Gần đây tôi say sưa với thú làm búp bê bằng len. Một lần đi qua cửa hàng lưu niệm, tôi bắt gặp một chú gấu được làm bằng len trông vô cùng đáng yêu. Ngay lập tức, tôi đến tiệm thủ công mỹ nghệ ngắm nghía. Ở đây bán đủ nguyên cả bộ đồ nghề, từ len, kim đan đến phụ kiện đi kèm, tất cả đều là đồ đang thịnh hành. Tôi mua một bộ để về nhà làm, chỉ trong một buổi tối, tôi đã đan xong được một chú ếch. Ngày hôm sau, tôi mua thêm mấy mẫu con thú và cũng làm xong tất cả chỉ trong một tối. Sau đó, tôi đi mua len, vải nhung và những chiếc cúc áo dùng để làm mắt, sau khi làm xong vài mẫu, tôi nắm được một số bí kíp và quyết định tự thiết kế mẫu riêng của mình xem sao. Tuy nhiên, bẩm sinh tôi đã không được trời phú cho khả năng sáng tạo, chú hà mã tôi vừa đan xong chẳng đáng yêu chút nào. Tôi bèn đến hiệu sách mua cuốn Tuyển tập thú cưng, trong đó mô phỏng rất nhiều loại thú cưng. Tôi quên ăn quên ngủ để đan đủ bộ tuyển tập thú cưng, nào là Purin, Togebi, Psyduck, Bulbasaur, Charmander, Squirtle, Eevee...
Đột nhiên, tôi nảy ra ý tưởng thử làm một chú gấu đưa thư. Tôi mở chiếc máy tính đã vứt xó lâu ngày và phát hiện có tới 12 email chưa đọc trong hộp thư đến.
Có một quãng thời gian, tôi phát cuồng với những chú thú cưng trong ứng dụng email, khi gửi email cũng đều dùng thú cưng để gửi. Vì vậy, phần nhiều trong số 12 email kia đều do những người bạn quen trên mạng nhưng không biết mặt, cũng chẳng rõ tên thật là gì gửi tới. Từ trước đến giờ vẫn vậy, để thú cưng của mình nhận và gửi thư là đặc điểm thú vị nhất của trò này, còn đâu toàn là nội dung tào lao, vì thế, tôi không mong ngóng và cũng chẳng thấy hẫng hụt khi nhận được những email có nội dung như thế. Thế nhưng, trong số thú cưng hôm nay bỗng xuất hiện một chú gấu trúc có tên “Momotaro nhà Asuka”, gửi thư cho tôi với nội dung:
“Thứ bảy tới, tớ sẽ đến Shinjuku mua quà cho lễ Vu Lan, có muốn đi ăn trưa cùng nhau không?”
Căn cứ vào thời gian gửi thư, “thứ bảy tới” có nghĩa là ngày mai. Tôi định gọi một cuộc điện thoại, nhưng nghĩ biết đâu người bạn đó đang bận nên đành hồi đáp qua thư: “Thời gian, địa điểm cụ thể tùy cậu sắp xếp nhé.” Chưa đầy hai tiếng sau, Asuka liền gọi tới:
“Đã lâu không gặp, cậu vẫn khỏe chứ? Không thấy trả lời email, mình nghĩ có thể cậu đang bận nên không dám gọi điện thoại.”
Hình như cô ấy vẫn chưa quen với việc tôi là người nhàn rỗi.
“Bận gì chứ, tớ chẳng có việc gì làm cả.”
Tuy thái độ của tôi hết sức cởi mở, nhưng dường như Asuka không biết nên trả lời thế nào, đầu dây bên kia im lặng hồi lâu. Cảm thấy như đã làm sai điều gì, tôi bèn mở lời:
“Thực ra tuần trước tớ bận một việc đến nỗi chẳng có thời gian ngủ nghỉ, vì vậy mới quên kiểm tra email. Nhưng nó cũng không phải là công việc đâu.”
“Cậu bận gì thế?”
“Tớ làm búp bê. Tớ có những tác phẩm nghệ thuật kỳ công lắm, rất muốn cho cậu xem.”
Lại là một khoảnh lặng, lẽ nào tôi lại khiến cô ấy không biết nói gì sao. Tôi vờ như không biết và tiếp tục nói: “Ngày mai mấy giờ nhỉ? Tớ theo ý cậu nhé.”
“Không ngờ cũng có lúc câu nói như vậy được phát ra từ chính miệng của Izumi (nick của tôi), thật không biết nên vui hay buồn.”
Sau khi thống nhất thời gian địa điểm, tôi cúp máy. Không cảm thấy đau lòng nhưng cũng chẳng vui vẻ gì, chỉ có một cảm giác hoàn toàn trống rỗng bủa vây lấy tôi.
Thất nghiệp đã gần hai năm nay, khi nghe ai đó nói “34 tuổi, vô công rồi nghề”, ban đầu khiến tôi có cảm giác mình như một tội đồ, vô cùng sợ hãi. Dần dà, nó đã thành thói quen mà đến chính bản thân tôi còn phải ngả mũ thán phục khả năng thích ứng của mình. Hai năm trước, chồng tôi đơn phương tuyên bố ly hôn, tôi đang làm việc cho công ty anh ấy nên cũng tự nhiên mất việc. Một loạt những chuyện phi lý diễn ra dồn dập khiến tôi phải gồng mình chống chọi, cảm giác như muốn phát điên, hơn nữa mọi việc diễn ra quá chớp nhoáng, ngay cả bản thân tôi cũng cảm thấy kinh ngạc khi thẫn thờ lĩnh tiền trợ cấp thất nghiệp, cam kết sẽ tách khẩu và rời khỏi căn nhà đó.
Những ngày sau đó, tôi sống một cuộc sống không buông xuôi, cũng chẳng u uất. Tôi cũng không biết mình có còn hăng hái làm việc nữa hay không? Nằm vật trên giường ngước ra ngoài cửa sổ, dãy nhà trước mắt đứng sừng sững giữa mưa mù. Tháng bảy rồi mà vẫn mưa dầm dề.
Khoảng nửa năm trước, tôi say sưa với việc may đồ cho gấu Teddy và gấu trúc, cuối cùng lại tặng hết cho đám nhóc nhà Asuka. Tính tôi vốn sáng nắng chiều mưa, từ khi nghỉ ở nhà, tôi ngày càng trở nên thất thường. Thế nhưng, được làm theo ý mình thật thoải mái, tôi thấy có lẽ mình đang vô cùng hạnh phúc.
Ngày hôm sau, tôi và Asuka cùng dùng cơm trưa tại một nhà hàng tọa lạc ngay ở tòa cao ốc có thể nhìn thấy từ nhà tôi. Tôi vừa nói vừa đưa đống đồ chơi bỏ trong thùng cho Asuka để tặng cho bọn trẻ. Cô ấy không vui mừng như lúc được tặng gấu Teddy.
“Oaaa, Pikachu à!” Asuka cố ra vẻ hứng khởi.
“Có đẹp không?”
“Đẹp quá, đẹp quá! Xem ra, Izumi có thể làm giáo viên dạy môn thủ công được đấy. Tớ có thể nhận thật chứ?”
“Chẳng qua tớ làm cho vui thôi, giết thời gian ấy mà.”
Asuka cảm ơn và nhận món quà, nhưng hình như vẫn lăn tăn điều gì đó. Dù gì cũng chẳng phải món quà dành cho riêng ai, tôi từng nghĩ nếu cô ấy không thích nó, đến ngày nào đó tôi cũng sẽ quẳng hết vào thùng rác, vì thế nếu Asuka lặng lẽ vứt đi thì cũng chẳng sao.
Asuka là người bạn thân duy nhất của tôi từ hồi tiểu học đến tận bây giờ. Cô giờ đã là mẹ của hai đứa trẻ. Ba năm trước, sau khi đứa nhỏ nhất vào lớp một, cô ấy chuyển từ công việc bán thời gian sang công việc toàn thời gian. Ngày nào cũng đầu tắt mặt tối với việc công ty, việc nhà và nuôi dạy con cái, còn thi thoảng tranh thủ thời gian tới thăm tôi. Trước kia tôi hiếm khi rảnh rỗi, cô ấy luôn phải phụ thuộc vào lịch trình của tôi, nhưng giờ đây mọi thứ đã đảo lộn.
“Izumi, cậu lại gầy đi rồi.”
Asuka coi tôi là người bệnh. Có thể dễ dàng nhận thấy sự quan tâm mà cô ấy dành cho mình khiến tôi hơi ngại ngùng.
“Thật sao? Tớ không cân nên cũng chẳng biết nữa.”
“Sắc mặt cậu cũng không tốt.”
“Vì tớ không trang điểm ấy mà.”
Asuka chỉ diện áo khoác xuân hè mỏng nhưng trang điểm rất kỹ, tóc búi gọn gàng, sợi dây chuyền trân châu sáng lấp lánh hững hờ sau cổ áo. Trong khi tôi chỉ mặc chiếc áo phông bạc phếch và chiếc quần bò rộng thùng thình. Gần đây tôi đã không còn mặc mấy kiểu quần áo chỉ giặt bằng tay nữa. Người tất bật với cuộc sống thường nhật lẽ ra phải là Asuka chứ không phải tôi, chẳng thiết trang điểm để che đi quầng thâm trên mắt, trông tôi mới thê thảm làm sao.
“Cậu vẫn lãnh bảo hiểm thất nghiệp đấy chứ?”
Mỗi lần gặp mặt, Asuka đều từ từ tiếp cận vấn đề chính như thế.
“Không, tớ lĩnh hết từ lâu rồi.”
“Vậy, cậu nghĩ mình có nên làm chút việc gì đó cho đỡ cuồng tay cuồng chân không?”
Tôi cười gượng, biết rõ Asuka đang đắn đo cân nhắc trong từng câu nói.
“Một thời gian nữa rồi tính. Cảm ơn cậu đã lo lắng cho tớ, tạm thời tớ vẫn có thể xoay sở được.”
“Là vấn đề tiền bạc, nhưng lại không phải.”
Asuka nói lí nhí với vẻ sốt ruột, rồi nhấp một ngụm nước. Tôi biết nên trả lời thế nào để cô ấy yên tâm, nhưng lại cố ý nói ngược lại:
“Đan búp bê mãi cũng chán. Sắp tới mùa hè rồi, có nên may kimono không nhỉ?”
“Hay là khắc cục tẩy đi?”
Bị người khác nói như thể mình đã hết thuốc chữa khiến tôi cúi gằm mặt bối rối. Bầu không khí trở nên căng thẳng, chúng tôi đang chăm chú ăn món cá thì hình như Asuka nhớ ra điều gì đó.
“Cậu thử lập một trang web xem sao? Cậu có nhiều tác phẩm như vậy cơ mà?”
“Tác phẩm gì chứ, toàn đồ bắt chước.”
Cô ấy thở dài ngao ngán. Không biết có phải cô ấy nghĩ rằng tôi là đồ cứng đầu không thể cải tạo. Lần này Asuka nở nụ cười, dịu dàng nói: “Không thể làm lại từ đầu một cách đơn giản như vậy, phải không? Tớ không nói nữa, xin lỗi nhé.”
Trước đây, tôi luôn đóng vai một người chị, lắng nghe Asuka than vãn về chuyện công việc, gia đình, nhưng chẳng biết bắt đầu từ lúc nào, tôi lại trở thành một đứa em khờ dại, vụng về cần người khác cưng nựng dỗ dành. Nếu ngày trước, tôi không suốt ngày ăn vận chỉn chu, hết lần này tới lần khác khất hẹn với Asuka vì bận việc, thì cô ấy sẽ không khuyên tôi làm lại từ đầu. Mấy cuộc gặp gần đây, Asuka đều so sánh tôi của bây giờ với tôi của ngày xưa, rồi thở dài chán nản.
Dù tôi khăng khăng từ chối, nhưng Asuka vẫn một mực đòi mời bữa trưa hôm ấy. Từ khi thất nghiệp, mỗi lần ăn cơm bên ngoài chắc chắn đối phương sẽ là người thanh toán. Ban đầu tôi còn xấu hổ, nhưng dần dà cảm thấy phiền phức nên quyết định không nhún nhường nữa.
Asuka cũng chẳng dư dả gì, cô ấy đi làm vì nếu chỉ dựa vào đồng lương của chồng thì không đủ trang trải tiền thuê nhà và ăn học cho hai đứa con. Thế nhưng tuy đang bận đi giao quà lễ Vu Lan cho người khác, cô vẫn mời một đứa bạn thất nghiệp như tôi đi ăn tại nhà hàng Pháp. Đứa bạn của cô ấy rõ ràng thất nghiệp vì không muốn đi làm, và thực ra vẫn còn hai triệu yên tiền tiết kiệm. Nếu nói thẳng ra, Asuka sẽ cảm thấy sao nhỉ, cô ấy là người tốt bụng, có lẽ sẽ nói: “Giữ lấy phòng lúc tuổi già, đừng tiêu pha phung phí.”
Chúng tôi chào tạm biệt với một lời nhắn nhủ giữ liên lạc qua email. Không còn hứng may vá thêu thùa, mà cũng không biết giết thời gian bằng cách nào, tôi quyết định đến quán cà phê truyện tranh.
Trên tầng hai tòa nhà thuộc khu phố ăn chơi sầm uất, có một quán cà phê truyện tranh đã trở thành chốn yêu thích nhất của tôi. Tòa nhà văn phòng kết hợp căn hộ chung cư nằm giữa trung tâm thành phố này được thiết kế theo xu thế thịnh hành, gần đây trên mỗi tuyến phố đều dễ dàng bắt gặp những quán cà phê truyện tranh. Có thời gian tôi lê la không sót một quán nào và phát hiện ra quán này có rất nhiều đầu sách, thái độ phục vụ tốt, cà phê pha cũng ngon. Giá cả hơi chát một chút, vì vậy khách hàng có tuổi thường chiếm phần đông. Tuyệt nhất vẫn là căn phòng biệt lập bố trí ghế sô pha trắng, rộng rãi và sạch sẽ. Tôi không hút thuốc nên có thể có một chỗ ngồi ưng ý tại khu vực vắng vẻ và cấm hút thuốc.
Hôm nay tôi đã đọc hết veo tập một và tập hai truyện Đức Phật của Tezuka Osam. Tôi bèn cầm cả bộ ra bàn, chăm chú đọc đến mức quên cả uống cà phê. Khi đọc đến tập ba, không thể nào tập trung nổi, tôi đưa mắt đảo qua khung cửa sổ, trời đã nhá nhem tối. Tôi không đeo đồng hồ nên chẳng biết bây giờ là mấy giờ, đi vệ sinh tiện thể gọi ly cà phê mới, ngước nhìn đồng hồ trên quầy thu ngân thì đã sắp bảy giờ tối.
Nên trở về nhà, hay đọc nốt bộ Đức Phật nhỉ? Tôi nhâm nhi ly cà phê và nghĩ ngợi miên man. Hiếm khi tôi ăn một bữa tử tế vào buổi trưa nên giờ vẫn chưa thấy đói, nhưng ngày mai, ngày kia, ngày kìa nữa, tôi vẫn chưa có kế hoạch gì, vì vậy sao cũng được. Mọi việc của tôi chẳng có thứ tự ưu tiên nên cũng không thể quyết định trước việc gì. Tôi chán nản ngước lên giá sách, phát hiện ra bộ Phút giây gặp gỡ của Takahashi Rumiko đang bày trên đó. Hồi đi học tôi nghiền truyện dài kỳ, truyện này tôi còn chưa biết kết thúc, nên để lần sau đọc vậy. Muốn thế tôi phải nhanh chóng đọc xong truyện Đức Phật đã, vừa nghĩ tôi vừa nhỏm dậy cầm quyển truyện. Tôi đọc một mạch tới tận nửa đêm, sau đó cuốc bộ 20 phút về nhà.
Dường như đến ngần này tuổi, lần đầu tiên tôi mới thấm thía được trạng thái và cảm xúc khi trở nên nhàn rỗi. Nó khác biệt đôi chút với sự buồn tẻ. Hồi cấp ba, tôi ngán ngẩm nghe thầy giáo chủ nhiệm giảng bài còn tệ hơn giáo viên phụ đạo. Vào đại học, tôi bị ép tham gia những buổi giao lưu kết bạn, những cuộc họp lan man không hồi kết ở công ty xuất nhập khẩu sau khi đi làm, những lúc đó, tôi cố nén cơn ngáp ngủ và cảm giác buồn tẻ, làm bộ chăm chú lắng nghe.
Vô nghĩa và có ý nghĩa. Bao lâu nay, thời gian của tôi chỉ thuộc hai phạm trù này.
Hồi cấp ba, suốt ngày tôi chỉ nghĩ đến chuyện thi đại học, đến khi vào đại học rồi ít nhiều cũng thảnh thơi hơn đôi chút, dù cũng hay đi chơi, nhưng tôi chưa từng lơ là chuyện viết báo cáo và thi cử. Dù bị bạn bè gọi sau lưng là “sinh viên ưu tú nhàm chán”, nhưng khi bọn họ tới mượn vở ghi trước kỳ thi để phô tô, tôi vẫn vui vẻ cho mượn. Những kẻ thường ngày coi tôi là mọt sách nay lại đột nhiên hạ mình nhờ giúp đỡ, điều đó khiến tôi cảm thấy thích thú.
Tôi không làm việc cho doanh nghiệp lớn mà chọn một công ty xuất nhập khẩu và bán hàng có quy mô vừa, vì cảm thấy lựa chọn đó có thể giúp mình khẳng định sở trường nhanh hơn. Đúng như dự đoán, ngay lập tức, tôi được cử đi thực hiện vài thương vụ mua bán. Tôi cảm thấy sung sướng và say mê. Ý tưởng của tôi tuôn trào ào ạt. Để biến những ý tưởng đó thành hiện thực, cho dù phải quên ăn quên ngủ, đi tập huấn hay đi tiếp khách, tôi cũng không thấy vất vả. Sau khi quen biết chồng cũ, rồi bỏ việc về làm tại công ty anh ấy, thói quen này cũng chưa từng thay đổi. Tôi từng say mê công việc và ghét sự lười nhác. Trước khi ly hôn, chồng cũ của tôi nói tôi có “lối sống tham lam vô độ”, lúc đó tôi không hiểu được suy nghĩ của anh ta.
Từ bé đến năm 30 tuổi, tôi đều tràn đầy nhiệt huyết, đến bây giờ cũng không hề cảm thấy đó là một sai lầm. Tôi chưa từng biết, con đường đáng nhẽ vô cùng bằng phẳng mà mình đang bước đi, hóa ra chỉ là mặt băng dễ dàng nứt toác. Ngỡ rằng, sau khi mặt băng nứt ra, tôi sẽ chìm xuống đáy và chết cóng, nhưng không ngờ dưới đó lại là dòng suối nước nóng để tôi có thể “thư giãn”. Cảm giác ngâm mình trong dòng nước nóng thư thái hơn tưởng tượng, không thể tìm thấy bất cứ lý do hoặc mục tiêu nào để phải trồi lên trên.
Tôi tỉnh giấc sau một giấc ngủ miên man. Hôm nay là thứ mấy, ngày bao nhiêu vậy nhỉ? Tôi không đặt báo, tivi cũng đã hỏng từ tháng trước, chẳng có cách nào xem ngày giờ. Trên đài đang phát chương trình buổi trưa, lại nhảy luôn sang kênh phát thanh mà trước đây tôi chưa từng nghe, tôi phát hiện ra một tuần trở lại đây, vào khung giờ này mỗi ngày, không phải giọng đọc của cùng một phát thanh viên, ngay cả chuyện vớ vẩn như thế cũng khiến tôi vui mừng, thật không ngờ.
Với tay lấy chiếc đồng hồ vứt chỏng chơ cạnh gối để đặt lại ngày giờ. Đó là món quà Giáng sinh hàng hiệu của chồng cũ tặng cho tôi trước khi cưới, mặt sau có khắc tên tôi, cho đến giờ, nó vẫn là vật dụng tôi dùng thường xuyên.
Căn hộ cũ kỹ này nằm ở phía tây Shinjuku, gồm một phòng ngủ và một phòng khách, nồng nặc mùi ẩm ướt của mùa mưa dầm, một số tờ giấy dán tường trong phòng còn bị tróc, lộ ra những mảng mốc đen. Căn hộ được xây từ 20 năm trước, tường ngoài trát xi măng đôi chỗ đã nứt toác, gian bếp và cửa sổ bé tí ti. Đó là căn nhà mà tôi đã mua bằng tiền dành dụm của mình. So với căn hộ chung cư ven biển ở cùng chồng cũ, nơi đây thoải mái gấp trăm lần. Khi ký vào đơn ly hôn và dọn khỏi nhà chồng, tôi thấy quảng cáo bán nhà đăng trên báo, “máu” lên tôi liền mua luôn. Dù cũng có đôi phần hối hận, nhưng ngẫm lại trạng thái tinh thần của bản thân trong khoảng thời gian đó, tôi đã vô cùng sợ hãi. Tôi không đủ tự tin để trả tiền thuê nhà hoặc mua căn hộ trả góp, dù tạm bợ cũng muốn mau chóng có chỗ nương thân. Nếu ra vùng ngoại thành, với số tiền tương đương có lẽ tôi sẽ mua được một căn hộ đàng hoàng hơn, nhưng tôi không thể tưởng tượng cuộc sống khi phải rời xa trung tâm thành phố. Nếu ở trong khu chung cư ngoại thành mà bốn bể đều là những gia đình hạnh phúc đầm ấm, chắc tôi sẽ phát điên lên mất. Đây là nơi ít bị chú ý nhất, có vẻ phù hợp với một kẻ ngấp nghé 35, không chồng và thất nghiệp như tôi - nếu xét ở điểm này, sự lựa chọn của tôi là hoàn toàn chuẩn xác.
Trong tòa nhà mười tầng đơn sơ một nửa là văn phòng, nửa còn lại chẳng biết có ai ở không, khi chờ thang máy, thi thoảng tôi cũng có thể bắt gặp vài người mặc quần bò áo phông, lếch thếch xách túi đựng đồ của cửa hàng tiện lợi như mình. Không ai chào ai, không ai nhìn ai, giống hệt mấy cặp đôi lén lút hẹn hò bất chợt chạm mặt trong khách sạn, chỉ muốn nhanh chóng biến mất khỏi tầm mắt của nhau.
Hôm nay, trời lất phất mưa và hơi oi bức. Tôi muốn bật điều hòa, bèn rời khỏi giường. Trong phòng ngổn ngang len đan, vải vụn, tạp chí truyện tranh và túi ni lông đựng đồ ăn, sau một hồi vật vã, tôi mới tìm thấy chiếc điều khiển trong bãi chiến trường, đang định nhấn nút “bật”, nhưng màn hình không hiển thị. Hết pin rồi sao? Tôi đành lấy pin đài ra lắp tạm nhưng nó vẫn không chạy. Tức mình, tôi quẳng nó sang một bên. Tôi đứng lên ghế, đưa tay quờ quạng tìm nút bật trên thân điều hòa nhưng cũng không thấy. Tivi hỏng từ lâu, đèn bếp cũng tắt ngóm. Đồ đạc cứ thi nhau hỏng, rồi chắc sẽ đến lượt con người mất thôi. Tôi chẳng buồn gọi người đến sửa vì cảm thấy quá phiền phức.
Từng khao khát có thật nhiều thời gian, nhưng nay quỹ thời gian quý giá lại bị tôi phung phí không thương tiếc.
Sau khi ra trường đi làm, ngày nào tôi cũng bận bù đầu, tôi luôn muốn làm rất nhiều việc dù thời gian rảnh rỗi chẳng là bao. Tôi và chồng cùng mở một cửa hiệu, kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ Nhật Bản và đồ tạp hóa, nên tôi rất muốn tìm hiểu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ trong nước. Cửa hiệu chính đặt tại Asakusa, nơi có rất nhiều du khách nước ngoài lui tới, tôi muốn tìm vài nghệ nhân trà đạo hoặc origami để làm giáo viên hướng dẫn cho khách hàng. Do khá bận rộn nên tôi luôn từ chối lời mời của bạn bè, tôi lấy làm hổ thẹn, dù rất muốn cùng mấy cô bạn đi ăn hoặc tắm suối khoáng. Tôi cũng muốn đến phòng gym - nơi từ sau khi đi làm chưa từng đặt chân tới, cho dù chỉ một lần trong tháng. Tôi cũng muốn có nhiều thời gian hơn để đi mua sắm, làm đẹp và du lịch nước ngoài.
Thế nhưng, một khi thật sự nhàn rỗi, tất cả những điều đó đều mất đi ý nghĩa. Tôi đã được can dự vào công việc của chồng, những người muốn gặp tôi dường như chỉ muốn gặp “bà chủ thành đạt của cửa hàng tạp hóa” thay vì con người thật của tôi. Những người đó cũng chẳng đoái hoài đến tôi từ khi tôi mất việc. Giờ đây, trang sức hàng hiệu, tập tành, đi làm đẹp đối với tôi đều trở nên vô nghĩa. Bây giờ tôi thích ở nhà đan lát hơn là đi ra ngoài.
Lẽ nào do không phải nhàn rỗi một cách chủ ý, nên tôi mới cảm thấy mọi thứ hỗn loạn.
Khi mười mấy tuổi, tôi đã bất chấp tất cả để vươn lên khẳng định mình. Tôi muốn chiến thắng bằng mọi giá. Một đứa từng ghét cay ghét đắng sự thất bại, giờ chỉ cần trong người khó ở một chút là lăn ra ngủ. Phải chăng ngay từ đầu tôi đã không biết tự lượng sức mình, phải chăng lười nhác mới là bộ mặt thật của tôi? Tôi chán chẳng buồn suy nghĩ nữa.
Sau khi ăn bánh kẹp thịt ở một tiệm ăn nhanh gần nhà, tôi lại đến quán cà phê truyện tranh. Tôi không thích truyện tranh cho lắm, chỉ là từ khi thất nghiệp, không còn mục tiêu sống, tôi không tiêu hóa nổi mấy thể loại sách khác. Tôi cũng từng tới thư viện, nhưng việc giải mã từng dòng chữ và dùng trí tưởng tượng để biến chúng thành những hình ảnh sống động cũng khá tốn sức. Thực ra nhẹ nhàng nhất vẫn là xem tivi, nhưng tivi cũng đã hỏng, nên tôi chỉ còn một sự lựa chọn là đọc truyện tranh. Nhưng việc này cũng chỉ như một trò tiêu khiển ngôn ngữ, bởi tôi chẳng có chút cảm xúc hay rung động nào.
Tôi pha cà phê và đặt cả bộ Phút giây gặp gỡ lên mặt bàn, lần lượt đọc từng tập một. Đọc xong bộ truyện, cảm thấy hình như khoảng mười giờ tối, tôi tới quầy thu ngân xem đồng hồ, hóa ra đã hơn ba giờ đêm. Đảo mắt một vòng quanh quán, rất nhiều khách say lỡ tuyến tàu điện cuối cùng. Tôi phân vân không biết có nên về nhà hay không. Hôm qua tôi đã bị một gã say quấy rối, vì thế hôm nay quyết định ở đây cho đến sáng. Chờ thêm hai tiếng nữa sẽ có chuyến tàu điện đầu tiên, khi đó chắc sẽ an toàn hơn.
Tôi cầm một cuốn truyện tranh bìa ngoài trông tương đối thanh thoát và trở về ghế, không biết từ bao giờ, một gã nhân viên văn phòng khá trẻ tuổi say khướt nằm vật ra ngay chỗ bên cạnh. Khuôn mặt đó gợi cho tôi cảm giác khá quen thuộc. Tôi nhìn kỹ bộ mặt của gã say nhếch nhác, cậu ta có vẻ đang gặp ác mộng, thi thoảng lại nhíu mày ú ớ. Là người quen ở công ty cũ chăng? Đang mải nghĩ ngợi thì cậu ta chợt tỉnh giấc, như một phản xạ có điều kiện, cậu ta hô to: “Xin, xin lỗi!” Những người còn thức trong quán đều đánh mắt nhìn sang, khuôn mặt và dáng vẻ sợ sệt đó ngay lập tức giúp tôi nhớ ra đó là ai.
“Hả? Chị Izumi?”
Tôi lặng lẽ ngồi xuống cạnh cậu ta.
“Tại sao chị lại ở đây?”
“Câu đó phải tôi hỏi cậu mới đúng chứ!”
Tôi hỏi với vẻ không vui. Cậu ta từng là thuộc cấp của tôi, nhưng thời gian làm việc chung không dài. Hình như cậu ta nhỏ hơn tôi năm tuổi, làm việc lóng ngóng, thường bị trách mắng.
“Chị làm tôi sợ chết khiếp. Đang mơ bị cấp trên quát, kết quả vừa mở mắt ra lại thấy chị Izumi đứng ở đó “
“Xin lỗi cậu!”
“Vậy, sao chị lại ở đây? Ôi trời, làm tôi sợ muốn chết, chị đang làm ở đâu?”
Tôi cảm thấy bối rối. Vừa không thể nói rõ ngọn ngành tại sao đêm hôm khuya khoắt một thân một mình ở quán cà phê truyện tranh chờ trời sáng, cũng không muốn phí lời với một người đàn ông không thân thiết.
“Đã mấy năm rồi nhỉ, không ngờ lại gặp nhau ở đây, đúng là số phận trêu ngươi, chị Izumi cũng đợi chuyến tàu điện đầu tiên à?”
Thông thường, khách hàng của quán cà phê truyện tranh về cơ bản đều đến một mình, vì vậy nơi đây còn yên tĩnh hơn thư viện, ấy vậy mà ngay tại đây, một gã say đang oang oang. Số phận gì chứ, số phận chết tiệt. Tôi thấy mất mặt quá, liền đứng dậy và rời đi.
“Chị muốn về rồi sao?”
“Cậu thật lắm lời.”
Tôi tới quầy thu ngân trả tiền, cậu ta cũng lẽo đẽo bám theo.
“Vậy tôi cũng đi.”
“Cậu ở đây đợi tàu điện đi.”
“Giờ này đàn bà con gái đi một mình trong khu Shinjuku nguy hiểm lắm, để tôi gọi taxi cho chị.”
Tôi quay đi, nhanh chóng mở cửa bước ra ngoài. Tôi muốn dứt được cái đuôi này để về nhà, ai dè khi chạy xuống cầu thang, tôi cảm thấy người lảo đảo, rồi loạng quạng ngã. Đầu óc quay cuồng một cách kỳ lạ.
“Chị có sao không?”
Được cậu ta dìu dậy, tôi buộc lòng phải nhìn vào khuôn mặt ấy, một khuôn mặt non nớt tưởng như có thể búng ra sữa. Tôi vội túm lấy tay cậu ta, cố đứng dậy thật nhanh.
“Chị đói bụng hả, chúng ta đi ăn mỳ Ramen nhé?”
Cậu ta tên là Ohara Kenta. Tôi nhớ ra khi nhìn thấy tấm danh thiếp của cậu ta khi ngồi cạnh bàn ăn trong tiệm mỳ Ramen. Trên danh thiếp không in tên cơ quan cũ, mà là công ty con của một thương hiệu điện máy, The second Buytiness Section.
“Cậu nghỉ việc rồi ư?”
Tôi vừa ăn vừa hỏi.
“Sau khi chị nghỉ việc không lâu. Sếp mới lên thay còn ghê gớm hơn gấp trăm lần. Bởi cảm thấy nếu cứ tiếp tục như vậy, có lẽ tôi sẽ nổi điên mà làm liều, nên liền xin thôi việc.”
Cấp trên nghiêm khắc sẽ bắt chết được người khác sao? Tôi thầm nghĩ, nhưng hình như Ohara đoán được, bèn chỉ thẳng đũa vào mặt tôi.
“Này, chị đang nghĩ tôi là thằng đàn ông vô tích sự đúng không?”
“Ờ.”
Tôi đáp lại ngay mà không cần khách sáo.
“Không sao, dù gì chúng ta đều là những kẻ thất bại, là con chó vô chủ chạy loăng quăng mà.”
Cậu ta thốt ra những lời lẽ thô thiển với vẻ rất khoái chí.
“Izumi, sau đó chị sống ra sao? À, đúng rồi, chị lấy chồng, không còn mang họ Izumi nữa? Xin lỗi, tôi quên mất họ mới của chị, là gì nhỉ? Nhưng tôi vẫn nhớ như in tên chị, Hirosue Izumi, ngay từ lần đầu tôi đã thấy cái tên đó nghe thật êm tai.”
Ohara nói luôn miệng và bát mỳ không vơi đi chút nào. Tôi ăn xong từ lâu và lấy giấy ăn lau miệng.
“Này, lấy cho tôi tờ giấy ăn được không?”
Tôi dúi một tờ qua, cậu ta vụng về hỉ mũi, sau đó nhét vào túi áo vest rồi cắm đầu ăn nốt bát mỳ. Tôi chống cằm nhìn Ohara. Chiếc áo vest rẻ tiền kết hợp với cà vạt buông lơi, nhưng móng tay lại được cắt tỉa gọn gàng sạch sẽ. Cặp xách gác dưới ghế hình như dùng đã lâu, nhưng giày lại được đánh xi cẩn thận. Thắt lưng không có nhãn mác, nhưng ăn vận vẫn tươm tất.
“Vậy bây giờ cậu làm gì?” Tôi không bận tâm tới vấn đề của cậu ta, tiếp tục hỏi.
“Tôi làm bán hàng, chủ yếu xử lý khiếu nại và bố trí thợ sửa chữa. Tự tôi cũng phải đi sửa, bị gọi, bị ăn chửi, xong xuôi cúi đầu xin lỗi khách hàng, công việc cứ lặp đi lặp lại như vậy.”
“Cậu mà cũng có tài lẻ đó sao.”
“Không phải tài lẻ, dù gì tôi cũng tốt nghiệp chuyên ngành kỹ thuật mà.”
Ohara húp cạn nước dùng trong bát với vẻ đắc ý, rồi lại nhìn tôi chằm chằm, khiến tôi cảm thấy ngượng ngùng.
“Tôi có thể hỏi chị một câu được không?”
Ăn xong tôi cũng thấy lơ mơ, vừa ngáp vừa khẽ gật đầu.
“Nhà chị ở đâu? Sao giờ này còn ngồi đây ăn mỳ Ramen với tôi? Anh nhà không ghen chứ?”
“Tôi ở Shinjuku, đi bộ chỉ mất 20 phút. Ngồi đây ăn mỳ Ramen là do cậu mời. Tôi ly hôn từ năm ngoái, giờ đã là gái không chồng, chơi đến mấy giờ, ở đâu, làm gì cũng chẳng khiến ai tức giận cả.”
Để bầu không khí bớt căng thẳng, khi trả lời tôi đã cố gắng kìm nén cảm xúc. Ohara nghe xong bỗng trở nên thất thần. Nếu có thiện chí, tôi nên giải thích cho cậu ta đôi chút, nhưng tôi đang mệt, buồn ngủ, và ghét phiền phức.
“Sắp có chuyến tàu điện đầu tiên rồi đấy. Hôm nay cậu không đi làm sao? Mau về thôi!”
Một lúc sau cậu ta mới định thần lại, rồi cất lời: “Izumi, hiện tại chị làm gì?”
“Chẳng làm gì hết, tôi đang thất nghiệp.”
“Không phải chứ, tại sao?”
Câu nói đó đã lại chạm đến lòng tự trọng của tôi. Tôi khen mỳ ngon với chủ quán rồi đứng dậy, cậu ta vội vàng rút ví. Mồm nói không cần, nhưng tôi lại để người khác trả tiền.
Câu nói của Ohara khiến tôi không ngừng suy nghĩ. Trên chiếc giường lò xo đơn sơ tại căn hộ phía tây Shinjuku, Ohara ôm tôi ngủ ngon lành. Đã tỉnh giấc nhưng lại bị một cậu trai ôm khư khư chẳng thể nào ngồi dậy được, tôi đành ngước mắt lên trần nhà.
Ăn mỳ xong tôi muốn về nhà, nhưng cậu ta cứ lẽo đẽo bám theo đòi đưa về bằng được. “Tôi không muốn đi làm.” Ohara nói giọng tiu nghỉu. Tôi liền đề nghị cậu ta nghỉ một ngày, chỉ chờ có vậy, cậu ta vui mừng gật đầu. “Ngày trước, tôi rất ngưỡng mộ chị, vì vậy Izumi nhất định phải mạnh mẽ lên!” Ohara an ủi một cách vụng về, đồng thời nắm chặt tay tôi. Từ trước đến giờ, tôi chưa hề có cảm giác với cậu ta, nhưng hành động đó của cậu ta cũng không khiến tôi cảm thấy ghét bỏ. Vì thế nên tôi mới để cậu ta vào nhà. Sau đó, Ohara tự cởi bỏ áo quần. Cậu ta muốn làm tình ư? Kết quả là chúng tôi đã ân ái với nhau tới ba lần liền.
Đã lâu rồi tôi không đụng chạm xác thịt với đàn ông. Tôi còn chẳng nhớ lần cuối tôi và chồng mặn nồng với nhau là từ bao giờ nữa. Mấy năm nay tôi chưa từng hôn ai, thậm chí còn không cầm tay, vỗ vai hay vỗ lưng với người đồng giới cũng như khác giới, chứ đừng nói đến chuyện làm tình.
Sống chay tịnh cảm giác thật thoải mái, nhưng tôi bất ngờ phát hiện ra mình vẫn còn ham muốn nhục dục. Ohara cọ nhẹ chóp mũi vào xương đòn của tôi, thì thào điều gì đó. Tôi ôm đầu cậu ta và xoa nhẹ lên mái tóc, Ohara lại im lặng, giống hệt chú cún con.
Một tay ôm chặt Ohara, tay kia với lấy chiếc đồng hồ để bên gối, vừa quá mười giờ sáng. Tôi vẫn còn chưa đẫy giấc, dù sao tôi cũng chẳng có việc gì làm nên lại quay ra ngủ tiếp. Ohara ghì chặt đầu trên vai tôi. Tôi thích gối đầu lên tay chồng mỗi khi ngủ, nên chưa từng biết xương sọ của con người lại nặng đến như vậy.
Nỗi nhớ chồng lại ùa đến một cách da diết. Anh ấy thật dịu dàng. Anh là con trai độc nhất trong gia đình địa chủ vùng nông thôn, nhìn điệu bộ tuy hơi lơ ngơ, nhưng tính cách lại rất cởi mở, hòa đồng và kiên nhẫn. Anh khác hẳn tôi, không bao giờ châm chọc hoặc nói xấu người khác. Ban đầu, tôi rất thích tính cách của anh, nhưng chỉ được vài ngày đã cảm thấy không vừa ý. Tôi thích làm theo ý mình. Khi đó, tôi tin rằng mình vui, chồng ắt cũng sẽ vui.
Kẻ thất bại. Câu nói đó cứ luẩn quẩn trong đầu tôi. Có lẽ sau khi tắm rửa sạch sẽ, tóc Ohara không có sợi xơ rối, nên chạm vào rất thích. Tôi dụi mũi vào mái tóc cậu ta để hít hà, mùi hương từ cơ thể đàn ông, thật không ngờ lại tươi mới như vậy.
Ohara và tôi đều là những kẻ thất bại, xứng đôi vừa lứa. Tôi không đặt bất kỳ sự mỉa mai hay tự ti nào vào suy nghĩ này, mà chỉ nghĩ như vậy một cách tự nhiên. Sự gần gũi xác thịt đã gieo mầm trong tôi tình cảm với người đàn ông mà mình chưa từng có chút rung động. Phải chăng đây là sức mạnh của sự hòa quyện giữa hai cơ thể. Tôi thấy mình thật ngớ ngẩn và nực cười.
Lúc đó, tiếng chuông điện thoại từ đâu vọng lại, chắc là của cậu ta vì tôi không có di động. Giai điệu bài Chú chó Vlaanderen khiến tôi không nhịn được cười. Có nên đánh thức chú cún đang say ngủ này không nhỉ? Đang chần chừ thì hình như Ohara nghe thấy tiếng chuông, liền mở mắt, lồm cồm bò dậy. Với điệu bộ ngơ ngác không nhớ ra đây là đâu và mình đang làm gì, Ohara đưa mắt nhìn tôi và dáo dác một vòng quanh căn hộ. Tiếng chuông điện thoại cứ réo liên hồi càng khiến cậu ta luống cuống. Ít lâu sau, đầu bên kia hình như đã cúp máy.
“Hả, đây là...”
“Chào buổi sáng. Hôm nay cậu nghỉ làm đúng không?”
“Hôm nay là thứ mấy?”
Đúng lúc đó, giai điệu bài Chú chó Vlaanderen lại vang khắp căn phòng. Ohara chỉ kịp mặc quần đùi và nhảy phắt khỏi giường, rút vội điện thoại nhét trong túi áo vest vắt trên lưng ghế, quỳ mọp xuống sàn gỗ rồi luôn miệng nói câu xin lỗi, bờ vai gầy guộc thi thoảng rung lên bần bật.
“Giờ tôi phải đến công ty, sếp của tôi vừa sạc cho một trận.”
Ohara tiu nghỉu.
“Tất cả đều tại tôi, xin lỗi nhé!”
“Không phải, không phải... Chị Izumi không cần xin lỗi.”
Ohara thất thểu xỏ áo sơ mi, quần dài và đeo cà vạt. Vừa vận bộ áo vest lên người, người đàn ông đó lại trở nên tầm thường vô vị. Tôi mặc tạm chiếc áo phông, lấy chai nước trong tủ lạnh rót vào cốc và đưa cho cậu ta.
“Cảm ơn, không ngờ chị Izumi lại dịu dàng đến thế.”
Được người khác khen như vậy, khiến tôi chỉ biết cười trừ. Không biết có phải sau khi tỉnh ngủ cậu ta đã vứt bỏ mọi tự ái hay không mà lại quay ra hỏi:
“Tôi có thể gặp lại chị nữa chứ?”
“Này, cậu biết sửa tivi và điều hòa không?”
“Đồ của chị bị hỏng rồi hả?”
Ohara bật tivi lên, nhìn vào những hình ảnh méo mó trên màn hình, sau đó tháo pin từ điều khiển điều hòa ra rồi lắp lại. Sau khi suy nghĩ một hồi, cậu ta ghi lại các thông số kỹ thuật vào cuốn sổ tay, sau đó viết số điện thoại lên một mẩu giấy và xé ra đưa cho tôi.
“Chị gọi vào số công ty cũng được, nhưng tôi thường ở ngoài, nên chị gọi vào số di động được không?”
Tôi cầm lấy tờ giấy, khẽ gật đầu. Ohara cười thật tươi, hôn nhẹ lên môi tôi và bước ra ngoài cửa.
Khoảnh khắc hình bóng cậu ta khuất xa khiến những chuyện xảy ra trước đó cũng vỡ tan như bong bóng xà phòng. Từ đó, cảm giác hiện thực cũng bị đánh mất. Chầm chậm quay trở về giường, nơi mùi hương của “chú cún nhỏ” vẫn còn quyện chặt, tôi cuộn mình trong chăn và ngủ thiếp đi.
Tầm chiều tối, chuông điện thoại réo lên. Đang mơ màng, tôi nghĩ bụng có lẽ là Ohara, nhưng hóa ra lại là người khác. Một đồng nghiệp nam quen biết trước đây, nói muốn mời tôi dùng bữa tối. Đằng nào cũng rảnh rỗi, lại không có lý do từ chối nên tôi đồng ý.
Không hiểu sao bỗng nhiên tôi lại được nhiều người quan tâm đến vậy. Đã lâu lắm rồi không trang điểm, tôi lôi bộ quần áo xuân hè cất dưới đáy hòm lên ướm thử, chẳng biết từ bao giờ tôi không còn thấy hợp với nó chút nào nữa, có lẽ vì lâu rồi tôi chẳng đi tiệm làm tóc chăm chút, để đầu tóc bù xù nên mới thế. Tôi thay đổi ý định, quay về kiểu thường ngày hay mặc với chiếc quần bò rộng thùng thình.
Đồng nghiệp của tôi chọn một quán ăn “không quốc tịch” ở phía bắc Aoyama, muốn đến nơi đó, tôi phải băng qua một con phố mà cửa hiệu của tôi cũng nằm trên con phố đó. Phải chăng cậu ta cố ý? Từ đại lộ Aoyama rẽ hướng đông, tôi quả thật có đôi chút hồi hộp. Vị trí cửa hiệu trước kia nay trở thành điểm bán cà phê tự động do người Mỹ đầu tư. Tuy biết cửa hàng không còn nữa, nhưng tôi vẫn cảm thấy đau lòng. Đối với một cá nhân, muốn thuê mặt bằng kinh doanh trên tuyến phố này, tiền đặt cọc là con số khổng lồ, nhưng có lẽ chẳng thấm tháp vào đâu so với các doanh nghiệp. Thời điểm đó, chỉ vì chuyện có nên mở cửa hàng thứ ba trên tuyến phố này không mà tôi và chồng đã tranh cãi gay gắt. Tôi khăng khăng chắc chắn sẽ thành công, nhưng anh ấy lại lăn tăn chuyện tiền đặt cọc nên dùng dằng không quyết.
Tôi đến muộn khoảng mười lăm phút, bạn tôi vẫn chưa tới. Tôi gọi một cốc bia uống trước, khi cậu ta đến, tuy miệng nói “xin lỗi” nhưng nét mặt thì chẳng có chút thành ý nào cả. Người đàn ông đó mang họ Hyodo, phụ trách mảng kinh doanh hàng tạp hóa tại khu vực châu Á cho chuỗi cửa hiệu trực thuộc một công ty thời trang lớn. Cậu ta bằng tuổi tôi, đã lâu không gặp nhau, Hyodo nom phát tướng thấy rõ. Cậu ta vội vàng gọi món và đồ uống với nhân viên phục vụ.
“Izumi, giờ cậu làm gì?”
Không xã giao cũng chẳng khách khí, cậu ta thẳng thừng hỏi tôi.
“Chẳng làm gì sất.”
“Ồ, xin lỗi cậu! Thực ra tớ nghe nói dạo này cậu rảnh rỗi, vì vậy hôm nay mới hẹn riêng ra đây để nhờ cậu một việc.”
Hyodo thò tay vào túi áo khoác được may đo tỉ mỉ cho những người có thân mình mập mạp, rút danh thiếp ra. Khác với Ohara, tấm danh thiếp màu trắng sắc lẹm đến mức có thể cứa đứt tay. Trước đó công ty của cậu ta là loại hình trách nhiệm hữu hạn, giờ chuyển sang cổ phần, nên cậu ta cũng được thăng chức giám đốc điều hành, nghe có vẻ rất oai.
“Lần này, công ty tớ thuê lại toàn bộ tầng một của tòa cao ốc để đầu tư vào lĩnh vực hàng tạp hóa và đồ dùng ăn cơm kiểu Nhật Bản, cậu có thể giúp tớ một tay không?”
Cậu ta nói với một giọng điệu vô cùng tự tin và có vẻ không hề sợ bị từ chối.
Cửa hiệu nằm trên ga cuối của tuyến tàu điện tư nhân, nơi đó năm ngoái vừa khánh thành cao ốc văn phòng cho thuê, cậu ta muốn thuê tôi làm chuyên viên tư vấn mua hàng. Thực ra mà nói, phạm vi công việc của chuyên viên tư vấn còn rộng hơn nhân viên bán hàng, phải biến triết lý kinh doanh của công ty thành hình thức cụ thể. Ngoài việc quyết định hình ảnh sản phẩm, cửa hiệu đến phán đoán ngày giờ, số lượng hàng hóa mua vào bán ra, còn phải chỉ đạo nhân viên thực thi việc tiêu thụ, việc gì cũng phải nhúng tay vào. Hồi còn đi làm, tôi phụ trách mảng hàng hóa châu Âu, khi cộng tác với chồng, tôi chuyên tâm vào mặt hàng thủ công mỹ nghệ Nhật Bản, vì thế tôi có đủ kiến thức và quan hệ kinh doanh trên cả hai lĩnh vực.
“Nhưng tớ không tìm hiểu thị trường từ hai năm nay rồi.”
“Với Izumi, tớ tin là cậu có thể bổ sung được thông tin. Cậu cũng không cần nể mặt chồng cũ nữa. Đã đến lúc phục thù rồi!”
Từ “phục thù” khiến tôi ngạc nhiên quá đỗi. Chưa bao giờ tôi nghĩ tới chuyện phục thù, thì ra trong mắt người khác, câu chuyện của tôi dường như là một bi kịch thê thảm.
Tôi và chồng cũ gặp nhau trong một buổi triển lãm do Hyodo chủ trì. Tôi chỉ mon men tới xem giá tiền, nhưng có một chàng thanh niên trẻ tuổi, mặc kimono lại chăm chú quan sát mẫu sản phẩm và mục lục, rất thu hút sự chú ý của người khác. Tôi bèn bước tới làm quen. Anh ấy nói bà cố nội của mình đã mất từ năm ngoái và đang cân nhắc cải tạo nhà của bà cố nội thành cửa hiệu tạp hóa kiểu Nhật. Nghe nói căn nhà đó xây từ thời Taisho, tôi khuyên anh đừng sửa chữa, mà treo một chiếc rèm màu xanh da trời, theo phong cách cửa hiệu cổ xưa, khiến anh ấy rất thích thú. Từ đó, chúng tôi trở nên tâm đầu ý hợp, tình cảm ngày một tiến triển. Không lâu sau, anh ấy ngỏ lời hỏi cưới và đề nghị tôi về cùng kinh doanh. Tôi xin thôi việc tại công ty đã từng cống hiến sáu năm mà không chút lưu luyến. So với việc tranh quyền đoạt lợi, lấy một người đàn ông mình yêu và cùng nhau mở một cửa hiệu nhỏ, đối với tôi còn hạnh phúc hơn nhiều.
Tôi từng mời một nghệ sỹ origami trẻ tuổi thiết kế một loạt mẫu giấy ăn và sáp nến kiểu Nhật, chồng cũ không đồng ý và nói đó đều là hàng rẻ tiền. Mặc dù vậy, tôi vẫn nhất quyết bày lên kệ, không ngờ lại nhận được phản hồi tích cực, vượt xa dự tính. Tôi chào hàng với tạp chí phụ nữ, nhờ bên đó quảng cáo giúp, kết quả các thiếu nữ ngoài Tokyo đến mua nườm nượp, siêu thị bách hóa tổng hợp cũng đến cửa hàng của chúng tôi hỏi rằng có thể bán buôn cho họ không. Giờ nghĩ lại, có lẽ những chuyện đó đã khiến chồng cũ của tôi cảm thấy tự ái.
“Đợi chút, đừng tiến cử tớ nhanh như vậy!”
Nghe tôi nói thế, Hyodo ấm ức hạ cốc bia xuống.
“Nói thế này có vẻ thất lễ, nhưng đây là cơ hội tốt để làm lại từ đầu, cứ tiếp tục ăn không ngồi rồi, cậu sẽ bị lãng quên.”
“Nhưng tớ không thích hàng thủ công mỹ nghệ và tạp hóa.”
Tôi buột miệng nói suy nghĩ thực sự của mình. Lần này Hyodo nhoài người về phía tôi. “Cậu xem, các cô gái yêu thích những món đồ tạp hóa xinh xắn cứ đổ xô vào mua, nhưng một số người mặc dù thích, lại chỉ thích một tí ti, như vậy thì không được.”
Tôi nhìn cậu ta chằm chằm, không ngờ Hyodo lại nói ra những lời như vậy.
“Izumi, cậu cũng biết đấy, một món hàng tốt và một món hàng bán chạy là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Tớ cũng muốn bán những tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sỹ nổi tiếng, nhưng khách hàng không có con mắt thẩm mỹ. Chỉ cần thấy xinh xắn dễ thương, dùng một mùa không thích có thể bỏ đi, trên thực tế những món hàng với phân khúc giá như vậy bán rất chạy. Tuy vẫn biết không thể cái gì được ưa chuộng là bán cái đó, nhưng nếu không bán, đợi đến khi gặp được một mặt hàng cao cấp mà mình tâm đắc, cũng chẳng có vốn lớn mà đầu tư.”
Cậu ta khẩn khoản nài xin. Tôi nhớ mình cũng từng nói giọng điệu hệt như vậy với chồng cũ. Qua những lời của Hyodo, tôi cũng biết mình không thể sống dựa vào việc đan những con búp bê, nhưng vẫn chẳng hề mảy may động lòng.
Có lẽ nhận ra tôi không hào hứng, Hyodo đột nhiên im bặt, không giấu được vẻ thất vọng, chán nản châm điếu thuốc.
“Cậu bị tổn thương nhiều vậy sao, chuyện với chồng cũ ý?”
Mấy vị khách ở bàn bên cạnh ồn ào khiến tôi không nghe rõ những gì Hyodo nói.
“Tớ ngỡ cậu sẽ làm lại từ đầu, không ngờ lại khiến cậu nhớ về chuyện buồn trước đây, thật xin lỗi!”
Vốn dĩ tôi muốn phủ định, nhưng chẳng thể mở lời.
“Khi nào tớ phải trả lời cậu?” Tôi ngồi trước bàn rượu thịt mà chưa hề động đũa, cất tiếng hỏi.
“Thế này đi, bây giờ vẫn còn sớm quá, mùng một tháng chín được không? Coi như cậu nghỉ hè.”
Đáng nhẽ đã quen với việc được người khác mời, nhưng khi thấy Hyodo rút tiền trả cho nhân viên phục vụ, không hiểu sao tôi vẫn cảm thấy không vui. Tôi nhớ lại thời huy hoàng của mình, khi đi ăn với Asuka hoặc những người bạn khác, tôi tiêu tiền không phải nghĩ. Tôi chưa từng nghĩ tới cảm giác của người được mời.
Vì lâu lắm mới uống rượu, tôi bắt đầu cảm thấy đau đầu. Tôi bắt một chiếc taxi về nhà. Trước cửa có một bưu kiện chuyển phát nhanh, người gửi là Asuka. Dự cảm chẳng lành, tôi mở ra xem. Tất cả đều là búp bê do chính tay tôi làm, cộng thêm bảy chú gấu Teddy mặc đồ ngộ nghĩnh được tặng trước đó.
“Izumi à, tớ biết nhận chúng mới không khiến cậu tổn thương, nhưng vẫn không thể làm như vậy. Xin lỗi, tớ không biết phải nói thế nào, chỉ cảm thấy nghỉ ngơi khác với trốn chạy. Những người chứng kiến cậu như vậy cũng rất đau khổ, thật sự xin lỗi.”
Tôi đọc thật to bức thư của Asuka. Con người này thật thẳng thắn, cứ lẳng lặng vứt đi chẳng phải xong rồi sao. Cái thứ gọi là tình bạn đúng là vừa sôi nổi lại vừa tàn nhẫn, tôi đưa tay bóp trán suy nghĩ.
Nhìn lại số búp bê, con nào cũng khiến người ta cảm thấy không vui. Rất giống miếng lót cốc mẹ thường đan trước đây, chẳng ai muốn mua, bản thân lại không dùng, nhưng bà không bận tâm và cứ đan, đan mãi. Tôi từng vô cùng thương xót cho bà, nhưng không biết bắt đầu từ bao giờ, bản thân tôi cũng lại bước vào hoàn cảnh tương tự.
Chẳng thèm tẩy trang, tôi cởi đồ rồi leo lên giường. Mùi hương của “chú cún nhỏ” vẫn còn thoang thoảng, nhưng đã thấm mệt nên tôi không muốn gọi điện.
Tám giờ sáng, họa hoằn lắm tôi mới thức dậy đúng giờ như vậy. Bầu trời u ám bấy lâu nay cũng đã xanh ngắt một màu, tôi mở toang tất cả cửa sổ, đem ga trải giường và gối ra hong, tiện tay giặt luôn đống quần áo. Dưới ánh mặt trời rực rỡ, tôi mới thấy căn phòng của mình nhem nhuốc biết bao, bèn quyết định dọn dẹp. Tôi cầm túi đựng rác, tống mấy thứ vương vãi trên sàn vào, đống búp bê được gửi trả lại hôm qua cũng cho vào hết. Đang định buộc túi lại, cặp mắt tròn xoe của Pikachu lại nhìn tôi âu yếm. Vẫn cảm thấy tiếc rẻ, chí ít tôi cũng phải chụp vài kiểu ảnh chứ. Khi đó, tôi bỗng nhớ tới lời của Asuka về việc lập một trang web mua bán trực tuyến. Đúng vậy, mình phải mua máy ảnh về chụp vài kiểu mới được. Tôi vui mừng khôn xiết vì lại phát hiện ra thú tiêu khiển mới.
Bỏ dở việc dọn nhà, tôi đi tới phố kinh doanh đồ điện tử, mua một chiếc máy ảnh kỹ thuật số rẻ tiền. Tôi phải đến ngân hàng để rút tiền, vẫn một trăm nghìn yên như thường lệ, tiện thể xem qua bảng kê chi tiết và giật nảy mình. Số dư tài khoản tiết kiệm linh hoạt của tôi gần như bằng không. Dù cuộc sống so với trước kia đã đạm bạc đến mức khó tin, nhưng không đi làm kiếm tiền dĩ nhiên sẽ chẳng mấy chốc mà chẳng còn một xu dính túi, tôi chưa từng suy nghĩ nghiêm túc về chuyện này. Tôi bỗng cảm thấy hành động mua máy ảnh khi nãy và gọi taxi tối qua quá lãng phí. Tiền tiết kiệm cũng chỉ còn chưa đầy hai triệu yên. Nếu đi làm bình thường thì đó là một số tiền tiết kiệm rất lớn, nhưng cứ tiêu như vậy thì chẳng được mấy năm. Từ hồi đi học, tôi đã học tập nghiêm túc và làm việc chăm chỉ hơn bất cứ ai, nhưng đổi lại tôi chỉ tích góp được con số khiêm tốn kể trên. Tôi phải cố gắng đến nhường nào mới có thể kiếm đủ số tiền tiêu cả đời không hết? Tuy không muốn, nhưng tôi cũng đành đi làm cho công ty của Hyodo. Tuy nhiên, hết mùa hè họ mới cần có câu trả lời, tạm thời cứ mặc kệ vậy đi. Tôi khẽ lắc đầu.
Trở về nhà, tôi lập tức bật máy tính lên. Chiếc máy để bàn mua trước khi lấy chồng, ngày trước chỉ dùng để gửi email và lướt web, nhưng giờ tôi còn phát hiện ra nó có phần mềm tạo trang web. Tôi chẳng buồn đọc hướng dẫn sử dụng, bắt tay làm chỉ dẫn tra cứu.
Sau đó, tôi say mê với thú vui mới, ngoại trừ những lúc tới cửa hàng tiện lợi mua đồ ăn, gần như tôi không bước chân ra khỏi nhà. Một tối nọ, tôi nghe thấy tiếng gõ cửa. Nếu là nhân viên chuyển phát nhanh hoặc người đưa báo thì thường sẽ bấm chuông, ban đầu tôi còn tưởng mình nghe nhầm, bèn tạm ngưng việc đánh máy, dỏng tai lên nghe. Rõ ràng là tiếng gõ cửa, nhòm qua mắt thần, tôi thấy Ohara trong bộ vest đang đứng trước cửa nhà.
Tôi mở cửa ra và nói: “Việc gì vậy? Sao cậu không bấm chuông, làm sao tôi nghe thấy được.”
Cậu ta nói giọng run run: “Buổi tối tốt lành.”
“Mời vào.”
“Tôi lại làm phiền chị rồi.”
Khác hoàn toàn với lần trước, lời nói và cử chỉ của Ohara vô cùng khách sáo, dúi túi đựng đồ của cửa hàng tiện lợi vào tay tôi, cậu chỉ nói gọn lỏn một câu “Tôi mua đấy.” Hai lon bia Sapporo và hai cây kem ốc quế.
“Không biết Izumi thích loại nào?”
“Gọi điện thoại cho tôi chẳng phải sẽ biết ngay hay sao?”
“Nhưng tôi không biết số. Izumi, có biết tôi mong ngóng cuộc điện thoại của chị đến nhường nào không?”
Tôi kêu Ohara ngồi xuống ghế máy tính, còn mình thì ngồi trên giường. Lần trước uống bia xong bị đau đầu, vì vậy lần này tôi chọn ăn kem.
“Cậu đến đây là được rồi.”
“Vì thế tôi mới nói chị chẳng hiểu gì cả. Chị thử đặt mình vào vị trí của tôi xem. Việc chị không gọi đến chỉ có thể được giải thích rằng chị chẳng qua muốn chơi trò tình một đêm. Tôi cũng có thể sẽ bị cấm cửa, nên sao có thể nói đến là đến được, tôi đâu phải trẻ con...”
Nếu tôi thú nhận không gọi điện thoại chỉ vì quên, có lẽ sẽ khiến cậu ta tổn thương hơn.
“Xin lỗi, mấy ngày vừa rồi tôi hơi bận!”
“Nếu thấy phiền, thì tôi về nhé!”
“Nếu thấy phiền, tôi đã để cậu đứng ngoài kia rồi.”
Ohara cuối cùng cũng nở nụ cười, khui lon bia và uống một cách ngon lành. Chỉ một hơi cậu ta đã cạn lon đầu tiên, rồi tiếp tục khui lon thứ hai để uống. Tôi vừa dùng thìa nhởn nhơ xúc kem, vừa nghĩ chắc tên này hay có tật mượn rượu làm liều. Ngoảnh đi ngoảnh lại cậu ta đã uống cạn lon thứ hai, sau khi buông câu “tuyệt quá” rồi đứng dậy, cậu ta rút một hộp giấy trong ba lô. Đó là một chiếc điều khiển điều hòa. Ohara lấy pin trong ba lô lắp vào điều khiển, sau đó nhấn nút “bật”. Cục nóng ngoài ban công kêu ù ù, điều hòa hoạt động trở lại, phả ra làn gió sặc mùi ẩm mốc.
“Sửa được rồi, sửa được rồi!”
Tôi reo lên vui sướng, Ohara nhún vai tỏ vẻ đắc ý.
Chỗ khay pin của điều khiển bị rỉ sét, nếu không dùng điều hòa, nó phải được tháo pin ra cộng thêm vệ sinh cả lưới lọc nữa.
“Cậu cừ quá!”
Tôi đóng các cửa sổ lại rồi quay ra nhìn, Ohara đang xoay chiếc tivi, dùng tuốc nơ vít tháo nắp sau ra.
“Cậu biết sửa cả tivi nữa ư?”
“Đây là nhãn hiệu của công ty tôi, nên chuyện này cũng đơn giản thôi. Tuy nhiên, sẽ hơi mất thời gian một chút, chị bận gì thì cứ làm đi.”
“Tiện thể cậu thay luôn đèn bếp giúp tôi nhé, tôi đứng lên cả ghế mà vẫn với không tới.”
“Ok.”
“Có cần tôi giúp gì không?”
Cậu ta ngồi trước đống linh kiện tivi bày la liệt, nghĩ vài giây rồi nói: “Tôi vẫn muốn uống thêm chút bia.”
“Để tôi đi mua.”
Tôi cầm ví tiền chạy tới cửa hàng tiện lợi gần nhà. Làm việc này mà lòng vui phơi phới, mình thật ngốc. Trong bụng nghĩ vậy, nhưng mặt cười tươi như hoa. Mua bốn lon bia và chút đồ nhắm, về đến nhà, Ohara đang đặt tivi vào vị trí ban đầu. Màn hình đã rõ nét như in.
“Ồ, có hình ảnh rồi!”
Tôi hét to khiến cậu ta cười thẹn thùng.
“Khiến Izumi cảm động như vậy, tôi đến cũng thấy bõ công. Chỉ có điều độ cân bằng màu sắc hơi có vấn đề. Hơn nữa bên trong toàn bụi bặm, thi thoảng chị phải chịu khó lau chùi, quá nhiều bụi cũng sẽ gây hỏng hóc. Bóng đèn để thay ở đâu?”
“Có ngay, có ngay.” Tôi vừa nói vừa lôi chiếc bóng đèn mua hơn nửa năm vẫn vứt trong xó tủ ra đưa cho Ohara. Ohara chỉ nhỉnh hơn tôi khoảng năm phân, nhưng khoảng cách đó cũng đủ khiến tôi không chạm nổi tới đui đèn.
Gian bếp sáng trưng. Mấy hộp mỳ ăn dở và đống bát đũa cáu bẩn trong bồn rửa lộ rõ mồn một khiến tôi thật xấu hổ. Tôi vội vàng đẩy Ohara ngồi vào giường, thơm nhẹ lên má. Cậu ta cười khanh khách, khui lon bia tôi vừa mua về.
“Cảm ơn cậu rất nhiều, giúp tôi cả núi việc!”
“Không có gì!”
Tôi vẫn luôn nghĩ cậu ta chỉ là một gã vô dụng, nhưng thực tế lại là một người đàn ông rất tháo vát.
“Để tôi trả tiền cho cậu, điều khiển mới cũng chẳng phải tự dưng nhặt được.”
“Không cần, ông chủ một cửa hàng điện máy thân quen bán cho tôi với giá rẻ như cho. Đúng rồi, chị nói dạo vừa rồi bận làm gì vậy? Chị đã bắt đầu đi làm rồi sao?”
“Không, tôi đang điều hành một trang web.”
“Mua bán trực tuyến?”
“Cậu muốn xem không?”
Tôi để Ohara ngồi xuống trước máy tính, cho cậu ta xem trang web mà tôi thiết kế cả tuần nay.
“Tuyệt thật đấy! Chú Pikachu này là thế nào?”
“Chính tay tôi đan đấy. Nếu bị phát hiện có bị tính là phạm pháp không nhỉ, cái này ấy?”
“Không bán thì chẳng sao.”
Hai chúng tôi cười nói vui vẻ. Tôi bỗng có cảm giác hơi kỳ lạ, như thể chúng tôi là một cặp tình nhân vậy.
Một lời khen đơn giản của Ohara cũng khiến tôi cảm thấy bối rối. Chỉ lập một trang web thôi mà, có gì ghê gớm đâu, tôi tham khảo những trang web do dân IT và dân không chuyên thiết kế, rồi lựa chọn chút tài liệu chắp vá vào là xong. Tự mình lại kết nối với trang chủ, thông báo cho những người bạn trên mạng thú cưng đưa thư, kết quả chẳng cần nhờ cậy ai, đã có người để lại lời nhắn trên mục bình luận. Thậm chí có người còn gửi email với ý muốn mua lại số quần áo của búp bê và gấu Teddy của tôi. Thật không thể ngờ. Nhưng tôi vẫn phải làm nhiều thứ khác nữa, cho dù muốn viết nhật ký trên mạng, cũng chẳng lấy đâu ra chuyện hay hằng ngày để viết. Thật lòng, tôi đã bắt đầu cảm thấy ngán ngẩm.
Ohara ngồi trên ghế, tôi nhẹ nhàng ôm lấy đầu cậu ta, hai đôi môi dính chặt vào nhau không rời. Tôi thích người đàn ông này, nhưng có lẽ cũng giống như việc đan len và lập trang web, tôi sẽ “cả thèm chóng chán” thôi. Dù tự nhận thấy sự vô trách nhiệm đó thật hết thuốc chữa, nhưng khi ở bên cạnh cậu ấy, tôi không thể kìm nén nổi những rung động man dại này. Chẳng cần tắm rửa chuẩn bị gì, chúng tôi liền trút bỏ quần áo và lao vào cuộc ân ái đê mê.
“Nói thế này có lẽ hơi thất lễ, nhưng anh thích Izumi bây giờ hơn là thời làm cùng công ty.”
Máy điều hòa mà Ohara vừa sửa xong phả hơi lạnh vù vù, khiến hai cơ thể trần trụi cuộn chặt lấy nhau trên ga trải giường. Tôi hơi giật mình khi nghe cậu ấy nói vậy.
“Mọi người đều nói hy vọng em có thể mau chóng gượng dậy, trở về là Izumi của ngày xưa.”
“Ừm, khi em đứng trước công ty và nói muốn nghỉ việc để lấy chồng, trông em rất hạnh phúc, rất xinh đẹp. Nhưng trước đó, anh luôn cảm giác người đàn bà này ăn nói gai góc, chẳng có chút thiện cảm nào.”
“Lần trước anh còn nói khi xưa rất ngưỡng mộ em cơ mà.”
“Đúng, rất ngưỡng mộ. Em khác anh, trước kia là một quý bà thành đạt.”
“...”
“Vì sao em ly hôn?”
Ohara hạ giọng hỏi. Tôi đang không biết nên trả lời ra sao thì cậu ấy vội vàng chen vào: “Nếu không muốn kể anh sẽ không hỏi nữa, xin lỗi em.”
“Ohara, khi không mặc gì anh là một người đàn ông tốt.” Tôi mở đầu câu chuyện bằng một vấn đề chẳng liên quan, Ohara cười rất khó hiểu.
“Em đang khen ngợi anh sao? Bộ vest đó là đồ rẻ tiền, nhưng nhân viên chăm sóc khách hàng dù ngày nắng như thiêu như đốt hay ngày mưa dầm dề vẫn phải mài mặt ngoài đường, vì vậy anh cần phải mua vài bộ. Mà tồng ngồng ra khỏi công ty thì hẳn là không được rồi.”
Xem chừng Ohara có vẻ không vui, nên tôi vội vàng đặt nụ hôn lên trán, không để cậu ấy nói tiếp.
Sau đó mỗi tuần một hoặc hai lần sau khi hết giờ làm, Ohara lại tiện đường ghé qua chỗ tôi. Cuối tuần thi thoảng cũng diện áo phông quần bò, giúp tôi dán lại những mảng tường bị tróc, hoặc cùng nhau tới quán cà phê truyện tranh đổi gió. Ohara không bao giờ đề cập tới chuyện tỏ tình, dọn về sống chung hoặc về chuyện đi làm của tôi. Chúng tôi trò chuyện rất thoải mái, khiến tôi không cần bận tâm suy nghĩ bất cứ điều gì.
Mùa hè ở khu trung tâm mới của thành phố, mặt đường nhựa nóng như chảo lửa, bản tin thời tiết nói nhiệt độ sẽ vượt ngưỡng 40 độ C, chỉ đi một quãng tới cửa hàng tiện lợi cũng khiến tôi hoa mắt chóng mặt. Tôi thực sự vô cùng biết ơn Ohara vì đã giúp tôi sửa điều hòa và tivi ngay trước khi mùa hè nóng nực ập đến. Những giờ nóng đỉnh điểm, nhiều khả năng bạn sẽ ngất xỉu nếu dại dột bước ra đường. Cho dù mặt trời lặn thì nhiệt độ trung bình cũng không xuống dưới 30 độ C. Tôi đã chán đến tận cổ việc lập trang web, ngồi ngây xem tivi hay ngủ nướng cả ngày. Tôi cũng chẳng thiết tha ăn uống gì, chỉ lót dạ qua loa bằng chút mỳ ăn liền và kem do Ohara mua về. Tôi vẫn đang sống một cuộc đời lay lắt.
Bỗng nhiên tôi bị cúm rồi sốt cao, khi ấy đã vào tháng 8. Đây là điều khó tránh khỏi khi ngày nào tôi cũng bật điều hòa ở mức lạnh nhất. Ohara đến nhà vào buổi tối như thường lệ, phát hiện ra tôi đang sốt 39 độ C. Cậu ấy cuống cuồng tìm một phòng khám mở cửa 24/24 rồi cõng tôi tới đó. Bác sỹ nói tôi bị thiếu máu nghiêm trọng, ngoài ra cơ thể còn suy nhược, sức đề kháng thấp. Bác sỹ cảnh báo, nếu coi thường bệnh này có thể dẫn đến tử vong, và căn dặn tôi cần ăn uống điều độ. Cuối cùng, Ohara bắt tôi lên taxi về thẳng căn hộ của cậu ấy.
Nơi ở của Ohara cách trung tâm thành phố khoảng 30 phút đi tàu điện tư nhân, căn hộ hai tầng lát gỗ cũ kỹ tả tơi, nhưng xung quanh nhiều cây xanh, rất thoáng đãng. Tôi ngủ trên giường cậu ấy, điều khiển điều hòa chẳng biết bị giấu đi đâu. Ohara nói đợt này vừa hay có thể xin công ty nghỉ tránh nóng, nên đã xin nghỉ liền ba ngày phép, túc trực đến khi tôi hạ sốt. Cậu ấy đều đặn ngày nấu ba bữa cơm, trời nóng còn dùng quạt tay quạt cho tôi. Phòng Ohara cũng bừa bộn như nhà tôi, nhưng đi chân đất trên thảm tatami cảm giác rất thoải mái. Được Ohara chăm sóc ân cần chu đáo, tôi vừa cảm động vừa hoài nghi. Ohara có lẽ không phải một người thành đạt, nhưng nom đứng đắn, lại nói năng nhỏ nhẹ. Từ những việc tại công ty mà cậu ấy kể, dường như Ohara cũng được lòng cấp trên và đồng nghiệp, do đó, không thể có chuyện cậu ấy không có sức hút đối với phái nữ. Tôi có gì tốt đẹp để cậu ấy tận tâm như vậy?
Cuối cùng, tôi cũng dứt cơn sốt. Lâu lắm rồi tôi mới được tắm một trận sảng khoái như vậy. Bồn tắm gỗ sồi của Ohara rất dễ chịu, tuy hơi cũ nhưng khá sạch sẽ. Cuối tuần, tôi nói với Ohara rằng mình đã bình phục và muốn về nhà. Trong giây lát, vẻ mặt Ohara dường như rất hụt hẫng, sau đó cậu ấy nói: “Vậy anh đưa em về Shinjuku.” Bởi không thể tiếp tục làm phiền cậu ấy, tôi từ chối và nói chỉ cần tiễn đến bến xe là được. Cả kỳ nghỉ của Ohara đã bị tôi chiếm trọn, khiến tôi cảm thấy áy náy vô cùng.
Mười giờ sáng của ngày hè chói chang nhất, trời nóng như thiêu như đốt. Trên đường ra bến xe, Ohara nói tiện đường tới công viên dạo. Công viên đó cây cối tốt tươi, hàng ghế đá dưới tán lá xum xuê mát rượi.
“Căn hộ ở Shinjuku phong thủy không được tốt cho lắm.”
Nhấp một ngụm trà ô long đóng hộp mua ở máy bán hàng tự động, Ohara lên tiếng.
“Cho dù không tốt, nhưng trót mua rồi, không thể nói chuyển là chuyển được.”
“Anh luôn cảm giác căn hộ đó chất chứa quá nhiều u uất.”
“Đừng nói nghe đáng sợ như vậy chứ!”
Tôi khẽ cười, nhưng sắc mặt Ohara vẫn nghiêm trang như cũ.
“Anh chưa từng nói ra, có điều...”
Ohara không nhìn thẳng vào mắt tôi và bắt đầu trầm ngâm. Nếu cậu ấy nói “về sống với nhau đi”, tôi sẽ phải trả lời sao đây? Tôi thấy hơi căng thẳng.
“Sau lần đầu tiên ngủ qua đêm tại nhà Izumi, anh không thể nào yên tâm, nên đành tìm đến Hyodo.”
“Hả?”
“Giờ cậu ấy đã là giám đốc điều hành. Rất khó tưởng tượng cậu ấy và anh lại bằng tuổi nhau, người ta giỏi giang như thế...”
Tới đây, hình như tôi đã đoán được Ohara muốn nói điều gì.
“Anh biết làm như vậy là sai, nhưng chuyện của Izumi, anh đã hỏi rõ ngọn ngành. Quả thật em đã quá vất vả.”
Chuyện tôi và chồng cũ ly hôn nhất định đã lan truyền nhanh chóng. Tin đồn thường khó mà theo hướng tốt, chắc chắn nó sẽ bị thêm mắm dặm muối, đi kèm với không ít lời gièm pha ác ý.
Chồng cũ đòi ly hôn với tôi, nguyên nhân không hề phức tạp như người ta đồn đoán. Tôi muốn đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của cửa hiệu, nên đã tự xông xáo xử lý mọi công việc, chỉ vậy mà thôi. Những món đồ xuất phát từ ý tưởng của tôi đều được ưa chuộng. Từ lúc kinh doanh những mặt hàng giá rẻ, số lượng lớn, doanh thu của cửa hiệu tăng nhanh tới mức chóng mặt, tôi muốn nhân đà này mở thêm cửa hiệu thứ hai tại ga Sendagi, cửa hiệu thứ ba tại Aoyama, mấy chuyện đó chồng cũ đều miễn cưỡng thỏa hiệp. Là một người sinh ra và lớn lên tại Asakusa, anh ấy rất chú trọng vấn đề truyền thống, bạn bè thân thiết và cha mẹ chồng cũng từng mỉa mai “bán mấy thứ ấy là không có tầm nhìn”. Những điều đó tôi hiểu hết, nhưng cứ vờ như không biết. Tôi nghĩ rằng chẳng lâu nữa chúng tôi sẽ có con, lúc đó tôi không thể đầu tắt mặt tối được nữa, vì vậy tôi muốn việc kinh doanh sớm đi vào quỹ đạo.
Doanh số bán hàng của cửa hiệu tăng một cách thuận lợi, nhưng không lâu sau, tôi và chồng xảy ra mâu thuẫn. Vừa bước chân về căn hộ do bố mẹ chồng mua vốn định để đầu tư, tôi đã cảm thấy ngột ngạt. Tôi vẫn thường nán lại cửa hiệu càng lâu càng tốt, dù biết điều đó là không nên. Chồng cũ của tôi là con một của gia đình giàu có, vì thế không muốn phấn đấu, không biết kinh doanh. Trên thực tế, tôi cũng từng có cái nhìn phiến diện như vậy.
Không lâu sau, chồng tôi có người đàn bà khác. Nếu chỉ là chuyện bồ bịch lăng nhăng thì tốt biết mấy. Mẹ chồng là giáo viên dạy môn múa Nhật Bản, tuy không treo biển hiệu, nhưng nhờ truyền miệng nên vẫn có nhiều học viên tới đăng ký. Một học viên của bà và chồng cũ của tôi đã phải lòng nhau. Cô bé đó từng mấy lần tới cửa hiệu, mái tóc cắt ngắn rất hợp với bộ đồ kimono. Sức quyến rũ và ấn tượng của cô bé lưu lại trong lòng người khác rất giống với cảm giác lần đầu tiên khi tôi gặp chồng cũ.
“Anh muốn sống với cô ấy, không cần phải lao vào kiếm tiền, anh và cô ấy sẽ sống một cuộc sống thú vị hơn.” Khi nói những lời này, anh ấy đã hoàn toàn hạ quyết tâm. Anh ấy quỳ trước mặt, cầu xin tôi gạch tên khỏi sổ hộ tịch, còn nói sẽ cố gắng đền bù thỏa đáng. Tôi khóc lóc, dứt khoát không ký đơn ly hôn. Dù phản ứng gay gắt, nhưng khi nghe chồng tôi nói những lời ấy, tôi biết mình đã thua. Anh ấy nói ghét sự tham lam, cách sống trước đó của tôi quả thật cũng đúng như thế. Không ngừng vươn lên, không ngừng phấn đấu, nhưng lại không hề nghĩ tới cảm giác của người khác.
“Có lẽ em cảm thấy anh nhiều chuyện, nhưng quả thật Izumi thay đổi nhiều quá, anh không yên tâm. Nếu có thể, chúng ta hãy về ở cùng nhau, như vậy anh cũng cảm thấy yên tâm hơn chút ít.”
Tôi không rõ Hyodo biết đến đâu và nói với Ohara những gì, nhưng tôi biết mình đã nhận được sự cảm thông sâu sắc của cậu ấy.
Thời gian lặng lẽ trôi, tôi và Ohara không nói một lời. Tiếng ve kêu, mùi hương của đất, những tia nắng xuyên qua tán lá rung rinh. Tôi thấy rối bời không biết nên nói gì.
“Thực ra, một người bạn hỏi em có muốn làm việc cho cửa hiệu tạp hóa hay không, nhân viên loại một...”
Tôi buột miệng nói ra mà không cần nghĩ ngợi.
“Vậy ư? Thật tuyệt vời, đó chẳng phải chuyện rất tốt ư?”
Ohara vui mừng như thể đó là chuyện của cậu ấy vậy.
“... Nhưng bản thân em cũng chẳng rõ rốt cuộc có muốn đi làm hay không?”
“Trải qua nhiều chuyện như vậy, việc em chần chừ do dự, anh cũng rất thông cảm.”
“Không phải như thế.”
Giọng tôi bất giác trở nên nghiêm khắc, Ohara trợn tròn mắt. Tôi biết mình sẽ sớm gượng dậy, dù còn hoài nghi nhưng tôi vẫn tiếp tục tiến lên. Nhưng không hiểu vì sao việc này khiến tôi không cam tâm. Cho dù gục ngã thương tích đầy mình, nhưng sau một thời gian bình phục vẫn phải đứng dậy, đó mới là con người. Tuy nhiên, không biết tự bao giờ, khả năng tự hồi phục của cơ thể khiến tôi sầu muộn vô cớ.
“Hơn nữa nếu bận rộn, em sẽ không có thời gian cho anh.”
Vừa dứt lời, tôi đã biết mình lỡ miệng.
“Vậy là em rảnh rỗi quá nên mới qua lại với anh?”
Ohara cúi gằm mặt, khẽ nói.
“Em không có ý đấy.”
“Không sao, anh hiểu. Đợi đến khi Izumi lấy lại được tinh thần, mải mê với công việc, một thằng đàn ông chẳng ra gì như anh sẽ chẳng còn ý nghĩa gì với em, phải không?”
Dù đã phân bua, nhưng Ohara vẫn đứng dậy, quẳng cốc trà ô long uống dở vào thùng rác cạnh đó, lủi thủi đi trên con đường tới công viên khi nãy hai đứa vừa tay trong tay. Tôi dõi theo bóng cậu ấy, nhưng chẳng thốt nên lời.
Lần đầu tiên tôi biết thế nào là nóng lòng chờ điện thoại của người khác đến như vậy. Nhưng qua ba ngày, một tuần, rồi mười ngày, Ohara vẫn không liên lạc với tôi. Tối hôm đó, tôi hạ quyết tâm gọi cho cậu ấy, nhưng tìm mãi không thấy mẩu giấy ghi số điện thoại. Sau một hồi cuối cùng tôi cũng bỏ cuộc, có lẽ đúng như Ohara nói, nếu không phải vô tâm, sao tôi có thể đánh mất mẩu giấy ghi số của cậu ấy được.
Sáng hôm sau, chuông điện thoại réo vang, tôi vội vàng nhấc máy, hóa ra là Asuka. Không hiểu vì lý do gì, cô ấy tỏ ra ngượng ngùng và luôn miệng nói xin lỗi. Ban đầu, tôi cũng không hiểu chuyện gì, sau đó mới biết cô ấy đang nói về chuyện gửi trả búp bê.
“Tớ gửi rất nhiều email cũng không thấy hồi âm, cứ nghĩ lần này chắc hẳn đã khiến cậu vô cùng tức giận.”
Chuyện đó thực ra tôi chẳng buồn bận tâm. Tôi nói mình đã lập một trang web và đưa mọi thứ tôi vất vả để làm lên đó. Nghe đến đây, Asuka cũng đã yên tâm phần nào. Từ bé tôi và cô ấy đã cãi nhau như cơm bữa, nhưng chưa lần nào là không thể làm lành.
“Khiến cậu đau lòng như vậy mà vẫn còn nhờ vả, da mặt tớ cũng dày thật,” Asuka rào trước đón sau, “có điều, bài tập hè của đám trẻ có thể nhờ cậu không nhỉ?”
Cô ấy nói, hai ngày cuối cùng của tháng 8 hằng năm, ông xã đều phải giúp bọn trẻ làm bài tập thủ công. Nhưng năm nay, chồng Asuka đi công tác đột xuất đến tháng 9 mới về.
“Ngày trước cậu toàn đội sổ môn vẽ, thủ công và mỹ thuật còn gì?”
“Không sai, bố bọn trẻ rất khéo tay, nhưng tớ thì chịu chết. Ban ngày tớ còn phải đi làm, thật rắc rối quá đi.”
Đã năm năm chưa gặp lại lũ trẻ nhà Asuka. Nói đúng ra, để lũ trẻ tự tay làm bài tập hè mới có ý nghĩa, nhưng nếu chồng cô ấy không có nhà sẽ rất thoải mái, hơn nữa đó cũng còn là tín hiệu muốn làm lành từ Asuka, tôi bèn nhận lời. Ngoài ra, đến nhà cô ấy sẽ tốt hơn việc cứ ngồi lì trong căn phòng ngột ngạt này.
Bọn trẻ có vẻ muốn làm những con búp bê mà không hiểu tại sao bị mẹ chúng mang đi, nhưng loay hoay hai ngày rồi vẫn chưa biết cách. Tôi cảm thấy nên dạy chúng những thứ trẻ con thường làm, sau khi lên mạng tìm hiểu cách làm đất sét Nhật Bản, tôi bèn tới nhà Asuka.
Từ trung tâm thành phố ngồi tàu điện cao tốc mất gần một tiếng, một trong số mấy tòa chung cư cao vút xếp hàng thẳng tắp chính là nhà Asuka. Cậu con trai đầu đã học lớp sáu, rất ra dáng người lớn khi chào hỏi tôi. Cô con gái út tên Rinko mới học lớp ba, hơi nhút nhát, cứ trốn sau váy mẹ. Tôi và Asuka uống trà, cậu con trai nói với tôi như người thân: “Hai cô cháu mình chơi game nhé?”; “Cô giúp cháu làm bài tập toán đi.” Cô con gái ngồi lặng thinh nơi góc phòng, quan sát mọi người với ánh mắt e dè. Nhắc tới trẻ con, dù tôi có bắt chuyện hay không đều khiến tôi cảm thấy phiền phức. Nhưng tôi sẽ cố chịu đựng hai tối, vì cảm thấy sự có mặt của tôi khiến Asuka đặc biệt vui mừng.
Đất sét Nhật Bản vốn được bán tại các cửa hàng, nhưng tôi lại nảy ra ý tưởng dùng báo cũ. Tôi cắt vụn đống giấy báo, cô bé út cũng mon men tới, ngập ngừng nói: “Cô ơi, Rinko cũng có thể làm chứ?”
“Đây là bài tập của Rinko mà. Cháu không làm cùng cô mới thấy áy náy đấy.”
Dứt lời tôi chuyển đống giấy báo về phía Rinko. Cô bé phấn khởi hì hụi ngồi cắt. Số giấy vụn sau khi ngâm trong nước rồi cho vào nồi đun. Ngày thứ hai, sau khi Asuka đi làm, tôi cho thêm chất kết dính, nước vào số giấy báo đã được nấu thành hồ và quấy đều. Khi đó, cậu anh trai tỏ ra hứng thú nói muốn làm cùng, nên nặn lấy nặn để. Sau khi nặn đất sét thành từng cục, tôi làm mẫu, lót một lớp màng bọc thực phẩm lên trên bát, phết đất sét lên trên, sau đó bỏ bát ra là xong. Việc này khiến bọn trẻ trầm trồ thán phục.
Cậu anh nặn những thứ mà con trai thích như quái thú, xe hơi, siêu nhân...trong khi cô em dường như không biết bắt đầu từ đâu. Tôi lấy bộ đồ dùng ăn cơm khác ra cho cô bé bắt chước. Cậu anh và đám bạn ra ngoài chơi, tôi và cô bé dùng chất liệu đỏ gạch tô màu cho đất sét. Cảm giác về màu sắc của Rinko rất tốt, hình vẽ trên lưng bát cũng rất đẹp. Tôi khen ngợi khiến cô bé cười thẹn thùng.
“Pikachu do tự tay cô làm phải không ạ?”
Để không làm bẩn sàn gỗ, tôi trải giấy báo ra phòng khách, ngồi lên trên tô màu cho đồ vật.
“Đáng yêu quá, nhưng mẹ nói là đồ đi mượn, phải trả lại.”
“Nếu thích cô sẽ tặng cháu.”
Cô bé nghĩ ngợi một hồi.
“Tự mình làm có khó không cô?”
“Để xem nào, cháu biết đan len chưa?”
“Chưa ạ.”
“Vậy lần sau cô sẽ dạy cho.”
“Thật ạ?” Mắt cô bé sáng long lanh, “Rinko sẽ học được chứ?”
“Được chứ, được chứ!”
Hình như Rinko không còn e ngại tôi, cứ khăng khăng đòi tắm cùng, ngủ cùng tôi trong căn phòng trải thảm tatami. Asuka khẽ quát cô bé “không được quấy rầy cô Izumi như thế”, nhưng tôi thì cảm thấy rất vui.
Chín giờ tối, tôi và Rinko đắp chung một chiếc chăn len. Tắt chiếc đèn ngủ bên cạnh, cô bé úp mặt xuống gối, nói lí nhí: “Ngày mai cháu lại phải đến trường rồi.”
“Rinko không muốn đi học ư?”
“Dạ? Muốn chứ. Cháu muốn khoe chiếc bát mình làm với các bạn.”
Tôi nghĩ trong giây lát, ngước lên trần nhà và hỏi: “Vì sao cháu muốn tới trường?” Hỏi một câu như thế, chắc sẽ khiến trẻ con bối rối chẳng biết trả lời ra sao. Thế nhưng Rinko đã lập tức trả lời: “Vì cháu có thể gặp các bạn, vui lắm cô ạ!”
Nói rồi con bé ngủ thiếp đi, chân tay quắp chặt lấy cánh tay tôi. Trời mùa hè, bị trẻ con quấn lấy nên nóng nực vô cùng, nhưng tôi không thấy khó chịu. Tôi cảm nhận hơi ấm của đứa trẻ nằm bên cạnh, nhắm mắt, nhớ lại những kỳ nghỉ hè hồi tiểu học chơi đùa cùng Asuka. Ngày đó, Asuka còi cọc ốm yếu, thường bị đám con trai bắt nạt và hay khóc nhè. Tôi túm lấy bọn chúng, đánh đấm túi bụi. Thế nhưng, trên thực tế, tôi lại khóc nhiều hơn Asuka, do lúc nào bảng điểm của tôi cũng dở tệ. Những lúc đó, chỉ có cô ấy luôn ở bên tôi.
Hôm nay, kỳ nghỉ hè của tôi cũng kết thúc, nhưng tôi vẫn chưa quyết định nên trả lời Hyodo ra sao. Có thể gặp mặt bạn bè thì vui biết mấy, chẳng nhẽ từng này tuổi mà không thể nghĩ đơn giản như vậy? Tôi muốn bàn bạc với Ohara, nhưng cậu ấy đã giận tôi, muốn sang bên đó, mà lại ngại. Tôi ôm chặt cô bé và khóc nức nở. Nước mắt giàn giụa, ít lâu sau chuyển thành tiếng nấc. Rinko nghe thấy, liền ngồi dậy, tỏ vẻ kinh ngạc.
“Mẹ ơi, cô khóc rồi này.”
Không hiểu tại sao, con bé cũng khóc theo, chạy đi tìm mẹ.