Truyền Thuyết Dòng Sông

Lượt đọc: 438 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
GIÓ nóng

MỘt buỔi trưa mùa hè tháng 7, bỖng nhiên một luồng gió nóng tanh tưởi từ Bắc Băng Dương thổi đến tất cả các thành phố rải rác quanh chân Thiên Sơn. Người đi trên phố thở hổn hển nặng nề như cá bị mắc cạn trên cát, mắt như mắt cá chết, xung quanh là một thứ ánh sáng đặc quánh. Không thể có chỗ nào để chạy trốn, khắp nơi mù mịt, tràn ngập gió nóng tanh lợm, người ta có cảm giác mắt đang bị sấy khô và đầy muối. Sự tuyệt vọng bao trùm tất cả. Người ta rúc vội vào nhà như lũ thỏ, người ta đổ ra đường phố như kiến chạy mưa.

Cơm tối xong họ kéo nhau ra quảng trường trung tâm như nước lũ. Hơn hai trăm ngàn cái đầu đen xì lúc nhúc ở đó như giòi trong hố phân, những cái miệng đớp đớp không khí nhưng chẳng ai nghe được tiếng nói của người đối diện, có một thứ âm thanh ong ong hình như phát ra ngay trong người mình, nó át đi mọi tiếng động xung quanh.

Người ta lo âu hoảng loạn trong một buổi chiều như thế. Lúc hoàng hôn, gió vẫn nóng như buổi trưa, không hề có xu hướng giảm. Mọi người đều bồn chồn bất an, mắt nhìn ngơ ngác vô định.

Vào buổi hoàng hôn hôm đó, họa sĩ Địch lặng lẽ mở ô cửa sổ đã đóng lâu ngày. Lập tức cái gió nóng tanh tưởi thốc vào nhà trộn với không khí nóng u ám trong nhà quật ngã họa sĩ xuống sàn nhà.

Anh từ từ đứng dậy, ánh mắt bình thản. Từ buổi trưa, gió nóng bao vây anh, tấn công vào da, vào từng tuyến mồ hôi, từng lỗ chân lông. Anh ở đây đã nhiều năm, trong ngôi nhà hai tầng có phong cách kiến trúc Hồi giáo, được truyền lại từ đời ông nội năm mươi năm trước. Những chuyện xảy ra tại ngôi nhà này trong năm mươi năm nay nhiều như câu đố, nay đã biến thành mạng nhện và bụi bặm, bị thời gian phủ lấp. Họa sĩ sống một mình, ngày trước anh hay mở cửa sổ, ngồi trong chiếc ghế mây kiểu cổ, mắt nhìn xuyên qua giàn nho xanh tươi ngoài sân, đến đám người đi chen chúc trên đường, cái nhìn mông lung vô định. Người đi trên phố vội vội vàng vàng, chẳng ai liếc mắt nhìn vào buồng của anh, họ đã quen sống trong thờ ơ và tê dại, không còn hiếu kỳ và mê say đối với những gì có chút hương vị cổ xưa.

Anh không còn nhớ bắt đầu đóng cửa sổ từ bao giờ. Hình như có liên quan đến một sự việc, đó là nhiều năm về trước, có một lần một người đàn bà đi qua đã nhìn vào phòng anh đúng vào lúc anh đang mơ màng nhìn ra phố, hai luồng mắt chạm nhau, hai người đều cảm thấy trong trái tim ngân lên một tiếng chuông. Hồi đó anh còn trẻ lắm, chưa có râu, da mặt hồng hào, căng đầy sức sống, như mặt trời lúc tám chín giờ sáng. Sau đó mọi chuyện diễn ra như tự nhiên phải thế, chàng trai mới vào đời bắt đầu yêu đơn phương, vô vọng mà cuồng nhiệt đối với đàn bà. Năm ấy anh mới mười bảy tuổi.

Bây giờ nghĩ lại hồi ấy thật điên rồ. Đầu tiên anh chăm chú nhìn đường phố - không còn là cái nhìn mông lung vô định nữa, rồi sau là chìm đắm vào mơ tưởng không bờ không bến. Cứ như vậy đến bảy ngày sau, người đàn bà lại xuất hiện trước cửa sổ, khi người ấy nhìn vào với đầy ngụ ý thì anh đứng dậy, đôi mắt cháy bỏng một niềm khao khát. Anh mặc cho đôi chân đưa anh ra cổng, đôi mắt điên dại nhìn người ấy: “Tôi có thể được biết cô ở đâu không?”

Người đàn bà có vẻ hơn tuổi anh (và đúng là như vậy) thoáng nở một nụ cười sóng sánh. Đôi mắt, hàng mi, sống mũi, đôi môi... đều toát lên vẻ đẹp tự nhiên mà thầm kín đầy nữ tính trưởng thành. Mẹ anh chết đã lâu, cho nên hầu như ngày nào anh cũng ngồi lì trong phòng mơ tưởng lan man và cặm cụi với bút vẽ và màu sắc. Người đàn bà hơi hé miệng, nói: “Mười bốn, phố Thái Dương, mời con người mơ thấy chim nước và cây bách già lại chơi”.

Cô nói xong, thân hình cô như một cánh diều biến mất khỏi tầm nhìn của anh. Môi anh động đậy, không nói ra lời. Từ đó mỗi tối anh lại như con mèo lẻn tới ngôi nhà số mười bốn phố Thái Dương, cũng là một ngôi nhà hai tầng kiểu Hồi giáo, mơ màng nhìn lên ô cửa sổ hắt ra ánh sáng màu vàng cam, vểnh tai nghe mọi tiếng động, tưởng tượng ra nhất cử nhất động của cô, điều đó làm cho anh xúc động và ngây ngất. Cho đến khi đèn tắt anh mới ra về, lủi thủi đi dưới ánh trăng trên mặt đường lát đá. Cả ngày lẫn đêm lúc nào anh cũng mơ mơ màng màng.

Một hôm anh ngồi trong ghế mây, tay kẹp giữa hai đùi, ánh mắt mông lung vô định nhìn phố xá. Hình ảnh cô hiện lên trong mơ.

Một tiếng nói từng trải: “Con, không nên thế!”

Tiếng nói ấy anh nghe như tiếng bom nổ. Anh giật mình đứng phắt dậy và quay lại. Đó là cha. Ánh mắt cha thâm trầm và đầy ưu tư. Rất lâu sau ông mới nói: “Con đi nghỉ đi”. Rồi chầm chậm lên gác, đi vào phòng mình.

Trưa hôm sau, anh nghe thấy một tiếng động trầm đục. Đến chiều ra vườn mới phát hiện ra cha đã ngã từ tầng hai xuống, máu và óc tung toé, nhuốm lên bạt ngàn những kiến là kiến - ông đã chết mấy giờ đồng hồ rồi. Cái chết của người cha bao năm qua vẫn là một câu đố. Anh không hiểu cha anh tự sát hay bị sát hại. Tự sát thì không có bất cứ lý do gì, bị sát hại thì lại chẳng thấy hung thủ. Về sau anh cho rằng việc cha chết thực ra là một giấc mơ, một ảo ảnh, bởi vì từ lúc mẹ chết thì cha đã đi theo luôn, chưa bao giờ thấy trở lại.

Khi hình bóng của cha khuất đi trên cầu thang thì anh vô cùng xấu hổ và bất an. Trong ngôi nhà cổ kính này đã lâu lắm rồi không có bóng dáng và tiếng nói của người đàn bà. Vào một buổi chiều anh lấy can đảm vào ngôi nhà của người đàn bà mà anh nhớ nhung: mười bốn, phố Thái Dương.

Vừa vào phòng, anh đã lập tức bị quyến rũ bởi sự giản dị đến trong suốt. Mọi thứ đều đẹp đẽ và sáng choang, giọng cô trong veo như nước dào dạt: “Anh ngồi đi.” Cô rót nước mời anh rồi ngồi xuống cái ghế bành đối diện. Sau đó là tâm sự về những ảo tưởng mơ hồ lóng lánh màu xanh của anh. Thời gian trôi rất nhanh, họ đều không nhận thấy và màn đêm lặng lẽ buông xuống.

Bây giờ trong ký ức của anh vẫn phong kín một hình ảnh cuối cùng của ngày hôm đó, hai người đứng đó, anh vùi đầu vào ngực cô, nước mắt trào ra, đầu anh như đứa trẻ động đậy rồi anh cởi nút áo và nịt vú cô, anh bú như đứa trẻ. Lát sau cô hiền lành đẩy nhẹ anh ra: Thôi được rồi, cậu bé. Cô sửa lại áo. Ánh mắt anh chìm đắm trong mông lung sâu thẳm, vẻ mặt thoáng hiện nụ cười trẻ thơ. Cô nói: Tôi nằm mơ thấy một cậu thiếu niên đã từng mơ thấy chim nước và cây bách già đến tìm tôi. Anh nói: Không, chưa bao giờ tôi mơ thấy chim nước và cây bách già. Lúc đó anh bỗng phát hiện, đôi mắt cô đang phát sáng long lanh thực ra là đôi mắt nhện, anh sợ hãi kêu lên, từ từ lùi lại, mở cửa chạy vào đêm tối.

Sau đó ba ngày cả thành phố đều đồn ầm lên vụ ngộ độc khí ga tại số nhà mười bốn, phố Thái Dương. Người chết là Uyển, không có bất cứ dấu tích nào chứng minh cô chết vì tự sát hay bị sát hại, cũng như cái ngã bí hiểm của cha anh. Chỉ có rất ít người biết cô đã năm năm trời ở đây một mình và khi chết, cô hai mươi sáu tuổi. Anh không biết gì hơn về cô, khi cô được hoả thiêu trong tình trạng không có người nhận, tâm trạng anh dần dần trở lại yên tĩnh, tĩnh như nước tù. Năm anh mười tám tuổi, có hai vợ chồng già quần áo màu sẫm và sang trọng, như một luồng sáng đến cái thành phố nhếch nhác miền tây này để nhận và mang đi hộp tro của Uyển. Mọi người bảo họ từ Mỹ về. Sau này, tất cả những chuyện đó trong ký ức của anh như nước đã thấm hết vào cát, anh không còn nhớ lại tất cả những gì về cô nữa. Vì thế anh đã đóng cái cửa sổ duy nhất liên hệ với thế giới bên ngoài, để chìm trong tư duy huyền ảo và mơ tưởng miên man không bờ không bến.

Vừa rồi khi bị hai luồng không khí quật ngã, trong đầu anh xuất hiện một câu hỏi rất rõ ràng: Câu chuyện nhiều năm trước giữa anh và Uyển phải chăng là ảo giác, là mơ, nó chưa bao giờ xảy ra cả. Điều này anh không thể xác định được vì anh vẫn luôn nằm mơ và ảo tưởng. Thậm chí anh còn nghĩ rằng cú ngã vừa rồi cũng xảy ra trong mơ vì bây giờ anh đang ngồi trong ghế mây và đang đắm chìm trong mơ mộng chẳng biết đâu là ranh giới.

Tiếng gõ cửa dồn dập và rõ ràng vọng đến, anh ngơ ngác mở mắt, qua cửa sổ anh thấy cổng bị mở, có người đứng ở đó gõ vào cái cửa đầy rêu của phòng anh.

Anh từ từ đứng dậy, bước đi chậm chạp và nặng nề, do vậy anh hoài nghi vậy ta hai mươi bảy tuổi hay bảy mươi hai tuổi. Anh tìm gương một cách vô thức, thì ra đã lâu lắm không còn thói quen soi gương. Vào một mùa hè năm nào đó, gió nóng ập đến, người họa sĩ hai mươi bảy tuổi đã mở toang cánh cửa cũ kỹ của câu chuyện xa xưa của mình.

Anh đang đứng trước một cô gái mặc váy. Cô gái sạch trong như nước suối, đôi mắt to biết nói, cô hỏi không lời: Em vào được không? Trái tim yên bình của anh rung nhẹ, anh né người cho cô đi vào rồi khép nhẹ cửa. Anh chú ý cô lướt vào phòng khách nhẹ nhàng như cánh chim.

Anh cảm thấy một chút tò mò và căng thẳng, chờ cô ngồi xuống, anh để ý dung nhan của cô. Ánh nắng chiếu vào phòng một mảng lớn, căn phòng đẹp hẳn lên. Anh không thể mô tả được vẻ mặt cô, chỉ đoán cô mười tám hai mươi tuổi. Gió vẫn như lúc trưa, nóng và đặc quánh. Bây giờ anh mới để ý, ngực cô đeo huy hiệu Mao chủ tịch, anh không hiểu như thế có nghĩa là gì. Khi rót nước mời cô anh đánh rơi cốc, mảnh vỡ tung tóe, cô kêu lên một tiếng. Anh cười khiêm nhường, nói hiện nay đồ dùng không được bền. Anh cảm thấy việc cô đến là một câu đố.

Khi anh quay người lại, thấy cô lấy ra từ túi xách tay một con chim đỏ. Con chim không nhảy, không hót, đứng trên tay cô, đôi mắt mơ màng và tối sẫm. Anh rất ngạc nhiên.

Anh là họa sĩ Địch? Cô hỏi, tay nghịch mỏ con chim và thoáng một nụ cười tươi tắn. Anh hỏi: Sao cô biết? Đã lâu lắm tôi không đăng báo cũng không triển lãm tác phẩm, tất cả các tác phẩm của tôi đã bị mạng nhện chăng kín ở trên gác rồi. Cô nói: A há, thật là tuyệt diệu, thế thì em có thể được xem no mắt rồi. Anh cảm thấy giữa anh và cô bé sắp sửa có chuyện, anh hỏi: Cô tìm tôi có việc gì? Rất lâu rồi các cô gái trẻ không đến tìm tôi. Ít nhất đã ba năm nay, tôi không vẽ bức nào. Tôi đã bị các ảo ảnh giam giữ. Có thể hôm nay cô đến rồi cô đi, lại trở thành một ảo ảnh của tôi ngày mai, sau khi tôi tỉnh giấc. Chỉ có thế mà thôi.

Có một mùi vị đắng đót lan ra trong phòng, họ đều cảm thấy gió nóng đặc sệt, cô nói: Nóng quá, em muốn cởi tất cả quần áo, cô vươn vai như một con mèo, em đến gặp anh để làm người mẫu cho anh.

Câu nói làm chấn động người họa sĩ. Anh nhún vai, không biết làm thế nào, anh nhắp một ngụm nước cam. Hồi lâu, anh nói: Tốt quá, tôi đang định vẽ người mẫu, cô đã làm người mẫu bao giờ chưa?

Anh thấy trong mắt cô một thoáng phân vân, cô nói: Không. Em chưa bao giờ phơi bày thân mình ra trước mặt người khác. Anh không biết năm nay em mười tám. Em từ xa tới, ngẫu nhiên qua đây. Em cùng bố mẹ ở tại khách sạn sang trọng nhất thành phố này, năm năm trước em đã xem loạt tác phẩm: “Những ảo ảnh nhìn thấy ở tuổi mười bảy” của anh đăng trên tạp chí “Nghệ sĩ tạo hình trẻ” Em đã thực sự xúc động trước tất cả những gì anh thể hiện. Em muốn lưu lại hình ảnh em mười tám tuổi. Thế bây giờ có thể bắt đầu được rồi.

Bây giờ anh mới chú ý cô đã cởi váy áo, chỉ mặc quần lót và nịt ngực. Sự thay đổi vội vàng như vậy làm anh tỉnh cơn mê. Anh lặng lẽ chuẩn bị giá vẽ, pha màu. Xong xuôi, anh ngẩng đầu, trên chiếc ghế được chế tạo đặc biệt cho người mẫu cách xa bốn mét cô gái đã ngả người với một tư thế thành thạo làm anh rất ngạc nhiên.

Bây giờ cơ thể mười tám tuổi như câu đố của cô gái đã hoàn toàn hiển hiện trước mắt. Anh lim dim mắt, dùng con mắt nghề nghiệp chia cắt thân thể cô gái. Cơ thể của cô không đầy đặn, nhưng non tơ và tinh khiết, da thịt ánh lên màu xanh dìu dịu, cái cổ thanh tú và trắng nõn, tóc xoã ra như nước chảy, đôi vú nhỏ nõn nà, rõ ràng chưa bị bàn tay đàn ông đụng tới, lưng và mông tạo thành đường cong mềm mại làm anh liên tưởng tới chiếc bình sứ cổ. Cái bụng nhỏ rắn chắc, dưới chút nữa là lớp lông nhung nhạt. Cặp đùi thon dài và săn chắc, duỗi ra thanh thản. Tất cả cơ thể cô gái hiện ra trước mắt anh như giấc mộng có thực, tự nhiên và thuần khiết. Vẻ đẹp tĩnh lặng và cổ điển từ đời Tống hiện về, lặng lẽ nở ra trong căn phòng.

Cây cọ đã lôi tay anh chạy rất nhanh trên toan hầu như vô định và mù quáng. Trong tâm trí anh lần lượt thoáng qua những ảo giác và anh không thể xác định được bây giờ mình đang ở vào tọa độ thời gian nào. Tư thế của cô gái như trái bầu trong nước, nổi dần trên mặt toan. Bây giờ anh mới bàng hoàng nhận ra tư thế nằm của cô gái thể hiện một ám thị và một tượng trưng, anh biết rằng giữa anh và cô chưa có cuộc đối thoại sâu sắc thì màu sắc chẳng làm được gì nhiều.

Anh ném cây cọ, sự mệt mỏi từ chân lan dần lên đầu. Anh thực sự cảm thấy mất hứng. Bao nhiêu năm nay anh đã quen với việc hoàn thành mấy bức tranh đến sức cùng lực kiệt rồi đi ngủ một giấc, giờ đây ký ức u ám dồn dập trở về, anh đứng thẳng lên, đi đến bên cô gái vẫn đang nằm để anh vẽ, anh chìa tay: Hết rồi, tôi kéo cô dậy nào.

Cô mở mắt, ánh mắt bỗng như ngây dại. Cô giơ tay cho anh, hai bàn tay nắm lại với nhau, nhưng cô không đứng dậy mà anh lại quỳ xuống và hai người hôn nhau.

Tấm vải vẽ mà hai người đã nằm lên thấm đầy mồ hôi, tạo thành một bố cục lạ. Anh đắp cho cô một tấm chăn len rồi lấy tấm vải ra bắt đầu vẽ một cách điên cuồng. Trên tấm vải dần dần hiện lên hình cô gái nằm ngửa trên nền đen tĩnh lặng. Bức tranh có tên: “Sự chân thực của đêm đầu tiên”, sau khi vẽ xong bức tranh, một dự cảm bám chặt lấy anh và anh biết rằng không cách nào chống cự nổi.

Anh lại đến bên cô, lật tấm chăn lên, dưới mắt anh, thân thể cô là chiếc dương cầm hoàn mỹ, bàn tay anh lướt trên khắp thân thể cô, như một nghệ nhân đang điêu khắc bức tượng thánh trong lòng anh. Lại ra khỏi ảo giác mờ mịt, anh ghé sát vào tai cô thì thầm: “Người con gái trong mơ của anh, thời gian em thuộc về anh đến bao giờ thì hết?” Cô nói: “Tám giờ tối mai. Tám giờ tối mai em phải về với bố mẹ rồi rời thành phố. Bố mẹ và em phải đến một thung lũng thần bí để tìm một bức tượng gỗ bạch đàn.”

Khi họ tỉnh dậy thì ánh nắng đang thủ thỉ bên tai, gió nóng vẫn bao trùm tất cả, hai người đầm đìa mồ hôi, dậy mặc quần áo, cô gái dùng những dụng cụ nấu ăn để không đã lâu, làm một bữa sáng tồi tàn cho hai người. Con chim đỏ kêu lên nhắc nhở, hai người quyết định đi chơi Thiên Trì.

Gió nóng cứ thổi mãi vùng bắc Thiên Sơn, hút sạch thành phần nước của mọi thứ. Xe họ chạy băng băng vào sâu trong Thiên Sơn, gió nóng xiết lên thân xe phát ra tiếng mài xát kim loại. Chiếc xe theo đường quanh co tiến dần lên, không bao lâu họ đến Thiên Trì.

Mặt nước của Thiên Trì xanh trong như hồ mộng, sâu thẳm, tinh khiết và lạnh nhức xương. Hai bên núi cao vực sâu, nhấp nhô thông và đá. Chim ưng bay lượn với nắng trên cao. Họ cảm thấy trong lòng bừng sáng, lúc thì cưỡi ngựa băng qua dốc núi, xua lũ châu chấu bật lên như tên bắn bám đầy quần áo, lúc thì phóng ca nô lướt sóng trên Thiên Trì. Họ được thư giãn hoàn toàn.

Mặt trời khuất sau núi, vui chơi chưa thỏa nhưng họ đành trở về. Chiếc xe họ thuê nhẹ nhàng lăn bánh. Cô gái xin tài xế cho cô lái, cô là tay lái cứng, vừa ở Mỹ về, để anh xem thử kỹ thuật Mỹ thế nào. Cô ngồi vào trước tay lái. Xe lại khởi động.

Vào khúc ngoặt thứ hai, con chim cú của số phận sà xuống. Xe của họ không rẽ kịp, qua một số lần va đập vào vách đá rồi duyên dáng vọt lên không trung lao xuống hồ nước Thiên Trì lộng lẫy và sâu thẳm, nhanh chóng chìm nghỉm. Người lái xe hốt hoảng nổi lên được, còn họa sĩ Địch và cô gái cùng chiếc xe con tạo thành một khối hổ phách chết chóc chìm xuống đáy hồ tĩnh lặng. Lúc ấy cánh tay thời gian chỉ đúng vào tám giờ.

Cũng lúc ấy, ở cách đó tám mươi cây số ngôi nhà trải nhiều tang thương của họa sĩ cũng bốc cháy, do bọn trẻ vào chơi nghịch gây ra, Ngọn lửa nuốt đi tất cả mọi thứ. Những kiệt tác suốt hai mươi bảy năm của họa sĩ Địch cũng lần lượt cuốn lên trong lưỡi lửa lem lém, biến thành một nắm tro tàn.

Bây giờ họa sĩ Địch mười bảy tuổi đang đứng trong phòng triển lãm tranh được tổ chức vào tháng bảy, giữa mùa hè tại một thành phố biên giới. Anh không rõ đã đứng bao lâu trước bộ tranh “Gió nóng”. Bộ “Gió nóng” có năm bức, đó là “Gió nóng-ngày tận số của thành phố”, “Gió nóng-ngôi nhà cũ”, “Gió nóng-sự chân thực của đêm đầu tiên”, “Gió nóng-chìm đắm”, “Gió nóng-lửa thiêu”. Trong bộ tranh này, mối xung đột và xao động nội tại và vĩnh hằng giữa con người và thời gian giăng mắc những sợi chỉ rối loạn, biểu đạt một dự báo về sự cùng quẫn điên rồ và chết chóc. Lúc ấy họa sĩ Địch mười bảy tuổi đưa tay lên nhìn đồng hồ, thời gian là tám giờ tối. Anh không biết từ tám giờ sáng đến bây giờ đã làm những gì. Anh lầm lẫn suốt mười hai giờ. Có thể anh lại rơi vào trạng thái cuồng nhiệt ảo tưởng và trạng thái quên lãng có từ nhỏ. Bây giờ thần thái mơ màng nhất chưa từng có trong đời hiện trên mặt anh. Họa sĩ Địch mười bảy tuổi không tìm thấy cánh cửa đi đến quá khứ và tương lai, do vậy anh có bộ mặt tuyệt vọng và thất thần. Không phải tất cả mà thực ra chỉ có thời gian là ảo ảnh, vậy thì giữa Địch bị hủy diệt hai mươi bảy tuổi và Địch đọc hiểu được gió nóng mười bảy tuổi thực ra không có quan hệ nhân quả và quan hệ lô-gích?

Bây giờ anh đau khổ cau mày, đôi mày của một thiếu niên hiểu thế sự, nét mặt mơ màng như nước tù, anh quay người đi về phía cửa của gian phòng đã không còn một bóng người, ở đó, hoàng hôn đang chầm chậm tràn vào.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của khâu hoa đông