Trông Giòng Sông Vị
Văn-chương và thân-thế TRẦN TẾ XƯƠNG

Lượt đọc: 3302 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V. MỘT NHÀ ĐẠO-ĐỨC KHÁC ĐỜI

SINH vào giữa buổi giao-thời, trong ấy mỗi sự-thay cũ đổi mới, nhà nho-sĩ coi như là một lát búa bửa vào bức thành thế-đạo, Tú Xương không thể không đau-đớn bởi những chuyện đương thời. Lúc bấy giờ, ở trong xã-hội, cái địa-vị được trọng-vọng nhất, cái địa-vị có thể đưa đến cho chủ-nhân-ông đủ mọi điều-kiện vật-chất sung-sướng, ấy là địa-vị ông Phán của nhà-nước Bảo-hộ :

« Nào có hay gì cái chữ nho,

Ông Nghè ông Cống cũng nằm co.

Chi bằng đi học làm ông Phán

Tối rượu sâm-banh sáng sữa bò ».

Nhưng mà những ông Phán ấy là những ông gì, tài học các ông ra thế nào ? : « Á, ớ, u, ư, ngọn bút chì !… »

Thì ra chỉ có thế, nhưng mà từng ấy kẻ cũng đã ghê-gớm lắm :

« Muốn sống phải chăm mài bút sắt,

Cho mau chớ chậm đổ hòn chì.

Đỗ đầu hết thảy-nhà ông ký,

Phần của nhà Nho : có một ly ! »

Tình-thế xã-hội như vậy, kẻ trượng-phu phải lấy một cái nhân-sinh-quan nào mà ở với đời ?

Không kêu-rên hão, không than-khóc huyền, lại cứ lăn-lóc vào cuộc đời ; đời buồn, vẫn cố vui, đời bạc, vẫn không phụ, đời chán, vẫn thương-yêu ; nhà thi-sĩ đã lấy châm-biếm, lời diễu-cợt làm khí-giới để chống-chọi với mọi mối kich-thích của đời, và nhà thi-sĩ trở nên mạnh-dạn cứng-cỏi, quay lại công-kích đời, tự mình gây sự với đời.

Không có phái nào, cánh nào trong xã-hội mà không có cái mũi tên của thi-sĩ hài-hước bắn tới.

Như Phật-giáo và những người tuyên-truyền Phật-giáo thì bị ông miệt-thị lắm, tuy ông cũng như tất cả các nhà thâm nho, không phải là không hiểu thấu được cái cao-siêu, cái thuần-túy của tôn-giáo Thích-ca. Xét ra, sở-dĩ ông có những tư-tưởng phản giáo như vậy là vì ông thấy rằng đạo-lý có hay-ho gì mà người thực-hành giả-dối thì cũng vô-ích.

Mà còn gì giả-dối bằng những thầy sãi, vừa tu-hành đạo Phật, vừa chủ-trương đồng-bóng là cái phái mê-tín dâm-ô của phường vô-loại ? Ta hãy nghe nhà thi-sĩ tả những cái nhí nhắc ghê-tởm của hạng người ấy trong bài : « ÔNG SƯ VÀ MẤY Ả LÊN ĐỒNG » :

« Chẳng khốn gì hơn cái nợ chồng,

Thà rằng bạn quách với sư xong.

Một thằng trọc tuếch ngồi khua mõ,

Hai ả tròn xoe đứng múa bông.

Thấp-thoáng bên đèn lên bóng cậu,

Thướt-tha dưới án nguýt sư ông.

Chị em thỏ-thẻ đêm thanh vắng :

Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng ! »

Lại tu-hành mà còn miệt-mài ở chốn trần-ai tục-lụy như cái sư ông chùa Cuối kia, cho đến nỗi pháp luật – phải can-thiệp để mời vào tu nốt – không phải ở chùa nữa đâu – mà ở trong một nhà pha, thì chi bằng đừng tu mà đừng làm bậy :

« Quảng-đại từ-bi cũng phải tù

Hay là sư-cụ vụng đường tu ?

Tụng kinh cứu khổ ba trăm quyển.

Ý hẳn còn quên một phép phù ! »

Trước những cảnh-tượng chán-nản ấy, mà còn thấy những cô con-gái rủ-rê nhau vào chùa học đạo cùng các sãi, thì ai dám tin rằng có một ngày kia, những vị cân-quắc anh-hùng ấy sẽ thành chánh-quả cả ? Chẳng qua chỉ để thương, để tiếc, để ganh cho bọn mày râu phàm-trần :

« Con gái nhà ai dáng thị-thành,

Cớ chi nỡ phụ cái xuân-xanh.

Nhạt màu son phấn, sau màu đạo,

Mở cánh từ-bi, khép cánh tình,

Miệng đọc nam vô quên chín chữ,

Tay lần bồ-tát phụ ba sinh.

Tiếc thay thục-nữ hồng-nhan thế,

Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh ».

Hình như Vị-xuyên có một mối ác-cảm riêng đối với thầy tu mà khi nào ông cũng gọi là « trọc đầu » như trong bài « ÔNG SƯ VÀ MẤY Ả LÊN ĐỒNG » ta vừa đọc ở trên, đã có câu : « Một thằng trọc tuếch ngồi khua mõ… »

Khi vui nói thế cho đành, đến khi buồn, tẻ ngắt tẻ ngơ, không có ý gì khôi-hài cả mà thi-nhân cũng không quên châm-chích con người vô hại ấy :

« Ngủ quách sự đời thây kẻ thức,

Bên chùa chú trọc đã hồi chuông ».

Có người bảo rằng mối ác-cảm ấy của Vị-xuyên chỉ sinh ra từ ngày ông vay nợ một nhà sư mà không được. Nhưng tôi tưởng rằng một bậc chí-khí ngang-tàng như Trần tế Xương không bao giờ nhỏ bụng đến thế, mà trái lại, sự thất-bại của ông trong việc vay sư, có lẽ chính vì cái tính khinh-thị cửa thiền của ông đã khiến cho nhà sư nào đó ghét mặt mà không cho vay, cái đó cũng không biết chừng.

Dù thế nào mặc lòng, bài « VAY NỢ SƯ » sau này 8 thật là một bài châm-chọc cay-nghiệt đáo để :

« Ông bám ông ăn đứa trọc đầu,

Đầu không có tóc, bám nào đâu ?

Nghĩ mình nghiện nặng, cho nên kiết,

Đành nó ăn chay, ý hẳn giàu.

Một vốn bốn lời mong có lãi,

Năm liều bảy tính cũng không câu !

Thế mà không được, buồn cười nhỉ !

Không được thì ông lại xuống tàu ».

Cái tính ưa chế-nhạo nhà sư không phải chỉ riêng ông Tú Xương mới có. Một nhà thi-sĩ cùng thuộc một phái với ông (phái thi-gia trào-phúng) Tam-nguyên Yên Đổ, cũng hay bỡn thầy tu lắm. Ông có bài « VINH SƯ » :

« Đầu trọc lóc bình vôi,

Nhẩy tót lên chùa ngồi.

Y à kinh một bộ,

Lốc cốc mõ ba hồi.

Cơm chẳng thèm ăn cá ;

Ăn rặt oản, chuối, xôi.

Không biết câu tình-dục,

Đành chịu tiếng bồ-côi ! »

(Yên Đổ)

Đã bỏ sự giáo-lý tinh-thần mà cho là giả-dối, đã thấy cái gì cũng chán-nản đến nghi-ngờ, nhà thi-sĩ lấy cuộc ăn-chơi thích chí làm mục-đích khuông-khoa cho cuộc sống dở của mình. Đối với Vị-xuyên, cái thú vui là ở nơi sự chơi ả-đào, tức là cái thú của nhà sang-trọng, của người thượng-lưu, học-thức, riêng dùng một môn văn-chương ; nó có thể gọi là thú tinh-thần trong thú vật-chất. Nhà thi-hào hằng ngày vẫn ca-ngợi điều đó trong nhiều bài tuyệt bút :

« Nhân sinh quí thích chí,

Còn gì hơn hú-hí với cô-đầu.

Khi vui chơi, năm ba ả ngồi hầu,

Chén rượu cúc, đánh chầu đôi ba tiếng.

Tửu hậu khán hoa nhàn bất yếm,

Hoa tiền chước tửu hứng vô nhai.

Thôi ai ơi ! chơi lấy kẻo hoài,

Chơi cũng thế, mà không chơi thì cũng thế !

Của trời đất xiết bao mà kể,

Nợ công-danh biết thế nào xong,

Chơi cho thủng trống tầm bông ».

Cho nên, hễ khi nào ông ta rỗi-rãi buồn tình, thì đã lại lần mò xuống hàng Thao, phố Mới :

« Hôm nay rỗi rãi buồn tình nhỉ,

Thử xuống hàng Thao đập ngón chầu ».

Đã lại cô đầu. Rồi còn cô đầu mãi :

« Cái thú cô đầu nghĩ cũng hay,

Cùng nhau dan-díu bấy nhiêu ngày.

Năm canh to nhỏ tình ma-chuột,

Sáu khắc mơ-màng chuyện nước-mây.

Êm-ái cung đàn xen tiếng hát,

La-đà kẻ tỉnh dắt người say.

Thú vui chơi mãi mà không chán,

Vô tận kho trời hết lại vay ».

Cái quan-niệm « Vô tận kho trời » ấy đã sinh cho nhà văn-hào cái tính hào-phóng, bướng-bỉnh, không kể ngày mai ; nhưng nói cho đúng, kho vô tận ấy nào phải của trời đất gì đâu ? Mà chính ông Tú Xương cũng đã bao phen nhận thấy ở chỗ nào rồi ! Kho vô tận ấy, chính là bà Tú Xương vậy !

« Lùi
Tiến »