữ mỉm cười để lộ hai chiếc răng nằm về hai phía của hàm trên. “Đúng là thiên thần, thử ngắm mái tóc xoăn rực rỡ của nó kìa. Thế cưng thích gì nào? Kẹo nhé?”.

-À, không. Thật ra chúng tôi cần một nhánh hành.

Bà bán hàng cười phá lên: “Hành á? Tôi chưa từng nghe nói một đứa bé muốn mua hành bao giờ. Có phải bên Mỹ chúng thích những thứ đó không?”.

-Thưa không phải, tôi cần một cây hành cho đứa út của tôi, nó đang ốm nằm nhà. Đun hành trong sữa, bà biết đấy.

-Đúng vậy, thưa bà. Nhưng bà đừng đập hành ra rồi thả vào sữa nhé. A, nhìn này, cưng bé bỏng, đây là kẹo cho cháu còn đây cho anh cháu, phải không nào?

Mẹ trả lời thay chúng tôi: “Vâng, thưa bà. Lẽ ra bà không nên làm thế. Cảm ơn bác đi các con”.

Bà bán hàng đưa cho mẹ tôi nhánh hành dặn: “Hành cho cậu nhỏ đang ốm của bà đây”.

Mẹ có vẻ lúng túng: “Ôi, giờ thì tôi không mua nổi hành nữa. Tôi không còn một penny trong người”.

-Chỗ hành ít ỏi này có đáng là bao, tôi biếu bà. Đừng bao giờ để người ta nghe thấy một đứa trẻ ở Limerick bị ốm vì không có hành bà ạ. A, bà đừng quên rắc hạt tiêu vào đấy nhé. Bà đã có hạt tiêu chưa?

-Dạ tôi không có, nhưng có lẽ sớm muộn cũng phải mua một ít.

-Thôi được, bà cầm lấy chỗ này về dùng đi. Hạt tiêu và một chút muối nữa, bà nhớ nhé. Bọn trẻ nhà bà dễ thương quá trời.

-Cầu Chúa phù hộ bà, - mẹ nói lời cảm ơn người phụ nữ tốt bụng, đôi mắt mẹ ngân ngấn nước.

Bố đang đi tới đi lui trong nhà với Oliver trên tay, còn Eugene đang chơi tha thẩn dưới sàn nhà với mấy cái thìa và vài cái ca. Trông thấy mẹ, bố hỏi ngay: “Em có kiếm được hành không?”.

-Có, còn hơn cả thế nữa. Em có cả than đây và cả mấy thứ nhóm lửa nữa.

-Anh biết em sẽ kiếm được mà. Anh đã khấn thánh Jude. Ông là vị thánh anh yêu mến nhất. Cứu tinh của những lúc nguy nan đấy, em biết không?

-Em có than, em có hành, nhưng chẳng có sự giúp đỡ nào của thánh Jude đâu.

Bố tỏ vẻ không bằng lòng: “Lẽ ra em không nên nhặt than rơi trên đường như những kẻ ăn mày vẫn làm. Anh nói có đúng không. Làm gương xấu cho các con”.

-Thế thì anh nên đưa cả thánh Jude của anh xuống đường Dock mà xem.

Malachy giật tay áo mẹ: “Mẹ, con đói rồi”. Và tôi cũng thấy rất đói nhưng mẹ nói: “Các con chịu khó đợi một lúc, để mẹ đun hành với sữa cho Oliver xong đã”.

Mẹ nhóm lửa đun sữa, cắt đôi nhánh hành, thả vào sữa sôi với một ít bơ và rắc lên sữa ít hạt tiêu. Mẹ đặt Oliver lên lòng, tìm cách cho nó uống thuốc nhưng thằng bé cứ quay mặt đi, nhìn chăm chú vào lò sưởi.

-Nào, con ngoan, chịu khó uống đi. Tốt đấy con, con sẽ chóng lớn và khỏe mạnh.

Nhưng thằng bé cứ mím chặt mồi, không để mẹ đút thìa vào mồm. Mẹ phải đặt ca sữa xuống, nựng Oliver cho nó ngủ, đặt thằng nhỏ lên giường và dặn tất cả chúng tôi phải giữ yên lặng nếu không mẹ sẽ cho ăn đòn. Mẹ thái mỏng nửa chỗ hành còn lại rồi rán lên với bơ và vài lát bánh mì. Mẹ đế chúng tôi ngồi dưới sàn nhà chung quanh lò sưởi. Mấy đứa bọn tôi hì hục gặm bánh và nhấp trà nóng pha đường đựng trong bình mứt. Mẹ bảo cái lò sưởi này cũng đủ ấm và sáng nên chúng tôi có thể tắt bớt đèn khí gas cho tới khi kiếm đủ tiền để dùng tới nó.

Quả thật, lò sưởi khiến cả căn phòng ấm sực với những ngọn lửa nhảy nhót trên than, chúng tôi tha hồ tưởng tượng ra các khuôn mặt, núi đồi, thung lũng, và muông thú nhảy nhót. Eugene đã lăn ra ngủ dưới sàn nhà, bố phải bế nó lên giường đặt cạnh Oliver. Mẹ đặt chiếc ca đựng tỏi và sữa lên bệ lò sưởi đề phòng lũ chuột quậy phá. Mẹ bảo mẹ rất mệt sau một ngày lang thang khắp nơi, lúc ở hội Cứu tế, khi ở cửa hàng của bà Mc Grath, rồi lại lọ mọ nhặt than trên đường Dock, nhưng tệ hơn cả là việc Oliver không chịu uống thuốc khiến mẹ rất lo. Nếu ngày mai Oliver không khá hơn, mẹ sẽ phải đưa nó đến bác sĩ, còn giờ thì bà muốn ngủ một giấc.

Không lâu sau, cả nhà chúng tôi đã nằm hết trên giường và nếu như còn sót con bọ chét nào tôi cũng sẽ không mấy bận tâm vì sáu người chúng tôi đang nằm bên nhau ấm áp. Hơn thế nữa, bọn tôi lấy làm khoái chí khi ngắm những ngọn lửa sáng lung linh tí tách trong lò sưởi đang nhảy múa trên tường và trần nhà. Chúng khiến căn phòng chuyển từ màu đỏ sang màu tối và từ tối lại chuyển sang đỏ cho đến khi chúng mờ dần và chuyển sang sắc trắng rồi tối hẳn và tất cả những gì tôi có thể nghe thấy là tiếng khóc hờn của Oliver trong vòng tay của mẹ.

Khi mở mắt ra vào sáng hôm sau, tôi thấy bố đang ngồi nhóm lò pha trà và cắt bánh mì. Bố đã mặc quần áo sẵn sàng, ông cũng giục mẹ nhanh tay lên rồi thay quần áo đê ra ngoài. Bố bảo tôi: “Fancis này, em trai Oliver của con bị ốm và bố mẹ phải đưa em đến bệnh viện. Con ở nhà và hãy gương mẫu, trông hai em cho bố. Chúng ta sẽ về sớm thôi”.

Mẹ dặn tôi: “Khi bố mẹ văng nhà, các con để cho cái hộp đường yên nhé. Chúng ta không phải triệu phú đâu”.

Khi mẹ bế Oliver lên và cuốn cho nó cái áo khoác ra ngoài, Eugene bật dậy trên giường phụng phịu: “Con muốn chơi với Ollie. Ollie, ở lại đây chơi đi”.

-Ollie sẽ chóng về thôi con yêu, - mẹ dỗ nó, - lúc đó con tha hồ chơi với anh, giờ thì chơi ngoan với Frank và Malachy nhé.

-Ollie cơ, Ollie cơ, con muốn Ollie.

Nó dõi theo Oliver cho đến lúc bố mẹ mang thằng bé khuất sau cánh cửa. Khi họ đi rồi, Eugene vẫn ngồi trên giường nhìn ra cửa sổ. Malachy gọi nó: “Genie, Genie này, bọn anh có bánh mì, bọn anh có trà. Có đường cho em ăn bánh mì đây này Genie”. Thế nhưng thằng bé vẫn lắc đầu quầy quậy và đẩy trả miếng bánh Malachy đưa cho nó. Nó bò đến chỗ mẹ vẫn nằm với Oliver, cúi gằm xuống và nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ.

Bà đứng ở cửa ra vào: “Bà thấy người ta bảo bố mẹ chúng mày bế thằng bé chạy xuống phố Henry. Các cháu có biết họ đi đâu không?”

-Oliver bị ốm, - tôi trả lời bà, - nó không chịu uống hành đun với sữa.

-Mày đang nói bậy bạ cái gì thế hả?

-Không uống hành đun với sữa là lăn ra ốm à?

-Ai bảo mày như thế?

-Cháu thấy như thế mà.

-Thế thằng bé trên giường kia thì sao, có chuyện gì với nó? Tên nó là gì?

-Đấy là Eugene. Nó nhớ Oliver đấy. Hai đứa chúng nó là anh em sinh đôi.

-Bà biết chúng nó là sinh đôi rồi. Sao trông nó có vẻ khổ sở thế kia. Ở nhà chúng mày có cháo yến mạch không hả?

-Cháo yến mạch là gì hả bà? - Malachy không bỏ lỡ cơ hội để hỏi.

-Lạy Chúa, lạy Đức mẹ và cả thánh Joseph nữa! Cháo yến mạch là cái gì ư? Yến mạch là yến mạch chứ còn là gì nữa. Đấy yến mạch là như thế đấy. Chúng bay là một lũ ngờ nghệch nhất tao từng biết từ trước tới giờ. Thôi nào, vận quần áo vào, chúng ta sẽ sang bên kia phố, chỗ bác Aggie ấy. Ở đó còn có cả bác Pa Keating nữa, rồi bác sẽ cho chúng bay biết cháo yến mạch là cái gì.

Bà nhặt Eugene lên, quấn nó vào trong khăn choàng của mình và thế là chúng tôi cùng sang bên kia phố, nơi ở của bác Aggie. Bác vẫn sông ở đó với bác Pa bởi lẽ bác đã nói với bác Aggie rằng cuối cùng thì bác cũng không phải là một con bò cái béo ị.

-Còn yến mạch không con? - bà hỏi bác Aggie.

-Yến mạch ạ? Hẳn mẹ lại bảo con phải nấu cho lũ trẻ Mỹ này một nồi chắc?

-Khổ thân mày chưa? - bà phàn nàn, - mày có chết không hả con nếu bớt cho các cháu mày tí cháo?

-Thêm tí đường, tí sữa và rồi nếu tiện thì bác cho các cháu mấy quả trứng nữa nếu không phiền chứ gì? Con không hiểu tại sao cứ phải trả giá cho sai lầm của Angela như thế?

-Lạy Chúa, đấy là những thứ vụn vặt nhất mày có thể làm cho người thân của mày. Mày không nhớ trong Thánh kinh Người đã viết về thế giới và nạn đói thế nào ư?

Thế rồi bà đẩy bác Aggie sang một bên, đặt Eugene lên ghế cạnh lò sưởi và làm cháo yến mạch cho chúng tôi. Một người đàn ông bước ra từ căn phòng bên cạnh. Ông ta có bộ tóc xoăn màu đen nhánh, nước da cũng đen bóng và tôi thích đôi mắt của bác ấy, chúng xanh thẳm và như muốn cười. Đó là chồng của bác Aggie và cũng chính là người đàn óng dừng lại bên đường vào cái đêm mà chúng tôi đánh nhau với lũ bọ chét, chính bác đã nói với chúng tôi về rắn và bọ chét, người đàn ông với những cơn ho khan bắt nguồn từ khí gas trong chiến tranh.

Malachy hỏi luôn: “Sao người bác đen thế?”. Bác Pa Keating cười phá lên, ho rũ rượi rồi thư giãn bằng cách châm một điếu thuốc. “Ôi, cái bọn Mỹ con này”, bác nói, “chẳng biết ngượng là gì. Bác đen là vì bác làm việc ở Nhà máy Khí gas của Limerick, công việc của bác là xúc than đá và than củi cho vào lò nung. Bác bị nhiễm khí độc ở Pháp, khi quay về Limerick làm việc lại làm đúng cái việc này. Lớn lên chút nữa, cháu sẽ hiểu”.

Malachy và tôi phải rời khỏi chiếc bàn để người lớn có thể ngồi uống trà. Mọi người dùng trà nhưng bác Pa Keating - người tôi gọi bằng bác bởi bác lấy bác Aggie của tôi đã - nhấc Eugene đặt lên lòng. Bác nói: “Mọi người thử ngắm cái gã nhỏ này mà xem này. Trông hắn buồn quá ha”. Thế rồi bác làm mặt hề và méo tiếng để chọc cười nhưng chỉ có tôi và Malachy cười còn Eugene cố dướn lên để chạm vào nước da đen nhẻm của bác Pa Keating và khi bác giả bộ cắn vào bàn tay nhỏ xíu của nó, Eugene cười như nấc nẻ khiến mọi người trong căn phòng cũng cười theo. Malachy chạy tới Eugene tìm cách làm cho thằng bé cười hơn nữa nhưng Eugene lại quay đi và giấu mặt đằng sau áo bác Pa Keating.

-Thằng cún này chỉ thích bác thôi, - bác Pa tỏ vẻ khoái trá, cùng lúc đó, bác Aggie bỏ tách trà xuống và bắt đầu khóc nức nở - oa, oa, oa, - những giọt nước mắt lớn tướng cứ nhảy tí tách trên khuôn mặt ửng đỏ của bác.

-Chúa ơi, - bà ngoại tỏ vẻ bực bội, - mày lại bắt đầu rồi đấy, thế lần này mày làm sao?

Bác Aggie bù lu bù loa trong tiếng nấc: “Cứ trông thấy anh Pa chơi với thằng nhỏ trên lòng con lại, hích, nghĩ mình không sinh được, hích, cho anh ấy một đứa”.

Bà cao giọng mắng bác: “Thôi ngay cái lối ăn nói như thế trước mặt bọn trẻ đi cho tôi nhờ. Mày không biết xấu hổ hả con? Khi nào Chúa nghe được ước muốn của mày và Người sẵn sàng, Ngài sẽ gửi cho mày một đứa trẻ”.

Bác Aggie sụt sùi: “Nhưng tại sao Angela có những năm đứa, đấy là chưa kể một đứa mới bị sảy. Trong khi cô ấy chẳng biết làm gì, thậm chí cả lau nhà. Còn con thì chẳng có đứa nào, ngay cả khi con biết cách lau nhà sao cho sạch và hầm thịt sao cho ngon..

Bác Pa Keating cười lớn: “Anh nghĩ có khi nên giữ thằng cha này ở nhà mình em ạ”, bác ôm chặt Eugene hớn hở.

Ngay lập tức Malachy chạy tới gào toáng lên: “Không được, không được, Eugene là em cháu chứ”. Và tôi cũng gào lên: “Không được, không được, nó là em cháu”.

Bác Aggie quệt nước mắt trên má rồi tiếp tục: “Bác chẳng muốn thứ gì của Angela hết, ngay cả mẹ chúng mày có cho tao một nửa Limerich hay một nửa Ailen đi chăng nữa, đấy, cứ mang em bọn mày về đi. Một ngày nào đó bác cũng sẽ có em bé ngay kể cả có phải nguyện cầu hàng ngàn lần trước Đức mẹ Đồng trinh và cả mẹ của bà ta, thánh Ann đi chăng nữa, hay có phải quỳ gối mà lê từ đây cho tới Lourdes, tao cũng sẽ làm”.

Bà ngoại lên tiếng: “Đủ rồi đấy. Các cháu đã ăn xong cháo chưa? Xong rồi thì về nhà đi xem bố mẹ đã đem em ở bệnh viện về chưa?”.

Kéo khăn trùm lên đầu, bà đến bên bác Pa để bế Eugene lên nhưng thằng bé cứ níu chặt lấy áo bác, khiến bà phải mất một lúc mới lôi được thằng bé ra, thằng nhỏ cứ ngoái cổ nhìn theo bác cho đến khi chúng tôi ra tận ngoài cửa.

Mấy anh em lục tục kéo theo sau bà trở về căn phòng thuê. Bà đặt Eugene lên giường rồi lấy nước cho nó uống. Bà nựng thằng bé, dỗ cho nó ngủ ngoan rồi bảo Eugene rằng chẳng mấy chốc nữa Oliver sẽ về, chúng lại có thể chơi đùa với nhau thoải mái dưới sàn nhà.

Nhưng tất cả những gì thằng nhỏ làm là ngồi nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ.

Bà dặn tôi và Malachy ngồi chơi ngoan dưới sàn nhà nhưng phải giữ yên lặng vì bà sắp cầu nguyện. Malachy trèo lên giường ngồi cạnh Eugene còn tôi leo lên ngồi trên chiếc ghế kê cạnh bàn, lầm bầm đánh vần theo những chữ in trên các mảnh báo mà gia đình tôi vẫn dùng như khăn trải bàn. Tất cả những âm thanh có thể nghe thấy trong căn phòng chỉ là tiếng thì thầm của Malachy với Eugene để làm cho thằng bé vui và tiếng lầm bầm đọc kinh của bà cộng với tiếng lách cách của chuỗi hạt mà bà đang lần trên tay. Không khí chung quanh thật yên ắng, tôi gục đầu xuống bàn rồi ngủ thiếp.

Bỗng nhiên bố lắc vai tôi: “Dậy nào Francis, con phải để mắt đến các em giúp bố”.

Tôi thấy mẹ sụp xuống ở góc giường, vai, rung lên, mẹ đang khóc chiêm chiếp như tiếng chim kêu. Ó đằng kia, bà ngoại kéo khăn trùm đầu lên rồi nói với bố: “Tôi phải xuống chỗ Thompson để giải quyết vụ quan tài và xe tang. Chắc chắn hội Bảo trợ thánh Paul sẽ giúp ta khoản đó, vì Chúa”.

Nói xong bà đi khuất sau cánh cửa. Bố đứng chết lặng, nhìn chăm chăm vào bức tường sau lò sưởi, đấm tay vào đùi và kêu lên: “Ôi chao, ôi chao”.

Bố khiến tôi cảm thấy sợ hãi vì cứ kêu lên “ôi chao” như thế còn mẹ cũng khiến tôi sợ khi bà cứ khóc chiêm chiếp như tiếng chim. Tôi thực sự bối rối không biết phải làm gì mặc dù trong lòng rất muốn có ai đó nhóm lửa trong lò lên để chúng tôi được dùng trà và bánh mì bởi mấy anh em tôi ăn cháo yến mạch đã lâu. Giá như bố không đứng trước lò sưởi thế kia, tôi đã có thể tự ra đó nhóm lửa. Tất cả những gì cần để nhóm lửa là một mẩu giấy, một ít than củi hoặc than bùn và cuối cùng là một que diêm. Nhưng bố vẫn đứng yên tại đó khiến tôi cứ quanh quẩn bên ông trong lúc ông đập đập hai tay vào đùi. Nhưng rồi bố cũng nhận ra sự có mặt của tôi, ông hỏi tôi tại sao lại muốn nhóm lửa. Tôi thật thà trả lời ông rằng mấy anh em chúng tôi đều rất đói, ngay lập tức bố cười một cách điên dại khiến tôi sợ run lên. “Đói à?” ông hỏi lại, “ôi Francis, em mày, Oliver vừa chết đấy có biết không? Em trai em gái mày chết cả rồi con ạ”.

Ông nhấc tôi lên và ôm ghì, chặt đến nỗi tôi phải khóc thét lên vì đau. Ngay lập tức Malachy bật khóc, mẹ khóc và bố cũng khóc, chỉ có Eugene là ngồi im lặng. Một lúc sau bố sụt sịt: “Chúng ta còn một buổi lễ Francis ạ”.

Bố bảo mẹ rằng hai bố con đi một lúc rồi về nhưng mẹ chỉ cúi mặt yên lặng với Malachy và Eugene trong lòng. Bố dẫn tôi qua các con phố của Limerick, chúng tôi đã dừng lại không biết bao nhiêu cửa hàng để bố hỏi họ xem liệu họ có thể giúp chúng tôi thức ăn hay bất cứ thứ gì có thể, mong họ giúp cho một gia đình với hai đứa trẻ mới qua đời, một ở Mỹ và một ở Limerick và đang đứng trước nguy cơ mất nốt ba đứa còn lại bởi tình trạng đói khát. Hầu hết các chủ cửa hàng đều lắc đầu: “Chúng tôi rất lấy làm tiếc cho ông nhưng ở đây đã có hội Bảo trợ thánh Vincent de Paul hay những tổ chức cứu trợ công cộng khác”.

Bố nói với họ rằng ông sẽ hết sức biết ơn nếu họ tỏ hành động với tinh thần của Chúa ở nơi này, tại Limerick nhưng bọn họ trả lời rằng họ chẳng cần một kẻ như ông nói giọng miền Bắc phải nói cho họ biết về Chúa, và rằng ông phải biết lấy làm xấu hổ khi cứ lôi theo thằng bé con như những kẻ ăn xin giẻ rách vô lương tâm thực thụ.

Một vài người khác cho bố ít bánh mì, khoai tây, đồ hộp cùng với đậu. Bố bảo tôi: “Chúng ta về thôi, có mấy thứ ở đây các con dùng được”. Trên đường về chúng tôi gặp bác Pa Keating, bác tỏ ra rất thông cảm về chuyện buồn của nhà tôi, bác còn hỏi xem bố có muốn dùng một vại bia ở một bar nào đó quanh đây không.

Trong quán rượu chật ních toàn người, họ ngồi đó, mỗi người đều có một vại lớn đựng thứ nước màu đen đặt trước mặt. Bác Pa Keating và bố cũng vậy. Họ nâng vại lên một cách cẩn thận và chậm rãi. Trên môi mỗi người đều dính một vệt gì đó trăng trắng, và hình như ai cũng như đưa lưỡi lên liêm. Bác Pa mua cho tôi một cốc chanh ép và bố cho tôi một mẩu bánh mì. Sau đó tôi không cảm thấy đói nữa. Nhưng trong đầu tôi vẫn quanh quẩn câu hỏi không hiểu họ sẽ ngồi trong đó bao lâu nữa trong khi Malachy và Eugene đang đói meo ở nhà, món cháo yến mạch chúng tôi đã ăn từ nửa ngày trước, thậm chí Eugene còn chẳng buồn đụng tới.

Bố và bác Pa uống hết những vại nước màu đen của họ rồi lại kêu thêm những vại khác. Bác Pa bảo tôi: “Frankie này, đây là vại bia. Đây mới là sự sống. Đây là thứ tốt nhất cho các bà mẹ mới sinh con và cho trẻ con cai sữa đấy cháu ạ”.

Bác phá lên cười, bố cũng gượng cười theo còn tôi cũng cười bởi tôi nghĩ rằng đấy là điều nên làm mỗi khi bác Pa nói xong một câu gì đó. Nhưng bác không còn cười nữa khi bác nói với những người chung quanh về cái chết của Oliver. Mọi người đều hướng về phía bố, nghiêng vành mũ và nói: “Rất lấy làm tiếc vì chuyện của ông, mời ông thêm một vại”.

Bố không thể nói “không” với bia bao giờ và thế là chẳng lâu sau ông bắt đầu hát Roddy McCorley và Kenvin Barry, rồi cứ thế bài này tiếp bài khác. Ông hát cả những bài tôi chưa từng nghe, hát rồi khóc, khóc cho cô con gái nhỏ bé xinh xắn Margaret đã mất bên Mỹ và cho cậu con trai Oliver, vừa mất trong bệnh viên Gia đình Thành phố. Cái cách bố la hét khóc lóc khiến tôi sợ, ngồi đó nhưng lòng tôi chỉ mong sao được ở nhà với ba đứa em, không, giờ chỉ còn hai đứa và mẹ thôi.

Người đàn ông đứng sau quầy bar nói với bố: “Thưa ông, tôi nghĩ ông đã dùng đủ rồi. Chúng tôi rất lấy làm tiếc vì chuyện buồn của ông nhưng có lẽ ông nên dẫn đứa trẻ này về với mẹ nó, người đang tan nát cõi lòng bên lò sưởi đợi ông”.

Bố vẫn lè nhè: “Một vại nữa, một vại nữa thôi?” nhưng người đàn ông đó từ chối. Bố bắt đầu lắc lắc nắm đấm rồi gào lên: “Tao đã chiến đấu cho Ailen!” và khi ông ta bước ra để giữ chặt bố, bố vẫn tìm cách đẩy ông ta ra.

Bác Pa lên tiếng: “Thôi nào Malachy, không lằng nhằng nữa. Đến lúc chú phải về với Angela rồi đấy. Ngày mai còn có đám tang của thằng bé, anh không nhớ những thiên thần nhỏ đang đợi chú ở nhà sao?”.

Nhưng bố cứ vùng vẫy cô níu kéo cho đến khi mấy người phải lôi bố ra khỏi quán, đẩy ông vào bóng đêm của đường phố. Bác Pa lảo đảo ra sau với túi đồ ăn trên tay. “Đi nào”, bác bảo bố con tôi, “về nhà thôi”.

Bố vẫn muốn vào một quán rượu khác đế uống thêm nhưng bác Pa bảo rằng bác không còn tiền. Bò nói bác hãy kể cho mọi người nghe nỗi khổ của bố và mọi người sẽ cho bố uống không mất tiền. Bác bảo bố rằng làm vậy thật nhục nhã và hết sức hổ thẹn. Gục đầu lên vai bác, bố kêu lên thảm thiết: “Ôi, anh là bạn tốt của tôi”. Ông cứ khóc như thế cho đến khi bác phải vỗ về bố: “Vâng, khủng khiếp quá, khủng khiếp quá, nhưng rồi chú sẽ vượt qua”.

Bố đứng thẳng lên và nhìn vào mặt bác: “Không bao giờ”, ông nói dõng dạc, “không bao giờ”.

Hôm sau, chúng tôi đến bệnh viện trên một chiếc xe ngựa kéo. Họ đặt Oliver vào một cái hòm màu trắng, xếp lên xe chở đến nghĩa trang. Họ để chiếc hòm trắng ấy xuống một cái hố đào sẵn dưới đất rồi lại lấp đất phủ lên nó. Mẹ tôi và bác Aggie khóc lóc sụt sùi, bà ngoại trông có vẻ giận dữ, bố, bác Pa Keating và bác Pat Sheehan nom rất buồn nhưng không khóc. Điều khó khiến tôi nghĩ rằng một khi đã là đàn ông, anh chỉ có thể khóc khi uống bia đen đựng trong vại.

Tôi không ưa những con quạ xám đậu trên cây và trên bia mộ, tôi không muốn để Oliver lại một mình với chúng. Ném một viên đất về phía con quạ đang đi lạch bạch hướng về mộ của Oliver, tôi mong sao nó bay đi chỗ khác. Bố quay sang khuyên tôi không nên ném đá vào quạ bởi có thể chúng đang mang trong mình linh hồn của một ai đó. Tôi chẳng hiểu linh hồn là gì nhưng tôi cũng không muốn hỏi ông vì đó không phải là điều mà tôi quan tâm. Oliver đã chết còn tôi thì ghét lũ quạ. Ngày nào đó tôi sẽ trở thành một người đàn ông, và tôi sẽ quay trở lại chốn này với một cái bị đá, và tôi sẽ chỉ ra đi khi trên mặt đất la liệt xác quạ chết.

Vào buổi sáng sau đám tang của Oliver, bố đến đăng ký tại trung tâm Trao đổi Lao động để nhận tiền trợ cấp hàng tuần, tất cả là mười chín silling và sáu pen. Bố dặn rằng sẽ về nhà vào buổi trưa và ông sẽ mang than về nhóm lửa, chúng tôi sẽ có giăm bông với trứng và trà để tưởng nhớ Oliver, và rằng thậm chí có thể có cả một vài cái kẹo cho mấy anh em.

Nhưng đến trưa ông không về, một giờ, hai giờ chiều, ông vẫn chưa về. Chúng tôi lại lôi mấy củ khoai tây xin được ở mấy cửa hàng hôm trước ra luộc. Vào cái ngày tháng Năm ấy, bố tôi chỉ chịu mò về khi mặt trời đã lặn. Hoàn toàn không có dấu hiệu gì về sự xuất hiện của ông cho tới khi các quán rượu đều đóng cửa và chúng tôi nghe thấy tiếng hát của ông dọc theo con phố Windmill.

Bố lảo đảo bước vào phòng, dựa người vào tường lầm bầm. Ông đưa tay quệt ngang một giọt nước mũi đang rớt ra ngoài. Dường như bố đang gắng nói điều gì: “Mấy đứa kia phải ở trên giường cả đi chứ! Nghe bố nói không. Trẻ con đi ngủ...”.

Mẹ nhìn thẳng vào bố quát: “Các con đói lả ra kia kìa, tiền trợ cấp đâu? Lẽ ra phải có cá hoặc trứng để mấy đứa trẻ còn có cái bỏ vào bụng trước khi lên giường chứ?”

Mẹ cố gắng luồn tay vào túi bố nhưng bố lại tìm cách đẩy mẹ ra. “Phải tôn trọng chứ”, bố lè nhè, “tôn trọng trước mặt bọn trẻ chứ lị”.

Nhưng mẹ cứ lăn xả vào để tìm tiền trong túi áo bố: “Tiền đâu? Bọn trẻ đói vàng cả mắt ra đấy. Anh điên rồi, đồ tồi, anh lại uống hết tiền rồi chứ gì? Vẫn như dạo ở Brooklyn ư?”.

Bố bắt đầu khóc lóc lu loa: “Oi, tội nghiệp Angela, tội nghiệp Margaret và cả Oliver đáng thương nữa”.

Ông lảo đảo bước về phía tôi rồi ôm ghì lây tôi, lại vẫn cái mùi tôi thường ngửi thấy ở ông khi còn ở bên Mỹ. Mặt tôi ướt đầm nước mắt, nước mũi và cả nước dãi của ông. Tôi chỉ thấy đói và đói, không biết mình phải làm gì khi ông cứ ôm ghì lấy đầu tôi mà khóc lóc và chùi mũi dãi với nước mắt vào đó như thế.

Sau đó ông thả tôi ra và chuyển sang Malachy, vẫn tiếp tục than vãn khóc lóc về sự lạnh lẽo và cô đơn dưới lòng đất của em trai và em gái chúng tôi, và làm sao để chúng tôi có thể cùng cầu nguyện và để mọi chuyện trở nên tốt đẹp hơn, làm sao chúng tôi có thể trở thành những con chiên ngoan đạo và làm theo những gì Đức mẹ dạy bảo. Bố nói rằng gia đình chúng tôi có nhiều chuyện không hay nhưng đã đến lúc tôi và Malachy phải được đến trường, và không có gì sánh được với học thức, nó sẽ giúp cho ta đứng vững được đến tận cuối đời, và chúng tôi cũng phải sẵn sàng để chiến đấu cho đất nước Ailen.

Mẹ cho biết bà không thể tiếp tục sống thêm một phút nào nữa trong căn phòng ở phố Windmill. Mẹ không thể ngủ với ký ức về Oliver với căn phòng đó, Oliver ở trên giường, Oliver chơi dưới sàn nhà, Oliver ngồi đó trên lòng bố cạnh lò sưởi. Mẹ còn bảo căn phòng đó cũng không tốt cho Eugene, thằng bé sẽ rất khó khăn để làm quen với việc nó đã thực sự mất đi người anh sinh đôi của nó, thậm chí còn đau khổ hơn cả mẹ. Có một căn phòng cho thuê trên phố Hartstonge với hai cái giường thay vì một cái mà sáu chúng tôi từng ngủ, không, chỉ còn năm. Chúng tôi sẽ chuyển sang căn phòng đó. Và để cho chắc, mẹ tôi đến trung tâm Trao đổi Lao động vào ngày thứ Năm, đứng xếp hàng đợi đến lượt lấy tiền trợ cấp vào thời điểm mà họ trao tiền vào tay bố. Bố nói mẹ không thể làm như vậy, ông sẽ mất mặt với những người khác ở đó. Trung tâm Trao đổi Lao động là nơi dành cho đàn ông chứ không phải là phụ nữ đến nẫng tiền trước mũi họ. Mẹ nhất định không nghe: “Thật tiếc cho anh. Nếu như anh không nướng hết cả tiền vào những quán rượu đó thì tôi cũng không phải nhằng nhẵng theo anh, như tôi từng làm ở Brooklyn”.

Bố nói với mẹ rằng nếu bà làm như vậy thì bố sẽ bị xấu mặt mãi mãi. Mẹ bảo mẹ chẳng cần quan tâm đến chuyện đó. Mẹ muốn thuê được một phòng trên phố Hartstonge, đó là một căn phòng ấm cúng, tiện nghi, một căn phòng không có bọ chét bò lổm ngổm cùng với sự ẩm ướt chết người. Mẹ muốn căn phòng đó bởi nó cùng nằm trên một con phò với trường tiểu học Quốc gia Leamy, như vậy thì Malachy và tôi có thể về nhà vào đúng giờ ăn tối, có thể tranh thủ dùng trà và bánh mì rán vào buổi trưa.

Vào thứ Năm, mẹ đi theo bố đến trung tâm Trao đổi Lao động. Mẹ đứng ngay sau bố và khi người ta phát tiền cho bố, mẹ là người đưa tay nhận. Những người khác trông thấy huých tay nhau cười và điều đó làm cho bố bẽ mặt bởi theo lẽ thường, phụ nữ không được phép can thiệp vào các khoản trợ cấp của đàn ông. Có lẽ bố muốn dùng sáu pen để vào quán rượu hoặc uống một vại bia trong bar và nếu như tất cả phụ nữ trên đời đều hành động như mẹ thì có lẽ các quán rượu đều phải đóng cửa cả và cũng sẽ chẳng còn tốn tại kỷ lục Guiness. Nhưng giờ đây mẹ đang có tiền trong tay và chúng tôi sẽ chuyển sang phố Hartstonge. Mẹ bế Eugene lên tay, chúng tôi cùng hướng tới trường tiểu học Quốc gia Leamy. Ngài hiệu trưởng Scallan cho mẹ hay chúng tôi có thể bắt đầu đến trường từ ngày thứ Hai tới với một quyển sách, một cây bút chì được vót thật nhọn. Chúng tôi sẽ không được tới trường nếu mắc bệnh hen, đầu có chấy rận hoặc mũi cứ sụt sịt suốt ngày. Đặc biệt không được để nước mũi chảy rớt xuống nền lớp vì nó có thể truyền bệnh lao phổi cho người khác, chúng tôi bắt buộc phải dùng khăn tay hay một miếng giẻ sạch để lau chứ nhất thiết không được dùng ống tay áo như thường lệ. Ông Hiệu trưởng hỏi xem liệu chúng tôi có phải là những cậu bé ngoan không và khi cả hai cùng cất giọng lên trả lời, ông ta lại thốt lên: “Lạy Chúa, cái gì thế này? Chúng nó là người Mỹ à?”.

Mẹ vội vã trả lời, tiện thể kể luôn cho ông ta nghe chuyên về Margaret và Oliver. Nghe xong câu chuyện, ngài Hiệu trưởng không thôi thốt lên: “Chúa chứng giám, Chúa chứng giám, quả là nỗi đau sâu sắc nhất trên đời mà bà phải trải qua. Dẫu sao, tôi cũng hứa với bà chúng tôi sẽ nhận các con bà vào học, Malachy sẽ vào học dự bị còn anh nó sẽ được học ngay lớp một, tuy nhiên, chúng sẽ vẫn ngồi cùng một lớp với cùng một giáo viên. Sáng thứ Hai nhé, đúng chín giờ sáng, mong bà đúng giờ cho”.

Bọn trẻ con ở trường Leamy muốn biết tại sao chúng tôi lại nói giọng như thế: “Chúng mày có phải người Mỹ không hả?” và khi tỏi cho chúng biết chúng tôi đến từ Mỹ, bọn chúng lại muốn hỏi xem tôi chúng tôi là găngtơ hay cao bồi.

Một thằng to lớn dí mặt nó vào sát mặt tôi vặn vẹo: “Tao đang hỏi mày đấy. Chúng mày là găngtơ hay cao bồi hả?”.

Tôi bảo nó rằng tôi không biết và khi nó dùng tay đẩy vào ngực tôi thì Malachy bật lên: “Tao là găngtơ còn Frank là cao bồi”. Thằng to lớn tỏ vẻ hả hê: “Em mày có vẻ biết điều đấy, còn mày đúng là đồ tây thối”.

Những thằng xung quanh nó nhảy lên đầy phấn khích. “Đánh đi”, chúng gào lên và thằng đó đẩy tôi một cái thật mạnh khiến tôi ngã dúi dụi. Tôi chỉ muốn khóc nhưng sâu thẳm trong tôi bỗng trỗi lên một phản ứng mãnh liệt, cái cách mà tôi từng làm với Freddie Leibowitz. Vậy là tôi lao như một mũi tên vào người nó, đấm đá túi bụi. Tôi đè ngửa được thằng đó ra và tìm cách túm lấy tóc nó để nện những cú thật mạnh vào đầu nó nhưng thình lình tôi cảm thấy đau nhói phía sau chân và bị giật khỏi thằng du côn đó.

Người làm điều đó là thầy Benson, ông ta xách tai tôi lên và đánh vào hai đầu gối tôi. “Cái thằng lưu manh này”, ông Benson nhiếc móc, “đây có phải là cách mày vẫn cư xử với bạn bè bên Mỹ không hả? Vì Chúa, mày phải tỏ ra biết điều trước khi ta dạy cho mày biết xử sự như thế nào cho phải”.

Ông ta bảo tôi phải đưa tay ra, thế rồi bằng một cây thước ông ta nện cho tôi mỗi tay một cái. “Đi về nhà ngay”, óng chủ nhiệm bảo tôi, “và nói cho mẹ mày biết mày đã hư đốn như thế nào. Cái thằng Mỹ này hư quá. Nói theo tao, tôi là một thằng hư hỏng”.

-Tôi là một thằng hư hỏng.

-Giờ nói tiếp, tôi là một thằng Mỹ hư hỏng.

-Tôi là một thằng Mỹ hư hỏng.

Malachy lên tiếng bênh anh nó: “Anh ấy không phải là một thằng tồi. Tại anh to béo kia kìa. Anh ấy bảo chúng con là cao bồi và găngtơ”.

-Có đúng cậu đã nói như vậy không hả Heffeman?

-Thưa thầy, con chỉ định đùa.

-Không có đùa với nhả ở đây nghe chưa Heffeman. Việc chúng là người Mỹ không phải lỗi của chúng.

-Vâng, không phải thưa thầy.

-Còn cậu, Heffeman, cậu nên quì xuống mỗi đêm để cảm ơn Chúa rằng cậu không phải là một thằng Mỹ, trong trường hợp ngược lại Heffeman ạ, có lẽ cậu sẽ là thằng găngtơ khát máu nhất trên cả hai bờ Đại Tây Dương đấy. Cậu có hứa sẽ không làm phiền hai đứa trẻ người Mỹ này chứ, Heffenan?

-Vâng, con xin hứa.

-Nếu cậu thất hứa, tôi sẽ lột da cậu treo lên trên tường hiểu chưa? Giờ thì tất cả về nhà ngay.

Có cả thảy bảy thầy giáo chủ nhiệm ở trường tiểu học Quốc gia Leamy và họ đều được trang bị dây da, gậy trơn và gậy mận gai. Họ sẽ đánh anh bằng gậy vào vai, vào chân và đặc biệt là vào tay. Nếu họ đánh anh vào tay, mọi người sẽ coi đó như một sự xỉ nhục. Họ đánh anh nếu anh đi học muộn, nếu đầu bút của anh vót không được nhọn, nếu anh cười, nếu anh nói và nhất là khi anh chẳng biết gì.

Họ đánh anh nếu anh không biết tại sao Chúa tạo ra thế giới, nếu anh không biết vị thánh đỡ đầu cho Limerick, nếu anh không thuộc Kinh Thánh, nếu anh quên không đọc đầy đủ năm một chín bốn mươi bảy, nếu như anh không nhớ được hết những thị trấn chính và các sản phẩm đặc trưng của ba mươi hai hạt của Ailen, nếu như anh không tìm được Bulgaria trên bản đồ thế giới dán trên tường với chi chít vết mực, vết nước mũi quệt ngang quệt dọc và vỏ vàn những lỗ thủng to tướng, sản phẩm của bọn học trò.

Họ đánh anh nếu anh không nói được tên mình theo tiếng Ailen, nếu anh không nói được câu “Kính chào Đức mẹ” bằng ngôn ngữ chuẩn của Ailen và ngay cả khi anh quên không nói một câu lịch sự khi dùng phòng vệ sinh kiểu Ailen.

Sẽ là hữu ích nếu anh biết chú ý lắng nghe lời khuyên của những học sinh lớp trên. Họ có thể cho anh biết nhiều điều về giáo viên đang phụ trách anh, về những gì ông ta thích và không thích.

Ngay cả khi họ có phạt anh sáu roi vào lòng bàn tay bằng gậy tần bì hay cây mận gai vào mu bàn tay thì anh cũng không được quyền khóc. Nếu hành động như vậy, anh sẽ bị đánh giá là một kẻ hèn nhát và yếu đuối. Những học sinh khác sẽ cười nhạo và chế diễu anh trên phố, nhưng ngay cả bọn họ cũng phải dè chừng, biết đâu đến một ngày đẹp trời nào đó, đến lượt họ được các thầy phạt roi vào tay. Tới lúc đó, chính họ cũng phải tìm cách nuốt nước mắt vào trong, nếu không muốn bị những người khác ruồng bỏ mãi mãi. Một số cậu bé lại cho rằng nên khóc vì điều đó sẽ làm hài lòng các thầy. Các thầy sẽ càng tức giận hơn nếu anh không chịu khóc, bởi điều đó khiến các thầy cảm thấy có vẻ bất lực trước đông người. Nếu sự việc diễn biến theo chiều hướng đó, các thầy sẽ quyết tâm nếu có lần tới, anh sẽ phải chảy hoặc nước mắt, hoặc máu hoặc cả hai.

Những học sinh lớn lớp năm bảo chúng tôi rằng thầy O’Dea rất thích đem học sinh ra đứng giữa lớp, thầy đứng đằng sau và giật tóc mai của chúng, đòn này được gọi là cossicks, kéo hai mai ngược lên trên. “Lên nào, lên nào”, ông ta thường nói như vậy trong lúc hành hạ học sinh, cho đến khi người đó phải đứng nhón trên hai đầu ngón chân và đầm đìa nước mắt. Anh không muốn các học sinh khác trong lớp nhìn thấy mình khóc nhưng ngón đòn này sẽ khiến nước mắt cứ tự nhiên mà chảy ra, cho dù anh có muốn hay không. Điều này khiến thầy khoái vô cùng. Thầy O’Dea là một trong sổ những thầy giáo luôn luôn mang lại nước mắt và sự tủi hổ cho đám học trò.

Nhưng có lẽ tốt nhất vẫn không nên khóc bởi anh còn phải hòa nhập với đám học sinh ở trường, mà khóc là một sự hạ mình. Đối với lũ học trò, dường như làm hài lòng các thầy giáo là một điều xa xỉ.

Nếu các thầy đánh anh, sẽ chẳng ích chi nếu về thưa lại với cha mẹ. Họ sẽ bảo ngay: “Oan ức cái nỗi gì. Đáng lắm, đừng có tỏ ra trẻ con như thế”.

Tôi biết Oliver đã chết và Malachy cũng biết Oliver đã chết nhưng Eugene còn quá nhỏ để biết được chuyện gì xảy ra xung quanh nó. Mỗi sớm tỉnh dậy, nó đều nhắc Ollie, Ollie và chập chững đi quanh nhà nhòm ngó, chui xuống gầm bàn, trèo lên trên giường cạnh cửa sổ và chỉ vào lũ trẻ đang nô đùa ngoài phố, đặc biệt là những đứa có mái tóc vàng óng như nó và Oliver. “Ollie, Ollie”, nó kêu thảm thiết. Mỗi lúc như vậy, mẹ lại ôm chặt Eugene vào lòng, nức nở. Nhưng thằng bé cứ chuồi ra, tụt khỏi lòng mẹ bởi nó không muốn bị ôm ghì như thế. Nó cần Oliver.

Bố mẹ tôi phải dỗ nó rằng Oliver đang ở trên thiên đường, chơi với các thiên thần và cả nhà chúng tôi cũng sẽ gặp lại Oliver vào một ngày nào đó nhưng thằng bé không hiểu bởi nó mới hai tuổi và chưa biết nói, đó chính là điều tệ hại nhất trên cái thế giới này.

Tôi và Malachy cũng dành nhiều thời gian để chơi với nó. Chúng tôi tìm cách khiến thằng bé cười. Chúng tôi làm mặt hề, đội nồi lên đầu rồi giả bộ đánh rơi, chạy quanh phòng rồi giả bộ ngã. Hai anh em tôi dẫn nó đến công viên People để ngắm những vườn hoa rực rỡ, chơi với lũ chó hay lăn tròn trên mặt cỏ.

0 đó, thằng bé có thể trông thấy những chú nhỏ có bộ tóc vàng giống Oliver. Nhưng nó không nói Ollie nữa. Nó chỉ nhìn và chỉ tay về phía đó.

Bố bảo Eugene thật may mắn đã có hai anh trai như tôi và Malachy bởi chúng tôi đã giúp được thằng bé nhanh chóng quên đi hình ảnh của Oliver, nhờ Chúa phù hộ, Eugene sẽ chẳng còn nhớ gì về Oliver nữa.

Nó đã ra đi vĩnh viễn.

Sáu tháng sau cái chết của Oliver, vào một buổi sáng giữa tháng Mười một, khi tỉnh dậy gia đình tôi thấy Eugene nằm đó, lạnh ngắt giữa cả nhà. Bác sĩ Troy đến khám nghiệm và kết luận rằng thằng bé chết vì viêm phổi. Ông thắc mắc lẽ ra thằng bé phải được điều trị trong bệnh viện từ lâu mới phải. Bố bảo bố không biết, mẹ bảo mẹ không biết và ông Troy bảo đó chính là lý do mà thằng bé phải chết. Mọi người đều không biết. Bác sĩ bảo nếu tôi hoặc Malachy có những dấu hiệu dù là nhỏ nhất của triệu chứng ho hoặc khó chịu trong họng, chúng tôi cần phải được đưa đến ông ngay lập tức, bất kể ngày hay đêm. Chúng tôi cần phải được giữ ấm liên tục bởi ông nghi có dấu hiệu cho thấy gia đình tôi gặp vấn đề về phổi. Ông tỏ ra rất lấy làm tiếc vì nỗi mất mát của gia đình, ông hứa với mẹ sẽ kê cho mẹ một toa thuốc dưỡng sức khỏe trong vài ngày tới. Trước khi ra về, bác sĩ Troy buồn bã thốt lên: “Chúa ơi, người đã đòi hỏi chúng con quá nhiều, quá nhiều”.

Một lúc sau, bà và bác Aggie cũng kéo đến. Bà tắm cho Eugene còn bác Aggie chạy ra ngoài mua một bộ áo dài vải trắng cùng với một chuỗi hạt. Họ mặc bộ đồ trắng mới mua cho Eugene và đặt nó nằm trên giường cạnh cửa sổ, nơi thằng bé vẫn đứng ngóng Oliver. Bà đặt tay Eugene lên ngực, tay nọ đặt lên tay kia rồi xếp chuỗi hạt trắng quanh nó. Xong việc, bà nhẹ nhàng chải tóc cho thằng bé, rẽ ngói bèn trán và thốt lên: “Chẳng phải cháu bà có mái tóc mềm óng như tơ sao?” Mẹ đến bên giường, kéo một mảnh chăn phủ lên chân Eugene giữ cho nó được ấm. Bà và bác Aggie nhìn nhau lặng không một lời. Trong lúc đó, bố đứng ở góc giường đấm tay thình thịch vào đùi than vãn: “Ôi, ôi, chính cái dòng sông Shannon kia đã hại con, nó khiến cho nhà ta trở nên ẩm ướt và lạnh lẽo, và chính đó đã cướp đi cả con lẫn Oliver”. Bà quát lên: “Con có thôi đi không? Mày đang làm cả nhà thêm lo lắng đấy”. Bà đưa tôi đơn thuốc bà bác sĩ Troy kê cho mẹ, rồi bảo tôi chạy sang cửa hàng thuốc O’ Connor mua. Chúng tôi sẽ không phải trả tiền thuốc vì sự hảo tâm của bác sĩ Troy. Bố bảo ông sẽ đi cùng tôi và chúng tôi sẽ đến nhà thờ, cầu nguyện cho linh hổn của Margaret, Oliver và Eugene được hạnh phúc trên thiên đường. Sau khi nhận đầy đủ thuốc tại cửa hiệu, chúng tôi dừng lại ở nhà thờ và cầu nguyện. Khi về đến nhà, bà đưa cho bố một ít tiền bảo ông đến bar rượu mua về nhà mấy chai bia đen. Mẹ vội vàng chối đây đẩy: “Không, không, bà đừng làm thế”. Nhưng bà giải thích rằng: “Nó đã không có thuốc để xoa dịu nổi đau như mày rồi. Xin Chúa giúp chúng con, một vài chai bia đen có khi cũng khiến nó thấy dễ chịu hơn phần nào đấy”. Bà bảo tôi đi cùng bố và không được để ông ngồi lì cả đêm ngoài quán bar và tiêu hết tiền vào rượu. Có vẻ không muốn tôi đi cùng, bố nói với bà: “Nhưng Frankie không được vào quán rượu”, bà lườm bố và nói: “Biết thế thì đừng có mà ở lì trong đó”. Vớ lấy chiếc mũ, bố dắt tôi tới quán South rồi dặn tôi đứng chờ ngoài cửa, hoặc cũng có thể về được rồi, ông sẽ về nhà sau khi uống xong một vại: “Về với mẹ đáng thương của con đi”. Tôi nói: “Không” và bố nói: “Đừng có cãi lại bố như thế”. Tôi tỏ ra kiên quyết: “Con sẽ không về nhà một mình đâu, con phải đi với bố”. Bố có vẻ bất lực: “Cái kiểu gì thế này?” và thế là sau khi chờ ông uống nhanh một vại bia đen, chúng tôi mua về thêm vài chai nữa. về đến nhà, tôi thấy bác Pa Keating đang ngồi trong phòng, bác xách đến một chai whisky nhỏ cùng với mấy chai bia đen, ngay cả bác Pat Sheehan cũng mang theo hai chai bia. Bác Pat ngồi trên sàn nhà, quàng tay ôm mấy chai bia của mình miệng không thòi liến thoắng: “Của tôi đấy, của tôi đây này”, chắc bác sợ mọi người lấy mất của bác. Hình như những người bị ngã đập đầu đều sợ ai đó lấy mất bia của mình. Bà phải vỗ về bác: “Ừ, phải rồi Pat, bia của con đấy, con cứ uống đi. Không ai động đến con đâu”. Bà và bác Aggie cùng ngồi bên Eugene. Bác Pa Keating ngồi ở bàn ăn uống bia và mời mọi người nhấm nháp whisky của bác. Trong khi đó mẹ ngồi bên lò sưởi tranh thủ uống thuốc với Malachy nằm gọn trong lòng. Mẹ cứ luôn miệng xuýt xoa sao tóc của Malachy lại giống tóc Eugene đến thế nhưng bác Aggie lại nói “Không đúng”, tỏ ý không đồng tình với mẹ cho tới khi bà ngoại phải huých khuỷu tay vào bác gắt thầm: “Có im đi không?”. Dường như không để ý tới mọi người, bố cứ thế dựa lưng vào tường nốc bia. Chỗ bố đứng là khoảng trống giữa lò sưởi và chiếc giường mà Eugene đang nằm. Pa Keating kể một câu chuyện và sau đó người lớn đều phải bật cười cho dù mọi người có vẻ không muốn cười hay đúng hơn họ không được phép cười khi xác trẻ con còn nằm ở đó. Bác kể hồi bác còn phục vụ trong quân đội Anh ở nước Pháp, quân Đức dẫn khí gas tới làm bác bị mắc bệnh rồi ốm tới mức phải vào bệnh viện nằm. Họ giữ bác trong bệnh viện một thời gian rồi gửi trả bác về mặt trận. Hồi đó lính Anh được phép về nhà nhưng lính Ailen thì chẳng ai thèm đoái hoài họ còn sống hay chết. Thay vì phải hy sinh vì mặt trận, bác Pa đã gặp vận may. Bác kể rằng hồi trong thời gian chiến đấu, bác phải làm việc trong đường hào. Hệ thống công sự ấy luôn ẩm ướt và sình lầy, tới mức lính tráng không có cách nào có thể đun nước sôi pha trà được. Bác đã tự nhủ, Chúa ơi, mình có không biết bao nhiêu gas trong người, không tận dụng được thì phí quá. Thế là chú cắm một cái ống vào mông, châm diêm vào đó, đến lần thứ hai bác đã có lửa để đun bao nhiêu nước tùy thích. Lính Anh từ khắp các công sự đổ về hào của bác khi họ nghe được tin này. Họ đưa cho bác rất nhiều tiền, đổi lại bác cho họ nước sôi. Qua vụ này, bác được một khoản rất lớn, đủ để đút lót cho các tướng cho bác giải ngũ, về nghỉ ở Paris, nơi bác dành phần lớn tiền và thời gian uống rượu với các nghệ sĩ và người mẫu. Rốt cuộc, bác cũng lại mò về Limerick và công việc duy nhất mà bác xin được là làm công nhàn trong nhà máy gas, xúc than đổ vào lò. Bác bảo giờ thì trong người bác không còn nhiều gas nữa, nhưng cũng đủ để thắp sáng cho một thị trấn nhỏ trong vòng một năm. Bác Aggie sụt sịt rồi nói không phải là lúc thích hợp để kể những câu chuyện như vậy trước một đứa trẻ đã mất vẫn nằm kia, nhưng bà lại bảo thế còn tốt hơn là ngồi im như thóc rồi lại dài mặt ra mà nhìn nhau. Bác Pat Sheehan vẫn ngồi dưới sàn nhà với chai bia trên tay, bác bảo sẽ hát một bài. Bác Pa nói như thế sẽ hay hơn và thế là bác Pat hát bài Đường đến Rasheen. Rồi bác cứ hát đi hát lại một câu “Rasheen”, nghĩa là cục cưng, và bài hát dần trở nên vô nghĩa bởi ngày xưa ông ngoại từng đánh rơi bác, đập đầu xuống sàn nhà, cho nên mỗi lần hát bài này, bác lại tự nghĩ ra một lời khác hẳn. Chuyện hát hò dường như không khiến bố thấy hứng thú nên bố bước về phía chiếc giường nơi bố mẹ vẫn ngủ. Ông ngồi xuống mép giường, đặt chai bia xuống sàn nhà rồi vục mặt vào hai bàn tay và khóc. Bố vừa tức tưởi khóc vừa gọi tôi: “Frank, Frank, lại đây với bố”. Tôi tiến đến sát bố để ông có thể ôm tôi chặt như mẹ đã ôm Malachy. Sau một hồi im lặng, bà lên tiếng: “Về thôi, về còn giữ sức để mai còn tổ chức đám tang cho thằng bé”. Từng người một quỳ xuống bên giường, đọc lời cầu nguyện và hôn lên trán Eugene. Bố bỏ tôi xuống, đứng dậy và gật đầu chào từng người trước khi họ ra về. Khi mọi người đã đi khỏi, bố vớ lấy tất cả các chai bia đổ vào mồm cho tới khi kiệt không còn một giọt. Dường như chưa đã, bố thọc cả ngón tay vào chai whisky rồi liếm cho bằng sạch. Sau khi giải quyết xong đống bia rượu, ông vặn nhỏ cây đèn dầu rồi bảo tôi và Malachy đi ngủ. Đêm đó, cả nhà chúng tôi ngủ cùng một giường, chiếc giường còn lại dành riêng cho Eugene. Bóng tối lại phủ đen căn phòng, ngoại trừ ánh sáng bàng bạc của những cây đèn đường hắt qua khe cửa, dăng trên những lọn tóc vàng sóng mượt của Eugene.

Sáng dậy, việc đầu tiên bố làm là nhóm lò, pha trà và rán bánh mì. Bố mang trà và bánh cho mẹ nhưng bà khỏa tay ra hiệu không muốn ăn rồi lại quay mặt vào tường. Bố dắt tôi và Malachy quỳ xuống bên Eugene cầu nguyện. Bố bảo rằng một lời cầu nguyện của những đứa trẻ như tôi sẽ có giá trị gấp trăm ngàn lần những kẻ mang danh linh mục trong nhà thờ. Ông chỉ cho chúng tôi cách làm phép: “Nhân danh Cha, Con và Thánh thần. Amen”. “Lạy Chúa”, ông nói, “Người có chắc đây là cái Người cần không? Sao Người lại mang Eugene của con đi? Người đã lấy đi Oliver, anh trai của nó, Margaret, em gái nó. Có phải con không được phép hỏi Người như vậy chăng? Lạy Chúa đáng kính trên kia, con không hiểu lũ trẻ có tội tình gì mà phải chết nhưng đấy là ý nguyện của Người. Người đã cho dòng sông Shannon cướp đi mạng sống của thằng bé. Liệu cuối cùng Người có rủ lòng thương chúng con? Liệu Người có để lại cho chúng con những đứa trẻ này không? Đó là tất cả những gì con muốn thưa Người. Amen”.

Bố giúp tôi và Malachy rửa mặt mũi chân tay thật kỹ để chúng tôi sạch sẽ khi dự lễ tang của Eugene. Hai anh em chúng tôi phải cố nén không dám bật kêu nếu thấy đau mỗi khi bố chà xát tai hai đứa bằng cái khăn tắm cả nhà mang ở Mỹ về. Chúng tôi phải giữ yên lặng bởi Eugene còn nằm đó với đôi mắt nhắm nghiền, hai anh em tôi không muốn thằng bé bị đánh thức rồi lò dò dậy bám vào cửa sổ đứng ngóng Oliver.

Một lúc sau bà cũng tới, vào giường khuyên nhủ mẹ một hồi để mẹ dậy chuẩn bị. “Có những đứa trẻ không may mất đi”, bà nói, “nhưng cũng có những đứa vẫn đang sống và chúng cần một người mẹ”. Bà mang cho mẹ tách trà nóng để mẹ uống thuốc. Bố quay sang bảo bà: “Hôm nay là thứ Năm, con phải đến Trung tâm Lao động để nhận tiền trợ cấp. Có tiền con sẽ xuống phố mua đồ tang, quan tài và xe ngựa của nhà tang lễ”. Bà bảo bố hãy dẫn tôi theo nhưng bố nói tốt hơn hãy để tôi ở nhà với Malachy, để hai anh em tôi có thể cầu nguyện cho đứa em nhỏ xấu sô của chúng tôi đang nằm trên giường. Bà luôn tỏ ra hiểu bố mặc dù thời gian hai người biết nhau chưa lâu: “Mày lại định lừa cả mẹ nữa hả con? Cầu nguyện cho một đứa trẻ mới hai tuổi đầu và đang chơi đùa thanh thản với anh em nó trên thiên đường? Mày phải dẫn thằng bé theo, nó sẽ nhắc cho mày biết hôm nay không phải là ngày của rượu”. Bà nhìn thằng vào bố, bố cũng nhìn bà đầy khó chịu rồi giật lấy chiếc mũ đội lên đầu bước ra cửa.

Ở Trung tâm Lao động, chúng tôi xếp hàng mãi phía dưới, cho tới lúc một người đàn ông đứng sau quầy bước tới nói với bố rằng ông rất lấy làm tiếc vì chuyện buồn của gia đình tôi và bố con tôi được ưu tiên nhận tiền trước mọi người trong ngày hôm nay. Mọi người đều chỉnh vành mũ và nói lời chia buồn với bố, một vài người còn xoa đầu và cho tôi kẹo, thậm chí cả tiền, cả thảy là hai mươi bốn penny và hai shilling. Bố bảo chúng tôi đã giàu to và tôi có thể mua cho mình một cái kẹo mút trong khi đợi bố vào đây vài phút. Tôi biết cái “vào đây” của bố là một quán rượu và tôi còn biết ông muốn một cốc màu đen gọi là một vại bia đen. Nhưng tôi đã không phản đối bởi tôi cũng muốn sang cửa hàng bên cạnh để mua một cây kẹo bơ đường. Tôi nhai cây kẹo cho tới khi nó tan ra rồi cứ để cho mồm miệng ướt nhèm với vị kẹo ngọt đến dai dẳng. Bố vẫn đang ngồi trong quán với mối quan tâm của mình. Tôi thì đứng đó với mối quan tâm của tôi, cứ phân vân liệu có nên mua thêm một cây kẹo nữa hay không. Trong khi tôi rút tiền ra đưa cho cô bán hàng thì bàn tay của tôi bị vỗ đánh bốp một cái thõng xuống đất. Bác Aggie đang nhìn tôi với ánh mắt giận dữ. “Mày cư xử như thế hả cháu”, bác mắng tôi, “đấy là những gì mày muốn làm vào ngày đưa tang em mày hay sao? Đi ăn vụng kẹo như thế à? Thế bố mày đâu?”.

-Bố cháu, bố cháu ngồi trong quán..., - tôi mếu máo.

-Dĩ nhiên là lão ấy lại lê mông ở quán rượu rồi. Mày thì cứ đứng lằng nhằng ở đây, kẹo với chả bánh. Bố mày thì ngồi trong đó mê mê tỉnh tỉnh, rượu với chả bia. Cháu thử nghĩ xem làm như thế có hay không trong khi đứa em bé bỏng của cháu sắp xuống mồ hả? - Nói rồi bác quay sang người bán hàng: - Giống hệt cái thằng bố nó, cái kiểu kì cục ở đâu, vẫn cái bệnh về mồm của dân miền bắc.

Bác bảo tôi vào trong quán nói bố đừng uống nữa rồi đi mua quan tài và thuê xe ngay kẻo muộn. Bác sẽ không bước chân vào quán rượu bởi bác cảm thấy ghê tởm những chốn như vậy.

Bố ngồi phía sau quán với một người đàn ông có bộ mặt đỏ phừng phừng với đám lông tua tủa mọc ra từ mũi. Họ chẳng nói chẳng rằng, chỉ nhìn tròng trọc lên trần. Bỗng tôi thấy nổi bật màu trắng, thì ra họ đặt những cốc bia đen lên trên một chiếc quan tài màu trắng, đặt phía trên một cái ghế kê bên cạnh. Tôi biết đó là quan tài của Eugene bởi Oliver cũng từng có một chiếc như vậy. Tôi muốn khóc khi thấy những cốc bia đặt trên quan tài của em tôi. Giờ tôi mới thấy vô cùng ân hận vì đã ăn cái kẹo đó, ước gì có thể lôi nó ra khỏi mồm và trả lại cho cô bán hàng bởi thật không phải khi cứ thế ăn uống mà chẳng nghĩ gì đến Eugene đã chết nằm trên giường. Hơn nữa, tôi cảm thấy sợ khi trông thấy hai vại bia đen đặt trên chiếc quan tài trắng của em tôi. Bỗng cả bố và người đàn ông đều nói: “Không, ông không nên đặt quan tài của cháu vào cái xe ngựa kéo ấy. Tôi đã từng thử một lần, với một vại bia thế là chúng đánh cắp ngay được cái quan tài khỏi cái xe chết tiệt ấy. Ông có tin không? Trống rỗng. Kinh khủng, cái thời chúng ta đang sống đây quả thật kinh khủng quá”. Bố và ông ta lại nâng cốc nốc một hơi dài, khi họ đặt vại xuống, chiếc quan tài vang lên những tiếng kêu khủng khiếp. Bố quay về phía tôi gật đầu và bảo: “Bố xong bây giờ đây, chờ bố một phút con trai”. Ngay sau đó, ông lại đưa cốc lên uống một ngụm tướng và định đặt nó lên trên nắp quan tài, lần này thì tôi đẩy tay ông ra:

-Đây là quan tài của Eugene. Con sẽ mách mẹ bố đã đặt cốc lên quan tài của Eugene.

-Thôi nào con trai, thôi nào.

-Bố, đây là quan tài của Eugene.

Người đàn ông kia lại chen vào: “Chúng ta làm thêm vại nữa chứ ông?”.

Bố quay sang bảo tôi: “Con ra ngoài đợi bố một phút thôi Francis”.

-Không.

-Đừng có bướng như thế.

-Không.

Gã kia tỏ vẻ không bằng lòng: “Chúa ơi, cái thói con cái ở đâu ra thế. Phải con tôi, tôi đã cho một cái đá bay từ đây đến hạt Kerry ấy chứ. Ranh con dám ăn nói với bố đẻ ra nó như thế à? Lại còn trong cái ngày bi thảm như hôm nay nữa chứ. Nếu một người đàn ông không được vài ba vại bia trong một đám tang thì còn gọi gì là cuộc sống nữa, hả?”.

Bố thở dài: “Được rồi con trai, ta đi thôi”.

Họ uống hết vại bia còn dở rồi dùng ống tay áo quệt cho sạch vệt bia hình đáy vại in trên nắp quan tài. Gã đàn ông leo lên băng ghế điều khiển của chiếc xe ngựa kéo còn tôi và bố ngồi phía sau. Bố đặt chiếc quan tài lên lòng, ôm chặt vào ngực, về đến nhà, tôi thấy căn phòng mọi ngày đã đông kín người, toàn người lớn. Nhìn quanh tôi nhận ra có mẹ, bà, bác Aggie, chồng của bác, bác Pa Keating, bác Pat Sheehan, bác Tom Sheehan, là anh cả của mẹ. Đây là lần đầu tiên tôi trông thấy bác vì từ trước tới giờ, bác không đến nhà tôi do có mối ác cảm với người Bắc Ailen.

Bác Tom dẫn bác gái theo, bác Jane. Bác Jane là người ở Galway, mọi người bảo bác nom rất giống người Tây Ban Nha, đó cũng là lý do chẳng ai trong nhà buồn nói chuyện với bác.

Bố đưa quan tài cho người đánh xe, và khi gã ôm nó vào phòng, lập tức mẹ cất tiếng khóc than rền rĩ: “Ôi, Chúa ơi, khổng, không đâu”. Loay hoay tìm chỗ đặt chiếc quan tài xuống, gã bảo với bà tôi rằng một lúc nữa gã sẽ quay lại sau khi đưa mọi người đi ra mộ về. Bà dường như chẳng chút nể nang với hạng người đó, lạnh lùng bảo gã rằng nếu gã không quay lại đây thì tốt hơn, vì bà không muốn có một kẻ say trong nhà, nhất là khi cháu trai bà sắp được mai táng theo đúng nghi thức, bà cần mọi người phải tỏ ra trân trọng chứ không thể chịu nổi một gã đánh xe say rượu, lúc nào cũng trong tư thế sắp ngã khỏi ghế đánh xe như thế kia.

Gã đành lý luận: “Thưa bà, trong đời tôi đã đưa hàng tá trẻ con ra nghĩa trang mà chưa một lần rơi khỏi ghế đánh xe, cho dù ghế cao hay ghế thấp”.

Đàn ông trong nhà lại tiếp tục uống bia trong chai còn phụ nữ lại tiếp tục nhấm nháp rượu vang đựng trong lọ mứt. Bác Pat Sheehan luôn mồm nói với mọi người: “Bia này của tôi, bia này cũng của tôi”, bà lại phải dỗ, “Ừ, đúng rồi đấy Pat. Không ai uống bia của con đâu”. Và thế là bác lại tiếp tục ngân nga bài hát Con đường tới Rasheen mãi cho tới khi bác Pa Keating phải lên tiếng: “Thôi nào Pat, anh không nên hát bài ấy trong đám tang của cháu. Tối qua thì khác, anh đã hát thoải mái rồi”. Nhưng bác Pat chẳng buồn để ý: “Bia này của tôi đấy, ừ, mà tôi cứ thích hát bài Con đường tới Rasheen đấy”. Và thế là bác cứ ông ổng hát bài hát ngớ ngẩn ấy, cho tới khi bà ngoại nhấc nắp quan tài đặt sang bên cạnh, việc đó khiến mẹ lại nấc lên nghẹn ngào: “Ôi Chúa ôi, bao giờ mới hết cái cảnh này. Liệu có còn đứa nào ở lại với tôi trên đời nữa hay không?”.

Mẹ ngồi rũ trên một chiếc ghế kê ở đầu giường, vừa thở than vừa vuốt ve mái tóc, khuôn mặt và bàn tay của Eugene. Mẹ không thôi âu yếm thằng bé và luôn miệng nói rằng nó là đứa bé xinh xắn, đáng yêu nhất từng sống trên cõi đời này. Mẹ còn nói thật khủng khiếp khi mất đi Eugene, nhưng giờ đây, thằng bé lại đang tung tăng trên thiên đường với anh trai và em gái của nó, điều đó cũng an ủi mẹ được phần nào, và biết được Oliver không còn phải chơi một mình nữa vì anh em sinh đôi của nó cũng đã lên đấy rồi. Cứ như vậy, mẹ than thở cho tới khi không chịu nổi, gục đầu xuống Eugene khóc nức nở và thế là tất cả phụ nữ trong phòng đều gào khóc rất thảm thiết. Mẹ khóc rũ rượi một hồi lâu, mãi đến khi bác Pa Keating lựa lời nói rằng chúng tôi phải ra nghĩa trang để chôn cất thằng bé trước khi trời tối, và rằng không nên quanh quẩn ở nghĩa địa khi không còn ánh mặt trời.

Bà thì thầm nhỏ vào tai bác Aggie: “Ai nhập quan cho thằng bé bây giờ?”. Bác Aggie trả lòi như một lời từ chối: “Con không làm đâu, việc đó phải để mẹ nó làm mới đúng”.

Bác Pat nghe thấy họ thì thầm với nhau, ngẫm nghĩ một lúc dường như đã hiểu được mọi người muốn gì, bác lên tiếng: “Tôi sẽ đặt cháu tôi vào quan tài”. Tập tễnh đi về phía giường, bác nhẹ nhàng ôm lấy vai mẹ. Mẹ ngạc nhiên ngước bộ mặt đầm đìa nước mắt lên nhìn bác. Bác khẽ bảo mẹ: “Để anh đặt nó vào quan tài, Angela”.

-Ôi, Pat ôi, Pat, - mẹ vẫn nức nở.

-Anh làm được mà, - bác nói, - nó chỉ là một đứa trẻ con mà em, trong đời anh chưa từng được bế một đứa trẻ nào. Anh sẽ chẳng bao giờ có một đứa để bế trên tay. Anh không đánh rơi nó đâu mà, không đâu. Thề có Chúa linh thiêng, anh sẽ rất cẩn thận.

-Em biết anh sẽ không như thê mà Pat, em biết mà.

-Anh sẽ nhấc nó lên nhẹ nhàng, anh sẽ không hát bài Con đường tới Rasheen nữa đâu.

-Vâng, em biết anh sẽ như thế, - mẹ xúc động thổn thức.

Bác Pat kéo chiếc chăn hôm qua mẹ đắp cho Eugene xuống. Hai bàn chân Eugene trắng và sáng, đôi chỗ nổi lên những mạch máu nhỏ xanh xao. Bác khom người xuống em tôi, nhấc Eugene lên ẵm gọn vào ngực và hôn lên trán thằng bé. Thế rồi tất cả mọi người trong phòng đều hôn lên trán Eugene. Xong xuôi, bác nhẹ nhàng đặt Eugene vào trong quan tài rồi lùi lại. Chúng tôi đi chầm chậm một vòng quanh quan tài để ngắm em tôi lần cuối.

Bác Pat buồn bã nói: “Đấy, em thấy anh có cẩn thận vói cháu không nào?”, mẹ cảm động ôm lấy bác.

Bác Aggie chạy sang quán rượu bên cạnh gọi người đánh xe về. Gã đậy nắp quan tài rồi đóng đinh xung quanh. Loay hoay một hồi, gã quay ra hỏi: “Thế có những ai cùng đi ra nghĩa trang?” và thoắt một cái nhấc chiếc quan tài nhỏ bé ra xe. Trên xe chỉ có đủ chỗ cho bố, mẹ, Malachy và tôi. Bà bảo chúng tôi cứ ra nghĩa trang, cả nhà sẽ đợi ở đây.

Tôi thắc mắc không biết tại sao chúng tôi không thể giữ Eugene lại nhà. Không hiểu tại sao lại phải mang em đi và người đàn ông đó lại dán chặt nắm quan tài bằng đinh như thế. Tôi cũng không hiểu tại sao lại mang cả Oliver và Margaret đi nữa. Thật tồi tệ và đáng buồn khi cứ hết em này đến em khác của tôi bị bỏ vào hộp gỗ, ước gì tôi có thể nói ra với một ai đó.

Tiếng vó ngựa lộp cộp, đều đều buồn bã dọc theo những con phố ở Limerick. Malachy hỏi bố: “Chúng mình có đi gặp Oliver không bố?” “Không”, bố trả lời nó, “Oliver đang ở trên thiên đường. A mà đừng có hỏi bố thiên đường là gì nữa nhé, bố cũng không biết đâu”.

Mẹ lên tiếng dỗ dành: “Thiên đường là nơi Oliver cùng với Eugene và Margaret vui vẻ hạnh phúc nô đùa với nhau con ạ. Tới một ngày nào đó cả nhà ta sẽ cùng gặp các em trên đó”.

Malachy lại thắc mắc: “Mẹ này, hình như con ngựa vừa đi vừa ị ra đường đấy, con ngửi thấy có mùi”. Bố mẹ không nhịn được cười phải bụm miệng lại.

Ngoài nghĩa trang, người đánh xe leo xuống, đi vòng ra phía sau mở cửa cho chúng tôi. “Đưa cho tôi cái quan tài”, ông ta bảo bố, “tôi mang ra ngoài mộ cho”. Gã nát rượu này giật lấy chiếc quan tài từ tay bố rồi trượt chân suýt ngã quay ra đất. Mẹ hét lên: “Ông không nên mang thằng bé trong tình trạng như thế”. Quay sang bố, mẹ giục: “Anh mang cho ông ta đi, nhanh lên”.

- Các người muốn làm gì thì làm, - gã đánh xe càu nhàu, - đấy, thích thì cứ việc. - Nói rồi gã leo tuốt lên ghế đánh xe.

Bóng tối dạng buông dần trên nghĩa trang, chiếc quan tài trắng dường như chưa bao giờ trắng như vậy trên tay bố. Mẹ dắt hai anh em chúng tôi đi theo bố qua các hàng bia mộ. Lũ quạ xám đậu bất động trên cành cây bởi đã sắp kết thúc một ngày của chúng, có lẽ chúng cũng cần phải nghỉ ngơi để mai còn dậy sớm đi kiếm mồi cho con.

ở ngoài huyệt, có một người đàn ông rắc ít rơm khô và cỏ lên quan tài của em tôi. Khi ông ta leo lên trên mặt đất, đã có một người khác đang lấy xẻng xúc đất. Mẹ bắt đầu khóc thành tiếng: “Ôi, lạy Chúa, Chúa ơi”, lũ quạ được thể hùa theo “quạ quạ”. Tôi ước chi có một hòn đá để ném cho bọn chúng đáng đời. Mất một lúc, mấy người đàn ông xúc đến xẻng đất cuối cùng đắp lên mộ, chống cán xẻng xuống đất, quệt mồ hôi trên trán chờ đợi. Đợi một lúc không thấy gì, một người trong số họ miễn cưỡng lên tiếng: “Um, à, thường thì nên có một chút để uống nước”.

Bố giật mình chợt tỉnh vội nói: “À, vâng, vâng” rồi đưa họ tiến. Sau khi nói vài câu lịch sự, mấy người kéo đi luôn.

Chúng tôi lục tục kéo ra ngoài nghĩa trang, nơi lẽ ra chiếc xe tang phải đứng đợi, nhưng khi đến nơi, nó đã chẳng còn ở đó nữa. Bố chạy ra ngoài thèm mấy bước chân, nhìn ngược nhìn xuôi rồi lắc đầu. Mẹ than thở: “Gã đánh xe đúng là cái loại già nghiện ngập bẩn thỉu. Mong Chúa tha tội cho con”.

Đoạn đường từ nghĩa trang về nhà thật xa. Mẹ bảo bố: “Lũ trẻ cần được ăn uống tử tế, em biết anh còn tiền trợ cấp lấy được sáng nay. Nếu anh còn nghĩ đến chuyện mò đến quán rượu đêm nay thì nên quên ngay đi. Chúng ta sẽ dẫn bọn trẻ đến Naughton, cho chúng ăn cá và thịt gà, uống nước chanh nữa. Cũng phải có chút gì đó cho chúng trong cái ngày cả nhà đưa tiễn thằng bé như ngày hôm nay”.

Cá và thịt gà thật là ngon, nhất là vị chua và mặn của nước chanh cứ đọng mãi trong cổ họng anh em tôi, thật dễ chịu.

Về đến nhà thì mọi người đã về hết. Trên mặt bàn la liệt vỏ chai, lửa trong lò sưởi đã tắt. Bố lúi húi một lúc thắp đèn dầu, và khi ánh sáng rọi đến chiếc giường, tôi tròng rõ vết lõm trên chiếc gối mà Eugene vẫn gối đầu lèn. Dường như chẳng có gì thay đổi, tôi vẫn hình dung ra bất cứ lúc nào cũng có thể nghe thấy tiếng nó líu lo, trông thấy thằng bé chập chững đi quanh nhà, trèo lên giường dòm qua cửa sổ ngóng Oliver.

Bố bảo mẹ ông muốn ra ngoài đi bộ một lúc. Ngay lập tức mẹ nói: “Không”. Mẹ biết thừa bố định làm gì, bố không thể đợi một phút nào khi trong túi còn vài shilling mà không nướng cả vào rượu. “Được rồi”, bố đấu dịu. Ông ngổi nhóm lò còn mẹ sang phòng bếp pha trà. Chẳng bao lâu sau chúng tôi đã lên giường.

Malachy và tôi lại leo lên chiếc giường Eugene đã chết trên đó. Tôi hy vọng em tôi không bị lạnh trong chiếc quan tài trắng ấy dưới lòng đất mặc dù tôi biết nó chẳng còn ở đó nữa bởi các thiên thần đã tới nghĩa trang, mở nắp quan tài và thằng bé đã ở rất xa cái dòng sông Shannon, dòng sông mà hơi lạnh của nó đã giết chết em tôi. Giờ đây nó đã ở trên trời, không, chính xác là ở trên thiên đường cùng với Oliver và Margaret, nơi các em tôi có rất nhiều cá và thịt gà, kẹo mút và nhất là không bị kiến quấy rầy, nơi mà tất cả các ông bố đều đem tiền về nhà sau khi rời khỏi Trung tâm Lao động và bọn trẻ không phải chạy quanh các quán rượu để tìm bố nữa.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của frank mccourt