SINH vào giữa buổi giao-thời, trong ấy mỗi sự-thay cũ đổi mới, nhà nho-sĩ coi như là một lát búa bửa vào bức thành thế-đạo, Tú Xương không thể không đau-đớn bởi những chuyện đương thời. Lúc bấy giờ, ở trong xã-hội, cái địa-vị được trọng-vọng nhất, cái địa-vị có thể đưa đến cho chủ-nhân-ông đủ mọi điều-kiện vật-chất sung-sướng, ấy là địa-vị ông Phán của nhà-nước Bảo-hộ :
« Nào có hay gì cái chữ nho,
Ông Nghè ông Cống cũng nằm co.
Chi bằng đi học làm ông Phán
Tối rượu sâm-banh sáng sữa bò ».
Nhưng mà những ông Phán ấy là những ông gì, tài học các ông ra thế nào ? : « Á, ớ, u, ư, ngọn bút chì !… »
Thì ra chỉ có thế, nhưng mà từng ấy kẻ cũng đã ghê-gớm lắm :
« Muốn sống phải chăm mài bút sắt,
Cho mau chớ chậm đổ hòn chì.
Đỗ đầu hết thảy-nhà ông ký,
Phần của nhà Nho : có một ly ! »
Tình-thế xã-hội như vậy, kẻ trượng-phu phải lấy một cái nhân-sinh-quan nào mà ở với đời ?
Không kêu-rên hão, không than-khóc huyền, lại cứ lăn-lóc vào cuộc đời ; đời buồn, vẫn cố vui, đời bạc, vẫn không phụ, đời chán, vẫn thương-yêu ; nhà thi-sĩ đã lấy châm-biếm, lời diễu-cợt làm khí-giới để chống-chọi với mọi mối kich-thích của đời, và nhà thi-sĩ trở nên mạnh-dạn cứng-cỏi, quay lại công-kích đời, tự mình gây sự với đời.
Không có phái nào, cánh nào trong xã-hội mà không có cái mũi tên của thi-sĩ hài-hước bắn tới.
Như Phật-giáo và những người tuyên-truyền Phật-giáo thì bị ông miệt-thị lắm, tuy ông cũng như tất cả các nhà thâm nho, không phải là không hiểu thấu được cái cao-siêu, cái thuần-túy của tôn-giáo Thích-ca. Xét ra, sở-dĩ ông có những tư-tưởng phản giáo như vậy là vì ông thấy rằng đạo-lý có hay-ho gì mà người thực-hành giả-dối thì cũng vô-ích.
Mà còn gì giả-dối bằng những thầy sãi, vừa tu-hành đạo Phật, vừa chủ-trương đồng-bóng là cái phái mê-tín dâm-ô của phường vô-loại ? Ta hãy nghe nhà thi-sĩ tả những cái nhí nhắc ghê-tởm của hạng người ấy trong bài : « ÔNG SƯ VÀ MẤY Ả LÊN ĐỒNG » :
« Chẳng khốn gì hơn cái nợ chồng,
Thà rằng bạn quách với sư xong.
Một thằng trọc tuếch ngồi khua mõ,
Hai ả tròn xoe đứng múa bông.
Thấp-thoáng bên đèn lên bóng cậu,
Thướt-tha dưới án nguýt sư ông.
Chị em thỏ-thẻ đêm thanh vắng :
Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng ! »
Lại tu-hành mà còn miệt-mài ở chốn trần-ai tục-lụy như cái sư ông chùa Cuối kia, cho đến nỗi pháp luật – phải can-thiệp để mời vào tu nốt – không phải ở chùa nữa đâu – mà ở trong một nhà pha, thì chi bằng đừng tu mà đừng làm bậy :
« Quảng-đại từ-bi cũng phải tù
Hay là sư-cụ vụng đường tu ?
Tụng kinh cứu khổ ba trăm quyển.
Ý hẳn còn quên một phép phù ! »
Trước những cảnh-tượng chán-nản ấy, mà còn thấy những cô con-gái rủ-rê nhau vào chùa học đạo cùng các sãi, thì ai dám tin rằng có một ngày kia, những vị cân-quắc anh-hùng ấy sẽ thành chánh-quả cả ? Chẳng qua chỉ để thương, để tiếc, để ganh cho bọn mày râu phàm-trần :
« Con gái nhà ai dáng thị-thành,
Cớ chi nỡ phụ cái xuân-xanh.
Nhạt màu son phấn, sau màu đạo,
Mở cánh từ-bi, khép cánh tình,
Miệng đọc nam vô quên chín chữ,
Tay lần bồ-tát phụ ba sinh.
Tiếc thay thục-nữ hồng-nhan thế,
Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh ».
Hình như Vị-xuyên có một mối ác-cảm riêng đối với thầy tu mà khi nào ông cũng gọi là « trọc đầu » như trong bài « ÔNG SƯ VÀ MẤY Ả LÊN ĐỒNG » ta vừa đọc ở trên, đã có câu : « Một thằng trọc tuếch ngồi khua mõ… »
Khi vui nói thế cho đành, đến khi buồn, tẻ ngắt tẻ ngơ, không có ý gì khôi-hài cả mà thi-nhân cũng không quên châm-chích con người vô hại ấy :
« Ngủ quách sự đời thây kẻ thức,
Bên chùa chú trọc đã hồi chuông ».
Có người bảo rằng mối ác-cảm ấy của Vị-xuyên chỉ sinh ra từ ngày ông vay nợ một nhà sư mà không được. Nhưng tôi tưởng rằng một bậc chí-khí ngang-tàng như Trần tế Xương không bao giờ nhỏ bụng đến thế, mà trái lại, sự thất-bại của ông trong việc vay sư, có lẽ chính vì cái tính khinh-thị cửa thiền của ông đã khiến cho nhà sư nào đó ghét mặt mà không cho vay, cái đó cũng không biết chừng.
Dù thế nào mặc lòng, bài « VAY NỢ SƯ » sau này 8 thật là một bài châm-chọc cay-nghiệt đáo để :
« Ông bám ông ăn đứa trọc đầu,
Đầu không có tóc, bám nào đâu ?
Nghĩ mình nghiện nặng, cho nên kiết,
Đành nó ăn chay, ý hẳn giàu.
Một vốn bốn lời mong có lãi,
Năm liều bảy tính cũng không câu !
Thế mà không được, buồn cười nhỉ !
Không được thì ông lại xuống tàu ».
Cái tính ưa chế-nhạo nhà sư không phải chỉ riêng ông Tú Xương mới có. Một nhà thi-sĩ cùng thuộc một phái với ông (phái thi-gia trào-phúng) Tam-nguyên Yên Đổ, cũng hay bỡn thầy tu lắm. Ông có bài « VINH SƯ » :
« Đầu trọc lóc bình vôi,
Nhẩy tót lên chùa ngồi.
Y à kinh một bộ,
Lốc cốc mõ ba hồi.
Cơm chẳng thèm ăn cá ;
Ăn rặt oản, chuối, xôi.
Không biết câu tình-dục,
Đành chịu tiếng bồ-côi ! »
(Yên Đổ)
Đã bỏ sự giáo-lý tinh-thần mà cho là giả-dối, đã thấy cái gì cũng chán-nản đến nghi-ngờ, nhà thi-sĩ lấy cuộc ăn-chơi thích chí làm mục-đích khuông-khoa cho cuộc sống dở của mình. Đối với Vị-xuyên, cái thú vui là ở nơi sự chơi ả-đào, tức là cái thú của nhà sang-trọng, của người thượng-lưu, học-thức, riêng dùng một môn văn-chương ; nó có thể gọi là thú tinh-thần trong thú vật-chất. Nhà thi-hào hằng ngày vẫn ca-ngợi điều đó trong nhiều bài tuyệt bút :
« Nhân sinh quí thích chí,
Còn gì hơn hú-hí với cô-đầu.
Khi vui chơi, năm ba ả ngồi hầu,
Chén rượu cúc, đánh chầu đôi ba tiếng.
Tửu hậu khán hoa nhàn bất yếm,
Hoa tiền chước tửu hứng vô nhai.
Thôi ai ơi ! chơi lấy kẻo hoài,
Chơi cũng thế, mà không chơi thì cũng thế !
Của trời đất xiết bao mà kể,
Nợ công-danh biết thế nào xong,
Chơi cho thủng trống tầm bông ».
Cho nên, hễ khi nào ông ta rỗi-rãi buồn tình, thì đã lại lần mò xuống hàng Thao, phố Mới :
« Hôm nay rỗi rãi buồn tình nhỉ,
Thử xuống hàng Thao đập ngón chầu ».
Đã lại cô đầu. Rồi còn cô đầu mãi :
« Cái thú cô đầu nghĩ cũng hay,
Cùng nhau dan-díu bấy nhiêu ngày.
Năm canh to nhỏ tình ma-chuột,
Sáu khắc mơ-màng chuyện nước-mây.
Êm-ái cung đàn xen tiếng hát,
La-đà kẻ tỉnh dắt người say.
Thú vui chơi mãi mà không chán,
Vô tận kho trời hết lại vay ».
Cái quan-niệm « Vô tận kho trời » ấy đã sinh cho nhà văn-hào cái tính hào-phóng, bướng-bỉnh, không kể ngày mai ; nhưng nói cho đúng, kho vô tận ấy nào phải của trời đất gì đâu ? Mà chính ông Tú Xương cũng đã bao phen nhận thấy ở chỗ nào rồi ! Kho vô tận ấy, chính là bà Tú Xương vậy !